📢 Diễn đàn Việt Nam Thư Quán đã hoạt động trở lại! Xem chi tiết »

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

ĐÔ ĐỐC BÙI THỊ XUÂN (Tiểu thuyết lịch sử) - Quỳnh Cư

0 trả lời, 10 lượt xem — Trang 1 / 1





ĐÔ ĐỐC BÙI THỊ XUÂN


Tác giả: Quỳnh Cư

Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Thanh Niên

Năm xuất bản: 2006


PHẦN I
 
Chương I
 
Trao con cho nhũ
mẫu, Bùi Thị Xuân vội vã thay võ phục, rồi đến trước gương thong thả chải từng
nạm tóc óng ả, dài chấm gót. Lâu lắm rồi, Bùi Thị Xuân mới để tâm trang điểm,
chăm chút đến nhan sắc. Cũng thật hãn hữu, vị nữ tướng Tây Sơn mới rời quân
doanh, trở về tư dinh sớm hơn thường lệ như chiều nay. Nguyên do của một loạt sự
việc bất thường là vì Bùi Thị Xuân vừa hay tin quan Thiếu phó Trần Quang Diệu
sau gần trọn năm ra đàng ngoài lo việc bố phòng miền Bắc biên cương, ngăn giặc
Thanh ồ ạt đánh sang đã về đến kinh thành, hiện đang làm lễ triều kiến vua Cảnh
Thịnh. Mường tượng đến giây phút sắp được gặp chồng sau bao xa cách, Bùi Thị
Xuân thấy nóng bừng đôi má. Vén gọn những sợi tóc mai xoã trên vầng trán rộng,
rồi vuốt lại nếp áo lụa mỏng bó sát người, Bùi Thị Xuân hài lòng thấy chiếc áo
may khéo đã tôn lên khổ người nở nang, rất đỗi trẻ trung của mình. Nhưng sao
lòng ta áy náy làm vậy - Bùi Thị Xuân nghĩ - Đáng lẽ được Hoàng đế uỷ thác việc
chỉ huy quân sĩ trấn giữ kinh thành, ta không nên rời quân doanh vào giờ này. Vậy
mà ta lại bỏ về, lo trang điểm, tự ngắm vuốt, hồi hộp đón chồng. Quan Thiếu phó
biết việc này có cười ta không? Bùi Thị Xuân rời chiếc gương, bước đến ngồi trước
kỷ, lòng vẫn không nguôi nghĩ đến chồng. Gần trọn năm xa cách, dù chẳng lời nhắn
gửi nhưng Bùi Thị Xuân thấu hiểu nỗi lo âu vất vả của chồng ở nơi biên viễn xa
xôi khi hàng ngày giặc Thanh vẫn nuôi cuồng vọng thôn tính đất Việt, nhân thể rửa
mối nhục thất trận năm nào. Chắc hẳn quan Thiếu phó phải lặn lội tới những vùng
hàng ngày quân giặc vượt biên đánh sang để lo việc bố phòng, chống đỡ trên suốt
miền đất tiếp cận với giặc. Chuyến đi vì việc quân quốc trọng sự ấy chắc gặp
nhiều trắc trở nên vị chỉ huy tối cao của quân Tây Sơn phải ở lại đàng ngoài
lâu đến thế. Cho nên nếu ta muốn được đón chồng thanh thản, muốn được bày tỏ tấm
tình nồng với chồng như những ngày nào, thì lẽ ấy có gì đáng trách? Nghĩ thế,
Bùi Thị Xuân thấy vui vẻ trở lại. Trong nỗi xao xuyến đón đợi, bồn chồn chờ
mong ây, Bùi Thị Xuân bỗng nhớ tới kỷ niệm về mối tình gần 20 năm trước.

Phải rồi, hồi ấy,
khi còn là một thôn nữ 16 tuổi, một hôm vào rừng lấy thuốc, khi đi ngang qua
khu rừng tranh kề bên con suối nhỏ, Bùi Thị Xuân bỗng gặp một tráng sĩ tay
không đang đánh nhau với con hổ lớn. Không biết trận ác chiến diễn ra từ lúc
nào, nhưng cả vùng rừng tranh lúc ấy đã đổ rạp, đất sục lên như cát, cây cối ngả
nghiêng tơi tả như vừa trải qua một cơn lốc lớn. Kinh hoàng dừng lại, Bùi Thị
Xuân thấy rõ áo quần tráng sĩ đã rách nát, người đẫm máu. Quên hiểm nguy, Bùi
Thị Xuân rút vội con dao đi rừng, hét to lên rồi xông vào đánh nhau với hổ. Kịp
thây đối thủ mới, mãnh thú bỏ tráng sĩ, gầm lên rồi nhe nanh, chồm về phía Bùi
Thị Xuân. Vốn tinh thông võ nghệ, Bùi Thị Xuân chẳng những nhanh nhẹn tránh được
miếng vồ cực kỳ nguy hiểm của hổ dữ mà còn sát tới xả một nhát dao cực mạnh vào
sườn con thú. Khi con thú khùng lên xoay người vòng lại, Bùi Thị Xuân đã chuyển
sang hướng khác. Cô gái trẻ sớm phát hiện được chỗ yếu của con mãnh thú là xoay
người chậm, nhất là khi vừa trượt miếng vồ. Bởi thế, mỗi lần con hổ vồ hụt là lại
bị Bùi Thị Xuân không nhớ rõ đã quần nhau với hổ bao nhiêu lâu, nhưng cuối cùng
trong một lần vồ hụt, vì đã đuối sức, con mãnh thú ngã quỵ xuống, Lợi dụng cơ hội
đó, Bùi Thị Xuân chồm lại, bổ một nhát như trời giáng xuống đầu nó. Sau miếng
đòn ấy, chúa sơn lâm chỉ còn há miệng toang hoác, mình đẫm máu, nằm quằn quại
trên mặt đất, gầm gừ tuyệt vọng.

Cũng vừa khi ấy,
tráng sĩ gắng gượng lại tiếp sức, dùng cây rừng vừa lấy được, bồi thêm cho con
thú chết hẳn. Nhưng ngay sau đó chàng cũng ngã lăn ra đất. Bùi Thị Xuân thấm mệt,
nhưng không kịp nghỉ ngơi, vội xé áo mình băng bó vết thương trên người tráng
sĩ rồi dìu chàng về nhà mình. Có ai ngờ cuộc gặp gỡ ly kỳ đó đã nên nghĩa trăm
năm. Người tráng sĩ ấy là quan Thiếu phó Trần Quang Diệu. Ngày Trần Quang Diệu
lành vết thương cũng là ngày Bùi Thị Xuân bái biệt cha mẹ, theo chân viên tướng
Tây Sơn ra mắt Nguyễn Huệ, nguyện xả thân vì nghĩa lớn. Sớm nhận ra tài năng và
đức độ của cô thôn nữ gốc gác từ Nghệ An theo gia đình vào lập nghiệp ở Xuân
Hoà, ấp Tây Sơn Hạ này, Nguyễn Huệ sau đó đã phong cho Bùi Thị Xuân làm tướng
thống lĩnh đội nữ binh 5000 người. Ít lâu sau, vì có tài điều khiển voi, Bùi Thị
Xuân còn chỉ huy cả đội chiến tượng khét tiếng của chúa Tây Sơn. Cũng chính Đại
tướng Nguyễn Huệ đã đứng ra chủ trì cho cuộc hôn lễ của cặp vợ chồng nhà tướng
Trần Quang Diệu - Bùi Thị Xuân. Từ bấy đến nay, khi vào Nam đánh Nguyễn, khi ra
Bắc phá Trịnh, lúc đánh quân Xiêm ở Đàng Trong, khi thần tốc cả phá 29 vạn quân
Thanh ở Đàng Ngoài, chiến trận khiến vợ chồng chẳng mấy lúc được gần nhau nhưng
mối tình của họ vẫn ngày một nồng đượm.

Thật khó mà ngờ,
con người có vóc dáng cao lớn, có vẻ đẹp võ tướng gầm trời Nam này ít ai sánh bằng,
con người từng xông pha trăm trận, quân thù nghe danh đã khiếp đảm ấy cũng lại
là người vụng về, nhút nhát trong tình yêu. Nhớ hôm nào trên bãi tập võ sau nhà
- Bùi Thị Xuân mơ hồ nhớ lại - chàng trai Trần Quang Diệu ấp úng mãi không dám
ngỏ lời. Đến nỗi chính Bùi Thị Xuân khi ấy, trống ngực cũng đập hơn trống làng,
đã phải cầm tay chàng trai kéo về phía mình. Con người vừa lúc trước còn rụt rè
trong tình yêu thoắt cái đã như mãnh hổ, ôm xốc lấy người con gái. Bùi Thị Xuân
phải năn nỉ chàng mới buông tha. Nhớ tới kỷ niệm cũ, Bùi Thị Xuân càng yêu
thương chồng, bồi hồi mong gặp lại. Chợt có tiếng vó ngựa chạy trên con đường
đá vào tư dinh. Nghe bước ngựa quen, Bùi Thị Xuân nghẹn ngào sung sướng. Viên nữ
tướng Tây Sơn thong thả đứng dậy, hai tay áp vào đôi má nóng bừng để nén xúc động.
Bùi Thị Xuân chưa kịp ra đón thì Trần Quang Diệu chắc nịch trong bộ võ phục đã
xộc vào căn phòng. Quan Thiếu phó sững lại như để chiêm ngưỡng vẻ đẹp khỏe mạnh
trẻ trung của vợ, rồi hệt như ngày nào, xô lại ôm lấy đôi vai tròn lẳn của vợ,
giọng đứt quãng:

- Tôi mừng vì thấy
nàng được khỏe mạnh.

Bùi Thị Xuân gục
đầu vào vai chồng thổn thức:

- Thiếp hằng dõi
theo từng bước Phu tướng đi và lo cho Phu tướng xiết bao.

Trần Quang Diệu
nới rộng vòng tay, đắm đuối nhìn vợ:

- Việc nước việc
nhà bề bộn mà nàng vẫn giữ được nhan sắc như xưa.

Bùi Thị Xuân thỏ
thẻ:

- Phu tướng
không thấy sao, thiếp đã vận bộ xiêm y hồi cưới đó!

Thay bằng câu trả
lời, Trần Quang Diệu áp đôi má còn đầy bụi đường vào má vợ rồi xiết lấy vợ:

- Tôi thật có
phúc mới gặp được nàng.

- Thôi! Thiếp đến
ngạt thở mất. Chẳng hay chuyến đi kinh lý của Phu tướng có được mười phần như ý
không?

Trần Quang Diệu
dìu vợ ngồi xuống chiếc giường kê sát khung cửa sổ rồi thong thả kể về chuyến
ra Đàng Ngoài chỉnh đốn việc quân cơ của mình. Và bỗng dưng những lời thủ thỉ
yêu đương của cặp vợ chồng tướng lĩnh lại bị câu chuyện về thời cuộc cuốn hút.

Như sống lại
trong cảnh đáng lo ngại ở miền biên viễn phương Bắc và hiện trạng xã hội Đàng Ngoài,
Trần Quang Diệu vụt đứng dậy, đi bách bộ trong phòng lớn, vẻ mặt căng thẳng:

- Thực là từ
ngày Tiên đế băng hà, lợi dụng Hoàng đế Cảnh Thịnh còn non trẻ, triều đình chia
bè kéo phái xung đột nhau, Thanh triều lại nổi lòng tham muốn thôn tính Đại Việt
để thoả mộng làm bá chủ thiên hạ. Mọi việc trù tính cất quân sang đánh Đại Việt
đã được bọn người độc ác ấy bàn soạn thấu đáo. Chúng đã sai thợ và bọn vô lại
Lê Chiêu Thống vẽ bản đồ Đại Việt, ghi chú tất cả núi sông hiểm yếu cùng nơi
đóng quân của ta, toan dựng cương thường cho nước láng giềng. Hiện chúng thường
cho quân vượt biên ải sang cướp phá, làm náo động nhân tâm của ta; chúng lại
cho người đi chiêu dụ các thổ tù người sơn cước và người nước chúng đang sinh sống
ở ta để làm nội ứng. Bọn người tự nhận là thiên triều ấy còn ra dụ cho vua Xiêm
hiệp đồng với chúng, đưa quân đánh chiếm vùng Quảng Nam của ta, ngầm giúp bọn
giặc Ánh từ Gia Định đánh ra, mưu đẩy ta vào thế khốn khó, phải bó giáo quy
hàng.

Bùi Thị Xuân cười
mỉa mai:

- Thanh triều quả
đã quên Chinh Nam đại tướng quân Tôn Sĩ Nghị cùng đại quân của hắn phải đại bại
ở Thăng Long, nhục nhã rút chạy như lũ chuột về nước? Chẳng nhẽ những binh
vong, tướng bại từ chiến trường Đại Việt bê bết trở về chưa cho Thanh triều hồi
tỉnh sao?

Quan Thiếu phó hạ
giọng:

- Nàng yên lòng,
Thanh triều nuôi cuồng vọng thôn tính Đại Việt nhưng dễ gì làm được. Chính nước
chúng cũng đang đại loạn, đang bị bọn người mũi lõ mắt xanh ở Tây Dương nhòm
ngó. Điều nực cười là Thanh triều giữ mình chưa xong còn muốn thôn tính nước
người. Vả, tôi đã điều binh lập đồn căng ra khắp tuyến biên ải và cho phép tướng
sĩ ta mặc sức đánh giết bất luận quân giặc từ đâu tới. Mấy lần đem quân sang cướp
bóc không còn một mống trở về, xem ra chúng đã bớt hùng hổ.

- Việc ở Bắc
cương như vậy là đã có kế đánh giữ. Còn nội tình Đàng Ngoài? Thiếp nghe nói dân
tình không yên, việc đó có hay không?

Trần Quang Diệu
thẫn thờ:

- Điều đáng bận
tâm nhất và là nỗi đau lòng của những người chính trực là không thể không thừa
nhận dân tình Đàng Ngoài đã bắt đầu chán ngán triều Tây Sơn. Những sự thật ẩn
chứa biết bao điều cay đắng.

- Sao vậy? Năm
nào theo chân Tiên đế ra đánh giặc Thanh, thiếp đã tận mắt nhìn thấy dân Bắc Hà
gắn bó với triều Tây Sơn biết chừng nào.

- Dân chúng
không có lỗi. Tội lỗi là ở những kẻ cư quan nhiệm chức. Chính bọn họ nhân cơ hội
triều đình lục đục đã đua nhau đục khoét lương dân, vét cho đầy túi tham. Họ
thường lấy nê tận diệt nhà Lê bán nước để thẳng tay hà hiếp lương dân, có khi
tàn phá cả làng không thương tiếc. Quân sĩ được thể thường sách nhiều dân đen,
gây nên cảnh oán thán cả triều đình. Chính tôi đã nghe miệng con trẻ rêu rao một
bài thơ mà giật mình.

- Con trẻ nói
sao? - Bùi Thị Xuân tỏ ý sốt ruột.

- Chúng hát rằng:

Đô đốc, tam thiên Đô đốc

Chỉ huy, bát vạn chỉ huy

Truy uý, vệ uý chẳng kể làm chi

Cai đội, đội phó lấy tàu mà chở

Mười quan thì được tước hầu

Năm quan tước bá, ai hầu kém ai.

- Chao ơi - Bùi
Thị Xuân kêu lên - Người ta có nói quá lên không? Chẳng lẽ dân rẻ rúng những kẻ
cai trị dân đến vậy sao? Thiếp nghe nói hầu hết quan lại Đàng Ngoài đều đỗ đạt
cao, có học vấn uyên thâm mà sao lại tối tăm làm vậy.

Trần Quang Diệu
đột ngột nổi nóng, dằn giọng:

- Nàng muốn nói
đến bọn văn quan Đàng Ngoài chứ gì? Biết nói thế nào đây cho phải. Lâu nay, dường
như bao nhiêu công phu của kẻ đi học chỉ cốt cho nhớ những sách tứ thư ngũ
kinh, cùng những lời thế chú của tiên nho trong sách ấy. Hàng ngày, họ chỉ cốt
tập cho thông thạo những lề lối ở chốn khoa trường là kinh nghĩa, thơ phú, văn
sách. Ấy là dùng hư văn mà xét tài thực dụng, đem sự hoa mỹ làm mực thước đo
tài kinh luân. Bởi vậy, ai hay thơ phú đã tưởng mình giỏi việc nước, ai hay
kinh nghĩa đã nghĩ mình hơn người. Việc đời thì tối tăm mù mịt mà đã tự phụ
kiêu căng, coi thiên hạ như rơm rác, coi mình như thần thánh.

Bùi Thị Xuân không
giấu nổi sửng sốt:

- Có lẽ nào Phu
tướng xếp tất cả các văn quan vào một rọ. Thiếu gì người thức thời, một đời cống
hiến cho dân nước như Ngô Thì Nhậm, như Phan Huy Ích.

- Thật ra thì
nho sĩ có hai loại. Loại thấm nhuần nho học đến chỗ trở nên những phần tử ưu tú
cả về thực học và đạo đức, xứng đáng làm khuôn vàng thước ngọc cho đời sau.
Binh bộ Thượng thư Ngô Thì Nhậm nằm trong số ấy. Bọn quan lại cũng có ăn học,
cũng giữ địa vị cao sang nhưng thời loạn là lũ đầu cơ trục lợi, nước mất mặc nước,
dân chết mặc dân, miễn sao cho mình được vinh thê ấm tử.

- Sao Phu tướng
gay gắt hết với các quan văn như quan Thái sư Bùi Đắc Tuyên vậy? Quan Thái sư
vì thế đã bị các văn võ đại thần oán giận.

Trần Quang Diệu
có vẻ ngạc nhiên:

- Nàng muốn xá tội
cho bọn xu nịnh, gió chiều nào xoay chiều ấy sao? Vậy, thử hỏi nàng, Tiên đế
vào Thăng Long trước sau hai lần. Cả hai lần lũ hủ nho như gà phải cáo, chạy
xiêu bạt bỏ cả vua chúa. Rồi trong khi xác chúa Trịnh Khải còn bị phơi ngoài cửa
Tuyên Võ, Tiên đế gọi về thì lại lúc nhúc về theo, cúi đầu xin dự vào tân
chính. Tiên đế trở lại Phú Xuân, thuyền chưa rời khỏi bến, quan lớn quan bé lại
hăng hái vỗ ngực chửi giặc, kẻ bào chữa cho thái độ của mình, kẻ khoe mẽ trung
quân ái quốc và có nhiều đảm lược. Xem vậy, chính bọn hủ nho cầm quyền ấy đã
làm hỏng đại cục nước nhà.

Bùi Thị Xuân cúi
đầu, giọng nhỏ nhẹ:

- Thiếp không
bênh họ. Ngược lại thiếp còn biết rằng trao quyền bính cho những người u tối kết
cục cũng không khác gì bọn tráo trở thay lòng đổi dạ. Bởi vì kẻ dốt nát nắm giữ
nhiều quyền uy sẽ chỉ dẫn đến tội ác, không thể làm lợi cho dân nước. Nhưng thế
nước hiện không yên, phải có đối sách khéo léo để lôi kéo, khích lệ họ sống chết
vì nghiệp lớn của Tiên đế. Nếu bây giờ ta quá cứng rắn, rũ vơ tất cả, cách chức
tất cả thì nước sẽ sinh loạn.

Trần Quang Diệu
gật gù:

- Nàng nói đúng
lắm! Theo nàng, những kẻ u tối được trao quyền bính kết cục sẽ chỉ gây nên tội
ác. Tôi nói họ làm hỏng đại cục nước nhà là vì vậy. Nhưng ý nàng xác đáng hơn
nhiều.

Bùi Thị Xuân đi
đến bên chồng, ngập ngừng:

- Phu tướng đừng
vội khen việc ở triều đình, lúc Tướng công ra Bắc Hà cũng bội phần rối ren mà
thiếp nào dâng được kế sách gì. Ngay sau khi Phu tướng đi ít lâu, nhân lúc các
triều thần tranh chấp, giặc Ánh được bọn Tây Dương giúp sức đã chia quân làm
nhiều mũi tiến đánh Phan Rí, Nha Trang, Diên Khánh, Bình Khang, Phú Yên rồi thừa
thắng kéo ra cửa Thị Nại. Vua Thái Đức Nguyễn Nhạc sai Thái tử Nguyễn Bảo đem
quân ra chống cự. Nguyễn Bảo thua trận phải chạy về Quy Nhơn. Quân bộ quân thuỷ
của Nguyễn Phúc Ánh liền kéo đến vây đánh Quy Nhơn. Chúng dùng phép thả diều lửa
do bọn Phú-lãng-sa (Pháp) bày cho để đốt phá Quy Nhơn. Vua Thái Đức cầu cứu
Hoàng đế Cảnh Thịnh. Vua ta liền sai Phạm Công Hưng và Đặng Văn Trấn đem quân
thuỷ bộ cùng tiến vào Quy Nhơn. Giặc Ánh hoảng hốt rút về. Giải vây Quy Nhơn,
Phạm Công Hưng cho tịch thu kho tàng và binh khí của vua Thái Đức khiến nhà Vua
tức giận thổ ra máu mà chết.

Trần Quang Diệu
chăm chú nghe, vội cắt ngang:

- Tôi ngờ việc lấy
đất Quy Nhơn không phải là ý của Hoàng thượng mà là của quan Thái sư. Việc làm ấy
là cần, vì xưa Tiên đế đã từng nói với quần thần, vua Thái Đức bạc nhược sẽ chẳng
giữ nổi đất ấy mà còn ngăn đường quân ta tiến đánh giặc Ánh. Tuy vậy, anh em
không thương nghị được, phải cư xử như thế, đau lòng lắm.

Bùi Thị Xuân tiếp,
giọng trầm buồn:

- Việc rắc rối
nào đã hết. Khi Hoàng đế Cảnh Thịnh phong cho Thái tử Nguyễn Bảo chức Hiến công
và cắt cho huyện Phù Ly làm thực ấp rồi cử Bùi Đắc Trụ vào trấn giữ Quy Nhơn,
Nguyễn Bảo đã nuôi chí làm phản triều Tây Sơn. Tin dữ mới nhận được, Nguyễn Bảo
viết mật thư đầu hàng Nguyễn Ánh và hứa làm tướng tiên phong cho giặc.

Trần Quang Diệu
chồm dậy:

- Nếu vậy thì hiểm
hoạ đến nơi rồi. Hôm qua trong lúc làm lễ triều kiến, Hoàng thượng nói ngày một
ngày hai tôi phải đem quân đi đánh giặc. Hỏi đánh nơi nào thì Hoàng thượng chưa
chịu nói. Tôi đâu ngờ việc xảy ra như thế. Vậy ngay sáng mai tôi phải tâu xin
Hoàng thượng cất quân đi Quy Nhơn kẻo đại cục hỏng mất.

Bùi Thị Xuân xô
lại níu tay chồng:

- Phu tướng định
đi ngay ngày mai sao?

- Nếu chậm thì
nàng biết đấy, sẽ hối không kịp. Tôi đồ rằng đại quân của Ánh được mật thư của
tên phản bội đã tiến phát. Không ra tay trước, Quy Nhơn sẽ mất.

Bùi Thị Xuân nghẹn
ngào:

- Thiếp lại đàng
đẵng chờ mong Phu tướng. Sao Phu tướng không san phần trọng trách cho thiếp. Chẳng
lẽ thiếp không đủ sức bắt được Nguyễn Bảo, chặn đường quân Ánh sao?

Trần Quang Diệu
sẵng giọng:

- Nàng quên rằng
mình là tướng thống lĩnh trung quân bảo vệ kinh thành sao?

- Kinh thành còn
quan Đại tư mã Ngô Văn Sở?

- Quan Thái sư
lúc nãy gặp tôi cho hay quan Đại tư mã sắp ra Bắc Hà thay Vũ Văn Dũng. Tôi đã
quyết không chỉ vì muốn sống bên nàng vài ngày mà để xảy ra hiểm hoạ.

Bùi Thị Xuân gục
vào lòng chồng thổn thức:

- Vậy xin Phu tướng
cẩn trọng mình vàng. Thiếp bằng lòng để Phu tướng ra đi. Thiếp nguyện cầu Phu
tướng lập được công lớn, làm rạng danh cho cơ nghiệp triều Tây Sơn.

Trần Quang Diệu
nâng cằm vợ, soi mình trong đôi mắt to đen thông minh của vợ rồi xúc động nói:

- Chúng ta còn
bên nhau trọn đêm nay. Nhưng mà cho đến bây giờ tôi đã rũ sạch bụi đường đâu.

Trong hơi thở
nóng hổi của chồng, Bùi Thị Xuân chợt nhận ra bước chân quen thuộc của viên tướng
tùy tùng. E lệ như năm nào, viên nữ tướng Tây Sơn vội gỡ tay chồng, ngượng ngập
đứng dậy...

 

*

*      *

 

Quan Thiếu phó
Trần Quang Diệu đem quân vào Quy Nhơn được 3 ngày thì Bùi Thị Xuân hay tin: Đại
quân Ánh do danh tướng Nguyễn Văn Thành thống lĩnh đang tiến ra tiếp ứng cho
Nguyễn Bảo. Bùi Thị Xuân cồn cào lo lắng: Nếu Nguyễn Văn Thành hợp binh được với
Nguyễn Bảo thì quân Tây Sơn sẽ khó xoay chuyển được tình thế. Nhưng Bùi Thị
Xuân tin ở tài điều binh khiển tướng của chồng. Mối bận tâm hơn cả đối với Bùi
Thị Xuân vẫn là hiện trạng triều Tây Sơn và nguy cơ suy vi của triều đình Cảnh
Thịnh. Là người chỉ huy việc phòng thủ kinh thành, Bùi Thị Xuân không thể không
dành toàn sức cho việc dàn quân, khích lệ quân sĩ quyết tử, phòng giặc Ánh cậy
có nhiều tàu đồng của bọn Phú-lãng-sa giúp sức, liều mạng đánh ra. Tuy thế, tìm
được kế sách hướng triều đình Cảnh Thịnh tập trung sức lực chống giặc Ánh thì
Bùi Thị Xuân hoàn toàn bất lực.

Bởi vì, triều
Tây Sơn sau khi vua Quang Trung băng hà, đã nhanh chóng đi vào cái rớp xấu:
Quan lại bất lực, nạn bè đảng tranh chấp, giết hại lẫn nhau không dễ gì ngăn chặn
lại được. Buồn phiền, lo lắng, Bùi Thị Xuân quyết định đến thăm Thái hậu Ngọc
Hân, người bề trên, đồng thời là người bạn tâm đắc, biết nhìn xa thấy rộng hơn
bất cứ văn quan nào trong triều. Từ lâu rồi, nhất là sau ngày Quang Trung mất,
yêu nhau vì nết, trọng nhau vì tài, Thái hậu Ngọc Hân và Bùi Thị Xuân càng thêm
gần gũi, gắn bó. Chiều theo ý Thái hậu, Bùi Thị Xuân không câu nệ vào lễ nghi
và thường gọi Bắc cung Hoàng hậu của Hoàng đế Quang Trung bằng tên tục. Bùi Thị
Xuân hơn tuổi Thái hậu Ngọc Hân, nhưng viên nữ tướng rất kính phục kiến thức
uyên thâm và tài thơ của Ngọc Hân. Hơn thế, Bùi Thị Xuân đã tìm thấy ở con người
tài sắc vẹn toàn ấy nếp nghĩ và chính kiến gần gũi với hoài bão của Tiên đế.

Gần hai mươi năm
đã trôi qua, nhưng câu chuyện về người con gái yêu, viên ngọc quý của vua Lê Hiển
Tông bỗng trở thành vợ viên Đại tướng Tây Sơn Nguyễn Huệ; hơn thế, tỏ rõ là người
tài hoa, có con mắt tinh tường, am hiểu chính sự, thức thời vẫn còn in sâu
trong trí nhớ của Bùi Thị Xuân. Dạo ấy, sau lễ cưới làm náo nức cả Thăng Long của
đôi trai tài gái sắc ấy năm ngày, thì vua Lê Hiển Tông mất. Lê Duy Kỳ, cháu
đích tôn được đặt lên ngôi kế vị.

Nhưng theo di
chiếu của vua Lê Hiển Tông, việc lớn phải được hỏi Đại tướng Tây Sơn. Để hiểu
giới hoàng tộc, Nguyễn Huệ biết không thể hỏi ai bằng hỏi Ngọc Hân. Ngọc Hân, bằng
sự hiểu biết thời cuộc, đã đặt ích nước lên trên quyền lợi của dòng họ mà thưa:

- Duy Kỳ không xứng
được kế vị, không đủ tư cách là Hoàng đế.

Lễ đăng quang của
Duy Kỳ theo lệnh Nguyễn Huệ bị bãi bỏ. Triều đình nhà Lê kinh ngạc, sững sờ,
búa rìu dư luận chĩa vào Ngọc Hân. Nhiều người đòi gạch tên Ngọc Hân trong sổ họ.
Khổ tâm, nhưng Ngọc Hân vẫn quả quyết đương đầu với dư luận. Triều đình nhà Lê
rối loạn, về sau, khồng muốn để vợ mang tiếng, Nguyễn Huệ thấy không cần phải bảo
lưu chính kiến, đã bàn với vợ cho Duy Kỳ được làm lễ đăng quang. Duy Kỳ lên
ngôi đổi hiệu là Lê Chiêu Thống. Ba năm sau, Lê Chiêu Thông mới nhục nhã cõng rắn
về cắn gà nhà. Vượt lên trên cả triều đình nhà Lê hủ lậu, Ngọc Hân đã sáng suốt
tiên đoán được nhân cách đốn mạt của Duy Kỳ. Tầm nhìn xa thấy rộng của Ngọc Hân
chính Nguyễn Huệ cũng phải thừa nhận. Vì vậy, trong lúc triều đình Cảnh Thịnh
chia bè kéo cánh, Bùi Thị Xuân càng thấy cần gặp Ngọc Hân.

Một cảm giác
thành kính, nhẹ nhõm khi Bùi Thị Xuân bắt đầu bước vào khu vườn trồng đầy những
thảm hoa, những bãi cỏ mượt mà xinh xắn, giữa những cung điện mái cong đồ sộ, để
đi sâu mãi về phía cung cấm. Kia rồi, gian điện quen thuộc, tường xây tráng
men, trổ tròn một khung cửa khuyết, hướng ra khu vực vườn nhỏ - gian điện của
Thái hậu Ngọc Hân. Bùi Thị Xuân đi chậm dần, chậm dần rồi đứng lại trước khu vườn,
lòng dạt dào xúc cảm. Phải rồi, những chậu men nhỏ nhắn, trồng những cây huệ
vươn thẳng và các giò hoa trắng muốt đặt sát thềm điện kia, vẫn y hệt như ngày
nào Quang Trung hoàng đế còn. Một làn hương ngọt ngào quen thuộc lan toả khắp
khu vưòn. Thứ hương của loài hoa huệ này làm sao lẫn được. Tự nhiên Bùi Thị
Xuân thấy cay cay nơi khoé mắt. Bất giác, trong viên nữ tướng sống lại hình ảnh
Nguyễn Huệ nằm thiêm thiếp trên giường ngự. Lúc ấy, Bùi Thị Xuân không sao cầm
được nước mắt khi thấy vị Hoàng đế dũng mãnh, uy phong tựa sấm sét, con người
cao lớn, tóc quăn, da sần, tiếng nói vang như chuông đồng, choàng áo bào sạm
đen khói súng, chỉ qua một cơn bạo bệnh đã tiều tụy hẳn. Xung quanh giường ngự
lúc ấy, các quan văn võ tướng chắp tay đứng lặng như hóa đá. Các văn thần nổi
tiếng mưu lược như Phan Huy Ích, Ngô Thì Nhậm mặt mày ủ ê, nước mắt chan hòa.
Còn Ngọc Hân vật mình than khóc, chết đi sống lại, tưởng như không qua khỏi nỗi
thương đau quá bất ngờ đối với người vợ trẻ vừa tròn 22 tuổi, trên tay hai đứa
con dại(1).
Nhớ đến Hoàng đế Quang Trung, Bùi Thị Xuân càng thấu hiểu nỗi đau đớn mà Thái hậu
Ngọc Hân phải chịu đựng và đã trải qua. Chính nơi đây, bên những chậu cảnh, bên
những gốc huệ xinh xắn này, Thái hậu Ngọc Hân đã ủ rũ hàng tháng ròng. Những chậu
cây kia, ngày ấy cũng rầu héo như chủ. Một đoạn thơ não nuột khóc Hoàng đế
Quang Trung của Ngọc Hân bỗng bật ra theo cảm xúc. Bùi Thị Xuân thầm đọc lại:

“Buồn thay nhẽ xuân về hoa nở

Mối sầu riêng ai gỡ cho xong

Quyết liều mong vẹn chữ lòng

Trên giường nào ngại, giữa lòng nào e

Còn trứng nước thương vì đôi chút

Chữ tình thâm chưa thoát được đi

Vậy nên nấn ná đôi khi

Hình còn tuy ở, phách thì đã theo...”

Chao ơi! Cứ gì
Thái hậu Ngọc Hân, người anh hùng áo vải từng giúp dân dựng nước lập nên bao kỳ
tích ấy mất đi, muôn họ đều lòng đau như cắt. Bây giờ hoa lại nở. Bùi Thị Xuân
thoáng nghĩ - chắc Thái hậu đã nguôi đi phần nào nỗi thương đau sầu muộn. Còn
gì vui hơn khi thấy người bạn tâm tình, mà sinh thời Hoàng đế Quang Trung rất mực
yêu quý, kính nể, đã vượt qua được những thử thách quá sức mình.

Bỗng một giọng
thanh thoát rất quen thuộc từ gian điện vọng ra:

- Nếu ta không
nhìn nhầm, hẳn là Bùi nữ tướng!

Bùi Thị Xuân như
tỉnh cơn mê.

Khi ấy Thái hậu
Ngọc Hân dáng người mảnh dẻ, khuôn mặt trái xoan kiều diễm đượm một vẻ buồn
trang nghiêm và kín đáo, đã nhẹ nhàng bước ra.

Bùi Thị Xuân vội
quỳ ngay trên thảm cỏ:

- Tâu Thái hậu!
Lâu lâu rồi thần mới được kính thăm Thái hậu. Những mong Thái hậu được yên lành
mạnh khỏe.

Giọng nhỏ nhẹ có
ý trách móc, Ngọc Hân dịu dàng:

- Nữ tướng đứng
lên đi! Nữ tướng khách khí làm ta chẳng vui lòng? Sao trông Nữ tướng xúc động
thế? Lo cho ta không được vui phải không?

Bùi Thị Xuân thấy
Ngọc Hân như đọc được ý mình nên lúng túng:

- Thần đang ngắm
hoa. Hương hoa ngạt ngào thân thiết quá!

Bùi Thị Xuân
tránh không nói đến hoa huệ nhưng cặp mắt tuyệt đẹp của Ngọc Hân bỗng chớp chớp:

- Bùi nữ tướng
biết đấy! Tiên đế rất thích loài hoa đó. Có lần Tiên đế bảo ta: giống hoa huệ
có mùi thơm thật là ngát. Gốc của nó mọc lên từ đồng nội hoang dã, dáng của hoa
ngay thẳng trung thực, hương của hoa nồng đượm ngọt ngào. Ngày còn nhỏ, song
thân của Tiên đế gọi Tiên đế là Thơm cũng bởi lẽ đó. Bùi nữ tướng bảo ta không
yêu hoa này sao được?

- Xa Thái hậu,
thần những lo Thái hậu đau buồn.

Ngọc Hân giọng
không vui:

- Thoắt đã 5 năm
rồi cồn gì. Có con ta giúp cho ta khuây khoả. Còn vì - Ngọc Hân ngập ngừng -
Hoài bão của Tiên đế chưa được thực hiện, mối quốc thù Gia Định còn canh cánh
bên lòng.

Khi đã vào trong
điện, Ngọc Hân âu yếm ngắm Bùi Thị Xuân rồi vui vẻ:

- Việc điều binh
khiển tướng bảo vệ kinh thành ra sao mà Nữ tướng có vẻ mệt mỏi. Dầu thế mà
trông vẫn mặn mà như xưa.

Hai người cùng bật
cười rồi câu chuyện hướng ngay vào thời cuộc.

Sau khi nghe Bùi
Thị Xuân kể lại tình hình Bắc Hà, nhất là sự phản phúc của Nguyễn Bảo ở Quy
Nhơn, khiến quan Thiếu phó Trần Quang Diệu vừa hồi triều đã phải vội vã cầm
quân đi chặn giặc, Ngọc Hân thở dài:

- Ta gặng hỏi
Hoàng thượng cũng biết được sự tình như thế. Thế nước thực đã lâm nguy mà vua
tôi vẫn bình chân như vại. Nếu không quả cảm nhìn thấy sự thực đau lòng ấy để
có kế thu phục nhân tâm, chỉnh đốn việc coi quân trị dân thì mầm loạn đến nơi rồi.

- Tâu Thái hậu -
Bùi Thị Xuân đỡ tách chè từ tay Ngọc Hân, nói - Làm cho nước này suy yếu đi,
triều đình mất lòng dân, nhân tâm ly tán, quan lại trên dưới không thuận hòa,
là lỗi bởi ai?

Ngọc Hân trở lại
dáng nhanh nhẹn:

- Trước hãy hỏi
Nữ tướng, trong con người thì cái gì nhiều hơn? Thiện hay ác?

- Tâu Thái hậu -
Bùi Thị Xuân lúng túng - thần chưa hiểu hết thâm ý của Thái hậu, nhưng cũng cố
bày tỏ, trong con người tính thiện và tính ác ngang bằng nhau. Còn nói cho cạn
lý thì con người ta đều thiện.

- Ta hiểu ý Bùi
nữ tướng muốn nói gặp hoàn cảnh tốt thì tính thiện lấn át tính ác, chính áp đảo
tà, ngược lại gặp hoàn cảnh xấu thì tà áp đảo chính, ác lấn át thiện.

- Ngu ý của thần
là như vậy.

- Nhưng Bùi nữ
tướng cho hay ai làm nên hoàn cảnh? Những kẻ chăn dân chứ gì? Vậy, kẻ rũ rối
triều chính, phá vỡ kỷ cương luật pháp nước này trước phải là đấng tối thượng
và sau nữa là các triều thần. Nghĩa là nước này đang dột từ nóc. Pháp lệnh
không thi hành được chính là do người trên phạm.

- Quả là thế -
Bùi Thị Xuân tiếp lời - tự mình tu đức để giáo hóa dân thì sâu hơn mệnh lệnh,
dân bắt chước người trên thì nhanh hơn pháp luật. Nhưng không phải ai cũng thấy
nước này suy vi là tự triều đình, hoặc thói thường, người ta chỉ thấy người này
có lỗi, người kia hèn kém mà không thấy chính mình cũng hèn kém, có lỗi. Thói đời
đổ lỗi cho nhau ấy thật ra là hành động của kẻ đã bất tài lại vô hạnh. Nhìn rộng
ra các trấn, bọn quan lại đua nhau ăn chơi, đục khoét muôn dân. Ngay các nho sĩ
Bắc Hà được Tiên đế trao cho quyền bính, một thời vỗ ngực cho mình là giỏi, nay
cũng xoay ra nhũng nhiễu dân đen, khiến cho thôn cùng xóm vắng rên xiết oán
than.

- Bùi nữ tướng
nghĩ sao? Nữ tướng đổ lỗi cho các quan lại, xem thường tài năng, nhân cách các
nho sĩ Bắc Hà? Thử hỏi thời Tiên đế còn trị vì, họ đã đem tài năng công hiến
cho dân nước. Vậy sự đổi thay ấy hẳn có nguyên cớ. Theo ta, chỉ vì triều đình
sa đoạ, bè phái, không còn tin dùng họ nên bên cạnh một số mất gốc trở nên bọn
sâu mọt của dân, số đông còn lại đều tìm cách xa lánh chính sự. Ngô Thì Nhậm,
Phan Huy Ích đều trước sau lui về quê ở ẩn, lo việc trước thuật, đâu phải họ bất
tài? Gây nên việc chia rẽ Bắc Nam, chê người có học bất tài chẳng qua chỉ là sự
ghen ghét đố kỵ của kẻ vô học nhưng nắm quyền mà thôi. Huống chi vua Cảnh Thịnh
và cả Thái sư Bùi Đắc Tuyên trải việc đời là thế mà vẫn quên mất rằng, lời nói
chau chuốt là phù hoa, lời nói ngay là thành thật, nói khó nghe là thuốc, nói
ngọt là bệnh tật.

Bùi Thị Xuân sửng
sốt:

- Tâu Thái hậu!
Quan Binh bộ Thượng thư Ngô Thì Nhậm đã cáo quan rồi sao? Người ấy là chỗ thân
tình của vợ chồng thần. Cảnh ngộ thật đáng ái ngại.

Ngọc Hân trầm giọng:

- Không phải Ngô
tiên sinh cáo quan mà là bị buộc phải về ở ẩn. Quan Thái sư Bùi Đắc Tuyên quyết
đoán nhiều việc có lợi cho dân nước, nhưng cũng tác yêu tác phúc quá lắm. Chính
Bùi Thái sư không muốn tin dùng các nho sĩ Bắc Hà, mà chỉ lo đưa thêm vây cánh
là người Đàng Trong vào triều chính để dễ bề thao túng, che ác với vua.

- Tâu Thái hậu!
Thái hậu đã chỉ cho thần thấy được sự thật. Bấy lâu mải việc binh nhung, thần
ít để tâm đến chính sự một cách thấu đáo. Vậy, theo ý thần, việc cần kíp lúc
này là phải khích lệ được quan lại trong triều ngoài trấn xả thân vì nghiệp lớn
của Tiên đế. Muốn thế, Hoàng đế Cảnh Thịnh phải thực nắm lấy triều chính, ngăn
quan Thái sư lộng hành chia rẽ, khiến cho lòng người oán hận. Thần hiểu mấu chốt
của công việc để chuyển được thế nước mạnh lên, đủ sức đương đầu với quân thù
chính là phải có gan thay đổi cung cách làm việc của triều đình, không loại trừ
khả năng gây nên những xáo trộn cần thiết.

Ngọc Hân thoáng
vui:

- Ý Bùi nữ tướng
chính là mong ước của ta. Thổ lộ được với Nữ tướng những điều bấy lâu ấp ủ, bấy
lâu đớn đau, ta thấy vợi được cả cõi lòng.

Bùi Thị Xuân từ
tốn đứng dậy:

- Thần gắng đem
sức mọn thực hiện hoài bão của Thái hậu, dầu thịt nát xương tan cũng cam lòng.

Ngọc Hân đưa tiễn
Bùi Thị Xuân ra hiên:

- Ta sẽ là chỗ dựa
cho Bùi nữ tướng trong mọi việc.

 

*

*     *

 

Triều đình Cảnh
Thịnh sôi động những tin tức từ các trấn dồn dập báo về. Vừa mấy hôm trước, vua
Cảnh Thịnh chỉ thiếu có mở tiệc ăn mừng khi hay tin tiền quân Ánh do Nguyễn Văn
Thành thống lĩnh chưa kịp tiến tới Quy Nhơn thì quan Thiếu phó Trần Quang Diệu
đã lấy được Quy Nhơn, bắt được Nguyễn Bảo rồi thừa thắng đánh dồn quân Ánh vào
tận Diên Khánh. Nhưng chỉ mấy ngày sau kinh đô Phú Xuân lại hay tin dữ: Gặp năm
mất mùa, dân đói, nhiều phủ huyện ở trấn Quảng Nam sinh loạn. Trấn thủ Quảng
Nam khi ấy bất lực không kiềm chế nổi. Vua Cảnh Thịnh lập tức triệu quần thần,
tìm một người có tài trị nước vào thay trấn thủ Quảng Nam để vỗ yên xã tắc. Triều
thần tiến cử Nữ tướng Bùi Thị Xuân đảm đương trọng trách ấy. Vua Cảnh Thịnh
không nghi ngờ gì về tài cầm quân của Bùi Thị Xuân nhưng lại không tin vị nữ tướng
này có tài trị nước. Vua cho vời Bùi Thị Xuân đến hỏi:

- Nước hiện
không yên, khanh dâng được kế gì để thi thố cho đời?

Bùi Thị Xuân đăm
chiêu:

- Tâu Hoàng thượng!
Kế thì có nhưng không thể làm gì được.

- Vì cớ gì? - Vua
Cảnh Thịnh sửng sốt hỏi.

- Tâu Hoàng thượng!
Vì không có ai theo.

Vua Cảnh Thịnh
nói:

- Trẫm trao ấn
kiếm cho, ai dám không theo?

Bùi Thị Xuân hỏi
lại:

- Nếu chính
Hoàng thượng không theo thì sao?

Vua Cảnh Thịnh
nhíu mày, dấu hiệu nhà Vua suy nghĩ căng thẳng. Hiểu như vậy, Bùi Thị Xuân tiếp:

- Trước hết xin
Hoàng thượng quyết đoán lấy mọi việc. Bởi vì, một nghìn người vâng dạ không bằng
một người nói thẳng. Lời nói thẳng nghe chướng tai nhưng có lợi cho việc làm,
thuốc đắng uống khó chịu nhưng chữa được bệnh. Thứ nữa, cả triều đình nên ăn ở
theo lối mộc mạc để tỏ cái nề nếp của mình, làm gương cho quan lại noi theo. Chỉ
như vậy mới thu được nhân tâm, cố kết được lòng dân tạo cho thế nước ở đỉnh cao
ngàn trượng, đủ sức đè bẹp giặc thù.

Vua Cảnh Thịnh mỉm
cười:

- Chẳng nhẽ trẫm
không làm như thế hay sao?

Bùi Thị Xuân thấy
Vua chưa nhìn nhận được những sai sót của triều đình bèn mạnh dạn tâu:

- Xin cho tiểu
thần được bộc bạch những nghĩ ngợi bấy lâu dày vò. Theo thiển nghĩ của thần, việc
mượn cớ tiếp viện cho vua Thái Đức để chiếm Quy Nhơn là một hành vi vụng về. Bởi
vì, trong lúc hoạ giặc Ánh ở phía trước, đáng lẽ phải giúp vua Thái Đức cùng
đánh kẻ thù chung thì triều đình lại chiếm thành Quy Nhơn, khác nào tự tước vây
cánh của mình, đẩy bạn đi với giặc. Xem vậy, kẻ có lợi trong cuộc xung sát
huynh đệ này không phải triều Tây Sơn mà chính là Nguyễn Ánh.

Vua Cảnh Thịnh
giữ vẻ mặt đăm chiêu:

- Việc đó là do
quan Thái sư chủ trương, trẫm nào can dự.

- Tâu Hoàng thượng!
Nhắc lại chuyện đã qua là để mong Hoàng thượng sáng suốt quyết đoán công việc.

- Trẫm cũng nghe
thấy nhiều người ca thán quan Thái sư chuyên quyền nhưng chưa tiện đàn hặc.
Cũng đã đến lúc công tội cần được phán xử, đánh giá.

Bùi Thị Xuân phấn
chấn:

- Vậy thần xin
kính chúc Hoàng thượng thi hành phép tắc được mỹ mãn. Thần xin cáo lui.

Cuộc hội kiến chỉ
cốt để thăm dò khả năng trị nước của Bùi Thị Xuân, nhưng vua Cảnh Thịnh không ngờ
chính Bùi Thị Xuân chẳng những đã khẳng định được tài năng của mình mà còn tâu
bày, khơi gợi cho Vua suy nghĩ tới thế cuộc rộng lớn của đất nước bằng những ý
tưởng sắc sảo, tỏ rõ tài kinh bang tế thế của viên nữ tướng. Bởi vậy, nhà Vua
đã không nổi giận khi nghe lời khảng khái chê triều đình vụng dạỉ mà còn linh cảm
được những chính kiến cao xa của một bộ óc lớn, biết nhìn xa thấy rộng. Vì thế
khi Bùi Thị Xuân cáo lui cũng là lúc Vua quả quyết phó thác việc lớn cho viên nữ
tướng. Vua rời ngai vàng, đến bên Bùi Thị Xuân, giọng như bị kích động:

- Trẫm có việc hệ
trọng phó thác. Trấn Quảng Nam hiện không yên, trẫm rất lo. Bùi nữ tướng sẽ làm
thế nào để dẹp nạn trộm cướp, giúp dân an cư lạc nghiệp?

Cặp mắt đen láy
của Bùi Thị Xuân thoáng buồn:

- Tâu Hoàng thượng!
Theo chỗ thần thiếp được biết, vì mất mùa dân đói, quan lại không hết lòng
thương dân nên sinh loạn.

- Phiền Bùi nữ
tướng hãy đánh dẹp bọn giặc cướp rồi làm cho dân yên.

Bùi Thị Xuân vội
đáp:

- Tâu Hoàng thượng!
Người xưa nói: Ai được nhân tâm thì hưng thịnh, ai mất nhân tâm thì tan vỡ. Ai
cậy vào đức thì hùng cường, ai cậy vào sức thì sẽ mất. Xem vậy cầm quân dẹp loạn
không phải là kế hay mà tuyển dụng người hiền tài để giúp dân được yên mới là đắc
sách.

Sửng sốt trước
lý lẽ của Bùi Thị Xuân, vua Cảnh Thịnh tươi nét mặt:

- Ý tưởng của
Bùi nữ tướng nghe rất lạ. Việc cần kíp, khanh hãy một phen vất vả vì trẫm. Còn
cần gì, trẫm sẵn lòng giúp đỡ.

Bùi Thị Xuân từ
tốn:

- Tâu Hoàng thượng!
Trị loạn cũng như gỡ tơ rối không thể làm gấp. Thần thiếp chỉ xin các quan Thái
sư, Ngự sử chớ lấy văn pháp mà cản trở việc làm của thần thiếp.

Vừa khi ấy, quan
Thái sư Bùi Đắc Tuyên đĩnh đạc bước vào. Hay tin Bùi Thị Xuân được phái đi dẹp
loạn ở Quảng Nam, đôi mày của vị quan già hiện đang thâu tóm mọi quyền hành
trong triều gần như dựng ngược lên. Bùi Đắc Tuyên dõng dạc tâu Vua:

- Lão thần thật
không hiểu tại sao Hoàng thượng lại để Bùi nữ tướng đi trấn nhậm trấn Quảng Nam
trong khi kinh thành đang cần vị thống soái kiệt xuất. Trong hai việc thì việc
sau hệ trọng hơn rất nhiều. Phải chăng Hoàng thượng nghe lời bọn văn dốt vũ
dát, chuyên gây bè kéo cánh cốt để Bùi nữ tướng đi xa, gạt cái gai trước mắt,
nhằm dễ bề thao túng triều chính. Xem vậy, Hoàng thương nên xét lại quyết định
này.

Không muốn để
quan Thái sư lộng quyền mãi nhưng vua Cảnh Thịnh lúng túng chưa tìm được ý.
Thái sư Bùi Đắc Tuyên được thể tiếp lời:

- Xin Hoàng thượng
hãy sáng suốt quyết đoán đừng nghe bọn tham quan ngu ngốc nhưng lại hay dạy
khôn. Lũ chúng toan dẹp giặc bằng ba tấc lưỡi.

Vua Cảnh Thịnh cố
kìm nỗi giận:

- Quan Thái sư
chớ nói quá lời!

Bùi Đắc Tuyên hạ
giọng:

- Tâu Hoàng thượng!
Lão thần chỉ mong Hoàng thượng đừng để người chính trực như Bùi nữ tướng rời khỏi
triều đình vào lúc này.

Bùi Thị Xuân từ
tốn:

- Cảm ơn quan
Thái sư đã dành cho hạ quan chút tư tình. Nhưng loạn cũng như lửa; đốm lửa có
thể gây cháy rừng. Thiết nghĩ hạ quan đi trấn nhậm trấn Quảng Nam cũng là việc
hữu ích.

Bùi Đắc Tuyên dằn
giọng:

- Bùi nữ tướng
nên biết, dẹp loạn còn khó hơn đánh giặc đó. Vậy ngăn cản Nữ tướng là muốn
tránh cho ngươi một hiểm hoạ.

Bùi Thị Xuân mặt
đỏ bừng:

- Quan Thái sư
quá lo cho cháu mình(2) như thế sẽ mang tiếng là không công bằng. Huống chi từ ngày theo Tiên đế dánh
đông dẹp bắc, hạ quan đâu dám không sẵn lòng xả thân báo đền ơn nước. Nay Ngự lệnh
đã giao, quan Thái sư chớ nên ngăn cản, sẽ đắc tội với Hoàng thượng.

Thái độ quả quyết
của Bùi Thị Xuân khiến vua Cảnh Thịnh vững vàng. Và, lần đầu tiên vị vua trẻ đã
gạt ý kiến của quan Thái sư để làm theo ý mình. Vua nói:

- Trẫm đã quyết
để Bùi nữ tướng đi dẹp loạn, không ai được làm trái lệnh hay bàn ngang nữa.








(1) Ngọc Hân có hai con là Hoàng tử Quảng
Đức và Công chúa Ngọc Bảo.


 


(2) Bùi Thị Xuân là cháu ruột Bùi Đắc
Tuyên.


 

Đăng nhập để trả lời
0