<Bài viết được chỉnh sửa lúc 13.05.2023 23:42:14 bởi Thanh Vân>
Giọt Rừng - Mikhail Prisvin
https://thuviensach.vn
MIKHAIL PRISVIN (1873 — 1954)
Lời người dịch
Mikhail Prisvin là một trong những nhà văn Nga viết về thiên nhiên nổi tiếng nhất. K. Paustovski, tác giả Bông hồng vàng rất quen thuộc với độc giả Việt Nam đã viết về ông: “Nếu như thiên nhiên có thể cảm thấy sự biết ơn đối với con người vì con người đã đi sâu vào đời sống bí ẩn của thiên nhiên và ca ngợi vẻ đẹp của nó, thì trước hết sự biết ơn đó phải dành cho Mikhail Prisvin”.
Về M. Prisvin, xin đọc bài của K. Paustovski ở cuối sách, ở đây chỉ ghi lại mấy nét tiểu sử của nhà văn.
Mikhail Mikhailovitr Prisvin (Михаил Михайлович Пришвин) sinh ngày 4 tháng 2 năm 1873 tại trang ấp Khrusevo (Хрущево) gần thành phố Eles (Елец), tỉnh Orlovskaia (Орловская губерния), miền Trung nước Nga, trong một gia đình ban đầu khá sung túc nhờ thừa kế tài sản của ông nội giàu có nhưng sau bị phá sản vì người bố ham mê săn bắn, cờ bạc. Thuở nhỏ ông học ở trường trung học Eles nhưng bị đuổi học vì “xung đột với thầy giáo” – ông thầy này về sau cũng là một nhà văn khá nổi tiếng và trở thành bạn đồng chí hướng của Prisvin. Sau khi học qua các trường Trung học Tiumen, Cao đẳng Bách khoa Riga, năm 1902, ông tốt nghiệp kĩ sư Nông học Đại học Tổng hợp Leipzig (Đức), làm việc ở nhiều vùng nông thôn Nga, xuất bản một số cuốn sách và bài viết về nông nghiệp. Từ năm 1905, ông bắt đầu bước vào nghề báo chí, năm 1906 in truyện ngắn đầu tay Sasok (Сашок), từ đó M. Prisvin lần lượt cho ra đời những cuốn sách tạo nên tên tuổi của ông trong làng văn nước Nga như Ở xứ sở những con chim không sợ hãi (В краю непуганых птиц, 1907), Bên những bức tường của thành phố vô hình (У стен града невидимого, 1909), Adam và Eva (Адам и Ева, 1909), Aral đen (Черный Арал, 1910)... Năm 1912 - 1914, xuất bản bộ Tuyển tập tác phẩm đầu tiên của M. Prisvin gồm ba tập.
Trong thời gian Thế chiến thứ nhất, M. Prisvin làm phóng viên chiến tranh, sau đó làm nghề dạy học ở Smolensina (Смоленщина). Năm 1925, ông viết Những nguồn mạch Berendei (Родники Берендея) mà năm 1935, được bổ sung in lại với tên mới Lịch thiên nhiên (Календарь природы). Từ năm 1927 đến 1930, nhà văn xuất bản bộ mới Tuyển tập tác phẩm gồm bảy tập với lời giới thiệu của M. Gorki. 1933 là năm ra đời một trong những tác phẩm hay nhất của Prisvin Nhân sâm (Женьшень). Năm 1940, ông viết trường ca bằng văn xuôi Phaselia (Фацелия) và tập tiểu phẩm trữ tình – triết học Giọt rừng (Лесная капель), cả hai được xuất bản năm 1943. Sau Thế chiến II, những tác phẩm đáng chú ý của M. Prisvin có thể kể Kho mặt trời (Кладовая солнца, 1945), Câu chuyện của thời đại chúng ta (Повесть нашего времени, 1946), Rừng thông cao vút (Корабельная чаща, 1954), Đôi mắt của đất (Глаза земли, 1957), v. v…
Nhà văn qua đời ngày 16 tháng 1 năm 1954 tại Moskva.
Tên của ông được đặt cho nhiều đường phố ở các địa phương khác nhau của nước Nga.
**
Lời tác giả Thuở xưa khi còn là những đứa trẻ hiếu kì, chúng tôi thường hay đập vỡ đồ chơi của mình cũng như bất cứ thứ quà tặng nào, thậm chí cả đồng hồ, để biết được bên trong có những gì. Rồi ở trường, người ta cũng dạy chúng tôi cách ứng xử với thiên nhiên như thế: được dẫn ra ngoài cánh đồng, mỗi người hái một bông hoa rồi bứt cánh để đếm xem hoa có bao nhiêu cánh, bao nhiêu nhuỵ, đài hoa kết cấu ra sao v.v... Nói chung, sự thể xảy ra với bông hoa cũng hệt như với những đồ chơi thời thơ bé: hình dạng bị dập nát, xé nhỏ - và không còn cả bông hoa cũng chẳng còn cả đồ chơi nữa.
Còn bây giờ thì chúng tôi học thiên nhiên không chỉ không phá hỏng hình ảnh của bông hoa đá sống động(1) mà ngược lại còn làm giàu cho thiên nhiên những hình ảnh mang tính người của mình.
Chính tôi cũng đã học được điều đó trong quá trình ghi chép viết lách. Và thế là Giọt rừng của tôi ra đời như một trải nghiệm nghiên cứu đầy chất thơ cái thiên nhiên được hiểu trong sự hoà hợp với con người sống trong nó và tạo ra nó.
$$
Lời người dịch
MIKHAIL PRISVIN (1873 — 1954)
Mikhail Prisvin là một trong những nhà văn Nga viết về thiên nhiên nổi tiếng nhất. K. Paustovski, tác giả Bông hồng vàng rất quen thuộc với độc giả Việt Nam đã viết về ông: “Nếu như thiên nhiên có thể cảm thấy sự biết ơn đối với con người vì con người đã đi sâu vào đời sống bí ẩn của thiên nhiên và ca ngợi vẻ đẹp của nó, thì trước hết sự biết ơn đó phải dành cho Mikhail Prisvin”.
Về M. Prisvin, xin đọc bài của K. Paustovski ở cuối sách, ở đây chỉ ghi lại mấy nét tiểu sử của nhà văn.
Mikhail Mikhailovitr Prisvin (Михаил Михайлович Пришвин) sinh ngày 4 tháng 2 năm 1873 tại trang ấp Khrusevo (Хрущево) gần thành phố Eles (Елец), tỉnh Orlovskaia (Орловская губерния), miền Trung nước Nga, trong một gia đình ban đầu khá sung túc nhờ thừa kế tài sản của ông nội giàu có nhưng sau bị phá sản vì người bố ham mê săn bắn, cờ bạc. Thuở nhỏ ông học ở trường trung học Eles nhưng bị đuổi học vì “xung đột với thầy giáo” – ông thầy này về sau cũng là một nhà văn khá nổi tiếng và trở thành bạn đồng chí hướng của Prisvin. Sau khi học qua các trường Trung học Tiumen, Cao đẳng Bách khoa Riga, năm 1902, ông tốt nghiệp kỹ sư Nông học Đại học Tổng hợp Leipzig (Đức), làm việc ở nhiều vùng nông thôn Nga, xuất bản một số cuốn sách và bài viết về nông nghiệp. Từ năm 1905, ông bắt đầu bước vào nghề báo chí, năm 1906 in truyện ngắn đầu tay Sasok (Сашок), từ đó M. Prisvin lần lượt cho ra đời những cuốn sách tạo nên tên tuổi của ông trong làng văn nước Nga như Ở xứ sở những con chim không sợ hãi (В краю непуганых птиц, 1907), Bên những bức tường của thành phố vô hình (У стен града невидимого, 1909), Adam và Eva (Адам и Ева, 1909), Aral đen (Черный Арал, 1910)... Năm 1912 - 1914, xuất bản bộ Tuyển tập tác phẩm đầu tiên của M. Prisvin gồm ba tập.
Trong thời gian Thế chiến thứ nhất, M. Prisvin làm phóng viên chiến tranh, sau đó làm nghề dạy học ở Smolensina (Смоленщина). Năm 1925, ông viết Những nguồn mạch Berendei (Родники Берендея) mà năm 1935, được bổ sung in lại với tên mới Lịch thiên nhiên (Календарь природы). Từ năm 1927 đến 1930, nhà văn xuất bản bộ mới Tuyển tập tác phẩm gồm bảy tập với lời giới thiệu của M. Gorki. 1933 là năm ra đời một trong những tác phẩm hay nhất của Prisvin Nhân sâm (Женьшень). Năm 1940, ông viết trường ca bằng văn xuôi Phaselia (Фацелия) và tập tiểu phẩm trữ tình – triết học Giọt rừng (Лесная капель), cả hai được xuất bản năm 1943. Sau Thế chiến II, những tác phẩm đáng chú ý của M. Prisvin có thể kể Kho mặt trời (Кладовая солнца, 1945), Câu chuyện của thời đại chúng ta (Повесть нашего времени, 1946), Rừng thông cao vút (Корабельная чаща, 1954), Đôi mắt của đất (Глаза земли, 1957), v. v…
Nhà văn qua đời ngày 16 tháng 1 năm 1954 tại Moskva.
Tên của ông được đặt cho nhiều đường phố ở các địa phương khác nhau của nước Nga.
**
Lời tác giả Thuở xưa khi còn là những đứa trẻ hiếu kì, chúng tôi thường hay đập vỡ đồ chơi của mình cũng như bất cứ thứ quà tặng nào, thậm chí cả đồng hồ, để biết được bên trong có những gì. Rồi ở trường, người ta cũng dạy chúng tôi cách ứng xử với thiên nhiên như thế: được dẫn ra ngoài cánh đồng, mỗi người hái một bông hoa rồi bứt cánh để đếm xem hoa có bao nhiêu cánh, bao nhiêu nhuỵ, đài hoa kết cấu ra sao v.v... Nói chung, sự thể xảy ra với bông hoa cũng hệt như với những đồ chơi thời thơ bé: hình dạng bị dập nát, xé nhỏ - và không còn cả bông hoa cũng chẳng còn cả đồ chơi nữa.
Còn bây giờ thì chúng tôi học thiên nhiên không chỉ không phá hỏng hình ảnh của bông hoa đá sống động mà ngược lại còn làm giàu cho thiên nhiên những hình ảnh mang tính người của mình.
Chính tôi cũng đã học được điều đó trong quá trình ghi chép viết lách. Và thế là Giọt rừng của tôi ra đời như một trải nghiệm nghiên cứu đầy chất thơ cái thiên nhiên được hiểu trong sự hoà hợp với con người sống trong nó và tạo ra nó.
$$
Tháng giêng, tháng hai và đầu tháng ba đều là mùa xuân ánh sáng. Trong thành phố lớn, những phiến mây dày giống như những tảng băng trôi trên bầu trời có thể nhìn thấy rõ nhất ở phía trên những tòa nhà đá. Thời gian này, tôi miệt mài làm việc trong thành phố, như một gã bủn xỉn cố tích cóp từng đồng rúp một; và sau khi cãi vã với đủ tất cả mọi người vì chuyện tiền nong, cuối cùng tôi cũng có thể đến cái nơi mà tôi không thể kiếm được tiền, tôi cảm thấy thật hạnh phúc. Vâng, hạnh phúc là người có thể bắt gặp thời khắc khởi đầu mùa xuân của ánh sáng trong thành phố và sau đó lại được gặp nơi thiên nhiên mùa xuân của nước, của cây cỏ, của rừng, và rất có thể, cả mùa xuân của con người.
Khi mùa xuân ánh sáng bừng lên sau một kì đông tuyết giá thì tất cả những con người sống kề cạnh đất đai đều xao xuyến; mỗi người tự hỏi: mùa xuân năm nay sẽ ra sao, - và mỗi mùa xuân năm mới đến đều khác với năm đã qua, sẽ không bao giờ có một mùa xuân nào giống y như những mùa xuân khác.
Năm nay, mùa xuân ánh sáng thật tràn trề, mắt gần như không thể chịu được ánh chói chang của tuyết, khắp nơi mọi người nói:
- Thế là mùa xuân đã về!
Mỗi khi bắt đầu một chuyến đi xa bằng xe trượt tuyết ngựa kéo, mọi người đều sợ nhỡ phải bỏ xe lại ở đâu đó và dắt ngựa về.
Vâng, không bao giờ một mùa xuân mới lại giống mùa xuân đã qua, và nhờ vậy mà cuộc sống trở nên thú vị biết bao - với nỗi lòng khấp khởi chờ đợi một điều gì đó mới mẻ ở năm đang tới.
Khởi đầu mùa xuân ánh sáng
Buổi sáng âm hai mươi độ, còn đến giữa trưa, băng từ mái nhà tan thành nước nhỏ xuống từng giọt. Cái ngày hôm ấy suốt từ sáng cho đến đêm cứ rực rỡ, ngời ngời hệt như pha lê vậy. Những cây vân sam phủ tuyết tựa như làm bằng thạch cao, cả ngày thay đổi liên tục từ màu hồng sang xanh lơ. Một mảnh liềm trăng nhợt nhạt treo lơ lửng trên nền trời, còn bên dưới, dọc theo đường chân trời là các dải màu lung linh đủ sắc.
Trong cái ngày đầu tiên này của mùa xuân ánh sáng, tất cả đều thật tuyệt vời, và hôm đó chúng tôi đã cùng nhau đi săn. Mặc dù trời rét đậm, những chú thỏ vẫn nằm phơi mình bên nhau, và không phải trong đầm lầy như chúng thường làm vậy mỗi khi gặp ngày băng giá mà ở trên đồng, trong các lùm cây bụi và trên các mô đất ven rừng.
Con mắt hồng ngọc
Một sự yên ắng đầy rét mướt. Trời đã về chiều. Những bụi cây của cánh rừng hãy còn trụi lá trở nên tối sẫm, dường như chính khu rừng đang gom những suy tư của mình lại để đi vào đêm. Qua màn tối giăng giữa những lùm cây, trông mặt trời hệt như một con mắt bằng hồng ngọc; nhìn qua các bụi cây, con mắt đỏ này không to hơn mắt người là mấy.
Băng giá mùa xuân
Băng giá và bão táp phương Bắc đêm nay đã xen vào công việc của mặt trời đến mức làm mọi chuyện rối tung hết lên, thậm chí cả những cây đồng thảo xanh cũng phủ kín một lớp tuyết trong như pha lê và gẫy giòn trong tay, có vẻ ngay đến mặt trời sáng nay cũng cảm thấy xấu hổ khi thức dậy trong tình cảnh tệ hại như vậy.
Không dễ dàng để cứu vãn được mọi thứ nhưng về mùa xuân thì mặt trời không thể bị bẽ bàng, và mới tám giờ sáng những con ong bụng kiếm đã bắt đầu nhảy nhót trong vũng nước ven đường lộ ra dưới ánh nắng ấm.
Những bóng râm xanh
Sự tĩnh lặng đầy rét mướt và tươi sáng lại hồi sinh. Tuyết mịn rơi từ hôm qua giờ trông như một lớp phấn ánh lên lấp lánh trên nền băng cứng. Mặt băng không bị sụt lở chỗ nào và ở ngoài cánh đồng dưới ánh nắng nó còn rắn chắc hơn là ở trong bóng râm. Từng bụi ngưu bàng, ngải cứu già, từng cọng cỏ, ngọn rau đều soi vào lớp tuyết mịn lấp lánh này tựa như vào một tấm gương, thấy mình xanh biếc và đẹp tuyệt vời.
Ngày hôm qua, một con chim dẽ giun chọc mỏ vào đám lá mục kiếm mồi, đúng lúc đó chúng tôi đến gần và nó đành phải bay lên không kịp rũ lớp bụi lá liễu hoàn diệp già vương trên mỏ. Tôi đã kịp bắn hạ chú chim, và chúng tôi đếm được trên mỏ của nó dính mười chiếc lá liễu hoàn diệp già.
Con đường cuối tháng ba
Ban ngày, tất cả chim chóc mùa xuân đều bay ra con đường xuân kiếm mồi; ban đêm, để không bị lút ngập đến tai trong tuyết, thú rừng cũng đi lại trên con đường ấy. Và sẽ còn một thời gian dài nữa con người vẫn phải đi lại bằng xe trượt trên con đường màu hung vì lớp phân rải dày để ngăn không cho băng tan.
Con đường dần dần biến thành chiếc đập ngăn những dòng suối nhỏ mùa xuân đang đổ dồn về phía nó. Một người đàn ông cùng chú bé con đi trên xe trượt tuyết lúc các dòng suối ở một bên đường dồn hợp lại thành cả một cái hồ. Nước ép mỗi lúc mỗi mạnh lên con đập, và khi thêm dòng suối mới đổ về, con đập không trụ nổi đã vỡ ra, một dòng nước ào ạt chảy cắt ngang con đường của người đàn ông cùng chú bé con đi xe trượt tuyết.
Mặt đất đã hiện ra
Đã ba ngày trời ngơi rét và sương mù vô hình gặm dần mặt tuyết. Petia nói:
- Bố ơi, ra đây, xem kìa, nghe kìa, chim sẻ đầu vàng hót hay quá!
Tôi bước ra và lắng nghe - quả là hay thật. Một làn gió nhẹ thoảng qua dịu dàng. Con đường như vồng lên hung hung đỏ.
Hình như có ai đó chạy đuổi theo mùa xuân rất lâu cuối cùng đã đuổi kịp và khẽ chạm vào nó; còn mùa xuân thì dừng lại như chợt suy tư một điều gì… Từ bốn phía tiếng gà râm ran gáy. Những cánh rừng xanh thẫm bắt đầu hiện ra phía sau màn sương.
Petia chăm chú nhìn vào màn sương đang loãng dần và chợt thấy một cái gì đấy đen thẫm trên đồng, kêu to:
- Xem kìa, mặt đất đã hiện ra!
Petia chạy vụt vào nhà và tôi nghe nó kêu toáng lên trong đó:
- Leva ơi, ra nhanh mà xem, mặt đất đã hiện ra!
Cả mẹ chúng cũng không đừng được, bước ra, đưa bàn tay che mắt khỏi ánh nắng chói, hỏi:
- Mặt đất hiện ra ở đâu?
Petia chạy lên trước đưa tay chỉ về phía mặt tuyết xa xa, trông nó giống hệt như Columbo đang đứng trên mặt biển, và nhắc đi nhắc lại:
- Mặt đất kìa, mặt đất!
Dòng suối mùa xuân
Tôi nghe thấy tiếng nước nơi bãi chim dẽ gọi mái. Trên đồng cỏ trũng nước chảy lặng lẽ, chỉ những lúc các luồng nước gặp nhau thì mới nghe có tiếng nước vỗ. Và trong khi lắng nghe, trong khi chờ đợi tiếng nước vỗ tiếp theo tôi tự hỏi mình không biết nó từ đâu ra? Có thể ở nơi lớp tuyết bên trên chưa tan, những dòng suối nhỏ từ dưới đó chảy ra thỉnh thoảng làm tuyết lở, và sự kiện này trong đời sống của dòng suối ở đây được lưu truyền như sự đụng độ của các luồng nước, có thể là như vậy. Có chuyện gì mà không có thể! Bởi vì nếu đi sâu tìm hiểu cuộc sống của một dòng suối mùa xuân thì ta mới thấy rằng có lẽ chỉ có thể hiểu nó một cách toàn vẹn khi nhận thức được cuộc sống vũ trụ thông qua trải nghiệm của chính bản thân mình.
Những dòng suối đầu tiên
Nghe như có tiếng chim cất cánh nhẹ nhàng cùng tiếng gù rì rầm của loài bồ câu, tôi liền lao tới chỗ con chó để kiểm tra xem có phải là chim dẽ giun đã bay về. Nhưng con chó Kenta vẫn bình thản chạy. Tôi quay lại ngắm dòng nước lũ và khi bước đi lại nghe thấy chính tiếng bồ câu gù rì rầm ấy, càng lúc càng rõ.
Cuối cùng, tôi cũng đoán ra là mình phải ngừng chân bước khi nghe thấy âm thanh đó. Rồi dần dần tiếng rì rầm trở nên liên tục và tôi hiểu rằng ở đâu đấy dưới lớp tuyết có một con suối nhỏ nhất đang hát. Tôi mê giọng hát ấy đến nỗi bắt đầu rảo bước nhanh hơn để được nghe cả những dòng suối khác, và ngạc nhiên khi thấy mình phân biệt được những con suối khác nhau qua giọng của chúng như những sinh vật sống.
Băng giá tháng Năm
Mọi thứ đều hứa hẹn sẽ có đêm rét dữ. Vào một giờ khuya dưới ánh trăng tôi đi vào cánh rừng sồi, nơi có rất nhiều chim nhỏ và hoa đầu mùa. Tôi gọi cái góc rừng này là xứ sở của những chú chim nhỏ và những bông hoa màu tím hoa cà.
Chẳng bao lâu, nơi chân trời Tây bình minh ló rạng và ánh sáng lan dần sang phía Đông, dường như ở phía dưới, sau đường chân trời không nhìn thấy được ánh bình minh buổi sáng đang níu lấy ánh hoàng hôn buổi chiều và kéo về phía mình. Tôi bước đi rất nhanh, người ấm lên đến mức không nhận thấy giá rét ác liệt tác động đến cây cỏ và những bông hoa đầu mùa như thế nào. Khi trời đã sáng hẳn và cơn giá buốt đến lúc dữ dội nhất, tôi cầm lấy một bông hoa màu tím hoa cà và muốn sưởi nó trong lòng bàn tay ấm áp, nhưng bông hoa đã cứng giòn và gẫy vụn trên tay.
Bướm lưu huỳnh
Bướm lưu huỳnh, một con bướm màu vàng đậu trên cành việt quất khép đôi cánh lại như một chiếc lá: khi chưa được mặt trời sưởi ấm nó sẽ chưa bay và cũng không thể bay được, thậm chí nó còn không muốn tránh những ngón tay của tôi đang vươn về phía nó.
Băng chết
Liệu đã có ai từng nhìn thấy băng chết trên đồng cỏ dưới ánh mặt trời ra sao chưa nhỉ?
Ngày hôm qua, ở đây vẫn là một con suối trù phú: có thể thấy điều đó qua số rác mà nó để lại trên lớp cỏ. Khuya về trời ấm áp, và chỉ qua một đêm con suối đã kịp mang hầu như trọn vẹn nước của mình nhập vào dòng lũ lớn. Đến gần sáng, trời trở nên rét dữ và biến số nước cuối cùng còn sót lại của con suối thành những bức tranh thêu bằng băng trải trên đồng cỏ. Rồi mặt trời lên đã nhanh chóng xé nát tất cả những bức tranh thêu đó, và từng hạt, từng hạt băng lần lượt theo nhau chết, rơi lên mặt đất như những giọt vàng.
Biểu kế thiên nhiên
Trời lúc mưa lúc nắng. Tôi chụp ảnh dòng suối của mình, và khi bị nước thấm ướt chân, theo thói quen dạo mùa đông tôi định ngồi xuống một ụ tổ kiến để nghỉ thì nhận thấy kiến đã bò ra ngoài tổ, chúng nằm kề nhau đông đặc con nọ sát con kia và chờ đợi một điều gì đó, hay là chúng đang dưỡng sức trước khi bắt đầu công việc?
Thế mà cách đây mấy ngày, trước trận rét dữ dội trời cũng đã rất ấm, và lúc ấy chúng tôi lấy làm lạ tại sao không thấy kiến, tại sao bạch dương còn chưa lên nhựa. Sau đó ban đêm trời giá rét xuống tới âm mười tám độ, và bây giờ thì chúng tôi mới hiểu ra: cả bạch dương cả kiến khi ấy đều biết rằng trời sẽ còn rét đậm, và chúng nhận biết điều này qua mặt đất lạnh như băng. Còn bây giờ, đất đã tan giá và bạch dương cũng bắt đầu lên nhựa…
Dòng suối muộn màng
Rừng ấm áp. Cỏ lên xanh - trông thật rực rỡ giữa những lùm cây bụi xám xịt! Những lối nhỏ trong rừng mới tuyệt làm sao! Ôi mơ màng, tĩnh lặng! Chim cúc cu bắt đầu cất giọng từ mùng một tháng Năm giờ đây đã trở nên dạn dĩ. Gà lôi kêu lóc nhóc cả khi ráng chiều buông. Những chấm sao như vô vàn mấu liễu nhỏ bé nở ra trên tầng mây trong suốt. Bạch dương ánh lên trong bóng tối. Cây nấm nhăn mọc lên rất nhanh. Liễu hoàn diệp vung vãi những đám hạt hình sâu kèn. Một dòng suối xuân muộn màng chưa kịp rút hết nước bây giờ len lỏi giữa đám cỏ xanh, và những giọt nhựa từ cành bạch dương gãy rỏ xuống hòa vào dòng suối.
Mùa xuân của nước
Tuyết vẫn còn đọng dày nhưng tơi xốp đến nỗi thỏ cũng thụt chân xuống tận đất và cày bụng lên mặt tuyết.
Chim chóc đã bỏ mặt đường để bay đi kiếm mồi ở ngoài cánh đồng, tìm đến những nơi mặt đất lộ ra đen thẫm.
Trong mưa, hàng bạch dương như xõa tóc khóc dài vui sướng, những giọt nước lấp lánh bay xuống dưới và tắt lịm trong tuyết, vì thế tuyết dần dần trở nên mịn xốp.
Trên mặt đường sót lại những mảng băng giòn cuối cùng - người ta gọi đó là những mảnh pha lê. Và lòng suối bằng băng nơi trước đây dòng nước chảy qua cũng bị bào mòn và trở nên mềm nhão: một chú thỏ hồi đêm chạy qua phía bên kia đã để lại dấu chân trên đó.
Dòng suối và con đường
Con đường mòn khô ráo cạnh khu rừng thông đã tan băng và kề bên là một dòng suối nhỏ đang rì rào chảy; cứ như thế dọc bìa rừng, dưới ánh nắng gay gắt, dòng suối và con đường song song chạy hút về xa, còn trên triền phía Bắc bên kia dòng suối giữa những cây lá kim là tuyết trắng trinh nguyên của rừng taiga Sibiri ngút mắt.
Giọt sáng
Nắng và gió. Ánh sáng mùa xuân. Chim sẻ ngô và chim mỏ tréo hát giọng hợp hôn. Từ dưới thanh trượt những mảnh băng tuyết bắn ra như thuỷ tinh kêu lanh canh. Trên nền rừng vân sam sẫm màu, đám cây bạch dương non dưới những tia mặt trời ngả sang màu hồng. Nắng chiếu trên mái nhà bằng tôn tạo nên một cái gì đấy tựa như núi băng nhỏ; từ đó, hệt như từ núi băng thực sự, nước tan chảy xuống thành dòng và khối băng cứ thế dần dần thu nhỏ lại. Dải tôn giữa khối băng và rìa mái nhà được sưởi ấm trở nên đen thẫm mỗi lúc một rộng thêm. Dòng nước mỏng mảnh từ mái tôn ấm nắng rơi xuống que băng lạnh treo trong bóng râm rét buốt dưới mép mái nhà; chạm vào que băng những giọt nước liền đông cứng lại, và thế là trong buổi sáng những que băng trở nên dày thêm ở phía trên. Khi mặt trời đi vòng qua mái nhà chiếu thẳng vào que băng làm cho nó ấm lên thì dòng nước từ khối băng trên mái nhà chảy dọc theo que băng bắt đầu rỏ những giọt vàng óng xuống dưới. Và cảnh ấy diễn ra trên tất cả các mái nhà, cho đến tận chiều khắp nơi trong thành phố giọt giọt vàng tuôn rơi không ngớt.
Trước khi trời tối rất lâu, trong bóng râm đã bắt đầu giá rét, và dù khối băng trên mái nhà vẫn tiếp tục bị thu hẹp và suối nước vẫn chảy theo những que băng, một vài giọt nước ở đầu mút của chúng bắt đầu đông lại trong bóng râm, càng về chiều càng nhanh, càng nhiều. Đến tối thì những que băng đã mọc dài ra. Sang ngày hôm sau trời lại nắng và khối băng lại sẽ co nhỏ dần, và que băng sẽ dày thêm trong buổi sáng, buổi chiều lại dài ra: mỗi ngày một dày hơn và dài thêm.
Cơn mưa dầm ấm áp
Trên cây li pa những chồi non lớn dần đang xanh biếc lên trước cửa sổ phòng tôi, và nơi mỗi chồi non đọng lại một giọt nước sáng lấp lánh, giọt nước cũng to tựa chồi non. Theo nhánh cây mảnh dẻ, giọt nước lăn xuống, chuyền từ chồi non này sang chồi non kia, nhập vào giọt nước ở một chồi non khác và rơi xuống đất. Còn từ phía trên nữa ở nơi cao hơn, tựa như theo lòng suối một dòng nước dày đặc vô hình chảy dọc lớp vỏ của một cành cây to rồi tản thành những giọt bé nhỏ lăn theo các nhành cây con thế vào những giọt nước đã rơi. Và cứ như vậy cả thân cây phủ đầy những giọt nước, và cả cái cây cùng nhỏ giọt.
Một ngày rưỡi mưa rơi không ngớt. Con đường lớn trở nên lầy lội như bãi tuyết mùa xuân. Tôi chụp ảnh con đường và chụp cả những cây thông non như những thập giá nhỏ trĩu vô vàn giọt nước mưa to nặng bên cạnh con đường: tôi để phần ngọn của cây thập giá không đọng nước vào trên nền trời, còn phần phía dưới viền đầy những giọt nước lớn thì đặt lên nền rừng cây sẫm màu, để cho những giọt nước sáng ánh lên trên nền tối.
Bài ca đầu tiên của nước
Buổi chiều, chúng tôi ra đồng để thử xem lũ gà thông có đáp lại tiếng huýt sáo nhử mồi của chúng tôi không. Mùa xuân, chúng tôi không săn bắt chúng mà chỉ để giải trí cho vui: thật thú vị khi nhìn những chú gà thông chạy theo tiếng huýt gọi trên lớp tuyết dày, dừng lại vểnh đầu lắng nghe, rồi lại chạy tiếp, nhiều khi chúng đến gần tới mức tưởng có thể đưa tay ra chộp được.
Quãng đường quay về khiến chúng tôi phải vất vả hơn: trời sắp tối tuy đã lạnh thêm nhưng lớp tuyết trên bề mặt vẫn còn chưa đủ cứng nên chân cứ thụt sâu xuống và khó khăn lắm mới rút lên được. Trong ráng chiều màu da cam mang dáng vẻ khắc khổ và đông cứng như thủy tinh, các vũng nước trong đầm lầy ánh lên như những ô cửa sổ hắt lửa. Chúng tôi rất muốn biết có tiếng gà lôi gù đâu đây hay chỉ là do mình tưởng tượng ra. Dừng lại trên một mô đất lớn đã tan băng, cả ba chúng tôi lặng im nghe ngóng.
Nhả khói từ tẩu thuốc đang hút, tôi cảm thấy như có gió từ phía Bắc thổi lại. Hướng tai lên phía đó, chúng tôi liền hiểu ra tất cả: đấy là ở phía dưới rất gần chỗ chúng tôi đang đứng, làn nước tràn qua một cây cầu nhỏ và reo hát giống hệt tiếng gà lôi.
Bài ca của nước
Mùa xuân của nước thường gom về những thanh âm thân thuộc và gần gũi với nhau khiến bạn mãi vẫn không thể hiểu rằng đó là tiếng nước đang róc rách hay tiếng tiếng gà lôi lóc bóc hoặc tiếng ếch nhái râm ran. Tất cả hợp lại thành bài ca của nước, và nổi lên trên hết, hòa nhịp với tất cả, là tiếng gà rừng gáy te te, tiếng dẽ giun thở khàn khàn và tiếng chim đầm lầy thầm thào đầy bí mật hòa cùng tiếng nước: tất cả dàn đồng ca kì lạ của chim chóc đó đều khởi nguồn từ bài ca của nước xuân.
Tiếng đàn thụ cầm
Những rễ cây dài mọc sát kề nhau buông lơ lửng bên dưới vòm mái tối om của bờ đầm dốc đứng giờ đây đã biến thành những trụ băng cứ lớn thêm lên mãi, lên mãi rồi cuối cùng chạm tới mặt đầm. Và khi ngọn gió xuân về, dù chỉ là một cơn nhẹ thoảng, khiến mặt nước xao động và những con sóng nhỏ chạm vào ngọn trụ băng dưới mái dốc làm chúng giao động, gõ vào nhau, kêu lanh canh, và đó chính là âm thanh đầu tiên của mùa xuân - tiếng đàn thụ cầm.
Bông hoa đầu mùa
Tôi ngỡ rằng có ngọn gió tình cờ lay động chiếc lá già, song đó lại là con bướm đầu tiên vỗ cánh. Tôi nghĩ mình chợt hoa mắt ngẫu nhiên, mà hoá ra bông hoa đầu mùa đã nở.
Khởi đầu mùa xuân của nước
Không thể nói rằng tôi đã đi xa tới mức không nghe thấy âm thanh náo động của thành phố, tất cả đều vẫn còn nghe rõ: cả tiếng còi tàu xe, cả những tiếng gõ đập đủ loại, nhưng điều đó không quan trọng bởi rừng cây có sự tĩnh lặng của riêng mình, một sự tĩnh lặng đầy ma lực và hoàn toàn thu hút sự chú ý của tôi: tôi tuyệt nhiên không còn nghe thấy tiếng ồn ào của thành phố nữa.
Tôi bước đi không cảm thấy mưa, mà đúng là trời đang mưa. Lần đầu tiên, tôi nhận biết trời mưa là khi đến gần một cánh rừng bạch dương non: cuộc gặp đầu tiên với nước trời làm nó nhuộm sang ánh hồng phơn phớt, và những giọt nước lớn màu xám treo trên cành lá mới to làm sao, to như lá liễu.
Tôi đến gần Cầu Đen, và hoá ra ở nơi này dòng suối vẫn còn chảy sâu dưới các đụn tuyết, chỉ đây đó mới lộ ra một vài vũng nước. Vậy nên hôm nay tôi là người chứng kiến sự khởi đầu sớm nhất mùa xuân của nước.
Con đường
Đóng băng, mệt nhoài, nham nhở những vết móng guốc ngựa và càng xe trượt, con đường được rải lớp phân dày hướng thẳng đến biển nước trong veo; và từ đó, giữa không gian văn vắt không vết gợn, nó hiện lên cùng với những đám mây xuân, đã được lột xác và đẹp tuyệt trần.
Ánh sáng của những giọt nước nhỏ
Ban đêm, từ rừng trở về thật vất vả, nhưng không nỗi mệt nhọc nào có thể át nổi ý nghĩ hân hoan rằng hôm nay mình là người đã chứng kiến sự khởi đầu của một mùa xuân rực rỡ đầy hoa nở và tiếng chim ca. Trong khu rừng hãy còn trơ trụi, những khóm liễu sớm đâm lộc trông tựa như những ngọn đèn chùm, như ước mộng, như ảo ảnh. Những cây nấm tai nhăn, những chùm anh thảo, sen gió, dây dầu đắng, và sắc biếc tỏa ra từ những nụ chồi, và ánh sáng của những giọt nước nhỏ lóng lánh trên khắp các nhành cây…
Trước lúc chiều buông
Giữa trưa, nhờ cơn gió nóng mà trời trở ấm, rồi khi chiều buông trên bãi chim gọi mái một chu kì mới của mùa xuân đã được diễn khai. Gần như nhất loạt, những khóm liễu đầu mùa bung nở, chim sáo cất giọng hót lảnh lót, lũ ếch khiến mặt nước đầm gợn sóng lao xao, và thinh không hoàng hôn tràn ngập muôn vẻ giọng của chúng. Đám chuột chù đuổi nhau trước lúc đêm về, và trong môi trường quen thuộc của mình dưới lớp lá hoàn diệp liễu, chúng trở nên bất khả xâm phạm đối với chúng tôi, giống như cá ở dưới nước vậy.
Mùa ong rời tổ
Có nhiều khi, những tấm băng xanh xám đang tan ra trên thảo nguyên sót lại sang ngày trông giống những mảnh vỡ của phiến trăng nhợt nhạt dưới ánh nắng ban mai.
Một con chim săn mồi to lớn vừa từ phương Nam di cư về lao thẳng đến phía tôi, và khi đã nhìn ra tôi là ai nó đột ngột bay vòng trở lại.
Những con chim ác là nghe thấy tiếng lạo xạo của băng dưới chân tôi liền lo lắng đáp lại trong rừng sâu. Nhưng khi chính lớp băng cũng tự mình vỡ ra kêu răng rắc dưới nắng thì trong rừng sâu bầy ác là hiểu điều này và không đáp lại tiếng kêu răng rắc đó.
Đám bồ câu rừng bắt đầu gù ríu rít.
Có lẽ, đã đến mùa đưa bầy ong rời tổ kiếm ăn.
Lớp tuyết cứng
Lại một ngày rực rỡ với cái giá rét đượm nắng, những dòng suối chảy theo các vệt bánh xe trên đường, và giờ khắc nóng nhất của ngày trên các đụn tuyết trong khu rừng ngập tuyết…
Mặc tuyết ngập đến tận bụng, tôi lặn lội đi ra khoảng rừng thưa, nơi dòng suối yêu dấu của tôi chảy qua. Tôi tìm thấy một khoảng nước lộ ra từ dưới tuyết cạnh những gốc bạch dương và chụp ảnh cảnh đó như là sự khởi đầu mùa xuân của nước.
Ban đêm giá rét dữ dội đến mức không phải chỗ nào lớp băng cứng bên trên cũng sụt lở, nhưng nếu đã lở thì hãy coi chừng! Bây giờ, buổi sáng, có thể đi theo lớp băng cứng vào sâu trong rừng, nhưng đến trưa, khi trời ấm lên, bạn sẽ phải nán lại trong đó, không thể trở ra, chờ cơn giá rét ban đêm đến lát cứng lại con đường.
Vụ xuân
Chỉ mấy ngày nữa - chừng đâu một tuần, - là thiên nhiên bắt đầu phủ đầy hoa, cỏ, rêu xanh và những mầm non thanh mảnh lên toàn bộ khối rừng cũ kĩ đến khó tin này. Thật cảm động khi mỗi năm hai lượt được ngắm nhìn thiên nhiên cần mẫn trang điểm bộ khung chết, khô đét và vàng vọt của mình: một bận vào mùa xuân bằng hoa và lá mới, lần khác vào mùa thu - bằng tuyết.
Những cây dẻ và trăn cũng đang trổ hoa, những chùm hoa vàng óng của chúng đến tận bây giờ vẫn rũ khói phấn mỗi lúc lũ chim chóc chạm vào, nhưng mùa này không còn là thời kì rực rỡ của chúng nữa, - cái thời đó đã qua rồi. Giờ đây những bông hoa sao xanh nhỏ đã lên ngôi, chúng khiến ta kinh ngạc bởi sự đông đảo và vẻ đẹp của mình. Hiếm khi bắt gặp, nhưng những dây dầu đắng cũng làm ta không khỏi ngỡ ngàng.
Băng đã tan trên con đường rừng, chỉ còn lại lớp phân, và dường như ngửi thấy mùi ngai ngái của nó, vô số hạt từ những quả thông và vân sam tới tấp đáp xuống mặt đường.
Khói hoa dẻ
Cột phong vũ biểu sụt xuống, nhưng thay cho trận mưa lành ấm áp là một đợt gió lạnh ập đến. Dù vậy, mùa xuân vẫn tiếp tục về. Qua ngày hôm nay, những bãi cỏ bắt đầu khoác lên mình màu xanh mướt, lúc đầu là ở hai bên các con suối nhỏ, sau đó lan theo triền bờ phía Nam, ven những con đường, và đến chiều tối thì đã tỏa biếc khắp mặt đất. Những luống cày nhấp nhô như sóng gợn trên cánh đồng trông thật đẹp - màu đất đen đang loang rộng lẫn cùng màu xanh của cỏ bị cày lật lên. Chồi dã anh hôm nay đã biến thành ngọn giáo xanh biếc. Những chùm hoa dẻ bắt đầu rũ phấn, và dưới mỗi con chim chuyền cành chao liệng trên cây phỉ tử một làn khói nhẹ lại tỏa lan.
Nước mắt của niềm vui
Đêm qua, chúng tôi lên đường đến Teribrovo, một giờ khuya xuất phát đi săn gà rừng, lội qua suốt cánh rừng dưới trời mưa tầm tã đến tận tám giờ sáng mà chẳng kiếm được gì. Không có lấy một con chim lích rích. Trên đường về tôi nhìn thấy cây liễu hoàn diệp mập căng những chồi non, - đó chính là cái cây khi khuya tôi đi ngang qua đã tỏa ra một mùi hương thật thơm trong bóng đêm rét mướt. Còn mưa thì cứ rơi cho đến tận sáng trời.
Và ban mai ảm đạm đã đến, và cánh rừng, đã được rửa sạch trong nước mắt của niềm vui hay nỗi đau khổ, - ta sẽ không hiểu được. Nhưng bây giờ, giọng hót của con chim nhỏ cũng nghe rõ qua cả những bức tường của ngôi nhà, và nhờ đó chúng tôi hiểu rằng không phải nỗi đau khổ, mà là niềm vui đang ngời ngời tỏa rạng trên những nhành bạch dương bên ngoài ô cửa sổ .
Những đêm sôi động
Khoảng ba hay bốn ngày trước đã diễn ra bước đi vĩ đại và cuối cùng trong sự vận động của mùa xuân. Hơi ấm và những cơn mưa biến thiên nhiên của chúng ta thành một vườn ươm, không khí vương hương nhựa lá thơm của những cây dương non và liễu mềm đang trổ nụ. Những đêm sôi động ấm áp đã thực sự bắt đầu. Thật thú vị khi từ độ cao những gì đạt được của một ngày như vậy ngoảnh nhìn lại, và những ngày u ám phải trải qua là một sự cần thiết để tạo nên những đêm sôi động tuyệt diệu này.
Lông thỏ
Trong rừng rất hiếm khi gặp tuyết. Những sợi lông thỏ trắng muốt, bị đứt rụng trong các trận quyết đấu vào kì thay lông mùa xuân, rải đầy nền đất thẫm. Mùa đông vừa qua thỏ nhiều tới mức bạn có thể thấy khắp nơi dưới lớp đệm lá liễu hoàn diệp xám lông thỏ trắng vương đầy.
Giữa các thân cây liễu hoàn diệp, cỏ đã lên xanh gập lóng rủ xuống lớp lá liễu hoàn diệp lót nền chen lẫn những sợi rơm dài màu vàng tươi và những chùm hoa hiệt thảo. Một con thỏ đang thay lông chạy ra con đường xanh đầu tiên này, lông nó vẫn trắng nhưng chỉ còn từng mảng.
Sự vận động của mùa xuân
Sau các loài lá kim đến lượt liễu hoàn diệp vãi hạt, những hạt hình sâu kèn của chúng rải khắp các khoảng rừng thưa. Tôi theo dõi những mầm non xanh xuyên lên qua lớp rơm và cỏ khô năm ngoái. Tôi theo dõi những tấm thảm xanh đang được đan dệt dần, và lũ côn trùng râm ran ngày một nhiều hơn.
Bạch dương nảy lộc
Khi những cây bạch dương già kết hoa và những chùm hoa vàng óng che khuất đám lá nhỏ tí xíu nhú tít trên cao, trên các cây non ở phía dưới khắp nơi ta thấy những mầm lá xanh ngời bằng cỡ giọt mưa, nhưng dù vậy cả cánh rừng vẫn mang màu xám hoặc màu sô-cô-la, - thì đúng lúc ấy ta bắt gặp một cây dã anh và sửng sốt: trên nền xám, những chiếc lá của nó trông mới to và rực rỡ làm sao! Những nụ hoa dã anh đã sẵn sàng bung nở. Chim tu hú cất giọng ngọt ngào nhất. Họa mi học theo lấy điệu. Cây quỉ mẫu lúc này trông cũng rất kiều diễm vì những cành đầy gai nhọn còn chưa mọc dựng lên mà đang nằm xòe trên mặt đất thành một ngôi sao lớn tuyệt đẹp. Từ dưới làn nước đen trong đầm vươn lên và nở bung trên mặt nước những bông hoa độc màu vàng…
***
Còn giờ đây, khi trời sắp tối thì tất cả mọi sự đã trở nên rõ ràng: chính trong buổi chiều hôm nay đã hoàn tất bước ngoặt được mong đợi bấy lâu: sự chuyển mình từ mùa xuân còn trụi lá sang mùa xuân xanh tươi.
Điều ấy xảy ra như sau: chúng tôi đi vào thám thính một khu rừng hoang dã. Những gì còn sót lại từ đám lau sậy màu vàng trên các mô đất giữa những gốc thông và bạch dương nhắc chúng tôi nhớ đến dạo mùa hè và mùa thu cây rừng ở đây rậm rạp đến mức ánh mặt trời không thể lọt xuống, người cũng khó len qua. Nhưng chúng tôi rất thích chốn này vì trong rừng ấm áp và có thể cảm nhận mùa xuân ở trong tất cả sự vật. Bỗng một dải nước loé sáng lên trước mặt, và chúng tôi vô cùng vui sướng nhận ra đó là con sông Nerl. Đi thẳng ra bờ nước, chúng tôi dường như lập tức lạc vào một xứ sở khác với khí hậu ấm nóng: nơi đây sự sống sục sôi mãnh liệt, tất cả các loài chim đầm lầy đều hót ríu ran; tiếng chim dẽ gà, chim mỏ nhát gọi mái nghe như có Chú Ngựa Gù đang phi trong không khí dần sẫm lại; gà lôi cũng cất giọng gọi bạn, đàn sếu phát tiếng kèn hiệu của mình gần như ngay bên cạnh chúng tôi; tóm lại ở đây có tất cả những gì chúng tôi yêu mến, đến cả lũ vịt trời đang bơi cũng dừng lại trước mặt chúng tôi trên mặt nước trong veo. Và không hề có một tiếng động nhỏ nhất nào của con người: không tiếng huýt còi, không tiếng động cơ xe máy…
Chính vào giờ khắc đó, bước ngoặt của mùa xuân đã hoàn tất, cả thiên nhiên bắt đầu trỗi dậy và nảy lộc đâm chồi.
Tiếng rì rầm màu xanh đầu tiên
Đến chiều ở phía Tây, trời vẫn nắng trong, nhưng từ hướng khác những đám mây đen đang dần kéo đến, không khí trở nên oi ả và khó có thể đoán được đêm nay sẽ có giông hay không. Vô số cây mõm chó màu xanh lục mọc trên khoảng đất bỏ hóa, còn trong rừng rất nhiều đậu thơm, cải thỏ. Lá bạch dương thơm nhựa lấp loáng nắng chiều. Khắp nơi đượm mùi dã anh. Tiếng thiên nga và tiếng trẻ mục đồng ồn ĩ vọng lại. Cá mè và cá diếc bơi vào đến tận bờ.
Thấy một quầng lớn màu hồng hiện lên từ hướng chúng tôi đang đi tới, mọi người giật mình: “Chẳng lẽ có đám cháy?” Nhưng đó không phải là lửa, và chúng tôi tự hỏi mình, như ta vẫn thường tự hỏi suốt đời mỗi khi nhìn thấy cái đó mà lại không nhận biết là gì: “Nếu đấy không phải là đám cháy thì có thể là cái gì nhỉ?” Khi đã hiện ra rỡ ràng một vành đĩa lớn, chúng tôi mới đoán ra: ấy là mặt trăng. Chớp nguồn lóe lên rất lâu ở phía xa bên kia hồ. Trong cánh rừng lá rộng một làn gió nhẹ thổi qua, và chúng tôi lần đầu tiên nghe thấy tiếng rì rào màu xanh.
Tiếng chim gáy đầu tiên
Làm sao có thể nghĩ ra cái gì khác khi ta nhìn thấy một mặt hồ rộng: không để mất thì giờ vô ích, chúng tôi đi lần theo mép nước vào rừng, rồi đi tiếp vào sâu hơn, đến thôn Usolie, nơi làm việc của những người thợ đóng thuyền.
Phía bên phải chúng tôi, sát ngay mép hồ, là khu rừng thông thân cao rì rào trước gió; phía trái là đám rừng đầm lầy hoang dã không thể đi qua nằm bên rìa một không gian đầm lầy rộng lớn. Trong rừng thông, chúng tôi nhìn thấy những vệt bóng đen di chuyển trên đám việt quất; và ngửng đầu nhìn lên, tôi đoán ra đó là những con diều hâu bay liệng không tiếng động từ ngọn thông này sang ngọn thông khác.
- Không hiểu sao trước đây trời lạnh thế, còn từ chiều qua bỗng nhiên đổi khác, - ông lão thợ rừng nói với chúng tôi.
- Dù sao thì về chiều vẫn còn khá lạnh, - tôi đáp.
- Nhưng sáng nay lũ chim nó hót ghê lắm!
Vừa lúc đó một âm thanh vang lên, và phải mất một lúc lâu chúng tôi mới có thể nhận ra đó là tiếng hót đầu tiên của con cu gáy: tiếng chim vang lên và trôi nhòa dần đi trong cánh rừng thông. Rồi đến lượt những chú si rừng, những con chim bé nhỏ, - nhưng đó không phải là chúng hót, mà rúc lên inh ỏi. Khắp khu rừng rền vang, ồn ĩ, và chỉ có những con ác điểu to lớn bay lượn trên đỉnh rừng từ ngọn cây này qua ngọn cây khác là không tiếng động, chỉ có thể nhận thấy chúng qua những vệt bóng lướt êm trên đám việt quất nằm trong nắng.
Chuột chù
Trước mặt tôi, lớp lá cây bị mưa và tuyết nén chặt trên mặt đất bỗng nổi vồng lên, một vài chiếc lá dựng dậy theo chiều nghiêng, rồi ở một chỗ khác nghe có tiếng rúc rích rúc rích và hiện ra một cái vòi bé xíu, từ đó chui lên cả một con vật to bằng cái móng tay – đó là chú chuột chù.
Dự định không thành
Trong hố đất mới đào hôm qua chúng tôi bắt được một chú chuột chù. Đây là loài động vật có xương sống bé nhất mà tất cả chúng ta khi vào rừng đều bước đi trên nó, và thậm chí ở trong lòng đất dưới mỗi bước chân của chúng ta đều có một hay hai con chuột chù đang sống. Lông chuột chù cũng giống như lông chuột chũi: ngắn, đều đặn, dày, và có màu hơi biêng biếc xanh. Nó khác loài chuột thường ở cái mõm hình chiếc vòi nhỏ. Loài này hiếu động và nhanh không thể tả, nhảy rất cao trong cái lọ bị nhốt, bỏ mồi vào là chén liền. Petia đào một cái hố mới, và khi bắt được giun liền đem bỏ vào chiếc cốc tráng men cao 12 cm cho chuột chù.
Chúng tôi muốn thử xem nó có thể ăn một lúc được bao nhiêu giun. Sau đó, cũng với con chuột chù này, muốn thử xem nó có thể ăn những gì: chúng tôi cho nó ăn tất cả mọi thứ. Cuối cùng, chúng tôi quyết định thử có đúng là ánh nắng chiếu trực tiếp sẽ giết được chuột chù như người ta vẫn nói hay không. Và sau khi giết chết con vật sống ngầm dưới đất này bằng những tia nắng mặt trời, chúng tôi tính sẽ tìm cách cân, đo nó một cách cẩn thận, nghiên cứu nội tạng của nó, rồi đặt nó vào tổ kiến để có được một bộ khung xương sạch sẽ. Còn thiếu cái gì mà chúng tôi không muốn! Chúng tôi còn định tìm bắt một con chuột chũi và nhốt chúng cùng với nhau.
Nhưng tất cả những dự định của chúng tôi đều không thành hiện thực: chú chuột chù đã nhảy qua thành cốc cao 12 cm xuống đất, - mà đất đối với chuột chù cũng chẳng khác gì nước đối với cá, - và mất dạng trong nháy mắt.
Sự xuất hiện con vật kỳ lạ này và sự biến mất trong nháy mắt của nó còn đeo đẳng rất lâu nơi tâm trí tôi, tựa hồ như ý nghĩ của tôi bị giam cầm trong lòng đất, nơi những rễ cây ăn sâu và lan tỏa.
Bóng phản chiếu
Nước hôm nay lặng đến nỗi con chim dẽ giun bay trên mặt nước và bóng của nó dưới nước giống hệt nhau: có cảm tưởng như hai con chim dẽ giun đang bay đón đường chúng tôi vậy.
Trong buổi dạo chơi đầu tiên của mùa xuân, con chó Lada được phép đuổi theo lũ chim. Nó đã nhận ra hai con chim dẽ giun đang bay, - chúng hướng thẳng về phía nó lúc ấy đang ẩn sau bụi cây. Lada lao ra. Nó sẽ chọn cho mình con nào nhỉ, - chim thật đang bay trên mặt nước hay cái bóng phản chiếu của nó trong làn nước? Chúng giống hệt nhau như hai giọt nước.
Từ chuyện Lada đuổi theo hai con chim dẽ giun bay, tôi liên hệ đến bản thân mình: tôi đang đuổi theo con chim nào trong nghệ thuật ngôn từ của mình? Chẳng phải toàn bộ sự nghiệp của tôi đều nằm ở chỗ làm thế nào tránh để không đuổi theo ảo ảnh đó sao?
Kìa, Lada tội nghiệp đã chọn cho mình cái bóng, và, - có lẽ nó đang chắc mẩm là sẽ tóm ngay được con chim dẽ giun thực, - thoắt một cái từ trên bờ cao nhảy phắt lên và rơi tòm xuống nước.
Dã anh
Vì cảm thương cây bạch dương bị đốn gãy, tôi ngồi lại bên nó nghỉ chân và đưa mắt ngắm nhìn một cây dã anh cao lớn; rồi khi thì lãng quên nó, khi lại quay về với nó, tôi sửng sốt: có cảm giác như cây dã anh ngay trước mắt tôi đã khoác lên mình chiếc áo choàng trong suốt được dệt từ tiếng rì rào màu xanh. Thật vậy, giữa nền cây cối xám xịt vẫn còn chưa mặc lá và đám cây bụi đứng ken dày san sát, cây dã anh đã lên màu xanh biếc, và đồng thời xuyên qua màu xanh ấy tôi vẫn nhìn thấy đằng sau nó hàng bạch dương trắng mọc san sát bên nhau. Nhưng khi đứng lên định từ giã cây dã anh xanh biếc thì tôi lại có cảm tưởng như không còn trông thấy hàng bạch dương ở đằng sau nó nữa. Như vậy nghĩa là sao? Lẽ nào hàng bạch dương ấy là do tôi tưởng tượng ra, hay... hay là cây dã anh đã nảy lá đúng vào lúc tôi đang ngồi nghỉ…
Hai cây dã anh
Hôm qua dã anh đã đơm hoa và cả thành phố rước từ rừng về những cành hoa trắng.
Tôi biết trong rừng có một cây dã anh đã bao năm nay đấu tranh vì sự sống của mình: nó cố gắng mọc lên thật cao để tránh khỏi bàn tay những kẻ muốn bẻ cành của nó. Và cây dã anh đã thành công - bây giờ thân của nó hoàn toàn trơn trụi, hệt như một cây cau, không có nhánh cành nào để con người có thể bám vào trèo lên, và nó kết hoa ở trên đỉnh ngọn của mình.
Một cây dã anh khác không làm nổi điều đó, và nó trở nên xác xơ, trên thân của nó giờ chỉ còn nhô ra những que cành trơ trụi.
Những vị khách
Chúng tôi có khách. Từ đống củi bên cạnh (hai năm nay đã nằm chờ nước lớn) một con chim chìa vôi bay lại chỗ chúng tôi - đơn giản là vì tò mò, chỉ để ngắm con người. Theo ước tính của tôi, đống củi này có lẽ đủ để chúng tôi sưởi trong năm mươi năm - có nghĩa là rất nhiều! Và sau mấy năm nằm vô ích phơi gió, phơi mưa, phơi nắng, các súc gỗ đã đen thẫm lại, nhiều đống đổ dồn vào nhau, những đống khác sụt xuống vương vãi tạo thành những hình thù lạ mắt. Vô số côn trùng sinh sôi nảy nở trong các khúc gỗ mục, và rất nhiều chim chìa vôi đến sống ở đây. Chúng tôi nhanh chóng phát hiện ra cách chụp ảnh những con chim nhỏ này ở khoảng cách gần: khi thấy nó đậu phía bên kia đống củi và cần nhử nó lại gần thì bạn phải ló ra ở đằng xa rồi lập tức trốn ngay. Khi đó, chim chìa vôi vì tò mò sẽ chạy đến tận rìa đống củi để tìm nhìn bạn, và thế là bạn sẽ có nó trên chính súc củi mà bạn đã hướng ống kính máy ảnh đón sẵn từ trước.
Điều đó rất giống trò ú tim, nhưng ú tim là trò của trẻ con, còn ở đây lại là tôi, một người già cả, đang chơi đùa với con chim chìa vôi.
Một chàng sếu bay tới đậu xuống giữa những mô đất nhấp nhô trong bãi lầy màu vàng ở phía bên kia sông và vừa bước đi vừa nghiêng ngó nhìn quanh.
Chim ó cá, một ác điểu chuyên săn bắt cá, bay tới và nhắm thấy con mồi ở bên dưới bèn dừng trên không trung, khép đôi cánh lại.
Con diều hâu có cái lỗ tròn ở đuôi liệng vòng tít trên cao.
Một chú diều mướp, vốn rất mê trứng chim, cũng bay tới; lúc ấy cả lũ chìa vôi liền chao chát bay lên khỏi đống củi như đàn muỗi vun vút lao vào diều mướp. Những con quạ đang canh tổ của mình cũng nhanh chóng bay đến nhập bọn với đàn chìa vôi. Lúc ấy bộ dạng chú diều mướp ác điểu khổng lồ trông thật thảm hại, nó kinh hoàng vội vã lao đi, bay mất dạng.
Nghe rõ tiếng “gù gù” của những chú bồ câu rừng.
Trong rừng thông, chim tu hú gáy không ngớt.
Một chú diệc lao bổ ra từ đám sậy già khô.
Sát ngay bên cạnh, tiếng gà lôi làu bàu liên tục.
Chim sẻ đầm lầy lích rích đu đưa trên một nhánh sậy mảnh mai.
Dưới lớp lá già, đám chuột chù rúc rích.
Và khi trời trở nên ấm hơn thì lá dã anh trông giống như những con chim nhỏ cánh xanh cũng bay về và ngụ lại như những vị khách; những cánh sen gió tim tím bay lại, dây dầu đắng vươn thật xa, cho đến khi tất cả các tầng rừng đều được phủ kín chồi xanh.
Cành liễu mềm còn non, nhưng lũ ong mật, ong đất đã bay đến vo ve rì rầm, mấy con bướm cũng xếp cánh đậu lại.
Một ả cáo rậm lông dáng vẻ tất bật thấp thoáng trong đám sậy non.
Rắn lục phơi mình cuộn tròn trên mô đất.
Có cảm tưởng như cái thời khắc kì diệu này sẽ không bao giờ kết thúc. Nhưng hôm nay, trong khi nhảy từ mô đất này sang mô đất khác trên đầm lầy, chợt nhận thấy có cái gì đó trong làn nước, tôi cúi xuống và phát hiện ra hằng hà sa số những con cung quăng ấu trùng của muỗi.
Chẳng bao lâu nữa, chúng sẽ mọc cánh, từ dưới nước trồi lên và xoạc chân đứng trên mặt nước đối với chúng là vững chãi, lấy can đảm bay lên và kêu vo ve khắp nơi. Khi ấy những ngày trời nắng sẽ trở nên xám xịt bởi loài côn trùng hút máu này. Nhưng đạo quân vĩ đại đó lại gìn giữ cho sự trinh nguyên của cánh rừng đầm lầy, không cho đám dân đi nghỉ tàn phá vẻ đẹp của chốn hoang sơ.
Một đàn cá dầy xuất hiện. Hai người đánh cá bơi thuyền tới. Và khi chúng tôi đã dọn dẹp để rút đi, họ liền nhóm ngay một đống lửa ở trên chỗ của chúng tôi, đặt nồi lên, đánh vẩy cá dầy, rồi ngồi húp món canh cá suông và ăn cá không kèm bánh mì.
Trên rẻo đất khô ráo duy nhất này có lẽ những người đánh cá thời cổ đại cũng đã nhóm lên những đống lửa của mình, còn bây giờ chiếc xe ô tô của chúng tôi đang đỗ ở đây. Khi chúng tôi nhổ nốt cái lều bạt đã từng làm nhà bếp, một bầy ri đá bay lại và mổ ăn những thứ còn sót lại. Và đó là những vị khách cuối cùng của chúng tôi.
Ý nghĩ tội nghiệp
Trời đột nhiên trở ấm. Petia mải đi đánh cá, nó thả lưới ở hồ than bùn để bắt cá giếc và trông thấy khoảng gần chục cây bạch dương non cao ngang tầm người mọc trên dải bờ đối diện nơi thả lưới. Mặt trời tròn vạnh đã lặn. Tôi đi nằm nghỉ: khắp nơi ran ran tiếng ếch nhái và giọng hót họa mi cùng tất cả những gì tạo nên một "đêm nhiệt đới" vô cùng sôi động.
Nhưng đôi lúc lại có chuyện thật éo le: trong khi mọi sự đang tốt đẹp thì trong óc của con người tội nghiệp lại nảy ra một ý nghĩ thật tội nghiệp khiến người ta không thể tận hưởng niềm hạnh phúc của đêm nhiệt đới. Petia chợt nghĩ rằng có ai đó, giống như hồi năm ngoái, đã theo dõi và đang đêm lấy trộm lưới của nó. Sớm tinh mơ, Petia chạy ngay ra hồ và quả nhiên trông thấy một đám người đứng lố nhố chính ở nơi nó thả lưới tối qua. Trong cơn cáu giận, có thể sẵn sàng nhảy vào đánh nhau với cả chục con người vì mấy tấm lưới, nó lao bổ tới rồi bỗng đứng khựng lại nhoẻn miệng cười: đó chẳng phải là người, mà là khoảng gần chục cây bạch dương kia sau một đêm đã nảy đầy lá, trông từ xa hệt như một đám người đang đứng.
Sự sống trong vỏ cây
Năm ngoái, để đánh dấu chỗ trên bãi đẵn gỗ, chúng tôi đã bẻ gãy một cây bạch dương non: phần thân gãy của nó rủ xuống treo lủng lẳng gần như chỉ trên một rẻo vỏ mảnh hẹp. Năm nay, quay trở lại chỗ đó, tôi hết sức ngạc nhiên thấy cây bạch dương nọ vẫn xanh tươi, có lẽ bởi vì rẻo vỏ mảnh mai kia vẫn truyền nhựa sống cho phần thân cây bị gãy.
Cô gái giữa rừng bạch dương
Trên những cây bạch dương chỉ mới hiện lên màu non xanh mơn mởn và rừng bỗng trở nên rộng lớn hơn, mang vẻ thật trinh nguyên. Trong những khu rừng đó, đoàn tàu của chúng tôi không có vẻ như một con quái vật, ngược lại, tôi thấy nó khá là tiện nghi. Tôi cảm thấy rất vui vì mình có thể ngồi cạnh cửa sổ và chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những cánh rừng bạch dương lấp loáng không ngừng trôi ngang qua. Đứng cạnh ô cửa tiếp theo là một cô gái trẻ nhưng không thật xinh đẹp lắm. Thỉnh thoảng cô lại ngả đầu ra phía sau và ngó quanh khắp toa tàu, như một con chim tìm diều hâu, để xem có ai nhìn mình không? Sau đó, cô lại áp mình vào cửa sổ.
Tôi muốn nhìn xem, trông cô như thế nào khi đối diện với cái khối xanh bao la của bạch dương. Lặng lẽ đứng dậy, tôi thận trọng nhìn vào ô cửa sổ. Cô gái mê mải ngắm cái khối bạch dương non xanh biếc đang sáng lên lấp loáng, mỉm cười với nó và thì thầm điều gì đó, đôi má ửng hồng…
Vàng anh
Những chồi thông từ xa trông như búp nến. Lúa mạch đen ngập đến đầu gối. Cây cối, những vạt cỏ cao, những bông hoa đều khoác màu sặc sỡ. Trong tiết chớm xuân này, chim chóc cũng như ngừng hoạt động, những con đực ẩn vào chỗ kín đáo thay lông, những con mái giữ mình chay tịnh trong tổ. Thú rừng bận kiếm mồi cho lũ thú non. Người nông dân mải miết với vụ xuân, hết gieo hạt lại cày bừa.
Những con chim vàng anh, cun cút, sa yên, én bờ bay đến. Sau cơn mưa đêm, buổi sáng sương mù dày đặc, tiếp đó là một ngày nắng đẹp, trời đất trong lành. Trước lúc hoàng hôn buông, gió bắt đầu đổi chiều, thổi từ hướng dãy núi sau lưng chúng tôi ra mặt hồ, nhưng những gợn sóng vẫn tiếp tục chạy về phía chúng tôi. Mặt trời như một quả cầu lớn bờm xờm không chói sáng lặn xuống rừng từ phía sau đám mây xanh.
Chim vàng anh rất thích thời tiết biến động, thay đổi thất thường, chúng muốn mặt trời lúc thì bị che phủ, lúc lại hé sáng và gió nô đùa với lá như những con sóng. Với lũ chim vàng anh, chim én, hải âu và sa yên, gió là chỗ thân tình.
Hôm nay, từ sáng sớm trời đã mang vẻ âm u. Sau đó trở nên oi ả, và một đám mây đen lớn tiến lại chỗ chúng tôi. Gió nổi lên; trong tiếng véo von của vàng anh và tiếng the thé của sa yên, đám mây trôi dần về hướng Zazer và dường như tan loãng đâu đó trong những khu rừng, nhưng chẳng bao lâu sau nó lại phình lớn ra và đội chiếc mũ trắng khổng lồ ngược gió tiến về phía chúng tôi. Hồ nước trở nên sôi động, gió tiếp gió, sóng tiếp sóng, những vệt đen như bóng của những đôi cánh nhanh chóng lao đi mọi hướng khắp mặt hồ. Một tia chớp lóe lên soi sáng dải bờ bên kia, sấm nổ vang. Vàng anh ngừng giọng, sa yên cũng lặng tiếng, chỉ còn hoạ mi vẫn hót đến tận cùng, có lẽ tới chừng nào những giọt nước mưa ấm áp to tướng còn chưa đổ xuống gáy nó. Rồi mưa bắt đầu tuôn như trút.
Mật ong
Cái lạnh rớt tháng Năm qua đi, trời trở ấm và hoa dã anh bắt đầu bớt vẻ rực rỡ. Thế vào đó, thanh lương trà bắt đầu nhú nụ và tử đinh hương cũng đang đơm hoa. Khi nào thanh lương trà đồng loạt trổ hoa thì mùa xuân sẽ hết; hoa thanh lương trà trở nên đỏ rực là độ mùa hè qua; lúc ấy chúng tôi bắt đầu những chuyến đi săn mùa thu, và cho đến tận mùa đông sẽ bắt gặp những trái thanh lương trà đỏ rực trong rừng.
Khó có thể nói chính xác hoa dã anh có mùi hương như thế nào, cũng không thể so sánh nó với bất cứ một cái gì khác. Lần đầu tiên ngửi hoa dã anh mùa xuân, tôi nhớ lại tuổi thơ, nhớ đến những người thân của tôi, và tôi nghĩ về họ, rằng họ cũng như tôi đang ngửi hoa dã anh và cũng không thể nói nó có mùi hương như thế nào. Cả các ông bà, các cụ tổ và cả những ai sống ở cái thời mọi người còn hát thiên tráng sĩ ca về đoàn quân Igor, và còn trước đó nhiều nữa vào cái thời hồng hoang của loài người - thời nào cũng có hoa dã anh thơm, có giọng họa mi hót, có muôn vàn loài cỏ, loài hoa và loài chim ca hát, và có những tình cảm và cảm xúc khác nhau gắn với tất cả những cái đó tạo nên tình yêu tổ quốc của chúng ta. Chỉ trong một mùi hương dã anh ta đã gắn bó với toàn bộ quá khứ. Và kìa, hoa dã anh đã bắt đầu tàn. Lần cuối cùng tôi muốn nâng bông hoa lên ngửi, trong một hi vọng sau cuối và vô ích là sẽ hiểu được rốt cục dã anh có mùi hương gì. Và tôi kinh ngạc cảm thấy từ những bông hoa đó tỏa ra mùi hương mật ong. Đúng thế, tôi nhớ rất rõ, trước phút cuối đời mình hoa dã anh không tỏa ra mùi hương của chính nó như chúng ta quen thấy, mà là hương mật ong, và điều đó nói với tôi rằng những bông hoa ấy tồn tại không vô ích. Cứ mặc cho giờ đây những bông dã anh đang tàn rụng, nhưng bù lại chúng đã góp được bao nhiêu mật cho đời!
Tầng lá trên cao
Buổi sáng, tuyết rơi hôm qua vẫn còn vương đọng trên mặt đất. Rồi mặt trời hiện ra và suốt ngày những đám mây nặng nề trôi đi trong gió Bắc buốt lạnh, lúc để lộ mặt trời, lúc lại phủ che đầy vẻ đe dọa.
Còn trong rừng, ở nơi kín gió, cuộc sống mùa xuân vẫn thản nhiên tiếp diễn. Và đây đúng là một cảnh tượng cổ tích: các cành nhánh còn chưa mặc áo lá nhưng đã nở dầy những nụ và hoa hoặc những chồi non xanh dài căng nhựa; chúng từ tất cả các tầng rừng rủ xuống, xoắn xuýt, quấn bện vào nhau. Những vòi hoa dã anh màu xanh; hoa trên cây cơm cháy trông chẳng khác gì món cháo đỏ; từ màn lá liễu buông lơi như mái tóc mềm, những nụ hoa vàng bé xíu trổ ra và kết thành hình những chú vịt lông vàng vừa chui ra khỏi vỏ trứng.
Thậm chí cả thân của những cây vân sam chưa già cũng phủ kín lá kim xanh non như một lớp lông, còn ở phía trên nhánh tít trên cùng của cây cũng đang dần dần hình thành một tầng lá mới non tơ.
Tôi nói điều này không phải để chúng ta, những kẻ đã trưởng thành và phức tạp, quay trở về với thời niên thiếu, mà là để trong bản thân mỗi người vẫn giữ được con người thơ trẻ của mình, không bao giờ quên nó và xây dựng cuộc sống của mình như một cái cây: vòm lá non tơ đầu tiên kia của cây luôn luôn ở trên cao, trong ánh sáng, còn thân cây là sức mạnh của nó, là chúng ta - những người đã trưởng thành.
Chia tay và gặp gỡ
Tôi quan sát một cách đầy thán phục sự khởi đầu của dòng nước. Trên ngọn đồi có cây thông rất cao; từ các cành lá những hạt mưa nhỏ chảy dồn xuống thân cây, tụ lại thành giọt nước lớn vòng vèo vượt qua những đoạn vênh cong rồi mất hút trong các lớp rêu dày xanh nhạt bao quanh thân cây. Ở sát mặt đất, nơi gốc cây bị uốn gập, nước từ trong đám rêu nhỏ thành dòng xuống vũng nước lặng sủi tăm bên dưới. Ngoài ra có nhiều giọt nước từ các cành cây cao rơi thẳng xuống đất tạo nên những giai điệu khác nhau.
Cái hồ nhỏ đầy tràn dưới gốc cây chợt vỡ ra ngay trước mắt tôi; một dòng nước xuyên dưới lớp tuyết chảy về phía con đường lúc này đã biến thành đập chắn lũ. Dòng nước mới sinh mạnh đến mức phá vỡ cả đập chắn - con đường - rồi băng băng chảy qua vương quốc của quạ ra con sông nhỏ. Khu rừng trăn bên bờ sông ngập chân trong dòng lũ; nước từ cành cây nhỏ giọt xuống tạo nên vô số bong bóng. Tất cả đám bong bóng chậm chạp di chuyển trên mặt nước về phía dòng chính rồi đột ngột tăng tốc chảy xuôi theo lòng sông ngầu bọt.
Trong màn sương mù thấp thoáng những bóng chim bay, nhất thời tôi chưa xác định được đó là loài chim gì. Chúng vừa bay vừa kêu chiêm chiếp, tôi không thể phân biệt nổi tiếng kêu của chúng trong tiếng réo của dòng sông. Lũ chim đậu xuống một đám cây mọc ở phía xa bên bờ nước, tôi liền đi đến đó để xem những vị khách nào từ miền xa ấm áp đã tới thăm chúng tôi sớm như thế.
Trong tiếng réo của dòng chảy và tiếng ngân nga của những giọt nước, đầu óc tôi, - như vẫn xảy ra khi nghe các bản nhạc thực thụ của con người, - bị ám ảnh bởi những ý nghĩ về bản thân xoay quanh một vết thương lớn của mình mà chừng ấy năm trời không thể nào thành sẹo.
Tôi như chợt tỉnh khi nghe giọng hót của chim di hoa. Không thể tin vào tai mình, nhưng chẳng mấy chốc tôi đã hiểu rằng những con chim bay ra từ sương mù, những vị khách đến sớm đó thảy đều là chim di hoa. Hàng ngàn con chim di hoa cùng bay, cùng hót, một số đậu trên cây và vô số tản ra trên những luống đất cày ải mùa thu, - và lần đầu tiên tôi hiểu ra mối liên quan giữa chim di hoa và đất cày ải mùa thu. Nhưng cái chủ yếu tôi cảm thấy trong cuộc gặp gỡ với những con chim được mong đợi này lại là một nỗi lo sợ, - rằng nếu như chúng nhỏ bé hơn, tôi thầm nghĩ, rất có thể tôi đã hoàn toàn bỏ qua, không để ý đến chúng.
Và thế là, - tôi thầm nghĩ, - hôm nay tôi bỏ qua những con chim di hoa, còn ngày mai tôi sẽ bỏ qua một con người sống tử tế, và người đó sẽ chết mà tôi không hề quan tâm. Tôi hiểu rằng trong sự xao lãng này của tôi có mầm mống khởi đầu của một nhầm lẫn lớn lao căn bản nào đó.
Gửi người bạn chưa quen biết
Buổi sớm ấy sương mai đọng nắng, tựa như miền đất chưa người khám phá, như tầng trời chưa được biết đến, đó là buổi sớm mai duy nhất, chưa có ai thức dậy, chưa ai nhìn thấy gì, và chính bạn là người đầu tiên…
Chim họa mi ca nốt bài ca cuối xuân, hoa bồ công anh còn náu mình nơi gió lặng, và có thể đâu đó trong bóng râm tối ẩm ướt có một bông linh lan đang tỏa sáng lặng thầm. Cất tiếng tiếp sức cho họa mi là lũ chim nhỏ linh lợi của mùa hè - chim tiêu liêu, và đặc biệt là tiếng sáo tuyệt hay của chim vàng anh. Khắp nơi tiếng bầy sáo lách nhách rộn ràng; và bác gõ kiến, đã quá mệt mỏi vì phải kiếm mồi sống nuôi lũ chim non, tìm đến đậu nghỉ trên một nhành cây xa.
Hãy dậy đi, hỡi bạn của ta! Hãy gom giữ những tia hạnh phúc của chính mình, hãy dũng cảm, hãy bắt đầu cuộc tranh đấu, hãy giúp sức mặt trời! Hãy lắng nghe, kìa chim tu hú cũng sẵn lòng giúp bạn. Hãy nhìn xem, chim diều mướp đang bơi trên mặt sóng: đó không phải là con chim bình thường, trong buổi sáng mai này nó là đầu tiên và duy nhất; và kia những con quạ lông lấp loáng sương sớm đã bay ra đường mòn - ngày mai chúng sẽ không lấp loáng như vậy nữa, vì đó không còn là ngày hôm nay, và những con quạ sẽ bay đến một nơi nào đó khác. Buổi sáng mai này là duy nhất, không một người nào trên khắp địa cầu còn thấy được nó: chỉ có anh và người bạn chưa quen biết của anh được thấy mà thôi.
Đã hàng chục ngàn năm, con người sống trên mặt đất, đã tích góp, đã truyền cho nhau niềm vui, để chờ bạn đến nâng nó lên, gom những mũi tên của nó lại và tận hưởng niềm sung sướng. Hãy dũng cảm, hãy dũng cảm lên!
Và tâm hồn sẽ lại trở nên rộng mở: kìa những cây vân sam, những cây bạch dương, - và tôi chẳng thể nào rời mắt khỏi những búp nến thông xanh và quả vân sam thắm đỏ. Vân sam, bạch dương, ôi buổi sáng nay tuyệt vời đến thế!
Ếch nhái hồi sinh
Đêm, chúng tôi nghỉ lại trong túp lều bạt với con vịt mồi. Rạng sáng, trời trở nên rét dữ, nước đóng băng, tôi bị nhiễm lạnh nặng, và cả ngày cảm thấy mệt mỏi, tới chiều thì đổ ốm thật sự. Suốt ngày hôm sau, tôi nằm mê mệt trên giường, không còn biết trời đất gì nữa, phó mặc mình cho cuộc đấu giữa sự sống và cái chết. Sáng ngày thứ ba, tôi mơ thấy dải bờ đẹp như gấm thêu của hồ Pleseevo(7) và đàn hải âu trắng muốt trên những mũi băng san sát trong làn nước xanh. Trong đời thực, phong cảnh cũng đúng hệt như trong mơ tôi thấy. Đàn hải âu trắng bơi trong làn nước xanh sao mà đẹp đến thế, và phía trước còn nhiều điều thật tuyệt vời: tôi sẽ còn được thấy cả mặt hồ rộng khi băng tan, và mặt đất phủ trong lớp cây cỏ xanh rì, bạch dương mướt lá, tiếng rì rào màu xanh đầu tiên...
Từ hôm qua, trời lại trở ấm và đã nghe tiếng sấm từ xa vẳng tới.
Vẫn còn rã rời sau cuộc vật lộn sống chết song hạnh phúc vì chiến thắng, tôi rời khỏi giường, nhìn ra ngoài cửa sổ và thấy cả bãi cỏ trước nhà phủ đầy những loài chim nhỏ khác nhau: rất nhiều ri sừng, tất cả các loại chim sáo hay hót, sáo xám và sáo đen, sáo đầu xám, sáo mày trắng - vô số chim chạy đi chạy lại trên bãi cỏ, vỗ cánh và tắm trong vũng nước rộng. Đúng là một cuộc đại hội toàn thể của các loài chim hay hót.
Mấy con chó bị cột vào gốc cây không hiểu vì sao bỗng sủa toáng lên và ngơ ngác nhìn một cái gì đó trên mặt đất.
- Kìa, sấm làm ra đấy, - người hàng xóm nói và chỉ tay vào chỗ mấy con chó đang dán mắt nhìn.
Một chú ếch lưng lấp loáng ướt nhảy thẳng về phía mấy con chó, và đúng khi tưởng như vấp vào chúng liền đột ngột đổi hướng và ném mình vào vũng nước rộng. Ếch nhái đang hồi sinh, và dường như tiếng sấm đã làm nên điều đó: cuộc sống của loài ếch gắn liền với tiếng sấm - khi sấm nổ là lúc ếch nhái hồi sinh và nhảy ra, lưng ẩm ướt lấp loáng dưới nắng, và tất cả đều hướng tới vũng nước lớn nơi đây. Tôi bước đến gần vũng nước, cả lũ đều thò đầu lên nhìn tôi: đúng là những chú chàng tò mò!
Vô số côn trùng bay đến sưởi nắng, và bao nhiêu là chim trên bãi cỏ! Nhưng hôm nay vừa ốm dậy, tôi không muốn truy tìm tên của chúng, hôm nay tôi cảm nhận toàn bộ cuộc sống của thiên nhiên một cách tổng thể và tôi không cần những tên gọi riêng. Tôi cảm thấy có một mối quan hệ thân thuộc với tất cả các sinh vật bay, bơi, chạy này, đối với mỗi loài trong lòng tôi đều có một hình ảnh ghi nhớ riêng, sau hàng triệu năm đọng lại giờ đây đang chảy trong huyết quản của tôi: tất cả đều có ở trong tôi, và chỉ cần nhìn và nhận biết.
Phát sinh từ cảm xúc sống, những ý nghĩ của tôi ngày hôm nay thành hình một cách thật đơn giản: có một thời gian ngắn vì trận ốm tôi đã rời xa cuộc sống, đã đánh mất một cái gì đó và giờ đây đang khôi phục lại. Cũng như hàng triệu năm trước đây chúng ta đã đánh mất đôi cánh, một đôi cánh cũng tuyệt vời như đôi cánh hải âu, và vì chuyện đó xảy ra đã rất lâu nên giờ đây chúng ta mới nhìn chúng ngưỡng mộ đến vậy.
Chúng ta đã đánh mất khả năng bơi như cá, lắc lư trên cái sào gắn vào thân cây lớn, thiên di từ miền đất này sang miền đất khác như những hạt giống bay, và chúng ta say mê tất cả những cái đó bởi vì tất cả đều từng là của chúng ta, chỉ có điều đó là chuyện đã từ lâu, rất lâu rồi. Chúng ta nhất thống với toàn thể thế giới, bây giờ chúng ta khôi phục mối quan hệ ấy với sức mạnh của sự quan tâm ruột thịt và bằng chính cách đó chúng ta khám phá ra cái riêng của mình trong những con người có lối sống khác, thậm chí là trong các loài động vật, thậm chí trong các loài thực vật…
Tới giữa trưa, cũng như hôm qua, khi tiếng sấm vang lên ì ầm, mưa ấm áp bắt đầu rơi. Chỉ sau một giờ, lớp băng trên mặt hồ từ màu trắng đã chuyển thành trong suốt, tiếp nhận vào mình, tựa như nước ven bờ, màu xanh của bầu trời khiến tất cả tiếp liền như một mặt hồ xanh mênh mông.
Sau buổi hoàng hôn, sương bắt đầu giăng trên những lối mòn trong rừng, và cứ sau mười bước chân lại có một đôi chim đa đa bay vụt lên. Gà lôi thả sức thì thầm, cả khu rừng thì thầm và rì rào. Đám dẽ giun cũng hòa giọng theo.
Trong màn đêm, ở phía ngoài thành phố, có ba nguồn ánh sáng cùng chiếu rọi: phía trên là những ngôi sao xanh, nơi chân trời là ánh điện vàng của khu dân cư, còn trên mặt hồ là những luồng sáng lớn gần như đỏ rực của thuyền đánh cá. Khi một vài luồng sáng đó tiến đến gần bờ, chúng tôi thấy có cả khói và hiện ra những người cầm đinh ba xiên cá trong tay, cảnh tượng đó gợi nhớ đến những hình người cùng những con rồng trên bình cổ Olivia và Pantikápaion.
https://thuviensach.vn
MIKHAIL PRISVIN (1873 — 1954)
Lời người dịch
Mikhail Prisvin là một trong những nhà văn Nga viết về thiên nhiên nổi tiếng nhất. K. Paustovski, tác giả Bông hồng vàng rất quen thuộc với độc giả Việt Nam đã viết về ông: “Nếu như thiên nhiên có thể cảm thấy sự biết ơn đối với con người vì con người đã đi sâu vào đời sống bí ẩn của thiên nhiên và ca ngợi vẻ đẹp của nó, thì trước hết sự biết ơn đó phải dành cho Mikhail Prisvin”.
Về M. Prisvin, xin đọc bài của K. Paustovski ở cuối sách, ở đây chỉ ghi lại mấy nét tiểu sử của nhà văn.
Mikhail Mikhailovitr Prisvin (Михаил Михайлович Пришвин) sinh ngày 4 tháng 2 năm 1873 tại trang ấp Khrusevo (Хрущево) gần thành phố Eles (Елец), tỉnh Orlovskaia (Орловская губерния), miền Trung nước Nga, trong một gia đình ban đầu khá sung túc nhờ thừa kế tài sản của ông nội giàu có nhưng sau bị phá sản vì người bố ham mê săn bắn, cờ bạc. Thuở nhỏ ông học ở trường trung học Eles nhưng bị đuổi học vì “xung đột với thầy giáo” – ông thầy này về sau cũng là một nhà văn khá nổi tiếng và trở thành bạn đồng chí hướng của Prisvin. Sau khi học qua các trường Trung học Tiumen, Cao đẳng Bách khoa Riga, năm 1902, ông tốt nghiệp kĩ sư Nông học Đại học Tổng hợp Leipzig (Đức), làm việc ở nhiều vùng nông thôn Nga, xuất bản một số cuốn sách và bài viết về nông nghiệp. Từ năm 1905, ông bắt đầu bước vào nghề báo chí, năm 1906 in truyện ngắn đầu tay Sasok (Сашок), từ đó M. Prisvin lần lượt cho ra đời những cuốn sách tạo nên tên tuổi của ông trong làng văn nước Nga như Ở xứ sở những con chim không sợ hãi (В краю непуганых птиц, 1907), Bên những bức tường của thành phố vô hình (У стен града невидимого, 1909), Adam và Eva (Адам и Ева, 1909), Aral đen (Черный Арал, 1910)... Năm 1912 - 1914, xuất bản bộ Tuyển tập tác phẩm đầu tiên của M. Prisvin gồm ba tập.
Trong thời gian Thế chiến thứ nhất, M. Prisvin làm phóng viên chiến tranh, sau đó làm nghề dạy học ở Smolensina (Смоленщина). Năm 1925, ông viết Những nguồn mạch Berendei (Родники Берендея) mà năm 1935, được bổ sung in lại với tên mới Lịch thiên nhiên (Календарь природы). Từ năm 1927 đến 1930, nhà văn xuất bản bộ mới Tuyển tập tác phẩm gồm bảy tập với lời giới thiệu của M. Gorki. 1933 là năm ra đời một trong những tác phẩm hay nhất của Prisvin Nhân sâm (Женьшень). Năm 1940, ông viết trường ca bằng văn xuôi Phaselia (Фацелия) và tập tiểu phẩm trữ tình – triết học Giọt rừng (Лесная капель), cả hai được xuất bản năm 1943. Sau Thế chiến II, những tác phẩm đáng chú ý của M. Prisvin có thể kể Kho mặt trời (Кладовая солнца, 1945), Câu chuyện của thời đại chúng ta (Повесть нашего времени, 1946), Rừng thông cao vút (Корабельная чаща, 1954), Đôi mắt của đất (Глаза земли, 1957), v. v…
Nhà văn qua đời ngày 16 tháng 1 năm 1954 tại Moskva.
Tên của ông được đặt cho nhiều đường phố ở các địa phương khác nhau của nước Nga.
**
Lời tác giả Thuở xưa khi còn là những đứa trẻ hiếu kì, chúng tôi thường hay đập vỡ đồ chơi của mình cũng như bất cứ thứ quà tặng nào, thậm chí cả đồng hồ, để biết được bên trong có những gì. Rồi ở trường, người ta cũng dạy chúng tôi cách ứng xử với thiên nhiên như thế: được dẫn ra ngoài cánh đồng, mỗi người hái một bông hoa rồi bứt cánh để đếm xem hoa có bao nhiêu cánh, bao nhiêu nhuỵ, đài hoa kết cấu ra sao v.v... Nói chung, sự thể xảy ra với bông hoa cũng hệt như với những đồ chơi thời thơ bé: hình dạng bị dập nát, xé nhỏ - và không còn cả bông hoa cũng chẳng còn cả đồ chơi nữa.
Còn bây giờ thì chúng tôi học thiên nhiên không chỉ không phá hỏng hình ảnh của bông hoa đá sống động(1) mà ngược lại còn làm giàu cho thiên nhiên những hình ảnh mang tính người của mình.
Chính tôi cũng đã học được điều đó trong quá trình ghi chép viết lách. Và thế là Giọt rừng của tôi ra đời như một trải nghiệm nghiên cứu đầy chất thơ cái thiên nhiên được hiểu trong sự hoà hợp với con người sống trong nó và tạo ra nó.
$$
Lời người dịch
MIKHAIL PRISVIN (1873 — 1954)
Mikhail Prisvin là một trong những nhà văn Nga viết về thiên nhiên nổi tiếng nhất. K. Paustovski, tác giả Bông hồng vàng rất quen thuộc với độc giả Việt Nam đã viết về ông: “Nếu như thiên nhiên có thể cảm thấy sự biết ơn đối với con người vì con người đã đi sâu vào đời sống bí ẩn của thiên nhiên và ca ngợi vẻ đẹp của nó, thì trước hết sự biết ơn đó phải dành cho Mikhail Prisvin”.
Về M. Prisvin, xin đọc bài của K. Paustovski ở cuối sách, ở đây chỉ ghi lại mấy nét tiểu sử của nhà văn.
Mikhail Mikhailovitr Prisvin (Михаил Михайлович Пришвин) sinh ngày 4 tháng 2 năm 1873 tại trang ấp Khrusevo (Хрущево) gần thành phố Eles (Елец), tỉnh Orlovskaia (Орловская губерния), miền Trung nước Nga, trong một gia đình ban đầu khá sung túc nhờ thừa kế tài sản của ông nội giàu có nhưng sau bị phá sản vì người bố ham mê săn bắn, cờ bạc. Thuở nhỏ ông học ở trường trung học Eles nhưng bị đuổi học vì “xung đột với thầy giáo” – ông thầy này về sau cũng là một nhà văn khá nổi tiếng và trở thành bạn đồng chí hướng của Prisvin. Sau khi học qua các trường Trung học Tiumen, Cao đẳng Bách khoa Riga, năm 1902, ông tốt nghiệp kỹ sư Nông học Đại học Tổng hợp Leipzig (Đức), làm việc ở nhiều vùng nông thôn Nga, xuất bản một số cuốn sách và bài viết về nông nghiệp. Từ năm 1905, ông bắt đầu bước vào nghề báo chí, năm 1906 in truyện ngắn đầu tay Sasok (Сашок), từ đó M. Prisvin lần lượt cho ra đời những cuốn sách tạo nên tên tuổi của ông trong làng văn nước Nga như Ở xứ sở những con chim không sợ hãi (В краю непуганых птиц, 1907), Bên những bức tường của thành phố vô hình (У стен града невидимого, 1909), Adam và Eva (Адам и Ева, 1909), Aral đen (Черный Арал, 1910)... Năm 1912 - 1914, xuất bản bộ Tuyển tập tác phẩm đầu tiên của M. Prisvin gồm ba tập.
Trong thời gian Thế chiến thứ nhất, M. Prisvin làm phóng viên chiến tranh, sau đó làm nghề dạy học ở Smolensina (Смоленщина). Năm 1925, ông viết Những nguồn mạch Berendei (Родники Берендея) mà năm 1935, được bổ sung in lại với tên mới Lịch thiên nhiên (Календарь природы). Từ năm 1927 đến 1930, nhà văn xuất bản bộ mới Tuyển tập tác phẩm gồm bảy tập với lời giới thiệu của M. Gorki. 1933 là năm ra đời một trong những tác phẩm hay nhất của Prisvin Nhân sâm (Женьшень). Năm 1940, ông viết trường ca bằng văn xuôi Phaselia (Фацелия) và tập tiểu phẩm trữ tình – triết học Giọt rừng (Лесная капель), cả hai được xuất bản năm 1943. Sau Thế chiến II, những tác phẩm đáng chú ý của M. Prisvin có thể kể Kho mặt trời (Кладовая солнца, 1945), Câu chuyện của thời đại chúng ta (Повесть нашего времени, 1946), Rừng thông cao vút (Корабельная чаща, 1954), Đôi mắt của đất (Глаза земли, 1957), v. v…
Nhà văn qua đời ngày 16 tháng 1 năm 1954 tại Moskva.
Tên của ông được đặt cho nhiều đường phố ở các địa phương khác nhau của nước Nga.
**
Lời tác giả Thuở xưa khi còn là những đứa trẻ hiếu kì, chúng tôi thường hay đập vỡ đồ chơi của mình cũng như bất cứ thứ quà tặng nào, thậm chí cả đồng hồ, để biết được bên trong có những gì. Rồi ở trường, người ta cũng dạy chúng tôi cách ứng xử với thiên nhiên như thế: được dẫn ra ngoài cánh đồng, mỗi người hái một bông hoa rồi bứt cánh để đếm xem hoa có bao nhiêu cánh, bao nhiêu nhuỵ, đài hoa kết cấu ra sao v.v... Nói chung, sự thể xảy ra với bông hoa cũng hệt như với những đồ chơi thời thơ bé: hình dạng bị dập nát, xé nhỏ - và không còn cả bông hoa cũng chẳng còn cả đồ chơi nữa.
Còn bây giờ thì chúng tôi học thiên nhiên không chỉ không phá hỏng hình ảnh của bông hoa đá sống động mà ngược lại còn làm giàu cho thiên nhiên những hình ảnh mang tính người của mình.
Chính tôi cũng đã học được điều đó trong quá trình ghi chép viết lách. Và thế là Giọt rừng của tôi ra đời như một trải nghiệm nghiên cứu đầy chất thơ cái thiên nhiên được hiểu trong sự hoà hợp với con người sống trong nó và tạo ra nó.
$$
Mùa xuân ánh sáng
Đối với những nhà sinh vật khí hậu học chúng tôi quen quan sát sự đổi thay của các hiện tượng thiên nhiên từ ngày này qua ngày khác, thì mùa xuân bắt đầu bằng sự gia tăng ánh sáng, khi trong dân gian nói dường như những con gấu ngủ đông trở mình trong hang thì lúc đó mặt trời bắt dầu chuyển sang ngày hạ; và mặc dù mùa đông vẫn còn rét ngọt, dân Zigan đã bán đi những chiếc áo choàng ấm áp của mình.Tháng giêng, tháng hai và đầu tháng ba đều là mùa xuân ánh sáng. Trong thành phố lớn, những phiến mây dày giống như những tảng băng trôi trên bầu trời có thể nhìn thấy rõ nhất ở phía trên những tòa nhà đá. Thời gian này, tôi miệt mài làm việc trong thành phố, như một gã bủn xỉn cố tích cóp từng đồng rúp một; và sau khi cãi vã với đủ tất cả mọi người vì chuyện tiền nong, cuối cùng tôi cũng có thể đến cái nơi mà tôi không thể kiếm được tiền, tôi cảm thấy thật hạnh phúc. Vâng, hạnh phúc là người có thể bắt gặp thời khắc khởi đầu mùa xuân của ánh sáng trong thành phố và sau đó lại được gặp nơi thiên nhiên mùa xuân của nước, của cây cỏ, của rừng, và rất có thể, cả mùa xuân của con người.
Khi mùa xuân ánh sáng bừng lên sau một kì đông tuyết giá thì tất cả những con người sống kề cạnh đất đai đều xao xuyến; mỗi người tự hỏi: mùa xuân năm nay sẽ ra sao, - và mỗi mùa xuân năm mới đến đều khác với năm đã qua, sẽ không bao giờ có một mùa xuân nào giống y như những mùa xuân khác.
Năm nay, mùa xuân ánh sáng thật tràn trề, mắt gần như không thể chịu được ánh chói chang của tuyết, khắp nơi mọi người nói:
- Thế là mùa xuân đã về!
Mỗi khi bắt đầu một chuyến đi xa bằng xe trượt tuyết ngựa kéo, mọi người đều sợ nhỡ phải bỏ xe lại ở đâu đó và dắt ngựa về.
Vâng, không bao giờ một mùa xuân mới lại giống mùa xuân đã qua, và nhờ vậy mà cuộc sống trở nên thú vị biết bao - với nỗi lòng khấp khởi chờ đợi một điều gì đó mới mẻ ở năm đang tới.
Khởi đầu mùa xuân ánh sáng
Buổi sáng âm hai mươi độ, còn đến giữa trưa, băng từ mái nhà tan thành nước nhỏ xuống từng giọt. Cái ngày hôm ấy suốt từ sáng cho đến đêm cứ rực rỡ, ngời ngời hệt như pha lê vậy. Những cây vân sam phủ tuyết tựa như làm bằng thạch cao, cả ngày thay đổi liên tục từ màu hồng sang xanh lơ. Một mảnh liềm trăng nhợt nhạt treo lơ lửng trên nền trời, còn bên dưới, dọc theo đường chân trời là các dải màu lung linh đủ sắc.
Trong cái ngày đầu tiên này của mùa xuân ánh sáng, tất cả đều thật tuyệt vời, và hôm đó chúng tôi đã cùng nhau đi săn. Mặc dù trời rét đậm, những chú thỏ vẫn nằm phơi mình bên nhau, và không phải trong đầm lầy như chúng thường làm vậy mỗi khi gặp ngày băng giá mà ở trên đồng, trong các lùm cây bụi và trên các mô đất ven rừng.
Con mắt hồng ngọc
Một sự yên ắng đầy rét mướt. Trời đã về chiều. Những bụi cây của cánh rừng hãy còn trụi lá trở nên tối sẫm, dường như chính khu rừng đang gom những suy tư của mình lại để đi vào đêm. Qua màn tối giăng giữa những lùm cây, trông mặt trời hệt như một con mắt bằng hồng ngọc; nhìn qua các bụi cây, con mắt đỏ này không to hơn mắt người là mấy.
Băng giá mùa xuân
Băng giá và bão táp phương Bắc đêm nay đã xen vào công việc của mặt trời đến mức làm mọi chuyện rối tung hết lên, thậm chí cả những cây đồng thảo xanh cũng phủ kín một lớp tuyết trong như pha lê và gẫy giòn trong tay, có vẻ ngay đến mặt trời sáng nay cũng cảm thấy xấu hổ khi thức dậy trong tình cảnh tệ hại như vậy.
Không dễ dàng để cứu vãn được mọi thứ nhưng về mùa xuân thì mặt trời không thể bị bẽ bàng, và mới tám giờ sáng những con ong bụng kiếm đã bắt đầu nhảy nhót trong vũng nước ven đường lộ ra dưới ánh nắng ấm.
Những bóng râm xanh
Sự tĩnh lặng đầy rét mướt và tươi sáng lại hồi sinh. Tuyết mịn rơi từ hôm qua giờ trông như một lớp phấn ánh lên lấp lánh trên nền băng cứng. Mặt băng không bị sụt lở chỗ nào và ở ngoài cánh đồng dưới ánh nắng nó còn rắn chắc hơn là ở trong bóng râm. Từng bụi ngưu bàng, ngải cứu già, từng cọng cỏ, ngọn rau đều soi vào lớp tuyết mịn lấp lánh này tựa như vào một tấm gương, thấy mình xanh biếc và đẹp tuyệt vời.
Mùa xuân chậm rãi
Đêm qua trời không rét giá. Ngày sang mang sắc xám nhưng không ấm. Mùa xuân tất nhiên là đang tới: trong đầm lầy băng vẫn còn chưa tan hết nhưng những con ếch đã tỉnh giấc cất tiếng oàm oạp khe khẽ. Âm thanh đó nghe như trên con đường lớn có hàng trăm chiếc xe ngựa từ xa lăn bánh đến. Vụ cày đang diễn ra. Những dúm tuyết cuối cùng đã tan. Nhưng không có hơi ấm hầm hập bốc lên từ mặt đất, không có sự ấm cúng nơi bờ nước. Chúng tôi cảm thấy bước đi của mùa xuân thật chậm mặc dù xuân năm nay vẫn là đến sớm. Cảm giác thiếu ấm cúng đó có lẽ là vì mùa đông vừa qua không có tuyết mà tuyết mới rơi gần đây, và bây giờ mặt đất phơi ra quá sớm đang bị lạnh cóng không đúng mùa. Cây dẻ đã đơm hoa nhưng vẫn chưa rắc phấn, một con chim non bay vướng vào chùm hoa nhưng không có khói phấn bay lên. Từ dưới tuyết lớp lá mục lộ ra, bị lèn chặt cứng và xám xịt.Ngày hôm qua, một con chim dẽ giun chọc mỏ vào đám lá mục kiếm mồi, đúng lúc đó chúng tôi đến gần và nó đành phải bay lên không kịp rũ lớp bụi lá liễu hoàn diệp già vương trên mỏ. Tôi đã kịp bắn hạ chú chim, và chúng tôi đếm được trên mỏ của nó dính mười chiếc lá liễu hoàn diệp già.
Con đường cuối tháng ba
Ban ngày, tất cả chim chóc mùa xuân đều bay ra con đường xuân kiếm mồi; ban đêm, để không bị lút ngập đến tai trong tuyết, thú rừng cũng đi lại trên con đường ấy. Và sẽ còn một thời gian dài nữa con người vẫn phải đi lại bằng xe trượt trên con đường màu hung vì lớp phân rải dày để ngăn không cho băng tan.
Con đường dần dần biến thành chiếc đập ngăn những dòng suối nhỏ mùa xuân đang đổ dồn về phía nó. Một người đàn ông cùng chú bé con đi trên xe trượt tuyết lúc các dòng suối ở một bên đường dồn hợp lại thành cả một cái hồ. Nước ép mỗi lúc mỗi mạnh lên con đập, và khi thêm dòng suối mới đổ về, con đập không trụ nổi đã vỡ ra, một dòng nước ào ạt chảy cắt ngang con đường của người đàn ông cùng chú bé con đi xe trượt tuyết.
Mặt đất đã hiện ra
Đã ba ngày trời ngơi rét và sương mù vô hình gặm dần mặt tuyết. Petia nói:
- Bố ơi, ra đây, xem kìa, nghe kìa, chim sẻ đầu vàng hót hay quá!
Tôi bước ra và lắng nghe - quả là hay thật. Một làn gió nhẹ thoảng qua dịu dàng. Con đường như vồng lên hung hung đỏ.
Hình như có ai đó chạy đuổi theo mùa xuân rất lâu cuối cùng đã đuổi kịp và khẽ chạm vào nó; còn mùa xuân thì dừng lại như chợt suy tư một điều gì… Từ bốn phía tiếng gà râm ran gáy. Những cánh rừng xanh thẫm bắt đầu hiện ra phía sau màn sương.
Petia chăm chú nhìn vào màn sương đang loãng dần và chợt thấy một cái gì đấy đen thẫm trên đồng, kêu to:
- Xem kìa, mặt đất đã hiện ra!
Petia chạy vụt vào nhà và tôi nghe nó kêu toáng lên trong đó:
- Leva ơi, ra nhanh mà xem, mặt đất đã hiện ra!
Cả mẹ chúng cũng không đừng được, bước ra, đưa bàn tay che mắt khỏi ánh nắng chói, hỏi:
- Mặt đất hiện ra ở đâu?
Petia chạy lên trước đưa tay chỉ về phía mặt tuyết xa xa, trông nó giống hệt như Columbo đang đứng trên mặt biển, và nhắc đi nhắc lại:
- Mặt đất kìa, mặt đất!
Dòng suối mùa xuân
Tôi nghe thấy tiếng nước nơi bãi chim dẽ gọi mái. Trên đồng cỏ trũng nước chảy lặng lẽ, chỉ những lúc các luồng nước gặp nhau thì mới nghe có tiếng nước vỗ. Và trong khi lắng nghe, trong khi chờ đợi tiếng nước vỗ tiếp theo tôi tự hỏi mình không biết nó từ đâu ra? Có thể ở nơi lớp tuyết bên trên chưa tan, những dòng suối nhỏ từ dưới đó chảy ra thỉnh thoảng làm tuyết lở, và sự kiện này trong đời sống của dòng suối ở đây được lưu truyền như sự đụng độ của các luồng nước, có thể là như vậy. Có chuyện gì mà không có thể! Bởi vì nếu đi sâu tìm hiểu cuộc sống của một dòng suối mùa xuân thì ta mới thấy rằng có lẽ chỉ có thể hiểu nó một cách toàn vẹn khi nhận thức được cuộc sống vũ trụ thông qua trải nghiệm của chính bản thân mình.
Những dòng suối đầu tiên
Nghe như có tiếng chim cất cánh nhẹ nhàng cùng tiếng gù rì rầm của loài bồ câu, tôi liền lao tới chỗ con chó để kiểm tra xem có phải là chim dẽ giun đã bay về. Nhưng con chó Kenta vẫn bình thản chạy. Tôi quay lại ngắm dòng nước lũ và khi bước đi lại nghe thấy chính tiếng bồ câu gù rì rầm ấy, càng lúc càng rõ.
Cuối cùng, tôi cũng đoán ra là mình phải ngừng chân bước khi nghe thấy âm thanh đó. Rồi dần dần tiếng rì rầm trở nên liên tục và tôi hiểu rằng ở đâu đấy dưới lớp tuyết có một con suối nhỏ nhất đang hát. Tôi mê giọng hát ấy đến nỗi bắt đầu rảo bước nhanh hơn để được nghe cả những dòng suối khác, và ngạc nhiên khi thấy mình phân biệt được những con suối khác nhau qua giọng của chúng như những sinh vật sống.
Băng giá tháng Năm
Mọi thứ đều hứa hẹn sẽ có đêm rét dữ. Vào một giờ khuya dưới ánh trăng tôi đi vào cánh rừng sồi, nơi có rất nhiều chim nhỏ và hoa đầu mùa. Tôi gọi cái góc rừng này là xứ sở của những chú chim nhỏ và những bông hoa màu tím hoa cà.
Chẳng bao lâu, nơi chân trời Tây bình minh ló rạng và ánh sáng lan dần sang phía Đông, dường như ở phía dưới, sau đường chân trời không nhìn thấy được ánh bình minh buổi sáng đang níu lấy ánh hoàng hôn buổi chiều và kéo về phía mình. Tôi bước đi rất nhanh, người ấm lên đến mức không nhận thấy giá rét ác liệt tác động đến cây cỏ và những bông hoa đầu mùa như thế nào. Khi trời đã sáng hẳn và cơn giá buốt đến lúc dữ dội nhất, tôi cầm lấy một bông hoa màu tím hoa cà và muốn sưởi nó trong lòng bàn tay ấm áp, nhưng bông hoa đã cứng giòn và gẫy vụn trên tay.
Bướm lưu huỳnh
Bướm lưu huỳnh, một con bướm màu vàng đậu trên cành việt quất khép đôi cánh lại như một chiếc lá: khi chưa được mặt trời sưởi ấm nó sẽ chưa bay và cũng không thể bay được, thậm chí nó còn không muốn tránh những ngón tay của tôi đang vươn về phía nó.
Băng chết
Liệu đã có ai từng nhìn thấy băng chết trên đồng cỏ dưới ánh mặt trời ra sao chưa nhỉ?
Ngày hôm qua, ở đây vẫn là một con suối trù phú: có thể thấy điều đó qua số rác mà nó để lại trên lớp cỏ. Khuya về trời ấm áp, và chỉ qua một đêm con suối đã kịp mang hầu như trọn vẹn nước của mình nhập vào dòng lũ lớn. Đến gần sáng, trời trở nên rét dữ và biến số nước cuối cùng còn sót lại của con suối thành những bức tranh thêu bằng băng trải trên đồng cỏ. Rồi mặt trời lên đã nhanh chóng xé nát tất cả những bức tranh thêu đó, và từng hạt, từng hạt băng lần lượt theo nhau chết, rơi lên mặt đất như những giọt vàng.
Biểu kế thiên nhiên
Trời lúc mưa lúc nắng. Tôi chụp ảnh dòng suối của mình, và khi bị nước thấm ướt chân, theo thói quen dạo mùa đông tôi định ngồi xuống một ụ tổ kiến để nghỉ thì nhận thấy kiến đã bò ra ngoài tổ, chúng nằm kề nhau đông đặc con nọ sát con kia và chờ đợi một điều gì đó, hay là chúng đang dưỡng sức trước khi bắt đầu công việc?
Thế mà cách đây mấy ngày, trước trận rét dữ dội trời cũng đã rất ấm, và lúc ấy chúng tôi lấy làm lạ tại sao không thấy kiến, tại sao bạch dương còn chưa lên nhựa. Sau đó ban đêm trời giá rét xuống tới âm mười tám độ, và bây giờ thì chúng tôi mới hiểu ra: cả bạch dương cả kiến khi ấy đều biết rằng trời sẽ còn rét đậm, và chúng nhận biết điều này qua mặt đất lạnh như băng. Còn bây giờ, đất đã tan giá và bạch dương cũng bắt đầu lên nhựa…
Dòng suối muộn màng
Rừng ấm áp. Cỏ lên xanh - trông thật rực rỡ giữa những lùm cây bụi xám xịt! Những lối nhỏ trong rừng mới tuyệt làm sao! Ôi mơ màng, tĩnh lặng! Chim cúc cu bắt đầu cất giọng từ mùng một tháng Năm giờ đây đã trở nên dạn dĩ. Gà lôi kêu lóc nhóc cả khi ráng chiều buông. Những chấm sao như vô vàn mấu liễu nhỏ bé nở ra trên tầng mây trong suốt. Bạch dương ánh lên trong bóng tối. Cây nấm nhăn mọc lên rất nhanh. Liễu hoàn diệp vung vãi những đám hạt hình sâu kèn. Một dòng suối xuân muộn màng chưa kịp rút hết nước bây giờ len lỏi giữa đám cỏ xanh, và những giọt nhựa từ cành bạch dương gãy rỏ xuống hòa vào dòng suối.
Mùa xuân của nước
Tuyết vẫn còn đọng dày nhưng tơi xốp đến nỗi thỏ cũng thụt chân xuống tận đất và cày bụng lên mặt tuyết.
Chim chóc đã bỏ mặt đường để bay đi kiếm mồi ở ngoài cánh đồng, tìm đến những nơi mặt đất lộ ra đen thẫm.
Trong mưa, hàng bạch dương như xõa tóc khóc dài vui sướng, những giọt nước lấp lánh bay xuống dưới và tắt lịm trong tuyết, vì thế tuyết dần dần trở nên mịn xốp.
Trên mặt đường sót lại những mảng băng giòn cuối cùng - người ta gọi đó là những mảnh pha lê. Và lòng suối bằng băng nơi trước đây dòng nước chảy qua cũng bị bào mòn và trở nên mềm nhão: một chú thỏ hồi đêm chạy qua phía bên kia đã để lại dấu chân trên đó.
Dòng suối và con đường
Con đường mòn khô ráo cạnh khu rừng thông đã tan băng và kề bên là một dòng suối nhỏ đang rì rào chảy; cứ như thế dọc bìa rừng, dưới ánh nắng gay gắt, dòng suối và con đường song song chạy hút về xa, còn trên triền phía Bắc bên kia dòng suối giữa những cây lá kim là tuyết trắng trinh nguyên của rừng taiga Sibiri ngút mắt.
Giọt sáng
Nắng và gió. Ánh sáng mùa xuân. Chim sẻ ngô và chim mỏ tréo hát giọng hợp hôn. Từ dưới thanh trượt những mảnh băng tuyết bắn ra như thuỷ tinh kêu lanh canh. Trên nền rừng vân sam sẫm màu, đám cây bạch dương non dưới những tia mặt trời ngả sang màu hồng. Nắng chiếu trên mái nhà bằng tôn tạo nên một cái gì đấy tựa như núi băng nhỏ; từ đó, hệt như từ núi băng thực sự, nước tan chảy xuống thành dòng và khối băng cứ thế dần dần thu nhỏ lại. Dải tôn giữa khối băng và rìa mái nhà được sưởi ấm trở nên đen thẫm mỗi lúc một rộng thêm. Dòng nước mỏng mảnh từ mái tôn ấm nắng rơi xuống que băng lạnh treo trong bóng râm rét buốt dưới mép mái nhà; chạm vào que băng những giọt nước liền đông cứng lại, và thế là trong buổi sáng những que băng trở nên dày thêm ở phía trên. Khi mặt trời đi vòng qua mái nhà chiếu thẳng vào que băng làm cho nó ấm lên thì dòng nước từ khối băng trên mái nhà chảy dọc theo que băng bắt đầu rỏ những giọt vàng óng xuống dưới. Và cảnh ấy diễn ra trên tất cả các mái nhà, cho đến tận chiều khắp nơi trong thành phố giọt giọt vàng tuôn rơi không ngớt.
Trước khi trời tối rất lâu, trong bóng râm đã bắt đầu giá rét, và dù khối băng trên mái nhà vẫn tiếp tục bị thu hẹp và suối nước vẫn chảy theo những que băng, một vài giọt nước ở đầu mút của chúng bắt đầu đông lại trong bóng râm, càng về chiều càng nhanh, càng nhiều. Đến tối thì những que băng đã mọc dài ra. Sang ngày hôm sau trời lại nắng và khối băng lại sẽ co nhỏ dần, và que băng sẽ dày thêm trong buổi sáng, buổi chiều lại dài ra: mỗi ngày một dày hơn và dài thêm.
Cơn mưa dầm ấm áp
Trên cây li pa những chồi non lớn dần đang xanh biếc lên trước cửa sổ phòng tôi, và nơi mỗi chồi non đọng lại một giọt nước sáng lấp lánh, giọt nước cũng to tựa chồi non. Theo nhánh cây mảnh dẻ, giọt nước lăn xuống, chuyền từ chồi non này sang chồi non kia, nhập vào giọt nước ở một chồi non khác và rơi xuống đất. Còn từ phía trên nữa ở nơi cao hơn, tựa như theo lòng suối một dòng nước dày đặc vô hình chảy dọc lớp vỏ của một cành cây to rồi tản thành những giọt bé nhỏ lăn theo các nhành cây con thế vào những giọt nước đã rơi. Và cứ như vậy cả thân cây phủ đầy những giọt nước, và cả cái cây cùng nhỏ giọt.
Một ngày rưỡi mưa rơi không ngớt. Con đường lớn trở nên lầy lội như bãi tuyết mùa xuân. Tôi chụp ảnh con đường và chụp cả những cây thông non như những thập giá nhỏ trĩu vô vàn giọt nước mưa to nặng bên cạnh con đường: tôi để phần ngọn của cây thập giá không đọng nước vào trên nền trời, còn phần phía dưới viền đầy những giọt nước lớn thì đặt lên nền rừng cây sẫm màu, để cho những giọt nước sáng ánh lên trên nền tối.
Bài ca đầu tiên của nước
Buổi chiều, chúng tôi ra đồng để thử xem lũ gà thông có đáp lại tiếng huýt sáo nhử mồi của chúng tôi không. Mùa xuân, chúng tôi không săn bắt chúng mà chỉ để giải trí cho vui: thật thú vị khi nhìn những chú gà thông chạy theo tiếng huýt gọi trên lớp tuyết dày, dừng lại vểnh đầu lắng nghe, rồi lại chạy tiếp, nhiều khi chúng đến gần tới mức tưởng có thể đưa tay ra chộp được.
Quãng đường quay về khiến chúng tôi phải vất vả hơn: trời sắp tối tuy đã lạnh thêm nhưng lớp tuyết trên bề mặt vẫn còn chưa đủ cứng nên chân cứ thụt sâu xuống và khó khăn lắm mới rút lên được. Trong ráng chiều màu da cam mang dáng vẻ khắc khổ và đông cứng như thủy tinh, các vũng nước trong đầm lầy ánh lên như những ô cửa sổ hắt lửa. Chúng tôi rất muốn biết có tiếng gà lôi gù đâu đây hay chỉ là do mình tưởng tượng ra. Dừng lại trên một mô đất lớn đã tan băng, cả ba chúng tôi lặng im nghe ngóng.
Nhả khói từ tẩu thuốc đang hút, tôi cảm thấy như có gió từ phía Bắc thổi lại. Hướng tai lên phía đó, chúng tôi liền hiểu ra tất cả: đấy là ở phía dưới rất gần chỗ chúng tôi đang đứng, làn nước tràn qua một cây cầu nhỏ và reo hát giống hệt tiếng gà lôi.
Bài ca của nước
Mùa xuân của nước thường gom về những thanh âm thân thuộc và gần gũi với nhau khiến bạn mãi vẫn không thể hiểu rằng đó là tiếng nước đang róc rách hay tiếng tiếng gà lôi lóc bóc hoặc tiếng ếch nhái râm ran. Tất cả hợp lại thành bài ca của nước, và nổi lên trên hết, hòa nhịp với tất cả, là tiếng gà rừng gáy te te, tiếng dẽ giun thở khàn khàn và tiếng chim đầm lầy thầm thào đầy bí mật hòa cùng tiếng nước: tất cả dàn đồng ca kì lạ của chim chóc đó đều khởi nguồn từ bài ca của nước xuân.
Tiếng đàn thụ cầm
Những rễ cây dài mọc sát kề nhau buông lơ lửng bên dưới vòm mái tối om của bờ đầm dốc đứng giờ đây đã biến thành những trụ băng cứ lớn thêm lên mãi, lên mãi rồi cuối cùng chạm tới mặt đầm. Và khi ngọn gió xuân về, dù chỉ là một cơn nhẹ thoảng, khiến mặt nước xao động và những con sóng nhỏ chạm vào ngọn trụ băng dưới mái dốc làm chúng giao động, gõ vào nhau, kêu lanh canh, và đó chính là âm thanh đầu tiên của mùa xuân - tiếng đàn thụ cầm.
Bông hoa đầu mùa
Tôi ngỡ rằng có ngọn gió tình cờ lay động chiếc lá già, song đó lại là con bướm đầu tiên vỗ cánh. Tôi nghĩ mình chợt hoa mắt ngẫu nhiên, mà hoá ra bông hoa đầu mùa đã nở.
Khởi đầu mùa xuân của nước
Không thể nói rằng tôi đã đi xa tới mức không nghe thấy âm thanh náo động của thành phố, tất cả đều vẫn còn nghe rõ: cả tiếng còi tàu xe, cả những tiếng gõ đập đủ loại, nhưng điều đó không quan trọng bởi rừng cây có sự tĩnh lặng của riêng mình, một sự tĩnh lặng đầy ma lực và hoàn toàn thu hút sự chú ý của tôi: tôi tuyệt nhiên không còn nghe thấy tiếng ồn ào của thành phố nữa.
Tôi bước đi không cảm thấy mưa, mà đúng là trời đang mưa. Lần đầu tiên, tôi nhận biết trời mưa là khi đến gần một cánh rừng bạch dương non: cuộc gặp đầu tiên với nước trời làm nó nhuộm sang ánh hồng phơn phớt, và những giọt nước lớn màu xám treo trên cành lá mới to làm sao, to như lá liễu.
Tôi đến gần Cầu Đen, và hoá ra ở nơi này dòng suối vẫn còn chảy sâu dưới các đụn tuyết, chỉ đây đó mới lộ ra một vài vũng nước. Vậy nên hôm nay tôi là người chứng kiến sự khởi đầu sớm nhất mùa xuân của nước.
Con đường
Đóng băng, mệt nhoài, nham nhở những vết móng guốc ngựa và càng xe trượt, con đường được rải lớp phân dày hướng thẳng đến biển nước trong veo; và từ đó, giữa không gian văn vắt không vết gợn, nó hiện lên cùng với những đám mây xuân, đã được lột xác và đẹp tuyệt trần.
Ánh sáng của những giọt nước nhỏ
Ban đêm, từ rừng trở về thật vất vả, nhưng không nỗi mệt nhọc nào có thể át nổi ý nghĩ hân hoan rằng hôm nay mình là người đã chứng kiến sự khởi đầu của một mùa xuân rực rỡ đầy hoa nở và tiếng chim ca. Trong khu rừng hãy còn trơ trụi, những khóm liễu sớm đâm lộc trông tựa như những ngọn đèn chùm, như ước mộng, như ảo ảnh. Những cây nấm tai nhăn, những chùm anh thảo, sen gió, dây dầu đắng, và sắc biếc tỏa ra từ những nụ chồi, và ánh sáng của những giọt nước nhỏ lóng lánh trên khắp các nhành cây…
Trước lúc chiều buông
Giữa trưa, nhờ cơn gió nóng mà trời trở ấm, rồi khi chiều buông trên bãi chim gọi mái một chu kì mới của mùa xuân đã được diễn khai. Gần như nhất loạt, những khóm liễu đầu mùa bung nở, chim sáo cất giọng hót lảnh lót, lũ ếch khiến mặt nước đầm gợn sóng lao xao, và thinh không hoàng hôn tràn ngập muôn vẻ giọng của chúng. Đám chuột chù đuổi nhau trước lúc đêm về, và trong môi trường quen thuộc của mình dưới lớp lá hoàn diệp liễu, chúng trở nên bất khả xâm phạm đối với chúng tôi, giống như cá ở dưới nước vậy.
Mùa ong rời tổ
Có nhiều khi, những tấm băng xanh xám đang tan ra trên thảo nguyên sót lại sang ngày trông giống những mảnh vỡ của phiến trăng nhợt nhạt dưới ánh nắng ban mai.
Một con chim săn mồi to lớn vừa từ phương Nam di cư về lao thẳng đến phía tôi, và khi đã nhìn ra tôi là ai nó đột ngột bay vòng trở lại.
Những con chim ác là nghe thấy tiếng lạo xạo của băng dưới chân tôi liền lo lắng đáp lại trong rừng sâu. Nhưng khi chính lớp băng cũng tự mình vỡ ra kêu răng rắc dưới nắng thì trong rừng sâu bầy ác là hiểu điều này và không đáp lại tiếng kêu răng rắc đó.
Đám bồ câu rừng bắt đầu gù ríu rít.
Có lẽ, đã đến mùa đưa bầy ong rời tổ kiếm ăn.
Lớp tuyết cứng
Lại một ngày rực rỡ với cái giá rét đượm nắng, những dòng suối chảy theo các vệt bánh xe trên đường, và giờ khắc nóng nhất của ngày trên các đụn tuyết trong khu rừng ngập tuyết…
Mặc tuyết ngập đến tận bụng, tôi lặn lội đi ra khoảng rừng thưa, nơi dòng suối yêu dấu của tôi chảy qua. Tôi tìm thấy một khoảng nước lộ ra từ dưới tuyết cạnh những gốc bạch dương và chụp ảnh cảnh đó như là sự khởi đầu mùa xuân của nước.
Ban đêm giá rét dữ dội đến mức không phải chỗ nào lớp băng cứng bên trên cũng sụt lở, nhưng nếu đã lở thì hãy coi chừng! Bây giờ, buổi sáng, có thể đi theo lớp băng cứng vào sâu trong rừng, nhưng đến trưa, khi trời ấm lên, bạn sẽ phải nán lại trong đó, không thể trở ra, chờ cơn giá rét ban đêm đến lát cứng lại con đường.
Vụ xuân
Chỉ mấy ngày nữa - chừng đâu một tuần, - là thiên nhiên bắt đầu phủ đầy hoa, cỏ, rêu xanh và những mầm non thanh mảnh lên toàn bộ khối rừng cũ kĩ đến khó tin này. Thật cảm động khi mỗi năm hai lượt được ngắm nhìn thiên nhiên cần mẫn trang điểm bộ khung chết, khô đét và vàng vọt của mình: một bận vào mùa xuân bằng hoa và lá mới, lần khác vào mùa thu - bằng tuyết.
Những cây dẻ và trăn cũng đang trổ hoa, những chùm hoa vàng óng của chúng đến tận bây giờ vẫn rũ khói phấn mỗi lúc lũ chim chóc chạm vào, nhưng mùa này không còn là thời kì rực rỡ của chúng nữa, - cái thời đó đã qua rồi. Giờ đây những bông hoa sao xanh nhỏ đã lên ngôi, chúng khiến ta kinh ngạc bởi sự đông đảo và vẻ đẹp của mình. Hiếm khi bắt gặp, nhưng những dây dầu đắng cũng làm ta không khỏi ngỡ ngàng.
Băng đã tan trên con đường rừng, chỉ còn lại lớp phân, và dường như ngửi thấy mùi ngai ngái của nó, vô số hạt từ những quả thông và vân sam tới tấp đáp xuống mặt đường.
Khói hoa dẻ
Cột phong vũ biểu sụt xuống, nhưng thay cho trận mưa lành ấm áp là một đợt gió lạnh ập đến. Dù vậy, mùa xuân vẫn tiếp tục về. Qua ngày hôm nay, những bãi cỏ bắt đầu khoác lên mình màu xanh mướt, lúc đầu là ở hai bên các con suối nhỏ, sau đó lan theo triền bờ phía Nam, ven những con đường, và đến chiều tối thì đã tỏa biếc khắp mặt đất. Những luống cày nhấp nhô như sóng gợn trên cánh đồng trông thật đẹp - màu đất đen đang loang rộng lẫn cùng màu xanh của cỏ bị cày lật lên. Chồi dã anh hôm nay đã biến thành ngọn giáo xanh biếc. Những chùm hoa dẻ bắt đầu rũ phấn, và dưới mỗi con chim chuyền cành chao liệng trên cây phỉ tử một làn khói nhẹ lại tỏa lan.
Nước mắt của niềm vui
Đêm qua, chúng tôi lên đường đến Teribrovo, một giờ khuya xuất phát đi săn gà rừng, lội qua suốt cánh rừng dưới trời mưa tầm tã đến tận tám giờ sáng mà chẳng kiếm được gì. Không có lấy một con chim lích rích. Trên đường về tôi nhìn thấy cây liễu hoàn diệp mập căng những chồi non, - đó chính là cái cây khi khuya tôi đi ngang qua đã tỏa ra một mùi hương thật thơm trong bóng đêm rét mướt. Còn mưa thì cứ rơi cho đến tận sáng trời.
Và ban mai ảm đạm đã đến, và cánh rừng, đã được rửa sạch trong nước mắt của niềm vui hay nỗi đau khổ, - ta sẽ không hiểu được. Nhưng bây giờ, giọng hót của con chim nhỏ cũng nghe rõ qua cả những bức tường của ngôi nhà, và nhờ đó chúng tôi hiểu rằng không phải nỗi đau khổ, mà là niềm vui đang ngời ngời tỏa rạng trên những nhành bạch dương bên ngoài ô cửa sổ .
Những đêm sôi động
Khoảng ba hay bốn ngày trước đã diễn ra bước đi vĩ đại và cuối cùng trong sự vận động của mùa xuân. Hơi ấm và những cơn mưa biến thiên nhiên của chúng ta thành một vườn ươm, không khí vương hương nhựa lá thơm của những cây dương non và liễu mềm đang trổ nụ. Những đêm sôi động ấm áp đã thực sự bắt đầu. Thật thú vị khi từ độ cao những gì đạt được của một ngày như vậy ngoảnh nhìn lại, và những ngày u ám phải trải qua là một sự cần thiết để tạo nên những đêm sôi động tuyệt diệu này.
Lông thỏ
Trong rừng rất hiếm khi gặp tuyết. Những sợi lông thỏ trắng muốt, bị đứt rụng trong các trận quyết đấu vào kì thay lông mùa xuân, rải đầy nền đất thẫm. Mùa đông vừa qua thỏ nhiều tới mức bạn có thể thấy khắp nơi dưới lớp đệm lá liễu hoàn diệp xám lông thỏ trắng vương đầy.
Giữa các thân cây liễu hoàn diệp, cỏ đã lên xanh gập lóng rủ xuống lớp lá liễu hoàn diệp lót nền chen lẫn những sợi rơm dài màu vàng tươi và những chùm hoa hiệt thảo. Một con thỏ đang thay lông chạy ra con đường xanh đầu tiên này, lông nó vẫn trắng nhưng chỉ còn từng mảng.
Sự vận động của mùa xuân
Sau các loài lá kim đến lượt liễu hoàn diệp vãi hạt, những hạt hình sâu kèn của chúng rải khắp các khoảng rừng thưa. Tôi theo dõi những mầm non xanh xuyên lên qua lớp rơm và cỏ khô năm ngoái. Tôi theo dõi những tấm thảm xanh đang được đan dệt dần, và lũ côn trùng râm ran ngày một nhiều hơn.
Bạch dương nảy lộc
Khi những cây bạch dương già kết hoa và những chùm hoa vàng óng che khuất đám lá nhỏ tí xíu nhú tít trên cao, trên các cây non ở phía dưới khắp nơi ta thấy những mầm lá xanh ngời bằng cỡ giọt mưa, nhưng dù vậy cả cánh rừng vẫn mang màu xám hoặc màu sô-cô-la, - thì đúng lúc ấy ta bắt gặp một cây dã anh và sửng sốt: trên nền xám, những chiếc lá của nó trông mới to và rực rỡ làm sao! Những nụ hoa dã anh đã sẵn sàng bung nở. Chim tu hú cất giọng ngọt ngào nhất. Họa mi học theo lấy điệu. Cây quỉ mẫu lúc này trông cũng rất kiều diễm vì những cành đầy gai nhọn còn chưa mọc dựng lên mà đang nằm xòe trên mặt đất thành một ngôi sao lớn tuyệt đẹp. Từ dưới làn nước đen trong đầm vươn lên và nở bung trên mặt nước những bông hoa độc màu vàng…
***
Bước ngoặt của mùa xuân
Buổi trưa, trên bầu trời ở một tầng cao là những dải mây “đuôi mèo”, ở tầng cao khác là phi đội của hằng hà sa số những đám mây bông. Lúc đó, chúng tôi không thể đoán được điều gì sẽ đến và điều gì đang diễn ra: là gió xoáy hay gió phản.Còn giờ đây, khi trời sắp tối thì tất cả mọi sự đã trở nên rõ ràng: chính trong buổi chiều hôm nay đã hoàn tất bước ngoặt được mong đợi bấy lâu: sự chuyển mình từ mùa xuân còn trụi lá sang mùa xuân xanh tươi.
Điều ấy xảy ra như sau: chúng tôi đi vào thám thính một khu rừng hoang dã. Những gì còn sót lại từ đám lau sậy màu vàng trên các mô đất giữa những gốc thông và bạch dương nhắc chúng tôi nhớ đến dạo mùa hè và mùa thu cây rừng ở đây rậm rạp đến mức ánh mặt trời không thể lọt xuống, người cũng khó len qua. Nhưng chúng tôi rất thích chốn này vì trong rừng ấm áp và có thể cảm nhận mùa xuân ở trong tất cả sự vật. Bỗng một dải nước loé sáng lên trước mặt, và chúng tôi vô cùng vui sướng nhận ra đó là con sông Nerl. Đi thẳng ra bờ nước, chúng tôi dường như lập tức lạc vào một xứ sở khác với khí hậu ấm nóng: nơi đây sự sống sục sôi mãnh liệt, tất cả các loài chim đầm lầy đều hót ríu ran; tiếng chim dẽ gà, chim mỏ nhát gọi mái nghe như có Chú Ngựa Gù đang phi trong không khí dần sẫm lại; gà lôi cũng cất giọng gọi bạn, đàn sếu phát tiếng kèn hiệu của mình gần như ngay bên cạnh chúng tôi; tóm lại ở đây có tất cả những gì chúng tôi yêu mến, đến cả lũ vịt trời đang bơi cũng dừng lại trước mặt chúng tôi trên mặt nước trong veo. Và không hề có một tiếng động nhỏ nhất nào của con người: không tiếng huýt còi, không tiếng động cơ xe máy…
Chính vào giờ khắc đó, bước ngoặt của mùa xuân đã hoàn tất, cả thiên nhiên bắt đầu trỗi dậy và nảy lộc đâm chồi.
Tiếng rì rầm màu xanh đầu tiên
Đến chiều ở phía Tây, trời vẫn nắng trong, nhưng từ hướng khác những đám mây đen đang dần kéo đến, không khí trở nên oi ả và khó có thể đoán được đêm nay sẽ có giông hay không. Vô số cây mõm chó màu xanh lục mọc trên khoảng đất bỏ hóa, còn trong rừng rất nhiều đậu thơm, cải thỏ. Lá bạch dương thơm nhựa lấp loáng nắng chiều. Khắp nơi đượm mùi dã anh. Tiếng thiên nga và tiếng trẻ mục đồng ồn ĩ vọng lại. Cá mè và cá diếc bơi vào đến tận bờ.
Thấy một quầng lớn màu hồng hiện lên từ hướng chúng tôi đang đi tới, mọi người giật mình: “Chẳng lẽ có đám cháy?” Nhưng đó không phải là lửa, và chúng tôi tự hỏi mình, như ta vẫn thường tự hỏi suốt đời mỗi khi nhìn thấy cái đó mà lại không nhận biết là gì: “Nếu đấy không phải là đám cháy thì có thể là cái gì nhỉ?” Khi đã hiện ra rỡ ràng một vành đĩa lớn, chúng tôi mới đoán ra: ấy là mặt trăng. Chớp nguồn lóe lên rất lâu ở phía xa bên kia hồ. Trong cánh rừng lá rộng một làn gió nhẹ thổi qua, và chúng tôi lần đầu tiên nghe thấy tiếng rì rào màu xanh.
Tiếng chim gáy đầu tiên
Làm sao có thể nghĩ ra cái gì khác khi ta nhìn thấy một mặt hồ rộng: không để mất thì giờ vô ích, chúng tôi đi lần theo mép nước vào rừng, rồi đi tiếp vào sâu hơn, đến thôn Usolie, nơi làm việc của những người thợ đóng thuyền.
Phía bên phải chúng tôi, sát ngay mép hồ, là khu rừng thông thân cao rì rào trước gió; phía trái là đám rừng đầm lầy hoang dã không thể đi qua nằm bên rìa một không gian đầm lầy rộng lớn. Trong rừng thông, chúng tôi nhìn thấy những vệt bóng đen di chuyển trên đám việt quất; và ngửng đầu nhìn lên, tôi đoán ra đó là những con diều hâu bay liệng không tiếng động từ ngọn thông này sang ngọn thông khác.
- Không hiểu sao trước đây trời lạnh thế, còn từ chiều qua bỗng nhiên đổi khác, - ông lão thợ rừng nói với chúng tôi.
- Dù sao thì về chiều vẫn còn khá lạnh, - tôi đáp.
- Nhưng sáng nay lũ chim nó hót ghê lắm!
Vừa lúc đó một âm thanh vang lên, và phải mất một lúc lâu chúng tôi mới có thể nhận ra đó là tiếng hót đầu tiên của con cu gáy: tiếng chim vang lên và trôi nhòa dần đi trong cánh rừng thông. Rồi đến lượt những chú si rừng, những con chim bé nhỏ, - nhưng đó không phải là chúng hót, mà rúc lên inh ỏi. Khắp khu rừng rền vang, ồn ĩ, và chỉ có những con ác điểu to lớn bay lượn trên đỉnh rừng từ ngọn cây này qua ngọn cây khác là không tiếng động, chỉ có thể nhận thấy chúng qua những vệt bóng lướt êm trên đám việt quất nằm trong nắng.
Chuột chù
Trước mặt tôi, lớp lá cây bị mưa và tuyết nén chặt trên mặt đất bỗng nổi vồng lên, một vài chiếc lá dựng dậy theo chiều nghiêng, rồi ở một chỗ khác nghe có tiếng rúc rích rúc rích và hiện ra một cái vòi bé xíu, từ đó chui lên cả một con vật to bằng cái móng tay – đó là chú chuột chù.
Dự định không thành
Trong hố đất mới đào hôm qua chúng tôi bắt được một chú chuột chù. Đây là loài động vật có xương sống bé nhất mà tất cả chúng ta khi vào rừng đều bước đi trên nó, và thậm chí ở trong lòng đất dưới mỗi bước chân của chúng ta đều có một hay hai con chuột chù đang sống. Lông chuột chù cũng giống như lông chuột chũi: ngắn, đều đặn, dày, và có màu hơi biêng biếc xanh. Nó khác loài chuột thường ở cái mõm hình chiếc vòi nhỏ. Loài này hiếu động và nhanh không thể tả, nhảy rất cao trong cái lọ bị nhốt, bỏ mồi vào là chén liền. Petia đào một cái hố mới, và khi bắt được giun liền đem bỏ vào chiếc cốc tráng men cao 12 cm cho chuột chù.
Chúng tôi muốn thử xem nó có thể ăn một lúc được bao nhiêu giun. Sau đó, cũng với con chuột chù này, muốn thử xem nó có thể ăn những gì: chúng tôi cho nó ăn tất cả mọi thứ. Cuối cùng, chúng tôi quyết định thử có đúng là ánh nắng chiếu trực tiếp sẽ giết được chuột chù như người ta vẫn nói hay không. Và sau khi giết chết con vật sống ngầm dưới đất này bằng những tia nắng mặt trời, chúng tôi tính sẽ tìm cách cân, đo nó một cách cẩn thận, nghiên cứu nội tạng của nó, rồi đặt nó vào tổ kiến để có được một bộ khung xương sạch sẽ. Còn thiếu cái gì mà chúng tôi không muốn! Chúng tôi còn định tìm bắt một con chuột chũi và nhốt chúng cùng với nhau.
Nhưng tất cả những dự định của chúng tôi đều không thành hiện thực: chú chuột chù đã nhảy qua thành cốc cao 12 cm xuống đất, - mà đất đối với chuột chù cũng chẳng khác gì nước đối với cá, - và mất dạng trong nháy mắt.
Sự xuất hiện con vật kỳ lạ này và sự biến mất trong nháy mắt của nó còn đeo đẳng rất lâu nơi tâm trí tôi, tựa hồ như ý nghĩ của tôi bị giam cầm trong lòng đất, nơi những rễ cây ăn sâu và lan tỏa.
Bóng phản chiếu
Nước hôm nay lặng đến nỗi con chim dẽ giun bay trên mặt nước và bóng của nó dưới nước giống hệt nhau: có cảm tưởng như hai con chim dẽ giun đang bay đón đường chúng tôi vậy.
Trong buổi dạo chơi đầu tiên của mùa xuân, con chó Lada được phép đuổi theo lũ chim. Nó đã nhận ra hai con chim dẽ giun đang bay, - chúng hướng thẳng về phía nó lúc ấy đang ẩn sau bụi cây. Lada lao ra. Nó sẽ chọn cho mình con nào nhỉ, - chim thật đang bay trên mặt nước hay cái bóng phản chiếu của nó trong làn nước? Chúng giống hệt nhau như hai giọt nước.
Từ chuyện Lada đuổi theo hai con chim dẽ giun bay, tôi liên hệ đến bản thân mình: tôi đang đuổi theo con chim nào trong nghệ thuật ngôn từ của mình? Chẳng phải toàn bộ sự nghiệp của tôi đều nằm ở chỗ làm thế nào tránh để không đuổi theo ảo ảnh đó sao?
Kìa, Lada tội nghiệp đã chọn cho mình cái bóng, và, - có lẽ nó đang chắc mẩm là sẽ tóm ngay được con chim dẽ giun thực, - thoắt một cái từ trên bờ cao nhảy phắt lên và rơi tòm xuống nước.
Dã anh
Vì cảm thương cây bạch dương bị đốn gãy, tôi ngồi lại bên nó nghỉ chân và đưa mắt ngắm nhìn một cây dã anh cao lớn; rồi khi thì lãng quên nó, khi lại quay về với nó, tôi sửng sốt: có cảm giác như cây dã anh ngay trước mắt tôi đã khoác lên mình chiếc áo choàng trong suốt được dệt từ tiếng rì rào màu xanh. Thật vậy, giữa nền cây cối xám xịt vẫn còn chưa mặc lá và đám cây bụi đứng ken dày san sát, cây dã anh đã lên màu xanh biếc, và đồng thời xuyên qua màu xanh ấy tôi vẫn nhìn thấy đằng sau nó hàng bạch dương trắng mọc san sát bên nhau. Nhưng khi đứng lên định từ giã cây dã anh xanh biếc thì tôi lại có cảm tưởng như không còn trông thấy hàng bạch dương ở đằng sau nó nữa. Như vậy nghĩa là sao? Lẽ nào hàng bạch dương ấy là do tôi tưởng tượng ra, hay... hay là cây dã anh đã nảy lá đúng vào lúc tôi đang ngồi nghỉ…
Hai cây dã anh
Hôm qua dã anh đã đơm hoa và cả thành phố rước từ rừng về những cành hoa trắng.
Tôi biết trong rừng có một cây dã anh đã bao năm nay đấu tranh vì sự sống của mình: nó cố gắng mọc lên thật cao để tránh khỏi bàn tay những kẻ muốn bẻ cành của nó. Và cây dã anh đã thành công - bây giờ thân của nó hoàn toàn trơn trụi, hệt như một cây cau, không có nhánh cành nào để con người có thể bám vào trèo lên, và nó kết hoa ở trên đỉnh ngọn của mình.
Một cây dã anh khác không làm nổi điều đó, và nó trở nên xác xơ, trên thân của nó giờ chỉ còn nhô ra những que cành trơ trụi.
Những vị khách
Chúng tôi có khách. Từ đống củi bên cạnh (hai năm nay đã nằm chờ nước lớn) một con chim chìa vôi bay lại chỗ chúng tôi - đơn giản là vì tò mò, chỉ để ngắm con người. Theo ước tính của tôi, đống củi này có lẽ đủ để chúng tôi sưởi trong năm mươi năm - có nghĩa là rất nhiều! Và sau mấy năm nằm vô ích phơi gió, phơi mưa, phơi nắng, các súc gỗ đã đen thẫm lại, nhiều đống đổ dồn vào nhau, những đống khác sụt xuống vương vãi tạo thành những hình thù lạ mắt. Vô số côn trùng sinh sôi nảy nở trong các khúc gỗ mục, và rất nhiều chim chìa vôi đến sống ở đây. Chúng tôi nhanh chóng phát hiện ra cách chụp ảnh những con chim nhỏ này ở khoảng cách gần: khi thấy nó đậu phía bên kia đống củi và cần nhử nó lại gần thì bạn phải ló ra ở đằng xa rồi lập tức trốn ngay. Khi đó, chim chìa vôi vì tò mò sẽ chạy đến tận rìa đống củi để tìm nhìn bạn, và thế là bạn sẽ có nó trên chính súc củi mà bạn đã hướng ống kính máy ảnh đón sẵn từ trước.
Điều đó rất giống trò ú tim, nhưng ú tim là trò của trẻ con, còn ở đây lại là tôi, một người già cả, đang chơi đùa với con chim chìa vôi.
Một chàng sếu bay tới đậu xuống giữa những mô đất nhấp nhô trong bãi lầy màu vàng ở phía bên kia sông và vừa bước đi vừa nghiêng ngó nhìn quanh.
Chim ó cá, một ác điểu chuyên săn bắt cá, bay tới và nhắm thấy con mồi ở bên dưới bèn dừng trên không trung, khép đôi cánh lại.
Con diều hâu có cái lỗ tròn ở đuôi liệng vòng tít trên cao.
Một chú diều mướp, vốn rất mê trứng chim, cũng bay tới; lúc ấy cả lũ chìa vôi liền chao chát bay lên khỏi đống củi như đàn muỗi vun vút lao vào diều mướp. Những con quạ đang canh tổ của mình cũng nhanh chóng bay đến nhập bọn với đàn chìa vôi. Lúc ấy bộ dạng chú diều mướp ác điểu khổng lồ trông thật thảm hại, nó kinh hoàng vội vã lao đi, bay mất dạng.
Nghe rõ tiếng “gù gù” của những chú bồ câu rừng.
Trong rừng thông, chim tu hú gáy không ngớt.
Một chú diệc lao bổ ra từ đám sậy già khô.
Sát ngay bên cạnh, tiếng gà lôi làu bàu liên tục.
Chim sẻ đầm lầy lích rích đu đưa trên một nhánh sậy mảnh mai.
Dưới lớp lá già, đám chuột chù rúc rích.
Và khi trời trở nên ấm hơn thì lá dã anh trông giống như những con chim nhỏ cánh xanh cũng bay về và ngụ lại như những vị khách; những cánh sen gió tim tím bay lại, dây dầu đắng vươn thật xa, cho đến khi tất cả các tầng rừng đều được phủ kín chồi xanh.
Cành liễu mềm còn non, nhưng lũ ong mật, ong đất đã bay đến vo ve rì rầm, mấy con bướm cũng xếp cánh đậu lại.
Một ả cáo rậm lông dáng vẻ tất bật thấp thoáng trong đám sậy non.
Rắn lục phơi mình cuộn tròn trên mô đất.
Có cảm tưởng như cái thời khắc kì diệu này sẽ không bao giờ kết thúc. Nhưng hôm nay, trong khi nhảy từ mô đất này sang mô đất khác trên đầm lầy, chợt nhận thấy có cái gì đó trong làn nước, tôi cúi xuống và phát hiện ra hằng hà sa số những con cung quăng ấu trùng của muỗi.
Chẳng bao lâu nữa, chúng sẽ mọc cánh, từ dưới nước trồi lên và xoạc chân đứng trên mặt nước đối với chúng là vững chãi, lấy can đảm bay lên và kêu vo ve khắp nơi. Khi ấy những ngày trời nắng sẽ trở nên xám xịt bởi loài côn trùng hút máu này. Nhưng đạo quân vĩ đại đó lại gìn giữ cho sự trinh nguyên của cánh rừng đầm lầy, không cho đám dân đi nghỉ tàn phá vẻ đẹp của chốn hoang sơ.
Một đàn cá dầy xuất hiện. Hai người đánh cá bơi thuyền tới. Và khi chúng tôi đã dọn dẹp để rút đi, họ liền nhóm ngay một đống lửa ở trên chỗ của chúng tôi, đặt nồi lên, đánh vẩy cá dầy, rồi ngồi húp món canh cá suông và ăn cá không kèm bánh mì.
Trên rẻo đất khô ráo duy nhất này có lẽ những người đánh cá thời cổ đại cũng đã nhóm lên những đống lửa của mình, còn bây giờ chiếc xe ô tô của chúng tôi đang đỗ ở đây. Khi chúng tôi nhổ nốt cái lều bạt đã từng làm nhà bếp, một bầy ri đá bay lại và mổ ăn những thứ còn sót lại. Và đó là những vị khách cuối cùng của chúng tôi.
Ý nghĩ tội nghiệp
Trời đột nhiên trở ấm. Petia mải đi đánh cá, nó thả lưới ở hồ than bùn để bắt cá giếc và trông thấy khoảng gần chục cây bạch dương non cao ngang tầm người mọc trên dải bờ đối diện nơi thả lưới. Mặt trời tròn vạnh đã lặn. Tôi đi nằm nghỉ: khắp nơi ran ran tiếng ếch nhái và giọng hót họa mi cùng tất cả những gì tạo nên một "đêm nhiệt đới" vô cùng sôi động.
Nhưng đôi lúc lại có chuyện thật éo le: trong khi mọi sự đang tốt đẹp thì trong óc của con người tội nghiệp lại nảy ra một ý nghĩ thật tội nghiệp khiến người ta không thể tận hưởng niềm hạnh phúc của đêm nhiệt đới. Petia chợt nghĩ rằng có ai đó, giống như hồi năm ngoái, đã theo dõi và đang đêm lấy trộm lưới của nó. Sớm tinh mơ, Petia chạy ngay ra hồ và quả nhiên trông thấy một đám người đứng lố nhố chính ở nơi nó thả lưới tối qua. Trong cơn cáu giận, có thể sẵn sàng nhảy vào đánh nhau với cả chục con người vì mấy tấm lưới, nó lao bổ tới rồi bỗng đứng khựng lại nhoẻn miệng cười: đó chẳng phải là người, mà là khoảng gần chục cây bạch dương kia sau một đêm đã nảy đầy lá, trông từ xa hệt như một đám người đang đứng.
Sự sống trong vỏ cây
Năm ngoái, để đánh dấu chỗ trên bãi đẵn gỗ, chúng tôi đã bẻ gãy một cây bạch dương non: phần thân gãy của nó rủ xuống treo lủng lẳng gần như chỉ trên một rẻo vỏ mảnh hẹp. Năm nay, quay trở lại chỗ đó, tôi hết sức ngạc nhiên thấy cây bạch dương nọ vẫn xanh tươi, có lẽ bởi vì rẻo vỏ mảnh mai kia vẫn truyền nhựa sống cho phần thân cây bị gãy.
Cô gái giữa rừng bạch dương
Trên những cây bạch dương chỉ mới hiện lên màu non xanh mơn mởn và rừng bỗng trở nên rộng lớn hơn, mang vẻ thật trinh nguyên. Trong những khu rừng đó, đoàn tàu của chúng tôi không có vẻ như một con quái vật, ngược lại, tôi thấy nó khá là tiện nghi. Tôi cảm thấy rất vui vì mình có thể ngồi cạnh cửa sổ và chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những cánh rừng bạch dương lấp loáng không ngừng trôi ngang qua. Đứng cạnh ô cửa tiếp theo là một cô gái trẻ nhưng không thật xinh đẹp lắm. Thỉnh thoảng cô lại ngả đầu ra phía sau và ngó quanh khắp toa tàu, như một con chim tìm diều hâu, để xem có ai nhìn mình không? Sau đó, cô lại áp mình vào cửa sổ.
Tôi muốn nhìn xem, trông cô như thế nào khi đối diện với cái khối xanh bao la của bạch dương. Lặng lẽ đứng dậy, tôi thận trọng nhìn vào ô cửa sổ. Cô gái mê mải ngắm cái khối bạch dương non xanh biếc đang sáng lên lấp loáng, mỉm cười với nó và thì thầm điều gì đó, đôi má ửng hồng…
Vàng anh
Những chồi thông từ xa trông như búp nến. Lúa mạch đen ngập đến đầu gối. Cây cối, những vạt cỏ cao, những bông hoa đều khoác màu sặc sỡ. Trong tiết chớm xuân này, chim chóc cũng như ngừng hoạt động, những con đực ẩn vào chỗ kín đáo thay lông, những con mái giữ mình chay tịnh trong tổ. Thú rừng bận kiếm mồi cho lũ thú non. Người nông dân mải miết với vụ xuân, hết gieo hạt lại cày bừa.
Những con chim vàng anh, cun cút, sa yên, én bờ bay đến. Sau cơn mưa đêm, buổi sáng sương mù dày đặc, tiếp đó là một ngày nắng đẹp, trời đất trong lành. Trước lúc hoàng hôn buông, gió bắt đầu đổi chiều, thổi từ hướng dãy núi sau lưng chúng tôi ra mặt hồ, nhưng những gợn sóng vẫn tiếp tục chạy về phía chúng tôi. Mặt trời như một quả cầu lớn bờm xờm không chói sáng lặn xuống rừng từ phía sau đám mây xanh.
Chim vàng anh rất thích thời tiết biến động, thay đổi thất thường, chúng muốn mặt trời lúc thì bị che phủ, lúc lại hé sáng và gió nô đùa với lá như những con sóng. Với lũ chim vàng anh, chim én, hải âu và sa yên, gió là chỗ thân tình.
Hôm nay, từ sáng sớm trời đã mang vẻ âm u. Sau đó trở nên oi ả, và một đám mây đen lớn tiến lại chỗ chúng tôi. Gió nổi lên; trong tiếng véo von của vàng anh và tiếng the thé của sa yên, đám mây trôi dần về hướng Zazer và dường như tan loãng đâu đó trong những khu rừng, nhưng chẳng bao lâu sau nó lại phình lớn ra và đội chiếc mũ trắng khổng lồ ngược gió tiến về phía chúng tôi. Hồ nước trở nên sôi động, gió tiếp gió, sóng tiếp sóng, những vệt đen như bóng của những đôi cánh nhanh chóng lao đi mọi hướng khắp mặt hồ. Một tia chớp lóe lên soi sáng dải bờ bên kia, sấm nổ vang. Vàng anh ngừng giọng, sa yên cũng lặng tiếng, chỉ còn hoạ mi vẫn hót đến tận cùng, có lẽ tới chừng nào những giọt nước mưa ấm áp to tướng còn chưa đổ xuống gáy nó. Rồi mưa bắt đầu tuôn như trút.
Mật ong
Cái lạnh rớt tháng Năm qua đi, trời trở ấm và hoa dã anh bắt đầu bớt vẻ rực rỡ. Thế vào đó, thanh lương trà bắt đầu nhú nụ và tử đinh hương cũng đang đơm hoa. Khi nào thanh lương trà đồng loạt trổ hoa thì mùa xuân sẽ hết; hoa thanh lương trà trở nên đỏ rực là độ mùa hè qua; lúc ấy chúng tôi bắt đầu những chuyến đi săn mùa thu, và cho đến tận mùa đông sẽ bắt gặp những trái thanh lương trà đỏ rực trong rừng.
Khó có thể nói chính xác hoa dã anh có mùi hương như thế nào, cũng không thể so sánh nó với bất cứ một cái gì khác. Lần đầu tiên ngửi hoa dã anh mùa xuân, tôi nhớ lại tuổi thơ, nhớ đến những người thân của tôi, và tôi nghĩ về họ, rằng họ cũng như tôi đang ngửi hoa dã anh và cũng không thể nói nó có mùi hương như thế nào. Cả các ông bà, các cụ tổ và cả những ai sống ở cái thời mọi người còn hát thiên tráng sĩ ca về đoàn quân Igor, và còn trước đó nhiều nữa vào cái thời hồng hoang của loài người - thời nào cũng có hoa dã anh thơm, có giọng họa mi hót, có muôn vàn loài cỏ, loài hoa và loài chim ca hát, và có những tình cảm và cảm xúc khác nhau gắn với tất cả những cái đó tạo nên tình yêu tổ quốc của chúng ta. Chỉ trong một mùi hương dã anh ta đã gắn bó với toàn bộ quá khứ. Và kìa, hoa dã anh đã bắt đầu tàn. Lần cuối cùng tôi muốn nâng bông hoa lên ngửi, trong một hi vọng sau cuối và vô ích là sẽ hiểu được rốt cục dã anh có mùi hương gì. Và tôi kinh ngạc cảm thấy từ những bông hoa đó tỏa ra mùi hương mật ong. Đúng thế, tôi nhớ rất rõ, trước phút cuối đời mình hoa dã anh không tỏa ra mùi hương của chính nó như chúng ta quen thấy, mà là hương mật ong, và điều đó nói với tôi rằng những bông hoa ấy tồn tại không vô ích. Cứ mặc cho giờ đây những bông dã anh đang tàn rụng, nhưng bù lại chúng đã góp được bao nhiêu mật cho đời!
Tầng lá trên cao
Buổi sáng, tuyết rơi hôm qua vẫn còn vương đọng trên mặt đất. Rồi mặt trời hiện ra và suốt ngày những đám mây nặng nề trôi đi trong gió Bắc buốt lạnh, lúc để lộ mặt trời, lúc lại phủ che đầy vẻ đe dọa.
Còn trong rừng, ở nơi kín gió, cuộc sống mùa xuân vẫn thản nhiên tiếp diễn. Và đây đúng là một cảnh tượng cổ tích: các cành nhánh còn chưa mặc áo lá nhưng đã nở dầy những nụ và hoa hoặc những chồi non xanh dài căng nhựa; chúng từ tất cả các tầng rừng rủ xuống, xoắn xuýt, quấn bện vào nhau. Những vòi hoa dã anh màu xanh; hoa trên cây cơm cháy trông chẳng khác gì món cháo đỏ; từ màn lá liễu buông lơi như mái tóc mềm, những nụ hoa vàng bé xíu trổ ra và kết thành hình những chú vịt lông vàng vừa chui ra khỏi vỏ trứng.
Thậm chí cả thân của những cây vân sam chưa già cũng phủ kín lá kim xanh non như một lớp lông, còn ở phía trên nhánh tít trên cùng của cây cũng đang dần dần hình thành một tầng lá mới non tơ.
Tôi nói điều này không phải để chúng ta, những kẻ đã trưởng thành và phức tạp, quay trở về với thời niên thiếu, mà là để trong bản thân mỗi người vẫn giữ được con người thơ trẻ của mình, không bao giờ quên nó và xây dựng cuộc sống của mình như một cái cây: vòm lá non tơ đầu tiên kia của cây luôn luôn ở trên cao, trong ánh sáng, còn thân cây là sức mạnh của nó, là chúng ta - những người đã trưởng thành.
Chia tay và gặp gỡ
Tôi quan sát một cách đầy thán phục sự khởi đầu của dòng nước. Trên ngọn đồi có cây thông rất cao; từ các cành lá những hạt mưa nhỏ chảy dồn xuống thân cây, tụ lại thành giọt nước lớn vòng vèo vượt qua những đoạn vênh cong rồi mất hút trong các lớp rêu dày xanh nhạt bao quanh thân cây. Ở sát mặt đất, nơi gốc cây bị uốn gập, nước từ trong đám rêu nhỏ thành dòng xuống vũng nước lặng sủi tăm bên dưới. Ngoài ra có nhiều giọt nước từ các cành cây cao rơi thẳng xuống đất tạo nên những giai điệu khác nhau.
Cái hồ nhỏ đầy tràn dưới gốc cây chợt vỡ ra ngay trước mắt tôi; một dòng nước xuyên dưới lớp tuyết chảy về phía con đường lúc này đã biến thành đập chắn lũ. Dòng nước mới sinh mạnh đến mức phá vỡ cả đập chắn - con đường - rồi băng băng chảy qua vương quốc của quạ ra con sông nhỏ. Khu rừng trăn bên bờ sông ngập chân trong dòng lũ; nước từ cành cây nhỏ giọt xuống tạo nên vô số bong bóng. Tất cả đám bong bóng chậm chạp di chuyển trên mặt nước về phía dòng chính rồi đột ngột tăng tốc chảy xuôi theo lòng sông ngầu bọt.
Trong màn sương mù thấp thoáng những bóng chim bay, nhất thời tôi chưa xác định được đó là loài chim gì. Chúng vừa bay vừa kêu chiêm chiếp, tôi không thể phân biệt nổi tiếng kêu của chúng trong tiếng réo của dòng sông. Lũ chim đậu xuống một đám cây mọc ở phía xa bên bờ nước, tôi liền đi đến đó để xem những vị khách nào từ miền xa ấm áp đã tới thăm chúng tôi sớm như thế.
Trong tiếng réo của dòng chảy và tiếng ngân nga của những giọt nước, đầu óc tôi, - như vẫn xảy ra khi nghe các bản nhạc thực thụ của con người, - bị ám ảnh bởi những ý nghĩ về bản thân xoay quanh một vết thương lớn của mình mà chừng ấy năm trời không thể nào thành sẹo.
Tôi như chợt tỉnh khi nghe giọng hót của chim di hoa. Không thể tin vào tai mình, nhưng chẳng mấy chốc tôi đã hiểu rằng những con chim bay ra từ sương mù, những vị khách đến sớm đó thảy đều là chim di hoa. Hàng ngàn con chim di hoa cùng bay, cùng hót, một số đậu trên cây và vô số tản ra trên những luống đất cày ải mùa thu, - và lần đầu tiên tôi hiểu ra mối liên quan giữa chim di hoa và đất cày ải mùa thu. Nhưng cái chủ yếu tôi cảm thấy trong cuộc gặp gỡ với những con chim được mong đợi này lại là một nỗi lo sợ, - rằng nếu như chúng nhỏ bé hơn, tôi thầm nghĩ, rất có thể tôi đã hoàn toàn bỏ qua, không để ý đến chúng.
Và thế là, - tôi thầm nghĩ, - hôm nay tôi bỏ qua những con chim di hoa, còn ngày mai tôi sẽ bỏ qua một con người sống tử tế, và người đó sẽ chết mà tôi không hề quan tâm. Tôi hiểu rằng trong sự xao lãng này của tôi có mầm mống khởi đầu của một nhầm lẫn lớn lao căn bản nào đó.
Gửi người bạn chưa quen biết
Buổi sớm ấy sương mai đọng nắng, tựa như miền đất chưa người khám phá, như tầng trời chưa được biết đến, đó là buổi sớm mai duy nhất, chưa có ai thức dậy, chưa ai nhìn thấy gì, và chính bạn là người đầu tiên…
Chim họa mi ca nốt bài ca cuối xuân, hoa bồ công anh còn náu mình nơi gió lặng, và có thể đâu đó trong bóng râm tối ẩm ướt có một bông linh lan đang tỏa sáng lặng thầm. Cất tiếng tiếp sức cho họa mi là lũ chim nhỏ linh lợi của mùa hè - chim tiêu liêu, và đặc biệt là tiếng sáo tuyệt hay của chim vàng anh. Khắp nơi tiếng bầy sáo lách nhách rộn ràng; và bác gõ kiến, đã quá mệt mỏi vì phải kiếm mồi sống nuôi lũ chim non, tìm đến đậu nghỉ trên một nhành cây xa.
Hãy dậy đi, hỡi bạn của ta! Hãy gom giữ những tia hạnh phúc của chính mình, hãy dũng cảm, hãy bắt đầu cuộc tranh đấu, hãy giúp sức mặt trời! Hãy lắng nghe, kìa chim tu hú cũng sẵn lòng giúp bạn. Hãy nhìn xem, chim diều mướp đang bơi trên mặt sóng: đó không phải là con chim bình thường, trong buổi sáng mai này nó là đầu tiên và duy nhất; và kia những con quạ lông lấp loáng sương sớm đã bay ra đường mòn - ngày mai chúng sẽ không lấp loáng như vậy nữa, vì đó không còn là ngày hôm nay, và những con quạ sẽ bay đến một nơi nào đó khác. Buổi sáng mai này là duy nhất, không một người nào trên khắp địa cầu còn thấy được nó: chỉ có anh và người bạn chưa quen biết của anh được thấy mà thôi.
Đã hàng chục ngàn năm, con người sống trên mặt đất, đã tích góp, đã truyền cho nhau niềm vui, để chờ bạn đến nâng nó lên, gom những mũi tên của nó lại và tận hưởng niềm sung sướng. Hãy dũng cảm, hãy dũng cảm lên!
Và tâm hồn sẽ lại trở nên rộng mở: kìa những cây vân sam, những cây bạch dương, - và tôi chẳng thể nào rời mắt khỏi những búp nến thông xanh và quả vân sam thắm đỏ. Vân sam, bạch dương, ôi buổi sáng nay tuyệt vời đến thế!
Ếch nhái hồi sinh
Đêm, chúng tôi nghỉ lại trong túp lều bạt với con vịt mồi. Rạng sáng, trời trở nên rét dữ, nước đóng băng, tôi bị nhiễm lạnh nặng, và cả ngày cảm thấy mệt mỏi, tới chiều thì đổ ốm thật sự. Suốt ngày hôm sau, tôi nằm mê mệt trên giường, không còn biết trời đất gì nữa, phó mặc mình cho cuộc đấu giữa sự sống và cái chết. Sáng ngày thứ ba, tôi mơ thấy dải bờ đẹp như gấm thêu của hồ Pleseevo(7) và đàn hải âu trắng muốt trên những mũi băng san sát trong làn nước xanh. Trong đời thực, phong cảnh cũng đúng hệt như trong mơ tôi thấy. Đàn hải âu trắng bơi trong làn nước xanh sao mà đẹp đến thế, và phía trước còn nhiều điều thật tuyệt vời: tôi sẽ còn được thấy cả mặt hồ rộng khi băng tan, và mặt đất phủ trong lớp cây cỏ xanh rì, bạch dương mướt lá, tiếng rì rào màu xanh đầu tiên...
Từ hôm qua, trời lại trở ấm và đã nghe tiếng sấm từ xa vẳng tới.
Vẫn còn rã rời sau cuộc vật lộn sống chết song hạnh phúc vì chiến thắng, tôi rời khỏi giường, nhìn ra ngoài cửa sổ và thấy cả bãi cỏ trước nhà phủ đầy những loài chim nhỏ khác nhau: rất nhiều ri sừng, tất cả các loại chim sáo hay hót, sáo xám và sáo đen, sáo đầu xám, sáo mày trắng - vô số chim chạy đi chạy lại trên bãi cỏ, vỗ cánh và tắm trong vũng nước rộng. Đúng là một cuộc đại hội toàn thể của các loài chim hay hót.
Mấy con chó bị cột vào gốc cây không hiểu vì sao bỗng sủa toáng lên và ngơ ngác nhìn một cái gì đó trên mặt đất.
- Kìa, sấm làm ra đấy, - người hàng xóm nói và chỉ tay vào chỗ mấy con chó đang dán mắt nhìn.
Một chú ếch lưng lấp loáng ướt nhảy thẳng về phía mấy con chó, và đúng khi tưởng như vấp vào chúng liền đột ngột đổi hướng và ném mình vào vũng nước rộng. Ếch nhái đang hồi sinh, và dường như tiếng sấm đã làm nên điều đó: cuộc sống của loài ếch gắn liền với tiếng sấm - khi sấm nổ là lúc ếch nhái hồi sinh và nhảy ra, lưng ẩm ướt lấp loáng dưới nắng, và tất cả đều hướng tới vũng nước lớn nơi đây. Tôi bước đến gần vũng nước, cả lũ đều thò đầu lên nhìn tôi: đúng là những chú chàng tò mò!
Vô số côn trùng bay đến sưởi nắng, và bao nhiêu là chim trên bãi cỏ! Nhưng hôm nay vừa ốm dậy, tôi không muốn truy tìm tên của chúng, hôm nay tôi cảm nhận toàn bộ cuộc sống của thiên nhiên một cách tổng thể và tôi không cần những tên gọi riêng. Tôi cảm thấy có một mối quan hệ thân thuộc với tất cả các sinh vật bay, bơi, chạy này, đối với mỗi loài trong lòng tôi đều có một hình ảnh ghi nhớ riêng, sau hàng triệu năm đọng lại giờ đây đang chảy trong huyết quản của tôi: tất cả đều có ở trong tôi, và chỉ cần nhìn và nhận biết.
Phát sinh từ cảm xúc sống, những ý nghĩ của tôi ngày hôm nay thành hình một cách thật đơn giản: có một thời gian ngắn vì trận ốm tôi đã rời xa cuộc sống, đã đánh mất một cái gì đó và giờ đây đang khôi phục lại. Cũng như hàng triệu năm trước đây chúng ta đã đánh mất đôi cánh, một đôi cánh cũng tuyệt vời như đôi cánh hải âu, và vì chuyện đó xảy ra đã rất lâu nên giờ đây chúng ta mới nhìn chúng ngưỡng mộ đến vậy.
Chúng ta đã đánh mất khả năng bơi như cá, lắc lư trên cái sào gắn vào thân cây lớn, thiên di từ miền đất này sang miền đất khác như những hạt giống bay, và chúng ta say mê tất cả những cái đó bởi vì tất cả đều từng là của chúng ta, chỉ có điều đó là chuyện đã từ lâu, rất lâu rồi. Chúng ta nhất thống với toàn thể thế giới, bây giờ chúng ta khôi phục mối quan hệ ấy với sức mạnh của sự quan tâm ruột thịt và bằng chính cách đó chúng ta khám phá ra cái riêng của mình trong những con người có lối sống khác, thậm chí là trong các loài động vật, thậm chí trong các loài thực vật…
Tới giữa trưa, cũng như hôm qua, khi tiếng sấm vang lên ì ầm, mưa ấm áp bắt đầu rơi. Chỉ sau một giờ, lớp băng trên mặt hồ từ màu trắng đã chuyển thành trong suốt, tiếp nhận vào mình, tựa như nước ven bờ, màu xanh của bầu trời khiến tất cả tiếp liền như một mặt hồ xanh mênh mông.
Sau buổi hoàng hôn, sương bắt đầu giăng trên những lối mòn trong rừng, và cứ sau mười bước chân lại có một đôi chim đa đa bay vụt lên. Gà lôi thả sức thì thầm, cả khu rừng thì thầm và rì rào. Đám dẽ giun cũng hòa giọng theo.
Trong màn đêm, ở phía ngoài thành phố, có ba nguồn ánh sáng cùng chiếu rọi: phía trên là những ngôi sao xanh, nơi chân trời là ánh điện vàng của khu dân cư, còn trên mặt hồ là những luồng sáng lớn gần như đỏ rực của thuyền đánh cá. Khi một vài luồng sáng đó tiến đến gần bờ, chúng tôi thấy có cả khói và hiện ra những người cầm đinh ba xiên cá trong tay, cảnh tượng đó gợi nhớ đến những hình người cùng những con rồng trên bình cổ Olivia và Pantikápaion.