📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Tuyển Tập Sầu Đông.

3 trả lời, 1.554 lượt xem — Trang 1 / 1
Cánh Hạc Cô Đơn
Tác giả: Sầu Đông



-Chúc mẹ đi chơi vui vẻ. Qua Mỹ, rồi qua Canada, mẹ cho vợ chồng con và bé Tintine gởi lời thăm hỏi đến các chú, các bác, các cô, dì và các anh chị nữa nghe mẹ. Mẹ có gặp bác Tuân ở Montréal cũng nhớ chuyển lời thăm hỏi của con nữa.

Ngọc ôm con cháu ngoại, hôn đánh chụt trên má, rồi quay qua ôm cả hai mẹ con đứa con gái vào người. Rồi nàng buông hai mẹ con nó ra, cúi xuống xách chiếc xách tay, theo đoàn người tiến ra phiá cửa dẫn vào phi đạo.

-Tintine vẫy tay tiễn bà đi nào. Good bye bà đi nào.

Ngọc vừa đi vừa ngoái lại nhìn con và cháu. Nàng nói với lại:

-Thôi, hai mẹ con ở nhà vui vẻ à nhe. Nhớ nhắc bố nó lái xe cho cẩn thận. Bà đi về sẽ có thật nhiều quà cho Tintine.



* * * * *

Ngọc ngồi ngay bên cạnh cửa sổ của phi cơ. Phi cơ đang bay trên những tầng mây. Mây đùn lên những nõn bông trắng xoá, chập chùng. Qua khỏi tầng mây, nhìn chếch xuống phiá dưới chỉ thấy một màu xanh ngăn ngắt. Biển và trời xanh lẫn vào nhau. Màu xanh xẫm của biển làm lòng nàng dịu hẳn lại. Nàng nghĩ đến hơn hai chục năm qua. Những cuộc tình gập ghềnh, trên cuộc đời chòng chành của nàng. Và một chuỗi những gian lao, kinh hoàng. Đến lúc này, nghĩ lại, nàng vẫn còn thảng thốt. Nàng đến Úc trong chuyến vượt biên vào khoảng đầu năm 1982 cùng với ba con. Khi Trọng, chồng nàng còn kẹt trong tù , Ngọc đã phải lăn lộn, vẫy vùng ngoài chợ trời. Chợ trời, sau 75, là một trường học ác liệt. Cái đói đã có lúc dày vò, hành hạ nàng và lũ con, nhưng nó cũng dạy nàng nhiều điều. Kiếm được tí cơm, tí cháo nuôi thân, nuôi con, và thỉnh thoảng thăm nuôi chồng trong tù thật chẳng phải dễ dàng. Cái giá phải trả nhiều khi là cả nhân phẩm của một người đàn bà. Chồng nàng là dân Võ Bị Đà Lạt. Nàng nhận lời cầu hôn của Trọng đúng vào lúc tinh thần sa sút nặng nề. Đã một dạo nàng yêu muốn phát cuồng một người bạn của người anh họ nàng, hơn nàng gần mười tuổi. Tuân dạy học. Tuân yêu nàng bằng thứ tình yêu kỳ dị: có lúc chàng đắm đuối khi gặp nàng, có khi chàng hững hờ, xa lạ. Hình như cái đầu của chàng luôn bị những triết gia đông, tây ám ảnh. Khi Platon nằm trong đầu chàng thì chàng là một vị thánh, mà khi Sartre ngự Ở đó thì chàng là một gã đàn ông buồn bã, chán chường. Nhưng hai bàn tay táy máy của chàng thì nàng không sao quên được. Và kỳ lạ là chàng không hề có lấy một lời hứa hẹn. Chàng không có một chủ định dứt khoát nào trong đời. Nàng thì muốn mọi chuyện rõ ràng. Vậy mà có lúc nàng đã muốn chết vì chàng. Đến khi Tuân đổi ra Đà Nẵng thì nàng bặt hẳn tin Tuân. Có lúc nàng rũ xuống. Nàng không sao tiếp tục học được nữa. Nàng cùng một vài con bạn tình nguyện vào nữ trợ tá quân đội. Đời sống quân đội khiến nàng nguây ngoa phần nào. Lấy Trọng, nhưng cho đến khi có đứa con thứ hai, thỉnh thoảng nàng vẫn còn bần thần nghĩ đến người tình đầu. Sau này, trước 75 một chút, nàng có dịp gặp lại Tuân. Nàng thấy một chút nôn nao khi nghe chàng còn độc thân. Tuân bảo nàng : hả? Thấy chiến tranh mà sợ quá, chẳng dám lấy ai cả. Nàng bảo : Em vào lính, lấy chồng lính, chẳng có gì phải sợ cả; cứ sống cái đã. Tuân không nói năng gì, chỉ xiết nhẹ tay nàng trước khi chia tay.

Những ngày ngoài chợ trời, Ngọc gặp một hạ sĩ quan có lúc dưới quyền Trọng. Lúc này, hắn sống dễ chịu. Hắn cho giá thuốc cho Ngọc và cuối ngày hắn nhận thuốc, tiền bạc sòng phẳng, có khi còn hậu hĩnh làm quà cho mấy đứa con của Ngọc. Thỉnh thoảng hắn rủ Ngọc đi ăn. Hắn bảo: sĩ quan cấp tá chắc đi cải tạo không có ngày về. Ngọc nghe mà thấy xót xa trong lòng. Ngọc ngồi sau xe của hắn, một chút tình cảm nhen lên. Những đứa con của Ngọc cũng thấy quen thuộc với chú Lộc hơn. Hai người thành tình nhân lúc nào không hay. Có lúc Ngọc cảm thấy bứt rứt khi nghĩ đến Trọng còn đang trong tù. Nhưng rồi, nàng chép miệng tự an ủi: Mỗi người mỗi số phận, biết làm sao được; phải sống cái đã... .

Cuối cùng thì nàng cũng đưa được những đứa con vượt biển đến Mã Lai. Nàng nhớ lại lời một con bạn vẫn gặp nhau ngoài chợ trời: Những người đàn ông đến với mình rút cuộc cũng chỉ là những kẻ đồng hành, dựa vào nhau mà sống. Còn dựa được thì còn ở, hết dựa được thì chia xa. Tao chẳng coi mối quan hệ với đàn ông là cái gì ghê gớm, thần thánh cả. Họa chăng chỉ có những đứa con mới là của mình. Nó bỏ chồng, cặp với một gã cán bộ từ ngoài Bắc vào. Với nó, phải cứu lấy thân mình trước. Vả lại thằng chồng nó ngày trước đã là một tay chơi bời. Những ngày trên đảo, nàng cặp với một người bạn của Trọng. Đó cũng là cách dựa vào nhau mà sống. Những hôm giông gió ầm ầm trên mái lán trên đảo, nằm cạnh các con nhìn hé ra ngoài trời cây cối vật vã, Ngọc thấy đời mình cũng tan tác, bọt bèo. Rồi nàng được chánh phủ Úc nhận cho vào Úc. Khi được tin Trọng đã ra khỏi tù, nàng liên lạc với cô em gái còn kẹt ở lại, nhờ mối lái đưa Trọng vượt biên, nhưng trong chuyến vượt biên vào cuối năm sau, Trọng đã mất tích. Ngọc không biết nên cười hay nên khóc. Dẫu sao, nàng chỉ cần biết là từ nay trở đi, nàng sống với người đàn ông nào cũng được, miễn là người ấy chia đều với nàng những nhu cầu của cuộc sống hàng ngày. Những ngày đầu ở Úc, nàng cắm đầu làm đủ mọi thứ, từ thợ may, thợ giặt, đến cả nghề pha rượu ở vài quán rượu. Có những ngày cuối tuần, nàng sống như một con điên, say khướt. Mẹ cha ơi! ai đưa con đến đoạn trường này. Nhưng, còn những đứa con, nàng còn phải sống, miễn là chúng không từ chối nàng!

Bây giờ ngồi trên chuyến bay này, tự nhiên nàng thấy thanh thản vô cùng. Ba đứa con đã lớn. Hai có gia đình. Một đứa có lúc tưởng chừng hư hỏng, nay cũng đã chí thú làm ăn. Một con bạn lần lượt mất chồng, mất con trên biển, mất cả người tình khi vừa đặt chân đến đất tự do, đã bảo nàng: mày còn hạnh phúc hơn tao nhiều. Nhớ lại lời nó, nàng nói thầm: cám ơn mày, té ra tao là đứa còn có hạnh phúc. Hạnh phúc có những đứa con còn gắn bó với mình, và hạnh phúc có đứa cháu ngoại kháu khỉnh, bụ bẫm, mà cặp mắt của nó ánh lên nỗi ngây thơ an bình. Nàng cũng thấy ấm lòng hẳn lại khi mới đây nàng nhận được thư của Tuân từ Montréal gởi qua cho nàng. Tuân vượt biên vào năm 87, hiện ở Montréal. Qua một người quen có lúc ở chung trại với Ngọc ở Pulau Bidong, được nhận vào Canada, và hiện ở gần chỗ Tuân, Tuân có được tin tức và địa chỉ của Ngọc. Nay thì Tuân nhìn cuộc đời thật rõ ràng: cuộc đời của một gã đàn ông ở vào lứa tuổi xấp xỉ 60, đến Bắc Mỹ khá chậm, không vợ, không con, và sửa soạn những năm tháng cuối cùng của cuộc đời sao cho những năm tháng này không là những nuối tiếc, hoài niệm dằn vặt cuộc đời. Vậy mà trong thư gởi cho Ngọc, Tuân đã viết: ... Anh sống ở đây như một người bị bỏ quên!... . Đọc đến đoạn này, nàng đã cười nho nhỏ trong họng. Đáng lẽ Tuân nên viết ... Anh sống ở đây như một người tình bị bỏ quên!... . Nếu ngày xưa anh đừng bỏ quên em. Và bất giác, nàng thấy muốn gặp Tuân trở lại, chỉ một lần, để xem xem chàng sống như thế nào? Bề nào, ông ấy cũng đã là người tình của nàng. Ông ta không phải là người của cái thế giới chiến tranh, đàn áp, ngược ngạo. Đó là một người của trí tưởng và những xúc động, bất trắc như những cái nắm tay và những nụ hôn lúc hờ hững, khi dồn dập, và cặp mắt lúc nào cũng như đang ngái ngủ. Nàng muốn dành cho ông một bất ngờ trong chuyến đi này. Qua Cali. chơi xong, nàng sẽ bay lên New York thăm gia đình người chị, rồi tiện đường nàng sẽ ghé Montréal vừa thăm gia đình một đứa em, vừa thăm ông luôn thể.

Qua khung cửa nhỏ, bầu trời vẫn xanh ngút mắt.



* * * * *

Hai người ngồi đối diện trên một chiếc bàn vuông nằm ngay cạnh cửa sổ lớn của nhà hàng trông ra con đường Sainte-Catherine còn vắng bóng người vào buổi sáng chủ nhật.

Ông Tuân nói như đùa:

- Anh không ngờ em bay đến nửa vòng địa cầu qua thăm anh đấy. Em làm anh xúc động quá. Còn anh, anh chôn chân nơi này rồi. Có muốn đi chơi xa một chút cũng chẳng dễ dàng gì. Đất trời thênh thang, nhưng chẳng phải muốn đi là đi được đâu.

Nàng hiểu câu nói của ông. Nàng hiểu rõ tình thế của ông. Những người lớn tuổi, sức lực đã cạn, lại một thân một mình, còn làm nổi trò trống gì trên vùng đất này nữa. Những người lừng khừng như ông thì tình thế còn trầm trọng hơn nhiều. Nhưng nhìn ông, nàng không thấy dấu vết của sầu tư. Nàng dọ dẫm:

- Mấy năm trước, khi có tin em, sao anh không liên lạc ngay với em?

- Anh cũng muốn liên lạc lại với em, nhưng để làm gì nhỉ? Em mới vào Úc, một nách mấy đứa con, và anh nghe nói em còn có bạn mới nữa. Đời sống như vậy là ổn rồi, làm phiền nhau làm chi?

Nàng nhìn ông dịu dàng. Ông ấy vẫn là người quen được che chở hơn là phải vật lộn, dành dật. Đời sống của ông trôi theo cái đà trôi của số đông người trong cái dòng sống vĩ đại mà trời đất đã an bài. Lòng nàng không còn gì sôi nổi nữa, nhưng nhìn ông, nàng vẫn thấy tội nghiệp, hệt như nàng đã tội nghiệp cho chính cuộc đời bão bùng của mình. Người đàn ông trước mặt nàng lúc này đã là một người đàn ông đứng tuổi, với những vết chân chim trên khoé mắt, và mái đầu nhuốm bạc, chỉ còn lại giọng nói và ánh nhìn trầm lắng của một người an phận.

Nàng dọ dẫm:

- Nếu anh muốn, em sẽ bảo lãnh anh qua Úc.

- Cám ơn em. Em nói đùa đấy, phải không? Chờ cho tới khi Úc nhận anh vào với em thì không chừng, anh đã mồ yên mả đẹp rồi. Nếu em có trong trương mục nửa triệu đô thì anh cũng dám qua với em; nhưng chẳng phải dễ dàng đâu. Còn các con em, còn cháu em. Và còn biết bao nhiêu phiền toái khác.

Ông nắm lấy bàn tay của nàng:

- Đa tạ em. Anh là một thằng đàn ông đã chẳng đem đến cho người yêu mình một bảo đảm nào. Anh không thể và cũng chẳng có quyền làm xáo trộn đời sống của bất cứ ai nữa. Gặp được em thế này anh thấy hạnh phúc lắm rồi. Tất cả chúng ta không ai thay đổi được cuộc đời mình nữa em ạ. Tạ Ơn em.

Ông nói mà nước mắt muốn ứa ra. Còn nàng, nàng lặng người. Có lẽ ông đã nói đúng. Không ai trong cái xã hội nhiễu nhương nơi quê nhà thoát được cái cộng nghiệp tàn nhẫn những năm qua. Và khi cơn mộng dữ qua rồi, thì không còn thứ nào có thể ráp lại với nhau cho khớp nữa.

Nàng xoa nhẹ bàn tay trên bắp tay ông, vỗ về an ủi ông, nhưng nghe như tiếng nước mắt rớt trong con tim bồi hồi của mình. Nàng cắn nhẹ bờ môi, lắc đầu:

- Chiều nay em rời Montréal, anh đừng ra phi trường tiễn em. Chút nữa, vợ chồng con em em nó mời em đi ăn trưa với tụi nó. Xong rồi thì về lại kháchsạn sửa soạn để chiều ra phi trường.

Ông hỏi một câu không ăn nhập gì vào chuyện giữa hai người:

- Em còn đi làm không? Năm nay em mới 48 mà. Có đi làm đều thì mới có phương tiện đi đây đi đó được.

- Em phụ thằng cháu lớn lo cái tiệm ăn nhỏ, cũng đủ chi dùng. Được cái may là hai đứa con gái đều học hành xuông sẻ, có việc đàng hoàng và thương em thật nhiều. Đi chơi chuyến này là tiền các cháu bỏ ra đó anh.

- Em thật may mắn và hạnh phúc. Chúc em và các cháu từ nay mọi chuyện đều hanh thông.

- Em cũng chúc anh cuộc sống bình an.

Ông buông tay nàng, kêu người bồi lại bàn. Nàng dành trả tiền, nhưng lần này thì ông không lừng khừng:

- Em cho anh không trả nổi bữa ăn sáng này sao?

Ông đứng dậy trước, vòng qua phiá nàng, đỡ nàng đứng dậy. Ông đi sau nàng ra khỏi nhà hàng.

Nắng buổi sáng thật trong. Những du khách từ nhiều xứ đổ về Montréal bắt đầu đi dọc hai bên đường Sainte-Catherine mỗi lúc mỗi đông. Ông và nàng đi lẫn vào dòng người, ngược về phiá trường UQAM, quay lại nơi khách sạn nàng ở.

Hai người dừng lại trước khách sạn. Ông không nói lời chia tay nữa, nhưng vội vàng ôm lấy nàng thật nhanh, hôn thật vội trên môi nàng, buông nàng ra, và đi như chạy trốn về hướng bờ sông.

Nàng đứng lặng trông theo dáng đi vội vã và lầm lũi của ông, nghe như lòng mình là một bờ đá ven biển Đông sóng gió năm nào.



* * * * *

Ông ra khỏi nhà lúc 5 giờ sáng. Nửa tiếng sau ông đã đến Lachine. Ông lái xe thật chậm dọc theo con đường quanh hồ. Xe vượt qua hội quán trượt nước trong vùng, chạy từ từ vào khu nhà nằm ven đường. Bên phải của con đường, hồ Saint Louis mênh mông tan trongsương mù vào buổi sớm chớm thu. Những hàng cây érable lá vàng hai bên đường, những mái nhà nâu xám và những bãi cỏ lớn trước những căn nhà nhoà trong màn sương. Chỉ còn thấy những mảng màu nhạt, nhờ nhờ vàng, nâu, xanh lẫn vào nhau. Trời, nước, tàng cây, nhà, và những chiếc du thuyền ẩn trong một màn khói loãng. Chung quanh, chỉ còn là cái im vắng mênh mông của không gian thấm lạnh. Ông cho xe chạy xuống một bờ cát có một vài tảng đá lấn ra mép hồ. Tắt máy, ông cài lại nút áo phiá trong, cài lại cái zipper của áo khoác chống lạnh và kéo cao cổ áo, rồi ông hạ cửa kiếng xuống. Không khí lạnh xoa trên da mặt làm ông tỉnh hẳn. Thần trí trong suốt. Từ ngày đặt chân đến xứ lạnh này, lần đầu tiên ông được hưởng một buổi sáng thật sự thanh bình. Chung quanh không một tiếng động. Ông rót trà ra chiếc ly bằng inox và nhắp một ngụm. Hương trà và hương sen như ngấm vào người rồi toát ra từ từ qua hơi thở rất chậm của ông. Đã nhiều năm nay, bây giờ ông mới có được cái buổi sáng thật lạnh, thật vắng, thật im ả mà hạnh phúc này, hệt như nhiều năm trước đã có lần ông ngồi trong nhà thủy tạ bên hồ Tịnh Tâm ở Huế nhắp một chung trà và nhìn xuống hồ sen bát ngát, thấy lòng mình như một khối thủy tinh tinh ròng, không gợn chút bụi của nợ trần. Bên kia bờ hồ là khu kỹ nghệ Lachine. Giờ này, ông không nhìn thấy nó, và kể từ ngày hôm nay, ông sẽ không còn phải thấy nó hàng ngày nữa. Ông bỗng thấy nhẹ nhõm trong người. Phải thế này mới là bình yên chứ. Từ nhiều năm nay, ông đã quen sống một mình. Muốn vướng bận thêm cũng chẳng được.

Ông vừa nhắp xong ngụm trà thứ nhì thì bỗng ông nhìn thấy ở khoảng giữa hồ một bụm khói đen nhạt như một đọn mây đang trôi vào phiá bờ. Nhìn kỹ là một cánh hạc. Ông sững người. Cánh hạc cao trên mặt nước khoảng vài thước, lờ lững như một con diều trong sương khói mênh mông. Thân mình, cái mỏ và cặp cẳng duỗi dài sau một làn sương lụa mơ hồ. Ông bất giác nhớ tới bài Hoàng hạc lâu của Thôi Hộ, một thi bá nổi tiếng đời Đường. Hạc vàng có lẽ chỉ có trong trí tưởng của nhà thơ, nhưng trước mặt ông, cánh hạc như sương, như khói đã nhẹ nhàng đậu trên mỏm đá cách ông vài sải. Hương sen còn đọng trong bầu không khí quanh ông, và hạc trắng ngay trước mắt ông, co một chân như ông vẫn thấy trên những chân nến bằng đồng trên bàn thờ gia tiên, trong dáng đứng của một hiền triết trầm ngâm trước cái mênh mông của trời, nước nhu hoà.

Ông nhìn ra khoảng trống mông lung và mênh mông trước mặt, rồi tiếng một chiếc lá tách nhẹ khỏi thân cây mờ mờ đáp xuống mặt hồ. Ông thấy trước mặt cánh hạc trắng vươn thân mình tới trước nhẹ nhàng bốc lên trong sương khói mờ ảo. Trong khoảng khắc ông nhớ tới buổi chia tay vội vàng hồi sớm hôm qua với người tình cũ. Cuộc gặp gỡ gây nên trong ông những xao động như những dợn sóng nhẹ, đang loãng dần ra xa khi cánh lá chạm đến mặt hồ. Ông biết rõ ràng là nàng hiện đã có được cái hạnh phúc bình an bên con, bên cháu trong cái xứ sở chan hoà nắng ấm. Còn ông, như một cánh hạc lẻ loi, đậu lại trên một mỏm đá mù sương.





Hết



Đăng nhập để trả lời
0
Cây Đinh Trên Thập Giá
Tác giả: Sầu Đông



Từ quầy bán hàng tiểu thủ công nghệ nằm trên con đường Nguyễn Huệ đầy nghẹt những người vào chiều thứ bảy này, nàng lơ đãng nhìn về phiá Toà Đô Chánh cũ. Nàng như không nghe thấy lời mẹ nàng:

-Từ nay đến ngày cưới còn vài tháng nữa, con nhớ nhắc thằng Văn sửa soạn mọi thứ cho đầy đủ nghe con.

Bà mẹ nhắc cô con gái, nhưng mỗi lần gặp chàng rể tương lai bà cũng đã ý tứ dặn dò. Mẹ nàng, người đàn bà đẹp của đất Kim Long- đất của ' Kim Long có gái mỹ miều; Trẫm thương, Trẫm nhớ, Trẫm liều trẫm đi- giờ chỉ mong cho đứa con gái đầu lòng của mình được yên bề. Bà từng nghe kể bà ngoại của bà là một trong những cung phi xinh đẹp của một trong những ôngvua cuối cùng của triều Nguyễn. Bà cũng từng nghe kể về những mảnh đời vụn vỡ của những phi tần thất sủng; về những người đàn bà đẹp đất Kim Long giặt áo bên sông, mà tiếng cười tan trên những dợn sóng lăn tăn không che được những cặp mắt xẫm buồn. Bà thèm khát một đời an bình; mà đời bà chỉ là những phong ba. Cuộc tình đầu như bão, như lửa đã để lại cho bà một đứa con gái, là nàng, nhưng cũng đã ném bà vào đất Sàigòn quay quắt mọi chuyện. Bà đã vật lộn với đủ mọi nghề để nuôi con khôn lớn. Bà mua được căn nhà nhỏ trong một con hẻm đường Cường Để chưa được vài năm, chưa kịp ổn định, thì năm 75 đã đến Sàigòn như một cơn lốc. Bà đã xanh xao, rộc đi, những năm đầu sau ngày 30 tháng tư, năm 75 rất nhiều. Bây giờ, một chút hy vọng loé ra: thằng rể tương lai là con một gia đình có máu mặt nằm vùng. Nó lại sắp ra trường. Cha nó đang lo liệu cho nó vào làm ở một bịnh viện lớn trong thành phố. Bà cảm thấy yên lòng phần nào.



* * * * *

Hân nhìn gã đàn ông đang băng ngang đường, tay xách một bức sơn dầu. Gã cười từ xa. Nụ cười nhẫn nhục. Đó là một họa sĩ tốt nghiệp Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàigòn. Gã cũng là sĩ quan quân đội cũ, tù cải tạo về từ hơn một năm nay. Gã là bồ cũ của chị con bạn. Nó giới thiệu gã đem tranh gởi bán chỗ nàng. Chị nó đã vượt biên. Nó nói với nàng:''Anh Lê vẽ tranh đẹp lắm. Mày phải nghe anh ấy nói về hội họa để mở mang kiến thức của mày ra. Hồi trước 75, mỗi lần ông ấy vào Đêm Màu Hồngvới bà chị tao, ai trông thấy cũng phải ghen. Giờ thất thế rồi, nhưng tranh còn đẹp bạo, mày cho ông ấy gởi tranh bán. Bán được, mày lấy huê hồng.'' Nói xong, nó nháy mắt với nàng rồi nhào lên yên sau của chiếc Dream, ôm cứng lưng gã thủy thủ viễn dương. Hôm ấy, nàng đã nghĩ: con này , chị em nhà nó sống như gió rừng.

Gã họa sĩ đã đến cửa quầy hàng. Nàng gật đầu chào gã.

Gã chào lại:

- Chào cô Hân. Chắc Hồng đã nói với cô về việc cho tôi gởi tranh ở quầy của cô rồi?

Gã vừa nói vừa nhìn quanh.

Hân đưa tay chỉ lên mặt kính của quầy:

- Anh mở tranh ra cho Hân coi một chút.

Trong lúc gã tháo lần lớp giấy dầu bọc ngoài, nàng tò mò nhìn gã. Đó là một người trung niên, thân hình không đến nỗi sa sút như nhiều người tù cải tạo khác lúc trở lại thành phố này, vào những năm này. Có người giới thiệu cho hắn vào làm ở công ty mỹ thuật không xa lắm chỗ quầy hàng của nàng. Khuôn mặt gã có thể coi là đẹp - một vẻ đẹp '' đàn ông'', phong trần, từng trải. Nàng nhìn bức tranh '' Thà làm qui? nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc'' vẽ hình Trần Bình Trọng hai tay bị trói giật ra sau, mặt hất lên ngạo mạn, trên cái nền đầy mây xám vần vũ mà như nhìn rõ cặp mắt tối u uẩn của hắn. Nàng có cảm tưởng hắn lấy khuôn mặt hắn làm chính khuôn mặt của người anh hùng thời nhà Trần ấy.

Hắn biết nàng đang nhìn hắn. Cái nhìn dò hỏi, thương hại. Hắn đã đi ngang quầy hàng của nàng nhiều lần, phiá bên kia đường. Nàng đẹp. Cái đó đã rõ. Mười năm trước, cũng chỉ ở ngay phiá bên kia đường, gã là một người khác: bộ râu quai nón trên khuôn mặt đẹp trai có góc, có cạnh của hắn đã khiến nhiều em vũ nữ chết mệt. Những lần hành quân từ xa về, hắn thường dắt hai đệ tử ruột mà cũng là cận vệ của hắn đến vũ trường. Gã vào thứ lính dữ dằn, nhưng hồn hắn chất đầy những bài thơ lãng mạn của những thi hào Pháp mà hắn đã thuộc nằm lòng những năm trung học. Hắn nói chuyện về những danh họa bằng cái giọng trầm ấm, say đắm, khi rượu đã mềm môi. Nghe hắn nói, người ta thấy nét uy nghiêm cung đình trong màu áo hoàng hậu, thấy cả nỗi thống khoái ẩn trong màu xanh thăm thẳm của những cặp mắt đa tình, và nhìn suốt cả nỗi cô đơn của những người vợ trẻ hoài mong chồng chinh chiến phương xa, trên màu áo xám trắng báo hiệu thiệp tang trên những bức họa lừng danh của những danh họa Âu Châu qua nhiều thời đại. Chuyện với hắn một lần, khó có thể không đến với hắn lần nữa. Hắn đa tài, đa tình. Và những người đàn bà đẹp đã đến với hắn như thế: '' Tài tử, giai nhân'' vẫn là qui luật của muôn đời!

Hắn hỏi:

- Cô thấy tranh ra sao?

- Coi cũng... đẹp.

- Loại này, lúc này tương đối dễ bán. Đám du khách Nhật, Đại Hàn, Đài Loan bắt đầu qua đây thế nào cũng có người mua, nhưng tôi còn vẽ nhiều loại tranh khác.

- Ông vẽ những loại nào nữa?

- Phong cảnh, thú vật, chủ yếu để trang trí trong nhà; tôi cũng hay vẽ những đề tài bắt nguồn từ dã sử, từ ca dao; nhưng phải vẽ đàn bà mới đúng là sống cho nghệ thuật. Bây giờ khó lòng mà vẽ như vậy được nữa.

- Vẽ tranh có ai cấm đâu.

- Khó vẽ đàn bà đẹp lắm. Ở thành phố này giờ không kiếm ra nổi người đẹp. Mà có kiếm được, dễ gì có chỗ để vẽ.

- Chi mà khó dữ vậy?

Gã nhìn Hân. Cô thoáng thấy một tia lửa đằm thắm, ham muốn loé lên nơi đáy mắt của gã.

- Nhà cửa đâu còn, mà cũng phải có phòng vẽ cho đàng hoàng. Lại còn phường khóm, công an khu vực nữa; lúc nào họ muốn xục vào là vào; nó cho mình đi tù như bỡn. Mà vẽ đàn bà đẹp, quần với áo lùng nhùng thì bẻ cọ đi còn hơn.

Nàng có vẻ bị kích thích. Mặt nàng hồng lên. Nàng nhìn gã, nghe trong giọng nói chậm rãi của hắn cái âm trầm của một đam mê còn lẩn khuất đâu đó.

- Thôi, anh để tranh ở đây, khi nào có người hỏi, Hân nhắn con Hồng nó gọi anh.

Gã đã khuất hẳn ở ngã rẽ giữa con đường Lê Thánh Tôn và Nguyễn Huệ mà nàng vẫn còn thấy trong người một chút rạo rực. Giòng máu lãng mạn trong nàng còn chứa đầy những khát khao bỏng rát của những phi tần xưa, và cả những đắm say cuồng bạo của những đấng quân vương. Nàng chợt nghĩ tới người chồng sắp cưới của nàng- cái anh chàng mà lần đầu bước chân vào nhà nàng, mẹ nàng đã xem như tóm được báu vật. Anh chàng cao ráo, trắng trẻo, hơi 'bột' một tí, là con một gia đình nằm vùng ở gần khu nhà nàng. Anh ta mê nàng ở cái giọng Huế quê anh đã pha thêm một chút trong trẻo của người di cư Hà Nội, và cái ấm nồng của âm sắc Sàigòn. Nhan sắc của nàng đã chinh phục hoàn toàn trái tim của anh chàng sinh viên học y sắp ra trường, ở vào buổi giao thời, mà phải là những kẻ được sàng lọc kỹ lắm về lý lịch hay phải cực kỳ vượt trội về học hành mới hy vọng bước chân được vào giảng đường. Vậy mà, từ những ngày quen nhau đến giờ- đến lúc cha mẹ anh chàng đến nhà xin hỏi - nàng chỉ thấy đôi chút hài lòng. Mấy con bạn nhìn cuộc đời nàng mà thèm, nhất là lũ bạn mà gia đình đã bầm dập, nát tan vì cuộc đổi đời dữ dội vài năm trước đây. Chúng khen nàng tốt số, mà chúng vẫn thầm ghen với nàng. '' Giải phóng'' vào, gia đình nào cũng rối tung lên. Kiếm cơm ăn đã đủ oằn người, nói gì kiếm chồng-loại chồng ngon lành như anh chồng chưa cưới của nàng- vào lúc mà những tin tức về chuyện vượt biên gặp hải tặc Thái- lan ngày càng dồn dập. Vậy mà những lúc sau này, mỗi lần gặp mặt anh chàng, nàng vẫn còn cái cảm tưởng xa lạ một cách kỳ quặc, khi anh chàng huyên thuyên về chuyện phấn đấu vào đối tượng đảng, khi anh chàng nhắc đi nhắc lại cái quá khứ nằm vùng của ông già chàng ta ở ngay con đường rất lớn giữa đất Sàigòn này, và nhất là về chuyện ông già của chàng đã cầy cục giúp mẹ của nàng một chân tiếp liệu trong một hãng thuốc bị nhà nước tịch thu. Những buổi chiều tối, trước khi đóng cửa quầy hàng ra về, nàng đã nghe căn dặn biết bao điều cần phải giữ gìn để anh chàng sau này, sau khi ra trường, vào làm ở bệnh viện gần nhà, còn có thể giữ được một chân quan trọng nào đó. Rồi lại còn chuyện nàng phải cố gắng phấn đấu vào đối tượng đoàn. Rồi cái hôn vội vàng trước khi đóng cửa quầy hàng ra về như sợ có ai bắt gặp của chàng. Ôi ! cái xã hội gì mà kỳ cục, lúc nào cũng như là một trại tù giam lỏng. Bất giác nàng rơi vào cái cảm giác trống trải, buồn chán, như người vừa cắn vào một trái chuối chưa chín.

Nàng treo bức tranh ngay trên tường sau lưng nàng. Nàng đăm chiêu nhìn lên khuôn mặt của người anh hùng Trần Bình Trọng trong tranh. Đúng là khuôn mặt của gã họa sĩ. Nhìn từ xa nàng chỉ thấy hắn là một gã đàn ông có dáng đi của một người lính bại trận, nhưng lạ lùng là cặp mắt đọng buồn của hắn như có nam châm bám hút lấy nàng. Nàng lắc nhẹ đầu như muốn xua đuổi hình ảnh hắn ra khỏi đầu. Nhưng mà khuôn mặt hắn đấy, ngay trên bức tường phiá sau của quầy hàng, và cái giọng trầm, đục của hắn gợi trong nàng cái mệt mỏi lười biếng, mà thú vị, của một buổi chiều nghỉ học nằm trong sân nhà trông lên những cành phượng vĩ đỏ rực ngay đầu con hẻm nhà nàng, khi thành phố này còn chưa thay tên, đổi chủ. Năm ấy, nếu nàng gặp gã, không chừng gã đã hỏi nàng làm người mẫu cho gã; và một dáng nằm lười biếng một cách khoan khoái dưới những tán hoa phượng không chừng sẽ để lại cho hậu thế một tuyệt tác. Nàng vừa nghĩ tới đây thì anh chồng chưa cưới của nàng đã dựng xe ngay bên quầy.



* * * * *

... Gã thanh niên rít lên:

- Em không được ngồi uống nước chung với thằng ấy nữa. Nó là một thằng tù cải tạo trở về. Thằng khốn nạn ấy, nhiều người trên con đường Đồng Khởi ( Tự Do , trước 75) quanh đây còn nhớ rõ hắn. Nó là con yêu râu xanh. Trước khi Giải Phóng vào, nó là đại úy TQLC. Nó thường hay nhảy đầm ở Đêm Màu Hồng. Nó đã có vợ, nhưng con rơi , con rớt cả đàn. Không tin, em cứ hỏi con vợ nó thỉnh thoảng vẫn lên chặn lương ở cái công ty chỗ nó làm thì rõ.

- Ngồi uống nước chung có gì mà phải sợ. Hắn đâu có ăn tươi nuốt sống được ai. Cách mạng rồi mà. Vả lại, hắn gởi tranh chỗ quầy của em, và tranh của hắn lại mới bán được. Hắn trả huê hồng cho em, rồi mời em đi uống nước. Em thấy hắn hiền lành, lịch sự, chớ có ác ôn chỗ nào đâu.

Gã gầm lên:

- Hiền lành, lịch sự! Sao em ngu quá!!

- Anh dám bảo tôi là ngu!

- Không ngu mà như vậy. Thời buổi này phải giữ gìn nhiều chuyện. Cô không nghĩ đến cô, thì cô cũng còn phải nghĩ đến tôi chứ. Bao nhiêu người ao ước lấy tôi mà có được đâu. Tôi đâu có thèm. Tôi thương cô, ái ngại cho mẹ cô và mấy đứa em. Gia đình tôi đã giúp cho nhà cô rất nhiều. Kiếm được chỗ làm cho mẹ cô, chỗ bán hàng cho cô vào thời buổi này, dễ gì. Hở ra là lê lết ngoài đường, cô không thấy à?

- Anh chửi tôi phải không?

-Tôi dạy cô. Với lại, cô sắp là vợ tôi, tôi có quyền. Cái thằng khốn nạn đó là một thằng lưu manh, ác ôn. Cô phải tránh nó cho xa. Nó là rắn độc. Bao nhiêu đàn bà, con gái qua tay nó rồi, cô không biết à?! Cỡ nó, hành quân vào những vùng quê ngày trước chắc nó phải đè ra hiếp không biết bao nhiêu người. Cô không thấy cặp mắt lừ lừ của nó đấy à? Cứ là giết người như ngoé. Tội ác của nó chắc kể ra không hết đâu!!

Cô bĩu môi:

- Anh chẳng cần phải dạy. Tội ác ngập đầu mà chỉ bị hai năm cải tạo, và Cách Mạng lại chịu cho vào làm việc ở Công Ty Mỹ Thuật Thành Phố?! Anh không biết người ta là cháu ruột của một cán bộ cấp cao ngoài Trung Ương hay sao? Mà mấy năm nay còn là lao động tiên tiến chỗ làm nữa.

- Nó kể cho cô nghe à? Nó xạo thì có?

- Xạo mà tranh được đem qua Tây bán.

- Cô bênh nó chằm chặp. Cô ăn phải cái gì vậy. Từ nay trở đi, cô không được tiếp chuyện nó nữa; cũng không được cho nó gởi tranh ở cửa hàng này nữa. Phần nó, tôi sẽ nhờ công an điều tra xem nó có liên hệ với người nước ngoài hay không; còn cô, tôi sẽ nói với ông già xin cho cô vào làm ở bệnh viện gần nhà.

Giọng cô đanh lại:

- Anh chưa là chồng tôi, anh không có quyền. Mà dẫu có là chồng, tôi cũng chẳng chịu là vật sở hữu của đứa nào cả. Còn cửa hàng, nó chẳng phải của anh. Tôi con nhà bình dân, tôi cóc sợ đứa nào cả.

Gã thanh niên mím môi, rồi bỗng nhiên khuôn mặt dịu hẳn lại. Gã nói với cô gái:

- Anh nói là vì hạnh phúc của chúng mình. Em phải nghe. Giao du với hạng người ấy nguy hiểm lắm.

Nói xong, gã liếc nhanh chiếc đồng hồ Poljot đeo trên tay, rồi bước vội ra chiếc Honda cũ, rồ máy xe vọt đi.

Hân không buồn ngó theo, nhưng lòng cô nôn nao khó tả. Càng ngày cô càng thấy không mấy thoải mái với anh chồng chưa cưới này. Chưa gì, hắn đã muốn kiểm soát cô từng chút. Chưa gì, hắn đã kể công. Và hắn ghen một cách kỳ cục. Cô mới bán được tranh của anh chàng họa sĩ đi tù về vào chiều thứ tư. Đến sáng thứ bảy, cô mới báo cho anh ta biết, qua con bạn của cô. Khi nhận tiền xong, anh lịch sự xin cô cái phong bì cũ và gởi cô món huê hồng cao hơn cô tưởng. Rồi anh ta lại còn mời cô đi ăn hủ tíu và uống nước ở ngay con hẻm đối diện. Ngồi ăn và uống với anh , nghe anh ta kể về những món ăn, những quán hàng mà anh ta ưa thích những năm trước đây, và nghe anh ta nói về hội hoa. , cô thấy ấm áp, gần gũi như với một người rất đỗi quen thuộc lâu ngày gặp lại. Cô còn nhớ anh ta nói về tranh Picasso như đang nói về một thế giới tan nát, giằng xé, méo mó, trong cái guồng máy sắp đặt mạch lạc của tạo hoá. Con người như vậy mà bảo là dữ dằn? là ác ôn? Và những câu cuối cùng của buổi chiều hôm trước, cô vẫn còn nhớ rõ như in: anh ta đam mê lối vẽ của trường phái trường hiện thực; anh thèm được vẽ những người nữ đẹp như tiên, khoa? thân. Đó là lẽ sống của đời người, như lời anh ta nói. Gã bảo: '' Cô là một nàng tiên''. Con người ấy mà thằng chồng chưa cưới của cô dám bảo là một gã ác ôn, uống máu người không tanh, làm cô nghĩ đến những gã bộ đội ngờ nghệch, ngố đặc như mán rừng từ ngoài Bắc vào, đứng chỉ trỏ , cười cợt ra chiều khinh bỉ các cô gái Sàigòn còn thoa chút phấn, son những ngày sau 30 tháng tư năm nào. Cô nhớ cả cặp mắt như cú vọ của thằng cha phó giám đốc công ty kinh doanh những quầy hàng dọc đường Nguyễn Huệ. Và cả mấy lão già từ bưng ra, ở cái Sở mà cô vẫn hàng tuần phải đến giao dịch, mặt mày khó đăm đăm , mà hễ có dịp nói chuyện trai gái lúc còn ở trong rừng thì mắt sáng hẳn lên như vừa mới tụt được quần của mấy con cán bộ nữ vậy. Ở đấy mà cách mạng! Hở ra là chúng nó vồ người ta như bỡn ! Mấy năm nay, các anh lớn, chú lớn đều có bồ nhí cả!!!



* * * * *

Tò mò, cô tìm đến nhà, như lời mời, sau lần cô bán được bức tranh thứ ba , để được xem tác phẩm để đời của hắn. Hắn nói: '' Trước Giải Phóng, đã có người trả năm ngàn đô la cho bức vẽ, nhưng tôi không bán. Nó là máu thịt của mình.'' Cô nhờ con Hồng, bạn cô, đưa cô lại nhà. Căn nhà nhỏ một phòng nằm ở ngay con hẻm gần bịnh viện Bình Dân. Lê đã đợi sẵn ở nhà. Vợ gã mấy lúc này về tá túc bên ngoại. Đứa con gái lớn của gã ít khi về nhà. Thành thử, căn nhà phường cấp bù cho hắn, sau khi đã lấy căn nhà lớn trước đây của gã làm trụ sở phường, tuy nhỏ, nhưng cũng là chốn dung thân tạm yên của hắn.

Lê kéo một chiếc ghế đẩu nhỏ mời Hân ngồi. Hắn cười buồn:

- Đấy, bây giờ nhà chỉ còn có vậy, nhưng cũng còn khá hơn nhiều thằng bạn cũ, lúc này phải cong lưng đạp xích lô kiếm sống qua ngày. Căn này có phòng này vừa là phòng khách, phòng ăn, phòng ngủ; chỉ còn thiếu mấy con gà và heo là đủ cả.

Trong lúc hắn lui cui nhóm cái bếp lò ở góc trái phòng thì Hân cũng tò mò nhìn khắp gian phòng. Trên cái giường mền chiếu bừa bộn, Hân thấy một vài bản vẽ bằng viết chì, hình những thiếu nữ chồng lên nhau, như thể được xoá đi vẽ lại nhiều lần. Trên tường, phiá bên trái là một bức vẽ dở dang, lớn gần bằng nửa bức tường, bụi còn bám một lớp mỏng trên mặt; vài ba cái mạng nhện chăng ngang góc phải. Cô đứng lên, lại gần nhìn cho rõ, thì Lê đã từ góc trái nhà bước về phiá tranh.

Gã bảo:

- Bức này tôi vẽ đã lâu, cách đây bảy, tám năm , trước Giải Phóng một chút. May là về vẫn còn. Chẳng có đứa nào thèm lấy của này. Nhưng mà, nó là những kỷ niệm một đời. Cô biết chứ, tranh của Nguyễn Gia Trí - một hoa. sĩ sơn mài bậc thầy- trước giải phóng, đến tổng thống muốn ông ấy vẽ cũng phải nhờ người nói khó, và tiền tranh thì khỏi phải bàn, mà có đứa đòi chẻ ra làm củi. Nay thì...

Gã hạ giọng:

- Đủ để đóng nguyên một chiếc tầu vượt biên cho vài trăm người.

Cô nhíu mày nhìn hắn, rồi nhìn lại tranh. Hắn nói gì mà ' kỷ niệm một đờí? Lạ lùng!

Gã nhoài người đẩy cánh cửa sổ rộng hơn một chút. Cô lại gần nhìn cho rõ hơn. Cô thấy choáng người: đó là hình vẽ một cây thập giá mà người nằm trên đó không phải là Chúa Ki-tô của những tín đồ Công giáo. Người nằm trên ấy có khuôn mặt giống khuôn mặt của gã hoa. sĩ đang đứng cạnh cô. Khuôn mặt dúm dó, đau khổ, khác với nét mặt nhẫn nhục, chịu đựng, và vẫn còn dễ nhìn của gã lúc này. Nhìn kỹ, chính là khuôn mặt của gã. Cô tò mò lại gần hơn: trên cánh tay mặt, đầu hai người đàn bà nhô lên, mà phần thân là thân những cây đinh cắm ngập vào cánh tay gân guốc của hắn; cánh tay trái: ba cái đầu khác; và giữa mỗi bàn tay cũng một ' cây đinh' cùng kiểu. Và những vệt máu ứa ra từ những cây đinh đóng trên tay hắn. Những người đàn bà, nhìn qua, đều thấy là đẹp.

Cô sững người, nhìn hắn:

- Bức này lạ quá.

- Không lạ đâu em.

Hắn bỗng nhiên đổi cách xưng hô. Giọng hắn vẫn trầm, ấm:

- Anh còn thiếu một cây đinh nữa để găm cho đủ vào hai bàn chân. Em có thấy không? Nơi chân 'Chúá, còn thiếu một cây.

Gã nhìn cô, u uẩn. Gã nói mà không buồn ngó đến cô:

- Những người đàn bà đẹp là lẽ sống của đời anh. Anh đã đau khổ vì những người ấy. Như với em vậy.

- Anh nói nghe kỳ. Tôi có làm gì anh đâu?

- Có chứ. Em đẹp. Em làm trái tim anh loạn nhịp mất rồi.

Cô nghe thoáng có hơi rượu trong giọng gã:

- Thôi đi cha, đừng có dỡn, đừng có cải lương như vậy. Cách mạng rồi. Phải sống ngăn nắp hơn anh à.

Cô chưng hửng khi nhận ra cô vừa gọi gã bằng anh, và cũng chợt thấy mình xao xuyến trước bộ mặt nghiêm trang, thành kính của gã.

- Cách mạng nào thì cũng vậy. Nó chỉ là nhất thời. Còn Nghệ Thuật mới là của muôn đời. Mà phải nhớ, Nghệ Thuật ở đây viết hoa.

Nghệ Thuật viết hoa hay viết thường có gì quan trọng đâu. Nhưng cô thấy có cái nồng nàn, quyến rũ trong giọng nói đó.

Gã tiếp lời:

- Anh có người bạn thân có vườn lan trên Thủ Đức. Tay này trước là tùy viên cho một viên tướng cũ. Nó là dân nằm vùng thì phải, không thấy phải đi học tập, cải tạo gì. Nay chuyên cung cấp lan cho Sở Ngoại Thương Thành Phố. Nó muốn nhờ anh lên coi vườn vào những chiều cuối tuần. Vợ chồng nó về quê vào những ngày này. Anh có tặng vợ chồng nó một vài bức tranh. Vợ chồng nó thích lắm. Họ cũng tử tế với anh. Để hôm nào anh đưa em lên đó xem tranh và ngắm hoa. Hoa lan ở đó đẹp lắm. Giống catleyas lai mọc thật khoẻ, và hoa rất đẹp. Hắn ngần ngừ, rồi tiếp:

- Không khác gì hoá của đàn bà đẹp.

Cô nhướng mắt nhìn hắn, làm như không hiểu, nhưng trong cô trào lên một đợt sóng.

Hắn lại tiếp tục:

- Để kỳ này bán được thêm tranh, anh sẽ mời em và Hồng lên đó, tổ chức bữa nhậu với vợ chồng hắn ta và một vài người bạn nữa. Lúc này, khách ngoại quốc vào nhiều nhiều rồi, mình cũng phải sống cho ra người một chút chứ. Uống xong ly trà chanh của hắn, cô kiếu từ ra về. Bỗng dưng, cô thấy hắn thật đáng thương, thật đáng tội nghiệp. Khi bước chân của cô còn ngập ngừng ở ngưỡng cửa ra vào thì bàn tay hắn đã đặt nhẹ trên vai cô, xoa nhẹ. Cô thấy trong mắt hắn tất cả cái thèm khát, say đắm của một kẻ đa tình.

Cô ra khỏi nhà hắn, người nhẹ hẫng.



* * * * *

Nàng nhớ lại cách đây hai tháng, nàng đã nhận lời lên chơi vườn lan cuối tuần với chàng...

... Ngay lúc này, nàng đã ở trong vườn, một khoảng không gian tĩnh mịch, êm ả. Vườn lan nằm trong khu vực an toàn, không người lạ nào héo lánh tới được. Nó là tài sản của vợ chồng người bạn của chàng, đã hiến cho Nhà Nước. Nó được Sở Ngoại Thương giao lại cho họ quản lý. Sở dành vườn này làm nơi tiếp những khách hàng nước ngoài, tháng một đôi lần. Những ngày khác, ít người lai vãng tới. Công an địa phương tuyệt đối không làm phiền toái nơi này. Con bò này còn vắt được ra sữa. Và như vậy, thỉnh thoảng, vợ chồng người bạn vẫn tổ chức ăn nhậu vào dịp cuối tuần, những khi bán được một đợt hoa cho khách nước ngoài. Riêng chàng, mới ngày hôm kia, nàng lại đã bán thêm cho chàng được một bức. Trên bàn, những món ăn nguội trên dĩa đã vơi dần. Vợ chồng 'chủ vườn' nâng cao ly chúc mừng:

- Chúc mừng bạn ta nay đã sống lại. Tranh lại bán lại được rồi.

Ông chồng nháy mắt :

- Chúc mừng cho tình yêu của bạn vàng.

Họa sĩ uống một hơi cạn ly vang đỏ. Bỏ ly xuống, chàng hôn nhẹ trên tóc nàng. Từ 75 tới giờ, lần đầu tiên Hân mới được ngồi vào một bàn tiệc ê hề món ngon như thế này. Chẳng thiếu thứ chi cả: từ món xúp nấu măng đến vịt tiềm, cá chưng,... Những món này, một nhà hàng trong Chợ lớn cho người giao đến. Ai dám bảo là xã hội mới chỉ có thắt lưng buộc bụng. Nàng bỗng thấy hạnh phúc khôn cùng. Hàng chục đứa bạn cùng lớp với nàng ngày nào, giờ này còn lăn lưng giữa chốn chợ trời; còn nàng, giữa khung cảnh êm ả này, nàng là nữ hoàng.

Bữa tiệc buổi chiều đã tàn. Vợ chồng 'chủ vườn' đã về Lái Thiêu, và con Hồng cũng đã ôm lưng thằng bồ về lại Thành Phố. Chỉ còn lại mình chàng và nàng, trên căn nhà sàn bằng gỗ bằng lăng, trông xuống hồ nước nhỏ ngay dưới chân sàn và vườn lan đầy hoa quanh nhà. Giữa những ngày tháng sáu nóng hầm, vườn lan như một ốc đảo tươi mát. Mùi thơm của đủ loại lan thoang thoảng. khắp vườn. Trăng giữa tháng bắt đầu lên, tròn, sáng. Trên chiếc giường nệm trong căn phòng riêng dành cho khách, nàng dán lưng vào người chàng. Chàng vuốt ve những sợi tóc mai mỏng manh như sương, như khói nơi gáy nàng. Hơi thở ấm của chàng còn lẫn mùi thơm của rượu toa? trên mặt nàng. Nàng nhắm mắt lại tận hưởng cái cảm giác êm đềm, sâu lắng. Đời con gái! dễ gì 'sống' được một lần!! Như đêm nay!!! Các cung phi trong hoàng cung xưa cũng chỉ thế này là cùng chứ gì! Trái cấm đã treo lơ lửng đó rồi. Con Hồng nó vẫn than thở với nàng nhiều lần là từ sau Giải Phóng nó không còn hy vọng gì được hưởng những thú vui rộn ràng như đám chị nó nữa. Nó chưa kịp lớn để được hưởng. Vậy mà đêm nay, nàng đang được sống trong hoan lạc nhất đời. Góc phòng, tiếng nhạc và lời ca của cặp Lê Uyên Phương hối thúc, da diết. Chàng ngồi dậy, châm hai ngọn nến đã cắm sẵn trên bàn. Chàng quay trở lại giường nằm, ghé môi hôn nàng mỗi lúc mỗi say đắm. Rồi chàng hôn lên khắp người nàng, điên dại, như muốn uống cho cạn, cho hết màu hồng trên đỉnh ngực đến thì. Chàng nhập vai Romeo. Tiếng thì thầm trầm ấm của chàng rót vào tai nàng: '' Này thiên thần của anh, đêm nay anh sẽ vẽ bức tranh tuyệt vời của cuộc đời mình: mình là máu thịt của anh.'' Nàng run lên, hạnh phúc. Nhắm mắt lại, nàng căng người thấm từng dòng lửa thật dịu dàng đang âm ỉ đun sôi nàng lên. Rồi cơn mê cuồng bùng vỡ, với những tiếng rên hoà cùng nhịp với chiếc nệm giường. Nàng như nhìn thấy cả ngàn khuôn trăng vằng vặc lồng vào nhau, quấn lấy nhau, tan thành cái ánh trăng chìm đắm trong những bụi hoa. Khi toàn thân chàng đã phủ ngợp trên thân thể nàng, nàng chỉ còn thấy những đợt sóng hoan lạc dồn dập, tới tấp tràn về. ' Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt,... ', câu thơ thoáng qua nhanh trong trí nàng, trước khi nàng lịm đi.



* * * * *

Mi cút ngay ra khỏi nhà tau. Tổ cha mi. Mi ăn chi mà mi ngu rứa con ơi. Sắp cưới đến nơi rồi mà mi đi ngủ với thằng tù cải tạo trở về. Mi bôi gio trát chấu vào mặt tau. Mi ngủ với thằng có hàng chục con vợ hờ. Mi bỏ đi cơ hội ngàn năm một thưở. Cơm ngon mi không muốn ăn, mi lại muốn ăn c... hả con! Trời ơi là trời! Rồi đây liệu nó có bảo bọc nổi mi không. Thân nó, nó còn lo chưa xong. Nó chơi mi cho liễu chán hoa chê rồi nó bỏ mi, nó đạp mi ra khỏi cửa con ơi!..

- Con lạy mẹ.

- Không mẹ con gì hết. Cút ngay ra khỏi nhà tau. Mi có thương ai đâu. Mi không thương mẹ mi. Mi không thương các em mi. Chính thân mi, mi cũng không biết thương mi nốt. Mi ăn phải bùa mê thuốc lú của cái thằng khốn nạn chuyên đời dụ dỗ đờn bà, con gái ấy; chuyên đời phá hoại gia cang người ta. Tổ cha cả lò cái thằng trời đánh thánh vật ấy. Nó hết l... rồi, nó nhè con nhà người ta sắp có chồng. Thằng khốn nạn, thằng lưu manh, thằng ăn máu l... què. Qui? tha , ma bắt mi đi. Bà sẽ thưa mi ra công an cho người ta gông cổ mi lại, đưa mi đi học tập cải tạo mút mùa. Vì mi mà đám cưới con bà bất thành. Trời ơi là trời!!

Cả bà lẫn anh con rể hụt của bà đều réo đến công an, nhưng đám công an chẳng rỗi hơi ngó ngàng đến chuyện ruồi bu ấy. Mấy thằng phản động mới đáng sợ chớ dăm ba cái thằng họa sĩ đĩ bợm ấy!... Hay hay dở, chúng mày với nhau, chúng mày liệu mà bảo nhau.

- Mẹ Ơi. Mẹ tha tội cho con.

- Không mẹ con gì với mi. Con vợ nó chán đến độ không thèm đánh ghen nữa, mi có biết không. Nó mà đánh ghen thì còn nhục đến nhường nào. Tao đã nhiều lần khuyên mi, nhắc mi không được đi chơi khuya, mi có thèm nghe đâu. Rồi ba thằng Văn và nó qua nhà, hết khuyên răn lại mắng mỏ, mà mi nào có cho vào lỗ tai mi. Mi khốn nạn quá mà. Mi ăn c... mà. Mi cút ngay ra khỏi nhà tau. Không mẹ con gì nữa. Bà rống lên khóc òa. Rồi bà cầm lấy chiếc gối kê lưng đôi ra phiá cửa. Nàng sợ hãi lùi ra. Trời u ám. Nàng lầm lũi ra khỏi hẻm, một tay che nón ngang mặt, tay kia che bụng. Đã vài tuần nay, ngực nàng căng hơn, tưng tức, và giữa bụng, một vệt dài mầu nâu xậm chạy ngang rốn kéo dài xuống phía dưới. Nàng đã có thai. Nàng đành quay trở lại nhà Lê.



Sầu Đông

Đoạn cuối của một cuộc tình: Năm 1999, một bạn quen của Lê về lại VN chơi, sau mười sáu năm xa Sàigòn, kể từ ngày vượt biên. Lê lúc này là một ông lão mắt mờ, chân tay chậm chạp, nói năng thều thào, đi đứng run rẩy. Bà vợ đầu còn sống, quắt queo như một cây củi, giờ về ở trông nom hắn. Mỗi lần ra ngoài, gã khó khăn chống gậy, bên cạnh bà vợ dìu một bên nách. Bạn cũ tới nhà, hắn thường cho xem bức tranh ' Cứu Chuộc' của hắn. Hắn chỉ vào cây đinh đóng trên chân ' Chúá, và bảo đó là cây đinh cuối cùng của cuộc đời gã. Nàng đã ôm thằng con vượt biên qua Mỹ. Hắn chỉ nghe loáng thoáng nàng đã lấy một anh chồng Mỹ giàu có, và có thêm một đứa con với người này. Khi tiễn bạn ra về, hắn xin bạn hắn ít tiền mua thuốc chữa bịnh thấp khớp, không quên trả lời chẳng đâu vào đâu câu hỏi của bạn gã về cây đinh cuối cùng là ''cây đinh nào cũng giống nhau cả''. Bạn hắn thấy một giọt nước mắt lăn trên má gã. Không biết đó là giọt nước mắt ăn năn hay nuối tiếc.





Hết


Đăng nhập để trả lời
0
Cuối Sân Nhà Thờ
Tác giả: Sầu Đông



Bà Diệp vừa xách giỏ rau, cá ra khỏi chợ thì đụng đầu ông Khải:

- Bữa nay ông cũng đi chợ à? Gớm, cái chợ này lúc nào cũng đông người. Lúc này tây đen tây đỏ đi chợ này nhiều lắm. Tôi cứ tưởng chỉ có người mình với người tàu thôi, vậy mà đủ thứ người, nhìn ai cũng thấy dữ dữ thế nào ấy.

Ông Khải nhìn bà Diệp, vẻ ngạc nhiên :

- Bác không thấy là loài người ngày nay đang chung sống với nhau

trong một cái làng lớn hay sao?

- Ông chỉ được cái hay đùa; mấy tỉ người mà bảo là sống với nhau trong một cái làng, có mà chết bẹp!

- Thì với phương tiện truyền thông hiện đại, mình chả cần phải đi tới đâu mình cũng thấy được hết bốn phương thiên hạ mà. Tôi ngồi ở nhà tôi thấy tường tận cảnh lụt ở quê mình, thấy cả hoa hậu áo dài ở Sàigòn trên bục danh dự đang tươi cười giơ bó hoa lên trước đám quan khách hau háu nhìn nữa kià; và chỉ cần bấm nhẹ cái nút điều chỉnh là thấy đủ làng mạc Châu Phi; nhấn cái nút khác là thấy bầy sếu đỏ bay ngang vùng trời nước Pháp,...

- Ông này nói chuyện đến là hay!

Nói xong, bà Diệp nín thinh.

Cả năm nay bà không thèm ngó đến truyền hình. Bà thường nhắc mấy đứa cháu đang tuổi lớn là lúc này ma quỉ chúng nó hoành hoành khắp nơi rồi. Trên máy truyền hình, chúng nó còn hoành hành khiếp nữa. Chả là có lần bà đi đọc kinh tối ở nhà bà bạn gần khu nhà bà trở về thì bắt gặp thằng con trai cùng đứa con dâu của bà đang dán mắt vào coi cái chương trình quái quỉ gì ấy! Bà rụng rời sợ hãi quay mặt đi, cùng lúc thằng con bà vừa kịp chuyển đài. Bà cằn nhằn các con: '' Tivi là tai họa trong nhà đấy các con ạ. Quỉ ở trong ấy đấy!'' Ấy thế mà con vợ nó còn dám giả lả với bà: '' Bên này tây đầm chúng nó văn minh lắm, cái gì họ cũng giải thích rõ ràng, và biểu diễn cụ thể cho mình hiểu. Mẹ không biết chớ cái cô đầm trong chương trình phỏng vấn của đài địa phương mà có lần trước đây mẹ cứ nức nở khen đẹp và hiền như thiên thần đúng ra là... ''gáí' đấy mẹ. Cô ta thật thà và tự nhiên lắm.'' Cô con dâu bà ăn nói cũng hết sức tự nhiên, cứ như dân Ca-na- điên chánh gốc vậy.

Thấy ông Khải tính quẹo ra phiá trạm xe buýt, bà vi nhắc:

- Tuần vừa rồi không thấy ông đi nhà thờ. Ông nhớ phải năng xưng ti, rước lễ đều đặn ngày chủ nhật và các ngày lễ trọng, và dốc lòng dốc trí nghe lời các cha giảng thì mới mong được rỗi phần hồn.

Ông Khải cười, đáp:

- Dạ.

Bà này chả khác gì các bà chị của ông. Nhưng như vậy mà họ là những người có phước. Họ chẳng phải thắc mắc xa, gần. Hàng ngày bà lo chuyện nhà cho con, cho cháu, và cuối tuần bà sốt sắng đôn đốc mọi người đi lễ nhà thờ. Bà thường nhắc mấy đứa con, mấy đứa cháu: '' Làm gì thì làm, ngày chủ nhật là ngày của Chúa; phải dành ngày ấy cho Chúa. Ham làm cho lắm, quên nhà thờ, nhà thánh, chết mất linh hồn thì phỏng ích gì?'' Vào mùa hè bà cùng với mấy bà bạn trong hi, chiều tối họp nhau đọc kinh râm ran như khi trước bà còn ở Xóm Mới, Gò Vấp. Bà thong thả chờ ngày Chúa gọi về hưởng thánh nhan Chúa trên nước Thiên Đàng. Đúng là nước Thiên Đàng chỉ dành cho những người chất phác, hồn nhiên như con trẻ vậy.

Bà nghĩ về ông Khải và cùng lúc vừa thấy thương hại, vừa thấy đôi chút bực mình. Ông ấy chúa là khô khan, mà bà vợ thì chẳng hề thấy bước chân tới nhà thờ. Ngay cả việc chợ búa, hình như bà ta cũng khoán trắng cho đức ông chồng. Đôi lần bà muốn lại căn chung cư của vợ chồng ông Khải, vừa là dịp thăm hỏi cho rõ sự tình, vừa muốn đng viên bà vợ của ông Khải nhưng lần nào ông Khải cũng kiếm cách thoái thác. Riết rồi bà cũng đâm chán. Hơi sức đâu mà trì kéo những những kẻ cứng lòng cho được. Nhưng hễ tuần nào thấy ông ta vắng mặt ở nhà thờ thì bà lại chẳng yên tâm. Không quen biết thì thôi, chớ đi nhà thờ rồi, biết người ta ở gần nhà, mà để người ta chết sa hỏa ngục sao đành. Bà chỉ mới biết vợ chồng ông Khải khoảng một năm trở lại đây khi họ dọn về ở cái chung cư mà chánh phủ dành cho những người có lợi tức thấp . Chung cư này cách nhà vợ chồng thằng con trai lớn của bà một con đường.

Nhớ lại buổi tối hôm bà bất ngờ thấy chương trình ''ma quỉ''mà các con bà đã coi, bà but miệng :

- Giê-su ma lạy Chúa tôi, truyền thông hiện đại với chả truyền hình hại điện. Bọn ấy là một lũ xa-tăng.

- Bác nói sao?

- Ồ! Ồ! Tôi không biết, nhưng mà này, ông nhớ đi lễ chủ nhật cho đều nhá. Nhớ xưng ti, rước lễ đều đặn, đừng phạm ti trọng kẻo mất linh hồn.

Nói vậy chứ bà cũng thấy ông ta là người hiền lành, mà ra vẻ là người có học. Bà chẳng thấy ông giao du với ai, đâu có giống cái lão ba trợn ở kế bên nhà, cứ mùa hè là phơi trần ra với mấy lão bặm trợn khác ở đâu kéo tới, rượu vào là bắt đầu nói nhăng nói cui chả đâu vào đâu, toàn những chuyện ngày xửa ngày xưa đi lính giữ đồn, tằng tịu giai gái, nghe mà phát khiếp. Vậy mà hắn lại táp vào được với con mụ nạ giòng ở kế nhà các con của bà, mà hôm mới gặp bà cứ tưởng là đào cải lương về già. Bọn này chết đi thì diêm vương kéo ngay chúng vào hoa? ngục.

V ề phần ông Khải thì cứ nhớ lại thuở nhỏ mới sáng sớm đã bị bà cụ thân sinh đánh thức dậy đi lễ nhà thờ cũng đủ khiến ông phát sốt, phát rét rồi. Những năm tháng gần đây, mỗi lần đi lễ ngày chủ nhật, ông bắt đầu để ý nhiều hơn đến những bài giảng ở nhà thờ, và cách rao giảng của những vị chủ chiên: có vị Ông nghe và cảm thấy ấm lòng, cảm thấy như được an ủi, nhưng cũng có vị mà mỗi lần nghe xong bài giảng về đến nhà ông muốn phát bịnh; Ông không thấy được lòng khoan dung, nhân hậu của những vị này, mà chỉ thấy ở những vị ấy đức tính của những sĩ quan tác chiến đang xung trận, cùng với cái kỹ năng thuần thục của những người làm marketing ở Âu-Mỹ mà món hàng chính là cấy nỗi lo, nỗi sợ, cùng với những lời răn đẹ Ông thấy tiếc, nhớ đến ông thầy dạy giáo lý những năm đầu trung học - một linh mục người Canada- đã dạy ông mười điều răn của Chúa vào những năm đầu của thập niên 50 bằng giọng nói ấm áp và cái nhìn chan chứa tình người. Vị linh mục ấy đã sống cuc sống giản dị, bình thường chẳng mấy khác đời sống của những người dân VN bình thường khác. Có lần vị linh mục ấy tâm sự: '' VN mới chính thật là quê hương của chạ Cha đã được mọi người trong nhà dòng này yêu thương và quí trọng. Cha muốn được về với Chúa ngay trên quê hương đáng thương và đáng yêu này.'' Nhưng thật đáng buồn là ngài đã bị trục xuất khỏi VN ngay sau khi Cng sản chiếm được miền Nam.

Những ngày này, ông chỉ thấy một nỗi ngao ngán dâng đầy. Đã bao nhiêu biến đng đến trong cuc đời. Và những nỗi đau chỉ mình mình biết, chỉ mình mình hay, không chia xẻ được với ai, và cũng chẳng ai muốn chia xẻ với mình trong cuc sống hối hả, vật chất, và gấp gáp nơi này.

Và như vậy, có những hôm ông chỉ muốn nằm lì ở nhà, không muốn đến nhà thờ nữa.

x

x x

Ông Khải vừa bước qua cửa nhà thờ chánh toà thì có người níu lại. Ông quay lại, ngạc nhiên khi thấy ông Diệm:

- Ủa tôi cứ tưởng ông không có đạo. Mấy năm nay có khi nào tôi nghe ông nói gì về đạo đâu? Mà sao bữa nay lại đi dự lễ thụ phong tân linh mục vậy?

- Tôi không có đạo, nhưng có ông bạn cùng viết cho một tờ báo bên Mỹ, có người em chịu chức ngày hôm naỵ Ông ta thấy tôi viết một đôi bài báo liên quan đến vấn đề tôn giáo, mà không phải là người quá khích , ông ta mời tôi đi cho biết. Tôi đã đi đến nhà thờ ở bên này một vài lần, một vài nơi vào những ngày chủ nhật, nhưng nhìn chung chỉ thấy tây, đầm già chớ không thấy đông người như ở nhà thờ VN mình ở một vài nơi trong tỉnh này.

Ông Khải ghé tai nói nhỏ:

- Nói thật với ông tuy tôi đạo gốc nhưng là người khô khan lắm. Hôm nay có đứa cháu một ông anh họ thụ phong linh mục, mà ông bà ấy ở xa đến nên tôi với bà vợ tôi mới đi.

- Chị đâu?

- Bà ấy vào trước rồi. Có lẽ bà ấy ngồi chung với các người kia. Tôi kiếm chỗ gởi xe đến gần 20 phút mới có chỗ nên vào trễ đấy ông.

Ông Diệm:

- Tôi không ngờ nhà thờ này lớn và đẹp quá chừng; mà trời! người đi dự lễ đông nghẹt, đủ các sắc dân. Tôi phải chịu giáo hi Công giáo của mấy ông là một giáo hi hoàn vũ thật sự. Không có thứ tình cảm nhân loại trong giòng sống của giáo hi thì làm sao mà giáo hi lại đã có thể hi tụ nhiều sắc dân đến thế trong một buổi lễ như ngày hôm naỵ Đến đây, tôi thấy rõ sức mạnh của giáo hi này.

Ông Khải:

- Đứng đây chỉ thấy người thôi, mình lên trên kia có chỗ ngồi. Ông có giấy mời mà.

- Ừ , mình lên trên đi.

Hai người chen lên được khu dành cho khách mời nhưng nhìn quanh ghế nào cũng đã chật người.

Ông Diệm:

- Tôi thấy chị ngồi phiá trên kia kià, nhưng chẳng có ghế nào còn trống cả. Nếu mình kiếm được chỗ ngồi sợ không nói chuyện được với nhau. Hay là mình đứng luôn ở đây, cạnh ct lớn này mà lại tiện. Ông không ngại chứ?

Ông Khải nhìn quanh:

- Nhúc nhích gì nổi nữa. Đông quá. Cách đây vài năm tôi cũng đi dự lễ thụ phong linh mục của một người quen ở nhà thờ chánh toà ở Montréal. Hôm ấy cũng đông và trang trọng lắm nhưng không đông như ở đây, hôm nay.

Ông Diệm nhìn lên trên chánh điện. Những vòm cửa kiểu gothique phiá sau với những ô kính đủ các loại màu- những màu rực rỡ xen với những màu trầm dịu, ghép thành những tác phẩm nghệ thuật diễn tả những cảnh và người ghi trong Kinh Thánh. Ông tì người vào cây ct bên cạnh, và ngước lên phiá trên. Ông quay qua ông Khải:

- Nhà thờ này có lẽ đã được xây cất cả thế kỷ naỵ Khí hậu vùng này gần nửa năm lạnh mà xây nhà thờ lớn và nguy nga thế này thì vài chục năm chưa chắc đã xong.

- Nhà thờ trên Montréal còn lớn hơn nữa, và bà chị tôi năm ngoái đi qua La-mã ( Roma) cho biết nhà thờ Thánh Phao- lồ ( Paulus) lớn và đẹp không tưởng tượng được. Tôi không để ý lắm đến những kiến trúc tôn giáo, nhưng ngay lúc này có thể tôi phải nói ngay với ông nỗi xúc đng của mình: nếu không có một soi sáng đặc biệt nào đó về mặt tâm linh, làm sao con người có thể tạo nổi những tuyệt tác như vậy, mà là từ những thời xa xưa cách đây cả ngàn năm.

Ông Diệm:

- Tôi không rõ, nhưng ở Ai-cập, ông thấy kim tự tháp rồi tượng các Pharaoh cũng hùng vĩ lắm đấy chứ; ở Hy-lạp nhiều đền thờ cũng hùng tráng chẳng kém. Giờ đến phiên tôi nói với ông cảm tưởng của tôi về khung cảnh này: đây là kết quả cụ thể của nền văn minh Thiên Chúa giáo, từ kiến trúc đến nghi thức thờ phụng. Không có những tâm hồn lớn và những b óc am hiểu tâm lý con người trong hàng giáo phẩm lãnh đạo thì làm sao mà đạo Công giáo đã có thể mở mang nước Trời đến năm châu bốn biển, và đã tạo được những ảnh hưởng vô cùng lớn lao về văn hoá và xã hi như ta thấy ngày naỵ Trong quá khứ, giáo hi ở nhiều nơi ảnh hưởng trực tiếp đến cả quyền lực thế tục.

Khi ông Diệm đang nói thì từ dưới, phiá lối đi giữa nhà thờ, một dòng người dẫn đầu là Đức Tổng giám mục của thành phố, và trong số đông đảo các tu sĩ, trang nghiêm và thành kính, tuần tự tiến lên phiá bàn thờ, ông nhận thấy khá nhiều khuôn mặt Á châu.

- Mà này, ông có thấy là trong số các linh mục dự lễ bữa nay có đến gần phân nửa là người Á châu không?

Ông Khải:

- Tôi nhìn ra gần hết các vị linh mục mà ông nói là Á châu kia là người VN đấy ông.

- Lạ quá nhỉ! Đây là một hiện tượng đặc biệt về tôn giáo mà có lẽ tôi sẽ dành nhiều thời gian để nghiên cứu. Tôi có một người bạn quen, thân nhau từ thuở còn trèo me, trèo sấu ngoài Hà ni, nay thỉnh thoảng vẫn gặp lại, nhưng tay này chẳng hiểu sao mà hễ nói đến Công giáo các ông là hắn ta bực bi ra mặt.

Ông Khải:

- Tôi không quen kình chống ai, nhưng không chừng trong vấn đề này cũng có luật nhân quả và luật bù trừ. Vào thời kỳ thực dân, phương Tây đem quân đi chiếm thuc địa, cùng lúc với việc các giáo sĩ tìm đến phương Đông rao giảng lời Chúa. Nay thì phương Đông chi viện trở lại. Về phần rủa xả, bươi móc thì hễ mình rủa xả người ta, bươi móc người ta thì người ta rủa xả lại mình, bươi móc lại mình. Hoàn cảnh sống và dân trí khác đi rồi. Nhưng dân VN mình cũng là một dân tc đặc biệt lắm trên thế giới, ở Châu Á , đã được Chúa chọn làm mảnh đất màu mỡ gieo trồng Lời Chúa. Phần tôi, tôi không ra khỏi nhà dòng sớm thì giờ này dám cũng phục vụ cho một giáo phận nào gần đây.

- Vậy ra ông cũng từng ở trong dòng?

- Vâng, lúc các cụ tôi gởi tôi vào tiểu chủng viện thì tôi còn nhỏ lắm. Năm ấy tôi mới 10 tuổi. Tôi đâu hiểu ất giáp gì những điều giảng dạy về giáo lý, nhưng có một điều mà đến giờ này tôi vẫn còn nhập tâm là lúc nào cũng phải '' Mến Chúa, yêu ngườí'.

- Tại sao ông lại ra khỏi dòng?

- Tôi ở trong dòng tới gần hết năm thứ hai thì đến ngày gần Tết, thấy nhớ nhà quá, tôi với hai tên nữa trốn dòng về nhà. Từ nhà tôi tới nhà dòng chỉ cách khoảng một cây số. Qua niên học mới, ở nhà nhận được giấy của cha bề trên '' Con có ơn kêu gọi, nhưng không có ơn bền đỗ''. Tôi ra khỏi dòng từ đó. Thực ra cả ba đứa chúng tôi đều lỗi đức vâng lời.

- Lúc ấy các ông còn nhỏ quá biết quái gì về vâng lời với lại chẳng vâng, nhưng bây giờ ông có tiếc gì vì đã ra khỏi dòng không?

- Tiếc nhiều lắm chứ. Các cụ vẫn nói ''Tu là cõi phúc mà''. một ông bạn tôi mới đây lại còn 'choảng' thêm một câu mà tôi thấy cũng chí lý chẳng kém : '' Lỗi lầm lớn nhất đời tôi là lấy vợ; đã thế hết nghiệp này lại chồng lên nghiệp khác!''

Phiá trên toà giảng, trước bàn thờ, các nghi thức truyền chức tuần tự tiến hành. Ông Diệm thấy nghi thức có nhiều phần giống những lễ thăng chức cho các quan trong khung cảnh trang trọng của một số triều đình Âu châu thời trung cổ trong các phim ảnh Âu Mỹ mà ông đã xem trước đây.

Ông quay qua ông Khải:

- Tôi chẳng phải là người Công giáo, nhưng nếu tôi được hưởng một cuc phong chức ngoài đời tương tự thế này thì thật tình tôi khó lòng rời bỏ được tổ chức ấy. Đó là vinh dự cao cả của một đời người.

Ông Khải:

- Đó không chỉ là vinh dự của một người. Bên mình, trong giới Công giáo, còn là vinh dự của cả một họ. Và trong một giáo xứ nhỏ như giáo xứ nơi gia đình chúng tôi sinh sống khi trước thì vinh dự của ông bà cụ cố chỉ kém vinh dự của cha xứ một tí mà thôi. Chẳng nói dấu gì ông, bà cụ thân sinh ra chúng tôi đúng là một vị thánh. Cụ là gương mẫu điển hình của những bà mẹ VN một đời tần tảo, hết lòng vì gia đình, sống đạo đức, thánh thiện, và hạnh phúc lớn nhất đời cụ là thấy trong nhà ít nhất có một đứa con trở thành linh mục hay nữ tu, hệt như nhiều gia đình bình dân người mình ở đây thật hãnh diện khi trong nhà có một đứa con là bác sĩ vậy. Cụ tôi đã gởi cả sáu anh chị em chúng tôi vào những nhà dòng, nhưng có lẽ trong giòng họ chúng tôi đức vâng lời truyền thống khiếm khuyết sao đó mà cuối cùng ai cũng ra khỏi dòng. Cụ rất buồn về điều này, nhưng tôi còn buồn hơn vì nhìn quanh gia đình các anh, các chị cũng như của chính tôi sau này, chúng tôi đã gặp quá nhiều thử thách và những nỗi bất hạnh trong đời- những bất hạnh như của cả một dân tc gom vào phạm vi một gia đình, một giòng họ! Đã có lúc tôi ngơ ngẩn cả người khi nghĩ rằng có thể vì thiếu đức vâng lời, phải ra khỏi dòng, mà anh em chúng tôi đã gặp biết bao nhiêu tai ách, hoạn nạn chăng?!

- Đừng nghĩ như vậy ông ạ. Để hôm nào thong thả mời ông lại tôi chơi, tôi giới thiệu với ông ông bạn thân của tôi, một người cũng đã gặp khá nhiều bất hạnh trong đời nói chuyện với ông. Tôi tin là ông sẽ dễ chịu hơn khi gặp ông bạn tôi. Trước kia tôi cũng là kẻ cực đoan, hay gay gắt với người khác, nhất là trong lãnh vực tôn giáo, nhưng ông thấy đấy, tôi đến xem và quan sát lễ chịu chức bữa nay với ông, ông có thấy tôi khó chịu gì với Công giáo các ông đâu trong khi chính tôi tôi vẫn thường hay lên chùa, chẳng phải để tụng niệm, van vái, cầu xin gì, nhưng chỉ để tìm đến một khung cảnh yên tịnh, trang nghiêm cho tâm hồn mình dịu đi mà thôi. Vậy mà cũng có lúc có người hiểu lầm tôi, ở cả hai phiá.

- Có phải ông tính giới thiệu tôi với người bạn hay mạt sát Công giáo? Nếu vậy thì tôi không muốn gặp đâu.

- Không, ông bạn này là người ôn hoà mà vui tính nữa.

Lễ xong, mọi người kéo nhau ra về.

Ông Diệm chào từ biệt ông bà Khải. Trước khi chia tay ông còn nói với lại một câu:

- Anh chị nhìn xem có lẽ dân chúng thành phố này tụ hết về đây vào ngày long trọng này.

Ông nháy mắt với ông Khải:

- Giáo hi của ông đáng phục mà cũng đáng sợ thật. Tôi thì tôi chỉ ưng đứng bên ngoài thôi, trong tôi hình như có 'gien' nổi loạn ngầm; vào đến bên trong, sợ mình không còn giữ được những tình cảm thuận lợi ban đầu nữa. Thành thử từ tiểu học cho đến khi hết đại học tôi toàn học những trường do giáo hi Công giáo thành lập, được gợi ý nhiều lần vào đạo, mà tôi vẫn không chịu rửa ti.

Vợ chồng ông Khải cùng với vợ chồng người anh họ đã ra khỏi nhà thờ. Phiá trước cửa nhà thờ từng toán người vây quanh các tân linh mục. Ông anh họ Ông kéo ông và các bà về phiá người cháu tân linh mục:

- Chào cha, chúng con xin chúc mừng chạ Xin cha luôn nhận được nhiều hồng ân của Chúa Cha trên trời, Chúa Con, ơn sáng soi của Chúa Thánh Thần và sự phù h của Mẹ Maria để chu toàn thiên chức được trao phó trong việc dìu dắt đoàn chiên của người.

Ông anh họ trao cho tân linh mục một phong bì đựng một chi phiếu làm quà mừng. Ông Khải cũng chúc mừng và cũng trao cho tân linh mục một phong bì tương tự.

- Con xin cám ơn các bác.

- Chúng con xin cám ơn cha.

Vợ chồng ông anh họ và vợ chồng ông Khải sau đó cáo từ ra về. Leo lên xe, ông Khải nhìn ra chung quanh. Ông thấy những khuôn mặt rạng rỡ, trẻ thơ.

x

x x

Ông Tuấn rót bia ra từng chiếc ly trong suốt. Bọt bia sủi lên tới miệng ly thì ông ngừng lại, rót bia qua ly khác. Trong khi bọt bia từ từ tan, ông châm tiếp một vòng thứ hai. Ông nâng ly bia, tươi cười:

- Hôm nay các bà rủ nhau đi chợ trên phố Tàu, anh em mình tha hồ tán hươu tán vượn. Nắng đầu thu đẹp thế này và trời lại mát, các ông lai rai thật tình với tôi nhé.

Tiếng thành ly chạm vào nhau cùng với những lời: '' Cám ơn ông'', ''Phải chi mấy tuần vừa rồi tuần nào cũng được mời thế này thì cuc đời đẹp biết chừng nàó', '' Các ông thấy không, phải đợi các bà vắng nhà thì muốn tán gì... thì tán, chúng mình đúng là thuc giống... sơ... !''

Tiếng các ông cười ran.

Ông Tuấn nhìn ông San, cười cười:

- Ông phải hãnh diện là trong nhà ông có một đấng thánh đấy.

Ông San cũng cười, nhưng ông nhìn ông Tuấn bằng ánh mắt dò hỏi:

- Chắc thằng con tôi nó tính tuyển hai bác vào đạo của nó phải không?

- Tôi có sạn trong đầu rồi, tuyển thế quái nào được,nhưng nói chuyện với cháu tôi vỡ ra được nhiều điều.

- Ông gặp nó trong trường hợp nào?

- Nó đi với một người trong đạo của nó đến nhà một người quen của tôi. Con ông nó đến giảng Kinh Thánh cho nhà này. Gặp tôi ở đó nó cũng hỏi thăm và mời ngồi nghe cùng với gia đình quen biết kia.

- Ông thấy sao?

- Tôi có cảm tưởng là nó am tường Kinh Thánh. Nó thuc vanh vách; chẳng bù cho tôi, đi nhà thờ lấy lệ vậy thôi chớ Kinh Thánh tôi mù tịt. Trên bục giảng các cha muốn giảng gì thì giảng, chỉ cần biết là các ông ấy dạy giáo dân làm điều hay lẽ phải là đủ.

Ông Trung chen vào:

- Tôi chẳng theo đạo nào cả, chỉ theo đạo lương tâm của mình thôi. Nhưng mà tôi phải nhận là mấy người trong cái đạo của con ông San đây là những người đàng hoàng, hết sức tư cách.

Có tiếng cười của ông Mẫn:

- Chưa biết đâu! Thế giới đảo điên này lắm chuyện bất ngờ lắm. Nhưng mà tôi cũng lạ là nhóm này họ kiên nhẫn lạ thường. Họ gõ cửa một lần chưa vào nhà được thì họ gõ hai lần, rồi ba lần,...

Ông San:

- Nhìn bề ngoài thì thấy đám người này khá là tư cách, nhưng ông Tuấn nhắc đến thằng con tôi thì tôi chẳng biết nói sao nữa. Nếu nó chăm sóc được cho bố mẹ chỉ bằng một phần nhỏ của việc nó siêng năng đi học cách giảng Kinh Thánh, đi họp với các người cùng hi với nó, và nhất là nó đừng ương gàn như từ nhiều năm trước đây thì tôi cũng mừng.

Ông Mẫn:

- Tôi chưa gặp mặt cháu lần nào.

Ông Tuấn:

- Anh chàng bảnh trai lắm: cao ráo, trắng trẻo. Tôi là đàn bà có lẽ tôi phải mê nó. Tôi biết là nó đã xong đại học rồi, mà có tới ba cái bằng lận. Nó học cùng lớp với thằng con tôi.

Ông Trung:

- Nếu thế thì ông bạn tôi đây phải mừng mới phải chứ; có con học hành ngon lành mà lại đạo đức nữa thì trên thế giới này phải phước đức lắm mới được hưởng như vậy.

Ông San thở dài, mặt ông méo xệch đi.

Ông Mẫn:

- Làm gì mà thở dài vậy ông. Tôi chỉ mong mấy đứa con của tôi bằng một góc cháu nhà ông là tôi đủ phước lắm rồi.

- Các ông có ở vào hoàn cảnh của tôi các ông mới hiểu được. Hôm nay ông Tuấn rủ đến nhà ngồi vui chơi với nhau mà tôi than thở thì mất vui đi, nhưng tôi chỉ biết nói với mấy ông là hễ thấy mấy đám ấy nó gõ cửa nhà thì các ông chớ có tiếp. Điều kỳ lạ: hễ ai đã bập vào rồi thì y hệt một đám cừu non dưới sự dìu dắt của một nhóm người, và rồi ra họ hết biết đến ông bà, cha mẹ, dòng họ nữa. Phải chi từ nhiều năm nay nó là đứa con có tình, thường hay lo lắng cho cha mẹ, và để ý chăm sóc các em; nó có lỡ vướng phải cái phái này mình cũng còn hy vọng có lúc nó sẽ nghĩ lại. Nhưng mà nó kỳ cục lắm. Chưa kể là cái phái này họ diễn giải Kinh Thánh cách nào tôi nghe cũng không ổn. Nhiều người bạn của tôi họ cũng nói như tôi vậy. Vậy mà nó sốt sắng, siêng năng, cần mẫn với đám này mới chết mình chứ. Cái gì nó cũng nói hi thánh của nó là đúng, là nhất. Cả nhà, và nhiều người trong họ biết nó từ lâu đều có nhận xét nó có dáng vẻ của một cậu công tử bt vô tự Tôi thì tôi thấy nó ngờ nghệch như một con ngỗng đực, ngây thơ và ngây ngô về nhiều khiá cạnh trong cuc sống. Hình như tự bản thân nó, nó xa lạ với những tình cảm gia đình, trong khi bà nhà tôi bà ấy chăm chút nó từng li từng tí ngay từ khi mới lọt lòng. Nó đi đi, về về như người khách trọ. Từ khi nó bập vào đám này rồi, nó nói đến việc mưu sinh như kẻ ngủ mê, và hễ mở miệng thì '' Con làm chỉ cần đủ sống; quan trọng là Nước Trời kià''. Nó lo toàn chuyện trên trời. Cái đầu nó tửng tửng sao đó. Nhiều hôm ra khỏi nhà, nhất là những buổi sáng chủ nhật khi có người đến rước nó đi họp thì nó đi ra mà như không thấy mình. Cha mẹ dở sống, dở chết nó không cần biết. Nó lại là con trai lớn mới ác chứ! Bên này có những ngày có thể xem là những tục lệ tốt như Mother's Day, Father's Day trong khi các chị em nó còn nhớ và nói đôi lời chúc mừng an ủi mình, thì về đến nhà nó vẫn tỉnh queo không biết đến ai. Mà kỳ lạ lắm hễ mở miệng ra là nó nói nó sống đúng theo sách thánh.

Ông Mẫn cười:

- Lại có chuyện đó nữa sao? Hay là nó ứng nghiệm với câu nào đó : '' Nước Trời chỉ dành cho những kẻ thơ ngây như con trẻ''. Chúng ta đây anh nào cũng hói đầu cả rồi, nhìn mặt đủ thấy là thời thơ dại nay còn đâu, vào Nước Trời khó lòng quá!!!.

Ông Trung:

- Ông San nói không sai đâu. một bà bạn của nhà tôi, mẹ goá với ba đứa con côi, vẫn để hình của các cụ trên bàn thờ kính tổ tiên, vậy mà đứa con gái út những năm trước đây vào ngày rằm, Vu lan vẫn khấn vái tổ tiên mà nay thì cứ nằng nặc nhất định không chịu, thiếu điều nó muốn đòi dẹp cả bàn thờ đi nó mới chịu ở nhà. Không hiểu nó ăn phải bùa mê thuốc lú gì mà nó cuồng đến như vậy. Đng một tí là nó kêu: '' Thế giới này toàn là quỉ không hà! có nhiều dấu hiệu khoa học cho thấy là ngày tận thế sắp tới rồi!! Không lo mà cứu mình thì khi sống lại sẽ gặp sự phán xét công minh của Đức Chúa Trời.''

Ông Mẫn cười:

- Con bé này chắc bị mát nặng. Nếu nó hay viện dẫn khoa học để bảo là tận thế tới nơi thì mình phải nhờ ông Tuấn mời ông bạn Thịnh lại nói chuyện mới được. Tay này là tiến sĩ sinh hoá, nhưng nhiều năm nay chuyên tìm hiểu về tôn giáo. Tôi có dịp nói chuyện với ông ấy một lần, tôi chịu lắm. Ông ta cũng diễn giải những kinh nghiệm tâm linh bằng những dẫn chứng khoa học, mà là thứ khoa học ở vào trình đ của những nhà bác học vật lý hạt nhân chớ chẳng phải thứ khoa học của thời Galileo hay Newton đâu.

Ông San:

- Ông con tôi cũng chẳng khác con bé kia mấy tí, thêm vào đó là ngày Giáng sinh ông ấy cũng không công nhận, và cũng không thèm chung vui với anh chị em trong nhà. Nó nói không cần phải sống hình thức bề ngoài, và số người mà Đức Chúa Trời chọn vào Nước Trời của Ngài vào ngày tận thế chẳng có nhiều. Nó không công kích Công giáo, nhưng hễ mình nói đến Công giáo thì nó kêu: '' Họ không làm đúng lời Chúá'. Nó hay lặp đi lặp lại câu: '' Nhân nào quả nấý'. Nó nói nó biết một gia đình ở gần trường đua Phú thọ xưa, cả giáo xứ ai cũng trọng vọng, ngợi khen mà rồi khi vượt biên đã gặp hải tặc đến hàng chục lần. Chẳng hiểu họ đã gieo những gì mà phải gặt những trái đắng làm vậy. Mà chẳng phải chỉ một gia đình. Hàng chục gia đình như thế trên một chiếc ghẹ Tôi thật chẳng hiểu nó muốn ám chỉ chuyện gì.

Ông Tuấn gắp một miếng nm:

- Ăn uống cái đã các ông ơi. Món nm này bà xã tôi mới làm sáng nay.

Ông San cũng gắp một miếng:

- Gì thì gì, có thực mới vực được đạo. Nm ngon đấy ông.

Ông Mẫn:

- Vậy chứ. Có ăn thì mới nói chuyện gì thì nói. Chuyện tôn giáo là chuyện dễ gây tranh cãi lắm. Mà cũng lạ nhỉ , tôi với các ông chẳng ai theo đạo của ai mà chúng mình vẫn thân và vui vẻ với nhau. Thế thì cái gì nó khiến chúng ta nói chuyện được với nhau mà chẳng thấy phiền hà. Có phải là chúng ta chỉ thăm hỏi sức khoẻ và đời sống gia đình của nhau không nào? Chúng ta chỉ mong ai cũng gặp được những điều tốt lành trong cuc sống; và ngoài ra, với con cái, chúng ta đều lo hướng dẫn nhớ đến cha mẹ, ông bà, tổ tiên; khi còn nhỏ thì lo học hành cho đàng hoàng và lớn lên lo làm việc cho đâu ra đó, không gian tham, trm cắp,... Còn gì nữa đâu mà phải gay gắt với nhau.

Ông San:

- Ai cũng như ông thì thế giới này đã là chốn địa đàng. Có lẽ tôi đã gặp cảnh ng quá ư đặc biệt trong gia đình nên lúc này có khi tôi phải mượn thêm triết lý nhân quả của nhà Phật để có thể chấp nhận dễ dàng hơn những điều bất ưng xảy đến cho gia đình mình.

Ông nhắp một ngụm bia, ngồi tư lự.

Ông Trung cười, tếu:

- Cứ như tôi là khoẻ rẹ Tôi chẳng theo ông thần nào cả, nhưng tôi có một bà thần, hở bà ấy ra là... đói! Tôi chỉ cần thấy một cách đại khái là có một Đấng Toàn Năng đã tạo dựng nên vạn vật muôn loài, kẻ nào sống trên đời làm điều thiện thì sẽ được hưởng điều lành, còn kẻ làm ác sẽ phải lãnh điều xấu sau khi chết . Ai làm nấy chịu. Tôi suy nghĩ đơn giản vậy thôi, chẳng phải nhọc công tìm học tìm hiểu giáo lý cao xa của bất cứ vị nào, mà cũng chẳng phải quị lụy, cung phụng ai. Đến ngay như cuốn Thánh Kinh mà đã có cả hàng trăm hệ phái diễn giải khác nhau, có khi kình chống, khích bác nhau. Tôi có mấy người quen hay nói với tôi chuyện thiền; tôi nghe thấy cũng hay hay, nhưng chỉ phần thực hành về thở và tập cách tập trung tư tưởng thì tôi còn lãnh hi được, chớ nói đến các công án thì trí thông minh của tôi không sao hiểu đặng, nặn óc cách nào nó cũng cứ trơ ra. May ra thì có ông Mẫn đây hiểu nổi. Về phần các con tôi, chúng nó muốn sao thì muốn. Ở xứ này rồi mình có muốn kiểm soát chúng nó cũng chẳng đặng. Khi nào khổ quá thì tôi sẽ chắp tay ngước mặt nhìn trời: '' Ngài ơi! Ngài tha cho con''.

Ông Tuấn:

- Vậy là nhứt ông rồi. Ông là con một. Ông lại chẳng có bà con anh em gì ở xứ này. Ông là người thoải mái, tự dọ Ông không chịu những ràng buc. Tôi có ông bạn gia đình Công giáo nặng mà con ông ta lại yêu một anh con một gia đình sùng đạo Phật. Lúc đôi trẻ muốn tiến tới thì gặp đủ thứ phiền toái về cả hai phiá. Nghe phiá nào cũng thấy nhức buốt cả.

Ông San thở dài lần nữa:

- Tôn giáo cũng có những mặt thật tích cực, nhưng gặp những kẻ cuồng tín thì mệt lắm.

Ông Mẫn gắp một miếng chạo tôm bỏ vào chén của ông San, rồi gắp tiếp một miếng đưa lên miệng:

- Á, à! chạo này bà Tuấn làm khéo quá. Mà này ông, mình cứ coi như pha hết mọi chuyện thì chẳng có gì phải lo, phải khổ cả. Ở tù cả chục năm chẳng sao, mà về nhà lại sợ tiếng thị phi sao.

- Gia đình bên bà vợ tôi sùng đạo dữ lắm mà nay con cái trong nhà chúng nó linh tinh quá mình đi đến đâu mình cũng thấy ngại. Riết rồi mình hết muốn gặp người quen trong giáo xứ,...

Ông Tuấn:

- Ông Mẫn nói chuyện đi tù tôi chợt nhớ ra Cng sản mới là tôn giáo thứ thiệt. Sau 75, gặp lũ cán ngố từ ngoài Bắc vào tôi thật sự kinh hoàng. Bọn cán b chính trị phù thủy phiá trên nói gì chúng nó cũng tin. Mà hễ nó hạch ti ai thì cái hệ thống luận lý một chiều của nó biến anh ngây thơ vô ti thành anh ngây thơ vô số ti.

Ông Trung:

- Có lẽ vì vậy mà đã có nhà nghiên cứu nào đó đã phán rằng Cng sản cũng là một thứ tôn giáo: nó chính là đứa con ngỗ nghịch của nền văn minh Thiên Chúa giáo. Bọn Cng sản cóp nguyên xi tổ chức và kỹ thuật truyền giáo của Công giáo, mà có phần còn chặt chẽ hơn với các tổ tam-tam, chỉ khác là thay vào cây thập giá chúng trang bị lưỡi lê và súng, thay vào đức bác ái là lòng hận thù giai cấp; giáo lý của chúng là thuyết duy vật, và đấng toàn năng của chúng là cụ tổ Marx. Thời kỳ chiến tranh Quốc - Cng bên mình hình như có ông nhà báo nào đó đã viết: '' Hiểu cng sản thì không ai bằng mấy ông công giáo; mà sợ công giáo thì không ai sợ bằng cng sản sợ cả''.

Ông ta cười hăng hắc, nói thêm:

- Tôi còn nhớ một ông linh mục trẻ hay đùa đã có lần nói với tôi: '' Nhà nào có Chúa thì cũng có quỉ dữ'', và '' Mỗi người phải lo mà đuổi quỉ dữ ẩn trong thân xác mình''.

Ông Tuấn:

- Thôi, đừng bàn thêm mấy thứ này nữa. Ăn uống cho thoải mái đi mấy ông. Bà vợ tôi về đến nhà thấy thức ăn còn nhiều thế này bà ấy không vui đâu.

Ông Mẫn nói vớt:

- Bữa nay tôi nghe chuyện tôn giáo thấy hấp dẫn quá chừng.

Ông Mẫn vừa dứt lời thì có tiếng một bà:

- Mới vắng nhà có một tí mà các ông đã nói xấu gì chị em chúng tôi đây?

Mọi người quay lại nhìn: bà Tuấn và bà San đã vào nhà từ lúc nào.

Ông Tuấn cười vang cả nhà:

- Các bà đã lén vào nhà mà lại còn vu oan giá họa cho gia chủ. Chúng tôi nghiêm chỉnh đàng hoàng lắm, việc gì phải nói xấu ai.

Ông Trung chỉ ôngTuấn:

- Tôi cứ nói sự thật: ông ấy vừa mới khen bà đấy.

- Ông ấy có mà khen ai bao giờ!

- Lầm rồi bà chị Ơi! Tin cho bà chị biết là ông ấy mới nói không có bà chị thì ông ấy... đói từ khuya rồi.

Các ông cười rần rần khiến ông San cũng vui lây.

x

x x

Vào đến phòng khách nhà ông Trung, ông Thịnh được ông Trung lần lượt giới thiệu với ông Tuấn, ông Khải, ông Diệm và ông San. Bà Trung đã xách giỏ đi chợ cách nhà hai block đường. Những đứa con ông Trung đã di học; những đứa có gia đình đều đã ra riêng.

Ông Thịnh nghiêng người ngó qua cửa sổ lớn của phòng khách:

- Ông bà Trung ở gần nhà thờ thế này mà không đi nhà thờ kể... cũng uổng quá nhỉ.

- Tôi chả theo đạo nào cả nên ở gần cũng như không.

Ông nói đùa thêm:

- Có điều ở gần nhà thờ, nhà thánh nên ma quỉ chẳng dám đến quấy nhiễu, phá phách. Khu này có thể kể là một trong những vùng êm ả, hiền lành nhất vùng này đấy ông. Dạo tôi mới đến Canada, ở Montréal, tôi phải thuê một appartment 4 rưỡi ở khu Côteđes-Neiges, tôi đã phải sống cả năm trong những bực dọc, lo âu, nếu không muốn nói là kinh hoàng.

Ông Khải:

- Dân nghèo xứ nào cũng giống nhau.

Ông Trung:

- Nhưng cái đám dân nghèo ô hợp này '' mất dậý' hơn dân nghèo xứ mình nhiều. Các ông chưa biết đâu, appartement mà gia đình tôi ở suốt ngày suốt đêm rần rần: trên đầu mình mấy con người Phi chẳng hiểu nó làm nghề ngỗng gì mà cứ thấy bọn nhọ ra vô đều đều. Chúng nó đi rầm rầm trên đầu mình. Đêm xuống nó còn nhảy đầm nữa chứ. Chịu hết nổi, thọc cán chổi lên thì chỉ êm được vài phút rồi đâu lại vào đó, mà có khi còn tệ hơn.

Ông San:

- Ông không thưa cảnh sát?

Ông Trung:

- Thưa cảnh sát còn chết nữa. Cảnh sát ở đây cũng đã chán dây dưa với lũ hủi. Mấy thằng nghèo hành nhau, chết mặc xác, chánh phủ đỡ tốn cơm nuôi. Ngay bên vách căn phòng có một cặp trắng nhưng không biết chúng nó có chơi xì ke gì không mà tuần nào cũng mất vài ba tối mất ngủ với bọn chúng, cứ khoảng 10 giờ đêm trở đi là bọn chúng tụ tập nhau mở nhạc rock muốn bung cả cái building ra. Thằng janitor còn chẳng dám hó hé gì thì mình nói gì nổi nữa.

Ông Diệm hùa thêm:

- Mới trên đầu và bên vách, còn dưới nhà thì sao?

- một gã người mình chia phòng với một thằng nhọ. Tôi chịu trận chỗ ấy được khoảng nửa năm thì thằng nhọ kia bị một thằng nhọ khác bắn chết, còn gã VN thấy chạy khỏi phòng và tuyệt tích luôn.

- Sao ông không kiếm nơi nào khác?

- Mình mới qua, ký hợp đồng thuê nhà cả năm mà bỏ ngang thì phải mất mấy tháng tiền phạt, lấy tiền đâu ra mướn chỗ khác nữa. một đồng xứ này kiếm được cũng phải đổ mồ hôi ht ra.

Ông San:

- Tôi cũng đã qua cái kinh nghiệm không khác ông mấy. Thành thử đến giờ hễ nghĩ tới phải vào ở chung cư theo kiểu mấy cái building như tôi đã ở dạo trước là tôi muốn phát sốt, phát rét. Dân mình qua đây nhiều người đầu tắt mặt tối, không trông nom được con cái , thấy ti nghiệp quá chừng.

Tiếng ông Thịnh ngắt ngang:

- Cõi người là cõi khổ mà: chẳng khổ cách này thì khổ cách khác, có mấy ai mà sung sướng đâu. Ngay công nương Diana đẹp sang, vương giả là vậy, được thần dân nước Anh thương mến và được nhiều người trên thế giới ngưỡng m mà còn gặp biết bao nhiêu khổ não trong đời!

Ông Diệm nhìn ông Thịnh, vừa cười vừa nói:

- Ông bạn tôi đây nói cứ như là phật tử thuần thành, nhưng mà ông ấy thuc loại ''đa thần'' đấy mấy ông ạ. Các vị đại diện cho các thần nói gì cái đầu của ổng đều gật gật hết. Ông ấy chẳng chống ông nào cả. Ông ấy bảo tôi là có ý kiến ngược lại với các thần chỉ tổ mua cái hại vào người. Gật đầu hoàn toàn với các ngài là êm chuyện hơn cả. Ông ấy đâu có bí xị như tôi đây. Còn bà vợ tôi thì bảo là nếu được khổ như công nương Diana thì bà ấy cũng chịu.

Ông Khải:

-Thời buổi này chỉ có đc thần hoặc vô thần chớ làm gì có đa thần. Ông chớ có đùa dai.

Ông Diệm:

- Không tin thì cứ hỏi ông ấy là biết ngay.

Có tiếng ông Trung ở nhà sau:

- Hôm nay mình nói chuyện chơi với nhau một lúc để các ông Khải và ông San làm quen với ông Thịnh, sau này các ông có thắc mắc gì cứ níu áo ông Thịnh mà hỏi. Ông ấy hay nói với tôi là cuc sống trần thế tuy ngắn ngủi chẳng đáng gì so với tuổi của lịch sử loài người, và chỉ còn là chấm li ti so với tuổi trái đất. Nếu đem so với tuổi của hệ thái dương thì có khi phải tính bằng phần triệu của một micron, nhưng '' nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoạí' và một ngày sống trong ưu phiền thì có khác gì trăm năm trong lửa hỏa ngục. Cho nên phải rán tìm cách gỡ mình ra khỏi những trói buc vô hình thường gây những đau đớn, dằn vặt cho những kẻ giàu tình cảm, nhạy cảm với mọi thứ trên đời, lại hay thắc mắc này nọ về cõi nhân sinh, nhất là quá nhạy cảm về những vấn đề tôn giáo.

Ngưng một chút ông Trung tiếp:

- Các ông uống gì thì cứ tự nhiên vào lấy trong tủ lạnh. Mấy năm nay chúng tôi ít khi nấu nướng trong nhà. Con cái đi hết cả rồi, chỉ còn thằng út là còn ở chung, nhưng nó cũng bận học ở trường tối mịt mới về.

Ông Thịnh đứng dậy xuống nhà bếp, mở cửa tủ lạnh, đảo mắt một vòng rồi lấy ra một chai Perrier.

Ông Khải ngó về phiá bếp:

- Ông cho tôi một chai giống ông nhá.

Lần lượt, kẻ nước ngọt, người chai bia và những người đàn ông ngồi quanh trên b xa lông trong phòng khách.

Trong năm người đàn ông chỉ có hai người hút thuốc là ông Diệm và ông San, nhưng họ đều hút rất ít.

Ông Thịnh rót nước suối ra ly, uống một ngụm, rồi thong thả nói với các bạn:

- Ông Diệm ông ấy chọc quê tôi đấy, chả là có lúc tôi cũng khổ sở quá chừng về những vấn đề tôn giáo. Tôi lớn lên trong một gia đình Công giáo, học trường Công giáo, và bạn bè hồi nhỏ phần lớn trong những gia đình Công giáo. Các ông tôi không biết sao chứ những ông thầy dạy của tôi thì các vị ấy là những nhà sư phạm mẫu mực. Giờ giáo lý người ngoài nhìn vào có thể bảo là chúng tôi học vẹt, nhưng tôi còn nhớ chẳng có ai trong chúng tôi buồn ngủ cả, và sơ Tuệ thì dịu dàng, đức đ, hiền lành chẳng kém sơ Mỹ Hạnh mà mấy đứa em tôi cứ hay nhắc tới khi đã ra khỏi trại tị nạn ở Hongkong nhiều năm trước đây.

Ông Khải:

- Thế thì ông làm gì có vấn đề gì.

Ông Thịnh:

- Cũng nhiều vấn đề lắm. Nhưng vấn đề nhức nhối nhất là mình đi nhà thờ mà lòng còn ngổn ngang trăm mối: chính trong lòng mình còn nghi hoặc thì nói gì đến bọn trẻ bị lôi cuốn bởi đủ chước cám dỗ của cuc sống quá thực dụng nơi này. Sách báo viết về tôn giáo tràn đồng: hễ có người bênh vực thì thế nào cũng có kẻ đả phá mà xem ra ai cũng có lý của mình, hệt như thời kỳ đối đầu giữa tư bản Mỹ và cng sản Nga vậy. Nhưng Đông Âu đã xụp đổ hẳn chính là vì cái hệ thống ấy nó đi ngược với những khát vọng chính đáng của con người là tình thương, cơm áo, và tự dọ Lãnh vực tôn giáo là một lãnh vực hết sức lạ lùng, khiến có kẻ dám bảo là những người '' không thấy mà tin'' là những kẻ có điểm mù đặc biệt trong cấu trúc não, và cũng có người đã bảo là chuyện Mẹ Maria đồng trinh là chuyện thuc phạm vi tôn giáo, chớ nên lầm lẫn với lãnh vực của phụ khoa. Và vì thế thỉnh thoảng bóng mây u ám của sự nghi hoặc thoáng qua trong đầu thì tôi vẫn tự nhủ mình có khi những điểm còn mù mù của mình cũng là một ơn sủng.

Cả hai ông San và Khải cảm thấy nhẹ nhõm đôi phần:

- Có nhiều phần chúng tôi phải học thêm nơi ông, chứ thật tình nhiều hôm nghe các ngài giảng '' Phải củng cố đức tin'' chúng tôi cũng cố mà trong lòng vẫn thế nào ấy.

Ông Thịnh cười:

- Tất cả chúng ta là con người mà. Đến như vua David phạm ti tày trời mà còn được tha thứ thì cỡ như anh em mình dẫu có những phút yếu lòng, như tôi ngày xưa trốn vợ đi chơi với đào, hay lỡ như ông Khải thiếu đức vâng lời, và ông San nếu có lúc nào không chủ tâm ăn gian , nói dối thì chắc cũng không đến nỗi nào, cũng còn có tí hy vọng được vào nước Trời.

Ông Trung dỡn:

- Tôi không phải chung sống với các ''công an áo vàng'' của các tôn giáo như các ông nên không biết đến cái sợ, không phải chịu những nỗi lo ngay ngáy như mấy ông, phải vậy không nào? Nhưng mà tôi cũng phải nói ngay để các ông rõ là tôi không có sao đào hoa chiếu mạng như ông Thịnh mà cũng chẳng tài nghề gì. Tôi vừa xong trung học, lò dò vào QGHC thì mùa hè năm đầu ,về chơi nhà một tên bạn học ở Mỹ Tho, tôi gặp bà vợ tôi hiện nay khi ấy là học sinh trung học. Hạp nhãn nhau, rồi lấy nhau khi tôi ra trường. Tôi là người của gia đình, chẳng bay bướm gì, và chỉ sống theo luân lý truyền thống mà thôi. Tôi nói chẳng biết các ông có tin tôi không chứ lúc Mỹ đổ quân vào miền Nam, mấy gã nhân viên trong toà tỉnh nơi tôi làm cứ rủ rê tôi vào mấy cái nhà tắm hơi thăm dân cho biết sự tình. Tôi có thấy mấy em làm cho những nhà này, vừa nhỏ tuổi, lại vừa đẹp mà mình chỉ búng tay một cái là các em ào tới, nhưng chẳng hiểu sao tôi không ham mấy vụ này. Đồng sự xếp tôi vào loại '' Cơm nhà,... vợ''. Tôi cứ ăn ''cơm... ,... vợ '' dài dài cho đến nay, chỉ bị khốn đốn khi chịu chung cng nghiệp với cả một dân tc, và một ít năm khi mới đặt chân đến Canada như các ông đã biết. Còn mấy cái thắc mắc tôn giáo, áp lực tinh thần này nọ thì may mắn tôi không phải chịu. Mấy đứa con lập gia đình của tôi chẳng đứa nào làm phiền tôi về nghi thức tôn giáo cả. Với tôi, gặp các cha hay các sư thì các ông ấy cũng chẳng khác gì nhau. Với tôi, chết là hết, và nếu có đi đâu thì cũng chẳng phải lo ngại gì, mình chẳng làm hại ai mình chẳng có gì phải sợ.

Ông San và Ông Khải:

- Sống được như ông Trung thì khoẻ quá, nhưng mà mình không sống được như vậy. Mình học giáo lý ngay từ nhỏ.

Ông Thịnh:

- Còn sống trên đời là còn phải ưu tư, thắc mắc mà. Tôi chẳng hay ho gì hơn các ông đâu. Hôm nay anh em mình có dịp làm quen với nhau, nhưng ngay các ông Diệm, ông Trung đây, tôi ngờ là các ông ấy nói mạnh như vậy, nhưng hễ ngẩng mặt nhìn lên trời cao và nghĩ đến những ngày cuối cùng thì chắc cũng... chóng mặt. Để thong thả khi nào có thời gian rng rãi tôi sẽ tường trình với các ông một vài điều tôi ghi nhận được về một vài khiá cạnh liên quan đến vấn đề muôn thuở này. Duy có một điều tôi dứt khoát tin: cũng như cuc đời của mỗi người chúng ta là hữu hạn thì trái đất mà chúng ta đang sống đây cũng vậy. Nó đã được hình thành và thế nào cũng có ngày chấm dứt. Ngày ấy là ngày tận thế của trái đất này, nhưng theo chỗ tôi hiểu thì ngày ấy cũng còn... xa lắm, trừ khi gặp một lũ khùng cùng lúc nhấn một loạt bom nguyên tử.

Những người đàn ông chào nhau ra về.

Người vô tư lự nhất là ông Trung bỗng dưng thấy kiếp người thật lạ lùng, và ông thấy rõ là ông đã gặp quá nhiều may mắn trong đời. Ông uống cạn chỗ bia còn lại trong ly. Ông mỉm cười một mình. Chút nữa khi bà ấy về, ông sẽ bất thần ôm lấy bà ấy và hôn một cái thật dài. Cả năm nay hai người chưa hề hôn nhau.


Hết
Đăng nhập để trả lời
0
SBC ơi ới ời

Truyện này CtLy thấy có nhiều lỗi quá,
Ví dụ như chữ một thì nó mất đi chữ ộ, chỉ còn lai là MT

Cho nên SBC xem lại dùm đi nhé

Cảm ơn SBC nhiều
Đăng nhập để trả lời
0