Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

ĐỌC: THƠ TỪ THÀNH PHỐ STUTTGART NƯỚC ĐỨC

4 trả lời, 16 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 07.02.2025 03:45:39 bởi THƠ NGÃ DU TỬ>
ĐỌC: THƠ TỪ THÀNH PHỐ STUTTGART NƯỚC ĐỨC
          Của nhà thơ nữ Nguyễn Hồng Linh
 
Bất cứ người nào xa quê hương lâu thường nhớ về nơi chôn nhau, cắt rốn bởi lẽ nơi ấy có mẹ cha, anh chị em, dòng tộc và nhất là quá nhiều kỷ niệm thuở ấu thơ đến trưởng thành. Thời hoa mộng cắp sách đến trường, bắt đầu tình yêu thời hoa niên… Biết bao kỷ niệm cứ dồn nén trong lòng, thỉnh thoảng vẫn chăm chỉ lật thước phim ngày cũ trong tiềm thức xa xôi mở ra xem. Ôi chao! hình ảnh xưa cũ cứ nhảy múa liền hồi, rồi quá khứ như sống lại từng hồi, từng giờ, dẫu thế nào cũng xúc động nuối tiếc nhớ thương, sao quá đổi ngây thơ, đẹp, dễ thương đến lạ và thơ mộng biết chừng nào.
Thời gian đã lùi về quá khứ xa xăm, nhưng kỷ niệm thôi thúc luôn nhớ về, nhất là phụ nữ.
Người phụ nữ ấy là nhà thơ Nguyễn Hồng Linh, chị xa quê hương trên 30 năm. Chị cũng có những gian nan buổi đầu trên đất nước xa lạ, xa xôi trùng trùng thăm thẳm quê nhà, lại chẳng đồng ngôn ngữ, chỉ quán chiếu điều ấy chúng ta đã thấy nhiều gian nan, khổ sở biết bao. Cuộc sống vẫn phải tiếp diễn, dòng đời mãi trôi như dòng sông định mệnh, chỉ duy nhất là nhập cuộc và phù hợp với không gian, văn hóa nơi chốn thực tại – Thành phố Stuttgart, nước Đức rất bỡ ngỡ buổi ban đầu. Cảm xúc ấy là có thật từ buổi ly quê.
Vốn đa cảm và giàu cảm xúc, chị thầm lặng trải lòng trên trang giấy để san sẻ, nỗi lòng bâng khuâng. May thay, trời đất cho chị có năng khiếu làm thơ là niềm đam mê cảm xúc trải lòng mình cứ đầy đặn lên từng ngày, từng tháng.
Năm 2019 chị xuất bản thi tập đầu tay: TÓC RƠI PHIẾN NGỌC Mở đầu cho thi tập chị cố ý đặt bài thơ Cố Hương - Quê cũ ai đi xa cũng nhớ về, nhất là người tận trời Âu như chị thì cách trở địa lý ngàn trùng. Nỗi nhớ ấy ai có đồng cảnh ngộ tất sẽ hiểu được, nhưng chị chỉ cô đọng nỗi niềm tha phương chơi vơi, khúc ly quê mong ngày về thăm quê hương cũ.
Năm 2020 với Tập thơ CÀNH XANH GIỌT SẦU là lời trần tình trong nỗi nhớ Mẹ, nhớ quê hương, thỉnh thoảng có bóng ai xưa chừng như nhạt nhòa hơn và vui buồn đi qua trong lớp lớp hóa sinh đời mình nơi xứ người – Một nước Đức xa xăm tận trời Âu.
Năm 2022 với GIẤU NHỚ VÀO ANH Thi phẩm toàn bộ thơ lục bát truyền thống Việt Nam – Chỉ có người Việt mới có thể loại thơ này, hàm dưỡng triết lý của Việt tính.
Năm 2023 chị lại chắt chiu đứa con tinh thần nữa như thân tặng quê hương thứ hai nước Đức, nhất là thành phố chị đang sống Stuttgart như hàm chứa sự tri ân của quốc gia châu Âu này, nên tựa đề rất rõ ràng: THƠ TỪ THÀNH PHỐ STUTTGART NƯỚC ĐỨC.
Nếu quê hương Việt Nam là mến yêu trong hoài niệm thì Stuttgart là hiện thực yêu mến. Khi chị đã chọn nơi này làm quê hương thứ hai, cuộc sống luôn tiếp diễn. Phải nói đời sống nơi xứ lạ quê người không người nhờ vả được ai nên chị càng phải cố gắng, nỗ lực với đời sống dữ dội hơn, nhiều hơn, chặm chỉ làm để các con được ăn học thành người – Người mẹ nào chắng vậy, giờ các con cái chị đã từ tốn lớn khôn và trưởng thành, có vị trí xã hội trong niềm hạnh phúc bình yên của đời sống. Tri ân Stuttgart – Đức quốc là lòng biết ơn cao đẹp của chị và gia đình chị. Chị viết trong một ngày xuân:
“Nghe hơi thở mùa xuân góc phố phường
Tay trong tay nghe đôi chim câu
kể chuyện tình buổi sáng”
Hoặc chị viết về thành phố chị đang sống, có phong cách cổ kính pha lẫn hiện đại, mời các bạn đọc bài thơ thể điệu 1-2-3, sẽ cảm nhận được:
“Sông Neckar hiền hoà chảy qua cổ kính và hiện đại

Giữa ngọn đồi xanh khu phố cổ và thung lũng
Toà lâu đài và cây cầu cồ in bóng nước chênh chao

Con người hiện đại hóa bên sông Neckar xưa cũ hiền hoà
Một bức tranh phong cảnh hoàn mĩ thanh bình
Cuộc sống tăng tốc và thời gian không dành cho sự bi thương”
Trạng thái lắng nghe mới nhận ra cảm xúc mùa xuân về trên quê hương Stuttgart nước Đức, thật đáng quý mùa xuân biết bao. Thiên nhiên ban tặng cho cả loài người mỗi độ xuân về có muôn ngàn hoa thơm, hương tỏa làm thăng hoa tâm hồn mỗi người trong trần gian và chính chị mới cảm nhận được đôi chim câu “nói chuyện” tình buổi sáng. Ngôn ngữ không nhiều nhưng độc giả sẽ cảm được phía sau của ngôn ngữ thơ của Hồng Linh nhiều điều diễn đạt.
Hay:
“Lang thang Schlossplaz những khu vườn xinh xắn/ Cột Thánh xưa/ Nghe tiếng vó ngựa những chàng kỵ sĩ thời William đệ nhất/ Nằm bãi cỏ xanh ngắm tháp Kilesberg/ nghe hạ nhớ nhung”.
Nhớ nhung mùa hạ ư, nhớ cái gì? Phải chăng là kỵ sĩ một thời vàng son cùng Hoàng đế của nước Đức - Quốc vương đầu tiên của đế quốc Đức vào ngày 18 tháng 1 năm 1871. Ông có công thống nhất nước Đức và trở thành hùng mạnh nhất châu Âu thời bấy giờ.
Tiếng vọng của tiền nhân anh hùng ấy chị cảm thấy biết ơn, chị xem mình như một công dân Đức đích thực thuần túy. Tính văn về lòng biết ơn trong thơ của người Việt, mà Hồng Linh là điển hình.
“Mùa Thu đi ngang khung cửa” của chị thì sao?
“Hàng cây nằm nghiêng mình/ bóng in long lanh đáy nước/ Ngôi nhà đang leo nhẹ nhàng trên sườn núi ánh vàng/ Con đường dốc nằm thở tươi cười dưới nắng/ Lá cây chuyển màu đỏ an nhiên/ trong những cánh rừng”
Ôi chao! Thơ mộng và thanh bình quá, xúc cảm từ lá vàng sang đỏ thú vị quá, cảm giác an nhiên, tự tại trong mùa thu đầy lãng mạn, thì ra mùa thu đi qua nơi vườn nhà chị sao lắm đổi sắc màu cảm xúc làm thi nhân thanh thản, an nhiên.
Đặc biệt những bài thơ chị viết về thành phố đang sống – Stuttgart không nhiều ngôn từ nhưng nhiều hình ảnh, như tôi đã nói ở trên, “quý hồ tinh, bất quý hồ đa” là vậy.
Tuy nhiên, nỗi nhớ niềm thao thức về cố hương cứ “Lưu lại trong ký ức vạn điều còn nuối tiếc” khôn nguôi, mãi lãn vãn trong đầu chị như chẳng thể xóa nhòa. Ví như, mùa đông một mùa Giáng Sinh chị cùng ai đi lễ, có lẽ tuyết rơi nhiều, hàng cây hiu hắt đứng buồn như thiếu phụ mùa đông, cành lá trơ vơ, ủ rủ, lòng chị lại bâng khuâng nhớ về Sài Gòn - Đặc biệt Noel Sài Gòn chẳng lạnh lẽo bao giờ.
“Trời đông giá, áo lạnh với khăn quàng
Tuyết rơi rơi xốn xang chờ nắng ấm
Nhớ Sài Gòn cơn mưa chiều ướt đẫm
Nhà thờ Đức Bà thầm lặng nghiêm trang”
(Nỗi niềm Giáng Sinh)
Đọc hết tập thơ chúng ta sẽ thấy dù chị viết: Thơ Từ Thành phố Stuttgart Nước Đức, nhưng lòng chị vẫn hướng về cố hương, tình cha nghĩa mẹ và cả những tình xưa nghĩa cũ quê nhà cũng hiển thị trong thi phẩm này, thì ra nỗi niềm ấy chị đã ráng giấu kín bên lòng:
“Em giấu vào trong ánh mắt sâu
Phấn hương tỏa giữa biển mê sầu
Rong rêu bám buột đời viễn xứ”…
(Gánh cả giọt buồn)
Hay:
“Tịch dương ngả bóng mùa lay
Thắm sâu nỗi nhớ đọa đày con tim”… (Giọt buồn)
Nỗi nhớ thăm thẵm sâu lắng chất chứa trong người chị, nghĩa là với chị mải miết thao thức và phân thân ý thức lòng yêu quê hương Việt Nam và cả quê hương Đức quốc. Thật hiếm thấy phụ nữ nào như thế. Đọc dòng thơ tự sự này có lẽ ai cũng quý mến lòng chân thành của chị với cố hương xa ngái vẫn hoài vọng khôn nguôi.
Dường như lời thì thầm ấy, chị cũng đã bộc bạch trong một bài thơ khác khi ngơ ngẩn đứng giữa đàng phân vân, thương chính mình nghe như có chút cô đơn lạc loài:
“Ân tình mai một biến tan
Băn khoăn ta đứng giữa đàng ngẩn ngơ
Rưng rưng con sóng xô bờ
Dường như… nghe chút hồn thơ lạc loài” (Dường như)
Đời người khi đã qua đỉnh dốc cực đại của đỉnh Parapol âm, xuống dốc thường nghĩ đến tuổi hoàng hôn, chị đã đi qua cuộc nhân sinh này với biết bao trải nghiệm, thực chứng quá nhiều vui buồn, giờ đến tuổi xế chiều, thường suy nghiệm lẽ sống, triết lý cõi sống. Lòng muốn thanh thản, chiêm nghiệm bình an. Chỉ duy nhất là bắt đầu tập buông bỏ những điều muộn phiền, cay đắng. Tôi nghĩ rằng đây là nhân sinh quan hết sức đúng đắn, trong thế giới quan của tồn lưu đời sống loài người: ‘Lục thập nhi nhỉ thuận’, nghĩa là: Tuổi sáu mươi, tất cả đều thuận tai chẳng phân bua, chị viết:
«Dù cuộc đời ngắn ngủi có lúc ngậm ngùi, lúc cay đắng, lúc buông xuôi
Cứ hy vọng rồi ngày mai đời sẽ tươi trở lại
Dù không phải tình đầu xin hãy là tình cuối, anh ơi đừng ngại
Dù bao giông tố bão bùng ta tìm lại giấc mơ xưa» (Còn lại gì?)
Khi mọi thứ đã buông xả sẽ khởi lên niềm hy vọng cùng ước mơ an nhiên, hạnh phúc của kiếp người trần gian.
«Đêm thắp lửa một lần hay nhiều nữa/ gió lang thang ve vuốt cánh hoa tươi/ Dạ quỳnh nở/ nồng nàn bên ô cửa/ trút xiêm ý hương mời gọi rạng ngời» (Hóa thân)
Hay là:
«Nắng hồng ươm ngày qua/ chia em chút thật thà/ trổ hương nồng năm tháng/ cho đời hết phong ba»
Hy vọng sẽ như thế nhà thơ nữ Hồng Linh nhé. Lời thơ giản dị mà chân thật, không cầu kỳ chữ nghĩa mà đầy dặn chữ tình.
Chúc mừng nhà thơ nữ Nguyễn Hồng Linh đã nỗ lực trước bạ thi phẩm thứ tư: Thơ từ thành phố Stuttgart Nước Đức, như đóng góp dòng thơ Việt vào hòa nhập với văn chương thành phố Stuttgart nói riêng và nước Đức nói chung.
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bốn phương.
 
Phạm Ngọc Dũ
(6/ 2024)
Chủ biên Diễn đàn văn học Sông Quê tại TPHCM
 
 
 
 
 
 
 
 
 
📎 121321215_275...2419058_n
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 25.01.2025 15:25:41 bởi THƠ NGÃ DU TỬ>

VÀNG GIEO TÂM THỨC của Ngã Du Tử -
     KHÁT VỌNG SỐNG & VIẾT
Nhà văn: Nguyên Cẩn



Trong dòng chảy văn học hiện nay, nhiều nhà thơ đã chọn những xu hướng cách tân ngôn ngữ, khoác lớp áo mới, có khi cầu kỳ, nhưng cũng có khi cẩu thả, dung tục để tạo cái “mới”, cái “lạ” mang những phong thái tân hình thức. Ở đó, ngôn ngữ được xen thêm nhiều lớp nghĩa phủ nhận cái cũ, truyền thống. Nhưng Ngã Du Tử (NDT) không đi theo trào lưu ấy, anh vẫn trung thành, chung thủy với nét trữ tình, truyền thống, hướng tới cái đẹp, giá trị thẩm mỹ, bày tỏ tư tưởng, tình cảm của con người. Vì ngay ở thơ đương đại, theo TS. Nguyễn Thanh Tâm “… Ta thấy được tâm tính của người Việt. Họ muốn biểu đạt trạng thái, tâm tư của mình qua các loại hình giàu vần điệu, con chữ mang
đầy nhạc tính. Tư duy con người sẽ luôn biểu đạt bằng ký hiệu, ngôn từ. Vì thế, về mặt “trật tự triết học”, chữ hầu hết là đứng ở vị trí phương tiện chứ ít khi là mục đích. Nói như Viên Mai, nhà thơ, nhà phê bình văn học đời Thanh, Trung Quốc, tuy có vẻ hơi cực đoan nhưng về cơ bản là rất đúng, rằng: “Trong thơ, ý tình là chủ, chữ là đầy tớ. Khi chủ đi vắng thì đầy tớ mặc đẹp để làm gì?”.
Cụ thể là trong những câu thơ hay nhất của các bậc thi hào, thi bá như Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, Đoàn Thị Điểm... Nếu chỉ kể về chữ thì có lẽ chúng ta cũng có đủ chữ như họ. Chỉ có duy nhất một điều khác, ấy là sức nghĩ nào, cảm xúc nào mới có khả năng “gọi” chữ đến, hút chữ đến theo cái nhịp điệu quyến rũ kỳ diệu của cảm xúc cho thành những câu thơ đó mà thôi.
Mayakovsky thì táo tợn hơn, ông nói: “Nếu trong lòng đã có điều cần nói thì chúng ta có thể viết bằng một cái... chổi cũng được” Ngã Du Tử cũng thế, anh muốn viết như anh thở:
Trăm năm trở giấc chiêm bao
Chợt bừng thức giữa trăng sao thường hằng
Người về, gửi lại vầng trăng
Soi cùng nhân thế yêu thương mặn nồng
Tâm thức hòa hợp với thế giới bên ngoài của nhà thơ bộc lộ khát vọng được sống, được yêu và được bày tỏ bằng ngôn ngữ, dù cô đơn là bạn đồng hàn
Ta thi sĩ mặn nồng cùng con chữ
Mải miết đi trên đại lộ độc hành
Xin thâm tạ muôn sắc màu ngôn ngữ
Viết văn thơ năm tháng đẫm hương lành
Mỗi một người, già hay trẻ của Việt Nam đều là một thi sĩ - Mười bức thư mà Rilke viết trong “Thư gửi người thi sĩ trẻ tuổi” là mười tiếng nói được gửi về bất cứ người thi sĩ nào đang sống trên mặt đất trần trụi này. Sống và sống một cách thơ mộng trên thế giới sâu kín này, phải chăng đó là tiếng ca của con chim không tên, đồng vọng lên một sớm mai hồng đang nằm phong kín trong đêm tối sinh ly.
Rilke nói thẳng: “Không một ai có thể khuyên nhủ hay giúp đỡ anh. Chỉ có một con đường duy nhất. Đi sâu vào con người anh. Tìm kiếm lý do bắt buộc anh phải viết, tìm xem nó có cắm rễ vào trong những nơi sâu thẳm trong trái tim anh hay không, hãy thú nhận với mình rằng liệu anh có thể chết nếu không được viết hay không?
Giở trang thơ gọi ngày tràn mặt đất
Cho thương yêu về hội tụ xây thành
Cuộc đời vui theo nhịp những bàn chân
Mùa hạnh phúc mở từng ô cửa một.
Trong phần sau của bức thư đầy nhiệt thành và trìu mến, Rilke đưa cho chàng trai những lời khuyên vừa thực tế vừa thấm đẫm chất thơ:
“Hãy cố gắng, như con người đầu tiên trên mặt đất, nói điều anh nhìn thấy và những trải nghiệm, nói về tình yêu và mất mát… Vì thế hãy tìm những đề tài thông thường và tìm kiếm những điều mà đời sống thường nhật mang lại, mô tả những nỗi buồn đau và khát vọng, những suy tư thoáng qua và niềm tin vào một vẻ đẹp nào đó - Hãy mô tả tất cả với một lòng chân thành đầy thương yêu, trầm tĩnh và khiêm tốn, hãy dùng những thứ xung quanh, những hình ảnh trong giấc mơ, những sự vật trong ký ức để biểu đạt chính mình:
Rồi cúi xuống hôn cánh hoa vừa rụng
Ôi làn hương còn phảng phất bên trời
Người ngồi đó với linh hồn rời rã
Tôi bước qua hoang mạc dáng con người
Hay ở một bài khác, Ngã Du Tử viết về “Những suy tư thoáng qua và niềm tin vào một vẻ đẹp”:
Tìm trong dâu bể mai sau
Yêu thương ơi, hãy tin nhau chữ tình
Nỗi buồn nào cũng lặng thinh
Cứ bao dung như có mình ở trong
Miên man lòng nhuộm sắc hồng
Vàng gieo tâm thức thân đồng vọng bay
(Vàng gieo tâm thức)

Thơ là một sản phẩm của tâm hồn, trí tuệ con người mà tâm hồn và trí tuệ đó có một tác động trở lại vào thực tại... Thơ phải xuất phát từ thực tại, từ đời sống, nhưng phải đi qua một tâm hồn, một trí tuệ và khi đã đi qua như vậy, tâm hồn, trí tuệ ấy phải in dấu vào đó thật sâu sắc, càng cá thể, càng độc đáo, càng hay, “thơ là tiếng gọi đàn, là sự đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu của những con người” (Xuân Diệu)
NDT viết về tình yêu:
Linh cảm em về trong đáy ly
ngập ngừng sao chẳng nói năng chi
mười năm có lẽ đau thành quách
thương lắm những giờ khắc biệt ly

Mười năm tiễn biệt một người đi
nổi nhớ mười năm ấm lạnh vì
trần gian mờ ảo bàn chân bước
có lẽ em về trong đáy ly?
Nỗi nhớ, kỷ niệm, quá khứ đan xen trong hiện tại cho ta cái mờ ảo như thơ Quang Dũng “Thoáng hiện em về trong đáy cốc” như chuyện tình Trương Chi thưở nào “Khối tình mang xuống tuyền đài chửa tan” (Kiều) Tình yêu ấy vẫn bên ta qua bao năm tháng, khiến ta có lúc bồi hồi:
Ngày xuân thấp thoáng bồi hồi
Em liêu trai nép bên đời hoan ca
Bến mơ hương lửa nhạt nhòa
Chiều qua phố bỗng thật thà trẻ thơ

Nhưng trong tình yêu cũng luôn có sẵn những cung bậc trầm buồn khi ly biệt:
Rồi chợt buổi cây phượng già nhuộm lửa
Buổi chia tay rưng rức một cung buồn
Tôi đưa em lá thư tình mắc cạn
Nên một đời thất lạc cuộc tròn vuông

Tựu trung, tình yêu là cái gì làm cho tâm hồn ta ấm lại kiểu Chế Lan Viên “Anh
nhớ em như đông về nhớ rét “ thì NDT cũng có tâm trạng ấy:
Thương đông xưa, hồn mình đang rét cóng
có em về sưởi ấm trái tim anh
sao nhớ quá con đường xưa mây trắng
những tự tình trời đất vẫn màu xanh

Bởi vì khi trời đất giao hoà, ái tình chan chứa thì:
Rồi trở lại như một lần tình tự
em mùa đông, anh mùa hạ - dung hòa
thương biết mấy lòng ai ngày đông lạnh
về đi em cho kịp buổi giao mùa

Tỉnh yêu của NDT còn đặt trong bối cảnh chung là tình yêu đầu đời từ kỷ niệm thưở nào:
Xa tít tắp phía nghìn trùng mưa nắng
Em xưa ơi, còn nhớ buổi hẹn hò
Vẫn như thuở yêu em viết vội thành thơ
Hương con chữ còn thơm theo ngày tháng
Những lúc ấy NDT thấy sự mầu nhiệm của tình yêu, dù còn hay mất …
Ta cúi xuống thâm tạ tình - Ân hận
Màu trăng xưa huyền nhiệm đến vô cùng
Con đường vàng mật ngọt chẳng đi chung
Mắt em ướt, lòng ta như gió bão
Rilke cũng viết thêm: “Quan trọng nhất là, hỏi chính mình trong những thời khắc thinh lặng của đêm: Ta có bắt buộc phải viết? Đào sâu trong chính mình để lấy ra một câu trả lời. Nếu câu trả lời là có, nếu anh có thể đối diện câu hỏi nghiêm túc này bằng một câu trả lời đơn giản: Ta phải viết, thì lúc đó hãy xây dựng cuộc đời theo sự khẩn thiết này:
Ta bỗng thấy trần gian yêu quá đổi
Mộng mùa trôi cùng mây gió bên trời
Em dung dị trước cuộc đời thánh thiện
Sáng bừng lên giữa sóng gió cuộc đời

Rồi từ đó ta thức mình lãng tử
Bàn chân quen theo nhịp sống vỗ bờ
Vui em nhé, tình lên màu mắt biếc
Tôi quay về gõ thức những trang thơ.
Tình của Ngã Du Tử còn dành cho cha cho mẹ những người thân yêu trong cuộc đời này.
Những bài thơ mở đầu tập thơ này là về cha về mẹ:
Mẹ là nguồn sống bao la
Là hương hoa, ánh trăng và mùa xuân
Hay là:
…Mai về thắp nhánh sông già
Mẹ ơi, tình mẹ vẫn là gốc quê

Ngày Cha cỡi hạc đi xa
Nửa đời con, nhuộm phù hoa mịt mờ
Đêm về thảo một cánh thơ
Gửi cha trước cảnh thẩn thờ lòng đau
NDT còn viết những lời thơ tự sự về thân phận kẻ sĩ trong thời cuộc nhiễu nhương:
Mỗi bước ngã mọi điều như đổi khác
Đừng vô tình giẫm lại lối mòn xưa
Trời vô thường lúc nắng, lúc mưa
Ta kẻ sĩ phong trần đâu sá kể
Nhưng luôn dặn lòng phải sống sao cho đúng với phẩm chất một con Người
Phải cân nhắc chữ: Tín, nhân, lễ, nghĩa
Để mai sau không u uất nỗi buồn vương
Mười lăm năm mài nhẵn ghế nhà trường
Và chữ nghĩa gieo muôn phương im lặng

Bởi lẽ, kẻ sĩ có lúc không gặp thời đành ‘xuất xử“ như cụ Nguyễn Công Trứ ngày xưa
Thời giả tạo người tài mai danh ẩn…
Gió trăng mây làm bạn với sông hồ
Ngày lặng ngắm những ngậm ngùi nhân thế
Đêm yên lành suy nghiệm những tung hô
Anh chấp nhận dù có phải đánh đổi đời mình để gìn giữ sự trong sáng của một nhà văn. nhà thơ chân chính:
Ồ có phải một đời văn lận đận
Dẫu gừng cay, muối mặn cũng chân thành
Đêm cặm cụi cùng vườn hồng con chữ
Cứ thẳng ngay với tư tưởng độc hành
Anh không hài lòng trước một số hiện tượng quan tham nhưng anh tin vào luật nhân quả:
Quan, dân rồi cũng một đời
Sống sao cho xứng làm người, khó thay
Được ngồi cao thỏa no say
Xênh xang giày nọ, mũ này sướng chưa?

Trần gian sòng phẳng cuộc chơi
Tham lam cũng chỉ một thời hả hê
Lưới trời lồng lộng tứ bề
Khi vui sướng có thấy gì lương tâm!
Nhà thơ nghĩ đến quê xưa, đến một thưở chìm trong khói lửa chiến tranh vì những cuộc
chiến ý thức. Anh cảm thấy tâm hồn dấy lên tình yêu quê hương nồng thắm:
Vẫn quê mẹ, vẫn con đường mùi lúa
Thời gian trôi hương vị cứ ngọt ngào
Ai xa xứ nghe hương đồng mời gọi
Như tình ca, như tiếng mẹ ca dao
Quá khứ một thời vẫn là nỗi ám ảnh khôn nguôi trong tâm thức khi một thế hệ đã hy sinh trong cuộc chiến:
Thuở non sông cúi mặt buồn chinh chiến
Những người trai lần lượt bước lên đường
Ôi cuộc chiến, sao bi thương quá đổi
Tiếp theo nhau từng đợt ra chiến trường

Rồi kết thúc trước anh em một bọc
Chữ đồng bào nghe chua xót thê lương
Nào chủ nghĩa với anh em dân tộc
Thét gào nhau theo bể sóng trùng dương
Đến hôm nay những tham vọng bá quyền của kẻ lân bang cũng chưa nguôi và chúng ta
đang phải đối diện:
Biển Đông thuyền giặc vào cướp bóc
Mắt lệ thần dân đặc quánh ngày
Vẫn còn đó những thân phậm lam lũ dù hôm nay đất nước đã thanh bình:
Thương quá những phận người trên đường vắng
Lầm lũi đi như chưa có bao giờ
Đất nước thanh bình sao đầy những niềm đau
Nước mắt cạn tình yêu nào lên tiếng?

Trong ước mơ một ngày mai tổ quốc lại rạng ngời:

Dáng nằm nghiêng theo chiều tổ quốc
Rằng non sông mai mốt sẽ tưng bừng
Cả trăm con Âu Lạc sẽ xanh cành
Cây Tổ quốc có đơm hoa tươi tốt?

Sữa mẹ Việt nuôi đàn con khôn lớn
Như tiền nhân thời nao cũng quật cường
Ngày ấy người người trẩy hội như những cánh chim tìm về nắng ấm:
Bay thẳng cánh về phương Nam tránh gió
Ơi, phương Nam yên ắng gió giao thời
Nắng mới gọi từ sông về đến phố
Cánh tự do bay lượn khắp vùng trời

Trong ước mơ cháy bỏng:
Ta mong lắm ngày nước nhà giàu mạnh
Người láng giềng hết bắt nạt dân ta
Sẽ bước lên dõng dạt trước lễ đài
Đất nước Việt tung cánh cùng hoàn vũ
Rilke đã chân thành nói với những nhà thơ trẻ: “Tôi không biết khuyên anh điều gì ngoài điều này:
Đi sâu vào trong lòng mình và thăm dò những chiều sâu nơi đời sống của mình bắt nguồn, tại cội gốc đó anh sẽ tìm thấy câu trả lời cho câu hỏi anh có buộc phải sáng tạo hay không? Hãy đón nhận những thanh âm của nó, không dò hỏi thêm. Có lẽ, từ đó anh được gọi là một nghệ sĩ. Nếu thế thì hãy mang lấy số phận này, gánh lấy sức nặng và sự vĩ đại của nó, mà không đòi hỏi một phần thưởng nào có thể đến từ bên ngoài.
Ngã Du Tử chọn nghiệp văn, nghĩa là chấp nhận gánh trên vai sự cô đơn và đi cho hết con đường đã chọn:
Ta một đời văn bút
Rong ruổi với nỗi đời
Thẫm cái nhìn môi mắt
Mong đời lên xa khơi

Quê hương còn trước mặt
Những mảnh đời khát khao
Bàn tay nào mở lối
Cho nước nhà xôn xao
Nhìn dưới lăng kính Ký hiệu học, về mặt cấu tạo, tác phẩm văn học là một siêu ký hiệu vì đó là một ký hiệu lớn, do những ký hiệu nhỏ hơn kết dệt tạo thành. Đó là các từ, các cụm từ, đó là những hình ảnh, những nhân vật, đó là cốt truyện… Chúng nằm ở những tầng bậc khác nhau, giống như cấu tạo của con Matryoska. Tất cả nằm trong một hệ thống, gắn bó với nhau tạo thành một thực thể duy nhất biểu nghĩa. Do được cấu tạo như vậy, tác phẩm văn học có khả năng biểu hiện thế giới một cách toàn vẹn. Vì vậy, tiếp xúc với một tác phẩm, người ta có cảm giác như tiếp xúc với một xã hội, với những con người cụ thể:
Tiếng thơ vừa đụng tới cả nông sâu
Có máu lệ và nụ cười pha lẫn
Thơ và tôi đi suốt mùa lận đận
Ngôn ngữ cười khà trong cuộc trắng đen

Vốn không quen với cách sống ươn hèn
Nên khảng khái trước trò đời dâu bể
Thương quý lắm những trái tim thánh thể
Yêu cõi người, độ lượng với nhân gian
Ngoài ra, tác phẩm văn học là một siêu ký hiệu vì nó là ký hiệu của một cá nhân độc đáo, là ký hiệu đời sống văn hóa. Tác phẩm là tiếng nói riêng của từng người với chất giọng riêng, ngữ điệu riêng.
Sự độc đáo được thể hiện ở cách dùng từ đặc biệt, cách đặt câu đặc biệt, cách kết cấu đặc biệt… và đặc biệt là cách xây dựng những hình tượng nhân vật. Vì thế, đọc một bài thơ, một truyện ngắn nào đó, người ta có thể dễ dàng nhận biết được tác giả vì anh ta có “giọng” riêng, độc đáo. Với NDT là sự thẳng thắn, bộc trực, không quanh co làm dáng, làm màu:
Mặc chơn giả giữa vườn văn thời cuộc
Nói sao cùng con mắt lệ quê hương
Mãi chăm chỉ như loài ong làm tổ
Vườn tự do chữ nghĩa trước văn đường

Nhưng cũng có lúc anh “thăng hoa” trong cảm xúc, dùng ngôn ngữ một cách tinh xảo và bay bướm:
Nghe từ thơm thảo trầm luân
Yêu Em từ thuở bàn chân đi về
Thương nhau tách hạt u mê
Ngọt bùi thơm thảo trăm bề rong chơi
Hay trong một bài khác:
Tôi yêu em cho thỏa sức tình thơ
Để thần thức nhập với hồn trăng mộng
Có những đêm ta kiêu hãnh dưới trời gió lộng
Ngồi ôm đàn vỗ khúc: - Dưới trăng ca
Đối với nhà thơ thì cách viết, bút pháp của anh là một nửa việc làm. Dù bài thơ thể hiện ý tứ độc đáo đến đâu, nó cũng nhất thiết phải đẹp. Không chỉ đơn giản là đẹp mà còn đẹp một cách riêng. Đối với nhà thơ, tìm cho ra bút pháp của mình – nghĩa là trở thành nhà thơ:
Thi ngôn chạm vào mặt trời
thì ra trong ấy có lời núi sông
từ bao thấm đẫm nguồn cơn
phả vào nhật nguyệt linh hồn thơ tôi.
Nếu văn bản văn học mới chỉ là những vệt đen trên giấy trắng, là chữ nghĩa mà chúng ta thấy xuất hiện trên mặt giấy (có nghĩa là nó chưa thực sự tham gia vào giao tiếp) thì tác phẩm văn học đã thực sự tham gia vào đời sống giao tiếp. Bởi vì chỉ khi được người đọc tiếp nhận, hình dung về thế giới nghệ thuật trong đó, văn bản văn học mới trở thành tác phẩm văn học. Lúc này, người sáng tạo đã thoát ra khỏi thế giới thực thể để đi vào thế giới hư cấu. Khi tác phẩm đến với bạn đọc, một sự giao tiếp khác lại diễn ra. Lúc này, đến lượt người đọc sẽ giao tiếp với thế giới nghệ thuật trong tác phẩm. Ngã Du Tử dấn thân làm thơ và thẳng thắn trao đổi tại các diễn đàn tư duy của mình.
Theo Raxun Gamzatop: Thi sĩ là con chim sơn ca ngồi trong bóng tối hát lên những tiếng êm dịu để làm vui cho sự cô độc của chính mình. Nhưng anh vẫn muốn lắng nghe tiếng vọng từ xung quanh bè bạn hay công chúng:
Cảm ơn bạn bè cho tôi hạnh phúc
Cảm ơn vầng trăng tròn trĩnh trước mặt đời
Tôi cả đời chỉ đây đó rong chơi
Nghe yêu mến chảy mềm trong ý thức
Vì:
Ai say mê với tiền tài danh vọng
Ta một đời chăm bón cõi văn chương
Trên đại lộ đời người luôn hãnh bước
Sẽ về đâu? - Trời đất vốn diệu thường
Đọc “Vàng gieo tâm thức” chúng ta sẽ cảm nhận khát vọng sống và viết của tác giả thật mãnh liệt, dù có phải trả giá về mặt cuộc đời với những thiệt thòi dành cho kẻ mộng mơ, những kẻ bị mang tiếng “đi giữa đời mà hồn ở trên mây” NDT vẫn chấp nhận vì như Chế Lan Viên có lần viết:
Cho đến được… lúa vàng đất mật
Phải trên lòng bao trận gió mưa qua”
(Nay đã phù sa – Chế Lan Viên)
Đến cuối đời, nhà thơ ấy lại một lần nữa đau đớn vì:
Người diễn viên ấy đóng trăm vai vai nào cũng giỏi
Chỉ một vai không đóng nổi - Vai mình” (CLV)
Nhưng chúng tôi tin, Ngã Du Tử may mắn hơn họ Chế vì anh đã đóng “vai mình” một cách
trung thực trong một xã hội bớt “kịch” hơn và ở một vai trò “thấp” hơn cái ghế mà thiên hạ dành cho mình:
Ta từ gội gió quan san
Trở về tỉnh thức giữa trang thơ mình
Trời thi ca rộng thinh thinh
Thản nhiên đời, viết tự tình trang văn.
Vì Nàng Thơ của anh vẫn gắn bó cùng anh trong suốt hành trình từ lúc vào đời:
Thôi chào nhé, nguyên xuân còn phơi phới
dáng thanh tao còn đọng mãi bên lòng
xa em quá lắng lòng nghe tình tự
nàng thơ anh mãi mãi điểm màu hồng.
Hãy đọc “Vàng gieo tâm thức” trong tinh thần ấy.

Nguyên Cẩn
(Sài Gòn, 20 tháng 6/ 2024)






















Đăng nhập để trả lời
0

Nhận định văn học:

Oh, có một bài của nhà thơ Anh Phong, ngày trước 75 anh có làm ở Đài phát thanh Quảng Ngãi, anh viết cho tôi nhận định thi phẩm này khi tôi tặng tập thơ đầu tay: DÒNG SÔNG QUÊ / NXB Văn Nghệ TPHCM 2004.
Thật vui, chuyển cho các anh đọc lại, như trân trọng người anh mặc dù anh đã là thiên cổ. Nguyện hồn anh thong dong cõi thi ca vô cùng.
Kính, Ngã Du Tử


ĐỌC DÒNG SÔNG QUÊ
Của NGÃ DU TỬ


Ngã Du Tử bốn mươi bảy tuổi nhưng đã hơn hai mươi năm len lộn khắp nơi tìm cơm áo. Nghề nghiệp chuyên môn của anh là nhiếp ảnh, quay phim nên tiếp xúc rất nhiều người, trong đó phần đông là văn nghệ sĩ.
Gần đây tôi đọc thơ anh trong 6 tác phẩm in chung với hàng trăm tác giả trong cả nước, điều bất ngờ là anh vừa tặng tôi tập thơ in riêng DÒNG SÔNG QUÊ, NXB VĂN NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH 2004.
Tôi nâng niu quý trọng tập thơ, dù chưa mở ra xem nhưng tôi có cảm giác: Trong lúc thị trường chữ nghĩa ế ẩm như thế nầy mà với cuộc sống chẳng dư giả anh đã chắt chiu cho ra đời đứa con tinh thần đã qua thai ngắn bao nhiêu năm, thật là một cố gắng đáng khâm phục.
Dòng Sông Quê tập thơ xinh xắn vỏn vẹn 90 trang, gồm 57 baì thơ đủ các thể loại và 2 bài thơ được nhạc sĩ Châu Kỳ, Hồ Ngọc Minh phổ nhạc, in đẹp khá bắt mắt, nhất là tranh bìa của họa sĩ Phạm Cung.
Hai bài thơ đầu của tác phẩm Dòng Sông Quê tác giả đặt vị trí song thân trên tất cả người thân yêu của anh trên cõi đời nầy, vì đó là hai người tạo nên hình hài và đã cho anh vốn liếng trí thức để làm hành trang bước vào đời:
Nghiêm như bục giảng học đường
Xanh như mù lá của rừng bao la
Cao như Phật ngự chính tòa
Gần như bằng hữu thiết tha chuyện trò
(CHA)

Đẹp như trăng sáng rạng ngời
Gần như thảm mạ chân trời thiết tha
Miệt mài như hạt phù sa
Mát như tàn lá đường xa trưa hè
(MẸ)
Có một nhà văn nước ngoài đã viết: “Người không có quê hương là không có đồng loại”. Với Ngã Du Tử ngoaì tình thương trời biển của cha mẹ đã dành cho anh thì tình cảm quê hương đối với anh cũng không kém phần cao cả, vì vậy khi phải quyết định rời quê hương để tìm cuộc sống phương xa trong lòng Ngã Du Tử không ít niềm nuối tiếc, luyến lưu:
… Ta bỏ lại cánh diều tung gió lộng
Thả hồn trôi giữa trời đất mênh mông
Mái tóc thư sinh mà mượt bềnh bồng
Từng một thưở tuổi hồng going mắt nhớ
(Gửi lại tình quê)
Tôi không bất ngờ cái bút danh Ngã Du Tử từ khi mới quen anh, chỉ nhìn đôi chân tất bật, dáng dấp nhỏ nhắn nhưng nhanh nhẹn, với đôi mắt đang ẩn chứa sự nghiền ngẫm triết lý nào đó mà tôi chưa hiểu được, vì Ngã Du Tử luôn cởi mỡ sôi nổi, ồn ào khi trò chuyện thi ca với bạn bè. Cảm nhận những điều đó tôi cho rằng Phạm Ngọc Dũ quả đúng là tay lãng tử:
…Đời lãng tử nợ phong ba
Đắng cay gom lại thăng hoa cánh diều
Mưa rừng, gió phố điu hiu
Bước đi đồng vọng trăng chiều miên man…
Và nghe dễ thương nhất là:
… Nửa đời gió núi ngàn sương
Kết thơ làm chiếu mà thương nhớ ngày
Nửa đời tan hợp cùng mây
Chở vào hồn những mê say cõi người…
(Du tử ca)

Quan niệm sống của Ngã Du Tử (mà tôi nghĩ rằng cũng có thể là triết lý sống của anh) thật đơn giản nhưng cũng thật sâu sắc mặc dù có khi vì khó khăn trong đời thường cũng có thể anh có sự va vấp không đáng có, nhưng với người bạn đời, với bằng hữu, với người yêu trong lứa tuổi thanh xuân ai không khỏi có một hay vài mối tình đầy lãng mạn và thơ mông. Vì vậy anh viết:
"Vì ghen nên sóng lao xao
Vì yêu nên mãi gầm gào nổi đau
Vì đời thơ mới nhiệm mầu
Vì em tôi phải đầu tàu ngược xuôi"
(Vì nhau trong cõi sống)

Với bằng hữu dù ngọt ngào hay đắng cay anh cũng trân trọng vì ở đó chữ tình đầy trong sáng không mảy may vụ lợi:
…"Ngọt như mía xin người đừng quên nhé
Cay như vôi xin nhớ thưở mặn nồng
Hãy nhìn đời qua lăng kính thật trong
Sẽ cảm nhận sắc màu tình bằng hữu"
(Cho bằng hữu)
Với tình yêu đã mười năm xa cách thì sao? Hãy nghe anh tình tự:
"Mơ chiều một khúc tình ca
Tim xưa còn nhớ thiết tha thưở nào
Mười năm đếm bước tiêu dao
Mười năm ngồi nhớ chiều nào guốc vang
Mười năm nhắp ánh trăng vàng
Mười năm lưới nhớ còn đan kín hồn"
(MƯỜI NĂM)
“Mười năm lưới nhớ còn đan kín hồn”
Tôi cho rằng câu nầy chứa đựng ý tưởng rất mới, rất độc đáo ít gặp trong thơ tình mà tôi đã được đọc.
Tiếc rằng khuôn khổ đặc san Xuân có hạn nên dù muốn viết nhiều về thơ Ngã Du Tử cũng đành xin ngừng bút. Và để nói lên sự thăng hoa trong sự nghiệp thi ca của tác giả tôi xin mượn lời của nữ sĩ Hoàng Hương Trang viết trong "Thay lời tựa” ở đầu tập thơ
“…Phạm Ngọc Dũ - Ngã Du Tử bước vào làng thơ thực sự, chỉ cầu chúc cho DÒNG SÔNG QUÊ trôi chảy không ngừng đến bến bờ thơ mộng, hòa nhập vào biển thơ mênh mông của dân tộc…”


Miền Nam chớm xuân Ất Dậu
(Tháng 11 năm 2004)
ANH PHONG/ BRVT
(Trích DIỆP QUANG, XUÂN ẤT DẬU 2005)


Đăng nhập để trả lời
0
Nhận định văn học:
TRÒ CHUYỆN VỚI THIÊN THẦN                  
Hay LIÊN TIỂU LUẬN VỀ VẤN NẠN TOÀN CẦU của Trương Văn Dân
 
Triết gia Hy Lạp Platon đã nói: “Thước đo của một con người là xem cách anh ta làm gì  với quyền lực”. Thế nhưng, có rất nhiều người có quyền, vì lòng tham và ích kỷ cá nhân nên đã hủy hoại nhân cách và đất nước của họ (TCVTT/ Trương Văn Dân)
 
Trò Chuyện Với Thiên Thần – Những Tai Họa Thế Giới & Giấc mơ Việt Nam là tiểu thuyết không sai, một liên tiểu luận chẳng sao, về vấn đề chung của đất nước và nhân loại trên hành tinh, hay cuộc trò chuyện với mầm sống tinh anh – Thiên thần. Tất cả đều có thể là dụng ý của nhà văn Trương Văn Dân.
Theo lời tâm sự, bộc bạch của tác giả: “…Đó là quyển sách có những câu chuyện liên quan đến đời sống chúng ta, đến thân phận người dù nam hay nữ trong cuộc sống hằng ngày” (TVD)
Triết gia Hy Lạp Platon đã nói: “Thước đo của một con người là xem cách anh ta làm gì với quyền lực”. Thế nhưng, có rất nhiều người có quyền, vì lòng tham và ích kỷ cá nhân nên đã hủy hoại nhân cách và đất nước của họ
 
Đối với nhà văn, ông không mưu cầu gì hơn là con được sinh ra và lớn lên, lành mạnh trong yêu thương của mẹ cha và không chịu bất cứ một áp lực nào của người lớn – Bậc mẹ cha. Đây là một thông điệp gửi gắm các bậc phụ huynh, đừng bắt trẻ con, phải gánh trên đôi vai non nớt, hồn nhiên trách nhiệm mà “người lớn” chưa làm được, đỗ dồn áp lực hết sức phi lý của ước mơ họ chưa làm được, nhất là hiện tượng của người Việt đương thời. Ông viết: “Ba chỉ mong mỏi là một đứa bé lành mạnh, có thời gian theo tính cách của mình. Hồn nhiên, vô tư không mang trên vai quá nhiều bổn phận và trách nhiệm. Mọi sự phong danh hiệu từ nỗi khát khao ích kỷ của người lớn, một cách ép trẻ phải chứng minh điều họ không làm được, để vác cái hư danh mở mày, mở mặt” (Trang 39)     
Đọc xuyên suốt tác phẩm ta sẽ thấy nỗi thao thức dài những vấn nạn không chỉ có quốc gia nào, mà toàn bộ hành tinh này.
Người ta nhân danh vì sự nghiệp toàn cầu hóa, đem lại lợi ích cho toàn tinh cầu này. Điều ấy có chắc chắn không? Các định chế của các nước lớn đem lại quyền lợi hợp lý hơn, công bình hơn cho loài người? Tác giả không tin điều ấy, ngay cả người viết bài này cũng không thể.  
Tác giả trò chuyện với Thiên Thần nhỏ sắp chào đời nhiều vấn đề nan giải, tôi tin các bạn khi đọc xong quyển sách này sẽ còn tiếng thở dài, không thể có công bằng cho những thân phận nghèo khó và cơ cực, thậm chí đem lại nhiều hệ lụy, mặc dù công nghệ và kỹ thuật càng ngày càng văn minh đến mức chóng mặt, người ta có thể chuyện trò với người khác cách nhau nửa tinh cầu, hình ảnh rõ ràng, lời nói hầu như trọn vẹn. Về y khoa ư? Các nhà khoa học nỗ lực nghiên cứu vượt bậc trong mổ tim, nối các cơ, thay gan, ghép thận… để đem lại hy vọng sự sống cho mỗi bệnh nhân chẳng may bị những bệnh này. Còn những nhà nghiên cứu vũ khí chiến tranh thì sao? Họ nghiên cứu càng ngày càng tinh vi hơn, vũ khí hạt nhân có thể sát hại hàng loạt con người cùng một lúc, bom khoan tìm mục đích đã lập trình sẵn mục tiêu trong đầu đạn, máy bay không người lái lập tình bằng máy tính…
Thế nhưng, chính những điều này đã làm nhức nhối thêm sự tàn độc, phi nhân của những người lòng lang dạ thú chỉ vì lợi lạc về tiền bạc có thể giết sinh linh để lấy nội tạng bán với giá ngất ngưỡng cho người giàu, xã hội Trung Quốc đã xảy ra hàng ngày nhan nhản đó sao. Ai là người tiếp tay? Và sự tham lam quyền lực vô độ của các ông lớn xâm lược các nước yếu hơn chỉ vì chứng tỏ quyền lực mình để làm khổ đau cho hàng vạn, hàng triệu con người đang bình yên trong cuộc sống thường ngày, phá tan hoang nhiều kiến trúc đã tồn tại hàng mấy trăm năm!
Nhà khoa học trong phòng thí nghiêm nghiên cứu để đem đến cho nhân loại tiến bộ hơn, nhưng bên ngoài xã hội càng ngày càng tham lam, so sánh nhau bằng vật chất: Tiền, xe, nhà, đất và địa vị, quyền lực, mấu chốt này đã làm xã hội băng hoại ngày càng trở nên trầm trọng về đạo đức, luân lý làm người không phải Việt Nam, mà hầu như toàn nhân loại bởi thực dụng vật chất.
Ông viết: “Thế giới hiện nay đang đánh mất nấc thang xã hội, không nhiều người còn lý tưởng, không mấy người còn niềm tin, không còn sự vĩ đại để tin theo, xung quanh người ta chỉ theo đuổi ước mơ: Kiếm tiền” (Trang 100). Có bao giờ như thế này chăng? Có phải sự thực dụng đang giết chết niềm tin toàn tinh cầu này?
Ngày trước giềng mối căn cơ của con người là đạo lý, nghĩa tình – Con người là trung tâm của mọi vấn đề, vật chất chỉ là thứ yếu, nhà cửa cần phải có để tránh mưa nắng, giông bão, căn bản là giáo dục đạo đức, trách nhiệm và danh dự cá nhân được đề cao: “Hùm chết để da, người ta chết để tiếng”. Nhà giáo, bác sĩ, kỹ sư, nhà khoa học, triết gia… Có thể đời sống đạm bạc nhưng được sự nễ trọng của toàn cộng đồng, xã hội, người ta lấy đó làm gương, mẫu mực cho con cháu, dòng tộc để cố gắng học hành mai sau được như thế, còn bây giớ ư? Nhà, xe, địa vị & quyền lực  đã chiếm hữu sự so sánh tệ hại của con người thực dụng vật chất. Thật là bỉ ổi cho cái đương đại này.
“Trong bối cảnh toàn cầu mới những cách thức ràng buộc có thể biến dạng đi đôi chút, nhưng sức mạnh của nó và mạng lưới còn tinh vi và khó thoát hơn, được kiểm soát từng giờ qua mạng internet.
Nhưng dù thế nào luôn có những thế lực đối kháng giữa cái thiện và cái ác” (Trang 148)
Tất nhiên, trong dòng chảy đời sống nhân loại cái thiện, cái ác vĩnh viễn tồn tại, nhưng loài người nói chung và tác giả cũng như những nhà văn, nhà thơ, người làm nghệ thuật nói riêng… bao giờ cũng hy vọng, hạt thiện lành càng ngày càng nhiều người gieo rắc tưới tẫm hơn, cho thế giới càng ngày đẹp hơn lên, nhưng biết đến bao giờ tinh cầu mới được hưởng sự an bình đó. Nhà văn viết tiếp: “Tuy vậy, ba vẫn luôn hy vọng con là mẫu đàn ông mà ba mơ ước: “Nhân hậu với người yếu đuối, dữ dội với kẻ hống hách, rộng rãi với người thương yêu, với kẻ ác. Kẻ thù của chúng ta là kẻ hành xử phi nhân và chà đạp lên lương tri con người” (Trang 148)
Trò chuyện với Thiên thần là cuộc chuyện trò với quá nhiều đề tài – Tôi gọi là 75 tiểu luận của nhà văn Trương văn Dân, mỗi tiểu luận nếu đọc thận trọng, ta thấy rất độc lập, thú vị vô cùng. Những lập luận của người cha (tác giả) mạch lạc, trong dòng ý thức của một nhà văn có trách nhiệm với quê hương, đất nước rộng thêm ra là cả nhân loại trên tinh cầu này, bên cạnh đó có nhiều thông tin rất bổ ích chứng tò nhà văn Trương Văn Dân tiêu tốn nhiều thời gian, công sức, trí tuệ cho tác phẩm này.
Nhiều người đã giới thiệu tác phẩm này, mỗi người có cái nhìn với góc nhìn của mình, chẳng ai giống ai. Với riêng tôi, đây là quyển sách anh dày công tập trung đưa ra nhiều dữ liệu để chúng ta – những người đọc nghiền ngẫm, với lượng kiến thức nhiều lĩnh vực trong xã hội loài người.
Niềm tin & tôn giáo là đề tài nói không cùng, còn nhiều tranh luận, nhưng trong chừng mực trang sách anh nêu ra rất thú vị, ai đọc chắc cũng dừng lại suy tư:
“Không phải ngẫu nhiên mà các nhà văn, nhà thơ lớn, trong lịch sử nhân loại đều có niềm tin tôn giáo sâu sắc: nhà thơ Virgilio (70a. C-19a.C), nhà văn William Shakespear (1564 - 1616), Hermann Hesse (1877-1962)…
Niềm tin không phải là mê tín, là yếu đuối. Khoa học và tôn giáo không hề mâu thuẫn mà bổ túc cho nhau để con người sống có lý trí hơn, nhân ái hơn thôi”.  
Và rồi anh dẫn chứng câu chuyện giữa Louis Pasteur và cậu nhỏ háu đá trên chuyến xe lửa đi cùng, thật dí dõm. Thường, bọn nhỏ chưa hiểu niềm tin tôn giáo, bởi các em mới tập tểnh bước vào đời, chưa hiểu nổi lý vô thường, các em tự tin chính mình nhưng võ đoán về niềm tin.  
Riêng mục 75, trang 350 áp chót. Đây là lời tâm tình và cả sự thao thức cho Tổ quôc và dân tộc mến yêu, tôi đọc rất kỹ và hiểu rằng Giấc mơ Việt nam -  yêu nước phải như thế. Hãy nhìn nhận một thực thể dù biết khó nhọc & đau thương, nhưng bao giớ cũng không bi quan, suy nghĩ lạc quan và tích cực để cài thiện. Anh viết: “Ba luôn hy vọng và nhìn vào tương lai một cách lạc quan, nghĩ nước ta vẫn có dư điều kiện để nắm giữ vai trò cường quốc nếu chấp nhận cải cách. Xây dựng được nền giáo dục nhân bản, khai phóng và tự do. Xem con người là cứu cánh chứ không phải phương tiện”. Tôi đồng tình và ủng hộ tư tưởng anh. Nhà văn nhà thơ nào yêu nước cũng chỉ nêu ra chừng ấy vấn đề, những người có trách nhiệm với tổ quốc và dân tộc hãy xem trọng vấn đề nầy mới thực sự xứng đáng. Nếu mải mê chạy theo hư danh và lòng tham – Vốn dĩ nó vô cùng không thể đo đếm - Thì chẳng bao giờ được thần dân trọng vọng.
Cuối cùng: Thư gửi từ đám mây
Anh đã hóa thân tâm hồn Thiên Thần chuyện trò cùng mẹ, cùng nhân gian của hành tinh trong thời kỳ các quốc gia phụ thuộc vào nhau nhất với lời thì thầm của nhà văn trong cách diễn đạt rất tinh tế, “đến cái chết cũng chưa hết bất công”.
Chỉ là Trò Chuyện Với Thiên Thần, sao nhiều vấn đề quá để thôi thúc người đọc cảm thấy từng mục, từng chương, từ hiện tượng đến bản chất anh đều nêu ra với lượng thông tin khá nhiều, kiến thức ngồn ngộn trong kiến giải chừng mực của nhà văn Trương Văn Dân nào: Đạo đức, luận lý, tâm lý và cả tâm linh – Thần học từ hầu hết các lĩnh vực: Giáo dục, y tế, chính trị, khoa học và xã hội học…
Thay lời kết, tôi đồng ý trích lại câu của nhà phê bình Trần Hoài Anh: “Trong Trò Chuyện với Thiên Thần giàu tính triết luận, tính luận đề gắn với những vấn đề mang tính thời sự sâu sắc, tiếp cận hiện thực đời sống con người nhiều điểm nhìn phong phú như triết học, khoa học, nhân học, văn học, xã hội học, sinh thái học… phù hợp với xu hướng toàn cầu hóa”.
Một tác phẩm văn hay rất đáng đọc.
 
Phạm Ngọc Dũ
Sài Gòn, cuối năm 2024
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.06.2025 02:40:18 bởi THƠ NGÃ DU TỬ>

Thưa các bạn, thi phẩm VÀNG GIEO TÂM THỨC của NDT in xong. Tôi up lên Lời Tựa của nhà văn Nguyên Cẩn để bạn đọc trước lời tựa. Ai ủng hộ xin gửi về cho tôi, NDT sẽ chuyển đến tận nơi.
Thân mến, Ngã Du Tử

KHÁT VỌNG SỐNG VÀ VIẾT TRONG            
VÀNG GIEO TÂM THỨC của Ngã Du Tử
Nhà văn: Nguyên Cẩn


Trong dòng chảy văn học hiện nay, nhiều nhà thơ đã chọn những xu hướng cách tân ngôn ngữ, khoác lớp áo mới, có khi cầu kỳ, nhưng cũng có khi cẩu thả, dung tục để tạo cái “mới”, cái “lạ” mang những phong thái tân hình thức. Ở đó, ngôn ngữ được xen thêm nhiều lớp nghĩa phủ nhận cái cũ, truyền thống. Nhưng Ngã Du Tử (NDT) không đi theo trào lưu ấy, anh vẫn trung thành, chung thủy với nét trữ tình, truyền thống, hướng tới cái đẹp, giá trị thẩm mỹ, bày tỏ tư tưởng, tình cảm của con người. Vì ngay ở thơ đương đại, theo TS. Nguyễn Thanh Tâm “… Ta thấy được tâm tính của người Việt. Họ muốn biểu đạt trạng thái, tâm tư của mình qua các loại hình giàu vần điệu, con chữ mang
đầy nhạc tính. Tư duy con người sẽ luôn biểu đạt bằng ký hiệu, ngôn từ. Vì thế, về mặt “trật tự triết học”, chữ hầu hết là đứng ở vị trí phương tiện chứ ít khi là mục đích. Nói như Viên Mai, nhà thơ, nhà phê bình văn học đời Thanh, Trung Quốc, tuy có vẻ hơi cực đoan nhưng về cơ bản là rất đúng, rằng: “Trong thơ, ý tình là chủ, chữ là đầy tớ. Khi chủ đi vắng thì đầy tớ mặc đẹp để làm gì?”.
Cụ thể là trong những câu thơ hay nhất của các bậc thi hào, thi bá như Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, Đoàn Thị Điểm... Nếu chỉ kể về chữ thì có lẽ chúng ta cũng có đủ chữ như họ. Chỉ có duy nhất một điều khác, ấy là sức nghĩ nào, cảm xúc nào mới có khả năng “gọi” chữ đến, hút chữ đến theo cái nhịp điệu quyến rũ kỳ diệu của cảm xúc cho thành những câu thơ đó mà thôi.
Mayakovsky thì táo tợn hơn, ông nói: “Nếu trong lòng đã có điều cần nói thì chúng ta có thể viết bằng một cái... chổi cũng được” Ngã Du Tử cũng thế, anh muốn viết như anh thở:
"Trăm năm trở giấc chiêm bao
Chợt bừng thức giữa trăng sao thường hằng
Người về, gửi lại vầng trăng
Soi cùng nhân thế yêu thương mặn nồng"
Tâm thức hòa hợp với thế giới bên ngoài của nhà thơ bộc lộ khát vọng được sống, được yêu và được bày tỏ bằng ngôn ngữ, dù cô đơn là bạn đồng hành:
"Ta thi sĩ mặn nồng cùng con chữ
Mải miết đi trên đại lộ độc hành
Xin thâm tạ muôn sắc màu ngôn ngữ
Viết văn thơ năm tháng đẫm hương lành"
Mỗi một người, già hay trẻ của Việt Nam đều là một thi sĩ - Mười bức thư mà Rilke viết trong “Thư gửi người thi sĩ trẻ tuổi” là mười tiếng nói được gửi về bất cứ người thi sĩ nào đang sống trên mặt đất trần trụi này. Sống và sống một cách thơ mộng trên thế giới sâu kín này, phải chăng đó là tiếng ca của con chim không tên, đồng vọng lên một sớm mai hồng đang nằm phong kín trong đêm tối sinh ly.
Rilke nói thẳng: “Không một ai có thể khuyên nhủ hay giúp đỡ anh. Chỉ có một con đường duy nhất. Đi sâu vào con người anh. Tìm kiếm lý do bắt buộc anh phải viết, tìm xem nó có cắm rễ vào trong những nơi sâu thẳm trong trái tim anh hay không, hãy thú nhận với mình rằng liệu anh có thể chết nếu không được viết hay không?
"Giở trang thơ gọi ngày tràn mặt đất
Cho thương yêu về hội tụ xây thành
Cuộc đời vui theo nhịp những bàn chân
Mùa hạnh phúc mở từng ô cửa một".
Trong phần sau của bức thư đầy nhiệt thành và trìu mến, Rilke đưa cho chàng trai những lời khuyên vừa thực tế vừa thấm đẫm chất thơ:
“Hãy cố gắng, như con người đầu tiên trên mặt đất, nói điều anh nhìn thấy và những trải nghiệm, nói về tình yêu và mất mát… Vì thế hãy tìm những đề tài thông thường và tìm kiếm những điều mà đời sống thường nhật mang lại, mô tả những nỗi buồn đau và khát vọng, những suy tư thoáng qua và niềm tin vào một vẻ đẹp nào đó - Hãy mô tả tất cả với một lòng chân thành đầy thương yêu, trầm tĩnh và khiêm tốn, hãy dùng những thứ xung quanh, những hình ảnh trong giấc mơ, những sự vật trong ký ức để biểu đạt chính mình:
"Rồi cúi xuống hôn cánh hoa vừa rụng
Ôi làn hương còn phảng phất bên trời
Người ngồi đó với linh hồn rời rã
Tôi bước qua hoang mạc dáng con người"
Hay ở một bài khác, Ngã Du Tử viết về “Những suy tư thoáng qua và niềm tin vào một vẻ đẹp”:
Tìm trong dâu bể mai sau
Yêu thương ơi, hãy tin nhau chữ tình
Nỗi buồn nào cũng lặng thinh
Cứ bao dung như có mình ở trong
Miên man lòng nhuộm sắc hồng
Vàng gieo tâm thức thân đồng vọng bay
(Vàng gieo tâm thức)

Thơ là một sản phẩm của tâm hồn, trí tuệ con người mà tâm hồn và trí tuệ đó có một tác động trở lại vào thực tại... Thơ phải xuất phát từ thực tại, từ đời sống, nhưng phải đi qua một tâm hồn, một trí tuệ và khi đã đi qua như vậy, tâm hồn, trí tuệ ấy phải in dấu vào đó thật sâu sắc, càng cá thể, càng độc đáo, càng hay, “thơ là tiếng gọi đàn, là sự đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu của những con người” (Xuân Diệu)
NDT viết về tình yêu:
"Linh cảm em về trong đáy ly
ngập ngừng sao chẳng nói năng chi
mười năm có lẽ đau thành quách
thương lắm những giờ khắc biệt ly

Mười năm tiễn biệt một người đi
nổi nhớ mười năm ấm lạnh vì
trần gian mờ ảo bàn chân bước
có lẽ em về trong đáy ly?"
Nỗi nhớ, kỷ niệm, quá khứ đan xen trong hiện tại cho ta cái mờ ảo như thơ Quang Dũng “Thoáng hiện em về trong đáy cốc” như chuyện tình Trương Chi thưở nào “Khối tình mang xuống tuyền đài chửa tan” (Kiều) Tình yêu ấy vẫn bên ta qua bao năm tháng, khiến ta có lúc bồi hồi:
Ngày xuân thấp thoáng bồi hồi
Em liêu trai nép bên đời hoan ca
Bến mơ hương lửa nhạt nhòa
Chiều qua phố bỗng thật thà trẻ thơ

Nhưng trong tình yêu cũng luôn có sẵn những cung bậc trầm buồn khi ly biệt:
Rồi chợt buổi cây phượng già nhuộm lửa
Buổi chia tay rưng rức một cung buồn
Tôi đưa em lá thư tình mắc cạn
Nên một đời thất lạc cuộc tròn vuông

Tựu trung, tình yêu là cái gì làm cho tâm hồn ta ấm lại kiểu Chế Lan Viên “Anh
nhớ em như đông về nhớ rét “ thì NDT cũng có tâm trạng ấy:
Thương đông xưa, hồn mình đang rét cóng
có em về sưởi ấm trái tim anh
sao nhớ quá con đường xưa mây trắng
những tự tình trời đất vẫn màu xanh

Bởi vì khi trời đất giao hoà, ái tình chan chứa thì:
Rồi trở lại như một lần tình tự
em mùa đông, anh mùa hạ - dung hòa
thương biết mấy lòng ai ngày đông lạnh
về đi em cho kịp buổi giao mùa

Tỉnh yêu của NDT còn đặt trong bối cảnh chung là tình yêu đầu đời từ kỷ niệm thưở nào:
Xa tít tắp phía nghìn trùng mưa nắng
Em xưa ơi, còn nhớ buổi hẹn hò
Vẫn như thuở yêu em viết vội thành thơ
Hương con chữ còn thơm theo ngày tháng
Những lúc ấy NDT thấy sự mầu nhiệm của tình yêu, dù còn hay mất …
"Ta cúi xuống thâm tạ tình - Ân hận
Màu trăng xưa huyền nhiệm đến vô cùng
Con đường vàng mật ngọt chẳng đi chung
Mắt em ướt, lòng ta như gió bão"
Rilke cũng viết thêm: “Quan trọng nhất là, hỏi chính mình trong những thời khắc thinh lặng của đêm: Ta có bắt buộc phải viết? Đào sâu trong chính mình để lấy ra một câu trả lời. Nếu câu trả lời là có, nếu anh có thể đối diện câu hỏi nghiêm túc này bằng một câu trả lời đơn giản: Ta phải viết, thì lúc đó hãy xây dựng cuộc đời theo sự khẩn thiết này:
"Ta bỗng thấy trần gian yêu quá đổi
Mộng mùa trôi cùng mây gió bên trời
Em dung dị trước cuộc đời thánh thiện
Sáng bừng lên giữa sóng gió cuộc đời

Rồi từ đó ta thức mình lãng tử
Bàn chân quen theo nhịp sống vỗ bờ
Vui em nhé, tình lên màu mắt biếc
Tôi quay về gõ thức những trang thơ".
Tình của Ngã Du Tử còn dành cho cha cho mẹ những người thân yêu trong cuộc đời này.
Những bài thơ mở đầu tập thơ này là về cha về mẹ:
Mẹ là nguồn sống bao la
Là hương hoa, ánh trăng và mùa xuân
Hay là:
…Mai về thắp nhánh sông già
Mẹ ơi, tình mẹ vẫn là gốc quê

"Ngày Cha cỡi hạc đi xa
Nửa đời con, nhuộm phù hoa mịt mờ
Đêm về thảo một cánh thơ
Gửi cha trước cảnh thẩn thờ lòng đau"
NDT còn viết những lời thơ tự sự về thân phận kẻ sĩ trong thời cuộc nhiễu nhương:
"Mỗi bước ngã mọi điều như đổi khác
Đừng vô tình giẫm lại lối mòn xưa
Trời vô thường lúc nắng, lúc mưa
Ta kẻ sĩ phong trần đâu sá kể"
Nhưng luôn dặn lòng phải sống sao cho đúng với phẩm chất một con Người:
"Phải cân nhắc chữ: Tín, nhân, lễ, nghĩa
Để mai sau không u uất nỗi buồn vương
Mười lăm năm mài nhẵn ghế nhà trường
Và chữ nghĩa gieo muôn phương im lặng"

Bởi lẽ, kẻ sĩ có lúc không gặp thời đành ‘xuất xử“ như cụ Nguyễn Công Trứ ngày xưa.
"Thời giả tạo người tài mai danh ẩn…
Gió trăng mây làm bạn với sông hồ
Ngày lặng ngắm những ngậm ngùi nhân thế
Đêm yên lành suy nghiệm những tung hô"
Anh chấp nhận dù có phải đánh đổi đời mình để gìn giữ sự trong sáng của một nhà văn. nhà thơ chân chính:
"Ồ có phải một đời văn lận đận
Dẫu gừng cay, muối mặn cũng chân thành
Đêm cặm cụi cùng vườn hồng con chữ
Cứ thẳng ngay với tư tưởng độc hành".
Anh không hài lòng trước một số hiện tượng quan tham nhưng anh tin vào luật nhân quả:
"Quan, dân rồi cũng một đời
Sống sao cho xứng làm người, khó thay
Được ngồi cao thỏa no say
Xênh xang giày nọ, mũ này sướng chưa?
...
Trần gian sòng phẳng cuộc chơi
Tham lam cũng chỉ một thời hả hê
Lưới trời lồng lộng tứ bề
Khi vui sướng có thấy gì lương tâm!"
Nhà thơ nghĩ đến quê xưa, đến một thưở chìm trong khói lửa chiến tranh vì những cuộc chiến ý thức. Anh cảm thấy tâm hồn dấy lên tình yêu quê hương nồng thắm:
"Vẫn quê mẹ, vẫn con đường mùi lúa
Thời gian trôi hương vị cứ ngọt ngào
Ai xa xứ nghe hương đồng mời gọi
Như tình ca, như tiếng mẹ ca dao"
Quá khứ một thời vẫn là nỗi ám ảnh khôn nguôi trong tâm thức khi một thế hệ đã hy sinh trong cuộc chiến:
"Thuở non sông cúi mặt buồn chinh chiến
Những người trai lần lượt bước lên đường
Ôi cuộc chiến, sao bi thương quá đổi
Tiếp theo nhau từng đợt ra chiến trường

Rồi kết thúc trước anh em một bọc
Chữ đồng bào nghe chua xót thê lương
Nào chủ nghĩa với anh em dân tộc
Thét gào nhau theo bể sóng trùng dương"
Đến hôm nay những tham vọng bá quyền của kẻ lân bang cũng chưa nguôi và chúng ta đang phải đối diện:
"Biển Đông thuyền giặc vào cướp bóc
Mắt lệ thần dân đặc quánh ngày
Vẫn còn đó những thân phận lam lũ dù hôm nay đất nước đã thanh bình:
"Thương quá những phận người trên đường vắng
Lầm lũi đi như chưa có bao giờ
Đất nước thanh bình sao đầy những niềm đau
Nước mắt cạn tình yêu nào lên tiếng?"

Trong ước mơ một ngày mai tổ quốc lại rạng ngời:

"Dáng nằm nghiêng theo chiều tổ quốc
Rằng non sông mai mốt sẽ tưng bừng
Cả trăm con Âu Lạc sẽ xanh cành
Cây Tổ quốc có đơm hoa tươi tốt?

Sữa mẹ Việt nuôi đàn con khôn lớn
Như tiền nhân thời nao cũng quật cường"
Ngày ấy người người trẩy hội như những cánh chim tìm về nắng ấm:
"Bay thẳng cánh về phương Nam tránh gió
Ơi, phương Nam yên ắng gió giao thời
Nắng mới gọi từ sông về đến phố
Cánh tự do bay lượn khắp vùng trời"

Trong ước mơ cháy bỏng:
"Ta mong lắm ngày nước nhà giàu mạnh
Người láng giềng hết bắt nạt dân ta
Sẽ bước lên dõng dạt trước lễ đài
Đất nước Việt tung cánh cùng hoàn vũ".
Rilke đã chân thành nói với những nhà thơ trẻ: “Tôi không biết khuyên anh điều gì ngoài điều này:
Đi sâu vào trong lòng mình và thăm dò những chiều sâu nơi đời sống của mình bắt nguồn, tại cội gốc đó anh sẽ tìm thấy câu trả lời cho câu hỏi anh có buộc phải sáng tạo hay không? Hãy đón nhận những thanh âm của nó, không dò hỏi thêm. Có lẽ, từ đó anh được gọi là một nghệ sĩ. Nếu thế thì hãy mang lấy số phận này, gánh lấy sức nặng và sự vĩ đại của nó, mà không đòi hỏi một phần thưởng nào có thể đến từ bên ngoài.
Ngã Du Tử chọn nghiệp văn, nghĩa là chấp nhận gánh trên vai sự cô đơn và đi cho hết con đường đã chọn:
"Ta một đời văn bút
Rong ruổi với nỗi đời
Thẫm cái nhìn môi mắt
Mong đời lên xa khơi

Quê hương còn trước mặt
Những mảnh đời khát khao
Bàn tay nào mở lối
Cho nước nhà xôn xao"
Nhìn dưới lăng kính Ký hiệu học, về mặt cấu tạo, tác phẩm văn học là một siêu ký hiệu vì đó là một ký hiệu lớn, do những ký hiệu nhỏ hơn kết dệt tạo thành. Đó là các từ, các cụm từ, đó là những hình ảnh, những nhân vật, đó là cốt truyện… Chúng nằm ở những tầng bậc khác nhau, giống như cấu tạo của con Matryoska. Tất cả nằm trong một hệ thống, gắn bó với nhau tạo thành một thực thể duy nhất biểu nghĩa. Do được cấu tạo như vậy, tác phẩm văn học có khả năng biểu hiện thế giới một cách toàn vẹn. Vì vậy, tiếp xúc với một tác phẩm, người ta có cảm giác như tiếp xúc với một xã hội, với những con người cụ thể:
"Tiếng thơ vừa đụng tới cả nông sâu
Có máu lệ và nụ cười pha lẫn
Thơ và tôi đi suốt mùa lận đận
Ngôn ngữ cười khà trong cuộc trắng đen

Vốn không quen với cách sống ươn hèn
Nên khảng khái trước trò đời dâu bể
Thương quý lắm những trái tim thánh thể
Yêu cõi người, độ lượng với nhân gian".
Ngoài ra, tác phẩm văn học là một siêu ký hiệu vì nó là ký hiệu của một cá nhân độc đáo, là ký hiệu đời sống văn hóa. Tác phẩm là tiếng nói riêng của từng người với chất giọng riêng, ngữ điệu riêng.
Sự độc đáo được thể hiện ở cách dùng từ đặc biệt, cách đặt câu đặc biệt, cách kết cấu đặc biệt… và đặc biệt là cách xây dựng những hình tượng nhân vật. Vì thế, đọc một bài thơ, một truyện ngắn nào đó, người ta có thể dễ dàng nhận biết được tác giả vì anh ta có “giọng” riêng, độc đáo. Với NDT là sự thẳng thắn, bộc trực, không quanh co làm dáng, làm màu:
"Mặc chơn giả giữa vườn văn thời cuộc
Nói sao cùng con mắt lệ quê hương
Mãi chăm chỉ như loài ong làm tổ
Vườn tự do chữ nghĩa trước văn đường".

Nhưng cũng có lúc anh “thăng hoa” trong cảm xúc, dùng ngôn ngữ một cách tinh xảo và bay bướm:
"Nghe từ thơm thảo trầm luân
Yêu Em từ thuở bàn chân đi về
Thương nhau tách hạt u mê
Ngọt bùi thơm thảo trăm bề rong chơi"
Hay trong một bài khác:
"Tôi yêu em cho thỏa sức tình thơ
Để thần thức nhập với hồn trăng mộng
Có những đêm ta kiêu hãnh dưới trời gió lộng
Ngồi ôm đàn vỗ khúc: - Dưới trăng ca".
Đối với nhà thơ thì cách viết, bút pháp của anh là một nửa việc làm. Dù bài thơ thể hiện ý tứ độc đáo đến đâu, nó cũng nhất thiết phải đẹp. Không chỉ đơn giản là đẹp mà còn đẹp một cách riêng. Đối với nhà thơ, tìm cho ra bút pháp của mình – nghĩa là trở thành nhà thơ:
"Thi ngôn chạm vào mặt trời
thì ra trong ấy có lời núi sông
từ bao thấm đẫm nguồn cơn
phả vào nhật nguyệt linh hồn thơ tôi'.
Nếu văn bản văn học mới chỉ là những vệt đen trên giấy trắng, là chữ nghĩa mà chúng ta thấy xuất hiện trên mặt giấy (có nghĩa là nó chưa thực sự tham gia vào giao tiếp) thì tác phẩm văn học đã thực sự tham gia vào đời sống giao tiếp. Bởi vì chỉ khi được người đọc tiếp nhận, hình dung về thế giới nghệ thuật trong đó, văn bản văn học mới trở thành tác phẩm văn học. Lúc này, người sáng tạo đã thoát ra khỏi thế giới thực thể để đi vào thế giới hư cấu. Khi tác phẩm đến với bạn đọc, một sự giao tiếp khác lại diễn ra. Lúc này, đến lượt người đọc sẽ giao tiếp với thế giới nghệ thuật trong tác phẩm. Ngã Du Tử dấn thân làm thơ và thẳng thắn trao đổi tại các diễn đàn tư duy của mình.
Theo Raxun Gamzatop: Thi sĩ là con chim sơn ca ngồi trong bóng tối hát lên những tiếng êm dịu để làm vui cho sự cô độc của chính mình. Nhưng anh vẫn muốn lắng nghe tiếng vọng từ xung quanh bè bạn hay công chúng:
"Cảm ơn bạn bè cho tôi hạnh phúc
Cảm ơn vầng trăng tròn trĩnh trước mặt đời
Tôi cả đời chỉ đây đó rong chơi
Nghe yêu mến chảy mềm trong ý thức
Vì:
Ai say mê với tiền tài danh vọng
Ta một đời chăm bón cõi văn chương
Trên đại lộ đời người luôn hãnh bước
Sẽ về đâu? - Trời đất vốn diệu thường".
Đọc “Vàng gieo tâm thức” chúng ta sẽ cảm nhận khát vọng sống và viết của tác giả thật mãnh liệt, dù có phải trả giá về mặt cuộc đời với những thiệt thòi dành cho kẻ mộng mơ, những kẻ bị mang tiếng “đi giữa đời mà hồn ở trên mây” NDT vẫn chấp nhận vì như Chế Lan Viên có lần viết:
Cho đến được… lúa vàng đất mật
Phải trên lòng bao trận gió mưa qua”
(Nay đã phù sa – Chế Lan Viên)
Đến cuối đời, nhà thơ ấy lại một lần nữa đau đớn vì:
Người diễn viên ấy đóng trăm vai vai nào cũng giỏi
Chỉ một vai không đóng nổi - Vai mình” (CLV)
Nhưng chúng tôi tin, Ngã Du Tử may mắn hơn họ Chế vì anh đã đóng “vai mình” một cách trung thực trong một xã hội bớt “kịch” hơn và ở một vai trò “thấp” hơn cái ghế mà thiên hạ dành cho mình:
"Ta từ gội gió quan san
Trở về tỉnh thức giữa trang thơ mình
Trời thi ca rộng thinh thinh
Thản nhiên đời, viết tự tình trang văn".
Vì Nàng Thơ của anh vẫn gắn bó cùng anh trong suốt hành trình từ lúc vào đời:
"Thôi chào nhé, nguyên xuân còn phơi phới
dáng thanh tao còn đọng mãi bên lòng
xa em quá lắng lòng nghe tình tự
nàng thơ anh mãi mãi điểm màu hồng".
Hãy đọc “Vàng gieo tâm thức” trong tinh thần ấy.



Nguyên Cẩn
(Sài Gòn, 20 tháng 6/ 2024


Đăng nhập để trả lời
0