<Bài viết được chỉnh sửa lúc 27.02.2025 17:21:58 bởi Thanh Vân>
Người Vợ Paris
Paula McLain
Dịch giả: Trang Hải
Nguyên tác : The Paris Wife
Nhà xuất bản TRẺ
Điều quan trọng không phải những gì nước Pháp đem lại cho ta, mà chính là những gì đã không bị tước mất.- GERTRUDE STEINKhông một điều nào là đúng. Tất cả đều đúng.- ERNEST HEMINGWAY
BỐN
1904, năm tôi mười ba, St. Louis là chủ nhà của Triển lãm Trao đổi Louisana, hay chính là Hội chợ Thế giới nổi tiếng. Diện tích hội chợ trải khắp một nghìn hai trăm mẫu trong và bao quanh công viên Forest cùng Đại học Washington, có bảy mươi lăm dặm lối đi và đường lộ nối các tòa nhà, chuồng trại và lều rạp với nhau. Nhiều phần các kiến trúc này đều bằng thạch cao dựng trên khung gỗ, xây lên chỉ để tồn tại trong vài tháng, nhưng trông chúng chẳng khác nào các cung điện tráng lệ theo phong cách tân cổ điển. Viên ngọc quý trên vương miện năm đó, Cung điện Mỹ thuật, kiêu hãnh trưng ra một khu vườn điêu khắc bắt chước phong cách Nhà tắm Caracalla ở Rome. Có các đầm phá nơi ta có thể chèo thuyền khỏa nước, các thác nước nhân tạo khổng lồ, các khu vườn xây trũng xuống, sở thú đầy những con vật lạ và cả “sở người” với nào người lùn, người nguyên thủy, nào con gái mọc râu và con trai ngu độn. Dọc theo Xa Lộ, hàng trăm khu vui chơi giải trí và quầy ăn uống làm người qua kẻ lại mê mệt. Tôi được ăn chiếc kem ốc quế đầu tiên ở đó và cứ mãi sửng sốt làm sao mà khối trụ ngọt ngào đó không lạnh lẽo trong tay tôi. Vị kem dâu bên trong cũng có vẻ khác nữa. Ngon hơn. Đó có lẽ là thứ ngon nhất tôi từng được ăn.
Hôm đó chị Fonnie cũng đi Xa Lộ với tôi, nhưng chị không muốn ăn kem. Chị cũng chẳng muốn kẹo bông hay bỏng ngô hay trà đá hay bất cứ đồ ăn thức uống mới lạ nào khác, chị chỉ muốn về nhà nơi mẹ chúng tôi đang chuẩn bị chủ trì cuộc họp hằng tuần của phụ nữ đòi quyền bầu cử. Với tôi đám các bà các cô ấy luôn có vẻ buồn thảm. Nghe họ nói chuyện ta sẽ tưởng như hôn nhân là điều khủng khiếp nhất từng xảy đến với giới nữ. Mẹ tôi luôn là nhân vật lớn tiếng và hùng hồn nhất trong phòng, bà gật đầu đầy vẻ dứt khoát trong lúc chị Fonnie chuyển những đĩa bánh uống trà và sandwich kẹp cải xoong ra, cố hết sức để làm tất cả mọi người hài lòng.
“Nửa tiếng nữa thôi,” tôi cố gắng mặc cả với Fonnie. “Chị không muốn xem Lâu đài Điện sao?”
“Em cứ ở lại nếu thích. Chị ngạc nhiên là em thấy vui được đấy.” Rồi chị hối hả biến mất vào đám đông.
Tôi đang vui, hay có lẽ là đã vui cho đến lúc chị nhắc cho tôi nhớ rằng đáng lẽ tôi nên buồn mới phải. Có lẽ tôi thật ích kỷ khi muốn ở lại hít hà mùi bỏng ngô hay nghe lừa kêu be be từ khu chuồng trại. Nhưng đang là tháng Tư và anh đào quanh các đầm phá đang nở rộ. Tôi có thể nhắm mắt lại mà lắng nghe tiếng các đài phun nước. Tôi có thể mở mắt ra mà tưởng tượng mình đang ở Rome hay Versailles. Bóng Fonnie nhỏ dần trong đám đông, chiếc váy sẫm màu của chị vấy một sắc màu phóng túng. Tôi muốn mình cứ mặc kệ chị bỏ đi mà không phải bận tâm chị nghĩ gì về tôi hay chị sẽ nói gì với mẹ, nhưng tôi không thể. Tôi chán nản nhìn chiếc kem ốc quế của mình lần cuối rồi vứt vào thùng rác trong lúc lóc cóc chạy theo chị về nhà, nơi các bức rèm kéo kín và ánh sáng bị chặn lại, đã như thế được một thời gian rồi. Chúng tôi đang trong thời kỳ để tang. Cha tôi mới qua đời được hai tháng.
Chúng tôi là một gia đình thuộc giới tinh hoa, với dòng giống Pilgrim ở cả hai bên nội ngoại và rất nhiều cung cách từ thời Victoria giữ cho mọi thứ an toàn và đáng tin. Ông nội tôi sáng lập Thư viện Công cộng St. Louis và Công ty Dược phẩm Richardson, sau này trở thành nhà thuốc lớn nhất phía bờ Tây sông Mississippi. Ông ngoại tôi là giáo viên, người dựng nên Học viện Hillsboro bang Illinois rồi sau này là một trường trung học tư ở St. Louis. Chị Fonnie và tôi được đi học ở những trường tốt nhất, mặc váy xanh hải quân xếp nếp sắc như dao. Chúng tôi ngồi học đàn trước một trong hai cây đại dương cầm hiệu Steinway của hai đứa, đi nghỉ hè ở nhà nghỉ riêng trên bãi biển Ipswich bang Massachusetts. Mọi thứ đều tốt đẹp ổn thỏa cho đến khi không còn như thế nữa.
Cha tôi, James Richardson, là người điều hành công ty dược phẩm của gia đình. Ông đi làm lúc sáng sớm, đội mũ quả dưa và đeo cà vạt đen sực mùi kem cạo râu, mùi cà phê, và, ngay bên dưới, còn thoảng hương whisky. Ông nhét một chiếc chai bẹt trong bộ com lê. Cả nhà đều biết có một chai khác nhét trong ngăn kéo bàn làm việc của cha ở thư phòng, ông khóa cái ngăn ấy lại bằng một chiếc chìa bạc nhỏ xíu. Và một chai khác nữa ẩn mình chờ đợi dưới đống lọ nhồi chặt trái cây hầm trong chạn mà chị bếp Martha vờ như không thấy. Ông cố làm sao để thường xuyên vắng nhà, còn khi ở nhà thì ông lặng lẽ và lơ đãng. Nhưng ông cũng rất tốt bụng. Mẹ tôi, Florence, thì đối ngược hoàn toàn với cha — chỉnh tề từ nếp gấp đến ghim cài và đầy những lời khuyên cùng phán xét. Có lẽ cha tôi quá yếu mềm và nhu nhược khi ở bên bà nên ông có xu hướng thích lui về thư phòng hoặc đi khỏi nhà hơn là phải đối mặt với bà về bất cứ chuyện gì, nhưng việc này tôi không trách ông.
Mẹ tôi luôn yêu chị Fonnie hơn, chị hơn tôi hai mươi hai tháng tuổi. Chúng tôi có một người anh, Jamie, anh xa nhà học đại học trước cả khi tôi vào mẫu giáo, rồi chị Dorothea, hơn tôi mười một tuổi nhưng lại rất thương tôi, chị kết hôn khi còn trẻ và sống cùng anh chồng Dudley ở gần đấy. Vì xấp xỉ tuổi nhau nên hồi nhỏ Fonnie là người bầu bạn chủ yếu với tôi, nhưng chúng tôi khác nhau một trời một vực. Chị vâng lời, dễ uốn nắn và ngoan ngoãn theo cái cách mẹ tôi dễ dàng hiểu được và khen ngợi. Tôi thì bốc đồng, nói nhiều và tò mò về mọi thứ - quá hiếu kỳ so với ý thích của mẹ. Tôi thích ngồi cuối lối xe chạy vào nhà chúng tôi, tì cùi chỏ lên đầu gối mà ngắm xe cộ hối hả qua lại dọc theo trung tâm đại lộ, lòng băn khoăn về những người đàn ông đàn bà ngồi trong đó, họ đang đi đâu, họ đang nghĩ gì, và liệu họ có để ý thấy tôi ngồi đó quan sát họ không. Lúc ấy mẹ thường gọi tôi về nhà rồi tống tôi lên phòng trẻ, nhưng ở đó tôi cũng chỉ chằm chằm nhìn ra ngoài cửa sổ mà trầm ngâm mơ mộng.
“Không hiểu con hợp được với cái gì nữa?” mẹ hay nói vậy. “Đầu óc con lúc nào cũng như ở trên mây.”
Một câu hỏi chính đáng đấy chứ, tôi nghĩ vậy. Mẹ lo cho tôi vì mẹ chẳng hiểu tôi chút nào. Thế rồi xảy ra một chuyện khủng khiếp. Khi lên sáu, tôi thậm chí còn mơ mộng vượt ra ngoài khung cửa sổ nữa.
Hôm đó là một ngày xuân, tôi nghỉ học ở nhà vì bị ốm. Khi tôi đã chán ngấy phòng trẻ, một việc thường xuyên nhanh chóng xảy ra, tôi bắt đầu quan sát chú Mike, người chuyên làm việc vặt cho nhà tôi, đẩy xe cút kít qua sân. Tôi thích chú Mike điên lên vì thấy chú thú vị hơn bất cứ ai trong gia đình tôi hàng vạn lần. Móng tay chú vuông và cụt ngủn. Chú huýt sáo véo von và mang theo trong túi quần một chiếc khăn tay màu xanh nhạt.
“Chú đang làm gì thế hở chú Mike?” tôi hét ra ngoài cửa sổ phòng trẻ, đầu thò qua bệ cửa để nhìn chú rõ hơn.
Chú ngước lên đúng lúc tôi mất thăng bằng và ngã đánh bịch xuống nền lát đá bên dưới.
Tôi nằm liệt giường suốt mấy tháng ròng trong khi các bác sĩ đều tự hỏi không biết tôi có đi lại được nữa không. Tôi bình phục một cách chậm chạp, và khi đã hồi phục rồi thì mẹ mua một cái xe đẩy trẻ con được thiết kế riêng cho tôi. Mẹ thích đẩy tôi đi quanh khu phố, dừng lại ở mọi nhà hàng xóm để họ có thể thốt lên thán phục thật kỳ diệu làm sao khi tôi vẫn còn sống.
“Hadley tội nghiệp,” mẹ nói. “Con gà mái tội nghiệp.” Bà nói câu ấy hết lần này đến lần khác, cho đến khi những từ ngữ đó khâu chặt vào não tôi, thế chỗ bất kỳ miêu tả nào khác về tôi cũng như mọi kết quả có thể xảy ra khác. Tôi có khỏi hoàn toàn và học cách đi không khập khễng cũng chẳng quan trọng. Thể trạng của tôi trở thành mối lo lớn của cả nhà và cứ mãi như thế. Thậm chí cả tiếng sụt sịt nhỏ nhất rồi cũng sẽ làm tổn thương tôi sâu sắc hơn, cả nhà tôi nghĩ vậy. Tôi không được học bơi, không được chạy và chơi trong công viên như chúng bạn. Thay vì thế tôi đọc sách, chui vào cái ghế kê ở hốc cửa sổ trong phòng khách, bao quanh là những vòng xoáy của kính ố bẩn và nếp rèm màu vang đỏ. Sau một thời gian như thế thì tôi ngừng tranh đấu chống lại phương thuốc im lặng được gia đình tôi kê đơn, thậm chí bỏ cuộc cả trong tâm trí. Các cuốn sách có thể là một cuộc phiêu lưu tuyệt diệu. Tôi chui trong chăn và hiếm khi đi đâu, nhưng chẳng ai đoán được tâm trí tôi đang chạy đua nhanh ra sao và trái tim tôi cất cánh thế nào cùng các câu chuyện. Tôi có thể đến rồi đi khỏi bất cứ thế giới nào mà không ai hay biết, trong khi mẹ tôi quát tháo ra lệnh cho người làm hay làm trò cho các bà bạn cau có nơi tiền sảnh.
Hồi cha còn sống, tôi thường quan sát ông về nhà trong lúc đám phụ nữ vẫn đang tụ tập. Nghe thấy tiếng họ là ông dừng sững lại rồi tháo lui, lẩn ra cửa. Cha đi đâu thế nhỉ? tôi tự hỏi. Cha tôi đã phải đi bộ bao xa và nốc bao nhiêu whisky để làm giọng mẹ trong đầu ông im tiếng? Liệu cha còn nhớ ông đã từng yêu cái xe đạp của ông đến thế nào không? Tôi thì nhớ lắm. Có một dạo ông thường vui vẻ đạp xe đi bất cứ nơi nào ở St. Louis, ông chọn chiếc xe đạp trong bao nhiêu phương tiện vận chuyển khác có lẽ bởi vì sự tự do mà nó mang lại. Có lần ông buộc một chiếc xe cút kít ở đuôi xe đạp rồi chở chị Fonnie và tôi đi dọc theo những lối mòn trong công viên Forest, vừa đạp vừa hát “Waltzing Matilda.” Ông có chất giọng nam trung tuyệt đẹp, và khi những câu hát trôi về phía hai đứa nhóc ngồi xe cút kít chúng tôi vào cái ngày hôm ấy, tôi cảm thấy niềm hạnh phúc của ông thật và lạ đến nỗi tôi sợ không dám nhúc nhích gì, chỉ e làm nó giật mình tan biến mất.
Đó là một buổi sáng giá lạnh tháng Hai, một tiếng súng nổ duy nhất vang khắp căn nhà. Mẹ nghe thấy đầu tiên và lập tức hiểu chuyện gì vừa xảy ra. Bà không dám nghĩ đến từ tự sát, thế thì quá thường và quá khủng khiếp, nhưng dù sao một phần trong bà vẫn chuẩn bị đón nhận chuyện đó. Ở nhà dưới, đằng sau cánh cửa thư phòng khóa chặt, bà thấy cha tôi nằm giữa một vũng máu trên thảm, sọ ông vỡ toác.
Tiếng động từ cái chết của cha tôi vẫn vang vọng khắp nhà trong suốt nhiều tuần sau đó. Chúng tôi hiểu ra rằng ông vừa mất hàng chục nghìn đô la ở thị trường chứng khoán, rằng ông đi vay thêm và lại mất sạch số tiền đó nữa. Chúng tôi vốn đã biết ông uống rượu nhưng lại không biết ông còn uống kinh hơn trong những tuần cuối đời, do bị quấy rầy bởi những cơn đau đầu nhói buốt khiến ông không ngủ được.Sau khi cha qua đời, mẹ tôi ở rịt trong phòng, khóc lóc, hoang mang và nhìn chằm chằm vào tấm rèm kéo kín trong lúc những người làm tiếp quản căn nhà. Tôi chưa từng thấy nhà tôi hỗn loạn đến thế bao giờ và chẳng biết phải làm gì để giải quyết chuyện ấy ngoài việc chơi những bản dạ khúc của Chopin và khóc thương cha tôi, lòng thầm ước giá mình hiểu cha hơn.
Cửa vào thư phòng của cha đóng chặt trong một thời gian, nhưng không khóa. Thảm đã giặt nhưng không được thay, khẩu súng lục được dốc hết đạn, được đánh bóng rồi đặt lại chỗ cũ trong bàn làm việc của ông — những chi tiết ấy quá kinh khủng đến nỗi tôi không tài nào không bị chúng lôi cuốn. Hết lần này đến lần khác, tôi tưởng tượng ra giây phút cuối đời ông. Ông hẳn đã cảm thấy cô đơn ra sao, cảm thấy chết chóc và vô vọng đến thế nào, nếu không thì ông đã chẳng thể hành động, chẳng thể đưa họng súng lên và bóp cò.
Tâm trạng tôi ngày càng tệ đến độ gia đình bắt đầu lo lắng tôi có thể tự làm mình đau. Ai cũng biết rằng con cái của những người tự sát sẽ có nguy cơ đi lại con đường ấy lớn hơn. Liệu tôi có giống cha tôi không? Tôi không biết, nhưng tôi đã thừa hưởng chứng đau nửa đầu của ông mất rồi. Mỗi cơn đau giống như một sự trừng phạt khủng khiếp của Chúa với sức ép, cơn buồn nôn cùng tiếng gõ thùm thụp đều đều dai dẳng từ đáy hộp sọ trong lúc tôi nằm bất động hoàn toàn trong căn phòng thiếu không khí. Nếu tôi nằm đó đủ lâu, mẹ sẽ bước vào, vỗ về tay tôi và dém chăn quanh chân tôi, miệng nói, “Con thật là một cô gái ngoan, Hadley à.”
Tôi không thể không để ý thấy mẹ đối xử với tôi nồng ấm hơn khi tôi ốm, vậy nên chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi tôi thường xuyên bị bệnh, hoặc nghĩ là mình bị bệnh. Năm lớp mười một, mười hai, tôi nghỉ học nhiều đến nỗi buộc phải ở lại một năm trong khi tất cả các cô bạn khác đều đi học đại học mà không có tôi. Cảm giác ấy giống như nhìn một đoàn tàu rời ga đến một nơi xa xôi kỳ thú nào đó mà mình lại không có vé và cũng chẳng có cách gì để mua được một cái. Khi thư từ bắt đầu đổ về từ Barnard và Smith và Mount Holyoke, tôi bỗng thấy ghen tị đến phát ốm lên với niềm hứng khởi và lời hứa hẹn của các bạn tôi.
“Con muốn xin vào học ở Bryn Mawr,” tôi bảo mẹ. Em gái mẹ, dì Mary, sống ở Philadelphia, thành thử tôi nghĩ có một người họ hàng gần bên sẽ làm mẹ tôi dễ bằng lòng hơn.
“Ôi Hadley. Sao con cứ khăng khăng làm những việc quá khả năng của mình thế' hả? Thực tế một chút đi.”
Chị Fonnie bước vào phòng ngồi cạnh mẹ. “Thế còn những cơn đau đầu của em thì sao?” chị hỏi.
“Em sẽ không sao đâu mà.”
Lông mày Fonnie nhăn tít lại.
“Dì Mary có thể lo cho con nếu có gì xảy ra. Mẹ biết dì tháo vát thế nào mà.” Tôi đặc biệt nhấn mạnh từ tháo vát vì mẹ tôi thích và thường bị thuyết phục bởi nét tính cách ấy. Nhưng lần này bà chỉ thở dài mà nói sẽ nghiêm túc suy nghĩ về điều đó, đồng nghĩa với việc vấn đề sẽ được mang ra bàn với bà Curran hàng xóm cùng cái bảng bói toán Ouija(*).
(*) Bảng bói toán gồm những mẫu tự, khi người xem bói đặt tay lên mũi tên trên bảng và đặt câu hỏi, mũi tên sẽ di chuyển đến từng chữ cái và chữ số để trả lời câu hỏi đó. (ND)
Từ lâu mẹ tôi đã rất quan tâm đến các vấn đề huyền bí. Thi thoảng một buổi gọi hồn lại được tổ chức ở nhà chúng tôi, nhưng đa phần chúng diễn ra ở nhà bà Curran cuối phố. Theo lời mẹ tôi thì bà ấy là người đọc thông hiểu rộng về những vấn đề siêu nhiên và có mối liên kết rất quen thuộc và thuyết phục với tấm bảng bói toán. Tôi không được mời tham gia phiên gọi hồn đó, nhưng khi trở về từ nhà bà Curran, mẹ thông báo rốt cuộc tôi cũng được đi học ở Bryn Mawr, và rằng rồi mọi chuyện sẽ tốt đẹp thôi.
Về sau tôi buộc phải tự vấn về lời tiên tri của bà Curran vì có vẻ như nó rành rành là sai đối với tôi. Tôi đi học thật, vào năm 1911, nhưng toàn bộ cuộc dấn thân ấy đã kết thúc bi đát trước cả khi nó bắt đầu. Mùa hè trước khi tôi đi Bryn Mawr học, chị Dorothea bị bỏng nặng trong một đám cháy. Dù chị đã thoát ly khỏi gia đình trong những năm tôi lớn lên, Dorothea vẫn luôn là người ủng hộ tôi nhất nhà, tôi có cảm giác như chị hiểu tôi theo cái cách không ai khác hiểu hoặc muốn hiểu. Khi mọi thứ ở nhà trở nên quá ngột ngạt và kìm kẹp, tôi lại đi bộ tới nhà chị, ngắm hai cậu con trai nhỏ của chị vật nhau quanh mẹ, lòng thấy bình tĩnh và vẹn nguyên trở lại.
Mùa hè năm ấy chị Dorothea đang mang thai những tháng cuối. Phần lớn thời gian chị ở nhà một mình với hai đứa nhóc, một chiều nọ ba mẹ con đi ra hiên trước thì thấy một đám lửa đã bốc lên trên đống lốp cao su trong khoảnh đất không người ở cạnh nhà. Hai đứa nhóc hiếu kỳ đứng nhìn, nhưng Dorothea sợ đống lửa sẽ lan sang vườn nhà mình. Chị chạy qua đó cố dậm chân dập lửa, nhưng bộ kimono mùa hè dài thượt của chị đã nhanh chóng bắt lửa. Cả tất của chị cũng cháy, làm chị bị bỏng nặng đến tận eo trước khi chị ngã xuống lăn trên mặt đất khiến lửa tắt ngúm.
Khi anh Dudley chồng chị gọi điện báo tin, chúng tôi đang đi nghỉ ở ngôi nhà trên vịnh Ipswich. Cả nhà lo cho Dorothea đến phát ốm, nhưng anh Dudley trấn an rằng chị đang hưởng sự chăm sóc tốt nhất trong bệnh viện. Chị không sốt, và các bác sĩ tin rằng chị sẽ sớm bình phục hoàn toàn thôi. Đến hôm sau thì chị sinh ra một bé gái chết yểu. Cả Dorothea và Dudley đều đau đớn, nhưng các bác sĩ vẫn khẳng định rằng chị sẽ sống. Họ cứ nói mãi như thế cho đến khi chị ra đi, tám ngày sau vụ cháy. Mẹ tôi đón tàu về dự lễ tang, nhưng những người còn lại thì vẫn ở Ipswich, lòng tan nát và tinh thần tê liệt.
Tôi vẫn còn nhớ cảm giác của mình khi ấy, rằng có lẽ tôi không sống được khi mất Dorothea, rằng có lẽ tôi không muốn sống. Mẹ trở về từ St. Louis mang theo Dudley cùng hai đứa nhóc. Chúng bước xuống tàu với vẻ mặt đau khổ, và tôi làm được gì để an ủi chúng đây? Chúng không còn mẹ nữa rồi, tôi thấy mình cứ nghĩ đi nghĩ lại như thế.
Một chiều nọ, không lâu sau đám tang, một cơn bão khủng khiếp đổ bộ vào vịnh Ipswich, và tôi bảo một cậu ở căn nhà nghỉ hàng xóm chèo thuyền đưa tôi ra biển. Sóng quật vào mái chèo, tràn vào hai bên thành và quất vào mặt chúng tôi đau nhói. Tôi thậm chí còn không biết bơi, nhưng cậu ta không quay lại, kể cả khi người trực cột hải đăng đã đánh tín hiệu yêu cầu chúng tôi đi vào. Mây sà xuống thấp trông rất đáng sợ, không khí nặng hơi nước và muối. Suốt quãng thời gian đó tôi có cảm giác như mình đang chết đuối, hết lần này đến lần khác. Ngay cả khi hôm đó cuối cùng chúng tôi cũng chèo được vào bờ, cái cảm giác mình vẫn còn dưới vịnh, chìm xuống mỗi lúc một sâu hơn, vẫn bám riết lấy tôi suốt những ngày hè còn lại và rất lâu sau đó.
Vào tháng Chín tôi lên tàu tới Bryn Mawr theo kế hoạch, nhưng các bạn học của tôi dường như đang chạy theo một nhịp sống khác. Các cô gái trong ký túc tôi ở ngồi cả chiều trong phòng khách uống trà và sôcôla nóng sủi tăm, tán chuyện về khiêu vũ tập thể và những kẻ tiềm năng bị họ chinh phục. Tôi thấy mình đến là lạc lõng. Tôi vẫn biết mình là đứa xinh xắn, với mái tóc đỏ rực, mắt đẹp và da trắng — nhưng lúc này tôi dường như không muốn bận tâm xem đám con trai có để ý mình hay không. Tôi ngừng quan tâm đến quần áo và cả việc học nữa. Tôi bắt đầu thi trượt suốt, một việc khiến tôi thấy ngạc nhiên và khó chấp nhận, bởi vì, bất chấp nghỉ học nhiều đến phát sợ, trước đến giờ tôi vẫn luôn là học sinh giỏi. Giờ thì tôi thấy mình không tài nào tập trung hay chú ý được gì, thậm chí cả mối quan tâm cũng không.Mùa thu năm sau, tôi để mẹ và chị Fonnie thuyết phục mình ở nhà. Tôi không thể nói là ở trường thì sẽ tốt cho tôi hơn. Ở nhà, tôi chẳng biết đi đâu để lẩn trốn những suy nghĩ u ám của mình. Tôi không ngủ được, và khi ngủ, tôi mơ những giấc mơ kinh hoàng ám ảnh về Dorothea và cha tôi, tái hiện những giây phút khủng khiếp cuối đời họ. Tôi choàng tỉnh trong cơn hoảng sợ để đối mặt với lời hứa hẹn về những ngày đêm tương tự không một niềm vui nào đón đợi. Và nếu tôi nói rằng mình đã ở trong tình trạng như thể hôn mê suốt tám năm sau đó, chắc mọi người sẽ hiểu tại sao tôi lại sẵn sàng để sống vào cái lúc mẹ tôi bắt đầu chết dần.
Mẹ tôi bị viêm thận mãn tính đã nhiều năm rồi, nhưng bệnh trạng nhanh chóng diễn biến xấu đi vào mùa hè năm 1920. Trong suốt những tuần nóng nhất tháng Bảy tháng Tám, tôi gần như không bước chân khỏi căn hộ trên gác, và vào những dịp hiếm hoi tôi đi ra ngoài thì bà lo lắng mãi không thôi.
“Elizabeth? Con đấy phải không?” Bà yếu ớt gọi ngay khi nghe thấy tiếng tôi trên cầu thang. Tôi không chắc tại sao bà lại dùng tên rửa tội để gọi tôi sau từng ấy năm, nhưng hồi đó có nhiều điều về bà làm tôi thấy khó hiểu lắm. Bà chẳng giống người đàn bà thép khó tính luôn có khả năng làm tôi cụt hứng chỉ cần bằng một từ. Bà trở nên yếu đuối và bồn chồn, lại cất tiếng gọi lần nữa trong lúc tôi vội vã leo cầu thang: “Elizabeth?”
“Con đây, mẹ.” Tôi bước vào căn phòng chính nơi bà đang nằm nghỉ trên chiếc trường kỷ nhung hồng đã sờn rách. Tôi đặt các túi đồ mua sắm xuống rồi tháo mũ ra. “Mẹ thấy ngột quá à? Con mở một cửa sổ ra nhé?”“Trời ấm sao?” Bà kéo chặt tấm khăn len phủ giường vào lòng. “Mẹ thấy lạnh thấu xương.”
Tôi kéo một chiếc ghế ra bên cạnh trường kỷ rồi nắm lấy hai tay bà, xoa cho đến khi máu hồng lên trên bề mặt, nhưng ở bất kỳ chỗ nào tôi sờ vào, đầu ngón tay tôi lại có cảm giác như chạm vào cái gì se lại, như thể da bà đã biến thành bột bánh mì. Tôi thả tay bà ra và bà bắt đầu rên rỉ.
“Con làm gì được đây?”
“Gọi chị con lên đây. Mẹ cần Fonnie bên cạnh ngay lúc này.”
Tôi gật đầu và đứng dậy định đi, nhưng mắt bà lại mở to hơn. “Đừng đi, xin đừng bỏ mẹ.” Thế là tôi lại ngồi xuống, và chuyện cứ lặp đi lặp lại như thế suốt cái đêm dài dằng dặc ấy. Bà uống một chút nước canh hầm rồi ngủ chập chờn trong vài tiếng đồng hồ. Rồi đến gần nửa đêm, đột nhiên bà trở nên bình tĩnh.
“Mẹ lo cho con kinh khủng, Elizabeth à,” bà nói. “Con sẽ ra sao đây khi mẹ đi rồi?”
“Con đã là một phụ nữ trưởng thành rồi mà mẹ. Con sẽ không sao đâu. Con hứa.”
“Không.” Bà lắc đầu. “Nhiều năm trước bà Curran và mẹ đã nói chuyện với Dorothea về con.”
Hơi thở của bà trở nên nặng nhọc, và tôi không muốn thấy bà phải khổ sở như vậy.
“Suỵt. Có quan trọng gì đâu.”
“Quan trọng chứ. Hai người bọn mẹ đã hỏi chị con về con vài lần nhưng chị con chẳng chịu nói.”
Tôi luôn nghi ngờ những chuyện huyền bí — tấm bảng, những buổi gọi hồn xì xào dưới ánh nến cùng các cuộc viết lời nhắn gửi tự động với khăn choàng đỏ phủ lên ngọn đèn — nhưng lúc này đây tôi bỗng cảm thấy toàn thân ớn lạnh. Liệu mẹ có liên lạc được với Dorothea thật không? Nếu thật, thì tại sao chị tôi, đã qua đời chín năm rồi, lại quay lưng với tôi? Chị biết điều gì không hay, đáng buồn về số phận của tôi ư? Ý nghĩ đó khiến tôi kinh hoảng, ấy thế nhưng chẳng có cách nào để chắc chắn cả. Tôi không thể yêu cầu mẹ tả tỉ mỉ buổi gọi hồn ấy; bà đã kiệt sức và bồn chồn hơn bao giờ hết rồi. Vả lại tôi cũng không hoàn toàn chắc rằng mình muốn biết. Nhỡ tương lai còn u ám hơn hiện tại thì sao? Và nhỡ đâu tương lai thậm chí không hề tồn tại?
Suốt cái đêm tháng Tám ấy tôi ngồi yên trên chiếc ghế lưng thẳng cạnh trường kỷ. Tôi đắp khăn ẩm lên trán và cổ mẹ rồi nhìn ra màn đêm mùa hè ấm áp, bầu trời tối đen và cây cối còn tối đen hơn nữa, mọi thứ đều xa xôi như những vật chưng bày trong viện bảo tàng. Và tôi biết, cả tôi nữa cũng có thể chết trong căn phòng này. Đó là một ngả đường mà bánh xe cuộc đời tôi có thể rẽ vào. Vài tiếng sau, lúc bình minh sắp ló rạng, mẹ tôi qua đời mà không một tiếng thở dài, không nấc hấp hối, không thở khó nhọc. Thật khác cái cách cha tôi ra đi làm sao — tiếng nổ từ khẩu súng lục của ông làm rúng động mọi thanh rầm cửa trong nhà — nhưng cũng chẳng ít tính kết thúc hơn. Trong khi những người khác đang ngủ ở nhà dưới, tôi nhìn vào khuôn mặt mà có khi tôi rất ghét nhưng có lúc lại rất thương. Hai tay bà nắm lại đặt hai bên thân hình gầy guộc, và tôi đưa đầu ngón tay lên vuốt một bàn tay, cảm thấy dâng tràn một tình yêu dữ dội và phức tạp đối với bà. Rồi tôi xuống nhà đánh thức Fonnie cùng Roland dậy và gọi bác sĩ. Tôi chuẩn bị bữa sáng, tắm rửa rồi ngồi cùng chị Fonnie trong phòng khách để bàn việc chuẩn bị tang lễ. Thi thể mẹ tôi vẫn ở trên gác chờ nhân viên pháp y, tôi có thể cảm nhận thấy bà ở đó, vẫn gây áp lực với tôi. Dường như bà đã luôn lấy sự tĩnh lặng của đời tôi làm vui, như thể tôi đã trở thành người giống mẹ tôi nghĩ, tức là một người nhạt nhòa không có gì đáng kể cả. Sự trì kéo ấy quá lâu ngày và mạnh mẽ, tôi biết mình có thể dễ dàng đầu hàng nó, đầu hàng sự vô nghĩa. Hoặc tôi cũng thể đẩy mình đi theo hướng ngược lại, với tất cả những gì tôi có.
NĂM
Mọi chuyện ổn cả chứ, thưa cô?” người lái taxi hỏi.
“Rồi sẽ phải ổn thôi” tôi đáp rồi mở cửa xe.
Tôi đã về St. Louis sau một ngày dài ngồi tàu, cái ngày đã bị kéo giãn thêm bởi cảm giác mình đã thất bại ở Chicago. Giờ thì tôi lại ở đây, về với ngôi nhà của Fonnie và Roland trên đại lộ Cates. Tôi chỉ còn biết trả tiền rồi xuống xe.
Bên ngoài, không khí khô và lạnh. Người tài xế theo sau, xách hành lý của tôi lên hàng hiên; tiếng bước chân của chúng tôi vang lên trên mặt đường lát đá nghe như tiếng gõ vào một vật rỗng. Vào đến trong nhà, tôi thả hành lý ở chân cầu thang rồi lên căn hộ của mình, nơi này mang lại một cảm giác lạnh lẽo thiếu sinh khí. Dù đã muộn và tôi cũng đã mệt, tôi vẫn bật đèn và nhóm lò để sưởi. Tôi ngồi lên chiếc trường kỷ hồng, tay ôm lấy vai và tự hỏi liệu một phần nào đó của mẹ tôi có còn trong phòng, quấn trong tấm khăn len phủ giường, có lẽ thế, và nhìn tôi đầy thương hại: “Hadley tội nghiệp. Con gà mái tội nghiệp.”
Sáng hôm sau tôi ngủ rốn hơn thường lệ, khi tôi xuống nhà thì chị Fonnie đã đợi sẵn trong phòng ăn. “Thế nào? Chị muốn nghe mọi chuyện đấy nhé. Em đã làm gì? Em đã gặp những kiểu người nào?”Tôi kể chị nghe tất tần tật về những bữa tiệc, những cuộc chơi, những con người thú vị quét qua căn hộ của Kenley như sóng cồn — nhưng tôi không kể gì về Ernest. Có gì mà kể chứ? Tôi không chắc giữa chúng tôi là cái gì, thậm chí có phải là tình bạn không.
Fonnie và tôi đang nói chuyện thì Roland bước vào phòng, vừa cài cổ tay áo sơ mi vừa đi trong cả một đám mây hương xà phòng và keo vuốt tóc. Anh ngồi xuống và Fonnie hơi dịch ghế ra xa anh, rất nhẹ thôi, để khỏi phải nhìn anh ăn. Lúc này tình trạng giữa họ đang là như thế đấy. Cuộc hôn nhân của họ là một thảm họa, đang và đã luôn là như thế, điều ấy khiến tôi thấy thương hại cả hai.
“Chà,” Roland cất tiếng. “Đô thành Chicago có giống những gì cô hình dung không?”
Tôi vừa gật đầu vừa trét mứt cam lên bánh mì nướng.
“Thế cô có chinh phục được hàng chục anh bồ mới không thế?”
Fonnie phát ra một tiếng khịt nóng giận gần như không thể nghe thấy, nhưng chị không nói gì cả.
“Chắc là chưa đến hàng chục,” tôi nói.
“Hẳn cô phải chinh phục được ít nhất một chú. Thư này vừa gửi đến cho cô.” Anh lôi từ trong túi áo vét ra một vật trông nhăn nhúm. “Chuyển phát đặc biệt đấy,” anh nói. “Hẳn là quan trọng lắm.” Anh mỉm cười đưa tôi bức thư.
“Gì thế?” Fonnie hỏi.
“Chuyển phát đặc biệt,” tôi nhắc lại lời Roland trong trạng thái gần như hôn mê. Tên của Ernest đề trên phong bì, nguệch ngoạc nhưng đủ rõ. Chắc anh đã gửi nó ngay sau khi tiễn tôi lên tàu, trả thêm mười xu để đảm bảo nó đến nơi sớm nhất. Tôi sẽ viết cho chị. Tôi sẽ viết tặng chị. Tôi mân mê chiếc phong bì, hơi sợ phải mở nó ra.
“Tên anh chàng của cô là gì thế?” Roland hỏi.
“Em sẽ không gọi cậu ta là anh chàng của em đâu, nhưng mà tên cậu ta là Ernest Hemingway.”
“Hemingway à?” Fonnie nhắc lại. “Tên tuổi kiểu gì thế?”
“Chẳng biết nữa,” tôi đáp rồi mang bức thư ra khỏi phòng để mở. Trông phong bì nhăn nheo rúm ró như thể đã nằm trong túi anh bao nhiêu ngày trời - chưa gì tôi đã thấy yêu đặc điểm ấy rồi, chẳng cần biết trong thư viết những gì. Tôi tìm một góc yên tĩnh trong phòng khách gần cây piano của tôi và phát hiện ra các trang thư bên trong cũng nhàu nhĩ tương tự và nguệch ngoạc những dòng mực đen. Hasovitch thân yêu - bức thư bắt đầu như thế - Em đang ở trên tàu còn tôi ở đây và giờ khi em đi rồi mọi thứ đều vô nghĩa. Hãy nói với tôi đi, em có thật hay không?
Tôi đặt bức thư xuống vì tôi gần như không chịu nổi cái cảm giác như thể anh đã bò vào trong đầu tôi. Em có thật hay không? Tôi đã tự hỏi y hệt về anh - và tôi có quyền để hỏi thế hơn anh chứ, tôi nghĩ thầm, đặc biệt là sau lời cảnh báo của Kate. Tôi thật như mặt đất anh bước lên vậy, có lẽ là quá thật. Nhưng còn anh thì sao? Mối quan tâm anh dành cho tôi không hề dao động trong suốt thời gian tôi ở đó, nhưng điều ấy không có nghĩa là anh đáng tin, mà chỉ có nghĩa ngay lúc này anh nghĩ tôi đáng để theo đuổi. Thật tình tôi chẳng biết nên nghĩ gì về anh nữa, nên tôi đọc tiếp, rất nhanh chóng ngấu nghiến hết bức thư của anh, tất cả những điều anh cần nói về việc anh đang làm và muốn làm, công việc của anh, suy nghĩ trong anh. Anh bảo có thể anh sẽ được nhận việc ở một tờ nguyệt san tên là Khối Thịnh vượng chung hợp tác nếu anh nộp đơn xin tự làm mọi việc - nhà văn, phóng viên, biên tập, trọn gói luôn. Không thích thú mấy điều khoản lắm nhưng có lẽ sẽ nhận việc này, anh viết vậy. Dù tâm trí tôi đầy những tiếng nói không dứt về anh, tôi vẫn không thể không thích giọng văn của anh, sự sôi nổi trong đó cũng như cái cách những từ ngữ của anh trên giấy giống hệt anh chàng Ernest đã bịa ra bao lý do để xuất hiện trong phòng tôi ở Chicago. Giờ đây bức thư của anh cũng đang làm điều tương tự, nó đưa Ernest vào căn phòng khách mà một phút trước đây còn u ám và thiếu sinh khí.
“Thế nào?” Fonnie hỏi khi bước vào phòng trong tiếng sột soạt của chiếc váy len màu sắc ảm đạm. “Anh ta có gì để nói vậy?”
“Chẳng có gì bất thường cả,” tôi đáp, nhưng dĩ nhiên là không đúng như vậy. Mọi điều ở Ernest Hemingway đều bất thường.
“Ừ, dù sao cũng thật tốt khi có những người bạn mới. Chị mừng vì em đã tìm được một nguồn vui làm xao nhãng.” Chị ngồi xuống và nhấc miếng ren móc dở của chị lên.
“Vậy sao?”
“Dĩ nhiên rồi. Chị muốn em hạnh phúc mà.”
Có lẽ là thế thật, nhưng chỉ khi hạnh phúc có nghĩa là tôi bị nhốt trên gác suốt phần còn lại của cuộc đời, một bà cô không chồng đơn độc.“Cảm ơn chị, Fonnie,” tôi nói rồi lấy cớ lui về phòng, ở đó tôi bắt tay vào viết thư hồi đáp. Tôi không muốn tỏ ra quá nhiệt tình. Tôi không muốn câu trả lời của mình có ý nghĩa gì nhiều hơn sự thực — nhưng tôi nhận ra mình thích viết thư cho anh. Tôi viết trong cả ngày trời, cứ xảy ra chuyện gì là lại kể vào thư chuyện đó, tôi muốn chắc chắn anh có thể hình dung ra tôi đi từ phòng này qua phòng khác, tập piano, ngồi uống một tách trà gừng ngon tuyệt với cô bạn Alice Hunt, ngắm người làm vườn xén tỉa những bụi hồng rồi quấn chúng lại trong vải bố để đón mùa đông. Đêm nay tôi nhớ cái hồ ấy quá, tôi viết. Nhớ nhiều thứ khác nữa. Cậu có muốn gặp tôi trong bếp để làm một điếu không?
Mẹ tôi đã giữ một tấm ảnh chụp tôi mặc đồ tắm, đứng ngập đến gối trên dòng sông Meramec chơi trò té nước với Alice, cả hai đứa đều hạnh phúc và tắm trong ánh mặt trời. Phiên bản Hadley ấy gần như chưa từng xuất hiện vào những ngày này, đúng vậy, nhưng tôi nghĩ Ernest sẽ thích cô gái với khuôn mặt rạng rỡ và nụ cười vô tư đó. Tôi nhét bức ảnh cùng lá thư vào một chiếc phong bì, và rồi, trước nghĩ kịp nghĩ lại, tôi đi xuống phố tới hộp thư ở góc đường. Trời đang tối dần, vừa đi tôi vừa nhìn vào trong các căn nhà như thể chúng là những chiếc bát phát sáng. Mọi vật đều tỏa ánh sáng yếu ớt — và trong một khoảnh khắc tôi chợt hình dung ra ánh sáng rải khắp những cánh đồng ngô nhấp nhô cùng những chuồng trại im lìm giữa St. Louis và Chicago. Khi đến hộp thư, tôi nắm chặt lá thư, hôn nó trong cơn bốc đồng, rồi nhét nó vào khe thư và thả tay ra.
SÁU
Tôi ấp ủ bao kế hoạch với việc viết lách - tôi muốn thấy và cảm nhận và làm quá nhiều điều. Hãy nói đi, em còn nhớ em đã chơi piano với làn tóc ánh lên lấp lánh, rồi em đứng dậy đi về phía tôi trên trường kỷ và cất lời, "Cậu có hiểu tôi không, Thu Hải Đường?"
Em có hiểu tôi không, Hash?
Em sẽ đến đây ngay chứ, và cho tôi hưởng một chút cái điều mà tôi chắc chắn cần lúc này, chính là em?
Những lá thư của anh cứ đến dồn dập chen lấn, đầy những lời ngọt ngào, đôi khi hai ba lá mỗi ngày. Mới đầu tôi cố dè dặt hơn, tự hứa là chỉ viết lại mỗi tuần một lần thôi, nhưng dự định đó tiêu tan ngay lập tức. Chẳng bao lâu sau tôi thấy mình gặp rắc rối thật sự. Thư từ cứ bay qua bay lại, nhưng chúng có nghĩa gì cơ chứ? Giọng Kate thường xuyên lấp đầy tâm trí tôi - Cậu ta thích phụ nữ - có vẻ như là tất cả phụ nữ — và tôi đấu tranh tư tưởng chẳng biết có nên kể cho cô ấy nghe về việc tình bạn giữa chúng tôi đã tiến triển nhanh chóng ra sao không. Cứ nghĩ đến là tôi lại hình dung ra cô ấy cảm thấy tổn thương và tức giận thế nào; rốt cuộc tôi đã rành rành cố ý xem thường lời khuyên của cô ấy. Nhưng nếu tôi thú nhận tất cả, có lẽ cô ấy sẽ khuyên tôi nhiều hơn, và rồi tôi sẽ phải nghe và có lẽ là làm theo lời khuyên đó.
Tôi bị giằng xé giữa việc muốn biết liệu mình có tin được Ernest không và mong muốn tôi cứ mãi mù mờ để giữ cho mọi chuyện y hệt như lúc này. Ngôn từ của anh đã mang rất nhiều ý nghĩa rồi — quá nhiều là đằng khác. Mỗi lá thư của anh đều như một liều thuốc bổ tuyệt vời và viết cho anh cũng là một liều thuốc bổ, và chẳng bao lâu sau tôi nhận ra mình có thể nghe thấy tiếng cậu bé phát thư đạp xe từ cách cả mấy dãy nhà dù cậu thậm chí còn chưa rung chuông. Tôi tự nhủ rằng Kate đâu có biết hết mọi điều về Ernest. Ai mà biết được hết mọi điều về người khác cơ chứ? Những bức thư của anh đã bộc lộ vài phẩm chất - sự dịu dàng chẳng hạn, cả sự nồng ấm dễ thấy nữa - những điều có lẽ Kate đã không bao giờ thấy được trong suốt những mùa hè ở Michigan. Có thể như thế lắm chứ. Phải như thế, bởi vì niềm hạnh phúc nở rộ từ mối quan tâm của Ernest đối với tôi đang dần thấm vào phần cuộc đời còn lại của tôi. Tôi bỗng bận rộn hơn và vui vẻ hơn bao giờ hết khi ở nhà. Hai cô bạn Bertha Doan và Ruth Bradfield đã chuyển đến căn hộ trên gác sống cùng tôi với tư cách khách thuê trọ, và lần đầu tiên trong gần một thập kỷ tôi không cô đơn trong căn nhà của chính mình. Tôi cũng có vài chàng trai trẻ dòm ngó nữa, và ngay cả khi họ không đặc biệt xuất chúng gì, họ cũng cho tôi những giờ phút vui vẻ. Tôi để họ đưa mình đi nhảy, đi xem phim, thậm chí còn cho một vài chàng hôn chúc ngủ ngon. Không một ai trong số họ có cái đầu vuông to tướng và bàn chân bàn tay như lót nhung đệm của Ernest; chẳng một ai đặt những câu hỏi tuyệt vời như anh hay làm tôi muốn nói, Cậu có hiểu tôi không, Thu Hải Đường?
Dẫu vậy, tôi vẫn duy trì việc đi chơi với gần như tất cả những ai ngỏ lời, bởi vì Ernest, dù rất đáng yêu, chỉ như lý thuyết suông — một giả thuyết dễ thương — mà lại còn ở cách xa hàng trăm dặm. Ở St. Louis, nơi số phận đã định cho tôi sống cuộc đời thực của mình, có Dick Pierce, anh trai một cô bạn thân. Tôi thích ở bên anh và biết rằng chỉ cần tôi bật đèn xanh là anh sẽ yêu tôi và có khi còn cầu hôn nữa, nhưng tôi gần như, hoặc cũng có thể là hoàn toàn, chẳng có cảm giác gì trước anh cả. Rồi đến Pere Rowland, một cậu trai luộm thuộm một cách dễ chịu, biết rất nhiều về sách và nhạc, nhưng những buổi hẹn hò lãng mạn chẳng hấp dẫn tôi bằng cái lúc một nhóm chúng tôi nhồi đống lên xe ai đó rồi đi xem phim trong thành phố hay đến sàn nhảy nơi mọi người đều vui vẻ và tự do. Sau đó, Ruth, Bertha và tôi sẽ ngồi uống trà trong bộ đồ ngủ và tán chuyện về những sự kiện của buổi tối.
Tôi vừa mới bước sang tuổi hai chín, nhưng theo một cách nào đó tôi thấy mình còn trẻ và vô tư lự hơn cái hồi tôi học năm thứ nhất ở Bryn Mawr, hồi ấy tôi chẳng được tận hưởng một chút xíu hạnh phúc hay thân mật nào. Cứ như thể tôi đang trải nghiệm một sự trì hoãn bây giờ mới phát tác vậy, và tôi thấy biết ơn từng phút giây đó. Thế rồi lại có thư từ Chicago đến mỗi ngày, luôn nhàu nhĩ một cách đẹp đẽ và đầy những tin tức bận rộn. Ernest kể hết cho tôi về những bài báo anh viết cho tờ Thịnh vượng chung, ý tưởng của anh về các bản thảo và tiểu thuyết. Nhưng hơn tất thảy anh còn chia sẻ những câu chuyện về quãng thời gian anh lớn lên - về những mùa hè dài ở Michigan khi ông Ed cha anh, một bác sĩ sản đương nhiệm đồng thời là một nhà hoạt động ngoài trời bẩm sinh, đã dạy anh cách nhóm lửa và nấu ăn ngoài trời, cách dùng rìu, giật cần câu và đánh vẩy cá, săn sóc, gà gô và chim trĩ.
Cứ khi nào tôi nghĩ đến cha, anh viết, thì đó luôn là hình ảnh ông đang ở trong rừng xua chim rẽ giun, đang băng qua những bãi cỏ ngắn héo quắt hay những đống thân ngô, hay đang chẻ củi trong lúc chòm râu cứng lại vì sương giá. Tôi đọc những câu ấy mà mắt đẫm lệ, vì tôi có quá ít kỷ niệm ấm áp với cha mình. Khi nghĩ về cha, hình ảnh đầu tiên hiện lên trong tâm trí tôi là khẩu súng của ông, rồi sau đó là tiếng động nó gây ra vang vọng khắp nhà. Nhớ lại cái chết của ông, nhớ lại mình đã từng ám ảnh đến đau đớn vì nó khiến tôi thấy lòng xao động đến nỗi phải đi dạo hai vòng quanh khu phố trong làn gió rét buốt thì mới đủ bình tĩnh để quay lại đọc thư của Ernest.
Nhưng nếu mối quan hệ của anh với cha anh khiến tôi ghen tị thì mẹ anh lại phiền phức theo một cách khác. Gần như cứ khi nào nhắc đến bà trong thư là anh lại dùng từ con mụ ấy. Anh miêu tả bà như một kẻ thống trị hoàn toàn trong nhà, chỉ giỏi chỉ trích và đầy những ý tưởng không lay chuyển về việc cuộc sống phải diễn ra như thế nào mới phải, tỉ mỉ đến từng chi tiết. Trước khi anh biết đọc, bà đã dạy Ernest nhớ những cụm từ, những dòng thơ “thiết yếu” bằng tiếng Latinh và tiếng Đức. Dù luôn cố tôn trọng tinh thần sáng tạo của bà — bà hát Opéra, vẽ vời đôi chút và còn làm thơ nữa — nhưng Ernest rốt cuộc vẫn tin chắc rằng bà là một người mẹ và người vợ ích kỷ, chỉ chăm chăm nhu cầu bản thân mà không màng đến nguy cơ làm hại đến mọi người xung quanh, đặc biệt là chồng mình. Bà buộc bác sĩ Hemingway phải nhượng bộ mọi yêu cầu của bà, và Ernest đâm coi thường mẹ mình khi chứng kiến cảnh đó.
Dù sự chối bỏ dữ dội chính mẹ đẻ của Ernest khiến tôi rùng mình, tôi vẫn không thể không nhận ra một điều. Thật kỳ quái khi biết quan hệ giữa người bố và người mẹ trong gia đình chúng tôi lại giống nhau đến thế, ấy thế nhưng điều khiến tôi ngạc nhiên nhất là mặc dù thường ghét cay ghét đắng cái kiểu sống không chịu ai khăng khăng ý mình của mẹ tôi và thậm chí còn đổ lỗi cho bà về vụ tự tử của cha, nhưng tôi chưa từng thể hiện sự căm ghét đến nhường ấy đối với một con người. Cảm giác đó chỉ sôi sục và khuấy đảo trong lòng tôi thôi. Đôi lúc, khi nó cố ngoi lên bề mặt, tôi lại vớ lấy cái gối lông vũ và hét những cảm xúc trong mình vào đó, khiến chúng chết ngạt ngay từ gốc rễ. Còn Ernest lại thoải mái phun cơn thịnh nộ của mình ra. Phản ứng của ai mới là đáng sợ đây?
Rốt cuộc, tôi cảm thấy ngày càng tôn trọng cái cách anh thể hiện cả phần xấu xí nhất của con người mình, và tôi bị sự tự tin của anh lôi cuốn. Tôi mong thư anh mà gần như chẳng làm được việc gì khác. Ấy thế nhưng chẳng mấy chốc tôi nhận ra tính bộc trực của anh được áp dụng nhất nhất trong mọi việc. Đầu tháng Mười hai, không lâu sau sinh nhật tôi, anh viết rằng đêm qua anh đã bị một cô gái mặc đầm màu xanh chóe quyến rũ. Tôi thấy phát bệnh khi đọc được điều ấy. Tôi chẳng có cái váy xanh chóe nào, mà kể cả có thì anh cũng đâu có thấy. Anh cách xa tôi hàng trăm dặm, cuốn theo những chi tiết của cuộc sống hết ngày lại đêm ở đó. Chúng tôi là bạn bè và bạn tâm tình, đúng thế - nhưng anh chẳng nợ nần gì tôi cả, chưa bao giờ hứa hẹn lấy một câu với tôi, kể cả một lời hứa hão cũng không. Nếu muốn thì anh có thể chạy theo cái váy xanh đó như theo tiếng hát mỹ nhân ngư mà đi xuống hồ. Tôi chẳng ràng buộc gì anh cả.
Mà thực ra chẳng ai ràng buộc gì ai. Đó là dấu hiệu của sự chuyển giao thời đại. Chúng tôi đang ở ven rìa, tràn đầy tuổi trẻ và hứa hẹn cùng đôi chút điệu láy rền của nhạc jazz. Một năm trước đó, cô đào Olive Thomas đóng phim The Flapper (Cô nàng mới lớn), thế là cái từ ấy bỗng nhiên đồng nghĩa với jazz, chuyển động như jazz. Các cô gái khắp mọi nơi ra đường trong bộ áo coóc xê, váy thì ngắn lên còn màu mắt màu môi thì trầm xuống. Chúng tôi nói những câu từ kiểu như, “pyjama của ả mèo”(*) rồi “tôi thì cho rằng” rồi “chuẩn quá.” Tuổi trẻ, vào năm 1921, là tất cả, nhưng cũng chính nó là thứ làm tôi lo đến phát ốm. Tôi đã hai chín và thấy mình sắp hết thời rồi, nhưng Ernest chỉ mới hai mươi mốt tuổi nóng rực nhựa sống. Tôi đang nghĩ gì chứ?
(*) Một từ lóng phổ biến ở Mỹ những năm 1920, chỉ một người hoặc một vật thú vị đáng được săn đón.
“Có lẽ mình không hợp với cuộc chơi này,” sau khi nhận được bức thư tiếng hát nàng tiên cá của Ernest, tôi bảo cô bạn cùng phòng Ruth như thế. Bertha đã ra ngoài chơi, chỉ còn Ruth và tôi cùng nhau nấu bữa tối, thoải mái lướt quanh nhau trong căn bếp nhỏ, ngắt đậu, đun nước trụng mì ống, như thế chúng tôi là hai bà cô không chồng đã làm như thế này hàng bao nhiêu thập kỷ vậy.
“Mình không chắc là có ai trong chúng ta phù hợp đâu,” Ruth nói trong lúc tay cân muối rồi ném một ít ra sau vai để cầu may. Cô có đôi bàn tay chắc khỏe kỳ lạ, và tôi thấy mình cứ ngắm nhìn chúng, thầm mơ mình có thể giống cô ấy hơn. Cô quay lại nhìn rồi cười châm chọc.
“Nhưng có còn gì nữa đâu? Nếu giờ ta bỏ cuộc thì coi như tiêu đời.”
“Có lẽ tớ chỉ việc bò xuống gậm giường nhất định không ra cho đến khi già lập cập và chẳng thể nhớ rằng mình đã từng cảm nhận thế nào về bất cứ ai nữa.”
Ruth gật đầu. “Cậu muốn vậy, nhưng cậu sẽ không làm vậy.”
“Tớ sẽ không làm thế.” Tôi đi quanh chiếc bàn nhỏ để xếp đĩa và bộ thìa dĩa bằng bạc - loại tốt thứ hai trong nhà, rồi vuốt phang khăn ăn của ai đứa. “Tớ sẽ cố hết sức để không làm thế.”
Tôi khao khát được trở lại Chicago, được thấy căn phòng lớn cũ kỹ nhà Kenley — cây dương cầm, chiếc máy hát, tấm thảm sần sùi được đẩy sang bên cho hai con người khiêu vũ. Tôi muốn được nhìn vào đôi mắt nâu trong đến khó tin ấy và biết được chàng trai đẹp đẽ đó đang nghĩ gì. Tôi muốn hôn anh và cảm nhận anh hôn lại tôi.
Vào giữa tháng Giêng, cô bạn Leticia Parker và tôi nung nấu kế hoạch đưa tôi đến đó. Tôi sẽ là khách của cô ấy trong một tuần. Chúng tôi sẽ ở khách sạn và đi mua sắm, và tôi có thể gặp Ernest bao nhiêu tùy thích. Ấy thế nhưng, hai ngày trước lịch khởi hành của chúng tôi, Leticia gọi điện báo hoãn. Mẹ cô bị ốm, thành thử cô không thể đi xa lâu như thế được. Tôi bảo cô tôi hiểu mà; dĩ nhiên là tôi hiểu. Chính mẹ tôi cũng từng bị ốm hàng tháng trời, và tôi biết rõ những đòi hỏi của các bà mẹ khi ấy, nhưng đồng thời tôi cũng thấy chán nản. Mọi thứ đã được lên kế hoạch từ hàng tuần nay. Ernest sẽ đón tôi ở ga, và chỉ mỗi giây phút ấy thôi mà tôi đã tha hồ tưởng tượng đến hàng trăm lần có lẻ.
“Tính sao bây giờ?” tôi trút lên Ruth vào cuối ngày hôm đó.
“Đi thôi,” cô ấy nói.
“Một mình á?”
“Sao lại không? Giờ đâu phải thời Trung cổ, cậu biết mà. Thế chẳng phải lần trước cậu cũng đi một mình đấy sao?”
“Hồi ấy tớ đâu có bị ràng buộc gì. Chị Fonnie sẽ không thích đâu.”
“Thế thì càng có thêm lý do để đi,” Ruth cười nói.
Buổi tối tôi đi Chicago, Roland chở tôi đến ga phía Bắc St. Louis trên con Peugeot mới cứng, một chiếc ô tô hai chỗ màu xanh ve chai khiến anh thấy mình nam tính và kiêu hãnh hơn, tôi nghĩ thầm, đồng thời cũng đưa Fonnie lên mức lo lắng đến độ gần như sôi máu. Tôi quý Roland nhưng cũng cảm thấy thương hại anh. Tình cảnh của anh rất giống cha tôi hồi trước. Anh chỉ dám làm khi Fonnie cho phép; thật thảm hại, ấy thế nhưng anh cũng có thể rất quyến rũ theo cái kiểu mô phạm và tuyệt đối khiêm nhường. Tôi có cảm giác như chúng tôi là đồng minh trong nhà, và hy vọng anh cũng cảm thấy thế. Dù có thể dễ dàng thả tôi xuống vỉa hè, Roland vẫn đỗ xe lại và tiễn tôi đến tận sân ga, ở đó anh trao hành lý của tôi cho phu khuân vác. Thế rồi, khi đang chào tạm biệt, anh nghiêng đầu sang một bên, một trong những tật máy cơ mặt khó chịu mà cũng rất đáng yêu ở anh, rồi nói, “Trông cô rất đẹp, Hadley ạ.”
“Thật ạ?” tôi bỗng thấy e thẹn trước anh và phải lấy tay vuốt lại chiếc váy của bộ đồ đi đường màu xám nhạt.
“Thật. Anh chỉ chợt nghĩ ra là có thể cô không biết điều này về chính bản thân mình.”
“Cảm ơn anh nhé.” Tôi nghiêng người hôn má anh, rồi tôi lên tàu, tìm niềm vui mới trong bộ đồ đi đường của mình - chiếc mũ len mềm, đôi găng màu bơ và đôi giày da lộn quai chữ T. Ghế đơn và ghế băng trên tàu bọc nhung lông trông thật mời gọi, và cái giọng nghiêm khắc của Fonnie cất lên bảo tôi không nên hưởng thụ đột nhiên thật xa xôi. Đây chính là chương trình đặc biệt lúc nửa đêm chứ còn gì nữa, và tôi chui vào chiếc giường nằm Pullman đằng sau bức rèm xanh thẳm.
Sáng hôm sau, khi đến ga Công Đoàn, tôi đã được nghỉ ngơi đầy đủ và chỉ hơi hồi hộp cho đến khi tôi thấy Ernest trên sân ga, trông gần như giống hệt cái lúc tôi chia tay anh vào tháng Mười một - và thế là miệng tôi khô như rang và dạ dày tôi nhộn nhạo. Anh đẹp rạng ngời trong chiếc áo vét thủy thủ và khăn quàng cổ dày, và mắt anh sáng lên trong giá lạnh. Khi tôi xuống tàu, anh nhấc bổng tôi lên và ghì chặt.
“Tôi cũng rất vui được gặp lại cậu,” tôi nói khi anh thả tôi xuống, và cả hai đứa cùng cười, cảm thấy ngường ngượng vì được ở bên nhau đột ngột quá. Mắt chúng tôi gặp nhau rồi lại lảng đi. Bao nhiêu ngàn từ ngữ vẫn tuôn chảy đều đều giữa hai chúng tôi. Giờ chúng đi đâu mất rồi?
“Em đói không?” anh lên tiếng.
“Còn phải hỏi,” tôi đáp.
Chúng tôi cọ cọ mũi rồi đi trong buổi sáng lạnh giá để tìm đồ điểm tâm. Có một nơi anh thích ở phố State phục vụ bò bít tết và trứng với giá sáu mươi xu. Chúng tôi gọi món, đầu gối hai đứa hơi chạm nhau dưới gầm bàn.
“Tờ Bưu điện tối Chủ nhật lại vừa mới từ chối một truyện ngắn khác,” anh nói trong lúc chúng tôi đợi đồ ăn. “Đây là lần thứ ba rồi. Nếu chuyện này không nên cơm cháo gì thì có khi tôi sẽ dành cả đời viết những thứ rác rưởi hoặc kể chuyện của ải của ai cho các tạp chí mất. Tôi sẽ không làm thế đâu.”
“Rồi cậu sẽ thấy tác phẩm của mình được in thôi mà,” tôi an ủi.
“Chuyện đó phải xảy xa. Sẽ xảy ra.”
Anh nhìn thẳng vào tôi, rồi nhấc mũi giày lên ấn mạnh vào cạnh bên bắp chân tôi. Và cứ giữ nguyên như thế, ấm áp và khẩn thiết, anh hỏi, “Em có nghĩ đến chuyện không gặp lại tôi nữa không?”
“Chắc là có.” Tôi cảm thấy nụ cười của mình nhạt đi. “Tôi có thể trở nên một con khờ vì cậu, Nesto ạ.”
“Giá mà em yêu tôi dù chỉ một thời gian ngắn thôi cũng tốt biết bao.”
“Tại sao lại là một thời gian ngắn? Cậu lo bản thân mình không thể gắn bó lâu dài được à?”
Anh nhún vai, dáng vẻ bồn chồn. “Em còn nhớ tôi từng kể về Jim Gamble, bạn tôi trong Hội Chữ thập đỏ chứ? Cậu ta muốn tôi theo cậu ta đến Rome. ơ đấy vật giá rẻ, và nếu tôi tiết kiệm đủ trước khi đi thì tôi có thể chỉ ngồi viết truyện trong năm đến sáu tháng. Cơ hội kiểu này chắc sẽ chẳng xuất hiện đến lần hai đâu.”
Rome ư. Tôi thấy ngực mình thắt lại. Tôi chỉ mới tìm thấy anh, thế mà anh lại định chạy ra nước ngoài sao? Đầu óc tôi quay cuồng, nhưng tôi biết với một niềm đoan chắc rằng cố níu giữ anh sẽ là một sai lầm. Tôi khó nhọc nuốt khan rồi cẩn thận lựa từng lời. “Nếu công việc là thứ quan trọng nhất với cậu, cậu nên đi.” Tôi cố nhìn thẳng qua bàn vào mắt anh. “Nhưng có một cô gái sẽ nhớ cậu lắm.”
Anh nghiêm trang gật đầu nhưng không nói gì.
Những ngày còn lại trong một tuần thăm Chicago của tôi lấp đầy bởi các buổi hòa nhạc, xem kịch và tiệc tùng, tất cả các buổi tối đều kết thúc nơi căn phòng khách dài nhà Kenley với rượu, thuốc và những cuộc chuyện trò sôi nổi về sách hay, tranh đẹp. Mọi thứ đều y sì như hồi mùa thu, ngoại trừ một việc là Kate không khi nào có mặt.
Ngay trước khi rời St. Louis, tôi đã gửi thư cho cô ấy. Tôi không chắc bức thư sẽ đến tay cô trước khi chúng tôi chạm mặt nhau ở Chicago, vì hiển nhiên việc hai đứa gặp nhau là không tránh khỏi, nhưng tôi không thể không viết gì hay ít nhất là cố gắng nhẹ nhàng rào trước. Nesto và tớ đã trở nên khá thân thiết, tôi viết. Chúng tớ là những người bạn tốt của nhau và cậu cũng là bạn tốt của tớ nữa, và tớ ghét phải nghĩ rằng chuyện này sẽ thành rào cản giữa hai ta. Đừng giận lâu nhé. Bạn thân yêu nhất, Hash.
Kenley khăng khăng rằng cô ấy chỉ bận việc quá thôi, cậu nói, “Chị biết Kate mà. Chị ấy nhận quá nhiều việc thế rồi chẳng thể dứt ra được. Em chắc chúng ta sẽ sớm thấy chị ấy thôi.”
Nhưng chúng tôi không thấy cô, và ngày qua ngày, tôi càng lúc càng ước giá mình có thể nói chuyện về tình cảnh này với Ernest. Cứ lập lờ hai mặt thế này thật không giống tôi, nhưng tôi đã tự dồn mình vào góc tường khi chưa bao giờ để lộ việc Kate đã cảnh báo tôi phải tránh xa anh. Tôi có đầy rẫy lý do để không nói. Tôi không muốn làm tổn thương cảm xúc của anh là một, và tôi cũng không cảm thấy chỗ của mình là bước chen vào giữa hai người đó tạo mối bất hòa. Khi những ngày tôi đến chơi đã gần hết mà sự im lặng của Kate vẫn mỗi lúc một nặng nề thêm, tôi đã phải tự vấn liệu có khi nào một yếu tố trong mối quan hệ tay ba khập khiễng này sẽ chấm dứt vĩnh viễn hay không. Hoàn toàn có khả năng cô ấy sẽ không còn tin tưởng tôi nữa. Và cũng có thể - thậm chí rất có thể - Ernest sẽ đi Rome mà miệt mài với tiểu thuyết của anh, để lại tôi tròng trành vì hai lý do một lúc.
Cứ để mặc trái tim mình mập mờ với Ernest thế này rất nguy hiểm, nhưng tôi còn có lựa chọn thực sự nào đây? Tôi đang yêu anh, và ngay cả khi tôi không thấy can đảm chút nào khi đối diện với tương lai thì vẫn không thể phủ nhận cuộc sống của tôi đã thay đổi rõ rệt theo hướng tốt hơn kể từ khi gặp anh. Tôi cảm nhận rõ điều đó ở quê St. Louis và cả ở nhà Kenley nữa. Vào đầu giờ mỗi buổi tối, tôi luôn bồn chồn và e dè, lo rằng mình chẳng có gì để đóng góp cho cái nhóm này, nhưng rồi tôi cứ thế thoải mái với ngoại hình và giọng nói của mình. Và đến nửa đêm, tôi là là một phần của cuộc vui, sẵn sàng uống như hũ chìm và tán chuyện tới sáng. Cảm giác đó giống như thể mỗi đêm ta lại được tái sinh, cùng một quy trình ấy lặp đi lặp lại, tìm thấy mình, đánh mất mình, rồi lại tìm thấy mình.
“Mới đây thôi tôi còn chẳng đủ sức ngồi chơi piano lâu hơn nửa tiếng đồng hồ,” tôi nói với Ernest khi cùng ngồi ăn điểm tâm một buổi sáng nọ. “Đêm qua chúng ta thức đến tận ba giờ, thế mà tám giờ tôi đã ngồi đây mắt sáng bừng và nói chuyện ríu rít. Tôi đã từng lúc nào cũng mệt mỏi - và rất buồn phiền nữa. Chuyện gì xảy ra với tôi thế nhỉ?”
“Tôi không biết,” anh nói, “Nhưng tôi có thể xác minh chi tiết mắt sáng bừng.”
“Không đùa đâu,” tôi nói. “Chúng ta đang nói về một sự biến đổi lớn lao đấy.”
“Em không tin vào sự thay đổi sao?”
“Tin chứ. Nhưng thi thoảng tôi thậm chí còn không nhận ra chính mình. Cứ như trong truyện ấy, có một đám tiểu yêu đến mang cơ thể người ta đi và để lại một cơ thể khác — để thế chỗ.”
“Không quan trọng gì đâu, nhưng mà tôi thích em như thế này, Hash à.”
“Cảm ơn nhé. Tôi cũng thích tôi thế này.”
Tối hôm sau là tối cuối cùng tôi ở Chicago và tôi quyết tâm tận hưởng nó từng phút một. Tôi không chắc khi nào Ernest và tôi sẽ gặp lại nhau, hoặc liệu chúng tôi có còn gặp lại nữa hay không. Anh không đề cập gì đến Jim Gamble hay nước Ý sau cái ngày đầu tiên đó nữa, nhưng anh cũng chẳng tâm sự bất kỳ câu chuyện nào khác về tương lai. Khi tôi hỏi liệu lúc nào đó anh có thể đến St. Louis thăm tôi không, anh bảo, “Chắc chắn rồi, cô bé à,” cứ nhẹ tựa lông hồng, không kèm theo lời hứa nào, chẳng để lộ ý định gì. Nắm chặt và bấu víu không phải cách để giữ một người đàn ông như Ernest — ấy là nếu có một cách để làm việc đó tồn tại trên đời. Tôi đành phải chờ đợi xem sao thôi.
Đêm hôm đó trôi đi như đặc trưng vốn có, với hàng xô đồ uống và rất nhiều bài hát, tất cả chúng tôi đều hút như ống bễ. Ernest đề nghị tôi chơi một bản Rachmaninoff và tôi vui vẻ làm theo. Anh đến ngồi bên tôi trên ghế băng, như đêm đầu tiên chúng tôi gặp gỡ, và tôi thấy nhói lên một cảm giác hoài niệm trong lúc những ngón tay tôi lướt trên những phím đàn. Thế rồi giữa chừng bản nhạc, anh đứng dậy đi quanh phòng, nhón chân nhún nhảy tới lui, chồm chồm như ngựa nòi trước cổng. Cuối cùng, tôi tìm thấy anh khi anh đang ở ngoài khom người hút thuốc.
“Tôi chơi tệ thế cơ à?” tôi hỏi.
“Xin lỗi nhé. Không phải do em đâu.” Anh hắng giọng rồi ngước lên nhìn bầu trời đêm lạnh chi chít sao đến hoa cả mắt. “Tôi đã muốn kể cho em nghe về một cô gái.”
“Ai chà.” Tôi ngồi xuống một trong những bậc thềm đá lạnh buốt, cố kiểm soát nỗi kinh hãi đang đột ngột dâng lên trong lòng mình. Nếu Kate nói đúng về Ernest thì sao, tôi không biết liệu mình có chịu nổi điều đó hay không nữa.
“Không phải cô gái theo kiểu em nghĩ đâu. Chuyện cũ rồi. Tôi đã kể em nghe về hồi bị thương ở Fossalta chưa nhỉ?”
Tôi gật đầu.
“Khi người ta chuyển tôi đến Milan để hồi sức, tôi yêu cô y tá trực đêm chăm sóc tôi ở đó. Thật là một loại khí độc phải không? Tôi và mười nghìn gã khờ khác.”
Chẳng phải chuyện gì mới, nhưng nhìn mặt anh tôi hiểu rằng với anh đó là câu chuyện duy nhất.
“Tên cô ấy là Agnès. Khi họ chuyển tôi về Mỹ thì chúng tôi đã lên kế hoạch lấy nhau. Ngày ấy mà có tiền là tôi đã ở lại và cưới cô ấy rồi. Cô ấy muốn chờ. Phụ nữ luôn lý trí chết tiệt vậy đấy. Tại sao thế?”
Tôi không mảy may biết mình nên nói gì. “Lúc ấy cậu chỉ mới mười tám thôi phải không?”
“Mười tám hay là một trăm cũng được,” anh nói. “Chân tôi đầy mảnh kim loại. Họ lôi ra hai mươi tám mảnh trái phá từ người tôi. Hơn một trăm mảnh khác quá sâu nên không thể chạm tới, nhưng chẳng cái nào trong số đó làm tôi đau bằng bức thư cuối cùng cũng đến từ Ag. Cô ấy đã yêu người khác, một tay trung úy người Ý bảnh bao.” Anh nhếch mép cười, mặt rúm ró lại. “Cô ấy bảo mong sẽ có ngày tôi tha thứ cho cô ấy.”
“Cậu vẫn chưa tha thứ.”
“Chưa. Chưa hẳn.”
Sau vài phút trôi qua trong im lặng, tôi nói, “Cậu không nên kết hôn trong một thời gian dài nữa. Cú đánh kiểu đó giống như một căn bệnh khó lành. Cậu cần thời gian hồi phục, nếu không cậu sẽ chẳng bao giờ dứt bệnh hoàn toàn.”
“Đấy là phương thuốc em kê ư, bác sĩ? Liệu pháp nghỉ ngơi sao?”
Trong lúc nói anh đã ngồi dịch dần về phía tôi, và giờ thì anh đang với lấy một bàn tay đeo găng của tôi. Anh xoa xoa nùi len ấy theo chiều này rồi chiều khác, trông anh có vẻ bình tĩnh hơn. “Tôi thích sự thẳng thắn của em,” sau một lúc thì anh lên tiếng. “Em lắng nghe tôi rồi nói với tôi đúng những điều em đang nghĩ.”
“Chắc vậy,” tôi nói, nhưng thực ra tôi muốn lộn mửa. Rõ ràng anh đã yêu người con gái kia đến tuyệt vọng, và nhiều khả năng anh vẫn còn yêu. Tôi làm sao mà cạnh tranh nổi với một bóng ma — tôi, một kẻ biết quá ít về tình yêu và không điều gì trong số đã biết là tốt đẹp cả?
“Em nghĩ chúng ta có khi nào bỏ lại quá khứ sau lưng được không?” anh hỏi.
“Tôi không biết nữa. Mong là được.”
“Đôi lúc tôi nghĩ nếu Agnès biến mất thì chuyện này cũng có thể biến mất.”
Tôi gật đầu. Tôi đã từng có nỗi lo y hệt.
“Có lẽ cô ấy thực ra không hề biến mất. Có lẽ cô ấy chưa từng yêu tôi.”
Anh châm một điếu thuốc khác rồi hít một hơi thật sâu, đầu thuốc lóe lên một màu đỏ giận dữ. “Tình yêu thật là một tên lừa đảo khốn kiếp nhỉ?”
Giọng anh chất chứa niềm cay đắng, và tôi phải khó khăn lắm mới nhìn thẳng được vào mắt anh, nhưng anh lại soi tôi thật sát sao và chăm chú, rồi anh bảo, “Giờ thì tôi làm em sợ rồi.”
“Chỉ hơi hơi thôi.” Tôi cố mỉm cười vì anh.
“Tôi nghĩ chúng ta nên quay lại tầng trên và khiêu vũ đến sáng.”
“Ôi Nesto. Tôi mệt kinh khủng rồi đây này. Có lẽ mình nên quay vào, thế thôi.”
“Đi mà,” anh nài nỉ. “Tôi nghĩ làm thế sẽ đỡ mệt hơn đấy.”
“Thôi được rồi.” Tôi đưa tay mình cho anh nắm.
Trên gác, bữa tiệc đã rã đám gần hết. Ernest chậm rãi cuộn tấm thảm qua một bên và bật máy hát. Giọng Nora Bayes láy rền lan khắp phòng - Hãy giả vờ vui khi em đang buồn.
“Đó là bài hát tôi thích nhất,” tôi nói với Ernest. “Cậu có tài tiên tri đấy à?”
“Không đâu, tôi chỉ giỏi dụ một cô gái đứng gần mình hơn mà thôi.”
Tôi không rõ đêm hôm ấy chúng tôi đã nhảy trong bao lâu, đi tới đi lui khắp phòng khách theo một hình ê líp chậm và dài. Mỗi khi bản nhạc kết thúc, Ernest lại rời tôi một lúc rất chóng thôi để bật lại từ đầu. Rồi anh quay trở lại với vòng tay tôi, mặt anh vùi vào cổ tôi, tay anh ôm chặt thắt lưng tôi. Ba phút diệu kỳ cứ căng lại trùng như thế. Có lẽ hạnh phúc là một chiếc đồng hồ cát đã chảy gần cạn, những hạt cát cứ đổ xuống, lắc rắc trôi qua nhau. Có lẽ nó chỉ là một trạng thái của tâm trí — như Nora Bayes đã khẳng định — là một miền đất ta có thể khắc lên từ vô định rồi bước vào khiêu vũ.
“Tôi sẽ không bao giờ lừa dối cậu,” tôi nói.
Anh gật đầu khi vẫn vùi trong tóc tôi. “Mình hãy luôn nói thật với nhau nhé. Chúng mình có thể lựa chọn điều ấy, phải không?”
Anh đưa tôi lướt vòng quanh rồi vòng quanh, chầm chậm mà mạnh mẽ. Bài hát kết thúc, kim máy hát lách cách, thì thầm, xì xào rồi yên lặng. Nhưng chúng tôi vẫn nhảy, lắc lư lướt qua cửa sổ rồi vòng ngược trở lại.
BẢY
Khi tôi trở về nhà ở St. Louis, Fonnie tung ra một loạt câu hỏi và cảnh báo. Thế cái cậu Ernest Hemingway này là ai mới được? Cậu ta có triển vọng gì không? Cậu ta có thể cho tôi những gì? Ngay khi chấm dứt chuỗi tra hỏi ấy là chị bắt đầu luôn bài diễn văn cũ rích về những thiếu sót của tôi. Hemingway có biết về những cơn bồn chồn và tiền sử ốm yếu của tôi không? Nghe chị nói thì cứ tưởng như đang nghe về một con ngựa què vậy, nhưng tôi chẳng mấy để tâm. Tôi thuộc nằm lòng thủ đoạn của Fonnie và có thể làm chị tắt đài gần như tuyệt đối Nhưng thật không may, tiếng nói của chính tôi thì khó kiểm soát hơn. Khi ở Chicago bên Ernest, tôi cảm thấy mình mạnh mẽ và có khả năng khắc phục được mọi điều không chắc chắn về tương lai. Nhưng rời khỏi vòng tay anh, cách xa phạm vi và tầm ảnh hưởng mạnh mẽ của cơ thể anh, tôi lại thấy chới với.
Việc dòng thư từ anh càng ngày càng u sầu và ngắt quãng chẳng giúp được gì cho tôi. Anh ghét công việc của mình và đang cãi nhau với Kenley về chuyện tăng tiền thuê phòng. Kenley biết rất rõ tôi đang phải tiết kiệm từng xu một để đến Rome ra sao mà vẫn khăng khăng đòi trói tay tôi, anh viết. Bạn bè thế đấy. Tôi muốn thương xót anh, nhưng thực lòng lại thấy mình ích kỷ biết ơn vì kế hoạch của anh bị trì hoãn.
Đến thời điểm đó tôi đã có cả một kho giấu kha khá thư rồi, chắc phải trên một trăm lá, và tôi tích trữ chúng gọn ghẽ trong một ngăn tủ trên gác. Tôi lấy chiếc hộp xuống và đọc lại thư vào những ngày không nhận được một bức chuyển phát đặc biệt nhàu nhĩ một cách đẹp đẽ nào. Loại tem đặc biệt ấy giá những một hào mà anh thì đang phải tiết kiệm những đồng hào ấy để đổi ra tiền lia. Tôi thấy khó chịu khi biết anh đang đặt Jim Gamble, phiêu lưu và công việc lên hàng đầu. Tôi cũng không thể quên đi chuyện anh trẻ hơn tôi đến thế nào. Chín năm có thể chẳng nhiều nhặn gì nếu có ngày chúng tôi cùng nhau tới được tuổi trung niên, nhưng Ernest có thể trẻ trung, dồi dào sức khỏe và tràn đầy dự định đến nỗi tôi khó mà hình dung ra anh ở tuổi trung niên. Anh giống như chàng trai bước đi nhẹ bẫng theo đuổi chân lý và cái đẹp khắc trên một chiếc bình Hy Lạp vậy. Chính xác thì tôi phải hòa nhập với anh ở chỗ nào đây?
“Đôi lúc tớ nghĩ tớ đã quá già để yêu rồi,” tôi nói với Ruth vào một buổi chiều nọ. Hai đứa ngồi trên giường trong phòng tôi, một đĩa bánh quy uống trà đặt ở giữa, trong lúc ngoài kia tuyết rơi như thể sẽ không bao giờ ngừng.
“Cậu quá già — hay là cậu ta quá trẻ?”
“Cả hai,” tôi nói. “Xét một mặt nào đó thì cậu ấy còn sống nhiều hơn tớ ấy chứ, và dĩ nhiên là cậu ấy có nhiều niềm hứng khởi hơn. Nhưng đồng thời cậu ấy cũng có thể lãng mạn và ngây thơ kinh khủng. Như chuyện với Agnès ấy. Cô ta khiến trái tim cậu ấy tan vỡ, tớ tin chắc là thế, nhưng cậu ấy cứ mang trái tim ấy đi khắp nơi như một đứa trẻ bị thương ấy.”
“Nói thế là không công bằng, Hadley. Chẳng phải cậu cũng đau khổ vì Harrison William đấy sao?”
“Đúng vậy. Ôi Ruth ơi.” Tôi lấy hai tay ôm đầu. “Tớ chẳng biết cái quái gì đang nhập vào tớ nữa. Tớ nghĩ chắc là tớ sợ.”
“Tất nhiên là cậu sợ rồi,” cô ấy dịu dàng nói. “Nếu cậu thực lòng nghĩ cậu ta quá trẻ với mình thì ổn rồi, hãy quyết định đi và cứ thế mà làm.”“Cậu có cho rằng tớ sẽ thôi không lo nữa khi tớ biết chắc cậu ấy yêu mình không?”
“Hãy cứ lắng nghe bản thân thôi.”
“Có quá nhiều thứ để mất.”
“Luôn như thế mà,” cô ấy nói.
Tôi thở dài và với lấy một chiếc bánh nữa. “Lúc nào cậu cũng khôn ngoan thế' này hả Ruth?”
“Chỉ khi đấy là chuyện của người khác thôi.”
Hôm sau không có thư Ernest, hôm sau nữa cũng không, và cả hôm sau nữa nữa. Ngày càng rõ là anh đang dần quên tôi hoặc đang cố tình đẩy tôi sang một bên, thay vào đó anh lựa chọn Rome và niềm hy vọng thành công với sự nghiệp viết lách. Tôi thấy bị tổn thương, đồng thời cũng ghen tị kinh khủng. Anh có một thứ rất thật để gửi gắm hy vọng, có thứ để mà sống vì nó. Những ước mơ của tôi đơn giản hơn và, thành thực mà nói, ngày càng gắn chặt với anh. Tôi muốn một căn nhà giản đơn ở một nơi nào đó, với Ernest vừa đi lên lối vào vừa huýt sáo, mũ cầm trong tay.
Anh chưa từng nói hay làm gì gọi ý rằng một chuyện như thế sẽ xảy ra. Vậy ai mới là kẻ ngây thơ và lãng mạn đây?
“Nếu chuyện kết thúc thì mình có thể rất can đảm đấy,” tôi bảo Ruth và Bertha như thế vào ngày không thư thứ ba, cảm thấy một cục nghẹn to tướng đang nghiến chặt rồi tan dần nơi cổ họng. “Mình sẽ xắn tay đi tìm người khác.”
“Ôi, cô bé ơi,” Ruth nói. “Cậu đang tuyệt vọng quá rồi phải không?”
Sau khi ai về giường nấy, tôi cứ xoay ngang trở dọc hàng tiếng đồng hồ đến tận hơn hai giờ mới chập chờn ngủ được. Sáng hôm sau, vẫn cảm thấy đầu óc mịt mùng và tâm trạng chán nản, tôi kiểm tra hộp thư. Vẫn còn quá sớm để thư từ đến nơi, nhưng tôi vẫn kiểm tra — tôi không thể đừng được. Ở đó, trong hộp, không chỉ một mà có đến hai bức thư, cả hai đều dày bịch đầy hứa hẹn. Suy nghĩ một cách lý trí thì tôi biết chắc hẳn cậu bé đưa thư đã ghé qua nhét chúng vào từ tối hôm trước nên tôi không hay biết gì, nhưng một phần trong tôi lại muốn tin rằng nỗi mong đợi khắc khoải của tôi đã gọi hai lá thư này đến. Dù là thế nào thì sự im lặng của Ernest cuối cùng cũng chấm dứt. Tôi tựa vào rầm cửa, mắt nhòa đi vì những giọt lệ nhẹ nhõm.
Trở lại tầng trên, tôi vội vàng xé mở hai phong bì. Bức đầu tiên tràn ngập những tin tức thường lệ về công việc và vui chơi ở nhà Kenley, gần đây được đề cập đến với danh xưng “Chốn Cư Ngụ”. Đêm hôm trước có một trận đấm bốc ở phòng khác, trong đó Ernest đóng vai John L. Sullivan, trồi sụt đu đưa trong bộ quần áo lót dài, lưng thắt khăn lụa màu nâu. Tôi phá lên cười khi hình dung ra hình ảnh anh ăn mặc như thế và vẫn còn đang cười lúc bắt đầu đọc bức thư thứ hai. Vẫn đang nghĩ về Rome, thư bắt đầu như thế, nhưng nếu em cũng đi cùng thì sao — với tư cách một người vợ?
Vợ. Cái từ ấy khiến tôi khựng lại. Tôi chưa từng gặp mẹ anh hay bất cứ thành viên nào trong gia đình anh. Anh thậm chí còn chưa bao giờ tới St. Louis ngồi trong phòng khách nhà tôi mà chịu đựng ánh mắt thiếu thiện cảm của Fonnie. Ấy thế nhưng cũng có thể anh nói nghiêm túc. Chỉ là cái cách anh cầu hôn, không chuẩn bị trước, sau một câu chuyện đùa về đấm bốc. Sáng hôm đó tôi viết thư trả lời: Nếu anh đã sẵn sàng điên cuồng lao tới như vậy thì em cũng sẵn lòng.
Rome. Cùng nhau. Thật là một ý nghĩ khác thường. Khi tôi thả cho mình tưởng tượng về chuyện kết hôn với Ernest, chúng tôi luôn sống tại St. Louis hoặc Chicago, ở một nơi rất giống Chốn Cư Ngụ, đầy trò vui và những cuộc nói chuyện thú vị bất kể giờ giấc. Sống cùng Ernest ở nước Ý là một ý tưởng vừa mê ly vừa đáng sợ, vừa hoàn toàn đột phá. Hồi mười bảy tuổi tôi từng đến Florence và Rome một chuyến với mẹ và hai chị gái. Chuyến đi thật là thảm họa, và tôi nhớ rất ít về vẻ đẹp ở đó — chỉ có hơi nóng, những lần ngất xỉu và muỗi. Ở Rome với Ernest hẳn phải khác. Chính tôi sẽ khác đi ở đó. Sao lại không thể chứ? Tôi có thể thấy hai đứa chúng tôi khoác tay nhau dạo bước dọc sông Tiber, đi qua mọi cây cầu, từng chiếc một. Đi thôi, tôi vô tư viết, lòng ngập tràn mong đợi. Em đã xếp đồ rồi đây này.
Rồi tôi bước ra ngoài trời không áo khoác, không khăn quàng. Bầu trời thấp và xám xịt, trút xuống những bông tuyết lớn. Tôi ngước lên, hé miệng và nếm vị tuyết.
TÁM
Hai tuần sau lời cầu hôn của Ernest, tất yếu tôi phải đi một chuyến tới Chicago để chào hỏi toàn bộ người nhà Hemingway. Tôi đã lo lắng đến nỗi phải uống trước nửa già chai rượu rồi cứ đi đi lại lại trong phòng khách ở Chốn Cư Ngụ, trong lúc Ernest cố hết sức để trấn an tôi. Cuối cùng chiều hôm đó Kate cũng xuất hiện, và chuyện này chẳng giúp được gì cho tôi. Ernest đang đi làm và cô ấy thấy tôi ở nhà Kenley có một mình.
“Cậu không cưới Wem thật đấy chứ? Thật nực cười.” Giọng cô ấy rít lên the thé. Vừa nãy cô ấy đã xông vào mà chẳng thèm cởi mũ áo gì.“Kate à, làm ơn ngồi xuống và cư xử có lý chút đi.” “Rồi cậu sẽ phải hối tiếc vì chuyện này thôi. Tớ biết thể nào cũng vậy. Cậu ta quá trẻ và bốc đồng.”
“Thế còn tớ thì sao? Một bà cô bé nhỏ bình thản ư?”
“Không phải thế, cậu chỉ ngây thơ thôi. Cậu đặt nhiều niềm tin vào cậu ta quá.”
“Thật tình, Kate à. Cậu được cho là bạn của anh ấy đấy nhé. Anh ấy đã làm gì để cậu quay lưng lại với anh ấy như thế?”
Cô ấy đột ngột ngừng quát tháo ầm ĩ và ngồi phịch xuống trường kỷ.
“Chẳng làm gì cả.”
“Vậy thì sao lại thế này?” tôi hạ giọng và đi đến ngồi cạnh cô ấy.
“Hãy nói cho tớ biết điều gì đang xảy ra đi.”
“Tớ không thể.” Cô ấy chậm rãi lắc đầu. Mắt cô ấy trong veo và buồn bã.
“Tớ không muốn mọi chuyện trở nên xấu xí hơn nữa, mà cậu cũng chẳng muốn thế đâu. Tớ sẽ mừng cho cậu, tớ thề đấy.”
Tôi cảm thấy như có sét đánh ngang tai, và âm thanh ấy không hề lặng đi suốt buổi chiều hôm đó. Khi Ernest đi làm về, tôi vẫn còn quá giận đến nỗi tôi gần như mai phục anh ngay tại cửa.
“Có điều gì anh muốn nói với em về Kate không? Em nghĩ có vẻ như cô ấy khá là yêu anh đấy.”
Tôi ngạc nhiên thấy mình có thể nói lên được ý nghĩ ấy thành tiếng, nhưng Ernest đón nhận câu nói với một vẻ bình tĩnh lạ lùng.
“Có thể,” anh nói. “Nhưng không phải lỗi của anh. Anh đâu có khuyến khích chị ấy.”
“Không phải lỗi của anh sao? Em thì lại thấy cô ấy đã rất tổn thương vì chuyện gì đó.”
“Em nghe này. Kate là Kate. Chuyện đã là quá khứ rồi. Em có thật sự muốn biết tất cả không?”
“Em muốn chứ. Em muốn biết toàn bộ. Tất cả những ai anh đã từng hôn hay chỉ tưởng tượng rằng anh yêu người ta trong thậm chí là hai phút.”
“Thật điên rồ. Tại sao chứ?”
“Vậy anh có thể nói cho em hay họ không quan trọng ra sao, và anh yêu em hơn họ thế nào.”
“Đó là điều anh đang nói với em đây. Em có để tai nghe chút nào không đấy?”
“Sao mình cưới nhau được nếu giữa mình có bí mật chứ?”
“Em không muốn cưới nữa à?”
“Anh thì sao?”
“Dĩ nhiên là anh muốn rồi. Em đang làm quá lên đấy Hash. Hãy có lý chút đi.”
“Đó là điều Kate nói.”
Anh nhìn tôi vẻ cáu tiết đến nỗi tôi không đừng được mà òa lên khóc.
“Ôi, đến đây nào, mèo con bé bỏng. Mọi chuyện rồi sẽ ổn thôi. Rồi em sẽ thấy.”
Tôi gật đầu và lau khô nước mắt. Rồi tôi hỏi xin thứ gì để uống.
Chúng tôi mượn xe của Kenley để lái ra ngoại ô đến căn nhà gia đình lớn của anh ở Oak Park. Càng đến gần đại lộ Kenilworth, Ernest càng trở nên kích động.
“Anh nghĩ họ có thích em không?” tôi hỏi.
“Họ sẽ yêu em ấy chứ. Vấn đề là họ không ưa gì anh lắm.”
“Họ yêu anh. Họ phải thế chứ.”
“Họ yêu anh như yêu một đàn sói vậy,” anh cay đắng nói. “Thế em cho rằng tại sao anh phải thuê trọ nhà Kenley khi gia đình mình ở cách có mười lăm dặm hả?”
“Ôi trời. Em chưa từng nghĩ về chuyện này theo hướng ấy. Giờ đã quá muộn để quay lại chưa anh?”
“Quá muộn rồi,” anh nói, và chúng tôi tấp vào một lối xe chạy dài hình vòng xuyến. Mẹ Ernest, bà Grace, đích thân đón chúng tôi ở cửa, phải nói là đẩy những người hầu sang một bên để làm thế mới đúng. Trông bà mũm mĩm và xa hoa, với một búi tóc bạc cuốn trên đầu. Tôi còn chưa kịp bước chân lên thềm thì bà đã lao tới, túm lấy tay tôi trong tay bà, và ngay cả khi tôi mỉm cười và cố hết sức để quyến rũ bà, tôi vẫn thấy được tại sao Ernest chống đối mẹ mình. Bà to lớn và ồn ã hơn bất cứ thứ gì xung quanh, giống hệt mẹ tôi. Bà làm thay đổi trọng lực trong phòng; bà khiến mọi thứ phải xảy ra.
Trong phòng khách, có bốn chiếc sandwich đẹp đẽ đặt trên bốn cái đĩa còn đẹp hơn cùng một chai sâm banh hồng. Chị cả của Ernest, Marcelline, ngồi cạnh tôi trên một chiếc đi văng giường, và mặc dù chị có vẻ là một cô gái khá dễ chịu, tôi vẫn thấy hơi không thoải mái vì trông chị giống em trai mình quá. Ursula cũng giống anh, nụ cười như đúc cùng một khuôn, và cả chiếc lúm đồng tiền nữa. Sunny mười sáu tuổi xuất hiện thật dễ thương trong bộ cánh chiffon màu vàng nhạt. Cậu út Leicester, mới chỉ lên sáu, bám đuôi Ernest như một chú cún đến tận khi anh chấp thuận làm một ván đấm bốc với cái bóng của chính mình trong phòng ăn. Trong lúc đó, bà Grace giữ rịt tôi ở phòng khách bàn về sự ưu việt của đăng ten châu Âu, còn bác sĩ Hemingway thì lảng vảng xung quanh với một đĩa phô mai và củ cải đỏ ông tự muối từ khu vườn của mình ở hồ Walloon.
Sau bữa tối, bà Grace đề nghị tôi chơi đàn trong lúc bà đứng cạnh hát một bản Opéra. Rõ ràng Ernest thấy rất xấu hổ. Anh còn xấu hổ hơn khi bà Grace khăng khăng đòi cho tôi xem một bức ảnh trong một cuốn album rõ là rất được nâng niu, trong ảnh Marcelline và Ernest mặc giống hệt nhau, cả hai đều diện váy vải bông kẻ màu hồng, đội mũ rơm vành rộng cài hoa. “Hadley không muốn xem thứ gì như vậy đâu mẹ,” Ernest nói từ bên kia phòng.
“Dĩ nhiên là nó muốn chứ.” Grace vỗ vỗ tay tôi. “Phải không cháu yêu?”
Bà mân mê bức ảnh với vẻ sở hữu. “Trông thằng bé xinh quá phải không? Bác cho rằng mình cũng thật ngớ ngẩn khi mặc đồ con gái cho nó như thế, nhưng bác chỉ chiều theo ý thích nhất thời lúc ấy thôi. Chẳng hại ai mà.”
Ernest đảo mắt. “Phải đấy mẹ. Có cái gì làm hại ai bao giờ đâu.”
Bà phớt lờ cậu con. “Nó luôn thích kể chuyện, cháu biết không. Về con ngựa bập bênh của nó, con Hoàng Tử, và cô y tá của nó, gấu Lillie. Và nó là một đứa kinh khủng, ngay cả khi còn bé tí. Nếu nó không thích việc gì cháu làm, nó sẽ vả cháu rất đau, ngay chỗ cháu đứng, rồi sau đó lại mon men đến đòi hôn hít.”
“Nhớ đừng có mà làm thế vói Hadley đấy,” Marcelline nói, một bên mày chị nhướng lên với Ernest.
“Có khi chị ấy lại thích thế,” Ursula nói, toét miệng cười.
“Ursula!” bác sĩ Hemingway nạt.
“Cất cuốn album đi mẹ,” Ernest nói.
“Ôi chà chà,” bà Grace nói, tay lật sang trang. “Đây là bức ảnh chụp ngôi nhà nghỉ ở Windemere. hồ Walloon xinh đẹp.” Và thế là bà lại hào hứng nói mãi không dứt.
Buổi tối cứ thế trôi đi. Có cà phê, những ngụm brandy nho nhỏ và bánh ngon, rồi lại thêm nhiều cà phê nữa. Khi cuối cùng chúng tôi cũng được phép ra về, bà Grace còn gọi với theo mời hai đứa đến ăn tối hôm Chủ nhật.
“Còn khuya,” Ernest lầm bầm trong khi dắt tôi đi xuôi lối đi.
Khi chúng tôi đã an toàn trở lại xe và lên đường về nhà Kenley, tôi nói, “Cả nhà anh lịch sự với em kinh khủng, nhưng em có thể thấy tại sao anh lại muốn giữ khoảng cách với họ.”
“Anh vẫn còn là một đứa trẻ đối với họ, thậm chí với cả bố anh, và khi anh làm căng để phản đối chuyện đó thì anh trở thành kẻ ích kỷ, thiếu suy nghĩ, hoặc một thằng tồi, và họ không thể tin anh.”
“Cũng chẳng khác em lắm hồi mẹ em còn sống. Mẹ chúng ta thật giống nhau. Anh có nghĩ đó là lý do chúng ta bị hấp dẫn bởi nhau không?”
“Vì Chúa, anh hy vọng là không phải thế,” anh nói.
Vì chúng tôi mới đính hôn nên quy chế mới được áp dụng cho tình trạng sống của chúng tôi ở nhà Kenley. Tôi vẫn được mời ở trong căn phòng quen thuộc, nhưng Ernest bị yêu cầu đến chỗ bạn bè khác ở nhờ trong thời gian tôi lưu lại.
“Anh không hiểu sao đột nhiên Kenley lại cư xử cứng nhắc thế,” Ernest nói khi chuyển tin này đến cho tôi. “Cậu ta đâu có trong sáng như gương.”
“Cậu ấy chỉ bảo vệ thanh danh của em thôi mà, có phải là vì cậu ấy đâu,” tôi nói. “Nghĩ cho cùng thì đó là hành động khá ga lăng đấy.”
“Là cái gai ở cổ thì có. Anh muốn thấy em từ sáng sớm, ngay sau khi em mở mắt thức dậy. Đòi hỏi thế là quá nhiều à?”
“Chỉ lúc này thôi mà. Ngay khi mình lấy nhau thì anh muốn thấy em theo kiểu gì chẳng được.”
“Ý nghĩ mới hay ho làm sao.” Anh mỉm cười.
“Quá hay ấy chứ.”
Chuyện tôi vẫn còn trinh trắng chẳng phải bí mật to tát gì. Ngoại trừ một nụ hôn nồng nàn ở chỗ này chỗ khác đến từ những người theo đuổi khác nhau, kinh nghiệm của tôi với tư cách một người tình chỉ là một con số không tròn trĩnh. Ernest hay bóng gió rằng anh biết rất nhiều cô gái. Tôi đoán anh đã ăn nằm với Agnès ở Ý rồi — dù sao thì hồi đó họ cũng chuẩn bị cưới — nhưng hơn hết thảy, tôi cố không nghĩ đến chuyện đó. Cứ khi nào tự hỏi liệu mình có thỏa mãn được anh không là tôi lại hết sức lo lắng, vậy nên tôi gạt ý nghĩ đó sang một bên và tập trung nghĩ rằng làm tình, trong mọi cách có thể, sẽ là một cách để hiểu anh mà không có trở ngại hay rào chắn gì cả. Chuyện tôi thiếu kinh nghiệm sẽ không trở thành vấn đề đâu. Anh sẽ cảm thấy tôi yêu toàn bộ con người anh và không giữ lại gì cho mình cả. Sao anh lại không thể cảm thấy điều ấy chứ?
Có vẻ như Ernest đã chuẩn bị tinh thần để chờ đến đêm tân hôn — chắc chắn anh sẽ không bao giờ ép tôi dưới bất cứ hình thức nào — nhưng vào cái đêm chúng tôi đến thăm Oak Park, sau một nụ hôn dài tạm biệt trước cửa nhà Kenley, anh bảo tôi rằng tối hôm đó anh sẽ không quay về nhà Don Wright để ngủ.
“Anh sẽ cắm trại ngoài trời.”
“Cái gì?”
“Đi nào. Anh sẽ chỉ cho em xem.”
Tôi theo anh đi lên sân thượng theo lối thoát hiểm hỏa hoạn, chuẩn bị sẵn tinh thần rằng trên đó sẽ rét cóng — đang là tháng Ba mà, còn hàng tuần nữa mới đến mùa xuân đích thực ở Chicago — nhưng rồi chúng tôi chui vào một góc có mái che, Ernest đã chất đống chăn ga ở đó để tạo cảm giác ấm cúng.
“Anh đã tạo nên cả một vương quốc nho nhỏ ở đây đấy nhỉ?”
“Ý tưởng là thế mà. Em muốn uống chút rượu không?” Anh với tay vào cái ổ của mình rồi lôi ra một cái chai đóng nút bần và một tách uống trà.
“Anh còn giấu thứ gì khác ở đó nữa thế?”
“Vào mà tự khám phá đi.” Giọng anh nhẹ bẫng và trêu chọc, nhưng khi tôi nằm cạnh anh trên tấm ga và anh với tay sang để quấn chăn quanh vai tôi, tôi thấy tay anh run rẩy.
“Anh đang hồi hộp,” tôi nói.
“Chẳng biết tại sao nữa.”
“Anh đã cùng với rất nhiều cô rồi đúng không?”
“Chẳng ai như em cả.”
“Ai chà, đó đúng là một câu trả lời hoàn hảo đấy.”
Chúng tôi quây chăn quanh mình như một cái lều rồi hôn nhau thật lâu, quấn chặt như một chiếc kén, ấm áp và cách biệt với phần còn lại của thế giới. Thế rồi, thậm chí không hề biết trước rằng mình sẽ làm thế, tôi cởi áo khoác và áo cánh ra, rồi nằm xuống cạnh anh, không bận tâm đến chiếc áo vét len của anh cọ lên làn da trần của mình hay cái cách anh lùi lại để nhìn tôi.
Tôi không thấy xấu hổ hay trần trụi như tôi từng tưởng. Ánh mắt anh dịu dàng và bàn tay anh cũng thế. Chúng đặt lên ngực tôi và tôi sửng sốt trước nguồn điện lan khắp người tôi mà sự động chạm của anh mang lại. Tôi uốn cong người về phía cơ thể anh theo phản xạ, và sau đó mọi thứ diễn ra rất nhanh, tay tôi khẩn thiết tìm tay anh, miệng anh trên mí mắt tôi, trên cổ tôi, ở khắp mọi nơi cùng một lúc. Cảm giác ấy hoàn toàn mới mẻ, nhưng không hiểu sao rất tự nhiên và đúng đắn, cho dù có đau đớn.
Khi tôi còn là một thiếu niên mới lớn, mẹ có một bài báo được in trên tờ Cộng hòa mới nói rằng một người vợ mà thích hoạt động tình dục thì chẳng hơn gì một ả điếm. Sự phục tùng là cần thiết để còn có con cái, dĩ nhiên rồi, nhưng mục tiêu cuối cùng của phụ nữ chỉ có thể là tình trạng độc thân nghiêm ngặt và sung sướng mà thôi. Tôi đã không biết phải nghĩ gì hay trông đợi gì vào tình dục, ngoài sự khó chịu. Khi lớn hơn và hiếu kỳ hơn, tôi lướt qua những đoạn trích tác phẩm Tâm lý học tình dục của Havelock Ellis trong cuốn Tuần san văn học của Roland để có những thông tin cần thiết. Nhưng có những chuyện tôi gặp khó khăn khi nghĩ cụ thể hơn — giả dụ như hai cơ thể sẽ gặp nhau ở đâu, và cảm giác đó thực sự như thế nào. Không hiểu do tôi bị kìm nén hay vì tôi quá ngu dốt, nhưng trong trí tưởng tượng của tôi về đêm tân hôn, Ernest sẽ bế tôi băng qua một bậc thềm rắc hoa và chiếc váy cưới trắng biến mất. Rồi, sau một cuộc giằng co mơ hồ ngọt ngào thế nào đó, tôi đã thành đàn bà.
Trên sân thượng hôm đó, mọi bức màn bí ẩn biến mất, và khi không còn chút mẩu hoang tưởng mờ mịt nào sót lại trong mình, tôi nghĩ điều khiến tôi ngạc nhiên nhất là khao khát của chính tôi, tôi đã sẵn sàng đón nhận anh biết bao, sự trần tục tuyệt đối của da thịt và thân nhiệt. Tôi muốn anh, và không gì — kể cả sự va quệt vụng về của đầu gối và cùi chỏ khi chúng tôi cố sát lại nhau hơn, kể cả cảm giác nhói buốt khi anh đi vào trong tôi — có thể thay đổi điều đó. Khi toàn bộ sức nặng của anh đè lên tôi, và qua những lần chăn tôi có thể cảm nhận mọi đường nét lồi lõm của mái nhà dưới lưng và hông mình, tôi chợt cảm nhận những khoảnh khắc hạnh phúc nguyên sơ dâng tràn mà tôi biết mình sẽ không bao giờ quên. Như thể chúng tôi ép vào nhau cho đến khi xương anh xuyên qua xương tôi và hai chúng tôi nhập làm một, nhanh chóng hơn bao giờ hết.
Sau đó, chúng tôi nằm ngửa trên chăn và ngắm những vì sao đang tỏa sáng rực rỡ ở khắp nơi trên đầu.
“Anh có cảm giác như anh là thú cưng của em vậy,” anh cất lời, giọng anh mềm và ấm. “Em cũng là thú cưng của anh nữa, ả mèo nhỏ xinh hoàn hảo của anh ạ.”
“Có bao giờ anh nghĩ chuyện sẽ như thế này không? Cái cách chúng ta đến với nhau ấy?”
“Anh có thể làm bất cứ chuyện gì nếu có em ở bên,” anh nói. “Anh nghĩ mình có thể viết sách. Ý anh là, anh muốn viết, nhưng vấn đề ở chỗ việc đó có thể trở nên ngớ ngẩn hoặc vô ích.”
“Dĩ nhiên là anh có thể làm được, và cuốn sách sẽ rất tuyệt. Em chắc chắn đấy. Trẻ trung và tươi mát và mạnh mẽ giống hệt như anh vậy. Nó sẽ là chính anh.”
“Anh muốn nhân vật của anh sẽ giống chúng ta, chỉ là những con người cố sống đơn giản và nói những điều họ thật sự nghĩ.”
“Chúng ta nói những gì mình nghĩ, nhưng việc đó rất khó phải không? Có lẽ là việc khó nhất trên đời, khi là người thực sự thành thật ấy.”
“Kenley nói chúng ta vội vàng quá. Cậu ấy không hiểu tại sao anh lại muốn đi theo hướng hôn nhân trong khi cuộc sống độc thân hợp với anh đến vậy.”
“Cậu ấy có quyền nghĩ thế mà.”
“Ừ, nhưng không chỉ có cậu ấy. Sừng Nhi lo là anh sẽ làm hỏng sự nghiệp của mình mất. Jim Gamble thì nghĩ anh sẽ quên toàn bộ mục đích của việc đến Italie một khi chúng ta ràng buộc với nhau. Còn Kate thì chẳng nói chuyện với ai trong hai ta.”
“Thôi làm ơn đừng mang cô ấy ra đây anh. Không phải lúc này.”
“Được rồi,” anh nói. “Anh chỉ muốn nói rằng dường như không ai hiểu được rằng anh cần điều này. Anh cần em.”
Rồi anh ngồi thẳng dậy và nhìn vào mặt tôi đến khi tôi nghĩ mình sắp tan ra trong cái nhìn ấy mất.
“Anh hy vọng mình sẽ may mắn được sống đến đầu bạc răng long với nhau. Ta thấy họ trên phố, những đôi vợ chống đã lấy nhau quá lâu đến nỗi ta không thể phân biệt được ai là ai ấy. Cảm giác đó sẽ thế nào nhỉ?”
“Em rất muốn trông mình giống anh,” tôi nói. “Em rất muốn được là anh.”
Tôi chưa từng nói điều gì thành thực hơn thế. Cái đêm hôm ấy tôi sẽ rất vui lòng trèo ra khỏi lớp da của mình mà chui vào dưới lớp da anh, vì tôi tin rằng đó là ý nghĩa của tình yêu. Chẳng phải tôi vừa cảm thấy hai chúng tôi nhập vào nhau cho đến khi không còn gì khác biệt nữa đấy sao?
Khám phá ra sự lầm lạc của lối suy nghĩ này rồi đây sẽ là bài học khó khăn nhất trong cuộc hôn nhân của tôi. Tôi không thể chạm tới mọi phần của Ernest và anh cũng không muốn tôi làm vậy. Anh cần tôi khiến anh thấy an toàn và được ủng hộ, đúng thế, cùng lý do vì sao tôi cần anh. Nhưng anh cũng muốn mình có thể biến mất vào công việc, tránh xa tôi. Và quay trở lại khi nào anh thích.
CHÍN
Ernest thả người lơ lửng trên mặt hồ rồi lao xuống. Khi nổi lại lên mặt nước, anh bơi đứng và quay mặt về phía cầu tàu nơi Dutch và Luam đang ngồi chuyền tay qua lại chai rượu rẻ tiền, giọng họ vang rõ trên mặt nước.
"Dáng đẹp đấy Wem," Dutch hét lớn. "Cậu dạy tớ lặn như thế được không?"
"Không," anh hét lại. "Tớ không biết dạy ai bất cứ cái gì đâu.”
“Có cần phải ki bo vậy không hả?” Dutch khịt mũi nói, nhưng Ernest không thấy muốn trả lời, vậy nên anh cuộn tròn lại như một hòn đá rồi để mình chìm xuống, rơi xuyên qua hồ cho đến khi đâm đầu vào đáy hồ rêu phủ và thả trôi mình ở đó, những ngón chân chạm vào rêu có cảm giác mát lạnh và là lạ.
Có phải mới mùa hè năm ngoái thôi Kate và Edgar còn ngồi trên cầu tàu ăn anh đào vặt trộm và phun đám hột vẫn còn dính thịt quả vào anh khi anh bập bềnh gần đó? Kate.
Katy yêu dấu với đôi mắt xanh màu mắt mèo và cặp chân dài mượt mà đến tận khung xương sườn. Một đêm nọ nàng đã nói, "Cậu là bác sĩ, khám cho tôi đi,” và anh đã làm theo, hai tay anh đếm từng chiếc xương sườn, lần theo đường cong quanh cột sống của nàng. Nàng không chùn bước, thậm chí không cười. Khi anh lần đến ngực nàng, nàng kéo chiếc áo tắm xuống trong lúc vẫn nhìn anh. Tay anh ngừng chuyển động, anh cố gắng thở..
"Cậu đang nghĩ gì thế Wemedge?”
"Không có gì,” anh nói, cố giữ cho giọng mình bình tĩnh. Núm vú của nàng thật hoàn hảo, anh muốn đặt tay lên, rồi đặt miệng mình lên đó. Anh muốn thả mình rơi xuyên qua Kate như cách anh hay thả mình xuyên qua lòng hồ, nhưng có những tiếng nói vọng lại từ con đường cát dẫn về phía họ. Kate chỉnh đốn lại bộ áo tắm. Anh nhanh chóng đứng dậy và lao xuống nước, cảm giác như nước đang thiêu cháy mình từ đầu đến chân.
Lúc này Kate đang ở cách chỉ hơn một dặm trên cùng con đường này, trong nhà dì Charles của nàng cùng Hadley, cả hai người ở cùng một phòng trên hai chiếc giường nhỏ thơm mùi nấm mốc sương. Anh biết rõ căn phòng ấy cũng như tất cả các phòng trong ngôi nhà đó, nhưng anh thấy thật khó hình dung ra Hadley ở đó hay ở bất cứ nơi nào anh biết rõ. Hồi nhỏ, anh đã học cách bước trên những bờ dốc lốm đốm cỏ phía trước hồ Windermere. Và đó mới chỉ là khởi đầu thôi. Anh đã học được mọi điều đáng học ở nơi đây, cách bắt và đánh vảy và moi ruột cá, cách giữ một con thú dù còn sống hay đã chết, cách đánh đá tạo lửa và di chuyển không tiếng động qua rừng. Cách lắng nghe. Cách ghi nhớ mọi thứ quan trọng để có thể giữ bên mình và dùng đến khi cần.Nơi này chưa một lần nào làm anh thất vọng, nhưng anh thấy hơi lạc lõng khi ở đây tối nay. Ngày mai, lúc bốn giờ chiều, anh và Hadley sẽ kết hôn trong nhà thờ Hội Giám lý trên phố Lake. Anh thấy lòng trào dâng một nỗi hoảng hốt trước việc ấy, như thể anh là con cá đang quẫy đập trong lưới căng, đấu tranh một cách bản năng. Không phải lỗi của Hadley. Kết hôn tất tần tật đều là ý tưởng của anh, nhưng anh đã không nói cho cô hay rằng anh sợ nó đến thế nào. Dù sao thì có vẻ như anh cần phải dẹp nỗi sợ đi để bước qua nó thôi, như anh đã làm với mọi việc khiến anh sợ chết khiếp. Anh sợ hôn nhân và anh cũng sợ phải ở một mình nữa.
Nổi lên từ đáy hồ mát lạnh vào đêm trước lễ cưới, anh thấy thật khó để không quay lưng lại với Hadley hay không cảm thấy mỗi lúc một hoang mang. Anh yêu cô. Cô không làm anh sợ như Kate hay thách anh chạm vào cô với cặp mắt xanh sáng lên trong bóng tối cùng câu nói, "Làm tới đi nào, cậu sợ gì hả Wemedge?” Với Hadley, gần như lúc nào anh cũng cảm thấy mọi điều đều có vẻ đúng đắn. Cô tốt bụng và mạnh mẽ và thật lòng, và anh có thể tin cậy nơi cô. Họ có nhiều cơ hội thành công trong hôn nhân như bất cứ ai khác, nhưng biết đâu hôn nhân không giải quyết được điều gì và không cứu giúp được ai dù chỉ là chút ít? Lúc ấy chuyện gì sẽ xảy ra?
Giờ khi đã nổi lên mặt nước, anh lại nghe thấy tiếng Dutch và Luman tán chuyện về những thứ ngu ngốc mà anh chẳng hiểu một chút nào cả. Nước chảy trên da anh có cảm giác nhạt nhẽo và man mát, vừa níu giữ anh vừa buông thả anh. Anh ngước lên nhìn xoáy đen kịt trên bầu trời và hít đúng một hơi thật sâu đầy căng phổi, rồi anh khỏa chân thật mạnh hướng về phía cầu tàu.
Paula McLain
Dịch giả: Trang Hải
Nguyên tác : The Paris Wife
Nhà xuất bản TRẺ
Điều quan trọng không phải những gì nước Pháp đem lại cho ta, mà chính là những gì đã không bị tước mất.- GERTRUDE STEINKhông một điều nào là đúng. Tất cả đều đúng.- ERNEST HEMINGWAY
BỐN
1904, năm tôi mười ba, St. Louis là chủ nhà của Triển lãm Trao đổi Louisana, hay chính là Hội chợ Thế giới nổi tiếng. Diện tích hội chợ trải khắp một nghìn hai trăm mẫu trong và bao quanh công viên Forest cùng Đại học Washington, có bảy mươi lăm dặm lối đi và đường lộ nối các tòa nhà, chuồng trại và lều rạp với nhau. Nhiều phần các kiến trúc này đều bằng thạch cao dựng trên khung gỗ, xây lên chỉ để tồn tại trong vài tháng, nhưng trông chúng chẳng khác nào các cung điện tráng lệ theo phong cách tân cổ điển. Viên ngọc quý trên vương miện năm đó, Cung điện Mỹ thuật, kiêu hãnh trưng ra một khu vườn điêu khắc bắt chước phong cách Nhà tắm Caracalla ở Rome. Có các đầm phá nơi ta có thể chèo thuyền khỏa nước, các thác nước nhân tạo khổng lồ, các khu vườn xây trũng xuống, sở thú đầy những con vật lạ và cả “sở người” với nào người lùn, người nguyên thủy, nào con gái mọc râu và con trai ngu độn. Dọc theo Xa Lộ, hàng trăm khu vui chơi giải trí và quầy ăn uống làm người qua kẻ lại mê mệt. Tôi được ăn chiếc kem ốc quế đầu tiên ở đó và cứ mãi sửng sốt làm sao mà khối trụ ngọt ngào đó không lạnh lẽo trong tay tôi. Vị kem dâu bên trong cũng có vẻ khác nữa. Ngon hơn. Đó có lẽ là thứ ngon nhất tôi từng được ăn.
Hôm đó chị Fonnie cũng đi Xa Lộ với tôi, nhưng chị không muốn ăn kem. Chị cũng chẳng muốn kẹo bông hay bỏng ngô hay trà đá hay bất cứ đồ ăn thức uống mới lạ nào khác, chị chỉ muốn về nhà nơi mẹ chúng tôi đang chuẩn bị chủ trì cuộc họp hằng tuần của phụ nữ đòi quyền bầu cử. Với tôi đám các bà các cô ấy luôn có vẻ buồn thảm. Nghe họ nói chuyện ta sẽ tưởng như hôn nhân là điều khủng khiếp nhất từng xảy đến với giới nữ. Mẹ tôi luôn là nhân vật lớn tiếng và hùng hồn nhất trong phòng, bà gật đầu đầy vẻ dứt khoát trong lúc chị Fonnie chuyển những đĩa bánh uống trà và sandwich kẹp cải xoong ra, cố hết sức để làm tất cả mọi người hài lòng.
“Nửa tiếng nữa thôi,” tôi cố gắng mặc cả với Fonnie. “Chị không muốn xem Lâu đài Điện sao?”
“Em cứ ở lại nếu thích. Chị ngạc nhiên là em thấy vui được đấy.” Rồi chị hối hả biến mất vào đám đông.
Tôi đang vui, hay có lẽ là đã vui cho đến lúc chị nhắc cho tôi nhớ rằng đáng lẽ tôi nên buồn mới phải. Có lẽ tôi thật ích kỷ khi muốn ở lại hít hà mùi bỏng ngô hay nghe lừa kêu be be từ khu chuồng trại. Nhưng đang là tháng Tư và anh đào quanh các đầm phá đang nở rộ. Tôi có thể nhắm mắt lại mà lắng nghe tiếng các đài phun nước. Tôi có thể mở mắt ra mà tưởng tượng mình đang ở Rome hay Versailles. Bóng Fonnie nhỏ dần trong đám đông, chiếc váy sẫm màu của chị vấy một sắc màu phóng túng. Tôi muốn mình cứ mặc kệ chị bỏ đi mà không phải bận tâm chị nghĩ gì về tôi hay chị sẽ nói gì với mẹ, nhưng tôi không thể. Tôi chán nản nhìn chiếc kem ốc quế của mình lần cuối rồi vứt vào thùng rác trong lúc lóc cóc chạy theo chị về nhà, nơi các bức rèm kéo kín và ánh sáng bị chặn lại, đã như thế được một thời gian rồi. Chúng tôi đang trong thời kỳ để tang. Cha tôi mới qua đời được hai tháng.
Chúng tôi là một gia đình thuộc giới tinh hoa, với dòng giống Pilgrim ở cả hai bên nội ngoại và rất nhiều cung cách từ thời Victoria giữ cho mọi thứ an toàn và đáng tin. Ông nội tôi sáng lập Thư viện Công cộng St. Louis và Công ty Dược phẩm Richardson, sau này trở thành nhà thuốc lớn nhất phía bờ Tây sông Mississippi. Ông ngoại tôi là giáo viên, người dựng nên Học viện Hillsboro bang Illinois rồi sau này là một trường trung học tư ở St. Louis. Chị Fonnie và tôi được đi học ở những trường tốt nhất, mặc váy xanh hải quân xếp nếp sắc như dao. Chúng tôi ngồi học đàn trước một trong hai cây đại dương cầm hiệu Steinway của hai đứa, đi nghỉ hè ở nhà nghỉ riêng trên bãi biển Ipswich bang Massachusetts. Mọi thứ đều tốt đẹp ổn thỏa cho đến khi không còn như thế nữa.
Cha tôi, James Richardson, là người điều hành công ty dược phẩm của gia đình. Ông đi làm lúc sáng sớm, đội mũ quả dưa và đeo cà vạt đen sực mùi kem cạo râu, mùi cà phê, và, ngay bên dưới, còn thoảng hương whisky. Ông nhét một chiếc chai bẹt trong bộ com lê. Cả nhà đều biết có một chai khác nhét trong ngăn kéo bàn làm việc của cha ở thư phòng, ông khóa cái ngăn ấy lại bằng một chiếc chìa bạc nhỏ xíu. Và một chai khác nữa ẩn mình chờ đợi dưới đống lọ nhồi chặt trái cây hầm trong chạn mà chị bếp Martha vờ như không thấy. Ông cố làm sao để thường xuyên vắng nhà, còn khi ở nhà thì ông lặng lẽ và lơ đãng. Nhưng ông cũng rất tốt bụng. Mẹ tôi, Florence, thì đối ngược hoàn toàn với cha — chỉnh tề từ nếp gấp đến ghim cài và đầy những lời khuyên cùng phán xét. Có lẽ cha tôi quá yếu mềm và nhu nhược khi ở bên bà nên ông có xu hướng thích lui về thư phòng hoặc đi khỏi nhà hơn là phải đối mặt với bà về bất cứ chuyện gì, nhưng việc này tôi không trách ông.
Mẹ tôi luôn yêu chị Fonnie hơn, chị hơn tôi hai mươi hai tháng tuổi. Chúng tôi có một người anh, Jamie, anh xa nhà học đại học trước cả khi tôi vào mẫu giáo, rồi chị Dorothea, hơn tôi mười một tuổi nhưng lại rất thương tôi, chị kết hôn khi còn trẻ và sống cùng anh chồng Dudley ở gần đấy. Vì xấp xỉ tuổi nhau nên hồi nhỏ Fonnie là người bầu bạn chủ yếu với tôi, nhưng chúng tôi khác nhau một trời một vực. Chị vâng lời, dễ uốn nắn và ngoan ngoãn theo cái cách mẹ tôi dễ dàng hiểu được và khen ngợi. Tôi thì bốc đồng, nói nhiều và tò mò về mọi thứ - quá hiếu kỳ so với ý thích của mẹ. Tôi thích ngồi cuối lối xe chạy vào nhà chúng tôi, tì cùi chỏ lên đầu gối mà ngắm xe cộ hối hả qua lại dọc theo trung tâm đại lộ, lòng băn khoăn về những người đàn ông đàn bà ngồi trong đó, họ đang đi đâu, họ đang nghĩ gì, và liệu họ có để ý thấy tôi ngồi đó quan sát họ không. Lúc ấy mẹ thường gọi tôi về nhà rồi tống tôi lên phòng trẻ, nhưng ở đó tôi cũng chỉ chằm chằm nhìn ra ngoài cửa sổ mà trầm ngâm mơ mộng.
“Không hiểu con hợp được với cái gì nữa?” mẹ hay nói vậy. “Đầu óc con lúc nào cũng như ở trên mây.”
Một câu hỏi chính đáng đấy chứ, tôi nghĩ vậy. Mẹ lo cho tôi vì mẹ chẳng hiểu tôi chút nào. Thế rồi xảy ra một chuyện khủng khiếp. Khi lên sáu, tôi thậm chí còn mơ mộng vượt ra ngoài khung cửa sổ nữa.
Hôm đó là một ngày xuân, tôi nghỉ học ở nhà vì bị ốm. Khi tôi đã chán ngấy phòng trẻ, một việc thường xuyên nhanh chóng xảy ra, tôi bắt đầu quan sát chú Mike, người chuyên làm việc vặt cho nhà tôi, đẩy xe cút kít qua sân. Tôi thích chú Mike điên lên vì thấy chú thú vị hơn bất cứ ai trong gia đình tôi hàng vạn lần. Móng tay chú vuông và cụt ngủn. Chú huýt sáo véo von và mang theo trong túi quần một chiếc khăn tay màu xanh nhạt.
“Chú đang làm gì thế hở chú Mike?” tôi hét ra ngoài cửa sổ phòng trẻ, đầu thò qua bệ cửa để nhìn chú rõ hơn.
Chú ngước lên đúng lúc tôi mất thăng bằng và ngã đánh bịch xuống nền lát đá bên dưới.
Tôi nằm liệt giường suốt mấy tháng ròng trong khi các bác sĩ đều tự hỏi không biết tôi có đi lại được nữa không. Tôi bình phục một cách chậm chạp, và khi đã hồi phục rồi thì mẹ mua một cái xe đẩy trẻ con được thiết kế riêng cho tôi. Mẹ thích đẩy tôi đi quanh khu phố, dừng lại ở mọi nhà hàng xóm để họ có thể thốt lên thán phục thật kỳ diệu làm sao khi tôi vẫn còn sống.
“Hadley tội nghiệp,” mẹ nói. “Con gà mái tội nghiệp.” Bà nói câu ấy hết lần này đến lần khác, cho đến khi những từ ngữ đó khâu chặt vào não tôi, thế chỗ bất kỳ miêu tả nào khác về tôi cũng như mọi kết quả có thể xảy ra khác. Tôi có khỏi hoàn toàn và học cách đi không khập khễng cũng chẳng quan trọng. Thể trạng của tôi trở thành mối lo lớn của cả nhà và cứ mãi như thế. Thậm chí cả tiếng sụt sịt nhỏ nhất rồi cũng sẽ làm tổn thương tôi sâu sắc hơn, cả nhà tôi nghĩ vậy. Tôi không được học bơi, không được chạy và chơi trong công viên như chúng bạn. Thay vì thế tôi đọc sách, chui vào cái ghế kê ở hốc cửa sổ trong phòng khách, bao quanh là những vòng xoáy của kính ố bẩn và nếp rèm màu vang đỏ. Sau một thời gian như thế thì tôi ngừng tranh đấu chống lại phương thuốc im lặng được gia đình tôi kê đơn, thậm chí bỏ cuộc cả trong tâm trí. Các cuốn sách có thể là một cuộc phiêu lưu tuyệt diệu. Tôi chui trong chăn và hiếm khi đi đâu, nhưng chẳng ai đoán được tâm trí tôi đang chạy đua nhanh ra sao và trái tim tôi cất cánh thế nào cùng các câu chuyện. Tôi có thể đến rồi đi khỏi bất cứ thế giới nào mà không ai hay biết, trong khi mẹ tôi quát tháo ra lệnh cho người làm hay làm trò cho các bà bạn cau có nơi tiền sảnh.
Hồi cha còn sống, tôi thường quan sát ông về nhà trong lúc đám phụ nữ vẫn đang tụ tập. Nghe thấy tiếng họ là ông dừng sững lại rồi tháo lui, lẩn ra cửa. Cha đi đâu thế nhỉ? tôi tự hỏi. Cha tôi đã phải đi bộ bao xa và nốc bao nhiêu whisky để làm giọng mẹ trong đầu ông im tiếng? Liệu cha còn nhớ ông đã từng yêu cái xe đạp của ông đến thế nào không? Tôi thì nhớ lắm. Có một dạo ông thường vui vẻ đạp xe đi bất cứ nơi nào ở St. Louis, ông chọn chiếc xe đạp trong bao nhiêu phương tiện vận chuyển khác có lẽ bởi vì sự tự do mà nó mang lại. Có lần ông buộc một chiếc xe cút kít ở đuôi xe đạp rồi chở chị Fonnie và tôi đi dọc theo những lối mòn trong công viên Forest, vừa đạp vừa hát “Waltzing Matilda.” Ông có chất giọng nam trung tuyệt đẹp, và khi những câu hát trôi về phía hai đứa nhóc ngồi xe cút kít chúng tôi vào cái ngày hôm ấy, tôi cảm thấy niềm hạnh phúc của ông thật và lạ đến nỗi tôi sợ không dám nhúc nhích gì, chỉ e làm nó giật mình tan biến mất.
Đó là một buổi sáng giá lạnh tháng Hai, một tiếng súng nổ duy nhất vang khắp căn nhà. Mẹ nghe thấy đầu tiên và lập tức hiểu chuyện gì vừa xảy ra. Bà không dám nghĩ đến từ tự sát, thế thì quá thường và quá khủng khiếp, nhưng dù sao một phần trong bà vẫn chuẩn bị đón nhận chuyện đó. Ở nhà dưới, đằng sau cánh cửa thư phòng khóa chặt, bà thấy cha tôi nằm giữa một vũng máu trên thảm, sọ ông vỡ toác.
Tiếng động từ cái chết của cha tôi vẫn vang vọng khắp nhà trong suốt nhiều tuần sau đó. Chúng tôi hiểu ra rằng ông vừa mất hàng chục nghìn đô la ở thị trường chứng khoán, rằng ông đi vay thêm và lại mất sạch số tiền đó nữa. Chúng tôi vốn đã biết ông uống rượu nhưng lại không biết ông còn uống kinh hơn trong những tuần cuối đời, do bị quấy rầy bởi những cơn đau đầu nhói buốt khiến ông không ngủ được.Sau khi cha qua đời, mẹ tôi ở rịt trong phòng, khóc lóc, hoang mang và nhìn chằm chằm vào tấm rèm kéo kín trong lúc những người làm tiếp quản căn nhà. Tôi chưa từng thấy nhà tôi hỗn loạn đến thế bao giờ và chẳng biết phải làm gì để giải quyết chuyện ấy ngoài việc chơi những bản dạ khúc của Chopin và khóc thương cha tôi, lòng thầm ước giá mình hiểu cha hơn.
Cửa vào thư phòng của cha đóng chặt trong một thời gian, nhưng không khóa. Thảm đã giặt nhưng không được thay, khẩu súng lục được dốc hết đạn, được đánh bóng rồi đặt lại chỗ cũ trong bàn làm việc của ông — những chi tiết ấy quá kinh khủng đến nỗi tôi không tài nào không bị chúng lôi cuốn. Hết lần này đến lần khác, tôi tưởng tượng ra giây phút cuối đời ông. Ông hẳn đã cảm thấy cô đơn ra sao, cảm thấy chết chóc và vô vọng đến thế nào, nếu không thì ông đã chẳng thể hành động, chẳng thể đưa họng súng lên và bóp cò.
Tâm trạng tôi ngày càng tệ đến độ gia đình bắt đầu lo lắng tôi có thể tự làm mình đau. Ai cũng biết rằng con cái của những người tự sát sẽ có nguy cơ đi lại con đường ấy lớn hơn. Liệu tôi có giống cha tôi không? Tôi không biết, nhưng tôi đã thừa hưởng chứng đau nửa đầu của ông mất rồi. Mỗi cơn đau giống như một sự trừng phạt khủng khiếp của Chúa với sức ép, cơn buồn nôn cùng tiếng gõ thùm thụp đều đều dai dẳng từ đáy hộp sọ trong lúc tôi nằm bất động hoàn toàn trong căn phòng thiếu không khí. Nếu tôi nằm đó đủ lâu, mẹ sẽ bước vào, vỗ về tay tôi và dém chăn quanh chân tôi, miệng nói, “Con thật là một cô gái ngoan, Hadley à.”
Tôi không thể không để ý thấy mẹ đối xử với tôi nồng ấm hơn khi tôi ốm, vậy nên chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi tôi thường xuyên bị bệnh, hoặc nghĩ là mình bị bệnh. Năm lớp mười một, mười hai, tôi nghỉ học nhiều đến nỗi buộc phải ở lại một năm trong khi tất cả các cô bạn khác đều đi học đại học mà không có tôi. Cảm giác ấy giống như nhìn một đoàn tàu rời ga đến một nơi xa xôi kỳ thú nào đó mà mình lại không có vé và cũng chẳng có cách gì để mua được một cái. Khi thư từ bắt đầu đổ về từ Barnard và Smith và Mount Holyoke, tôi bỗng thấy ghen tị đến phát ốm lên với niềm hứng khởi và lời hứa hẹn của các bạn tôi.
“Con muốn xin vào học ở Bryn Mawr,” tôi bảo mẹ. Em gái mẹ, dì Mary, sống ở Philadelphia, thành thử tôi nghĩ có một người họ hàng gần bên sẽ làm mẹ tôi dễ bằng lòng hơn.
“Ôi Hadley. Sao con cứ khăng khăng làm những việc quá khả năng của mình thế' hả? Thực tế một chút đi.”
Chị Fonnie bước vào phòng ngồi cạnh mẹ. “Thế còn những cơn đau đầu của em thì sao?” chị hỏi.
“Em sẽ không sao đâu mà.”
Lông mày Fonnie nhăn tít lại.
“Dì Mary có thể lo cho con nếu có gì xảy ra. Mẹ biết dì tháo vát thế nào mà.” Tôi đặc biệt nhấn mạnh từ tháo vát vì mẹ tôi thích và thường bị thuyết phục bởi nét tính cách ấy. Nhưng lần này bà chỉ thở dài mà nói sẽ nghiêm túc suy nghĩ về điều đó, đồng nghĩa với việc vấn đề sẽ được mang ra bàn với bà Curran hàng xóm cùng cái bảng bói toán Ouija(*).
(*) Bảng bói toán gồm những mẫu tự, khi người xem bói đặt tay lên mũi tên trên bảng và đặt câu hỏi, mũi tên sẽ di chuyển đến từng chữ cái và chữ số để trả lời câu hỏi đó. (ND)
Từ lâu mẹ tôi đã rất quan tâm đến các vấn đề huyền bí. Thi thoảng một buổi gọi hồn lại được tổ chức ở nhà chúng tôi, nhưng đa phần chúng diễn ra ở nhà bà Curran cuối phố. Theo lời mẹ tôi thì bà ấy là người đọc thông hiểu rộng về những vấn đề siêu nhiên và có mối liên kết rất quen thuộc và thuyết phục với tấm bảng bói toán. Tôi không được mời tham gia phiên gọi hồn đó, nhưng khi trở về từ nhà bà Curran, mẹ thông báo rốt cuộc tôi cũng được đi học ở Bryn Mawr, và rằng rồi mọi chuyện sẽ tốt đẹp thôi.
Về sau tôi buộc phải tự vấn về lời tiên tri của bà Curran vì có vẻ như nó rành rành là sai đối với tôi. Tôi đi học thật, vào năm 1911, nhưng toàn bộ cuộc dấn thân ấy đã kết thúc bi đát trước cả khi nó bắt đầu. Mùa hè trước khi tôi đi Bryn Mawr học, chị Dorothea bị bỏng nặng trong một đám cháy. Dù chị đã thoát ly khỏi gia đình trong những năm tôi lớn lên, Dorothea vẫn luôn là người ủng hộ tôi nhất nhà, tôi có cảm giác như chị hiểu tôi theo cái cách không ai khác hiểu hoặc muốn hiểu. Khi mọi thứ ở nhà trở nên quá ngột ngạt và kìm kẹp, tôi lại đi bộ tới nhà chị, ngắm hai cậu con trai nhỏ của chị vật nhau quanh mẹ, lòng thấy bình tĩnh và vẹn nguyên trở lại.
Mùa hè năm ấy chị Dorothea đang mang thai những tháng cuối. Phần lớn thời gian chị ở nhà một mình với hai đứa nhóc, một chiều nọ ba mẹ con đi ra hiên trước thì thấy một đám lửa đã bốc lên trên đống lốp cao su trong khoảnh đất không người ở cạnh nhà. Hai đứa nhóc hiếu kỳ đứng nhìn, nhưng Dorothea sợ đống lửa sẽ lan sang vườn nhà mình. Chị chạy qua đó cố dậm chân dập lửa, nhưng bộ kimono mùa hè dài thượt của chị đã nhanh chóng bắt lửa. Cả tất của chị cũng cháy, làm chị bị bỏng nặng đến tận eo trước khi chị ngã xuống lăn trên mặt đất khiến lửa tắt ngúm.
Khi anh Dudley chồng chị gọi điện báo tin, chúng tôi đang đi nghỉ ở ngôi nhà trên vịnh Ipswich. Cả nhà lo cho Dorothea đến phát ốm, nhưng anh Dudley trấn an rằng chị đang hưởng sự chăm sóc tốt nhất trong bệnh viện. Chị không sốt, và các bác sĩ tin rằng chị sẽ sớm bình phục hoàn toàn thôi. Đến hôm sau thì chị sinh ra một bé gái chết yểu. Cả Dorothea và Dudley đều đau đớn, nhưng các bác sĩ vẫn khẳng định rằng chị sẽ sống. Họ cứ nói mãi như thế cho đến khi chị ra đi, tám ngày sau vụ cháy. Mẹ tôi đón tàu về dự lễ tang, nhưng những người còn lại thì vẫn ở Ipswich, lòng tan nát và tinh thần tê liệt.
Tôi vẫn còn nhớ cảm giác của mình khi ấy, rằng có lẽ tôi không sống được khi mất Dorothea, rằng có lẽ tôi không muốn sống. Mẹ trở về từ St. Louis mang theo Dudley cùng hai đứa nhóc. Chúng bước xuống tàu với vẻ mặt đau khổ, và tôi làm được gì để an ủi chúng đây? Chúng không còn mẹ nữa rồi, tôi thấy mình cứ nghĩ đi nghĩ lại như thế.
Một chiều nọ, không lâu sau đám tang, một cơn bão khủng khiếp đổ bộ vào vịnh Ipswich, và tôi bảo một cậu ở căn nhà nghỉ hàng xóm chèo thuyền đưa tôi ra biển. Sóng quật vào mái chèo, tràn vào hai bên thành và quất vào mặt chúng tôi đau nhói. Tôi thậm chí còn không biết bơi, nhưng cậu ta không quay lại, kể cả khi người trực cột hải đăng đã đánh tín hiệu yêu cầu chúng tôi đi vào. Mây sà xuống thấp trông rất đáng sợ, không khí nặng hơi nước và muối. Suốt quãng thời gian đó tôi có cảm giác như mình đang chết đuối, hết lần này đến lần khác. Ngay cả khi hôm đó cuối cùng chúng tôi cũng chèo được vào bờ, cái cảm giác mình vẫn còn dưới vịnh, chìm xuống mỗi lúc một sâu hơn, vẫn bám riết lấy tôi suốt những ngày hè còn lại và rất lâu sau đó.
Vào tháng Chín tôi lên tàu tới Bryn Mawr theo kế hoạch, nhưng các bạn học của tôi dường như đang chạy theo một nhịp sống khác. Các cô gái trong ký túc tôi ở ngồi cả chiều trong phòng khách uống trà và sôcôla nóng sủi tăm, tán chuyện về khiêu vũ tập thể và những kẻ tiềm năng bị họ chinh phục. Tôi thấy mình đến là lạc lõng. Tôi vẫn biết mình là đứa xinh xắn, với mái tóc đỏ rực, mắt đẹp và da trắng — nhưng lúc này tôi dường như không muốn bận tâm xem đám con trai có để ý mình hay không. Tôi ngừng quan tâm đến quần áo và cả việc học nữa. Tôi bắt đầu thi trượt suốt, một việc khiến tôi thấy ngạc nhiên và khó chấp nhận, bởi vì, bất chấp nghỉ học nhiều đến phát sợ, trước đến giờ tôi vẫn luôn là học sinh giỏi. Giờ thì tôi thấy mình không tài nào tập trung hay chú ý được gì, thậm chí cả mối quan tâm cũng không.Mùa thu năm sau, tôi để mẹ và chị Fonnie thuyết phục mình ở nhà. Tôi không thể nói là ở trường thì sẽ tốt cho tôi hơn. Ở nhà, tôi chẳng biết đi đâu để lẩn trốn những suy nghĩ u ám của mình. Tôi không ngủ được, và khi ngủ, tôi mơ những giấc mơ kinh hoàng ám ảnh về Dorothea và cha tôi, tái hiện những giây phút khủng khiếp cuối đời họ. Tôi choàng tỉnh trong cơn hoảng sợ để đối mặt với lời hứa hẹn về những ngày đêm tương tự không một niềm vui nào đón đợi. Và nếu tôi nói rằng mình đã ở trong tình trạng như thể hôn mê suốt tám năm sau đó, chắc mọi người sẽ hiểu tại sao tôi lại sẵn sàng để sống vào cái lúc mẹ tôi bắt đầu chết dần.
Mẹ tôi bị viêm thận mãn tính đã nhiều năm rồi, nhưng bệnh trạng nhanh chóng diễn biến xấu đi vào mùa hè năm 1920. Trong suốt những tuần nóng nhất tháng Bảy tháng Tám, tôi gần như không bước chân khỏi căn hộ trên gác, và vào những dịp hiếm hoi tôi đi ra ngoài thì bà lo lắng mãi không thôi.
“Elizabeth? Con đấy phải không?” Bà yếu ớt gọi ngay khi nghe thấy tiếng tôi trên cầu thang. Tôi không chắc tại sao bà lại dùng tên rửa tội để gọi tôi sau từng ấy năm, nhưng hồi đó có nhiều điều về bà làm tôi thấy khó hiểu lắm. Bà chẳng giống người đàn bà thép khó tính luôn có khả năng làm tôi cụt hứng chỉ cần bằng một từ. Bà trở nên yếu đuối và bồn chồn, lại cất tiếng gọi lần nữa trong lúc tôi vội vã leo cầu thang: “Elizabeth?”
“Con đây, mẹ.” Tôi bước vào căn phòng chính nơi bà đang nằm nghỉ trên chiếc trường kỷ nhung hồng đã sờn rách. Tôi đặt các túi đồ mua sắm xuống rồi tháo mũ ra. “Mẹ thấy ngột quá à? Con mở một cửa sổ ra nhé?”“Trời ấm sao?” Bà kéo chặt tấm khăn len phủ giường vào lòng. “Mẹ thấy lạnh thấu xương.”
Tôi kéo một chiếc ghế ra bên cạnh trường kỷ rồi nắm lấy hai tay bà, xoa cho đến khi máu hồng lên trên bề mặt, nhưng ở bất kỳ chỗ nào tôi sờ vào, đầu ngón tay tôi lại có cảm giác như chạm vào cái gì se lại, như thể da bà đã biến thành bột bánh mì. Tôi thả tay bà ra và bà bắt đầu rên rỉ.
“Con làm gì được đây?”
“Gọi chị con lên đây. Mẹ cần Fonnie bên cạnh ngay lúc này.”
Tôi gật đầu và đứng dậy định đi, nhưng mắt bà lại mở to hơn. “Đừng đi, xin đừng bỏ mẹ.” Thế là tôi lại ngồi xuống, và chuyện cứ lặp đi lặp lại như thế suốt cái đêm dài dằng dặc ấy. Bà uống một chút nước canh hầm rồi ngủ chập chờn trong vài tiếng đồng hồ. Rồi đến gần nửa đêm, đột nhiên bà trở nên bình tĩnh.
“Mẹ lo cho con kinh khủng, Elizabeth à,” bà nói. “Con sẽ ra sao đây khi mẹ đi rồi?”
“Con đã là một phụ nữ trưởng thành rồi mà mẹ. Con sẽ không sao đâu. Con hứa.”
“Không.” Bà lắc đầu. “Nhiều năm trước bà Curran và mẹ đã nói chuyện với Dorothea về con.”
Hơi thở của bà trở nên nặng nhọc, và tôi không muốn thấy bà phải khổ sở như vậy.
“Suỵt. Có quan trọng gì đâu.”
“Quan trọng chứ. Hai người bọn mẹ đã hỏi chị con về con vài lần nhưng chị con chẳng chịu nói.”
Tôi luôn nghi ngờ những chuyện huyền bí — tấm bảng, những buổi gọi hồn xì xào dưới ánh nến cùng các cuộc viết lời nhắn gửi tự động với khăn choàng đỏ phủ lên ngọn đèn — nhưng lúc này đây tôi bỗng cảm thấy toàn thân ớn lạnh. Liệu mẹ có liên lạc được với Dorothea thật không? Nếu thật, thì tại sao chị tôi, đã qua đời chín năm rồi, lại quay lưng với tôi? Chị biết điều gì không hay, đáng buồn về số phận của tôi ư? Ý nghĩ đó khiến tôi kinh hoảng, ấy thế nhưng chẳng có cách nào để chắc chắn cả. Tôi không thể yêu cầu mẹ tả tỉ mỉ buổi gọi hồn ấy; bà đã kiệt sức và bồn chồn hơn bao giờ hết rồi. Vả lại tôi cũng không hoàn toàn chắc rằng mình muốn biết. Nhỡ tương lai còn u ám hơn hiện tại thì sao? Và nhỡ đâu tương lai thậm chí không hề tồn tại?
Suốt cái đêm tháng Tám ấy tôi ngồi yên trên chiếc ghế lưng thẳng cạnh trường kỷ. Tôi đắp khăn ẩm lên trán và cổ mẹ rồi nhìn ra màn đêm mùa hè ấm áp, bầu trời tối đen và cây cối còn tối đen hơn nữa, mọi thứ đều xa xôi như những vật chưng bày trong viện bảo tàng. Và tôi biết, cả tôi nữa cũng có thể chết trong căn phòng này. Đó là một ngả đường mà bánh xe cuộc đời tôi có thể rẽ vào. Vài tiếng sau, lúc bình minh sắp ló rạng, mẹ tôi qua đời mà không một tiếng thở dài, không nấc hấp hối, không thở khó nhọc. Thật khác cái cách cha tôi ra đi làm sao — tiếng nổ từ khẩu súng lục của ông làm rúng động mọi thanh rầm cửa trong nhà — nhưng cũng chẳng ít tính kết thúc hơn. Trong khi những người khác đang ngủ ở nhà dưới, tôi nhìn vào khuôn mặt mà có khi tôi rất ghét nhưng có lúc lại rất thương. Hai tay bà nắm lại đặt hai bên thân hình gầy guộc, và tôi đưa đầu ngón tay lên vuốt một bàn tay, cảm thấy dâng tràn một tình yêu dữ dội và phức tạp đối với bà. Rồi tôi xuống nhà đánh thức Fonnie cùng Roland dậy và gọi bác sĩ. Tôi chuẩn bị bữa sáng, tắm rửa rồi ngồi cùng chị Fonnie trong phòng khách để bàn việc chuẩn bị tang lễ. Thi thể mẹ tôi vẫn ở trên gác chờ nhân viên pháp y, tôi có thể cảm nhận thấy bà ở đó, vẫn gây áp lực với tôi. Dường như bà đã luôn lấy sự tĩnh lặng của đời tôi làm vui, như thể tôi đã trở thành người giống mẹ tôi nghĩ, tức là một người nhạt nhòa không có gì đáng kể cả. Sự trì kéo ấy quá lâu ngày và mạnh mẽ, tôi biết mình có thể dễ dàng đầu hàng nó, đầu hàng sự vô nghĩa. Hoặc tôi cũng thể đẩy mình đi theo hướng ngược lại, với tất cả những gì tôi có.
NĂM
Mọi chuyện ổn cả chứ, thưa cô?” người lái taxi hỏi.
“Rồi sẽ phải ổn thôi” tôi đáp rồi mở cửa xe.
Tôi đã về St. Louis sau một ngày dài ngồi tàu, cái ngày đã bị kéo giãn thêm bởi cảm giác mình đã thất bại ở Chicago. Giờ thì tôi lại ở đây, về với ngôi nhà của Fonnie và Roland trên đại lộ Cates. Tôi chỉ còn biết trả tiền rồi xuống xe.
Bên ngoài, không khí khô và lạnh. Người tài xế theo sau, xách hành lý của tôi lên hàng hiên; tiếng bước chân của chúng tôi vang lên trên mặt đường lát đá nghe như tiếng gõ vào một vật rỗng. Vào đến trong nhà, tôi thả hành lý ở chân cầu thang rồi lên căn hộ của mình, nơi này mang lại một cảm giác lạnh lẽo thiếu sinh khí. Dù đã muộn và tôi cũng đã mệt, tôi vẫn bật đèn và nhóm lò để sưởi. Tôi ngồi lên chiếc trường kỷ hồng, tay ôm lấy vai và tự hỏi liệu một phần nào đó của mẹ tôi có còn trong phòng, quấn trong tấm khăn len phủ giường, có lẽ thế, và nhìn tôi đầy thương hại: “Hadley tội nghiệp. Con gà mái tội nghiệp.”
Sáng hôm sau tôi ngủ rốn hơn thường lệ, khi tôi xuống nhà thì chị Fonnie đã đợi sẵn trong phòng ăn. “Thế nào? Chị muốn nghe mọi chuyện đấy nhé. Em đã làm gì? Em đã gặp những kiểu người nào?”Tôi kể chị nghe tất tần tật về những bữa tiệc, những cuộc chơi, những con người thú vị quét qua căn hộ của Kenley như sóng cồn — nhưng tôi không kể gì về Ernest. Có gì mà kể chứ? Tôi không chắc giữa chúng tôi là cái gì, thậm chí có phải là tình bạn không.
Fonnie và tôi đang nói chuyện thì Roland bước vào phòng, vừa cài cổ tay áo sơ mi vừa đi trong cả một đám mây hương xà phòng và keo vuốt tóc. Anh ngồi xuống và Fonnie hơi dịch ghế ra xa anh, rất nhẹ thôi, để khỏi phải nhìn anh ăn. Lúc này tình trạng giữa họ đang là như thế đấy. Cuộc hôn nhân của họ là một thảm họa, đang và đã luôn là như thế, điều ấy khiến tôi thấy thương hại cả hai.
“Chà,” Roland cất tiếng. “Đô thành Chicago có giống những gì cô hình dung không?”
Tôi vừa gật đầu vừa trét mứt cam lên bánh mì nướng.
“Thế cô có chinh phục được hàng chục anh bồ mới không thế?”
Fonnie phát ra một tiếng khịt nóng giận gần như không thể nghe thấy, nhưng chị không nói gì cả.
“Chắc là chưa đến hàng chục,” tôi nói.
“Hẳn cô phải chinh phục được ít nhất một chú. Thư này vừa gửi đến cho cô.” Anh lôi từ trong túi áo vét ra một vật trông nhăn nhúm. “Chuyển phát đặc biệt đấy,” anh nói. “Hẳn là quan trọng lắm.” Anh mỉm cười đưa tôi bức thư.
“Gì thế?” Fonnie hỏi.
“Chuyển phát đặc biệt,” tôi nhắc lại lời Roland trong trạng thái gần như hôn mê. Tên của Ernest đề trên phong bì, nguệch ngoạc nhưng đủ rõ. Chắc anh đã gửi nó ngay sau khi tiễn tôi lên tàu, trả thêm mười xu để đảm bảo nó đến nơi sớm nhất. Tôi sẽ viết cho chị. Tôi sẽ viết tặng chị. Tôi mân mê chiếc phong bì, hơi sợ phải mở nó ra.
“Tên anh chàng của cô là gì thế?” Roland hỏi.
“Em sẽ không gọi cậu ta là anh chàng của em đâu, nhưng mà tên cậu ta là Ernest Hemingway.”
“Hemingway à?” Fonnie nhắc lại. “Tên tuổi kiểu gì thế?”
“Chẳng biết nữa,” tôi đáp rồi mang bức thư ra khỏi phòng để mở. Trông phong bì nhăn nheo rúm ró như thể đã nằm trong túi anh bao nhiêu ngày trời - chưa gì tôi đã thấy yêu đặc điểm ấy rồi, chẳng cần biết trong thư viết những gì. Tôi tìm một góc yên tĩnh trong phòng khách gần cây piano của tôi và phát hiện ra các trang thư bên trong cũng nhàu nhĩ tương tự và nguệch ngoạc những dòng mực đen. Hasovitch thân yêu - bức thư bắt đầu như thế - Em đang ở trên tàu còn tôi ở đây và giờ khi em đi rồi mọi thứ đều vô nghĩa. Hãy nói với tôi đi, em có thật hay không?
Tôi đặt bức thư xuống vì tôi gần như không chịu nổi cái cảm giác như thể anh đã bò vào trong đầu tôi. Em có thật hay không? Tôi đã tự hỏi y hệt về anh - và tôi có quyền để hỏi thế hơn anh chứ, tôi nghĩ thầm, đặc biệt là sau lời cảnh báo của Kate. Tôi thật như mặt đất anh bước lên vậy, có lẽ là quá thật. Nhưng còn anh thì sao? Mối quan tâm anh dành cho tôi không hề dao động trong suốt thời gian tôi ở đó, nhưng điều ấy không có nghĩa là anh đáng tin, mà chỉ có nghĩa ngay lúc này anh nghĩ tôi đáng để theo đuổi. Thật tình tôi chẳng biết nên nghĩ gì về anh nữa, nên tôi đọc tiếp, rất nhanh chóng ngấu nghiến hết bức thư của anh, tất cả những điều anh cần nói về việc anh đang làm và muốn làm, công việc của anh, suy nghĩ trong anh. Anh bảo có thể anh sẽ được nhận việc ở một tờ nguyệt san tên là Khối Thịnh vượng chung hợp tác nếu anh nộp đơn xin tự làm mọi việc - nhà văn, phóng viên, biên tập, trọn gói luôn. Không thích thú mấy điều khoản lắm nhưng có lẽ sẽ nhận việc này, anh viết vậy. Dù tâm trí tôi đầy những tiếng nói không dứt về anh, tôi vẫn không thể không thích giọng văn của anh, sự sôi nổi trong đó cũng như cái cách những từ ngữ của anh trên giấy giống hệt anh chàng Ernest đã bịa ra bao lý do để xuất hiện trong phòng tôi ở Chicago. Giờ đây bức thư của anh cũng đang làm điều tương tự, nó đưa Ernest vào căn phòng khách mà một phút trước đây còn u ám và thiếu sinh khí.
“Thế nào?” Fonnie hỏi khi bước vào phòng trong tiếng sột soạt của chiếc váy len màu sắc ảm đạm. “Anh ta có gì để nói vậy?”
“Chẳng có gì bất thường cả,” tôi đáp, nhưng dĩ nhiên là không đúng như vậy. Mọi điều ở Ernest Hemingway đều bất thường.
“Ừ, dù sao cũng thật tốt khi có những người bạn mới. Chị mừng vì em đã tìm được một nguồn vui làm xao nhãng.” Chị ngồi xuống và nhấc miếng ren móc dở của chị lên.
“Vậy sao?”
“Dĩ nhiên rồi. Chị muốn em hạnh phúc mà.”
Có lẽ là thế thật, nhưng chỉ khi hạnh phúc có nghĩa là tôi bị nhốt trên gác suốt phần còn lại của cuộc đời, một bà cô không chồng đơn độc.“Cảm ơn chị, Fonnie,” tôi nói rồi lấy cớ lui về phòng, ở đó tôi bắt tay vào viết thư hồi đáp. Tôi không muốn tỏ ra quá nhiệt tình. Tôi không muốn câu trả lời của mình có ý nghĩa gì nhiều hơn sự thực — nhưng tôi nhận ra mình thích viết thư cho anh. Tôi viết trong cả ngày trời, cứ xảy ra chuyện gì là lại kể vào thư chuyện đó, tôi muốn chắc chắn anh có thể hình dung ra tôi đi từ phòng này qua phòng khác, tập piano, ngồi uống một tách trà gừng ngon tuyệt với cô bạn Alice Hunt, ngắm người làm vườn xén tỉa những bụi hồng rồi quấn chúng lại trong vải bố để đón mùa đông. Đêm nay tôi nhớ cái hồ ấy quá, tôi viết. Nhớ nhiều thứ khác nữa. Cậu có muốn gặp tôi trong bếp để làm một điếu không?
Mẹ tôi đã giữ một tấm ảnh chụp tôi mặc đồ tắm, đứng ngập đến gối trên dòng sông Meramec chơi trò té nước với Alice, cả hai đứa đều hạnh phúc và tắm trong ánh mặt trời. Phiên bản Hadley ấy gần như chưa từng xuất hiện vào những ngày này, đúng vậy, nhưng tôi nghĩ Ernest sẽ thích cô gái với khuôn mặt rạng rỡ và nụ cười vô tư đó. Tôi nhét bức ảnh cùng lá thư vào một chiếc phong bì, và rồi, trước nghĩ kịp nghĩ lại, tôi đi xuống phố tới hộp thư ở góc đường. Trời đang tối dần, vừa đi tôi vừa nhìn vào trong các căn nhà như thể chúng là những chiếc bát phát sáng. Mọi vật đều tỏa ánh sáng yếu ớt — và trong một khoảnh khắc tôi chợt hình dung ra ánh sáng rải khắp những cánh đồng ngô nhấp nhô cùng những chuồng trại im lìm giữa St. Louis và Chicago. Khi đến hộp thư, tôi nắm chặt lá thư, hôn nó trong cơn bốc đồng, rồi nhét nó vào khe thư và thả tay ra.
SÁU
Tôi ấp ủ bao kế hoạch với việc viết lách - tôi muốn thấy và cảm nhận và làm quá nhiều điều. Hãy nói đi, em còn nhớ em đã chơi piano với làn tóc ánh lên lấp lánh, rồi em đứng dậy đi về phía tôi trên trường kỷ và cất lời, "Cậu có hiểu tôi không, Thu Hải Đường?"
Em có hiểu tôi không, Hash?
Em sẽ đến đây ngay chứ, và cho tôi hưởng một chút cái điều mà tôi chắc chắn cần lúc này, chính là em?
Những lá thư của anh cứ đến dồn dập chen lấn, đầy những lời ngọt ngào, đôi khi hai ba lá mỗi ngày. Mới đầu tôi cố dè dặt hơn, tự hứa là chỉ viết lại mỗi tuần một lần thôi, nhưng dự định đó tiêu tan ngay lập tức. Chẳng bao lâu sau tôi thấy mình gặp rắc rối thật sự. Thư từ cứ bay qua bay lại, nhưng chúng có nghĩa gì cơ chứ? Giọng Kate thường xuyên lấp đầy tâm trí tôi - Cậu ta thích phụ nữ - có vẻ như là tất cả phụ nữ — và tôi đấu tranh tư tưởng chẳng biết có nên kể cho cô ấy nghe về việc tình bạn giữa chúng tôi đã tiến triển nhanh chóng ra sao không. Cứ nghĩ đến là tôi lại hình dung ra cô ấy cảm thấy tổn thương và tức giận thế nào; rốt cuộc tôi đã rành rành cố ý xem thường lời khuyên của cô ấy. Nhưng nếu tôi thú nhận tất cả, có lẽ cô ấy sẽ khuyên tôi nhiều hơn, và rồi tôi sẽ phải nghe và có lẽ là làm theo lời khuyên đó.
Tôi bị giằng xé giữa việc muốn biết liệu mình có tin được Ernest không và mong muốn tôi cứ mãi mù mờ để giữ cho mọi chuyện y hệt như lúc này. Ngôn từ của anh đã mang rất nhiều ý nghĩa rồi — quá nhiều là đằng khác. Mỗi lá thư của anh đều như một liều thuốc bổ tuyệt vời và viết cho anh cũng là một liều thuốc bổ, và chẳng bao lâu sau tôi nhận ra mình có thể nghe thấy tiếng cậu bé phát thư đạp xe từ cách cả mấy dãy nhà dù cậu thậm chí còn chưa rung chuông. Tôi tự nhủ rằng Kate đâu có biết hết mọi điều về Ernest. Ai mà biết được hết mọi điều về người khác cơ chứ? Những bức thư của anh đã bộc lộ vài phẩm chất - sự dịu dàng chẳng hạn, cả sự nồng ấm dễ thấy nữa - những điều có lẽ Kate đã không bao giờ thấy được trong suốt những mùa hè ở Michigan. Có thể như thế lắm chứ. Phải như thế, bởi vì niềm hạnh phúc nở rộ từ mối quan tâm của Ernest đối với tôi đang dần thấm vào phần cuộc đời còn lại của tôi. Tôi bỗng bận rộn hơn và vui vẻ hơn bao giờ hết khi ở nhà. Hai cô bạn Bertha Doan và Ruth Bradfield đã chuyển đến căn hộ trên gác sống cùng tôi với tư cách khách thuê trọ, và lần đầu tiên trong gần một thập kỷ tôi không cô đơn trong căn nhà của chính mình. Tôi cũng có vài chàng trai trẻ dòm ngó nữa, và ngay cả khi họ không đặc biệt xuất chúng gì, họ cũng cho tôi những giờ phút vui vẻ. Tôi để họ đưa mình đi nhảy, đi xem phim, thậm chí còn cho một vài chàng hôn chúc ngủ ngon. Không một ai trong số họ có cái đầu vuông to tướng và bàn chân bàn tay như lót nhung đệm của Ernest; chẳng một ai đặt những câu hỏi tuyệt vời như anh hay làm tôi muốn nói, Cậu có hiểu tôi không, Thu Hải Đường?
Dẫu vậy, tôi vẫn duy trì việc đi chơi với gần như tất cả những ai ngỏ lời, bởi vì Ernest, dù rất đáng yêu, chỉ như lý thuyết suông — một giả thuyết dễ thương — mà lại còn ở cách xa hàng trăm dặm. Ở St. Louis, nơi số phận đã định cho tôi sống cuộc đời thực của mình, có Dick Pierce, anh trai một cô bạn thân. Tôi thích ở bên anh và biết rằng chỉ cần tôi bật đèn xanh là anh sẽ yêu tôi và có khi còn cầu hôn nữa, nhưng tôi gần như, hoặc cũng có thể là hoàn toàn, chẳng có cảm giác gì trước anh cả. Rồi đến Pere Rowland, một cậu trai luộm thuộm một cách dễ chịu, biết rất nhiều về sách và nhạc, nhưng những buổi hẹn hò lãng mạn chẳng hấp dẫn tôi bằng cái lúc một nhóm chúng tôi nhồi đống lên xe ai đó rồi đi xem phim trong thành phố hay đến sàn nhảy nơi mọi người đều vui vẻ và tự do. Sau đó, Ruth, Bertha và tôi sẽ ngồi uống trà trong bộ đồ ngủ và tán chuyện về những sự kiện của buổi tối.
Tôi vừa mới bước sang tuổi hai chín, nhưng theo một cách nào đó tôi thấy mình còn trẻ và vô tư lự hơn cái hồi tôi học năm thứ nhất ở Bryn Mawr, hồi ấy tôi chẳng được tận hưởng một chút xíu hạnh phúc hay thân mật nào. Cứ như thể tôi đang trải nghiệm một sự trì hoãn bây giờ mới phát tác vậy, và tôi thấy biết ơn từng phút giây đó. Thế rồi lại có thư từ Chicago đến mỗi ngày, luôn nhàu nhĩ một cách đẹp đẽ và đầy những tin tức bận rộn. Ernest kể hết cho tôi về những bài báo anh viết cho tờ Thịnh vượng chung, ý tưởng của anh về các bản thảo và tiểu thuyết. Nhưng hơn tất thảy anh còn chia sẻ những câu chuyện về quãng thời gian anh lớn lên - về những mùa hè dài ở Michigan khi ông Ed cha anh, một bác sĩ sản đương nhiệm đồng thời là một nhà hoạt động ngoài trời bẩm sinh, đã dạy anh cách nhóm lửa và nấu ăn ngoài trời, cách dùng rìu, giật cần câu và đánh vẩy cá, săn sóc, gà gô và chim trĩ.
Cứ khi nào tôi nghĩ đến cha, anh viết, thì đó luôn là hình ảnh ông đang ở trong rừng xua chim rẽ giun, đang băng qua những bãi cỏ ngắn héo quắt hay những đống thân ngô, hay đang chẻ củi trong lúc chòm râu cứng lại vì sương giá. Tôi đọc những câu ấy mà mắt đẫm lệ, vì tôi có quá ít kỷ niệm ấm áp với cha mình. Khi nghĩ về cha, hình ảnh đầu tiên hiện lên trong tâm trí tôi là khẩu súng của ông, rồi sau đó là tiếng động nó gây ra vang vọng khắp nhà. Nhớ lại cái chết của ông, nhớ lại mình đã từng ám ảnh đến đau đớn vì nó khiến tôi thấy lòng xao động đến nỗi phải đi dạo hai vòng quanh khu phố trong làn gió rét buốt thì mới đủ bình tĩnh để quay lại đọc thư của Ernest.
Nhưng nếu mối quan hệ của anh với cha anh khiến tôi ghen tị thì mẹ anh lại phiền phức theo một cách khác. Gần như cứ khi nào nhắc đến bà trong thư là anh lại dùng từ con mụ ấy. Anh miêu tả bà như một kẻ thống trị hoàn toàn trong nhà, chỉ giỏi chỉ trích và đầy những ý tưởng không lay chuyển về việc cuộc sống phải diễn ra như thế nào mới phải, tỉ mỉ đến từng chi tiết. Trước khi anh biết đọc, bà đã dạy Ernest nhớ những cụm từ, những dòng thơ “thiết yếu” bằng tiếng Latinh và tiếng Đức. Dù luôn cố tôn trọng tinh thần sáng tạo của bà — bà hát Opéra, vẽ vời đôi chút và còn làm thơ nữa — nhưng Ernest rốt cuộc vẫn tin chắc rằng bà là một người mẹ và người vợ ích kỷ, chỉ chăm chăm nhu cầu bản thân mà không màng đến nguy cơ làm hại đến mọi người xung quanh, đặc biệt là chồng mình. Bà buộc bác sĩ Hemingway phải nhượng bộ mọi yêu cầu của bà, và Ernest đâm coi thường mẹ mình khi chứng kiến cảnh đó.
Dù sự chối bỏ dữ dội chính mẹ đẻ của Ernest khiến tôi rùng mình, tôi vẫn không thể không nhận ra một điều. Thật kỳ quái khi biết quan hệ giữa người bố và người mẹ trong gia đình chúng tôi lại giống nhau đến thế, ấy thế nhưng điều khiến tôi ngạc nhiên nhất là mặc dù thường ghét cay ghét đắng cái kiểu sống không chịu ai khăng khăng ý mình của mẹ tôi và thậm chí còn đổ lỗi cho bà về vụ tự tử của cha, nhưng tôi chưa từng thể hiện sự căm ghét đến nhường ấy đối với một con người. Cảm giác đó chỉ sôi sục và khuấy đảo trong lòng tôi thôi. Đôi lúc, khi nó cố ngoi lên bề mặt, tôi lại vớ lấy cái gối lông vũ và hét những cảm xúc trong mình vào đó, khiến chúng chết ngạt ngay từ gốc rễ. Còn Ernest lại thoải mái phun cơn thịnh nộ của mình ra. Phản ứng của ai mới là đáng sợ đây?
Rốt cuộc, tôi cảm thấy ngày càng tôn trọng cái cách anh thể hiện cả phần xấu xí nhất của con người mình, và tôi bị sự tự tin của anh lôi cuốn. Tôi mong thư anh mà gần như chẳng làm được việc gì khác. Ấy thế nhưng chẳng mấy chốc tôi nhận ra tính bộc trực của anh được áp dụng nhất nhất trong mọi việc. Đầu tháng Mười hai, không lâu sau sinh nhật tôi, anh viết rằng đêm qua anh đã bị một cô gái mặc đầm màu xanh chóe quyến rũ. Tôi thấy phát bệnh khi đọc được điều ấy. Tôi chẳng có cái váy xanh chóe nào, mà kể cả có thì anh cũng đâu có thấy. Anh cách xa tôi hàng trăm dặm, cuốn theo những chi tiết của cuộc sống hết ngày lại đêm ở đó. Chúng tôi là bạn bè và bạn tâm tình, đúng thế - nhưng anh chẳng nợ nần gì tôi cả, chưa bao giờ hứa hẹn lấy một câu với tôi, kể cả một lời hứa hão cũng không. Nếu muốn thì anh có thể chạy theo cái váy xanh đó như theo tiếng hát mỹ nhân ngư mà đi xuống hồ. Tôi chẳng ràng buộc gì anh cả.
Mà thực ra chẳng ai ràng buộc gì ai. Đó là dấu hiệu của sự chuyển giao thời đại. Chúng tôi đang ở ven rìa, tràn đầy tuổi trẻ và hứa hẹn cùng đôi chút điệu láy rền của nhạc jazz. Một năm trước đó, cô đào Olive Thomas đóng phim The Flapper (Cô nàng mới lớn), thế là cái từ ấy bỗng nhiên đồng nghĩa với jazz, chuyển động như jazz. Các cô gái khắp mọi nơi ra đường trong bộ áo coóc xê, váy thì ngắn lên còn màu mắt màu môi thì trầm xuống. Chúng tôi nói những câu từ kiểu như, “pyjama của ả mèo”(*) rồi “tôi thì cho rằng” rồi “chuẩn quá.” Tuổi trẻ, vào năm 1921, là tất cả, nhưng cũng chính nó là thứ làm tôi lo đến phát ốm. Tôi đã hai chín và thấy mình sắp hết thời rồi, nhưng Ernest chỉ mới hai mươi mốt tuổi nóng rực nhựa sống. Tôi đang nghĩ gì chứ?
(*) Một từ lóng phổ biến ở Mỹ những năm 1920, chỉ một người hoặc một vật thú vị đáng được săn đón.
“Có lẽ mình không hợp với cuộc chơi này,” sau khi nhận được bức thư tiếng hát nàng tiên cá của Ernest, tôi bảo cô bạn cùng phòng Ruth như thế. Bertha đã ra ngoài chơi, chỉ còn Ruth và tôi cùng nhau nấu bữa tối, thoải mái lướt quanh nhau trong căn bếp nhỏ, ngắt đậu, đun nước trụng mì ống, như thế chúng tôi là hai bà cô không chồng đã làm như thế này hàng bao nhiêu thập kỷ vậy.
“Mình không chắc là có ai trong chúng ta phù hợp đâu,” Ruth nói trong lúc tay cân muối rồi ném một ít ra sau vai để cầu may. Cô có đôi bàn tay chắc khỏe kỳ lạ, và tôi thấy mình cứ ngắm nhìn chúng, thầm mơ mình có thể giống cô ấy hơn. Cô quay lại nhìn rồi cười châm chọc.
“Nhưng có còn gì nữa đâu? Nếu giờ ta bỏ cuộc thì coi như tiêu đời.”
“Có lẽ tớ chỉ việc bò xuống gậm giường nhất định không ra cho đến khi già lập cập và chẳng thể nhớ rằng mình đã từng cảm nhận thế nào về bất cứ ai nữa.”
Ruth gật đầu. “Cậu muốn vậy, nhưng cậu sẽ không làm vậy.”
“Tớ sẽ không làm thế.” Tôi đi quanh chiếc bàn nhỏ để xếp đĩa và bộ thìa dĩa bằng bạc - loại tốt thứ hai trong nhà, rồi vuốt phang khăn ăn của ai đứa. “Tớ sẽ cố hết sức để không làm thế.”
Tôi khao khát được trở lại Chicago, được thấy căn phòng lớn cũ kỹ nhà Kenley — cây dương cầm, chiếc máy hát, tấm thảm sần sùi được đẩy sang bên cho hai con người khiêu vũ. Tôi muốn được nhìn vào đôi mắt nâu trong đến khó tin ấy và biết được chàng trai đẹp đẽ đó đang nghĩ gì. Tôi muốn hôn anh và cảm nhận anh hôn lại tôi.
Vào giữa tháng Giêng, cô bạn Leticia Parker và tôi nung nấu kế hoạch đưa tôi đến đó. Tôi sẽ là khách của cô ấy trong một tuần. Chúng tôi sẽ ở khách sạn và đi mua sắm, và tôi có thể gặp Ernest bao nhiêu tùy thích. Ấy thế nhưng, hai ngày trước lịch khởi hành của chúng tôi, Leticia gọi điện báo hoãn. Mẹ cô bị ốm, thành thử cô không thể đi xa lâu như thế được. Tôi bảo cô tôi hiểu mà; dĩ nhiên là tôi hiểu. Chính mẹ tôi cũng từng bị ốm hàng tháng trời, và tôi biết rõ những đòi hỏi của các bà mẹ khi ấy, nhưng đồng thời tôi cũng thấy chán nản. Mọi thứ đã được lên kế hoạch từ hàng tuần nay. Ernest sẽ đón tôi ở ga, và chỉ mỗi giây phút ấy thôi mà tôi đã tha hồ tưởng tượng đến hàng trăm lần có lẻ.
“Tính sao bây giờ?” tôi trút lên Ruth vào cuối ngày hôm đó.
“Đi thôi,” cô ấy nói.
“Một mình á?”
“Sao lại không? Giờ đâu phải thời Trung cổ, cậu biết mà. Thế chẳng phải lần trước cậu cũng đi một mình đấy sao?”
“Hồi ấy tớ đâu có bị ràng buộc gì. Chị Fonnie sẽ không thích đâu.”
“Thế thì càng có thêm lý do để đi,” Ruth cười nói.
Buổi tối tôi đi Chicago, Roland chở tôi đến ga phía Bắc St. Louis trên con Peugeot mới cứng, một chiếc ô tô hai chỗ màu xanh ve chai khiến anh thấy mình nam tính và kiêu hãnh hơn, tôi nghĩ thầm, đồng thời cũng đưa Fonnie lên mức lo lắng đến độ gần như sôi máu. Tôi quý Roland nhưng cũng cảm thấy thương hại anh. Tình cảnh của anh rất giống cha tôi hồi trước. Anh chỉ dám làm khi Fonnie cho phép; thật thảm hại, ấy thế nhưng anh cũng có thể rất quyến rũ theo cái kiểu mô phạm và tuyệt đối khiêm nhường. Tôi có cảm giác như chúng tôi là đồng minh trong nhà, và hy vọng anh cũng cảm thấy thế. Dù có thể dễ dàng thả tôi xuống vỉa hè, Roland vẫn đỗ xe lại và tiễn tôi đến tận sân ga, ở đó anh trao hành lý của tôi cho phu khuân vác. Thế rồi, khi đang chào tạm biệt, anh nghiêng đầu sang một bên, một trong những tật máy cơ mặt khó chịu mà cũng rất đáng yêu ở anh, rồi nói, “Trông cô rất đẹp, Hadley ạ.”
“Thật ạ?” tôi bỗng thấy e thẹn trước anh và phải lấy tay vuốt lại chiếc váy của bộ đồ đi đường màu xám nhạt.
“Thật. Anh chỉ chợt nghĩ ra là có thể cô không biết điều này về chính bản thân mình.”
“Cảm ơn anh nhé.” Tôi nghiêng người hôn má anh, rồi tôi lên tàu, tìm niềm vui mới trong bộ đồ đi đường của mình - chiếc mũ len mềm, đôi găng màu bơ và đôi giày da lộn quai chữ T. Ghế đơn và ghế băng trên tàu bọc nhung lông trông thật mời gọi, và cái giọng nghiêm khắc của Fonnie cất lên bảo tôi không nên hưởng thụ đột nhiên thật xa xôi. Đây chính là chương trình đặc biệt lúc nửa đêm chứ còn gì nữa, và tôi chui vào chiếc giường nằm Pullman đằng sau bức rèm xanh thẳm.
Sáng hôm sau, khi đến ga Công Đoàn, tôi đã được nghỉ ngơi đầy đủ và chỉ hơi hồi hộp cho đến khi tôi thấy Ernest trên sân ga, trông gần như giống hệt cái lúc tôi chia tay anh vào tháng Mười một - và thế là miệng tôi khô như rang và dạ dày tôi nhộn nhạo. Anh đẹp rạng ngời trong chiếc áo vét thủy thủ và khăn quàng cổ dày, và mắt anh sáng lên trong giá lạnh. Khi tôi xuống tàu, anh nhấc bổng tôi lên và ghì chặt.
“Tôi cũng rất vui được gặp lại cậu,” tôi nói khi anh thả tôi xuống, và cả hai đứa cùng cười, cảm thấy ngường ngượng vì được ở bên nhau đột ngột quá. Mắt chúng tôi gặp nhau rồi lại lảng đi. Bao nhiêu ngàn từ ngữ vẫn tuôn chảy đều đều giữa hai chúng tôi. Giờ chúng đi đâu mất rồi?
“Em đói không?” anh lên tiếng.
“Còn phải hỏi,” tôi đáp.
Chúng tôi cọ cọ mũi rồi đi trong buổi sáng lạnh giá để tìm đồ điểm tâm. Có một nơi anh thích ở phố State phục vụ bò bít tết và trứng với giá sáu mươi xu. Chúng tôi gọi món, đầu gối hai đứa hơi chạm nhau dưới gầm bàn.
“Tờ Bưu điện tối Chủ nhật lại vừa mới từ chối một truyện ngắn khác,” anh nói trong lúc chúng tôi đợi đồ ăn. “Đây là lần thứ ba rồi. Nếu chuyện này không nên cơm cháo gì thì có khi tôi sẽ dành cả đời viết những thứ rác rưởi hoặc kể chuyện của ải của ai cho các tạp chí mất. Tôi sẽ không làm thế đâu.”
“Rồi cậu sẽ thấy tác phẩm của mình được in thôi mà,” tôi an ủi.
“Chuyện đó phải xảy xa. Sẽ xảy ra.”
Anh nhìn thẳng vào tôi, rồi nhấc mũi giày lên ấn mạnh vào cạnh bên bắp chân tôi. Và cứ giữ nguyên như thế, ấm áp và khẩn thiết, anh hỏi, “Em có nghĩ đến chuyện không gặp lại tôi nữa không?”
“Chắc là có.” Tôi cảm thấy nụ cười của mình nhạt đi. “Tôi có thể trở nên một con khờ vì cậu, Nesto ạ.”
“Giá mà em yêu tôi dù chỉ một thời gian ngắn thôi cũng tốt biết bao.”
“Tại sao lại là một thời gian ngắn? Cậu lo bản thân mình không thể gắn bó lâu dài được à?”
Anh nhún vai, dáng vẻ bồn chồn. “Em còn nhớ tôi từng kể về Jim Gamble, bạn tôi trong Hội Chữ thập đỏ chứ? Cậu ta muốn tôi theo cậu ta đến Rome. ơ đấy vật giá rẻ, và nếu tôi tiết kiệm đủ trước khi đi thì tôi có thể chỉ ngồi viết truyện trong năm đến sáu tháng. Cơ hội kiểu này chắc sẽ chẳng xuất hiện đến lần hai đâu.”
Rome ư. Tôi thấy ngực mình thắt lại. Tôi chỉ mới tìm thấy anh, thế mà anh lại định chạy ra nước ngoài sao? Đầu óc tôi quay cuồng, nhưng tôi biết với một niềm đoan chắc rằng cố níu giữ anh sẽ là một sai lầm. Tôi khó nhọc nuốt khan rồi cẩn thận lựa từng lời. “Nếu công việc là thứ quan trọng nhất với cậu, cậu nên đi.” Tôi cố nhìn thẳng qua bàn vào mắt anh. “Nhưng có một cô gái sẽ nhớ cậu lắm.”
Anh nghiêm trang gật đầu nhưng không nói gì.
Những ngày còn lại trong một tuần thăm Chicago của tôi lấp đầy bởi các buổi hòa nhạc, xem kịch và tiệc tùng, tất cả các buổi tối đều kết thúc nơi căn phòng khách dài nhà Kenley với rượu, thuốc và những cuộc chuyện trò sôi nổi về sách hay, tranh đẹp. Mọi thứ đều y sì như hồi mùa thu, ngoại trừ một việc là Kate không khi nào có mặt.
Ngay trước khi rời St. Louis, tôi đã gửi thư cho cô ấy. Tôi không chắc bức thư sẽ đến tay cô trước khi chúng tôi chạm mặt nhau ở Chicago, vì hiển nhiên việc hai đứa gặp nhau là không tránh khỏi, nhưng tôi không thể không viết gì hay ít nhất là cố gắng nhẹ nhàng rào trước. Nesto và tớ đã trở nên khá thân thiết, tôi viết. Chúng tớ là những người bạn tốt của nhau và cậu cũng là bạn tốt của tớ nữa, và tớ ghét phải nghĩ rằng chuyện này sẽ thành rào cản giữa hai ta. Đừng giận lâu nhé. Bạn thân yêu nhất, Hash.
Kenley khăng khăng rằng cô ấy chỉ bận việc quá thôi, cậu nói, “Chị biết Kate mà. Chị ấy nhận quá nhiều việc thế rồi chẳng thể dứt ra được. Em chắc chúng ta sẽ sớm thấy chị ấy thôi.”
Nhưng chúng tôi không thấy cô, và ngày qua ngày, tôi càng lúc càng ước giá mình có thể nói chuyện về tình cảnh này với Ernest. Cứ lập lờ hai mặt thế này thật không giống tôi, nhưng tôi đã tự dồn mình vào góc tường khi chưa bao giờ để lộ việc Kate đã cảnh báo tôi phải tránh xa anh. Tôi có đầy rẫy lý do để không nói. Tôi không muốn làm tổn thương cảm xúc của anh là một, và tôi cũng không cảm thấy chỗ của mình là bước chen vào giữa hai người đó tạo mối bất hòa. Khi những ngày tôi đến chơi đã gần hết mà sự im lặng của Kate vẫn mỗi lúc một nặng nề thêm, tôi đã phải tự vấn liệu có khi nào một yếu tố trong mối quan hệ tay ba khập khiễng này sẽ chấm dứt vĩnh viễn hay không. Hoàn toàn có khả năng cô ấy sẽ không còn tin tưởng tôi nữa. Và cũng có thể - thậm chí rất có thể - Ernest sẽ đi Rome mà miệt mài với tiểu thuyết của anh, để lại tôi tròng trành vì hai lý do một lúc.
Cứ để mặc trái tim mình mập mờ với Ernest thế này rất nguy hiểm, nhưng tôi còn có lựa chọn thực sự nào đây? Tôi đang yêu anh, và ngay cả khi tôi không thấy can đảm chút nào khi đối diện với tương lai thì vẫn không thể phủ nhận cuộc sống của tôi đã thay đổi rõ rệt theo hướng tốt hơn kể từ khi gặp anh. Tôi cảm nhận rõ điều đó ở quê St. Louis và cả ở nhà Kenley nữa. Vào đầu giờ mỗi buổi tối, tôi luôn bồn chồn và e dè, lo rằng mình chẳng có gì để đóng góp cho cái nhóm này, nhưng rồi tôi cứ thế thoải mái với ngoại hình và giọng nói của mình. Và đến nửa đêm, tôi là là một phần của cuộc vui, sẵn sàng uống như hũ chìm và tán chuyện tới sáng. Cảm giác đó giống như thể mỗi đêm ta lại được tái sinh, cùng một quy trình ấy lặp đi lặp lại, tìm thấy mình, đánh mất mình, rồi lại tìm thấy mình.
“Mới đây thôi tôi còn chẳng đủ sức ngồi chơi piano lâu hơn nửa tiếng đồng hồ,” tôi nói với Ernest khi cùng ngồi ăn điểm tâm một buổi sáng nọ. “Đêm qua chúng ta thức đến tận ba giờ, thế mà tám giờ tôi đã ngồi đây mắt sáng bừng và nói chuyện ríu rít. Tôi đã từng lúc nào cũng mệt mỏi - và rất buồn phiền nữa. Chuyện gì xảy ra với tôi thế nhỉ?”
“Tôi không biết,” anh nói, “Nhưng tôi có thể xác minh chi tiết mắt sáng bừng.”
“Không đùa đâu,” tôi nói. “Chúng ta đang nói về một sự biến đổi lớn lao đấy.”
“Em không tin vào sự thay đổi sao?”
“Tin chứ. Nhưng thi thoảng tôi thậm chí còn không nhận ra chính mình. Cứ như trong truyện ấy, có một đám tiểu yêu đến mang cơ thể người ta đi và để lại một cơ thể khác — để thế chỗ.”
“Không quan trọng gì đâu, nhưng mà tôi thích em như thế này, Hash à.”
“Cảm ơn nhé. Tôi cũng thích tôi thế này.”
Tối hôm sau là tối cuối cùng tôi ở Chicago và tôi quyết tâm tận hưởng nó từng phút một. Tôi không chắc khi nào Ernest và tôi sẽ gặp lại nhau, hoặc liệu chúng tôi có còn gặp lại nữa hay không. Anh không đề cập gì đến Jim Gamble hay nước Ý sau cái ngày đầu tiên đó nữa, nhưng anh cũng chẳng tâm sự bất kỳ câu chuyện nào khác về tương lai. Khi tôi hỏi liệu lúc nào đó anh có thể đến St. Louis thăm tôi không, anh bảo, “Chắc chắn rồi, cô bé à,” cứ nhẹ tựa lông hồng, không kèm theo lời hứa nào, chẳng để lộ ý định gì. Nắm chặt và bấu víu không phải cách để giữ một người đàn ông như Ernest — ấy là nếu có một cách để làm việc đó tồn tại trên đời. Tôi đành phải chờ đợi xem sao thôi.
Đêm hôm đó trôi đi như đặc trưng vốn có, với hàng xô đồ uống và rất nhiều bài hát, tất cả chúng tôi đều hút như ống bễ. Ernest đề nghị tôi chơi một bản Rachmaninoff và tôi vui vẻ làm theo. Anh đến ngồi bên tôi trên ghế băng, như đêm đầu tiên chúng tôi gặp gỡ, và tôi thấy nhói lên một cảm giác hoài niệm trong lúc những ngón tay tôi lướt trên những phím đàn. Thế rồi giữa chừng bản nhạc, anh đứng dậy đi quanh phòng, nhón chân nhún nhảy tới lui, chồm chồm như ngựa nòi trước cổng. Cuối cùng, tôi tìm thấy anh khi anh đang ở ngoài khom người hút thuốc.
“Tôi chơi tệ thế cơ à?” tôi hỏi.
“Xin lỗi nhé. Không phải do em đâu.” Anh hắng giọng rồi ngước lên nhìn bầu trời đêm lạnh chi chít sao đến hoa cả mắt. “Tôi đã muốn kể cho em nghe về một cô gái.”
“Ai chà.” Tôi ngồi xuống một trong những bậc thềm đá lạnh buốt, cố kiểm soát nỗi kinh hãi đang đột ngột dâng lên trong lòng mình. Nếu Kate nói đúng về Ernest thì sao, tôi không biết liệu mình có chịu nổi điều đó hay không nữa.
“Không phải cô gái theo kiểu em nghĩ đâu. Chuyện cũ rồi. Tôi đã kể em nghe về hồi bị thương ở Fossalta chưa nhỉ?”
Tôi gật đầu.
“Khi người ta chuyển tôi đến Milan để hồi sức, tôi yêu cô y tá trực đêm chăm sóc tôi ở đó. Thật là một loại khí độc phải không? Tôi và mười nghìn gã khờ khác.”
Chẳng phải chuyện gì mới, nhưng nhìn mặt anh tôi hiểu rằng với anh đó là câu chuyện duy nhất.
“Tên cô ấy là Agnès. Khi họ chuyển tôi về Mỹ thì chúng tôi đã lên kế hoạch lấy nhau. Ngày ấy mà có tiền là tôi đã ở lại và cưới cô ấy rồi. Cô ấy muốn chờ. Phụ nữ luôn lý trí chết tiệt vậy đấy. Tại sao thế?”
Tôi không mảy may biết mình nên nói gì. “Lúc ấy cậu chỉ mới mười tám thôi phải không?”
“Mười tám hay là một trăm cũng được,” anh nói. “Chân tôi đầy mảnh kim loại. Họ lôi ra hai mươi tám mảnh trái phá từ người tôi. Hơn một trăm mảnh khác quá sâu nên không thể chạm tới, nhưng chẳng cái nào trong số đó làm tôi đau bằng bức thư cuối cùng cũng đến từ Ag. Cô ấy đã yêu người khác, một tay trung úy người Ý bảnh bao.” Anh nhếch mép cười, mặt rúm ró lại. “Cô ấy bảo mong sẽ có ngày tôi tha thứ cho cô ấy.”
“Cậu vẫn chưa tha thứ.”
“Chưa. Chưa hẳn.”
Sau vài phút trôi qua trong im lặng, tôi nói, “Cậu không nên kết hôn trong một thời gian dài nữa. Cú đánh kiểu đó giống như một căn bệnh khó lành. Cậu cần thời gian hồi phục, nếu không cậu sẽ chẳng bao giờ dứt bệnh hoàn toàn.”
“Đấy là phương thuốc em kê ư, bác sĩ? Liệu pháp nghỉ ngơi sao?”
Trong lúc nói anh đã ngồi dịch dần về phía tôi, và giờ thì anh đang với lấy một bàn tay đeo găng của tôi. Anh xoa xoa nùi len ấy theo chiều này rồi chiều khác, trông anh có vẻ bình tĩnh hơn. “Tôi thích sự thẳng thắn của em,” sau một lúc thì anh lên tiếng. “Em lắng nghe tôi rồi nói với tôi đúng những điều em đang nghĩ.”
“Chắc vậy,” tôi nói, nhưng thực ra tôi muốn lộn mửa. Rõ ràng anh đã yêu người con gái kia đến tuyệt vọng, và nhiều khả năng anh vẫn còn yêu. Tôi làm sao mà cạnh tranh nổi với một bóng ma — tôi, một kẻ biết quá ít về tình yêu và không điều gì trong số đã biết là tốt đẹp cả?
“Em nghĩ chúng ta có khi nào bỏ lại quá khứ sau lưng được không?” anh hỏi.
“Tôi không biết nữa. Mong là được.”
“Đôi lúc tôi nghĩ nếu Agnès biến mất thì chuyện này cũng có thể biến mất.”
Tôi gật đầu. Tôi đã từng có nỗi lo y hệt.
“Có lẽ cô ấy thực ra không hề biến mất. Có lẽ cô ấy chưa từng yêu tôi.”
Anh châm một điếu thuốc khác rồi hít một hơi thật sâu, đầu thuốc lóe lên một màu đỏ giận dữ. “Tình yêu thật là một tên lừa đảo khốn kiếp nhỉ?”
Giọng anh chất chứa niềm cay đắng, và tôi phải khó khăn lắm mới nhìn thẳng được vào mắt anh, nhưng anh lại soi tôi thật sát sao và chăm chú, rồi anh bảo, “Giờ thì tôi làm em sợ rồi.”
“Chỉ hơi hơi thôi.” Tôi cố mỉm cười vì anh.
“Tôi nghĩ chúng ta nên quay lại tầng trên và khiêu vũ đến sáng.”
“Ôi Nesto. Tôi mệt kinh khủng rồi đây này. Có lẽ mình nên quay vào, thế thôi.”
“Đi mà,” anh nài nỉ. “Tôi nghĩ làm thế sẽ đỡ mệt hơn đấy.”
“Thôi được rồi.” Tôi đưa tay mình cho anh nắm.
Trên gác, bữa tiệc đã rã đám gần hết. Ernest chậm rãi cuộn tấm thảm qua một bên và bật máy hát. Giọng Nora Bayes láy rền lan khắp phòng - Hãy giả vờ vui khi em đang buồn.
“Đó là bài hát tôi thích nhất,” tôi nói với Ernest. “Cậu có tài tiên tri đấy à?”
“Không đâu, tôi chỉ giỏi dụ một cô gái đứng gần mình hơn mà thôi.”
Tôi không rõ đêm hôm ấy chúng tôi đã nhảy trong bao lâu, đi tới đi lui khắp phòng khách theo một hình ê líp chậm và dài. Mỗi khi bản nhạc kết thúc, Ernest lại rời tôi một lúc rất chóng thôi để bật lại từ đầu. Rồi anh quay trở lại với vòng tay tôi, mặt anh vùi vào cổ tôi, tay anh ôm chặt thắt lưng tôi. Ba phút diệu kỳ cứ căng lại trùng như thế. Có lẽ hạnh phúc là một chiếc đồng hồ cát đã chảy gần cạn, những hạt cát cứ đổ xuống, lắc rắc trôi qua nhau. Có lẽ nó chỉ là một trạng thái của tâm trí — như Nora Bayes đã khẳng định — là một miền đất ta có thể khắc lên từ vô định rồi bước vào khiêu vũ.
“Tôi sẽ không bao giờ lừa dối cậu,” tôi nói.
Anh gật đầu khi vẫn vùi trong tóc tôi. “Mình hãy luôn nói thật với nhau nhé. Chúng mình có thể lựa chọn điều ấy, phải không?”
Anh đưa tôi lướt vòng quanh rồi vòng quanh, chầm chậm mà mạnh mẽ. Bài hát kết thúc, kim máy hát lách cách, thì thầm, xì xào rồi yên lặng. Nhưng chúng tôi vẫn nhảy, lắc lư lướt qua cửa sổ rồi vòng ngược trở lại.
BẢY
Khi tôi trở về nhà ở St. Louis, Fonnie tung ra một loạt câu hỏi và cảnh báo. Thế cái cậu Ernest Hemingway này là ai mới được? Cậu ta có triển vọng gì không? Cậu ta có thể cho tôi những gì? Ngay khi chấm dứt chuỗi tra hỏi ấy là chị bắt đầu luôn bài diễn văn cũ rích về những thiếu sót của tôi. Hemingway có biết về những cơn bồn chồn và tiền sử ốm yếu của tôi không? Nghe chị nói thì cứ tưởng như đang nghe về một con ngựa què vậy, nhưng tôi chẳng mấy để tâm. Tôi thuộc nằm lòng thủ đoạn của Fonnie và có thể làm chị tắt đài gần như tuyệt đối Nhưng thật không may, tiếng nói của chính tôi thì khó kiểm soát hơn. Khi ở Chicago bên Ernest, tôi cảm thấy mình mạnh mẽ và có khả năng khắc phục được mọi điều không chắc chắn về tương lai. Nhưng rời khỏi vòng tay anh, cách xa phạm vi và tầm ảnh hưởng mạnh mẽ của cơ thể anh, tôi lại thấy chới với.
Việc dòng thư từ anh càng ngày càng u sầu và ngắt quãng chẳng giúp được gì cho tôi. Anh ghét công việc của mình và đang cãi nhau với Kenley về chuyện tăng tiền thuê phòng. Kenley biết rất rõ tôi đang phải tiết kiệm từng xu một để đến Rome ra sao mà vẫn khăng khăng đòi trói tay tôi, anh viết. Bạn bè thế đấy. Tôi muốn thương xót anh, nhưng thực lòng lại thấy mình ích kỷ biết ơn vì kế hoạch của anh bị trì hoãn.
Đến thời điểm đó tôi đã có cả một kho giấu kha khá thư rồi, chắc phải trên một trăm lá, và tôi tích trữ chúng gọn ghẽ trong một ngăn tủ trên gác. Tôi lấy chiếc hộp xuống và đọc lại thư vào những ngày không nhận được một bức chuyển phát đặc biệt nhàu nhĩ một cách đẹp đẽ nào. Loại tem đặc biệt ấy giá những một hào mà anh thì đang phải tiết kiệm những đồng hào ấy để đổi ra tiền lia. Tôi thấy khó chịu khi biết anh đang đặt Jim Gamble, phiêu lưu và công việc lên hàng đầu. Tôi cũng không thể quên đi chuyện anh trẻ hơn tôi đến thế nào. Chín năm có thể chẳng nhiều nhặn gì nếu có ngày chúng tôi cùng nhau tới được tuổi trung niên, nhưng Ernest có thể trẻ trung, dồi dào sức khỏe và tràn đầy dự định đến nỗi tôi khó mà hình dung ra anh ở tuổi trung niên. Anh giống như chàng trai bước đi nhẹ bẫng theo đuổi chân lý và cái đẹp khắc trên một chiếc bình Hy Lạp vậy. Chính xác thì tôi phải hòa nhập với anh ở chỗ nào đây?
“Đôi lúc tớ nghĩ tớ đã quá già để yêu rồi,” tôi nói với Ruth vào một buổi chiều nọ. Hai đứa ngồi trên giường trong phòng tôi, một đĩa bánh quy uống trà đặt ở giữa, trong lúc ngoài kia tuyết rơi như thể sẽ không bao giờ ngừng.
“Cậu quá già — hay là cậu ta quá trẻ?”
“Cả hai,” tôi nói. “Xét một mặt nào đó thì cậu ấy còn sống nhiều hơn tớ ấy chứ, và dĩ nhiên là cậu ấy có nhiều niềm hứng khởi hơn. Nhưng đồng thời cậu ấy cũng có thể lãng mạn và ngây thơ kinh khủng. Như chuyện với Agnès ấy. Cô ta khiến trái tim cậu ấy tan vỡ, tớ tin chắc là thế, nhưng cậu ấy cứ mang trái tim ấy đi khắp nơi như một đứa trẻ bị thương ấy.”
“Nói thế là không công bằng, Hadley. Chẳng phải cậu cũng đau khổ vì Harrison William đấy sao?”
“Đúng vậy. Ôi Ruth ơi.” Tôi lấy hai tay ôm đầu. “Tớ chẳng biết cái quái gì đang nhập vào tớ nữa. Tớ nghĩ chắc là tớ sợ.”
“Tất nhiên là cậu sợ rồi,” cô ấy dịu dàng nói. “Nếu cậu thực lòng nghĩ cậu ta quá trẻ với mình thì ổn rồi, hãy quyết định đi và cứ thế mà làm.”“Cậu có cho rằng tớ sẽ thôi không lo nữa khi tớ biết chắc cậu ấy yêu mình không?”
“Hãy cứ lắng nghe bản thân thôi.”
“Có quá nhiều thứ để mất.”
“Luôn như thế mà,” cô ấy nói.
Tôi thở dài và với lấy một chiếc bánh nữa. “Lúc nào cậu cũng khôn ngoan thế' này hả Ruth?”
“Chỉ khi đấy là chuyện của người khác thôi.”
Hôm sau không có thư Ernest, hôm sau nữa cũng không, và cả hôm sau nữa nữa. Ngày càng rõ là anh đang dần quên tôi hoặc đang cố tình đẩy tôi sang một bên, thay vào đó anh lựa chọn Rome và niềm hy vọng thành công với sự nghiệp viết lách. Tôi thấy bị tổn thương, đồng thời cũng ghen tị kinh khủng. Anh có một thứ rất thật để gửi gắm hy vọng, có thứ để mà sống vì nó. Những ước mơ của tôi đơn giản hơn và, thành thực mà nói, ngày càng gắn chặt với anh. Tôi muốn một căn nhà giản đơn ở một nơi nào đó, với Ernest vừa đi lên lối vào vừa huýt sáo, mũ cầm trong tay.
Anh chưa từng nói hay làm gì gọi ý rằng một chuyện như thế sẽ xảy ra. Vậy ai mới là kẻ ngây thơ và lãng mạn đây?
“Nếu chuyện kết thúc thì mình có thể rất can đảm đấy,” tôi bảo Ruth và Bertha như thế vào ngày không thư thứ ba, cảm thấy một cục nghẹn to tướng đang nghiến chặt rồi tan dần nơi cổ họng. “Mình sẽ xắn tay đi tìm người khác.”
“Ôi, cô bé ơi,” Ruth nói. “Cậu đang tuyệt vọng quá rồi phải không?”
Sau khi ai về giường nấy, tôi cứ xoay ngang trở dọc hàng tiếng đồng hồ đến tận hơn hai giờ mới chập chờn ngủ được. Sáng hôm sau, vẫn cảm thấy đầu óc mịt mùng và tâm trạng chán nản, tôi kiểm tra hộp thư. Vẫn còn quá sớm để thư từ đến nơi, nhưng tôi vẫn kiểm tra — tôi không thể đừng được. Ở đó, trong hộp, không chỉ một mà có đến hai bức thư, cả hai đều dày bịch đầy hứa hẹn. Suy nghĩ một cách lý trí thì tôi biết chắc hẳn cậu bé đưa thư đã ghé qua nhét chúng vào từ tối hôm trước nên tôi không hay biết gì, nhưng một phần trong tôi lại muốn tin rằng nỗi mong đợi khắc khoải của tôi đã gọi hai lá thư này đến. Dù là thế nào thì sự im lặng của Ernest cuối cùng cũng chấm dứt. Tôi tựa vào rầm cửa, mắt nhòa đi vì những giọt lệ nhẹ nhõm.
Trở lại tầng trên, tôi vội vàng xé mở hai phong bì. Bức đầu tiên tràn ngập những tin tức thường lệ về công việc và vui chơi ở nhà Kenley, gần đây được đề cập đến với danh xưng “Chốn Cư Ngụ”. Đêm hôm trước có một trận đấm bốc ở phòng khác, trong đó Ernest đóng vai John L. Sullivan, trồi sụt đu đưa trong bộ quần áo lót dài, lưng thắt khăn lụa màu nâu. Tôi phá lên cười khi hình dung ra hình ảnh anh ăn mặc như thế và vẫn còn đang cười lúc bắt đầu đọc bức thư thứ hai. Vẫn đang nghĩ về Rome, thư bắt đầu như thế, nhưng nếu em cũng đi cùng thì sao — với tư cách một người vợ?
Vợ. Cái từ ấy khiến tôi khựng lại. Tôi chưa từng gặp mẹ anh hay bất cứ thành viên nào trong gia đình anh. Anh thậm chí còn chưa bao giờ tới St. Louis ngồi trong phòng khách nhà tôi mà chịu đựng ánh mắt thiếu thiện cảm của Fonnie. Ấy thế nhưng cũng có thể anh nói nghiêm túc. Chỉ là cái cách anh cầu hôn, không chuẩn bị trước, sau một câu chuyện đùa về đấm bốc. Sáng hôm đó tôi viết thư trả lời: Nếu anh đã sẵn sàng điên cuồng lao tới như vậy thì em cũng sẵn lòng.
Rome. Cùng nhau. Thật là một ý nghĩ khác thường. Khi tôi thả cho mình tưởng tượng về chuyện kết hôn với Ernest, chúng tôi luôn sống tại St. Louis hoặc Chicago, ở một nơi rất giống Chốn Cư Ngụ, đầy trò vui và những cuộc nói chuyện thú vị bất kể giờ giấc. Sống cùng Ernest ở nước Ý là một ý tưởng vừa mê ly vừa đáng sợ, vừa hoàn toàn đột phá. Hồi mười bảy tuổi tôi từng đến Florence và Rome một chuyến với mẹ và hai chị gái. Chuyến đi thật là thảm họa, và tôi nhớ rất ít về vẻ đẹp ở đó — chỉ có hơi nóng, những lần ngất xỉu và muỗi. Ở Rome với Ernest hẳn phải khác. Chính tôi sẽ khác đi ở đó. Sao lại không thể chứ? Tôi có thể thấy hai đứa chúng tôi khoác tay nhau dạo bước dọc sông Tiber, đi qua mọi cây cầu, từng chiếc một. Đi thôi, tôi vô tư viết, lòng ngập tràn mong đợi. Em đã xếp đồ rồi đây này.
Rồi tôi bước ra ngoài trời không áo khoác, không khăn quàng. Bầu trời thấp và xám xịt, trút xuống những bông tuyết lớn. Tôi ngước lên, hé miệng và nếm vị tuyết.
TÁM
Hai tuần sau lời cầu hôn của Ernest, tất yếu tôi phải đi một chuyến tới Chicago để chào hỏi toàn bộ người nhà Hemingway. Tôi đã lo lắng đến nỗi phải uống trước nửa già chai rượu rồi cứ đi đi lại lại trong phòng khách ở Chốn Cư Ngụ, trong lúc Ernest cố hết sức để trấn an tôi. Cuối cùng chiều hôm đó Kate cũng xuất hiện, và chuyện này chẳng giúp được gì cho tôi. Ernest đang đi làm và cô ấy thấy tôi ở nhà Kenley có một mình.
“Cậu không cưới Wem thật đấy chứ? Thật nực cười.” Giọng cô ấy rít lên the thé. Vừa nãy cô ấy đã xông vào mà chẳng thèm cởi mũ áo gì.“Kate à, làm ơn ngồi xuống và cư xử có lý chút đi.” “Rồi cậu sẽ phải hối tiếc vì chuyện này thôi. Tớ biết thể nào cũng vậy. Cậu ta quá trẻ và bốc đồng.”
“Thế còn tớ thì sao? Một bà cô bé nhỏ bình thản ư?”
“Không phải thế, cậu chỉ ngây thơ thôi. Cậu đặt nhiều niềm tin vào cậu ta quá.”
“Thật tình, Kate à. Cậu được cho là bạn của anh ấy đấy nhé. Anh ấy đã làm gì để cậu quay lưng lại với anh ấy như thế?”
Cô ấy đột ngột ngừng quát tháo ầm ĩ và ngồi phịch xuống trường kỷ.
“Chẳng làm gì cả.”
“Vậy thì sao lại thế này?” tôi hạ giọng và đi đến ngồi cạnh cô ấy.
“Hãy nói cho tớ biết điều gì đang xảy ra đi.”
“Tớ không thể.” Cô ấy chậm rãi lắc đầu. Mắt cô ấy trong veo và buồn bã.
“Tớ không muốn mọi chuyện trở nên xấu xí hơn nữa, mà cậu cũng chẳng muốn thế đâu. Tớ sẽ mừng cho cậu, tớ thề đấy.”
Tôi cảm thấy như có sét đánh ngang tai, và âm thanh ấy không hề lặng đi suốt buổi chiều hôm đó. Khi Ernest đi làm về, tôi vẫn còn quá giận đến nỗi tôi gần như mai phục anh ngay tại cửa.
“Có điều gì anh muốn nói với em về Kate không? Em nghĩ có vẻ như cô ấy khá là yêu anh đấy.”
Tôi ngạc nhiên thấy mình có thể nói lên được ý nghĩ ấy thành tiếng, nhưng Ernest đón nhận câu nói với một vẻ bình tĩnh lạ lùng.
“Có thể,” anh nói. “Nhưng không phải lỗi của anh. Anh đâu có khuyến khích chị ấy.”
“Không phải lỗi của anh sao? Em thì lại thấy cô ấy đã rất tổn thương vì chuyện gì đó.”
“Em nghe này. Kate là Kate. Chuyện đã là quá khứ rồi. Em có thật sự muốn biết tất cả không?”
“Em muốn chứ. Em muốn biết toàn bộ. Tất cả những ai anh đã từng hôn hay chỉ tưởng tượng rằng anh yêu người ta trong thậm chí là hai phút.”
“Thật điên rồ. Tại sao chứ?”
“Vậy anh có thể nói cho em hay họ không quan trọng ra sao, và anh yêu em hơn họ thế nào.”
“Đó là điều anh đang nói với em đây. Em có để tai nghe chút nào không đấy?”
“Sao mình cưới nhau được nếu giữa mình có bí mật chứ?”
“Em không muốn cưới nữa à?”
“Anh thì sao?”
“Dĩ nhiên là anh muốn rồi. Em đang làm quá lên đấy Hash. Hãy có lý chút đi.”
“Đó là điều Kate nói.”
Anh nhìn tôi vẻ cáu tiết đến nỗi tôi không đừng được mà òa lên khóc.
“Ôi, đến đây nào, mèo con bé bỏng. Mọi chuyện rồi sẽ ổn thôi. Rồi em sẽ thấy.”
Tôi gật đầu và lau khô nước mắt. Rồi tôi hỏi xin thứ gì để uống.
Chúng tôi mượn xe của Kenley để lái ra ngoại ô đến căn nhà gia đình lớn của anh ở Oak Park. Càng đến gần đại lộ Kenilworth, Ernest càng trở nên kích động.
“Anh nghĩ họ có thích em không?” tôi hỏi.
“Họ sẽ yêu em ấy chứ. Vấn đề là họ không ưa gì anh lắm.”
“Họ yêu anh. Họ phải thế chứ.”
“Họ yêu anh như yêu một đàn sói vậy,” anh cay đắng nói. “Thế em cho rằng tại sao anh phải thuê trọ nhà Kenley khi gia đình mình ở cách có mười lăm dặm hả?”
“Ôi trời. Em chưa từng nghĩ về chuyện này theo hướng ấy. Giờ đã quá muộn để quay lại chưa anh?”
“Quá muộn rồi,” anh nói, và chúng tôi tấp vào một lối xe chạy dài hình vòng xuyến. Mẹ Ernest, bà Grace, đích thân đón chúng tôi ở cửa, phải nói là đẩy những người hầu sang một bên để làm thế mới đúng. Trông bà mũm mĩm và xa hoa, với một búi tóc bạc cuốn trên đầu. Tôi còn chưa kịp bước chân lên thềm thì bà đã lao tới, túm lấy tay tôi trong tay bà, và ngay cả khi tôi mỉm cười và cố hết sức để quyến rũ bà, tôi vẫn thấy được tại sao Ernest chống đối mẹ mình. Bà to lớn và ồn ã hơn bất cứ thứ gì xung quanh, giống hệt mẹ tôi. Bà làm thay đổi trọng lực trong phòng; bà khiến mọi thứ phải xảy ra.
Trong phòng khách, có bốn chiếc sandwich đẹp đẽ đặt trên bốn cái đĩa còn đẹp hơn cùng một chai sâm banh hồng. Chị cả của Ernest, Marcelline, ngồi cạnh tôi trên một chiếc đi văng giường, và mặc dù chị có vẻ là một cô gái khá dễ chịu, tôi vẫn thấy hơi không thoải mái vì trông chị giống em trai mình quá. Ursula cũng giống anh, nụ cười như đúc cùng một khuôn, và cả chiếc lúm đồng tiền nữa. Sunny mười sáu tuổi xuất hiện thật dễ thương trong bộ cánh chiffon màu vàng nhạt. Cậu út Leicester, mới chỉ lên sáu, bám đuôi Ernest như một chú cún đến tận khi anh chấp thuận làm một ván đấm bốc với cái bóng của chính mình trong phòng ăn. Trong lúc đó, bà Grace giữ rịt tôi ở phòng khách bàn về sự ưu việt của đăng ten châu Âu, còn bác sĩ Hemingway thì lảng vảng xung quanh với một đĩa phô mai và củ cải đỏ ông tự muối từ khu vườn của mình ở hồ Walloon.
Sau bữa tối, bà Grace đề nghị tôi chơi đàn trong lúc bà đứng cạnh hát một bản Opéra. Rõ ràng Ernest thấy rất xấu hổ. Anh còn xấu hổ hơn khi bà Grace khăng khăng đòi cho tôi xem một bức ảnh trong một cuốn album rõ là rất được nâng niu, trong ảnh Marcelline và Ernest mặc giống hệt nhau, cả hai đều diện váy vải bông kẻ màu hồng, đội mũ rơm vành rộng cài hoa. “Hadley không muốn xem thứ gì như vậy đâu mẹ,” Ernest nói từ bên kia phòng.
“Dĩ nhiên là nó muốn chứ.” Grace vỗ vỗ tay tôi. “Phải không cháu yêu?”
Bà mân mê bức ảnh với vẻ sở hữu. “Trông thằng bé xinh quá phải không? Bác cho rằng mình cũng thật ngớ ngẩn khi mặc đồ con gái cho nó như thế, nhưng bác chỉ chiều theo ý thích nhất thời lúc ấy thôi. Chẳng hại ai mà.”
Ernest đảo mắt. “Phải đấy mẹ. Có cái gì làm hại ai bao giờ đâu.”
Bà phớt lờ cậu con. “Nó luôn thích kể chuyện, cháu biết không. Về con ngựa bập bênh của nó, con Hoàng Tử, và cô y tá của nó, gấu Lillie. Và nó là một đứa kinh khủng, ngay cả khi còn bé tí. Nếu nó không thích việc gì cháu làm, nó sẽ vả cháu rất đau, ngay chỗ cháu đứng, rồi sau đó lại mon men đến đòi hôn hít.”
“Nhớ đừng có mà làm thế vói Hadley đấy,” Marcelline nói, một bên mày chị nhướng lên với Ernest.
“Có khi chị ấy lại thích thế,” Ursula nói, toét miệng cười.
“Ursula!” bác sĩ Hemingway nạt.
“Cất cuốn album đi mẹ,” Ernest nói.
“Ôi chà chà,” bà Grace nói, tay lật sang trang. “Đây là bức ảnh chụp ngôi nhà nghỉ ở Windemere. hồ Walloon xinh đẹp.” Và thế là bà lại hào hứng nói mãi không dứt.
Buổi tối cứ thế trôi đi. Có cà phê, những ngụm brandy nho nhỏ và bánh ngon, rồi lại thêm nhiều cà phê nữa. Khi cuối cùng chúng tôi cũng được phép ra về, bà Grace còn gọi với theo mời hai đứa đến ăn tối hôm Chủ nhật.
“Còn khuya,” Ernest lầm bầm trong khi dắt tôi đi xuôi lối đi.
Khi chúng tôi đã an toàn trở lại xe và lên đường về nhà Kenley, tôi nói, “Cả nhà anh lịch sự với em kinh khủng, nhưng em có thể thấy tại sao anh lại muốn giữ khoảng cách với họ.”
“Anh vẫn còn là một đứa trẻ đối với họ, thậm chí với cả bố anh, và khi anh làm căng để phản đối chuyện đó thì anh trở thành kẻ ích kỷ, thiếu suy nghĩ, hoặc một thằng tồi, và họ không thể tin anh.”
“Cũng chẳng khác em lắm hồi mẹ em còn sống. Mẹ chúng ta thật giống nhau. Anh có nghĩ đó là lý do chúng ta bị hấp dẫn bởi nhau không?”
“Vì Chúa, anh hy vọng là không phải thế,” anh nói.
Vì chúng tôi mới đính hôn nên quy chế mới được áp dụng cho tình trạng sống của chúng tôi ở nhà Kenley. Tôi vẫn được mời ở trong căn phòng quen thuộc, nhưng Ernest bị yêu cầu đến chỗ bạn bè khác ở nhờ trong thời gian tôi lưu lại.
“Anh không hiểu sao đột nhiên Kenley lại cư xử cứng nhắc thế,” Ernest nói khi chuyển tin này đến cho tôi. “Cậu ta đâu có trong sáng như gương.”
“Cậu ấy chỉ bảo vệ thanh danh của em thôi mà, có phải là vì cậu ấy đâu,” tôi nói. “Nghĩ cho cùng thì đó là hành động khá ga lăng đấy.”
“Là cái gai ở cổ thì có. Anh muốn thấy em từ sáng sớm, ngay sau khi em mở mắt thức dậy. Đòi hỏi thế là quá nhiều à?”
“Chỉ lúc này thôi mà. Ngay khi mình lấy nhau thì anh muốn thấy em theo kiểu gì chẳng được.”
“Ý nghĩ mới hay ho làm sao.” Anh mỉm cười.
“Quá hay ấy chứ.”
Chuyện tôi vẫn còn trinh trắng chẳng phải bí mật to tát gì. Ngoại trừ một nụ hôn nồng nàn ở chỗ này chỗ khác đến từ những người theo đuổi khác nhau, kinh nghiệm của tôi với tư cách một người tình chỉ là một con số không tròn trĩnh. Ernest hay bóng gió rằng anh biết rất nhiều cô gái. Tôi đoán anh đã ăn nằm với Agnès ở Ý rồi — dù sao thì hồi đó họ cũng chuẩn bị cưới — nhưng hơn hết thảy, tôi cố không nghĩ đến chuyện đó. Cứ khi nào tự hỏi liệu mình có thỏa mãn được anh không là tôi lại hết sức lo lắng, vậy nên tôi gạt ý nghĩ đó sang một bên và tập trung nghĩ rằng làm tình, trong mọi cách có thể, sẽ là một cách để hiểu anh mà không có trở ngại hay rào chắn gì cả. Chuyện tôi thiếu kinh nghiệm sẽ không trở thành vấn đề đâu. Anh sẽ cảm thấy tôi yêu toàn bộ con người anh và không giữ lại gì cho mình cả. Sao anh lại không thể cảm thấy điều ấy chứ?
Có vẻ như Ernest đã chuẩn bị tinh thần để chờ đến đêm tân hôn — chắc chắn anh sẽ không bao giờ ép tôi dưới bất cứ hình thức nào — nhưng vào cái đêm chúng tôi đến thăm Oak Park, sau một nụ hôn dài tạm biệt trước cửa nhà Kenley, anh bảo tôi rằng tối hôm đó anh sẽ không quay về nhà Don Wright để ngủ.
“Anh sẽ cắm trại ngoài trời.”
“Cái gì?”
“Đi nào. Anh sẽ chỉ cho em xem.”
Tôi theo anh đi lên sân thượng theo lối thoát hiểm hỏa hoạn, chuẩn bị sẵn tinh thần rằng trên đó sẽ rét cóng — đang là tháng Ba mà, còn hàng tuần nữa mới đến mùa xuân đích thực ở Chicago — nhưng rồi chúng tôi chui vào một góc có mái che, Ernest đã chất đống chăn ga ở đó để tạo cảm giác ấm cúng.
“Anh đã tạo nên cả một vương quốc nho nhỏ ở đây đấy nhỉ?”
“Ý tưởng là thế mà. Em muốn uống chút rượu không?” Anh với tay vào cái ổ của mình rồi lôi ra một cái chai đóng nút bần và một tách uống trà.
“Anh còn giấu thứ gì khác ở đó nữa thế?”
“Vào mà tự khám phá đi.” Giọng anh nhẹ bẫng và trêu chọc, nhưng khi tôi nằm cạnh anh trên tấm ga và anh với tay sang để quấn chăn quanh vai tôi, tôi thấy tay anh run rẩy.
“Anh đang hồi hộp,” tôi nói.
“Chẳng biết tại sao nữa.”
“Anh đã cùng với rất nhiều cô rồi đúng không?”
“Chẳng ai như em cả.”
“Ai chà, đó đúng là một câu trả lời hoàn hảo đấy.”
Chúng tôi quây chăn quanh mình như một cái lều rồi hôn nhau thật lâu, quấn chặt như một chiếc kén, ấm áp và cách biệt với phần còn lại của thế giới. Thế rồi, thậm chí không hề biết trước rằng mình sẽ làm thế, tôi cởi áo khoác và áo cánh ra, rồi nằm xuống cạnh anh, không bận tâm đến chiếc áo vét len của anh cọ lên làn da trần của mình hay cái cách anh lùi lại để nhìn tôi.
Tôi không thấy xấu hổ hay trần trụi như tôi từng tưởng. Ánh mắt anh dịu dàng và bàn tay anh cũng thế. Chúng đặt lên ngực tôi và tôi sửng sốt trước nguồn điện lan khắp người tôi mà sự động chạm của anh mang lại. Tôi uốn cong người về phía cơ thể anh theo phản xạ, và sau đó mọi thứ diễn ra rất nhanh, tay tôi khẩn thiết tìm tay anh, miệng anh trên mí mắt tôi, trên cổ tôi, ở khắp mọi nơi cùng một lúc. Cảm giác ấy hoàn toàn mới mẻ, nhưng không hiểu sao rất tự nhiên và đúng đắn, cho dù có đau đớn.
Khi tôi còn là một thiếu niên mới lớn, mẹ có một bài báo được in trên tờ Cộng hòa mới nói rằng một người vợ mà thích hoạt động tình dục thì chẳng hơn gì một ả điếm. Sự phục tùng là cần thiết để còn có con cái, dĩ nhiên rồi, nhưng mục tiêu cuối cùng của phụ nữ chỉ có thể là tình trạng độc thân nghiêm ngặt và sung sướng mà thôi. Tôi đã không biết phải nghĩ gì hay trông đợi gì vào tình dục, ngoài sự khó chịu. Khi lớn hơn và hiếu kỳ hơn, tôi lướt qua những đoạn trích tác phẩm Tâm lý học tình dục của Havelock Ellis trong cuốn Tuần san văn học của Roland để có những thông tin cần thiết. Nhưng có những chuyện tôi gặp khó khăn khi nghĩ cụ thể hơn — giả dụ như hai cơ thể sẽ gặp nhau ở đâu, và cảm giác đó thực sự như thế nào. Không hiểu do tôi bị kìm nén hay vì tôi quá ngu dốt, nhưng trong trí tưởng tượng của tôi về đêm tân hôn, Ernest sẽ bế tôi băng qua một bậc thềm rắc hoa và chiếc váy cưới trắng biến mất. Rồi, sau một cuộc giằng co mơ hồ ngọt ngào thế nào đó, tôi đã thành đàn bà.
Trên sân thượng hôm đó, mọi bức màn bí ẩn biến mất, và khi không còn chút mẩu hoang tưởng mờ mịt nào sót lại trong mình, tôi nghĩ điều khiến tôi ngạc nhiên nhất là khao khát của chính tôi, tôi đã sẵn sàng đón nhận anh biết bao, sự trần tục tuyệt đối của da thịt và thân nhiệt. Tôi muốn anh, và không gì — kể cả sự va quệt vụng về của đầu gối và cùi chỏ khi chúng tôi cố sát lại nhau hơn, kể cả cảm giác nhói buốt khi anh đi vào trong tôi — có thể thay đổi điều đó. Khi toàn bộ sức nặng của anh đè lên tôi, và qua những lần chăn tôi có thể cảm nhận mọi đường nét lồi lõm của mái nhà dưới lưng và hông mình, tôi chợt cảm nhận những khoảnh khắc hạnh phúc nguyên sơ dâng tràn mà tôi biết mình sẽ không bao giờ quên. Như thể chúng tôi ép vào nhau cho đến khi xương anh xuyên qua xương tôi và hai chúng tôi nhập làm một, nhanh chóng hơn bao giờ hết.
Sau đó, chúng tôi nằm ngửa trên chăn và ngắm những vì sao đang tỏa sáng rực rỡ ở khắp nơi trên đầu.
“Anh có cảm giác như anh là thú cưng của em vậy,” anh cất lời, giọng anh mềm và ấm. “Em cũng là thú cưng của anh nữa, ả mèo nhỏ xinh hoàn hảo của anh ạ.”
“Có bao giờ anh nghĩ chuyện sẽ như thế này không? Cái cách chúng ta đến với nhau ấy?”
“Anh có thể làm bất cứ chuyện gì nếu có em ở bên,” anh nói. “Anh nghĩ mình có thể viết sách. Ý anh là, anh muốn viết, nhưng vấn đề ở chỗ việc đó có thể trở nên ngớ ngẩn hoặc vô ích.”
“Dĩ nhiên là anh có thể làm được, và cuốn sách sẽ rất tuyệt. Em chắc chắn đấy. Trẻ trung và tươi mát và mạnh mẽ giống hệt như anh vậy. Nó sẽ là chính anh.”
“Anh muốn nhân vật của anh sẽ giống chúng ta, chỉ là những con người cố sống đơn giản và nói những điều họ thật sự nghĩ.”
“Chúng ta nói những gì mình nghĩ, nhưng việc đó rất khó phải không? Có lẽ là việc khó nhất trên đời, khi là người thực sự thành thật ấy.”
“Kenley nói chúng ta vội vàng quá. Cậu ấy không hiểu tại sao anh lại muốn đi theo hướng hôn nhân trong khi cuộc sống độc thân hợp với anh đến vậy.”
“Cậu ấy có quyền nghĩ thế mà.”
“Ừ, nhưng không chỉ có cậu ấy. Sừng Nhi lo là anh sẽ làm hỏng sự nghiệp của mình mất. Jim Gamble thì nghĩ anh sẽ quên toàn bộ mục đích của việc đến Italie một khi chúng ta ràng buộc với nhau. Còn Kate thì chẳng nói chuyện với ai trong hai ta.”
“Thôi làm ơn đừng mang cô ấy ra đây anh. Không phải lúc này.”
“Được rồi,” anh nói. “Anh chỉ muốn nói rằng dường như không ai hiểu được rằng anh cần điều này. Anh cần em.”
Rồi anh ngồi thẳng dậy và nhìn vào mặt tôi đến khi tôi nghĩ mình sắp tan ra trong cái nhìn ấy mất.
“Anh hy vọng mình sẽ may mắn được sống đến đầu bạc răng long với nhau. Ta thấy họ trên phố, những đôi vợ chống đã lấy nhau quá lâu đến nỗi ta không thể phân biệt được ai là ai ấy. Cảm giác đó sẽ thế nào nhỉ?”
“Em rất muốn trông mình giống anh,” tôi nói. “Em rất muốn được là anh.”
Tôi chưa từng nói điều gì thành thực hơn thế. Cái đêm hôm ấy tôi sẽ rất vui lòng trèo ra khỏi lớp da của mình mà chui vào dưới lớp da anh, vì tôi tin rằng đó là ý nghĩa của tình yêu. Chẳng phải tôi vừa cảm thấy hai chúng tôi nhập vào nhau cho đến khi không còn gì khác biệt nữa đấy sao?
Khám phá ra sự lầm lạc của lối suy nghĩ này rồi đây sẽ là bài học khó khăn nhất trong cuộc hôn nhân của tôi. Tôi không thể chạm tới mọi phần của Ernest và anh cũng không muốn tôi làm vậy. Anh cần tôi khiến anh thấy an toàn và được ủng hộ, đúng thế, cùng lý do vì sao tôi cần anh. Nhưng anh cũng muốn mình có thể biến mất vào công việc, tránh xa tôi. Và quay trở lại khi nào anh thích.
CHÍN
Ernest thả người lơ lửng trên mặt hồ rồi lao xuống. Khi nổi lại lên mặt nước, anh bơi đứng và quay mặt về phía cầu tàu nơi Dutch và Luam đang ngồi chuyền tay qua lại chai rượu rẻ tiền, giọng họ vang rõ trên mặt nước.
"Dáng đẹp đấy Wem," Dutch hét lớn. "Cậu dạy tớ lặn như thế được không?"
"Không," anh hét lại. "Tớ không biết dạy ai bất cứ cái gì đâu.”
“Có cần phải ki bo vậy không hả?” Dutch khịt mũi nói, nhưng Ernest không thấy muốn trả lời, vậy nên anh cuộn tròn lại như một hòn đá rồi để mình chìm xuống, rơi xuyên qua hồ cho đến khi đâm đầu vào đáy hồ rêu phủ và thả trôi mình ở đó, những ngón chân chạm vào rêu có cảm giác mát lạnh và là lạ.
Có phải mới mùa hè năm ngoái thôi Kate và Edgar còn ngồi trên cầu tàu ăn anh đào vặt trộm và phun đám hột vẫn còn dính thịt quả vào anh khi anh bập bềnh gần đó? Kate.
Katy yêu dấu với đôi mắt xanh màu mắt mèo và cặp chân dài mượt mà đến tận khung xương sườn. Một đêm nọ nàng đã nói, "Cậu là bác sĩ, khám cho tôi đi,” và anh đã làm theo, hai tay anh đếm từng chiếc xương sườn, lần theo đường cong quanh cột sống của nàng. Nàng không chùn bước, thậm chí không cười. Khi anh lần đến ngực nàng, nàng kéo chiếc áo tắm xuống trong lúc vẫn nhìn anh. Tay anh ngừng chuyển động, anh cố gắng thở..
"Cậu đang nghĩ gì thế Wemedge?”
"Không có gì,” anh nói, cố giữ cho giọng mình bình tĩnh. Núm vú của nàng thật hoàn hảo, anh muốn đặt tay lên, rồi đặt miệng mình lên đó. Anh muốn thả mình rơi xuyên qua Kate như cách anh hay thả mình xuyên qua lòng hồ, nhưng có những tiếng nói vọng lại từ con đường cát dẫn về phía họ. Kate chỉnh đốn lại bộ áo tắm. Anh nhanh chóng đứng dậy và lao xuống nước, cảm giác như nước đang thiêu cháy mình từ đầu đến chân.
Lúc này Kate đang ở cách chỉ hơn một dặm trên cùng con đường này, trong nhà dì Charles của nàng cùng Hadley, cả hai người ở cùng một phòng trên hai chiếc giường nhỏ thơm mùi nấm mốc sương. Anh biết rõ căn phòng ấy cũng như tất cả các phòng trong ngôi nhà đó, nhưng anh thấy thật khó hình dung ra Hadley ở đó hay ở bất cứ nơi nào anh biết rõ. Hồi nhỏ, anh đã học cách bước trên những bờ dốc lốm đốm cỏ phía trước hồ Windermere. Và đó mới chỉ là khởi đầu thôi. Anh đã học được mọi điều đáng học ở nơi đây, cách bắt và đánh vảy và moi ruột cá, cách giữ một con thú dù còn sống hay đã chết, cách đánh đá tạo lửa và di chuyển không tiếng động qua rừng. Cách lắng nghe. Cách ghi nhớ mọi thứ quan trọng để có thể giữ bên mình và dùng đến khi cần.Nơi này chưa một lần nào làm anh thất vọng, nhưng anh thấy hơi lạc lõng khi ở đây tối nay. Ngày mai, lúc bốn giờ chiều, anh và Hadley sẽ kết hôn trong nhà thờ Hội Giám lý trên phố Lake. Anh thấy lòng trào dâng một nỗi hoảng hốt trước việc ấy, như thể anh là con cá đang quẫy đập trong lưới căng, đấu tranh một cách bản năng. Không phải lỗi của Hadley. Kết hôn tất tần tật đều là ý tưởng của anh, nhưng anh đã không nói cho cô hay rằng anh sợ nó đến thế nào. Dù sao thì có vẻ như anh cần phải dẹp nỗi sợ đi để bước qua nó thôi, như anh đã làm với mọi việc khiến anh sợ chết khiếp. Anh sợ hôn nhân và anh cũng sợ phải ở một mình nữa.
Nổi lên từ đáy hồ mát lạnh vào đêm trước lễ cưới, anh thấy thật khó để không quay lưng lại với Hadley hay không cảm thấy mỗi lúc một hoang mang. Anh yêu cô. Cô không làm anh sợ như Kate hay thách anh chạm vào cô với cặp mắt xanh sáng lên trong bóng tối cùng câu nói, "Làm tới đi nào, cậu sợ gì hả Wemedge?” Với Hadley, gần như lúc nào anh cũng cảm thấy mọi điều đều có vẻ đúng đắn. Cô tốt bụng và mạnh mẽ và thật lòng, và anh có thể tin cậy nơi cô. Họ có nhiều cơ hội thành công trong hôn nhân như bất cứ ai khác, nhưng biết đâu hôn nhân không giải quyết được điều gì và không cứu giúp được ai dù chỉ là chút ít? Lúc ấy chuyện gì sẽ xảy ra?
Giờ khi đã nổi lên mặt nước, anh lại nghe thấy tiếng Dutch và Luman tán chuyện về những thứ ngu ngốc mà anh chẳng hiểu một chút nào cả. Nước chảy trên da anh có cảm giác nhạt nhẽo và man mát, vừa níu giữ anh vừa buông thả anh. Anh ngước lên nhìn xoáy đen kịt trên bầu trời và hít đúng một hơi thật sâu đầy căng phổi, rồi anh khỏa chân thật mạnh hướng về phía cầu tàu.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai