Mây Tóc
Tuân thấy mái tóc ấy lần đầu
tiên vào năm chàng 16 tuổi. Nhà
chàng ở trên đường Lê Văn Duyệt,
con đường đầy xe cộ và bụi bặm,
mỗi buổi sáng nghẹt ứ với xe chở
hàng, xe đạp, gắn máy, chen chúc
với những xe thổ mộ kéo nặng nhọc
bởi những con ngựa gầy giơ xương.
Trước cửa nhà Tuân là trạm xe
buýt chạy suốt con đường Lê Văn
Duyệt lên trung tâm thành phố.
Những chuyến xe buýt đầy nhóc
người với khách đi xe dồn ra đầy
hai bên cửa lên xuống, phần lớn là
thanh niên đu đưa bám vào chấn
song như những con khỉ lắc lư. Các
cô thiếu nữ hay những người già cả
gặp những chuyến xe này đều phải
đợi lại một hoặc hai chuyến sau
mới có chỗ lên được.
Tuân thường có thói quen mỗi
sáng vừa ngồi ăn sáng đợi xe vừa
nhìn ngắm đám đông tụ tập quanh
cột xe buýt trước cổng nhà. Giờ
chàng sắp đi học cũng là giờ các
học sinh, phần lớn thuộc trường
Nguyễn Bá Tòng đứng đợi xe và
năm ấy Tuân đã bắt đầu để ý đến
các cô nữ sinh áo dài trắng đứng
xúm xít trước cổng sân nhà. Các cô
thường đứng tụ với nhau thành một
đám, chuyện trò ríu rít hoặc đứng
yên lặng vừa đợi xe vừa ăn những
nắm xôi của hàng quà chiếm cứ
thường trực trước cửa nhà Tuân đã
nhiều năm nay. Tuân thường chỉ
thấy những tấm lưng của các cô
thiếu nữ với những chiếc áo dài
trắng đơn sơ và chàng cũng chỉ
muốn nhìn có vậy. Tuân vẫn ít khi
dám nhìn thẳng mặt các cô nữ sinh
đôàng lứa tuổi từ khi chàng bắt đầu
dậy thì.
Ngày đầu tiên Tuân thấy mái
tóc, chàng vẫn nhớ rõ mồn một
trong ký ức hầu như chẳng bao giờ
phai nhạt. Buổi sáng hôm ấy Tuân
dậy muộn và sau khi đã ăn sáng và
sửa soạn xong để đi học, chàng
đứng khựng lại vì trong đám vài ba
thiếu nữ áo dài trắng đứng quay
lưng lại trước cửa nhà Tuân là một
mái tóc dài lạ lùng. Người thiếu nữ
với mái tóc đập ngay vào thị giác
của Tuân chắc mới dọn đến xóm
nhỏ bên hông nhà chàng và lần
đầu tiên đứng đợi xe buýt đi học
trước cửa nhà. Tuân đứng lặng
người nhìn. Mái tóc dài đến gần gót
chân, đen óng ánh trong nắng buổi
sáng, dầy và mướt; mái tóc như
một sinh vật có một đời sống riêng,
lượn khúc và uốn éo mỗi khi người
thiếu nữ cử động hay xoay mình.
Tuân như bị thôi miên nhìn không
chớp mắt. Chàng cảm thấy cảnh
vật chung quanh như bỗng dưng trở
thành bất động với tất cả mọi người
và đời sống bên ngoài như vô tri, vô
giác, chỉ còn chàng và người thiếu
nữ với mái tóc dài kỳ lạ hiện hữu
trên mặt đất này. Tiếng động ồn ào
ngoài cổng cũng tự dưng trở nên im
bặt, yên lặng một cách đe doạ như
sự yên lặng của trời đất trước khi
giông bão đổ đến. Tuân bỗng cảm
thấy mường tượng như đời chàng từ
đây cũng sẽ bắt đầu thay đổi lớn
lao, với đời sống bình yên của 16
năm trước được thay thế bằng bất
trắc và sóng động.
Khi chiếc xe buýt dừng lại và
đám nữ sinh với người thiếu nữ tóc
dài bắt đầu bước lên xe, Tuân như
bừng tỉnh, chàng chạy vội ra và
chen vào đám người đang giành lên
xe ở cửa sau. Chàng cẩn thận lên
xe cửa sau để tránh nhìn thẳng mặt
người thiếu nữ tóc dài chàng tin
chắc là đẹp tuyệt trần. Người có
mái tóc dài đẹp kỳ lạ như vậy dĩ
nhiên cũng phải đẹp khác thường.
Tuân tự nhủ mình như vậy. Chàng
thấy mình cũng chẳng cần vội vã gì
biết mặt ngay và quả thật mái tóc
của nàng là trung tâm điểm của tất
cả sự chú ý và rung động của Tuân,
chàng cũng chẳng thấy cần gì hơn
là đứng sau lưng nàng, cách quãng
chừng vài người đứng ở lối đi giữa
hai hàng ghế ngồi, lặng lẽ dán mắt
vào mái tóc dài, chăm chú nhìn vô
hồn như người tử tội buổi sáng đứng
nhìn sợi dây treo cổ buộc sẵn ở
ngoài sân.
Suốt quãng đường chiếc xe buýt
dừng lại với khách lên xuống dọc
đường Lê Văn Duyệt kẹt cứng,
Tuân có dịp để ý kỹ hơn về người
thiếu nữ. Nàng cao thanh thoát
trong chiếc áo dài trắng cắt sát gọn
với dáng uyển chuyển hơi có vẻ quý
phái, tương phản một cách rõ rệt
với sự thô kệch của người và cảnh
vật chung quanh trong chuyến xe
buýt buổi sáng hôm đó. Nàng chắc
học trường Nguyễn Bá Tòng vì
Tuân thấy nàng đứng với vài ba cô
nữ sinh khách quay mặt về phía
Tuân với phù hiệu của trường trên
ngực áo.
Xe dừng lại trước ngã ba đường
Lê Văn Duyệt và con đường nhỏ
dẫn đến trường. Các cô nữ sinh lục
tục đi xuống. Tuân vội vã quay mặt
đi để tránh nhìn mặt nghiêng bên
phải của người thiếu nữ tóc dài. Khi
xe bắt đầu chuyển bánh, Tuân mới
quay lại nhìn và hình ảnh của người
thiếu nữ với mái tóc dài gần chấm
gót đi cùng với mấy người bạn trên
con đường nhỏ với hai hàng cây me
cao tàn lá phủ là hình ảnh Tuân
chắc sẽ ở mãi mãi với chàng trong
ký ức sâu thẳm nhất.
Mái tóc dài
lung linh, gợn sóng chàng thấy
không phải như con suối chảy
nhưng như một làn mây bay – Mây
tóc. Tuân cảm thấy tương đối hài
lòng với sự so sánh của mình, thực
sự chàng nghĩ, không có hình ảnh
hay từ ngữ nào có thể diễn tả được
sự rung động của chàng đối với mái
tóc của nàng, và chàng đứng đó
trên chiếc xe buýt chạy ngang qua
con đường nhỏ, ghi nhận với tất cả
tâm hồn và tư tưởng của mình dõi
theo trong một thoáng của thời
gian, mái tóc dài huyền ảo như một
thứ định mệnh đã đi vào cuộc đời
chàng, thay đổi tất cả, đưa chàng
vào một cuộc đời khác, một cuộc
đời và một thế giới khác lạ, tương
phản và kỳ diệu, với sung sướng và
đau khổ, với đi tìm và trốn chạy, với
chấp nhận và gạt bỏ.
Tuân đứng xuất thần với những
cảm giác mới lạ và những ý nghĩ
chạy vùn vụt qua trong óc đến khi
chuyến xe dừng lại trước trạm xe
trước bùng binh, chàng mới sực tỉnh
và xuống xe đi bộ đến trường.
Kể từ hôm đó, đời chàng và mái
tóc dài như gắn liền mỗi buổi sáng
đi học, Tuân vẫn đứng sau lưng
người thiếu nữ trên chuyến xe buýt
ngắm nhìn mái tóc riêng của chàng,
say sưa và no đủ như một buổi ăn
mỗi ngày không biết chán. Chàng
cẩn thận để tránh nhìn thẳng vào
mặt người thiếu nữ và lâu dần như
một phản xạ chàng như phát triển
được linh tính để báo trước cho
chàng biếât mỗi cử động quay mặt
của người thiếu nữ để chàng kịp
thời nhắm mắt lại hay quay người
đi. Trong suốt một năm học đó,
người thiếu nữ với mái tóc dài đều
đặn đi học bằng xe buýt và Tuân
sung sướng với những ngày đi học,
đợi chờ để mong sớm đến sáng
hôm sau và thù ghét những ngày
nghỉ cuối tuần hay ngày lễ.
Đầu tiên, Tuân không dám nhìn
mặt người thiếu nữ tóc dài vì nhút
nhát, chàng cảm thấy sợ hãi những
người con gái trong lứa tuổi chàng
đầy nhí nhảnh và duyên dáng;
Tuân cảm thấy một hấp lực mạnh
mẽ lôi kéo nhưng đồng thời cũng
cảm thấy sợ hãi vì sự lôi cuốn đó.
Từ ngày gặp người thiếu nữ với mái
tóc dài phủ gót, chàng càng cảm
thấy sự hấp dẫn nhưng sự sợ hãi
của chàng lại càng tăng thêm.
Tuân đã nhiều lần đứng sát ngay
sau lưng gần như chạm hẳn vào
mái tóc, mũi chàng đã ngửi thấy
mùi hương đặc biệt của người thiếu
nữ. Tuân đứng tận hưởng sự gần
gũi của chàng với mái tóc dài bằng
tất cả giác quan và ý thức của
chàng, nhưng đồng thời cũng cảm
thấy lòng dằng co mãnh liệt giữa
những sợ hãi tự nhiên và ý muốn
được biết mặt người con gái. Tuy
vậy lần nào cũng thế, vào phút chót
Tuân vẫn không đủ can đảm để
xem mặt nàng.
Lâu dần khi tình yêu của chàng
đối với mái tóc một ngày một tăng.
Tuân lại nhận thấy một điều khác
lạ. Chàng tưởng tượng ra những
khuôn mặt đẹp tuyệt trần với mái
tóc kỳ diệu chàng đang say mê, và
mỗi đêm trước khi đi ngủ với hình
ảnh mái tóc bồng bềnh bay phủ,
chàng thấy bay lượn những hình
ảnh tuyệt vời của những người đẹp
toàn mỹ đưa chàng vào giấc ngủ.
Tuân bắt đầu cảm thấy lo ngại và
sợ hãi, lần này không phải là sự sợ
hãi của một chàng thanh niên mới
lớn với một cô gái nhưng là sự sợ
hãi cho một sự thất vọng chàng
nghĩ rằng sẽ không thể sống nổi
nếu mái tóc dài kỳ diệu của chàng
thuộc về một người dưới mức độ
chàng tưởng tượng.
Niên học đã gần hết Tuân bắt
đầu phải sửa soạn để thi Tú Tài và
chàng tự nhủ với lòng sẽ nhất
quyết xem mặt người thiếu nữ tóc
dài vào những tuần lễ cuối của niên
học. Chàng không biết nàng học
lớp mấy và niên học đến có tiếp tục
đi xe buýt đến trường nữa không.
Tuân mất gần đến mấy tuần lễ mới
quyết định được sau khi đắn đo và
trằn trọc nhiều đêm. Trong khoảng
thời gian này, tình yêu của Tuân
càng gia tăng mãnh liệt, chàng hầu
như tê liệt hẳn mỗi buổi sáng đứng
sau lưng nàng trên chuyến xe buýt.
Người thiếu nữ hình như cũng linh
cảm thấy sự hiện diện của chàng,
nhiều lần nàng gần như quay đầu
lại để quan sát nhưng Tuân vẫn kịp
thời quay người sang chỗ khác và
chưa lần nào ánh mắt của hai người
chạm nhau. Tuân có thể chỉ thấy
một vài lần thoáng một chút gò má
hồng của người thiếu nữ, làm chàng
càng bị kích thích nhiều hơn nữa,
nhưng tựu trung khuôn mặt của
nàng thiếu nữ tóc dài vẫn hoàn
toàn là một bí mật đối với Tuân; một
bí mật làm tình yêu của chàng đối
với mái tóc kỳ lạ càng ngày càng
mãnh liệt, một bí mật chàng trìu
mến và sợ hãi, đồng thời cảm thấy
một nhu cầu che chở như người tu
sĩ với lòng tin vào một sức mạnh
siêu nhiên bảo vệ cung điện thờ
thần bí.
Tuần lễ cuối cùng của niên học
Tuân đã chọn để xem mặt người
thiếu nữ tóc dài; tuần lễ đó đến như
một thảm họa cho đời chàng. Người
thiếu nữ đột nhiên biến mất. Ngày
này qua ngày khác, Tuân đợi từng
chuyến xe buýt trễ đến cả một hai
tiếng đồng hồ vẫn không thấy nàng
xuất hiện. Tuân như điên cuồng,
lúc đầu chàng cho rằng nàng ốm
hoặc bận việc gì đó nghỉ một hai
ngày, nhưng hết tuần và sang đến
những tuần lễ sau khi các trường đã
vào hè chàng bắt đầu thấy tuyệt
vọng. Hình ảnh của mái tóc dài phủ
xõa hiện lên thường trực trong đầu
óc chàng với một niềm đau đớn và
xót xa. Mỗi buổi sáng ngồi ăn sáng
và học bài thi chàng nhìn ra ngoài
cổng xem từng chuyến xe buýt
dừng lại và đi, thiếu người thiếu nữ
áo dài trắng với mái tóc dài phủ gót,
chàng thấy ngực đau nhói và khó
thở, nỗi nghẹn dâng dần dần lên
trên lồng ngực. Tuân thấy mọi sự
như trống rỗng, không còn ý nghĩa
gì cả.
Mùa thi năm đó, chàng chỉ
vừa đủ điểm để đậu làm cho tất cả
mọi người ngạc nhiên vì ai cũng
nghĩ chàng sẽ phải đậu rất cao,
nhưng Tuân nào có thiết gì.
Tuân cương quyết từ chối không
đi du học dù gia đình chàng đã sửa
soạn tất cả và nài ép cho bằng
được. Chàng muốn ở lại để có cơ
hội gặp lại được người thiếu nữ tóc
dài mặc dù trong thâm tâm chàng
hầu như đoán biết sẽ không bao giờ
gặp lại. Tuân lên đại học vào một
ngành chuyên môn để chiều lòng
gia đình nhưng đối với chàng học
ngành nào cũng vậy. Chàng để tâm
hơn vào hội họa và những giờ rảnh
rỗi chàng lại nhà một họa sĩ nổi
tiếng thân tình với gia đình chàng
để học vẽ.
Sau vài năm chàng đã
bắt đầu vẽ được nhiều tranh có giá
trị và sau khi hoàn tất bức tranh
người thiếu nữ với mái tóc dài phủ
gót với mấy người bạn nữ sinh trên
con đường hai hàng me cao và tàn
phủ rợp lá, người họa sĩ thân gia
đình tuyên bố không còn gì để chỉ
bảo thêm cho chàng nữa.
Những năm dài đằng đẵng trên
đại học cũng không làm cho Tuân
quên được hình ảnh người thiếu nữ
với mái tóc dài. Phòng chàng treo
đầy những tranh thiếu nữ với tóc
dài phủ gót, nhiều tranh với những
khuôn mặt đẹp một cách kỳ lạ hoặc
thần bí, nhưng phần lớn là tranh vẽ
sau lưng người thiếu nữ không có
khuôn mặt. Phần linh động nhất
vẫn là mái tóc chàng vẽ bềnh bồng
bao phủ như một đám mây bay.
Mặc dù người họa sĩ già thầy dậy
nhiều lần giục chàng trưng bày
tranh, chàng vẫn một mực từ chối,
cảm thấy rằng tình yêu của chàng
đối với mái tóc là của riêng chàng,
không muốn chia sẻ với nhiều
người khác.
Càng những năm về sau Tuân
càng cảm thấy niềm hy vọng gặp
lại người thiếu nữ tóc dài càng
giảm dần, chàng nhiều lần đi lại
hàng giờ trong các khuôn viên đại
học, Tuân nghĩ nàng có thể sẽ
theo học: Văn Khoa, Luật Khoa, Sư
Phạm.. nhưng đều hoài công vô
ích. Một lần vào lễ Giáng Sinh khi
dự lễ nửa đêm ở nhà thờ Đức Bà,
chàng thoáng thấy bóng người
thiếu nữ với mái tóc dài phủ gót từ
đằng xa. Tuân mừng rỡ như điên
cuồng, chàng chen vội lên nhưng
người đi ra lễ quá đông, khi chàng
đến nơi người thiếu nữ tóc dài đã
biến mất. Tuân đi khắp các con
đường cả đêm hôm đó nhưng bóng
người thiếu nữ vẫn biệt tăm. Lần đó
Tuân ngẩn ngơ đến cả mấy tháng
trời. Hình ảnh mái tóc dài và người
thiếu nữ như ẩn như hiện trong
những giấc mộng của chàng mỗi
đêm và ban ngày chàng phải dùng
hết nghị lực mới tập trung trí tưởng
được trong việc học.
Lần cuối chàng được gặp lại mái
tóc dài cũng là ngày chàng và bao
nhiêu người khác rời bỏ đất nước.
Năm đó chàng vừa ra trường và gia
nhập quân đội được vài tháng.
Những ngày cuối cùng biến loạn
của đất nước, Tuân may mắn chạy
về được Sài Gòn và ngày đó Tuân
thấy lại được mái tóc dài chàng ấp
ủ trong tâm tưởng. Chàng vừa dừng
xe lại vì đám đông tại tòa Đại Sứ
Mỹ một ngày một đông. Trên nóc
tòa nhà là chiếc trực thăng cánh
quạt thổi vù vù với những người lính
thủy quân lục chiến Mỹ đẩy người
lên. Tuân đứng như bị thôi miên
trong khung cảnh náo loạn chung
quanh. Chàng chợt thấy bóng người
thiếu nữ với mái tóc thật dài đang
được người lính Mỹ kéo lên. Mái tóc
dài bị những cơn gió từ cánh quạt
trực thăng thổi tung bay. Tuân nhìn
không chớp mắt, lòng chàng như
trùng hẳn xuống, những tiếng hò
hét hỗn loạn bên ngoài như xa dần,
trước mắt chàng chỉ còn thấy mái
tóc như đám mây phủ bay cuồn
cuộn và người thiếu nữ dáng thanh
thoát đang biến mình vào trong
lòng chiếc trực thăng đen đủi và
xấu xí. Tuân thấy đau nhói ở ngực,
định mệnh lại bắt chàng một lần
nữa lìa xa hình ảnh vừa tìm gặp lại
được trong một thoáng giây ngắn
ngủi.
* * *
Tuân rời Việt Nam ngay ngày
hôm đó và như những người tỵ nạn
khác chàng bắt đầu một cuộc sống
mới, một cuộc sống đầy hoang
mang và bỡ ngỡ. Chàng tìm được
một chỗ thực tập lại ngành chuyên
môn của mình trên New York và
sau hai năm Tuân đã thấy mình
thảnh thơi trong sự tranh sống được
một phần nào. Chàng quen một
người Do Thái làm nghề buôn bán
các họa phẩm có phòng triển lãm
tranh ngay tại Manhattan, và khi
người bạn mới gốc Do Thái này
thấy những bức tranh chàng đã cẩn
thận cuốn lại và gói mang đi trong
ngày cuối cùng của đất nước, đã
khuyến khích chàng trưng bày tranh
ngay tại phòng triển lãm của mình.
Tuân lấy làm khó nghĩ, chàng cảm
thấy áy náy khi nghĩ đến chuyện
những người khác nhìn vào tâm hồn
của mình qua những bức tranh
chàng vẽ riêng cho mối tình của
chàng và mái tóc kỳ diệu, như một
sự xúc phạm đến những gì đẹp
nhất chàng hằng ấp ủ, làm tầm
thường đi những cảm xúc của
chàng. Tuy nhiên với sự thúc giục
của người bạn và với ước muốn
hão huyền biết đâu nhờ cuộc triển
lãm chàng có thể gặp lại được
người thiếu nữ tóc dài, Tuân sau
cùng ưng thuận để triển lãm trong
hai tuần.
Buổi ra mắt tranh của Tuân
thành công rực rỡ với những lời
khen ngợi không hết lời của các
nhà phê bình, đặc biệt về bức tranh
Mây Tóc vẽ hình ảnh thiếu nữ tóc
dài trên con đường đến trường học.
Tuân thấy lòng dửng dưng với
những lời khen ngợi, chàng nhất
quyết không bán một bức tranh nào
vẽ với hình ảnh mái tóc và người
thiếu nữ trong trí tưởng.
Ngày cuối cùng của cuộc triển
lãm khi trời vừa chập choạng tối,
Tuân từ căn nhà trọ đến phòng
tranh để thu tranh, chỉ còn lưa thưa
vài người xem đang sửa soạn ra
về. Tuân bàng hoàng khi thấy
trong căn phòng hơi tối, đứng trước
bức tranh Mây Tóc là người thiếu
nữ với mái tóc dài phủ góc bằng
xương bằng thịt quay lưng lại phía
chàng, lặng lẽ ngắm bức tranh trên
vách. Tuân thấy như trời đất thu
nhỏ lại, mười năm từ ngày đứng sau
lưng nàng trên chiếc xe buýt xọc
xạch đến nay như chỉ là khoảng
khắc.
Chàng tiến lại gần đến sau
lưng nàng và đứng lại. Người thiếu
nữ vẫn bất động ngắm tranh, tóc
nàng vẫn óng mượt và dầy như
mười năm trước phủ dài đến gót
chân. Tuân nhìn không chớp mắt,
chàng thấy không gian như mờ đi,
mường tượng như đám sương mù
tỏa ra như tình yêu của chàng tiến
dần về phía người thiếu nữ, bao phủ
lấy mái tóc dài của nàng và sau
cùng bao phủ cả thân hình thanh
thoát. Tuân không biết thời gian đã
trôi đi trong bao lâu, có thể cả giờ
hay chỉ trong khoảng khắc, chàng
vẫn đứng sau lưng nàng bất động
trong tình yêu dâng dạt dào bên
trong và bên ngoài thân xác.
Người thiếu nữ hơi cử động đầu
như sắp quay lại, Tuân như bừng
tỉnh và như một phản xạ ngoài ý
thức, chàng vội vàng thốt lên:
“Đừng!” Người thiếu nữ đứng yên,
Tuân nói trong hơi thở:
-“Tôi là người vẽ bức tranh này”.
Người thiếu nữ khẽ gật đầu và
vẫn không quay đầu lại. Tuân cảm
nhận thấy ngay trong cử động của
nàng sự nhận biết mình là người
trong tranh, và chàng mường tượng
một cách mơ hồ như nàng đã biết
tất cả về tình yêu của chàng, từ
những ngày theo nàng mỗi sáng
trên chuyến xe buýt đến những
năm dài đằng đẵng trên đại học,
tình yêu của chàng đã phủ ra ngoài
không gian đến với nàng và được
nàng nhận biết.
Tuân nói tiếp và ngay khi vừa
nói xong chàng cảm thấy câu nói
thừa thãi:
-“Tôi đợi em đã mười năm”.
Người thiếu nữ như run lên, mái
tóc dài của nàng như lượn theo làn
sóng và nàng sửa soạn quay mình
lại. Tuân nín thở, tim đập nhanh
như muốn phá tan lồng ngực, lần
này chàng không chạy trốn, chàng
đứng lại để nhìn mặt Tình Yêu, để
mười năm đi tìm kết tinh lại trong
giây sao ngắn ngủi này, để không
gian của cả trời và đất thu hẹp lại
trong phòng triển lãm tranh nhỏ
này, nơi chàng tìm gặp lại Tình
Yêu, vĩnh viễn.
Tiếng đứa nhỏ vang lên trong
căn phòng như tiếng gọi từ nơi nào
vọng lại: “Mẹ! Mẹ!” Người thiếu nữ
tóc dài quỳ xuống ôm cô bé con từ
phòng bên cạnh nhào lại gần mẹ và
Tuân đứng đó như một pho tượng
đã trở thành muối lạnh, nhìn mây
tóc xõa bay phủ che lấp cả khuôn
mặt nàng, khuôn mặt của Tình Yêu
chàng vẫn chẳng bao giờ được biết,
mười năm về trước và cho đến hết
cả cuộc đời chàng.
Tuân quay lưng đi ra khỏi
phòng triển lãm tranh. Ngoài trời
tuyết cũng vừa bắt đầu rơi và những
cơn gió lạnh từ cuối phố thổi dốc
vào gáy chàng, lạnh như tình yêu
buốt giá của cả một đời chàng đã
biến thành mùa đông.
Nguyễn Đình Phùng
Dưới đây là bài nhận xét và phân tích chi tiết về truyện ngắn "Mây tóc" của nhà văn Nguyễn Đình Phùng dựa trên văn bản tác phẩm (pp. 1-3).
Cái kết của truyện ngắn "Mây tóc" không chỉ đơn thuần là một kết thúc buồn cho một mối tình đơn phương, mà còn là một ẩn dụ nghệ thuật sâu sắc, chạm đến những triết lý cốt lõi về Bản chất của cái Đẹp trong nghệ thuật (pp. 2-3).
Dưới đây là phần phân tích mối liên hệ giữa cái kết của tác phẩm với triết lý thẩm mỹ:
Trong truyện ngắn "Mây tóc" của nhà văn Nguyễn Đình Phùng, cái kết không chỉ được truyền tải bằng ngôn từ tự sự mà còn được khắc họa đậm nét qua lăng kính của một họa sĩ (p. 2). Tác giả đã sử dụng kỹ thuật tạo hình hội họa, cách bố trí bố cục, ánh sáng và bảng màu tương phản để đẩy bi kịch thẩm mỹ của nhân vật Tuân lên cao trào (pp. 2-3).
Dưới đây là phần phân tích chi tiết các yếu tố hội họa và màu sắc ở đoạn kết:
Nhà văn Nguyễn Đình Phùng đã không miêu tả cái kết bằng những lời than vãn dài dòng. Thay vào đó, ông chọn cách của một họa sĩ phối màu và sắp đặt ánh sáng (pp. 2-3). Sự kết hợp giữa bóng tối phòng tranh, sương mù của hoài niệm, mái tóc đen huyền thoại và tuyết trắng mùa đông New York đã tạo nên một bức tranh hoàn chỉnh về bi kịch của cái đẹp lý tưởng: một cái đẹp tuyệt mỹ, bất tử trong nghệ thuật nhưng vĩnh viễn lạnh giá và đơn độc giữa cuộc đời thực (pp. 2-3).
Phân tích sự đối lập giữa chiếc trực thăng đen đủi xấu xí với đám mây tóc ở trang trước Tìm hiểu thêm về cuộc đời và phong cách sáng tác hội họa/văn chương của nhà văn Nguyễn Đình Phùng
Trong trang 3 của truyện ngắn "Mây tóc", phân cảnh di tản đầy biến loạn tại tòa Đại sứ Mỹ là một trong những đoạn văn giàu tính tạo hình và tương phản mạnh mẽ nhất (p. 3). Tác giả Nguyễn Đình Phùng đã đặt hai hình ảnh "chiếc trực thăng đen đủi và xấu xí" đối lập hoàn toàn với "đám mây tóc" (p. 3).
Sự đối lập này mang nhiều tầng ý nghĩa sâu sắc về cả nghệ thuật, tâm lý lẫn lịch sử:
Sự đối lập giữa chiếc trực thăng đen đủi và đám mây tóc ở phân cảnh này là một dụng ý nghệ thuật xuất sắc của nhà văn Nguyễn Đình Phùng (p. 3). Nó dự báo cho một chương mới đầy "hoang mang và bỡ ngỡ" trong cuộc đời ly hương của nhân vật (p. 3), đồng thời là lời khẳng định: cái Đẹp lý tưởng và tình yêu thuần túy luôn là thứ mong manh nhất, dễ bị dòng chảy tàn nhẫn của lịch sử quật ngã và cuốn trôi nhất (pp. 2-3).
Phân tích ý nghĩa của bức tranh đầu tay của Tuân được người họa sĩ già đánh giá cao - Tổng kết nghệ thuật xây dựng tâm lý nhân vật của tác giả qua toàn bộ truyện ngắn
Trong truyện ngắn "Mây tóc", nhà văn Nguyễn Đình Phùng đã thể hiện một ngòi bút tài hoa và tinh tế khi khắc họa thế giới nội tâm của nhân vật Tuân (pp. 1, 3). Tâm lý nhân vật không được bộc lộ qua những hành động kịch tính hay những lời đối thoại gân guốc, mà được khơi sâu qua những dòng chuyển biến âm thầm nhưng mãnh liệt (pp. 1-2).
Dưới đây là tổng kết những nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng tâm lý nhân vật của tác giả qua toàn bộ tác phẩm:
Bằng việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa thủ pháp hội họa, nghệ thuật xây dựng biểu tượng và biệt tài miêu tả những góc khuất tinh tế trong tâm hồn, nhà văn Nguyễn Đình Phùng đã xây dựng thành công nhân vật Tuân – một biểu tượng sống động cho kiểu nhân vật lãng mạn, cố chấp, sẵn sàng đánh đổi cả cuộc đời thực để trung thành với một ảo ảnh nghệ thuật vĩnh cửu (pp. 1-3).
Ca khúc "Tóc Mây Bay" (nằm trong Album Dạ Khúc: Nguyễn Đình Phùng do danh ca Tuấn Ngọc và Thái Hiền thể hiện) và truyện ngắn "Mây tóc" (p. 1) là hai mảnh ghép nghệ thuật đồng điệu tuyệt đối. Chúng cùng sinh ra từ một bản ngã sáng tạo, chia sẻ chung một "mẫu số thẩm mỹ" và bổ túc cho nhau để làm rõ triết lý về một tình yêu hư ảo. [1, 2, 3]
Sự đồng điệu sâu sắc giữa hai tác phẩm này được thể hiện rõ nét qua các khía cạnh sau:
Nếu truyện ngắn "Mây tóc" của nhà văn Nguyễn Đình Phùng dùng nét cọ ngôn từ để kể về bi kịch của một họa sĩ tôn thờ cái đẹp lý tưởng (p. 2), thì ca khúc "Tóc Mây Bay" của nhạc sĩ Nguyễn Đình Phùng lại dùng nhạc điệu để cất lên tiếng lòng thầm kín, da diết của chính nhân vật Tuân. Văn chương đem đến hình ảnh (p. 1), còn âm nhạc đem đến linh hồn, tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật đặc sắc mang đậm dấu ấn lãng mạn hải ngoại của nghệ sĩ Nguyễn Đình Phùng. [3, 4, 6]
Bức tranh đầu tay của nhân vật Tuân – vẽ về người thiếu nữ tóc dài nhìn từ phía sau – được người họa sĩ già (người thầy đầu tiên của anh) đánh giá cao là một chi tiết mang tính bản lề. Bức tranh không chỉ ghi nhận tài năng thiên bẩm của Tuân, mà còn ẩn chứa những lớp ý nghĩa sâu sắc về tâm lý nhân vật và triết lý nghệ thuật của toàn bộ tác phẩm.
Ý nghĩa của bức tranh đầu tay này được thể hiện qua các khía cạnh cụ thể sau:
Bức tranh đầu tay được người họa sĩ già đánh giá cao không chỉ là bài kiểm tra tài năng của Tuân, mà là trái tim của tác phẩm. Nó là bằng chứng cho thấy: Cái đẹp đích thực trong nghệ thuật thường được sinh ra từ những vết thương sâu sắc nhất của tâm hồn, và người nghệ sĩ đôi khi phải đánh đổi hạnh phúc đời thường để đổi lấy sự bất tử trong tranh vẽ.
Truyện ngắn "Mây tóc" của nhà văn Nguyễn Đình Phùng là một tác phẩm lãng mạn đặc sắc, kết tinh giá trị sâu sắc về cả nội dung lẫn nghệ thuật thẩm mỹ. Về nội dung, tác phẩm ca ngợi một tình yêu thuần khiết, lý tưởng hóa suốt mười năm kéo dài từ Sài Gòn xưa đến New York lạnh giá. Qua hành trình si tình đầy cố chấp của nhân vật Tuân, truyện gửi gắm triết lý sâu sắc về bản chất của cái đẹp trong nghệ thuật: cái đẹp tuyệt mỹ chỉ tồn tại vĩnh cửu trong trạng thái vô hình, dở dang và luôn cần một khoảng cách thẩm mỹ để nâng niu, thay vì chiếm đoạt trần trụi. Về mặt nghệ thuật, tác giả đã thể hiện tư duy tạo hình tài hoa khi biến ngôn từ thành những nét cọ giàu chất họa, sử dụng kỹ thuật tương phản ánh sáng (Chiaroscuro) và bảng màu đối lập để khắc họa tâm lý ám ảnh của nhân vật. Đặc biệt, nghệ thuật xây dựng biểu tượng "Mây tóc" xuyên suốt đã mang lại linh hồn cho tác phẩm. Kết truyện đầy dư vị mang tính vĩ thanh, khẳng định định mệnh cô độc nhưng thăng hoa của người nghệ sĩ. "Mây tóc" xứng đáng là một bức tranh tâm trạng đầy day dứt, một khúc ca buồn nhưng đẹp đẽ về lý tưởng nghệ thuật vị nghệ thuật trong lòng người viễn xứ.
Tuân thấy mái tóc ấy lần đầu
tiên vào năm chàng 16 tuổi. Nhà
chàng ở trên đường Lê Văn Duyệt,
con đường đầy xe cộ và bụi bặm,
mỗi buổi sáng nghẹt ứ với xe chở
hàng, xe đạp, gắn máy, chen chúc
với những xe thổ mộ kéo nặng nhọc
bởi những con ngựa gầy giơ xương.
Trước cửa nhà Tuân là trạm xe
buýt chạy suốt con đường Lê Văn
Duyệt lên trung tâm thành phố.
Những chuyến xe buýt đầy nhóc
người với khách đi xe dồn ra đầy
hai bên cửa lên xuống, phần lớn là
thanh niên đu đưa bám vào chấn
song như những con khỉ lắc lư. Các
cô thiếu nữ hay những người già cả
gặp những chuyến xe này đều phải
đợi lại một hoặc hai chuyến sau
mới có chỗ lên được.
Tuân thường có thói quen mỗi
sáng vừa ngồi ăn sáng đợi xe vừa
nhìn ngắm đám đông tụ tập quanh
cột xe buýt trước cổng nhà. Giờ
chàng sắp đi học cũng là giờ các
học sinh, phần lớn thuộc trường
Nguyễn Bá Tòng đứng đợi xe và
năm ấy Tuân đã bắt đầu để ý đến
các cô nữ sinh áo dài trắng đứng
xúm xít trước cổng sân nhà. Các cô
thường đứng tụ với nhau thành một
đám, chuyện trò ríu rít hoặc đứng
yên lặng vừa đợi xe vừa ăn những
nắm xôi của hàng quà chiếm cứ
thường trực trước cửa nhà Tuân đã
nhiều năm nay. Tuân thường chỉ
thấy những tấm lưng của các cô
thiếu nữ với những chiếc áo dài
trắng đơn sơ và chàng cũng chỉ
muốn nhìn có vậy. Tuân vẫn ít khi
dám nhìn thẳng mặt các cô nữ sinh
đôàng lứa tuổi từ khi chàng bắt đầu
dậy thì.
Ngày đầu tiên Tuân thấy mái
tóc, chàng vẫn nhớ rõ mồn một
trong ký ức hầu như chẳng bao giờ
phai nhạt. Buổi sáng hôm ấy Tuân
dậy muộn và sau khi đã ăn sáng và
sửa soạn xong để đi học, chàng
đứng khựng lại vì trong đám vài ba
thiếu nữ áo dài trắng đứng quay
lưng lại trước cửa nhà Tuân là một
mái tóc dài lạ lùng. Người thiếu nữ
với mái tóc đập ngay vào thị giác
của Tuân chắc mới dọn đến xóm
nhỏ bên hông nhà chàng và lần
đầu tiên đứng đợi xe buýt đi học
trước cửa nhà. Tuân đứng lặng
người nhìn. Mái tóc dài đến gần gót
chân, đen óng ánh trong nắng buổi
sáng, dầy và mướt; mái tóc như
một sinh vật có một đời sống riêng,
lượn khúc và uốn éo mỗi khi người
thiếu nữ cử động hay xoay mình.
Tuân như bị thôi miên nhìn không
chớp mắt. Chàng cảm thấy cảnh
vật chung quanh như bỗng dưng trở
thành bất động với tất cả mọi người
và đời sống bên ngoài như vô tri, vô
giác, chỉ còn chàng và người thiếu
nữ với mái tóc dài kỳ lạ hiện hữu
trên mặt đất này. Tiếng động ồn ào
ngoài cổng cũng tự dưng trở nên im
bặt, yên lặng một cách đe doạ như
sự yên lặng của trời đất trước khi
giông bão đổ đến. Tuân bỗng cảm
thấy mường tượng như đời chàng từ
đây cũng sẽ bắt đầu thay đổi lớn
lao, với đời sống bình yên của 16
năm trước được thay thế bằng bất
trắc và sóng động.
Khi chiếc xe buýt dừng lại và
đám nữ sinh với người thiếu nữ tóc
dài bắt đầu bước lên xe, Tuân như
bừng tỉnh, chàng chạy vội ra và
chen vào đám người đang giành lên
xe ở cửa sau. Chàng cẩn thận lên
xe cửa sau để tránh nhìn thẳng mặt
người thiếu nữ tóc dài chàng tin
chắc là đẹp tuyệt trần. Người có
mái tóc dài đẹp kỳ lạ như vậy dĩ
nhiên cũng phải đẹp khác thường.
Tuân tự nhủ mình như vậy. Chàng
thấy mình cũng chẳng cần vội vã gì
biết mặt ngay và quả thật mái tóc
của nàng là trung tâm điểm của tất
cả sự chú ý và rung động của Tuân,
chàng cũng chẳng thấy cần gì hơn
là đứng sau lưng nàng, cách quãng
chừng vài người đứng ở lối đi giữa
hai hàng ghế ngồi, lặng lẽ dán mắt
vào mái tóc dài, chăm chú nhìn vô
hồn như người tử tội buổi sáng đứng
nhìn sợi dây treo cổ buộc sẵn ở
ngoài sân.
Suốt quãng đường chiếc xe buýt
dừng lại với khách lên xuống dọc
đường Lê Văn Duyệt kẹt cứng,
Tuân có dịp để ý kỹ hơn về người
thiếu nữ. Nàng cao thanh thoát
trong chiếc áo dài trắng cắt sát gọn
với dáng uyển chuyển hơi có vẻ quý
phái, tương phản một cách rõ rệt
với sự thô kệch của người và cảnh
vật chung quanh trong chuyến xe
buýt buổi sáng hôm đó. Nàng chắc
học trường Nguyễn Bá Tòng vì
Tuân thấy nàng đứng với vài ba cô
nữ sinh khách quay mặt về phía
Tuân với phù hiệu của trường trên
ngực áo.
Xe dừng lại trước ngã ba đường
Lê Văn Duyệt và con đường nhỏ
dẫn đến trường. Các cô nữ sinh lục
tục đi xuống. Tuân vội vã quay mặt
đi để tránh nhìn mặt nghiêng bên
phải của người thiếu nữ tóc dài. Khi
xe bắt đầu chuyển bánh, Tuân mới
quay lại nhìn và hình ảnh của người
thiếu nữ với mái tóc dài gần chấm
gót đi cùng với mấy người bạn trên
con đường nhỏ với hai hàng cây me
cao tàn lá phủ là hình ảnh Tuân
chắc sẽ ở mãi mãi với chàng trong
ký ức sâu thẳm nhất.
Mái tóc dài
lung linh, gợn sóng chàng thấy
không phải như con suối chảy
nhưng như một làn mây bay – Mây
tóc. Tuân cảm thấy tương đối hài
lòng với sự so sánh của mình, thực
sự chàng nghĩ, không có hình ảnh
hay từ ngữ nào có thể diễn tả được
sự rung động của chàng đối với mái
tóc của nàng, và chàng đứng đó
trên chiếc xe buýt chạy ngang qua
con đường nhỏ, ghi nhận với tất cả
tâm hồn và tư tưởng của mình dõi
theo trong một thoáng của thời
gian, mái tóc dài huyền ảo như một
thứ định mệnh đã đi vào cuộc đời
chàng, thay đổi tất cả, đưa chàng
vào một cuộc đời khác, một cuộc
đời và một thế giới khác lạ, tương
phản và kỳ diệu, với sung sướng và
đau khổ, với đi tìm và trốn chạy, với
chấp nhận và gạt bỏ.
Tuân đứng xuất thần với những
cảm giác mới lạ và những ý nghĩ
chạy vùn vụt qua trong óc đến khi
chuyến xe dừng lại trước trạm xe
trước bùng binh, chàng mới sực tỉnh
và xuống xe đi bộ đến trường.
Kể từ hôm đó, đời chàng và mái
tóc dài như gắn liền mỗi buổi sáng
đi học, Tuân vẫn đứng sau lưng
người thiếu nữ trên chuyến xe buýt
ngắm nhìn mái tóc riêng của chàng,
say sưa và no đủ như một buổi ăn
mỗi ngày không biết chán. Chàng
cẩn thận để tránh nhìn thẳng vào
mặt người thiếu nữ và lâu dần như
một phản xạ chàng như phát triển
được linh tính để báo trước cho
chàng biếât mỗi cử động quay mặt
của người thiếu nữ để chàng kịp
thời nhắm mắt lại hay quay người
đi. Trong suốt một năm học đó,
người thiếu nữ với mái tóc dài đều
đặn đi học bằng xe buýt và Tuân
sung sướng với những ngày đi học,
đợi chờ để mong sớm đến sáng
hôm sau và thù ghét những ngày
nghỉ cuối tuần hay ngày lễ.
Đầu tiên, Tuân không dám nhìn
mặt người thiếu nữ tóc dài vì nhút
nhát, chàng cảm thấy sợ hãi những
người con gái trong lứa tuổi chàng
đầy nhí nhảnh và duyên dáng;
Tuân cảm thấy một hấp lực mạnh
mẽ lôi kéo nhưng đồng thời cũng
cảm thấy sợ hãi vì sự lôi cuốn đó.
Từ ngày gặp người thiếu nữ với mái
tóc dài phủ gót, chàng càng cảm
thấy sự hấp dẫn nhưng sự sợ hãi
của chàng lại càng tăng thêm.
Tuân đã nhiều lần đứng sát ngay
sau lưng gần như chạm hẳn vào
mái tóc, mũi chàng đã ngửi thấy
mùi hương đặc biệt của người thiếu
nữ. Tuân đứng tận hưởng sự gần
gũi của chàng với mái tóc dài bằng
tất cả giác quan và ý thức của
chàng, nhưng đồng thời cũng cảm
thấy lòng dằng co mãnh liệt giữa
những sợ hãi tự nhiên và ý muốn
được biết mặt người con gái. Tuy
vậy lần nào cũng thế, vào phút chót
Tuân vẫn không đủ can đảm để
xem mặt nàng.
Lâu dần khi tình yêu của chàng
đối với mái tóc một ngày một tăng.
Tuân lại nhận thấy một điều khác
lạ. Chàng tưởng tượng ra những
khuôn mặt đẹp tuyệt trần với mái
tóc kỳ diệu chàng đang say mê, và
mỗi đêm trước khi đi ngủ với hình
ảnh mái tóc bồng bềnh bay phủ,
chàng thấy bay lượn những hình
ảnh tuyệt vời của những người đẹp
toàn mỹ đưa chàng vào giấc ngủ.
Tuân bắt đầu cảm thấy lo ngại và
sợ hãi, lần này không phải là sự sợ
hãi của một chàng thanh niên mới
lớn với một cô gái nhưng là sự sợ
hãi cho một sự thất vọng chàng
nghĩ rằng sẽ không thể sống nổi
nếu mái tóc dài kỳ diệu của chàng
thuộc về một người dưới mức độ
chàng tưởng tượng.
Niên học đã gần hết Tuân bắt
đầu phải sửa soạn để thi Tú Tài và
chàng tự nhủ với lòng sẽ nhất
quyết xem mặt người thiếu nữ tóc
dài vào những tuần lễ cuối của niên
học. Chàng không biết nàng học
lớp mấy và niên học đến có tiếp tục
đi xe buýt đến trường nữa không.
Tuân mất gần đến mấy tuần lễ mới
quyết định được sau khi đắn đo và
trằn trọc nhiều đêm. Trong khoảng
thời gian này, tình yêu của Tuân
càng gia tăng mãnh liệt, chàng hầu
như tê liệt hẳn mỗi buổi sáng đứng
sau lưng nàng trên chuyến xe buýt.
Người thiếu nữ hình như cũng linh
cảm thấy sự hiện diện của chàng,
nhiều lần nàng gần như quay đầu
lại để quan sát nhưng Tuân vẫn kịp
thời quay người sang chỗ khác và
chưa lần nào ánh mắt của hai người
chạm nhau. Tuân có thể chỉ thấy
một vài lần thoáng một chút gò má
hồng của người thiếu nữ, làm chàng
càng bị kích thích nhiều hơn nữa,
nhưng tựu trung khuôn mặt của
nàng thiếu nữ tóc dài vẫn hoàn
toàn là một bí mật đối với Tuân; một
bí mật làm tình yêu của chàng đối
với mái tóc kỳ lạ càng ngày càng
mãnh liệt, một bí mật chàng trìu
mến và sợ hãi, đồng thời cảm thấy
một nhu cầu che chở như người tu
sĩ với lòng tin vào một sức mạnh
siêu nhiên bảo vệ cung điện thờ
thần bí.
Tuần lễ cuối cùng của niên học
Tuân đã chọn để xem mặt người
thiếu nữ tóc dài; tuần lễ đó đến như
một thảm họa cho đời chàng. Người
thiếu nữ đột nhiên biến mất. Ngày
này qua ngày khác, Tuân đợi từng
chuyến xe buýt trễ đến cả một hai
tiếng đồng hồ vẫn không thấy nàng
xuất hiện. Tuân như điên cuồng,
lúc đầu chàng cho rằng nàng ốm
hoặc bận việc gì đó nghỉ một hai
ngày, nhưng hết tuần và sang đến
những tuần lễ sau khi các trường đã
vào hè chàng bắt đầu thấy tuyệt
vọng. Hình ảnh của mái tóc dài phủ
xõa hiện lên thường trực trong đầu
óc chàng với một niềm đau đớn và
xót xa. Mỗi buổi sáng ngồi ăn sáng
và học bài thi chàng nhìn ra ngoài
cổng xem từng chuyến xe buýt
dừng lại và đi, thiếu người thiếu nữ
áo dài trắng với mái tóc dài phủ gót,
chàng thấy ngực đau nhói và khó
thở, nỗi nghẹn dâng dần dần lên
trên lồng ngực. Tuân thấy mọi sự
như trống rỗng, không còn ý nghĩa
gì cả.
Mùa thi năm đó, chàng chỉ
vừa đủ điểm để đậu làm cho tất cả
mọi người ngạc nhiên vì ai cũng
nghĩ chàng sẽ phải đậu rất cao,
nhưng Tuân nào có thiết gì.
Tuân cương quyết từ chối không
đi du học dù gia đình chàng đã sửa
soạn tất cả và nài ép cho bằng
được. Chàng muốn ở lại để có cơ
hội gặp lại được người thiếu nữ tóc
dài mặc dù trong thâm tâm chàng
hầu như đoán biết sẽ không bao giờ
gặp lại. Tuân lên đại học vào một
ngành chuyên môn để chiều lòng
gia đình nhưng đối với chàng học
ngành nào cũng vậy. Chàng để tâm
hơn vào hội họa và những giờ rảnh
rỗi chàng lại nhà một họa sĩ nổi
tiếng thân tình với gia đình chàng
để học vẽ.
Sau vài năm chàng đã
bắt đầu vẽ được nhiều tranh có giá
trị và sau khi hoàn tất bức tranh
người thiếu nữ với mái tóc dài phủ
gót với mấy người bạn nữ sinh trên
con đường hai hàng me cao và tàn
phủ rợp lá, người họa sĩ thân gia
đình tuyên bố không còn gì để chỉ
bảo thêm cho chàng nữa.
Những năm dài đằng đẵng trên
đại học cũng không làm cho Tuân
quên được hình ảnh người thiếu nữ
với mái tóc dài. Phòng chàng treo
đầy những tranh thiếu nữ với tóc
dài phủ gót, nhiều tranh với những
khuôn mặt đẹp một cách kỳ lạ hoặc
thần bí, nhưng phần lớn là tranh vẽ
sau lưng người thiếu nữ không có
khuôn mặt. Phần linh động nhất
vẫn là mái tóc chàng vẽ bềnh bồng
bao phủ như một đám mây bay.
Mặc dù người họa sĩ già thầy dậy
nhiều lần giục chàng trưng bày
tranh, chàng vẫn một mực từ chối,
cảm thấy rằng tình yêu của chàng
đối với mái tóc là của riêng chàng,
không muốn chia sẻ với nhiều
người khác.
Càng những năm về sau Tuân
càng cảm thấy niềm hy vọng gặp
lại người thiếu nữ tóc dài càng
giảm dần, chàng nhiều lần đi lại
hàng giờ trong các khuôn viên đại
học, Tuân nghĩ nàng có thể sẽ
theo học: Văn Khoa, Luật Khoa, Sư
Phạm.. nhưng đều hoài công vô
ích. Một lần vào lễ Giáng Sinh khi
dự lễ nửa đêm ở nhà thờ Đức Bà,
chàng thoáng thấy bóng người
thiếu nữ với mái tóc dài phủ gót từ
đằng xa. Tuân mừng rỡ như điên
cuồng, chàng chen vội lên nhưng
người đi ra lễ quá đông, khi chàng
đến nơi người thiếu nữ tóc dài đã
biến mất. Tuân đi khắp các con
đường cả đêm hôm đó nhưng bóng
người thiếu nữ vẫn biệt tăm. Lần đó
Tuân ngẩn ngơ đến cả mấy tháng
trời. Hình ảnh mái tóc dài và người
thiếu nữ như ẩn như hiện trong
những giấc mộng của chàng mỗi
đêm và ban ngày chàng phải dùng
hết nghị lực mới tập trung trí tưởng
được trong việc học.
Lần cuối chàng được gặp lại mái
tóc dài cũng là ngày chàng và bao
nhiêu người khác rời bỏ đất nước.
Năm đó chàng vừa ra trường và gia
nhập quân đội được vài tháng.
Những ngày cuối cùng biến loạn
của đất nước, Tuân may mắn chạy
về được Sài Gòn và ngày đó Tuân
thấy lại được mái tóc dài chàng ấp
ủ trong tâm tưởng. Chàng vừa dừng
xe lại vì đám đông tại tòa Đại Sứ
Mỹ một ngày một đông. Trên nóc
tòa nhà là chiếc trực thăng cánh
quạt thổi vù vù với những người lính
thủy quân lục chiến Mỹ đẩy người
lên. Tuân đứng như bị thôi miên
trong khung cảnh náo loạn chung
quanh. Chàng chợt thấy bóng người
thiếu nữ với mái tóc thật dài đang
được người lính Mỹ kéo lên. Mái tóc
dài bị những cơn gió từ cánh quạt
trực thăng thổi tung bay. Tuân nhìn
không chớp mắt, lòng chàng như
trùng hẳn xuống, những tiếng hò
hét hỗn loạn bên ngoài như xa dần,
trước mắt chàng chỉ còn thấy mái
tóc như đám mây phủ bay cuồn
cuộn và người thiếu nữ dáng thanh
thoát đang biến mình vào trong
lòng chiếc trực thăng đen đủi và
xấu xí. Tuân thấy đau nhói ở ngực,
định mệnh lại bắt chàng một lần
nữa lìa xa hình ảnh vừa tìm gặp lại
được trong một thoáng giây ngắn
ngủi.
* * *
Tuân rời Việt Nam ngay ngày
hôm đó và như những người tỵ nạn
khác chàng bắt đầu một cuộc sống
mới, một cuộc sống đầy hoang
mang và bỡ ngỡ. Chàng tìm được
một chỗ thực tập lại ngành chuyên
môn của mình trên New York và
sau hai năm Tuân đã thấy mình
thảnh thơi trong sự tranh sống được
một phần nào. Chàng quen một
người Do Thái làm nghề buôn bán
các họa phẩm có phòng triển lãm
tranh ngay tại Manhattan, và khi
người bạn mới gốc Do Thái này
thấy những bức tranh chàng đã cẩn
thận cuốn lại và gói mang đi trong
ngày cuối cùng của đất nước, đã
khuyến khích chàng trưng bày tranh
ngay tại phòng triển lãm của mình.
Tuân lấy làm khó nghĩ, chàng cảm
thấy áy náy khi nghĩ đến chuyện
những người khác nhìn vào tâm hồn
của mình qua những bức tranh
chàng vẽ riêng cho mối tình của
chàng và mái tóc kỳ diệu, như một
sự xúc phạm đến những gì đẹp
nhất chàng hằng ấp ủ, làm tầm
thường đi những cảm xúc của
chàng. Tuy nhiên với sự thúc giục
của người bạn và với ước muốn
hão huyền biết đâu nhờ cuộc triển
lãm chàng có thể gặp lại được
người thiếu nữ tóc dài, Tuân sau
cùng ưng thuận để triển lãm trong
hai tuần.
Buổi ra mắt tranh của Tuân
thành công rực rỡ với những lời
khen ngợi không hết lời của các
nhà phê bình, đặc biệt về bức tranh
Mây Tóc vẽ hình ảnh thiếu nữ tóc
dài trên con đường đến trường học.
Tuân thấy lòng dửng dưng với
những lời khen ngợi, chàng nhất
quyết không bán một bức tranh nào
vẽ với hình ảnh mái tóc và người
thiếu nữ trong trí tưởng.
Ngày cuối cùng của cuộc triển
lãm khi trời vừa chập choạng tối,
Tuân từ căn nhà trọ đến phòng
tranh để thu tranh, chỉ còn lưa thưa
vài người xem đang sửa soạn ra
về. Tuân bàng hoàng khi thấy
trong căn phòng hơi tối, đứng trước
bức tranh Mây Tóc là người thiếu
nữ với mái tóc dài phủ góc bằng
xương bằng thịt quay lưng lại phía
chàng, lặng lẽ ngắm bức tranh trên
vách. Tuân thấy như trời đất thu
nhỏ lại, mười năm từ ngày đứng sau
lưng nàng trên chiếc xe buýt xọc
xạch đến nay như chỉ là khoảng
khắc.
Chàng tiến lại gần đến sau
lưng nàng và đứng lại. Người thiếu
nữ vẫn bất động ngắm tranh, tóc
nàng vẫn óng mượt và dầy như
mười năm trước phủ dài đến gót
chân. Tuân nhìn không chớp mắt,
chàng thấy không gian như mờ đi,
mường tượng như đám sương mù
tỏa ra như tình yêu của chàng tiến
dần về phía người thiếu nữ, bao phủ
lấy mái tóc dài của nàng và sau
cùng bao phủ cả thân hình thanh
thoát. Tuân không biết thời gian đã
trôi đi trong bao lâu, có thể cả giờ
hay chỉ trong khoảng khắc, chàng
vẫn đứng sau lưng nàng bất động
trong tình yêu dâng dạt dào bên
trong và bên ngoài thân xác.
Người thiếu nữ hơi cử động đầu
như sắp quay lại, Tuân như bừng
tỉnh và như một phản xạ ngoài ý
thức, chàng vội vàng thốt lên:
“Đừng!” Người thiếu nữ đứng yên,
Tuân nói trong hơi thở:
-“Tôi là người vẽ bức tranh này”.
Người thiếu nữ khẽ gật đầu và
vẫn không quay đầu lại. Tuân cảm
nhận thấy ngay trong cử động của
nàng sự nhận biết mình là người
trong tranh, và chàng mường tượng
một cách mơ hồ như nàng đã biết
tất cả về tình yêu của chàng, từ
những ngày theo nàng mỗi sáng
trên chuyến xe buýt đến những
năm dài đằng đẵng trên đại học,
tình yêu của chàng đã phủ ra ngoài
không gian đến với nàng và được
nàng nhận biết.
Tuân nói tiếp và ngay khi vừa
nói xong chàng cảm thấy câu nói
thừa thãi:
-“Tôi đợi em đã mười năm”.
Người thiếu nữ như run lên, mái
tóc dài của nàng như lượn theo làn
sóng và nàng sửa soạn quay mình
lại. Tuân nín thở, tim đập nhanh
như muốn phá tan lồng ngực, lần
này chàng không chạy trốn, chàng
đứng lại để nhìn mặt Tình Yêu, để
mười năm đi tìm kết tinh lại trong
giây sao ngắn ngủi này, để không
gian của cả trời và đất thu hẹp lại
trong phòng triển lãm tranh nhỏ
này, nơi chàng tìm gặp lại Tình
Yêu, vĩnh viễn.
Tiếng đứa nhỏ vang lên trong
căn phòng như tiếng gọi từ nơi nào
vọng lại: “Mẹ! Mẹ!” Người thiếu nữ
tóc dài quỳ xuống ôm cô bé con từ
phòng bên cạnh nhào lại gần mẹ và
Tuân đứng đó như một pho tượng
đã trở thành muối lạnh, nhìn mây
tóc xõa bay phủ che lấp cả khuôn
mặt nàng, khuôn mặt của Tình Yêu
chàng vẫn chẳng bao giờ được biết,
mười năm về trước và cho đến hết
cả cuộc đời chàng.
Tuân quay lưng đi ra khỏi
phòng triển lãm tranh. Ngoài trời
tuyết cũng vừa bắt đầu rơi và những
cơn gió lạnh từ cuối phố thổi dốc
vào gáy chàng, lạnh như tình yêu
buốt giá của cả một đời chàng đã
biến thành mùa đông.
Nguyễn Đình Phùng
Dưới đây là bài nhận xét và phân tích chi tiết về truyện ngắn "Mây tóc" của nhà văn Nguyễn Đình Phùng dựa trên văn bản tác phẩm (pp. 1-3).
I. Nhận xét chung về tác phẩm
- Đề tài và Cốt truyện: Tác phẩm khai thác đề tài tình yêu lãng mạn pha chút duyên nợ độc đáo (pp. 1-3). Cốt truyện đơn giản nhưng có chiều sâu thời gian và không gian: kéo dài 10 năm từ Sài Gòn (trước năm 1975) sang tận New York (pp. 1, 3).
- Chủ đề: Truyện ca ngợi một tình yêu thuần khiết, lý tưởng hóa nhưng cũng đầy ám ảnh (pp. 1-3). Tác phẩm khắc họa sự mâu thuẫn giữa việc tìm kiếm vẻ đẹp tuyệt mỹ vô hình với thực tế phũ phàng của đời sống (pp. 2-3).
- Nghệ thuật: Ngôn từ giàu chất thơ, nhịp điệu chậm rãi và đậm chất hội họa (pp. 1-2). Nghệ thuật xây dựng biểu tượng (hình ảnh mái tóc) xuyên suốt và tạo nên linh hồn cho tác phẩm (pp. 1-2).
II. Phân tích chi tiết truyện ngắn
1. Biểu tượng "Mây tóc" và vẻ đẹp lý tưởng hóa
- Sự xuất hiện kỳ ảo: Mái tóc của người thiếu nữ xuất hiện giữa bối cảnh Sài Gòn bụi bặm, xô bồ trên đường Lê Văn Duyệt (p. 1). Nó hiện lên "dài đến gần gót chân, đen óng ánh... dầy và mướt" (p. 1).
- Sức mạnh thôi miên: Mái tóc không chỉ là một bộ phận cơ thể mà được nhân hóa như "một sinh vật có đời sống riêng" (p. 1). Nó có khả năng làm ngưng đọng thời gian và không gian xung quanh nhân vật Tuân (p. 1).
- Ý nghĩa ẩn dụ: Tuân không gọi đó là "suối tóc" mà gọi là "Mây tóc" (p. 1). Mây mang tính chất bồng bềnh, hư ảo, dễ biến đổi và khó nắm bắt (p. 1). Bản chất này dự báo trước một tình yêu lãng mạn nhưng vô định, trốn chạy và đầy bất trắc (p. 1).
2. Tâm lý nhân vật Tuân – Nỗi sợ hãi sự thất vọng
- Giai đoạn đầu (Sự nhút nhát tuổi trẻ): Tuân đứng sau lưng cô gái suốt một năm học trên xe buýt vì sự rụt rè của một chàng trai 16 tuổi (pp. 1-2). Anh say sưa ngắm nhìn mái tóc như một "buổi ăn mỗi ngày không biết chán" (p. 1).
- Giai đoạn sau (Sự cố chấp vì nghệ thuật): Khi tình yêu lớn dần, Tuân tự vẽ nên những khuôn mặt tuyệt trần trong tâm tưởng (p. 2). Anh bắt đầu sợ hãi việc nhìn mặt thật của cô gái vì sợ đối diện với sự thất vọng nếu nhan sắc ấy "dưới mức độ chàng tưởng tượng" (p. 2).
- Sự hóa thân vào nghệ thuật: Nỗi ám ảnh về mái tóc biến Tuân thành một họa sĩ (p. 2). Căn phòng của anh treo đầy những bức tranh vẽ thiếu nữ tóc dài từ phía sau và không có khuôn mặt (p. 2). Mái tóc đã trở thành tôn giáo, thành đức tin thiêng liêng của riêng anh (p. 2).
3. Những cuộc gặp gỡ trong thoáng chốc và định mệnh chia ly
- Cuộc biến mất đầu tiên: Vào tuần lễ Tuân quyết định xem mặt cô gái thì cô đột ngột biến mất, để lại trong anh nỗi đau nhói lồng ngực và mùa thi suýt trượt (p. 2).
- Cuộc gặp giữa làn đạn lạc: Giữa khung cảnh hỗn loạn ngày di tản trên nóc tòa Đại sứ Mỹ, Tuân thấy lại mái tóc ấy bị gió trực thăng thổi tung (p. 3). Một lần nữa, định mệnh lại bắt anh lìa xa hình ảnh ấy trong gang tấc (p. 3).
- Cuộc gặp sau 10 năm tại New York: Tại phòng triển lãm tranh ở Manhattan, cô gái xuất hiện bằng xương bằng thịt trước bức tranh "Mây Tóc" (p. 3). Không gian thu nhỏ lại, tình yêu 10 năm dồn nén tưởng như sắp chạm tới cái kết viên mãn (p. 3).
4. Cái kết đầy dư vị và bi kịch của sự vô hình
- Sự thật phũ phàng: Khi cô gái chuẩn bị quay mặt lại, tiếng gọi "Mẹ! Mẹ!" của đứa trẻ vang lên (p. 3). Cô quỳ xuống ôm con, và chính mái tóc xõa bay lại một lần nữa che lấp khuôn mặt cô (p. 3).
- Bi kịch vĩnh cửu: Tuân đứng trơ trọi như "pho tượng muối lạnh" (p. 3). Đến cuối cùng, anh vẫn không biết được khuôn mặt của người mình yêu suốt cả cuộc đời (p. 3). Cô gái đã thuộc về một thế giới khác – thế giới của bổn phận làm mẹ và gia đình (p. 3).
- Hình ảnh kết truyện: Tuân quay lưng bước đi giữa trời tuyết rơi New York, cái lạnh của thời tiết hòa lẫn với cái lạnh buốt giá của một đời tình yêu biến thành mùa đông (p. 3). Đây là một kết thúc buồn nhưng hoàn hảo cho biểu tượng "Mây tóc" – mây thì mãi mãi bay đi và không thể nắm giữ (pp. 1, 3).
III. Tổng kết giá trị truyện ngắn
- Giá trị nội dung: "Mây tóc" là câu chuyện về bản chất của cái đẹp và tình yêu lý tưởng (pp. 1-3). Đôi khi, việc giữ cho người mình yêu một khoảng cách bí ẩn lại chính là cách nuôi dưỡng tình yêu đó bền vững nhất, dù cái kết nhận lại là sự cô độc (pp. 2-3).
- Giá trị nghệ thuật: Nhà văn Nguyễn Đình Phùng rất thành công trong việc miêu tả tâm lý nhân vật qua lăng kính hội họa (p. 2). Lối viết chậm rãi, giàu chất hoài niệm giúp người đọc cảm nhận rõ nét không khí Sài Gòn xưa và nỗi cô đơn của người viễn xứ (pp. 1, 3).
Cái kết của truyện ngắn "Mây tóc" không chỉ đơn thuần là một kết thúc buồn cho một mối tình đơn phương, mà còn là một ẩn dụ nghệ thuật sâu sắc, chạm đến những triết lý cốt lõi về Bản chất của cái Đẹp trong nghệ thuật (pp. 2-3).
Dưới đây là phần phân tích mối liên hệ giữa cái kết của tác phẩm với triết lý thẩm mỹ:
1. Cái Đẹp tuyệt mỹ chỉ tồn tại trong trạng thái vô hình và dở dang
- Sự thật trong truyện: Suốt 10 năm, Tuân yêu mái tóc và tự vẽ nên hàng trăm khuôn mặt hoàn mỹ cho người thiếu nữ trong tâm tưởng (p. 2). Đến phút cuối cùng tại New York, khi cơ hội nhìn mặt đã đến, mái tóc đứa trẻ và chính "mây tóc" của người mẹ lại xõa xuống che khuất khuôn mặt cô lần nữa (p. 3). Tuân quay lưng đi, chấp nhận không bao giờ biết mặt (p. 3).
- Triết lý nghệ thuật: Cái đẹp tuyệt đối (chứa đựng tính lý tưởng) là cái đẹp không bao giờ mang một hình hài cụ thể. Khi cái đẹp bị "gọi tên" hoặc phơi bày rõ ràng, nó sẽ bị giới hạn bởi thực tế và mất đi sức quyến rũ vạn năng. Giống như bức tượng thần Vệ Nữ Milo đẹp nhất chính vì nó... mất đi hai cánh tay, khuôn mặt của cô gái "Mây tóc" đẹp nhất và vĩnh cửu nhất trong lòng Tuân chính vì nó chưa từng được nhìn thấy (pp. 2-3). Sự dở dang, bất toàn trong đời thực lại là sự toàn vẹn trong nghệ thuật.
2. Khoảng cách – Điều kiện tiên quyết để nuôi dưỡng cái Đẹp
- Sự thật trong truyện: Khi cô gái sắp quay đầu lại, Tuân hoảng hốt thốt lên: "Đừng!" (p. 3). Trước đó, anh cũng từng thừa nhận mình sợ hãi sự thất vọng nếu khuôn mặt thật của cô không đẹp như anh tưởng tượng (p. 2).
- Triết lý nghệ thuật: Trong thẩm mỹ học, có một khái niệm gọi là "Khoảng cách thẩm mỹ" (Aesthetic Distance). Để thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật, người ta cần một khoảng cách nhất định để ngắm nhìn, thay vì chiếm đoạt hay sở hữu nó. Tuân là một họa sĩ (p. 2), anh mang tư duy của một người làm nghệ thuật: anh tôn thờ cái đẹp từ phía sau (p. 2). Tiếng gọi "Đừng!" của Tuân chính là nỗ lực tuyệt vọng để bảo vệ khoảng cách đó (p. 3), bảo vệ "bức tranh mộng tưởng" của mình không bị thực tế phũ phàng xé nát (p. 2).
3. Bi kịch của sự va chạm giữa "Nghệ thuật vị nghệ thuật" và "Hiện thực đời sống"
- Sự thật trong truyện: Khoảnh khắc thiêng liêng và huyền ảo của tình yêu 10 năm trong phòng tranh đột ngột bị phá vỡ bởi tiếng gọi trần trụi: "Mẹ! Mẹ!" của một đứa trẻ (p. 3). Cô gái quỳ xuống ôm con, ngay lập tức kéo Tuân từ thế giới thần tiên của hội họa trở về với thực tại (p. 3).
- Triết lý nghệ thuật: Cái đẹp của "Mây tóc" là cái đẹp thuần túy, lãng mạn và thoát tục (Nghệ thuật vị nghệ thuật) (pp. 1-2). Nhưng đời sống thì có quy luật riêng của nó (Hiện thực đời sống). Tiếng gọi của đứa trẻ biểu thị cho dòng chảy thời gian, cho bổn phận, gia đình và những lo toan đời thường (p. 3). Nghệ thuật có thể đóng băng thời gian, nhưng con người thì không thể sống mãi trong phòng triển lãm (p. 3). Cái kết là sự thừa nhận cay đắng rằng: Cái đẹp lý tưởng có thể bất tử trong tranh, nhưng nó bất lực và lạc lõng trước dòng chảy của số phận đời thực (pp. 2-3).
4. Người nghệ sĩ và định mệnh cô độc để sáng tạo
- Sự thật trong truyện: Tuân bước ra khỏi phòng tranh một mình giữa trời tuyết rơi New York, lòng lạnh buốt giá (p. 3). Anh không có được cô gái, nhưng anh sở hữu toàn bộ các bức tranh về cô (pp. 2-3).
- Triết lý nghệ thuật: Cái kết khẳng định định mệnh của người nghệ sĩ: Sáng tạo ra cái đẹp từ chính nỗi đau và sự cô độc. Nếu Tuân có được cô gái, anh sẽ trở thành một người chồng, một người cha bình thường, và nguồn cảm hứng mang tên "Mây tóc" có thể sẽ lụi tàn. Chính việc không có được hiện thực đã ép Tuân phải tái tạo lại nó trong thế giới hội họa (p. 2). Sự mất mát về mặt đời sống chính là món quà, là chất xúc tác tối thượng cho nghệ thuật thăng hoa.
Trong truyện ngắn "Mây tóc" của nhà văn Nguyễn Đình Phùng, cái kết không chỉ được truyền tải bằng ngôn từ tự sự mà còn được khắc họa đậm nét qua lăng kính của một họa sĩ (p. 2). Tác giả đã sử dụng kỹ thuật tạo hình hội họa, cách bố trí bố cục, ánh sáng và bảng màu tương phản để đẩy bi kịch thẩm mỹ của nhân vật Tuân lên cao trào (pp. 2-3).
Dưới đây là phần phân tích chi tiết các yếu tố hội họa và màu sắc ở đoạn kết:
1. Thủ pháp dựng hình và bố cục không gian mang tính hội họa
- Bố cục "Phía sau lưng" (Bố cục giấu mặt): Ở đoạn kết tại phòng triển lãm New York, cô gái vẫn xuất hiện ở góc độ quen thuộc suốt 10 năm qua: "quay lưng lại phía chàng, lặng lẽ ngắm bức tranh trên vách" (p. 3). Bố cục này tạo ra một sự đối xứng hoàn hảo trong hội họa: nhân vật Tuân đứng ngắm người thật ngắm bức tranh vẽ chính mình (p. 3). Đây là kỹ thuật "tranh trong tranh" (mise en abyme), tạo ra chiều sâu không gian vô tận cho nỗi hoài niệm (p. 3).
- Hiệu ứng mờ nhòe (Sfumatô): Khi Tuân tiến lại gần, anh cảm thấy "không gian như mờ đi, mường tượng như đám sương mù tỏa ra... bao phủ lấy mái tóc dài... bao phủ cả thân hình thanh thoát" (p. 3). Trong hội họa, kỹ thuật này làm mờ các đường nét sắc cạnh để hòa nhập vật thể vào không gian xung quanh. Sương mù thẩm mỹ ấy chính là tình yêu vô bờ của Tuân, biến thực tại thành một bức tranh huyền ảo, bảng lảng (p. 3).
- Sự đóng băng chuyển động (Tính chất tĩnh vật): Sau tiếng gọi trần trụi "Mẹ! Mẹ!", Tuân đứng trơ trọi như "một pho tượng đã trở thành muối lạnh" (p. 3). Động tác quỳ xuống của cô gái ôm lấy đứa con và sự bất động của Tuân tạo nên một bố cục điêu khắc cố định (p. 3). Không gian nghệ thuật lập tức bị "hóa thạch", ngưng đọng trong sự chết lặng (p. 3).
2. Sự tương phản sắc độ và nghệ thuật sử dụng ánh sáng (Chiaroscuro)
- Ánh sáng nhập nhẹm, bí ẩn: Cuộc gặp gỡ diễn ra khi "trời vừa chập choạng tối", trong "căn phòng hơi tối" của phòng tranh (p. 3). Ánh sáng yếu ớt, mờ tối này là điều kiện lý tưởng để xóa nhòa ranh giới giữa thực và ảo, giữa quá khứ 10 năm trước và hiện tại New York (p. 3). Nó tạo ra bầu không khí linh thiêng cho một đức tin nghệ thuật sắp sửa được hiển lộ (pp. 2-3).
- Bảng màu đối lập mang tính định mệnh:
- Màu đen óng mượt của mái tóc dài phủ gót đối lập với màu trắng đơn sơ của chiếc áo dài ký ức hay không gian triển lãm (pp. 1-3).
- Sự xuất hiện của đứa trẻ giống như một vệt màu bất ngờ làm loang lổ bức tranh lãng mạn (p. 3). Mái tóc xõa bay một lần nữa phủ kín khi cô gái cúi xuống, tước đoạt cơ hội nhìn thấy khuôn mặt cô một cách vĩnh viễn (p. 3).
3. Sự chuyển dịch màu sắc từ ấm áp sang buốt giá (Cái kết của bức tranh đời thực)
- Khi Tuân bước ra khỏi phòng triển lãm, tác giả lập tức thay đổi hoàn toàn bảng màu và nhiệt độ của không gian: "Ngoài trời tuyết cũng vừa bắt đầu rơi và những cơn gió lạnh từ cuối phố thổi dốc vào gáy chàng" (p. 3).
- Màu trắng của tuyết lúc này không còn là màu trắng ngây thơ của tà áo dài nữ sinh Sài Gòn năm 16 tuổi (p. 1), mà là màu trắng của sự cô độc, lạnh lẽo xóa nhòa tất cả (p. 3).
- Hình ảnh "tình yêu buốt giá của cả một đời chàng đã biến thành mùa đông" là nét cọ cuối cùng khép lại tác phẩm (p. 3). Tác giả đã dùng màu trắng xóa của tuyết kết hợp với cái lạnh để đóng băng tâm hồn người nghệ sĩ (p. 3). Sắc trắng tinh khôi của ký ức đã bị nhuốm màu lạnh lẽo của hiện thực phũ phàng (pp. 1, 3).
Tổng kết
Nhà văn Nguyễn Đình Phùng đã không miêu tả cái kết bằng những lời than vãn dài dòng. Thay vào đó, ông chọn cách của một họa sĩ phối màu và sắp đặt ánh sáng (pp. 2-3). Sự kết hợp giữa bóng tối phòng tranh, sương mù của hoài niệm, mái tóc đen huyền thoại và tuyết trắng mùa đông New York đã tạo nên một bức tranh hoàn chỉnh về bi kịch của cái đẹp lý tưởng: một cái đẹp tuyệt mỹ, bất tử trong nghệ thuật nhưng vĩnh viễn lạnh giá và đơn độc giữa cuộc đời thực (pp. 2-3).
Phân tích sự đối lập giữa chiếc trực thăng đen đủi xấu xí với đám mây tóc ở trang trước Tìm hiểu thêm về cuộc đời và phong cách sáng tác hội họa/văn chương của nhà văn Nguyễn Đình Phùng
Trong trang 3 của truyện ngắn "Mây tóc", phân cảnh di tản đầy biến loạn tại tòa Đại sứ Mỹ là một trong những đoạn văn giàu tính tạo hình và tương phản mạnh mẽ nhất (p. 3). Tác giả Nguyễn Đình Phùng đã đặt hai hình ảnh "chiếc trực thăng đen đủi và xấu xí" đối lập hoàn toàn với "đám mây tóc" (p. 3).
Sự đối lập này mang nhiều tầng ý nghĩa sâu sắc về cả nghệ thuật, tâm lý lẫn lịch sử:
1. Sự đối lập về mặt thị giác và thẩm mỹ (Cái đẹp thoát tục vs. Cái thô kệch, bạo liệt)
- Chiếc trực thăng: Được miêu tả với những từ ngữ trần trụi, đầy ác cảm: "đen đủi và xấu xí", tiếng cánh quạt "thổi vù vù" phá nát không gian (p. 3). Nó đại diện cho vẻ đẹp cơ khí thô bạo, sự nặng nề và u tối.
- Đám mây tóc: Hiện lên mềm mại, huyền ảo, bồng bềnh như một sinh mệnh tự do (pp. 1, 3). Giữa sự hỗn loạn, mái tóc ấy bị gió "thổi tung bay", cuộn lên như một "đám mây phủ bay cuồn cuộn" (p. 3).
- Ý nghĩa: Đây là sự va chạm tuyệt đối giữa hai phạm trù thẩm mỹ: Cái Đẹp (The Beautiful) tinh khôi, lãng mạn lọt thỏm và bị nuốt chửng bởi Cái Khốc Liệt (The Brutal) của thực tại. Nét tương phản này làm nổi bật dáng vẻ thanh thoát, cô độc và yếu ớt của cô gái giữa một bối cảnh sặc mùi khói lửa, sắt thép.
2. Sự đối lập giữa Hiện thực chiến tranh và Giấc mơ nghệ thuật
- Chiếc trực thăng là hiện thân của lịch sử, của thời cuộc, của cuộc di tản đầy biến loạn và những đổ vỡ không thể đảo ngược (p. 3). Nó đại diện cho thế giới thực tại khắc nghiệt, nơi con người bị đẩy vào thế bị động, hoảng loạn và giành giật nhau để tìm sự sống (pp. 1, 3).
- Đám mây tóc chính là "thánh đường mộng tưởng" của Tuân (p. 2). Nó đại diện cho kỷ niệm hoài niệm của một Sài Gòn bình yên, thanh bình với tà áo dài trắng và hàng me xanh (pp. 1-2).
- Ý nghĩa: Khoảnh khắc người lính Mỹ kéo cô gái lên và nàng "biến mình vào trong lòng chiếc trực thăng đen đủi" mang tính biểu tượng rất cao (p. 3). Hiện thực tàn nhẫn (chiếc máy bay) đã chính thức Nuốt Chửng và tước đoạt mất giấc mơ nghệ thuật thuần khiết của Tuân (p. 3). Chiến tranh và thời cuộc đã phá tan cái không gian lãng mạn mà anh cố công gìn giữ suốt bao năm qua (p. 2).
3. Sự bất lực của tình yêu trước guồng quay Định mệnh
- Bi kịch của nhân vật Tuân được đẩy lên đỉnh điểm thông qua sự tương phản về lực lượng: Sự tĩnh lặng, đứng im như "bị thôi miên" của anh hoàn toàn bất lực trước sức mạnh di chuyển vũ bão của chiếc máy bay (p. 3).
- Tiếng hò hét, tiếng động cơ bạo liệt đã cố tình tách rời hai con người (p. 3). Một bên là Tuân đứng dưới đất nhìn lên với nỗi đau "đau nhói ở ngực", một bên là mái tóc bay lượn trên cao rồi biến mất vào khoảng không vô định (p. 3). Chiếc trực thăng giống như một con quái vật đen tối của số phận, đến và mang "Tình Yêu" của anh đi xứ khác (p. 3).
Tổng kết
Sự đối lập giữa chiếc trực thăng đen đủi và đám mây tóc ở phân cảnh này là một dụng ý nghệ thuật xuất sắc của nhà văn Nguyễn Đình Phùng (p. 3). Nó dự báo cho một chương mới đầy "hoang mang và bỡ ngỡ" trong cuộc đời ly hương của nhân vật (p. 3), đồng thời là lời khẳng định: cái Đẹp lý tưởng và tình yêu thuần túy luôn là thứ mong manh nhất, dễ bị dòng chảy tàn nhẫn của lịch sử quật ngã và cuốn trôi nhất (pp. 2-3).
Phân tích ý nghĩa của bức tranh đầu tay của Tuân được người họa sĩ già đánh giá cao - Tổng kết nghệ thuật xây dựng tâm lý nhân vật của tác giả qua toàn bộ truyện ngắn
Trong truyện ngắn "Mây tóc", nhà văn Nguyễn Đình Phùng đã thể hiện một ngòi bút tài hoa và tinh tế khi khắc họa thế giới nội tâm của nhân vật Tuân (pp. 1, 3). Tâm lý nhân vật không được bộc lộ qua những hành động kịch tính hay những lời đối thoại gân guốc, mà được khơi sâu qua những dòng chuyển biến âm thầm nhưng mãnh liệt (pp. 1-2).
Dưới đây là tổng kết những nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng tâm lý nhân vật của tác giả qua toàn bộ tác phẩm:
1. Khắc họa tâm lý qua thế giới quan hội họa và các biểu tượng
- Sự đồng điệu giữa tâm hồn và lăng kính nghệ thuật: Tuân là một họa sĩ, vì vậy mọi biến chuyển tâm lý của anh đều được tác giả "dịch" sang ngôn ngữ của hình khối, màu sắc và ánh sáng (pp. 2-3). Tâm trạng hoang mang, cô độc hay hạnh phúc của anh luôn gắn liền với cách anh nhìn nhận thế giới xung quanh: từ không gian Sài Gòn bụi bặm sang phòng triển lãm New York mờ ảo (pp. 1, 3).
- Mái tóc như một tấm gương phản chiếu nội tâm: Hình ảnh "Mây tóc" chính là biểu tượng phóng chiếu cho từng giai đoạn tâm lý của Tuân (p. 1). Khi anh mới lớn, mái tóc là sự tò mò đầy nhút nhát (pp. 1-2); khi anh trưởng thành, nó là biểu tượng của một lý tưởng thẩm mỹ tuyệt mỹ (p. 2); và ở đoạn kết, nó trở thành bức tường ngăn cách vĩnh viễn anh với thực tại (p. 3).
2. Nghệ thuật miêu tả mâu thuẫn nội tâm cực đoan (Bi kịch "Tìm kiếm và Trốn chạy")
- Tác giả rất thành công khi xây dựng kiểu nhân vật mang tâm lý lưỡng lự, giằng xé (p. 2). Tuân dành cả đời để đi tìm người thiếu nữ, nhưng mỗi khi cơ hội đến gần, anh lại chủ động rút lui hoặc trốn chạy vì sợ hãi (pp. 1-2).
- Sự giằng co giữa một bên là khát vọng sở hữu, biết mặt với một bên là nỗi sợ hãi sự thất vọng, sợ thực tế làm vỡ mộng được đẩy lên thành một thứ tâm lý ám ảnh (obsession) (p. 2). Chính việc đào sâu vào nỗi sợ này đã nâng tầm nhân vật Tuân từ một kẻ si tình thông thường thành một biểu tượng cho người nghệ sĩ tôn thờ cái đẹp thuần túy (pp. 2-3).
3. Đặt tâm lý nhân vật trong sự tương phản mạnh mẽ với bối cảnh thời cuộc
- Nhà văn Nguyễn Đình Phùng không cô lập nhân vật trong một không gian tĩnh mịch, mà đặt nội tâm của Tuân ngay giữa những biến động dữ dội của lịch sử (cảnh nghẹt xe trên đường Lê Văn Duyệt, cảnh di tản náo loạn tại Tòa Đại sứ Mỹ, và sự lạc lõng của người tị nạn tại New York) (pp. 1, 3).
- Hiệu ứng tương phản: Sự náo động, thô kệch và tàn nhẫn của ngoại cảnh (tiếng trực thăng vù vù, tiếng người hò hét) càng làm nổi bật trạng thái tâm lý tĩnh lặng, xuất thần và cô độc của Tuân (pp. 1, 3). Nhân vật như sống trong một ốc đảo tâm lý riêng, bất chấp guồng quay của số phận đang cuốn đi mọi thứ (pp. 1, 3).
4. Sử dụng nhịp điệu trần thuật chậm rãi, đậm chất hoài niệm
- Ngôn ngữ miêu tả tâm lý trong truyện mang tính chất tự sự kết hợp với trữ tình, nhịp điệu chậm rãi giống như những nét cọ được tô vẽ từ tốn trên toan (pp. 1-2). Tác giả sử dụng nhiều từ ngữ diễn tả trạng thái kéo dài như "đằng đẵng", "ngẩn ngơ", "bàng hoàng", "bất động"... (pp. 1-3) để tạo ra một không gian tâm tưởng nhuốm màu hoài niệm, giúp người đọc thấu cảm sâu sắc nỗi đau âm ỉ suốt một đời của nhân vật (pp. 2-3).
Tổng kết
Bằng việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa thủ pháp hội họa, nghệ thuật xây dựng biểu tượng và biệt tài miêu tả những góc khuất tinh tế trong tâm hồn, nhà văn Nguyễn Đình Phùng đã xây dựng thành công nhân vật Tuân – một biểu tượng sống động cho kiểu nhân vật lãng mạn, cố chấp, sẵn sàng đánh đổi cả cuộc đời thực để trung thành với một ảo ảnh nghệ thuật vĩnh cửu (pp. 1-3).
Ca khúc "Tóc Mây Bay" (nằm trong Album Dạ Khúc: Nguyễn Đình Phùng do danh ca Tuấn Ngọc và Thái Hiền thể hiện) và truyện ngắn "Mây tóc" (p. 1) là hai mảnh ghép nghệ thuật đồng điệu tuyệt đối. Chúng cùng sinh ra từ một bản ngã sáng tạo, chia sẻ chung một "mẫu số thẩm mỹ" và bổ túc cho nhau để làm rõ triết lý về một tình yêu hư ảo. [1, 2, 3]
Sự đồng điệu sâu sắc giữa hai tác phẩm này được thể hiện rõ nét qua các khía cạnh sau:
1. Đồng điệu về biểu tượng trung tâm – Sợi tơ huyền định mệnh
- Trong truyện ngắn: Mái tóc của cô gái được miêu tả như "một sinh vật có đời sống riêng", là "trung tâm điểm của tất cả sự chú ý và rung động" (p. 1). Tuân không nhìn mặt, anh chỉ si mê dán mắt vào cấu trúc lượn sóng của làn mây tóc (p. 1).
- Trong ca khúc: Lời bài hát mở đầu bằng việc định danh và ca ngợi biểu tượng này: "Trời gió cho tóc mây bay dài / Trời xanh cho nắng lung linh trên ngàn sợi tơ huyền... Thương mái tóc ai dài / Bay xõa trong chiều nhẹ vương tình ý". [4]
- Sự gắn kết: Cả hai tác phẩm đều không tập trung vào nhan sắc cụ thể (mắt, môi, nụ cười) mà chọn mái tóc dài làm điểm neo duy nhất cho tình yêu (p. 1). Mái tóc vừa là vật thể hữu hình, vừa là một dải mây vô hình, phủ bóng lên toàn bộ tác phẩm (p. 2). [4, 5]
2. Sự giao thoa giữa không gian hoài niệm và dòng thời gian "đời mới vừa xanh"
- Trong truyện ngắn: Tác giả đưa người đọc về miền ký ức năm Tuân 16 tuổi (p. 1). Đó là thời kỳ "khi chàng bắt đầu dậy thì" (p. 1), thời của những buổi sáng đứng đợi xe buýt trên đường Lê Văn Duyệt rợp bóng hàng me (pp. 1-2).
- Trong ca khúc: Giai điệu hoài niệm ngân lên hoài niệm về thuở ban đầu: "Ngày ấy khi đời mới vừa xanh / Khi màu mắt còn trong / Say mê theo ngày tháng". [4]
- Sự gắn kết: "Màu mắt còn trong" và "đời mới vừa xanh" trong lời hát chính là sự cụ thể hóa bằng âm nhạc cho tâm lý nhút nhát, thanh khiết của chàng trai tuổi 16 trong văn bản truyện (pp. 1-2). Cả hai đều nhuốm màu sắc của một thời quá khứ lãng mạn, nguyên sơ (p. 1). [4]
3. Đồng điệu về triết lý "Tình ảo mộng" – Yêu một mùi hương, thờ một bóng hình
- Trong truyện ngắn: Tuân phát triển một phản xạ linh tính để tránh nhìn mặt cô gái (p. 1). Anh yêu bằng trực giác, bằng khứu giác ("mũi chàng đã ngửi thấy mùi hương đặc biệt") (p. 2) và xây dựng một "cung điện thờ thần bí" trong tâm tưởng để che chở cho bí mật đó (p. 2).
- Trong ca khúc: Ý niệm yêu đương thoát tục này được hát lên đầy chất thơ: "Tình đến theo ánh sao xa vời / Tình khơi trong ý thơ miên man từng áng tơ mềm / Tìm nhau theo mùi tóc còn vương". [4]
- Sự gắn kết: Hành động "tìm nhau theo mùi tóc còn vương" và "ý thơ miên man" trong ca khúc phản chiếu chính xác giai đoạn Tuân nằm mộng mỗi đêm (p. 2), vẽ nên những bức tranh thiếu nữ giấu mặt từ phía sau (p. 2). Tình yêu ở đây không có sự chiếm đoạt đời thường, nó là sự "vương vấn hồn mơ", biến người yêu thành một thứ tín ngưỡng xa vời như ánh sao (p. 2). [4]
4. Khúc vĩ thanh hòa quyện giữa "Dòng tóc" và "Mùa đông buốt giá"
- Trong truyện ngắn: Kết thúc truyện là hình ảnh mây tóc xõa bay che lấp khuôn mặt cô gái một lần nữa, và Tuân bước đi trong tuyết lạnh New York: "lạnh như tình yêu buốt giá của cả một đời chàng đã biến thành mùa đông" (p. 3).
- Trong ca khúc: Câu hát ngân dài đầy lơ lửng: "Chiều sương khói mơ hồ chảy về đâu giòng tóc...".
- Sự gắn kết: "Chiều sương khói mơ hồ" của âm nhạc chính là không gian phòng tranh New York mờ sương và trời tuyết trắng bên ngoài (p. 3). Sự "chảy về đâu" của dòng tóc kết thúc bài hát gieo vào lòng người nghe một nỗi hụt hẫng, bất định vĩnh viễn – giống hệt như bi kịch của Tuân, người đã dành 10 năm đi tìm nhưng cuối cùng vẫn để dòng mây tóc ấy trôi tuột khỏi tầm tay (p. 3). [2]
Kết luận
Nếu truyện ngắn "Mây tóc" của nhà văn Nguyễn Đình Phùng dùng nét cọ ngôn từ để kể về bi kịch của một họa sĩ tôn thờ cái đẹp lý tưởng (p. 2), thì ca khúc "Tóc Mây Bay" của nhạc sĩ Nguyễn Đình Phùng lại dùng nhạc điệu để cất lên tiếng lòng thầm kín, da diết của chính nhân vật Tuân. Văn chương đem đến hình ảnh (p. 1), còn âm nhạc đem đến linh hồn, tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật đặc sắc mang đậm dấu ấn lãng mạn hải ngoại của nghệ sĩ Nguyễn Đình Phùng. [3, 4, 6]
Bức tranh đầu tay của nhân vật Tuân – vẽ về người thiếu nữ tóc dài nhìn từ phía sau – được người họa sĩ già (người thầy đầu tiên của anh) đánh giá cao là một chi tiết mang tính bản lề. Bức tranh không chỉ ghi nhận tài năng thiên bẩm của Tuân, mà còn ẩn chứa những lớp ý nghĩa sâu sắc về tâm lý nhân vật và triết lý nghệ thuật của toàn bộ tác phẩm.
Ý nghĩa của bức tranh đầu tay này được thể hiện qua các khía cạnh cụ thể sau:
1. Sự kết tinh của một nỗi ám ảnh và tình yêu dồn nén
- Ý nghĩa thực tế: Bức tranh không phải là kết quả của sự rèn luyện kỹ thuật lâu năm, mà là sự bùng nổ của cảm xúc. Suốt một năm trời đứng sau lưng cô gái trên xe buýt, Tuân đã "chụp" và khắc sâu từng đường lượn sóng của mái tóc vào tâm não.
- Ý nghĩa nghệ thuật: Bức tranh đầu tay chính là sự giải tỏa cho nỗi nhớ, nỗi đau nhói lồng ngực sau khi cô gái đột ngột biến mất. Tuân vẽ không phải để làm nghệ thuật vị nghệ thuật, mà anh vẽ để tái tạo lại người mình yêu. Người họa sĩ già đánh giá cao bức tranh vì ông nhìn thấy trong đó không phải là những nét cọ vô hồn, mà là một dòng cảm xúc mãnh liệt, chân thực đến mức lay động – điều mà kỹ thuật thuần thục cũng không thể tự dưng tạo ra được.
2. Sự khẳng định "Phong cách giấu mặt" – Bản sắc nghệ thuật của Tuân
- Đặc điểm bức tranh: Bức tranh vẽ một thiếu nữ từ phía sau lưng, hoàn toàn không có khuôn mặt.
- Ý nghĩa triết lý: Việc người họa sĩ già khen ngợi bức tranh này có ý nghĩa thừa nhận một tư duy thẩm mỹ độc đáo: Cái Đẹp nằm ở sự gợi mở chứ không phải phơi bày. Người họa sĩ già, với nhãn quan của một bậc thầy, nhận ra rằng việc giấu đi khuôn mặt chính là điểm đắt giá nhất của tác phẩm. Nó bắt người xem phải tò mò, phải tự dùng trí tưởng tượng của mình để dệt nên một dung nhan tuyệt mỹ. Bức tranh đầu tay này đã định hình vĩnh viễn con đường nghệ thuật của Tuân: trọn đời chỉ vẽ những cái bóng phía sau lưng.
3. Sự chuyển hóa từ "Kẻ si tình" thành "Người nghệ sĩ"
- Ý nghĩa tâm lý: Trước khi vẽ bức tranh này, Tuân chỉ là một cậu học sinh ngơ ngẩn, ôm một mối tình câm lặng và bất lực khi người yêu biến mất. Anh ở lại Sài Gòn, khước từ tương lai đi du học trong sự vô định.
- Ý nghĩa bước ngoặt: Khi đặt bút vẽ và hoàn thành bức tranh đầu tay, Tuân đã tìm thấy cứu cánh của cuộc đời. Sự đánh giá cao của người họa sĩ già là lời "khai sinh", chính thức đưa Tuân vào thế giới của những người sáng tạo. Bức tranh là cột mốc chứng minh Tuân đã tìm ra cách chung sống với nỗi đau: thay vì đi tìm một con người bằng xương bằng thịt ngoài đời thực (một việc vô vọng), anh sẽ tự tạo ra người đó trên vải bạt. Nghệ thuật đã trở thành nơi trú ngụ cho tâm hồn tổn thương của anh.
4. Dự báo về định mệnh dở dang của nhân vật
- Ý nghĩa biểu tượng: Một bức tranh đầu tay vẽ người thiếu nữ quay lưng lại với thế giới cũng chính là điềm báo cho cái kết sau này của Tuân tại New York. Nó dự báo rằng suốt cuộc đời này, Tuân chỉ có duyên nợ với phần "bóng" (mái tóc) chứ không bao giờ chạm tới được phần "hình" (khuôn mặt) của người yêu. Lời khen của người họa sĩ già vô tình lại là một sự khẳng định cho định mệnh cô độc nhưng thăng hoa của Tuân: anh được định sẵn để trở thành một họa sĩ lớn, người sở hữu hàng trăm bức tranh tuyệt mỹ nhưng vĩnh viễn đứng một mình trong cuộc đời thực.
Tổng kết
Bức tranh đầu tay được người họa sĩ già đánh giá cao không chỉ là bài kiểm tra tài năng của Tuân, mà là trái tim của tác phẩm. Nó là bằng chứng cho thấy: Cái đẹp đích thực trong nghệ thuật thường được sinh ra từ những vết thương sâu sắc nhất của tâm hồn, và người nghệ sĩ đôi khi phải đánh đổi hạnh phúc đời thường để đổi lấy sự bất tử trong tranh vẽ.
Truyện ngắn "Mây tóc" của nhà văn Nguyễn Đình Phùng là một tác phẩm lãng mạn đặc sắc, kết tinh giá trị sâu sắc về cả nội dung lẫn nghệ thuật thẩm mỹ. Về nội dung, tác phẩm ca ngợi một tình yêu thuần khiết, lý tưởng hóa suốt mười năm kéo dài từ Sài Gòn xưa đến New York lạnh giá. Qua hành trình si tình đầy cố chấp của nhân vật Tuân, truyện gửi gắm triết lý sâu sắc về bản chất của cái đẹp trong nghệ thuật: cái đẹp tuyệt mỹ chỉ tồn tại vĩnh cửu trong trạng thái vô hình, dở dang và luôn cần một khoảng cách thẩm mỹ để nâng niu, thay vì chiếm đoạt trần trụi. Về mặt nghệ thuật, tác giả đã thể hiện tư duy tạo hình tài hoa khi biến ngôn từ thành những nét cọ giàu chất họa, sử dụng kỹ thuật tương phản ánh sáng (Chiaroscuro) và bảng màu đối lập để khắc họa tâm lý ám ảnh của nhân vật. Đặc biệt, nghệ thuật xây dựng biểu tượng "Mây tóc" xuyên suốt đã mang lại linh hồn cho tác phẩm. Kết truyện đầy dư vị mang tính vĩ thanh, khẳng định định mệnh cô độc nhưng thăng hoa của người nghệ sĩ. "Mây tóc" xứng đáng là một bức tranh tâm trạng đầy day dứt, một khúc ca buồn nhưng đẹp đẽ về lý tưởng nghệ thuật vị nghệ thuật trong lòng người viễn xứ.