Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN TRIỆU BÔN

32 trả lời, 181 lượt xem — Trang 2 / 2
CỦA ĐỂ DÀNH CỦA TRIỆU BÔN

 
Trần Chiến

 

Có lần anh Triệu Bôn bảo tôi về truyện của một anh nhà văn: “Đọc buồn lắm, vì người nghèo trong ấy rất xấu”. Nhưng hình như trong cuốn tiểu thuyết cuối cùng (?) của anh, cái cảm quan đã thay đổi. Nói hình như vì lúc mấy năm gần mất, anh hay nói đến một cuốn sách đang viết, về chiến tranh, sự thực có lẽ rất nghiêm nhặt, nghiêm đến mức nghiệt ngã.
Con co giật của đất ra năm 2005 ở Nxb Quân đội, hai năm sau khi anh mất, và đến 7 năm sau khi hoàn thành bản thảo. Viết theo lối cổ điển, nghĩa là lấy nhân vật làm trọng, hành động gần như tuyến tính theo thời gian, không lên gân cốt, không “đẩy tới” quá; một thái độ hiện thực. So với trào lưu văn chương đang mốt bây giờ, nó chả phải cách tân, thậm chí còn có cả những đoạn “Hẳn bạn đọc còn nhớ”... Nhưng vấn đề Triệu Bôn chạm đến thì chưa nhiều người cùng thời động tay vào, tuy hiển nhiên nó còn nhức nhối: cải cách ruộng đất và những ảnh hưởng của nó.
Rất lâu sau khi ra khỏi quân ngũ, tác giả truyện ngắn Mầm sống nổi tiếng đã dần bớt ý thức của người lính cầm bút. Nổi lên là cách nghĩ của một nhà văn, với lương tâm, cảm quan độc lập về thời cuộc của mình. Đó là một cuộc trăn trở lớn, nếu không nói là “lột xác”. Ở một xứ nông nghiệp, đất là căn cốt nặn ra tất cả. Nông dân là cội nguồn của xã hội, trong đó có tri thức, quan liêu, thương nhân...; anh thị dân mấy đời vẫn có trong mình dòng máu từ làng quê đi ra. Mổ xẻ gốc gác ấy, dẫu đau đớn, là điều nhà văn có lương tri không thể tránh. Chị Hoàng Việt Hằng,vợ Triệu Bôn kể “anh ấy viết quyển này như một món nợ phải trả với quê hương. Không thể viết một lèo. Chốc chốc lại lên cơn huyết áp”.
Đây không phải là cuốn sách ngọt ngào. Cải cách ruộng đất là một cú hích vĩ đại cho “quân chủ lực”, nhất là những người đang ở trong quân ngũ, vào thời điểm cuộc kháng chiến chống Pháp vào giai đoạn tổng phản công. Triệu Bôn không phủ nhận thành quả lớn lao của công cuộc đem lại ruộng đất cho người cày. Những người nghèo được chia quả thực. Những đổi đời của bần cố... Nhưng cạnh đó là những hệ lụy xấu, ảnh hưởng đến đạo đức, nhân cách con người, đến bao nhiêu số phận.
Chọn Viện, thầy giáo, tức một “trí thức nông thôn” - là nhân vật trung tâm, Triệu Bôn gửi gắm được những cảm quan của mình. Viện nhạy cảm, có chí vươn lên, nhưng thời cuộc biến anh thành nạn nhân của chính chí tiến thủ của mình. Vào thời kì phải nhận ra “ kẻ thù giai cấp” trong những người hằng chung sống trong tổng làng, đặng đấu tố, “lột trần”, Viện bỏ bẵng việc dạy học, ngày ngày hăng hái phát thanh vạch mặt địa chủ. Đối tượng đấu tranh là Hàn Phụng, người có công khuyến học - như cách nói bây giờ - trong vùng bị Viện và bao người khác hạ gục. Nhưng theo quy định phần trăm địa chủ ở địa phương, chính bố Viện, ông hương lý kiết xác rồi cũng phải vào danh sách bổ sung. Anh phải từ bố để làm trọn phận sự với đoàn thể, đến lúc sửa sai thì đã mất quá nhiều. Không thể ở làng, cái quê hương đã buộc anh phải sống trong bao nhiêu tủi hổ, Viện bỏ ra Hà Nội. Đây là một đoạn đời đau đớn nữa mà nhà văn buộc nhân vật phải ngụp vào. Viện gặp và sống cùng với Tính, một cựu chính ủy trung đoàn, con trai Hàn Phụng. Cưu mang Viện như cưu mang “một mảnh quê hương”, Tính phải xóa sạch mọi dấu vết về quá khứ, chạy trốn những gì mình yêu thương nhất. Cái chết thảm của Tính là lúc Viện hoàn thiện bài học làm người: sống phải có lương tri, giữ nhân cách, đừng để hoàn cảnh tha hóa. Đẩy Viện đối mặt với những câu hỏi lớn ấy, nhà văn không còn cách nào khác là buộc nhân vật chính phải chết; một cái chết cảnh tỉnh cho người đọc.
Cạnh Viện là bao người khác, vừa là “động lực”, vừa là nạn nhân của “con co giật”. Đó là Xinh, một cốt cán tích cực, bỏ Viện để lấy Kiệt ra thành phố ở. Nhưng Kiệt, người từng phải từ bỏ gia đình địa chủ ở quê, cũng không thể bỏ vợ cái con cột, Xinh lại phải trở về chốn cũ. Đó là những người nghèo vùng lên trong phút chốc nhưng lại không biết cách làm ăn, sống trong đống quả thực mà để nó điêu tàn. Đó là những tâm hồn không yên ổn vì lương tâm cắn rứt, những “lại quả” nghiệt ngã cuộc đời đem lại cho người đã trót làm điều ác. “Lịch sử hết thịnh đến suy hết suy đến thịnh. Nó là cánh đồng cũng dễ bạc màu, để cho nó phì nhiêu trở lại thường người ta phải tưới bằng máu. To tát quá, nhiêu khê quá. Cứ làm một con số không trong dãy số không đứng sau một con số có nghĩa như thế này cũng đủ rồi”. Đó là những lời tự sự của nhà văn. Đau đến thế, nghĩa là phải yêu quê hương đến thế nào...
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0
GIÓ VẪN LAY NGOÀI NGÀN DẶM

 
Hồ Anh Thái

 

Triệu Bôn là nhà biên tập đầu tiên viết thư trao đổi về bài vở với tôi. Đấy là năm 1978, tôi đang ngấp nghé trước cửa làng văn. Ngập ngừng mãi mới dám gửi một truyện ngắn cho tạp chí Văn nghệ Quân đội. Cũng đâu có dám trực tiếp gửi, một cậu bạn cùng lớp bảo “chị tớ là văn thư ở tạp chí, đưa chị tớ gửi cho”. Hai tháng sau, nhận được thư của nhà văn Triệu Bôn gửi về Đại học Ngoại giao, đại ý: kính gửi đồng chí... chúng tôi sẽ dùng truyện ngắn của đồng chí, đề nghị cho biết truyện đã in ở đâu chưa để chúng tôi tiện sử dụng, chào thân ái.
Những dòng chữ mực tím, màu mực anh Triệu Bôn thích dùng. Tôi vui mừng âm ỉ vì nhà văn Triệu Bôn khi ấy rất nổi tiếng với truyện ngắn Mầm sống lại xưng hô với mình như một đồng nghiệp ngang hàng, kính gửi kính thưa hẳn hoi. Lại hỏi truyện đã in ở đâu chưa, chứng tỏ truyện của mình “tầm cỡ” in được. Chỉ thế là đủ sướng đối với một cây bút trẻ còn đang hồi hộp chưa biết tác phẩm của mình có in được hay không.
Triệu Bôn phải thư từ nhắn nhủ mãi tôi mới dám mò đến toà soạn. Hồi ấy Văn nghệ Quân đội mỗi tháng chỉ có một số, bài vở phải xếp hàng lâu. Từ khi nhận được thư kính gửi đồng chí cho đến khi truyện in ra phải mất thêm nửa năm. Triệu Bôn thấy tôi đến thì gọi thêm các nhà văn Nguyễn Trọng Oánh, Hồ Phương, Dũng Hà... sang “xem mặt”. Ai cũng hồ hởi, đọc truyện cứ tưởng cậu là giáo viên bốn chục tuổi, ai ngờ là sinh viên năm thứ nhất như thế này. Triệu Bôn xem ra là người phấn khởi nhất, như thể anh nhận hết những lời khen ấy về mình.
Từ đó tôi hay lui tới thăm anh. Trong căn phòng ở tầng hai nhà số 4 Lý Nam Đế, tôi được trò chuyện với Triệu Bôn, tiếp nhận nhiều kinh nghiệm về nghề văn, nghe anh bộc lộ quan điểm về các tác phẩm mới. Ví dụ lúc ấy người ta đang tìm đọc Daghestan của tôi, thì anh bảo Rasun Gamzatov viết lý luận văn học một cách dễ đọc và hơi đơn giản. Rồi anh nói về Chiến bại của Fadeev, một tác phẩm “ngột ngạt” đến mức đọc xong mà nửa đêm anh phải mở toang cửa sổ ra. Rồi anh góp ý cho tác phẩm của tôi. Truyện này viết gầm gào bi kịch hóa. Truyện kia thì nhân vật đặt tên toàn hai chữ, kiểu như Huệ Tâm, Lê Hân, cứ như cậu ấm cô chiêu, lối đặt tên của Tự lực văn đoàn đời cũ. Thời gian qua lâu rồi, nhưng điều này tôi vẫn giữ lại tới bây giờ, rất dị ứng với lối đặt tên nhân vật đầy tính tiểu tư sản. Tôi nhìn con người điềm đạm của anh mà kính trọng. Yêu mến nữa. Tôi viết cả truyện ngắn tặng anh. Nhưng Triệu Bôn không bao giờ đem truyện ấy ra mổ xẻ, không nhắc gì đến nó. Cảm ơn anh đã trân trọng tình cảm thực của tôi mà không chê bai nó như với một bản thảo gửi cho anh biên tập.
Sau này Triệu Bôn chuyển sang làm báo Người Hà Nội ngay từ số đầu tiên. Tôi vẫn còn thỉnh thoảng đến thăm anh ở 19 Hàng Buồm. Rồi tôi đi xa lâu lâu. Gần mười năm sau trở lại, như gặp một người khác. Một ông già hom hem, cái yếu đuối thể chất ăn sang cả phong độ. Rụt rè hỏi em có làm báo phải không, bảo cho anh cách viết báo với. Sao sự thể lại xoay ra thế, anh là “người thầy đầu tiên” của tôi, bây giờ lại run run hỏi tôi dạy anh viết báo kiếm sống? Không dám. Không bao giờ. Tôi chỉ dám đặt bài anh, đến nhận, đưa báo này không in thì chuyển sang báo khác, in bằng được thì thôi. Nghe nói anh đã ốm đau nằm liệt, thành ra một ông già như thế. Ở một cuộc họp, có nhà thơ nữ gần tứ tuần chào anh bằng bác, rồi quay sang nhà thơ Vân Long chào anh. Vân Long cười, nhắc: Bác Triệu Bôn ấy kém anh Vân Long này những bốn tuổi đấy. Chỉ đôi khi mới thấy lại dáng vẻ của nhà văn Triệu Bôn khi tôi mười tám tuổi thập thò đến gặp anh lần đầu. Sau khi ở báo Người Hà Nội, anh chuyển sang làm Tổng biên tập tạp chí Du lịch, rồi về hưu từ Tổng cục Du lịch. Trong vòng quay công chức nghe đâu không phải lúc nào anh cũng giữ được sự trầm tĩnh điềm đạm như tôi thấy ngày đầu. Sau trận ốm thập tử nhất sinh, Triệu Bôn như lui về một thế giới khác. Thảng hoặc anh có lấy làm tiếc về đôi điều nào đó, cả công lẫn tư. Trùm lên tất cả là một cảm giác hư vô, tiếc cho mình đã có lúc mất thời gian vào mọi chuyện phù vân.
Hơn mười năm qua, Triệu Bôn viết khác hẳn. Không còn là Triệu Bôn viết về chiến tranh, khốc liệt. Không còn là Triệu Bôn viết về cái đời thường, thô mộc. Anh đã mấp mé chạm đến ranh giới giữa thực và ảo, tinh tế hơn. Mừng cho anh lắm. Năm 2002 Hội Nhà văn Hà Nội trao giải thưởng hàng năm cho tập Ngồi một chỗ thấy ngoài ngàn dặm là ghi nhận nỗ lực làm mới mình của Triệu Bôn. Giải thưởng ấy là nhân duyên. Bởi vì nếu năm nay sách anh mới ra thì Hội không có được may mắn tặng giải khi anh đang sống nữa.
Trong tập ấy có truyện Gió lay cửa Phật ám ảnh mãi. Ngôi chùa có hai người đàn bà - một bà sư thầy và một “chú” tiểu. Cuộc sống của họ bắt đầu xao động khi có một người đàn ông ngày nào cũng đến đứng trước cổng chùa nhìn vào. Xót xa, tiếc nuối, sám hối... đủ mọi sắc độ tình cảm. “Chú” tiểu mới là một thiếu nữ đôi mươi, chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra. Chỉ có bà sư và người đàn ông kì dị kia hình như là biết, nhưng chẳng ai nói... Bây giờ nhắc đến truyện này, cầu mong Triệu Bôn thanh thản mà đi. Mọi tiếc nuối, mọi uẩn khúc nỗi niềm xin để lại trần gian, chẳng việc gì phải nặng nợ ôm giữ mang theo.
Nếu quả thật có một kiếp tái sinh như trong những truyện cuối đời anh viết thì xin gửi những dòng này theo anh. Giống như thư anh gửi cho tôi hai mươi lăm năm trước, tôi xin trân trọng đặt bút: Kính gửi đồng chí Triệu Bôn.
HẾT
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0
TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN TRIỆU BÔN
Đã mang vào thư viện
Cảm ơn và vhúc hoi_Ls nhiều vui vẻ và an lành nha




Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0
«« « 1 2 » »»