Chương 22
Người chép hai bản
Hai ngọn đèn cùng cháy, nhưng chỉ một ngọn có bóng người.
Người chép ngồi giữa hai chiếc chiếu, lưng còng xuống như muốn
dùng chính thân mình che những bó thẻ vừa úp. Ngọn đèn bên trái sáng vàng và đứng
lửa. Ngọn bên phải bị chụp bằng một mảnh gốm khoét khe, ánh sáng chỉ lọt ra
thành một vệt mảnh bò trên nền đất. Khi Thanh bước qua ngưỡng cửa, bàn tay người
chép vẫn đặt trên bó thẻ bên phải. Những ngón tay gầy run đến mức sợi dây buộc
thẻ rung lách cách.
Dực vào sau nàng. Mùi tro ngoài đồng theo áo anh ta tràn vào
gian chép.
“Tạc, mở hai bó thẻ ra.”
Người chép không nhúc nhích.
“Cai đội về sớm hơn lệ thường.”
“Ta không hỏi lệ.” Dực đặt mũi giáo xuống sát vách. “Mở ra.”
Tạc nhìn Hùng, rồi nhìn thẻ công vụ bên hông chàng. Ánh mắt
ông dừng ở Thanh lâu hơn, có lẽ vì nàng là người duy nhất không nhìn hai bó thẻ
như nhìn tang vật. Nàng đang nhìn hai ngọn đèn.
“Ngọn bên phải dùng để làm gì?” Thanh hỏi.
“Để hong thẻ khi trời ẩm.”
“Thẻ đang khô nằm bên trái.”
Tạc khép bàn tay quanh bó thẻ bên phải.
“Tôi đặt nhầm.”
Tánh ló đầu qua vai Vịnh. Tro trên tóc nó chưa phủi hết, cổ
tay vẫn quấn đoạn dây Hùng vừa cho. Nó hít một hơi rồi nhăn mũi.
“Đèn ấy không đốt cùng dầu.”
Tạc giật mình.
Dực quay sang nó. “Công Tự biết cả dầu đèn?”
Tánh định ưỡn ngực, nhưng bắt gặp ánh mắt Hùng thì quay sang
chàng:
“Địa ngửi thấy nhựa thông. Ngoài đồng, ba ụ lửa cũng có mùi ấy.”
Hùng không khen, chỉ hỏi: “Mày chắc không?”
“Can lại gần mà ngửi.”
“Nếu Can ngửi rồi thấy sai?”
Tánh liếc ngọn đèn, vẻ quả quyết chùng xuống một chút. “Thì
Địa lau đèn một tháng.”
Vịnh khịt mũi. “Lời thề rẻ quá. Mày có phải người lau đâu.”
Không khí căng trong phòng rạn ra một đường nhỏ. Một người
lính đứng ngoài cửa suýt bật cười rồi vội cúi mặt. Chỉ Tạc không cười. Mồ hôi ở
thái dương ông đã chảy xuống cằm.
Thanh bước đến, dừng cách chiếc chiếu một sải.
“Đoàn không lấy thẻ khi chưa biết chúng là gì. Nhưng nếu Thiết
tiếp tục che, cai đội sẽ coi đó là vật cần giữ.”
“Điển Tri Sứ đã nhìn thấy gì?” Tạc hỏi.
“Một người sợ hai bó thẻ bị đặt cạnh nhau.”
“Chỉ vậy?”
“Và một ngọn lửa được che để người trong phòng thấy, còn người
ngoài không thấy.”
Tạc cúi nhìn vệt sáng mảnh trên nền đất. Ông thở ra, nhưng
bàn tay vẫn không rời bó thẻ.
Dực mất kiên nhẫn.
“Tạc, Thiết định để ta gọi người giữ kho tới tự mở sao?”
Người chép ngẩng phắt lên. Nỗi sợ trong mắt ông đổi khác:
không còn là sợ bị bắt gặp, mà là sợ một cái tên vừa được nhắc tới.
Hùng nhìn thấy sự thay đổi ấy.
“Khoan gọi.”
Dực quay lại. “Khảo Tri Sứ, hai bản ghi cùng một việc là dấu
gian. Trạm có lệ giữ người, niêm thẻ rồi xét.”
“Nếu niêm cả hai ngay lúc này, ai giữ chìa?”
“Trưởng trạm.”
“Người giữ kho có được vào nơi niêm không?”
Dực im lặng.
Tạc nhắm mắt. Chỉ một nhịp ấy đã đủ trả lời thay anh ta.
Hùng tháo thẻ công vụ đặt xuống nền, không đưa cho ai.
“Ta không cản trạm xét việc. Nhưng đoàn vừa nhìn thấy chỗ
không khớp dính tới số giống đã giao ngoài ruộng. Lấy phận Khảo Tri Sứ, ta buộc
mọi thứ giữ nguyên tại chỗ cho tới khi Điển Tri Sứ ghi xong mọi vật như lúc mới
thấy. Không ai mang thẻ đi. Cũng không ai đốt.”
Ở câu cuối, Tạc mở mắt.
Ngọn đèn bị che khẽ nổ một tiếng rất nhỏ.
• • •
Gian chép chỉ đủ cho sáu người ngồi. Dực cho lính đứng ngoài
cửa; Hùng để Du và Vịnh canh hai lối, còn Bách đưa Tánh ra hiên xem lại cổ
chân. Khuyết cùng người coi lương và hai người gánh giữ hòm đá ở gian khách bên
kia sân. Tánh đi được ba bước thì quay lại.
“Địa không đau nữa.”
“Mày vừa bảo hơi rát.” Thanh nói.
“Hơi rát không phải đau.”
“Ra cho Thiết Bách xem.”
“Kỷ ở trong này, nhỡ họ đổi thẻ thì sao?”
“Kỷ có mắt.”
“Nhưng Địa có mũi.”
Thanh nhìn mặt nó lem tro, muốn nghiêm mà không nghiêm nổi.
“Vậy để cái mũi ở ngoài cửa. Có mùi cháy thì gọi.”
Tánh bặm môi, nhưng vẫn theo Bách. Trước khi đi, nó cẩn thận
nhét mối dây đang quấn cổ tay vào trong ống tay áo, như sợ chỉ cần lơ đãng một
chút thì bài học ở ruộng sẽ tuột mất.
Thanh ngồi xuống giữa hai chiếc chiếu. Nàng không mở bó nào
trước. Nàng lấy trong túi ra ba thanh gỗ trơn, đặt song song.
“Thanh thứ nhất ghi những gì đang có trong phòng. Thanh thứ
hai ghi lời của Thiết Tạc. Thanh thứ ba ghi lời của cai đội. Khi lời nào chưa
khớp vật, ta để trống, không ép chúng thành một.”
Dực cau mày. “Sao không đọc thẻ rồi biết?”
“Vì đọc trước sẽ khiến mọi câu sau chạy theo chữ đã thấy.”
“Chữ ghi việc. Người mới nói dối.”
Tạc bật ra một tiếng cười không vui. “Chữ cũng do người viết.”
Dực nhìn ông, quai hàm cứng lại.
Hùng ngồi dựa vách, để Thanh dẫn việc. Chàng thấy Dực nhiều
lần nhìn sang mình như chờ người mang thẻ công vụ sẽ ra lệnh. Nhưng đây là nơi
của số đếm, vết dao khắc và thứ tự bó thẻ; nếu chàng giành lời chỉ vì người
khác đang chờ, chàng sẽ biến chức trách thành tiếng nói lớn hơn chứ không phải
cách nhìn rõ hơn.
Thanh chỉ ngọn đèn bên trái.
“Dầu gì?”
Tạc đáp: “Dầu hạt.”
“Ai cấp?”
“Kho trạm.”
Nàng chỉ ngọn bên phải.
“Còn ngọn này?”
“Nhựa thông trộn dầu cũ.”
“Ai cấp?”
Tạc chậm rãi lắc đầu. “Không ai cấp.”
“Thiết tự làm?”
“Phải.”
“Để hong thẻ?”
Ông không đáp.
Thanh ghi một nét ngắn lên thanh thứ hai, rồi nhìn các nút
dây. Bó bên trái buộc bằng dây gai vàng, nút quay ra ngoài. Bó bên phải buộc bằng
dây sẫm màu, nút giấu dưới đáy. Mép thẻ bên trái sạch, mép thẻ bên phải có một
lớp muội mỏng như đã nhiều lần được đưa qua ánh lửa.
Nàng chưa chạm vào.
“Một bó dùng để người khác mở. Một bó dùng để chính Thiết mở.”
Tạc nói rất khẽ: “Điển Tri Sứ đã biết thì cần gì hỏi tôi?”
“Ta biết cách chúng được giữ. Chưa biết vì sao.”
Dực khoanh tay. “Vì người ấy gian.”
“Có thể.” Thanh quay sang anh ta. “Cũng có thể Thiết ấy sợ
người khác gian. Ta đang tìm phần khác nhau giữa hai điều ấy.”
Dực định cãi, nhưng ngoài hiên bỗng vang lên giọng Tánh:
“Kỷ! Có mùi cháy!”
Mọi người cùng đứng bật dậy.
Tánh không chỉ vào hai ngọn đèn. Nó chỉ lên góc vách, nơi một
sợi khói mảnh như tóc đang chui vào khe mái.
• • •
Vịnh trèo lên xà trước. Vịnh dùng sống dao nạy một mảnh gỗ mỏng
giấu sau bó tranh. Bên trong không có lửa, chỉ có một ống đất nung nhỏ chạy chếch
lên mái. Khói nhựa thông từ ngọn đèn bị che men theo một máng gốm, luồn vào ống
rồi thoát ra ở đỉnh gian chép.
Dực bước ra sân, ngửa cổ nhìn.
Từ dưới đất không thể thấy làn khói. Nó bị mái cao xé mỏng,
lẫn vào hơi sương cuối ngày. Chỉ khi đứng ở gò phía tây và nhìn ngang với nó,
người ta mới nhận ra.
“Thiết báo cho ai?” Dực hỏi.
Tạc đứng ở ngưỡng cửa, hai vai rũ xuống.
“Không báo gì cả.”
“Ba doi đất ngoài ruộng dùng lửa gọi người. Thiết cũng đốt
nhựa thông, dẫn khói lên mái rồi bảo không báo?”
“Khói này vẫn lên mỗi tối.”
“Cho ai nhìn?”
Tạc cắn môi đến bật máu.
Tánh nheo mắt về phía tây. Sau hai gò thấp là một dải cây sẫm
màu. Trên đỉnh dải cây có một chấm sáng vừa lóe rồi tắt. Nó kéo tay áo Hùng.
“Can, bên kia có lửa.”
Hùng nhìn theo nhưng không thấy gì.
“Ở đâu?”
“Trên gò. Vừa mở rồi che lại.”
Dực ra hiệu cho một lính chạy lên ụ canh. Người lính mới đi
được vài bước thì Tạc quỳ xuống.
“Xin đừng tới đó.”
Giọng ông vỡ ra. Không còn chút quanh co nào của người giữ
chữ, chỉ còn sự hoảng hốt của một người Quân biết bước lính đã hướng về phía
nhà mình.
Hùng giơ tay ngăn người lính.
“Ai ở trên gò?”
“Vợ tôi và Ấu.”
Dực sững lại. “Nhà Thiết ở xóm Mù U, dưới bãi.”
“Nhà cũ. Từ mùa kho mất giống, họ không ở đó nữa.”
“Ai đưa họ lên gò?”
Tạc nhìn về gian kho nằm khuất sau hàng cọc. “Người giữ
kho.”
Gió thổi qua sân trạm, mang theo mùi rơm cháy từ cánh đồng.
Hùng nhớ bàn tay Tạc đặt trên bó thẻ, nhớ ánh mắt ông khi Dực định gọi người giữ
kho. Bây giờ nỗi sợ đã có hình: một người Thị và một Ấu trên gò, nhìn mái trạm
chờ làn khói mỗi tối.
“Khói nói điều gì?” Thanh hỏi.
“Còn khói là tôi vẫn ở đây. Khói tắt trước lúc trăng lên
nghĩa là họ phải rời gò, đi theo khe cạn về phía nam.”
“Nếu khói lên hai lần?”
Tạc nhìn nàng, kinh ngạc vì nàng đoán trúng.
“Có người đang xét thẻ. Họ phải giấu mình.”
Dực chỉ ngọn đèn. “Tối nay Thiết chưa đốt hai lần.”
“Tôi không kịp.”
Trên gò, chấm lửa lại lóe lên, lần này lâu hơn. Tánh thấy rõ
một tấm che được nhấc khỏi ngọn lửa rồi hạ xuống. Một tiếng gì nghèn nghẹn
trong cổ nó.
“Họ đang hỏi.”
Không ai cần giải thích nó hỏi điều gì.
Dực nhìn Hùng. “Nếu cho người ấy báo, người trên gò có thể
mang bằng cớ đi.”
“Nếu không cho báo, họ sẽ bỏ chạy,” Hùng nói. “Lúc ấy mới thật
sự có người mang thứ gì đó đi.”
“Khảo Tri Sứ tin người ấy?”
“Không. Thiết ấy đang sợ cho Cơ Ấu. Với người đang sợ đến thế,
ta chưa cần tin, chỉ cần đừng dồn thêm.”
Hùng quay sang Tạc.
“Thiết thắp lửa hiệu như mọi tối. Một lần. Không thêm.”
Tạc nhìn chàng không chớp. “Nếu sau đó Khảo Tri Sứ vẫn bắt
tôi?”
“Ta chưa hứa thả Thiết.”
“Còn họ?”
“Ta hứa không dùng người nhà Thiết để buộc Thiết nhận một lời
chưa được xét.”
Dực hít mạnh, rõ ràng không thích một lời hứa được đưa ra
trước khi anh ta đồng ý. Nhưng rồi anh ta quay sang lính.
“Không ai lên gò. Hai người canh khe cạn, đứng xa đến khi có
lệnh. Không được chạm vào người trên đó.”
Tạc cúi đầu. Khi ông trở vào châm thêm nhựa thông, hai bàn
tay vẫn run. Tánh đứng cạnh cửa, nhìn vệt khói luồn vào ống đất. Lửa bị che dưới
mảnh gốm nhỏ đến mức chỉ đủ đỏ một quầng quanh tim bấc, vậy mà ở gò xa, một người
khác đang sống nhờ biết nó chưa tắt.
Nó nói như tự hỏi:
“Lửa bé thế mà giữ được người à?”
Thanh đáp: “Không phải ngọn lửa giữ. Là lời người ta đã hẹn
với nhau qua ngọn lửa.”
Tánh nhìn nàng. “Nếu một người không giữ lời?”
“Thì lửa vẫn cháy, nhưng không còn là hiệu nữa.”
Trên gò, chấm sáng hiện lên lần cuối rồi biến mất. Tạc ngồi
bệt xuống nền, nước mắt chỉ dâng ở viền mắt chứ không rơi. Ông đã gửi được một
lời bình an, nhưng cũng hiểu từ giờ mọi điều còn lại phải nói bằng miệng.
• • •
Bó thẻ bên trái được mở trước.
Thanh bảo Tạc không đọc thành lời. Nàng tự xem từng thẻ, còn
Hùng đặt những viên sỏi thành hàng theo số nàng đọc. Dực ngồi đối diện, dùng
mũi dao khía số tương ứng lên một thanh gỗ mới. Cùng một con số phải hiện bằng
ba cách: nét khắc trên thẻ, sỏi trên nền và vết khía trước mắt mọi người.
Tánh được cho trở vào sau khi Bách buộc cổ chân nó bằng một
dải vải mỏng. Nó ngồi cạnh đống sỏi, nhận việc chuyển từng viên theo lời Thanh.
Lần đầu nó đẩy quá nhanh, ba viên lăn lẫn vào nhau.
“Lại.” Thanh nói.
“Địa nhớ là tám.”
“Kỷ không cần mày nhớ. Kỷ cần người khác nhìn thấy vì sao là
tám.”
Tánh nhặt từng viên về, lần này đặt thành hai hàng bốn. Nó
làm chậm đến mức Dực sốt ruột gõ ngón tay lên đầu gối, nhưng không ai thúc.
Bản đóng dấu trạm ghi hai mươi bảy khoảnh, mỗi khoảnh nhận
ba giỏ giống. Tổng cộng tám mươi mốt giỏ. Người nhận được chia thành chín nhóm,
dưới mỗi nhóm là ba dấu tay đất nung đã in lên đầu thẻ. Ở phần ghi vụ cháy, thẻ
trạm nói người làng đốt mạ sau khi đã nhận đủ giống; thời điểm được ghi là đêm
qua.
Thanh dừng ở dấu thứ tư.
“Dấu này giống dấu thứ nhất.”
Dực cúi sát. “Người cùng nhà có thể dùng cùng dấu.”
“Không phải hình dấu. Vết nứt ở mép đất giống nhau.”
Nàng đưa hai thẻ cạnh ngọn đèn. Một đường nứt mảnh chạy từ
góc dấu vào giữa, ngoằn ngoèo như rễ khô. Trên thẻ thứ nhất, vết nứt hướng lên.
Trên thẻ thứ tư, nó cũng hướng lên, cả chỗ sứt nhỏ ở đầu đều trùng khít.
“Cùng một miếng đất dấu được ép hai lần,” Hùng nói.
Tạc cúi đầu thấp hơn.
Dực giằng lấy hai thẻ, nhưng Thanh giữ lại.
“Đừng bẻ mép.”
“Ai đóng?”
Tạc không đáp.
Dực nhìn thẳng ông. “Người giữ kho?”
“Tôi đóng.”
“Thiết vừa nhận mình làm giả dấu của dân?”
Tạc siết hai bàn tay vào nhau. “Tôi đóng.”
“Vì ai ra lệnh?”
“Không ai.”
Dực đứng bật dậy. Chiếc ghế thấp đổ ra sau.
“Thiết tưởng nhận hết thì cứu được ai? Tám mươi mốt giỏ giống
đã được ghi ra khỏi kho. Ngoài ruộng chỉ có một phần ba. Hai phần còn lại đi
đâu?”
Tạc nhìn ngọn đèn bị che, không nhìn Dực.
Thanh đặt thẻ xuống.
“Mở bó thứ hai.”
“Không.”
“Nếu Thiết không mở, cai đội sẽ mở.”
“Thà để cai đội mở.”
Dực cười gằn. “Khác gì?”
“Khác.” Tạc ngẩng lên. “Nếu tôi tự mở, nghĩa là tôi nhận nó
thuộc về mình.”
Thanh hiểu trước Hùng. Bó thứ hai không chỉ là bản chép giấu.
Nó là vật người khác đã đặt vào tay Tạc; tự nhận sở hữu có thể biến ông thành
người duy nhất chịu tội.
Nàng hỏi: “Ai buộc nút?”
Tạc im lặng.
“Vợ Thiết?”
Mí mắt ông giật nhẹ.
Dực đã nhìn thấy.
“Vậy người trên gò giữ bản này?”
“Không.” Tạc nói quá nhanh. “Người ấy không biết chữ.”
“Không biết chữ vẫn biết buộc dây.”
Hùng dựng lại chiếc ghế cho Dực, nhưng anh ta không ngồi.
“Cai đội,” chàng nói, “nếu cai đội muốn lời sau còn đáng
nghe, đừng dùng tên người vắng mặt để ép.”
“Khảo Tri Sứ vừa hứa che cho họ.”
“Che cho họ khỏi bị dùng làm dây siết, không phải xóa họ khỏi
việc đã làm.”
Dực nhìn chàng hồi lâu rồi quay mặt đi. Sự giận dữ vẫn còn,
nhưng mũi giáo dựng ở vách không được nhấc lên.
Thanh lấy một sợi dây mới đặt cạnh bó thẻ.
“Thiết Tạc, Thiết không cần nhận bó này là của mình. Thiết
chỉ cần nói ai đã giao việc chép nó cho Thiết.”
Tạc nhìn sợi dây mới. “Nếu tôi nói, người ấy sẽ bị bắt.”
“Nếu Thiết không nói, người trên gò sẽ bị nghi trước.”
Một cơn co chạy qua mặt ông. Cuối cùng, ông nói:
“Già Thị Vối.”
Dực lùi nửa bước như vừa bị đánh.
“Già Thị ấy không biết chữ.”
“Già Thị ấy không chép. Người của chín xóm đọc số, tôi chép
lại. Mỗi lần một ít. Già Thị Vối giữ dây và thứ tự thẻ. Đêm qua vợ tôi buộc
chúng thành bó.”
“Ai cho vợ Thiết xuống trạm đêm qua?”
Tạc không trả lời.
Ngoài sân có tiếng chân dồn dập. Một lính xông vào, thở
không ra hơi.
“Cai đội, Quản kho Vựa tới. Có mười hai người theo sau.”
Tạc nhắm mắt.
Ngọn lửa dưới chụp gốm co lại, chỉ còn một hạt đỏ.
• • •
Quản kho Vựa là một người thấp, cổ dày, tóc buộc gọn đến mức
không một sợi rơi khỏi vành khăn. Ông ta không mang giáp. Hai người đi cạnh
mang một hòm dấu, bốn người khác mang giáo; số còn lại là phu kho cầm đòn gánh.
Nhìn từ xa, đó có thể chỉ là một toán tới chuyển thóc. Chỉ có cách họ tản ra chặn
sân mới làm rõ họ không đến vì thóc.
Vựa dừng trước bậc cửa.
“Cai đội Dực, nghe nói trạm có kẻ giấu thẻ.”
Dực bước ra. “Ai báo?”
“Người của kho. Trước lúc tối, người ấy thấy Tạc mang một bó
dây sẫm vào gian chép. Sau đó đoàn của Kinh tới, còn khói trên mái lại lên muộn
hơn giờ thường lệ. Tạc chưa từng sai giờ.”
Từ trong gian chép, Tạc tái mặt. Hùng cũng nhìn lên ống
khói. Làn khói hiệu dùng để giữ Cơ Ấu của Tạc bình an đã bị người của kho dõi
theo từ lâu. Chỉ một lần lên khói sai giờ cũng đủ biến lời báo bình an thành dấu
báo động cho phía khác.
Vựa thấy thẻ công vụ đặt giữa nền.
“Khảo Tri Sứ và Điển Tri Sứ cũng ở đây. Càng tốt. Xin làm chứng
cho trạm bắt người gian.”
Hùng bước ra hiên nhưng không xuống sân.
“Việc gì đã được xét ra là gian?”
“Một người chép giữ hai bản cho cùng số ruộng.”
“Quản kho chưa nhìn thẻ.”
“Không cần. Lệ chỉ cho một bản đóng dấu.”
Thanh đứng sau Hùng. “Nếu chỉ được một bản, vì sao quản kho
biết có hai?”
Vựa liếc nàng. “Bó đóng dấu vẫn nằm trên chiếu. Bó dây sẫm
được mang vào sau. Hai bó vào cùng một gian, ta còn phải gọi chúng là một sao?”
“Người của quản kho đứng canh Tạc?”
“Ta đứng canh số giống của kho.”
Một vài phu kho đổi tay trên đòn gánh. Vựa không quay lại,
nhưng giọng lạnh đi.
“Điển Tri Sứ đang xét lời ta?”
“Ta đang hỏi đường một tin kín đi nhanh hơn người chạy.”
Dực nhìn quản kho. “Quản kho đặt người nhìn mái trạm?”
Vựa cười nhạt. “Ta giữ giống cho ba trạm biên. Không nhìn trời,
không nhìn khói thì giữ bằng gì?”
“Khói ấy không thuộc lệ trạm.”
“Vậy càng là dấu gian.”
Ông ta giơ tay. Hai người mang hòm dấu bước tới.
“Niêm gian chép. Giữ Tạc. Thu cả hai bản về kho lớn.”
Dực không tránh đường.
“Đây là trạm Bãi Han.”
“Giống từ kho ta. Thẻ cũng từ kho ta.”
“Người ở đây do ta giữ.”
Khoảng sân im đi. Mười hai người phía sau Vựa siết lại đội
hình. Lính của Dực chỉ có tám, sau một ngày ngoài ruộng ai cũng mệt, chân còn bết
bùn. Hùng thấy bàn tay Dực trượt xuống cán giáo. Chỉ cần một người rút vũ khí,
sự thật trên thẻ sẽ lập tức nhỏ hơn mối nhục giữa hai toán người có chức trách
chồng lên nhau.
Tánh bước ra khỏi cửa. Nó không vượt lên trước Hùng như ở lối
bẫy thú dạo mới theo đoàn; nó đứng chếch sang bên, chừa khoảng cho chàng nhìn cả
sân. Hai tay nó buông, không nắm gì. Vài người phu kho nhìn đôi bàn tay lớn của
nó rồi vô thức lùi gót.
Hùng nói đủ lớn cho cả hai phía nghe:
“Không ai thu thẻ tối nay.”
Vựa nhìn chàng. “Khảo Tri Sứ lấy quyền gì giữ thẻ kho?”
“Ta không giữ thẻ kho. Ta giữ nguyên một dấu đang được khảo
xét trên đường công vụ do Kinh giao.”
“Thẻ của Công Tự không cao hơn dấu kho.”
“Đúng.” Hùng không chạm vào tấm thẻ dưới nền. “Vì vậy ta
không mang hai bó thẻ đi. Quản kho cũng không.”
Vựa cười, nhưng mắt không cười. “Nếu ta cứ lấy?”
Tánh hơi nghiêng người. Hùng không nhìn nó, chỉ nói:
“Mày đứng yên.”
“Địa đang đứng.”
“Đứng bằng đầu, không phải bằng vai.”
Tánh hít sâu. Hai vai đang gồng chậm rãi hạ xuống. Nó lùi nửa
bước về cạnh Vịnh. Cử động nhỏ ấy khiến Dực nhìn nó, rồi bàn tay trên cán giáo
của anh ta cũng lỏng đi đôi chút.
Thanh mang ba thanh gỗ ghi tình trạng ban đầu ra hiên.
“Có một cách không bên nào cần tin bên kia. Đọc hai bản tại
chỗ, ghi phần giống và phần khác lên thẻ mới. Bản gốc ở lại gian chép. Cai đội
giữ một dấu cửa, quản kho giữ một dấu, đoàn đặt sợi niêm thứ ba nhưng không giữ
chìa. Sáng mai mời người của làng và một trạm khác tới làm chứng.”
Vựa hỏi: “Còn kẻ chép hai bản?”
“Ở lại trạm, do cai đội giữ, không thuộc tay kho và cũng
không về làng.”
“Điển Tri Sứ đang cứu kẻ ấy.”
Thanh nhìn thẳng quản kho. “Ta chỉ không muốn ngày mai người
ta bảo lời Thiết ấy do bị ép mà có.”
Một phu kho phía sau cúi mặt. Vết bầm tím lộ dưới vành tai
anh ta. Thanh thấy, Vựa cũng thấy nàng đã thấy.
Gió tối thổi mạnh hơn. Ngọn đèn thường trong gian chép chao
qua chao lại, còn ngọn bị che chỉ đỏ yên dưới mảnh gốm. Lửa lớn làm bóng người
trên sân rung dữ dội; lửa nhỏ gần như không tạo bóng, nhưng không tắt.
Vựa nhìn hạt lửa đỏ dưới chụp gốm, vẻ giễu cợt trên mặt chậm
rãi rút đi.
“Các người tưởng ta giấu giống để lót nhà sao? Mùa trước ta
báo mười bốn giỏ mốc. Kho trên không bù, còn cắt chuyến sau vì bảo Bãi Han giữ
kém. Ba trạm biên phải trộn cỏ vào gạo suốt nửa tháng. Năm nay ta ghi đủ để
chuyến giống sau vẫn được chuyển. Phần thóc hỏng đổi lấy muối, đinh đồng và thuốc
ngựa. Không thứ nào vào nhà ta.”
Dực nhìn ông ta, cơn giận trong mắt pha thêm một thoáng do dự.
“Nhưng phần thiếu lại đổ lên đầu làng.”
“Ta chọn để ruộng gieo chậm còn hơn ba trạm biên trống.”
Hùng nói: “Quản kho có thể sợ biên trống. Nhưng dùng Cơ Ấu
nhà người chép để giữ người chép im lặng không phải là giữ biên.”
Vựa siết quai hòm dấu. Những khớp tay trắng ra, nhưng ông ta
không phủ nhận.
Dực nói trước:
“Trạm nhận cách ấy.”
Vựa nhìn quân số hai phía, nhìn Tánh, rồi nhìn thẻ công vụ vẫn
nằm nguyên trên nền. Cuối cùng ông ta gật đầu.
“Kho nhận, với một điều: bản chép mới phải có đủ tên.”
Tạc bật dậy. “Không!”
Mọi ánh mắt dồn vào ông.
Vựa mỉm cười rất nhẹ. “Người chép sợ gì? Nếu lời ngay, tên
ngay.”
Tạc lao về phía ngọn đèn bị che.
Tánh ở gần nhất. Nó có thể chụp vai ông và quật xuống chỉ bằng
một tay. Nhưng ngay khoảnh khắc Tạc vươn tới lửa, Tánh nhớ bùn dưới ruộng, nhớ
tiếng Bách quát đừng giật khi đất còn rỗng. Nó không túm người. Nó giật tấm chiếu
dưới chân Tạc.
Người chép mất thăng bằng, ngã ngồi xuống. Ngọn đèn vẫn
nguyên. Hùng kịp dùng nắp gốm úp lên, dập lửa mà không làm dầu đổ vào thẻ.
Mùi nhựa thông phụt lên cay xè.
Tạc không chống cự. Ông ngồi dưới đất, hai bàn tay ôm mặt.
“Nếu ghi đủ tên, họ chết.”
Không ai hỏi “họ” là ai. Trên gò phía tây, bóng tối đã nuốt
mất chấm lửa.
• • •
Khi chỉ còn Dực, Hùng, Thanh và Tạc trong gian chép, người
đàn ông mới chịu nói.
Mùa nước trước, kho lớn nhận giống từ ba Bộ chuyển tới. Số
thẻ nhập đúng, nhưng giỏ giống thật thiếu gần một phần tư vì nhiều giỏ bị ẩm và
mốc dọc đường. Quản kho Vựa không báo thiếu. Ông ta bắt các trạm chia đủ theo số
trên thẻ, dùng thóc cũ trộn vào và ghi phần hao hụt thành giống đã giao cho
dân.
“Vậy hai phần ba giống của Bãi Han không ở đâu cả?” Dực hỏi.
“Một phần chưa từng tới,” Tạc đáp. “Một phần nằm trong kho
dưới tên lương biên. Phần còn lại được đổi lấy muối và đồ đồng.”
“Thiết biết mà vẫn đóng dấu?”
“Tôi biết sau lần giao thứ hai.”
“Sao không báo trưởng trạm?”
Tạc nhìn Dực. “Trưởng trạm nhận lương từ kho.”
Dực đỏ mặt. “Ta hỏi sao không báo ta.”
“Cai đội giữ giáo, không giữ dấu.”
Câu trả lời đánh trúng nơi anh ta đau nhất. Dực quay đi. Suốt
ngày anh ta đứng giữa ruộng tưởng mình giữ lệnh, đến tối mới biết lệnh đã được
nắn từ trước khi tới tay.
Thanh hỏi: “Vợ Thiết dính vào việc này thế nào?”
Tạc nuốt khan.
“Nàng tên Nghi. Nàng phụ cân giỏ ở kho. Khi thấy thóc mốc được
trộn vào, nàng lén đánh một vết tam giác dưới đáy những giỏ ấy. Quản kho phát
hiện. Người ấy bắt nàng đóng dấu nhận đủ cho chín xóm. Nàng không chịu.”
“Vì thế họ đưa hai Cơ Ấu lên gò?”
“Họ gọi đó là giữ người chờ xét. Không khóa chân, không có
lính đứng ngay cửa. Nhưng mọi đường xuống đều qua người của kho.”
“Còn bản thứ hai?”
“Nghi nhớ số vết đã đánh. Già Thị Vối cùng người chín xóm nhớ
số giỏ thật họ nhận. Tôi chép từng mảnh, giấu dưới đáy hòm. Đêm qua Nghi được
cho xuống trạm để ép tôi sửa nốt tên người nhận. Nàng lấy các mảnh dưới đáy hòm
ra, buộc thành bó rồi bảo: nếu nàng không còn về được, ít nhất phải còn một bản
biết hạt giống đã đi đâu.”
Giọng Tạc khàn đặc. “Tôi giữ bản ấy để cứu nàng. Nhưng bản ấy
cũng ghi tên ba phu kho đã giúp chuyển thóc trả lại cho các xóm. Nếu tên lộ, họ
bị xử trước khi ai kịp hỏi vì sao.”
Hùng nhớ vết bầm dưới tai người phu đứng sau Vựa.
“Một trong ba người đang ở ngoài sân?”
Tạc không đáp. Lần im lặng này không phải lẩn tránh; đó là
phần duy nhất ông còn có thể che cho người khác.
Thanh đặt tay lên bó thẻ thứ hai.
“Nếu đoàn mang bản gốc đi, quản kho sẽ nói Thiết làm giả sau
khi kho giao đủ.”
“Phải.”
“Nếu để lại không niêm, nó sẽ cháy.”
“Phải.”
“Nếu ghi nguyên tên vào bản đối chiếu, người giúp dân sẽ bị
bắt.”
Tạc cúi đầu. “Phải.”
Dực đập nắm tay vào vách. “Vậy làm gì cũng sai?”
Thanh nhìn ba thanh gỗ nàng đã chuẩn bị. Trên thanh thứ nhất
là những gì có trong phòng. Thanh thứ hai là lời Tạc. Thanh thứ ba mới chỉ có
vài nét của Dực.
“Không. Chỉ là không có cách nào vừa giữ trọn bằng cớ, vừa
không để ai bị thương ngay.”
Hùng hỏi: “Bậu định làm thế nào?”
Thanh ngẩng lên. Giữa căn phòng đầy những lời buộc phải giấu,
việc chàng hỏi ý nàng thay vì tự quyết khiến ánh mắt nàng dịu đi, nhưng chỉ
trong thoáng chốc.
“Không chép tên vào bản mang đi,” nàng nói. “Chỉ chép số, thứ
tự giao, dấu trùng và chỗ vết tam giác dưới giỏ. Tên được thay bằng nút dây, mỗi
người tự giữ phần dây của mình. Khi có nơi xét đủ yên, các nút mới ghép lại.”
Dực phản đối: “Không có tên thì lấy ai đối chứng?”
“Có chín xóm, ba phu kho, Già Thị Vối, Thiết Tạc và vợ Thiết
ấy. Không ai giữ đủ tất cả. Muốn bẻ một lời, phải làm mười lăm người cùng im.”
“Còn bản gốc?” Hùng hỏi.
Thanh nhìn hai bó thẻ.
Nàng đã đi qua nhiều nơi để tìm chữ cũ, từng mong chỉ cần
mang được vật thật về thì sự thật sẽ an toàn. Nhưng ngay trước mắt, vật thật lại
là thứ dễ bị cướp nhất. Nếu đoàn lấy nó, Tạc và Nghi mất tấm chắn cuối cùng. Nếu
nàng cố giữ bằng quyền của mình, đoàn sẽ biến thành phe thứ ba giành vật, không
khác điều họ đang chống lại.
“Để lại,” nàng nói.
Tạc ngẩng lên không tin nổi.
“Điển Tri Sứ không lấy?”
“Không lấy.”
“Vậy đoàn đi khỏi, họ vẫn có thể đốt.”
“Cho nên không để sự thật chỉ nằm trong thẻ.”
Nàng chỉ đống sỏi, thanh khía của Dực và dây nút của các
xóm.
“Ngày mai, số sẽ được đọc trước nhiều người. Mỗi xóm mang một
giỏ có dấu đáy. Mỗi người giữ một đoạn lời. Bản gốc có thể mất, nhưng muốn xóa
việc đã xảy ra, họ phải xóa khỏi tay, khỏi mắt và khỏi trí nhớ của tất cả.”
Tạc nhìn nàng rất lâu. “Vậy khác gì đẩy mối nguy sang cho
nhiều người?”
“Khác ở chỗ họ được biết và tự chọn có giữ hay không.”
Căn phòng im xuống.
Ngoài sân, ai đó ho vì khói. Một tiếng gà lạc giờ vọng từ
xóm xa. Ngọn đèn thường đã cạn dầu, lửa dài ra rồi co lại. Không ai châm thêm.
Tạc đưa tay tháo nút dây sẫm màu.
“Tôi mở.”
• • •
Bản thứ hai không được viết đều tay.
Có thẻ mang nét Tạc, thẳng và sâu. Có thẻ chỉ có những vạch
đếm vụng về do người khác tự khắc. Một thẻ dính hạt thóc lép dưới lớp nhựa cây;
thẻ khác còn vết bùn của ruộng. Bản này không giống thẻ kho. Nó giống những bàn
tay không biết chữ đã lần lượt đặt dấu mình vào một việc sợ bị xóa.
Thanh đọc số; Tánh được gọi vào lại để đặt sỏi.
Hai mươi bảy giỏ giống chắc được giao cho hai mươi bảy khoảnh.
Chín giỏ thóc cũ trộn thêm nhưng có mùi mốc. Sáu giỏ khác được ba phu kho bí mật
chuyển ra sau đêm mưa. Tổng cộng bốn mươi hai. Vẫn còn ba mươi chín giỏ trong số
chính thức không có mặt ở ruộng. Các thẻ chép lời chín xóm lại ghi rằng làng bị
thúc gieo khi đất chưa đủ nước; ba ngày trước họ đốt rạ để tìm mạch rồi gieo lại.
Việc này trái với cách thẻ trạm gọi thứ bị đốt là mạ đã gieo.
Dực khía từng vạch lên thanh gỗ. Đến vạch thứ ba mươi chín,
tay anh ta dừng lại.
“Ba trạm biên đã tính lương dựa trên số này.”
“Nếu báo thiếu, lính biên lấy gì ăn?” Tạc hỏi.
“Nếu ghi thừa, tới mùa sau dân lấy gì gieo?”
Không ai trả lời được. Hai phía của cùng một cái đói nằm
trên hai bản thẻ: quân ngoài biên cần lương để giữ đường, dân trong ruộng cần
giống để còn mùa sau. Người giữ kho đã lấy sự thiếu hụt thật, che bằng con số đủ,
rồi bắt hai phía tranh nhau phần giống chưa được giao như thẻ đã ghi.
Tánh nhìn ba mươi chín viên sỏi để riêng.
“Địa không hiểu. Không có giỏ thì ghi có để làm gì? Chữ đâu
biến thành gạo.”
Hùng đáp: “Chữ không biến thành gạo. Nhưng nó có thể buộc
người chưa từng thấy kho tin rằng gạo đã được giao.”
“Rồi khi người ta đói?”
“Mỗi bên sẽ tưởng bên kia lấy mất.”
Tánh nhìn Dực, rồi nhìn về phía cánh đồng nơi bà Vối đang ở.
Ban sáng họ đứng sau hàng giáo, ai cũng tin người kia làm hỏng phần sống của
mình. Nó gom ba mươi chín viên sỏi lại thành một đống, nhưng không đẩy về phía
nào.
“Vậy cái không có lại làm người ta đánh nhau.”
Thanh nói: “Không có mà ghi thành có mới khiến người ta đánh
nhau.”
Tánh im lặng. Nó lấy một viên sỏi nhỏ đặt lên trên đống, như
đánh dấu điều cần nhớ.
Khi đọc tới những thẻ cuối, Thanh tìm thấy ba ký hiệu tam
giác. Chúng không nằm cạnh tên. Mỗi dấu đi với một giờ khác nhau của đêm và một
loại nút dây. Nàng sao chúng sang bản đối chiếu, không hỏi ai tương ứng với dấu
nào. Hai cách ghi vụ cháy được đặt cạnh nhau dưới tên từng nguồn; nàng chưa
đánh dấu cách nào là sự thật cuối cùng. Tấm thẻ không buộc dây nàng ghi ngoài
ruộng hôm trước vẫn chưa được buộc.
Vựa đứng ngoài cửa đòi vào hai lần. Cả hai lần Dực đều nói
việc đọc chưa xong. Lần thứ ba, quản kho không hỏi nữa. Tiếng chân ông ta rời
hiên, nhưng người của kho vẫn ở quanh sân.
Tạc nhìn bóng ngoài vách. “Quản kho sẽ không chờ đến sáng.”
Hùng hỏi: “Người ấy còn đường nào?”
“Kho thóc.”
“Đốt kho?”
“Không cần. Chỉ cần chuyển giỏ có dấu tam giác đi nơi khác.
Sáng mai không còn vật đối chiếu.”
Dực đứng lên. “Bề tôi đưa người tới giữ kho ngay.”
“Cai đội vừa đối đầu với mười hai người,” Hùng nói. “Nếu tới
đó bằng giáo, họ sẽ có cớ đóng cổng.”
“Vậy ngồi nhìn?”
Tánh chợt chỉ ngọn đèn đã tắt dưới chụp gốm.
“Cho họ mượn lửa.”
Mọi người nhìn nó.
Nó nói chậm hơn, cố sắp ý trước khi sức nóng trong người biến
thành hành động.
“Không dựng cột khói nữa. Xin Già Thị Vối một hạt than, bọc
trong nồi đất rồi chuyền qua các xóm. Xóm nào nhận than thì cử một người mang
đèn có chụp tới. Người kho không biết bao nhiêu người đang đến cho tới khi họ
đã đứng ngoài cổng.”
Dực cau mày. “Lửa chuyền tay có thể tắt giữa đường.”
“Thì người sau nhóm lại từ bếp mình.” Tánh đáp. “Thứ cần
chuyền là lời gọi, không phải đúng một hạt than.”
Hùng nhìn nó. Buổi sáng, Tánh còn muốn dùng sức để tỏ mình
đã là Công Tự. Bây giờ nó đang tìm cách gọi người khác tới thay vì tự lao vào
kho. Chàng thấy niềm vui dâng lên, nhưng không để nó biến thành lời khen dễ
dãi.
“Ai đi hỏi?”
“Địa.”
“Chân mày?”
Tánh nhìn dải vải Bách buộc. “Địa đi chậm.”
“Mày chưa từng đi chậm khi được sai chạy.”
“Lần này Địa sẽ đi.”
Hùng tháo đoạn dây ở thắt lưng, buộc thêm vào cổ tay nó, nối
với đoạn dây cũ.
“Cư Vịnh đi cùng. Không vào ruộng nếu cai đội chưa cho.
Không trèo kho. Không chạm người của kho.”
Tánh đếm trên đầu ngón tay. “Ba điều.”
“Bốn. Hỏi Già Thị Vối trước khi chuyền lửa của làng.”
Nó gật đầu. “Địa nhớ.”
Thanh gọi theo: “Nếu Kỷ nghe tiếng người đánh nhau?”
Tánh quay lại, vẻ mặt nghiêm túc đến buồn cười. “Thì Kỷ biết
Địa quên điều thứ ba.”
“Mày mà quên, Kỷ tự tới kéo tai.”
Nó cười, rồi cùng Vịnh chạy vào đêm. Chạy được một quãng, nó
thật sự chậm lại vì cổ chân đau. Vịnh không nói gì, chỉ rút ngắn bước để đi
ngang.
• • •
Ngọn lửa rời căn bếp bỏ trống trong một chiếc nồi đất nhỏ
khi trăng vừa nhô khỏi gò.
Bà Vối chỉ gắp vào nồi một hạt than đỏ, phủ tro khô rồi đậy
bằng mảnh gốm có khe thở. Bà không cho dùng lại ba cột khói ngoài ruộng. “Lệ ấy
để gọi cả vùng nhìn một việc giữa đồng,” bà nói. “Việc trong trạm cần người giữ
lời, không cần khói phô lên trời.”
Chiếc nồi được chuyền đến xóm gần nhất. Từ đó, một ngọn bấc
được châm lên dưới chụp gốm, còn hạt than tiếp tục sang xóm kế. Mỗi nơi chỉ cử
một người đi cùng một ngọn đèn đã che. Những đốm sáng không nối thành hàng;
chúng lần lượt hiện dưới rặng cây, biến mất sau bờ đất rồi lặng lẽ xuất hiện gần
cổng trạm.
Người tới không đông như ban ngày. Họ đi riêng hoặc từng
đôi, tay không, đèn úp sát ngực để gió không làm tắt. Dực để giáo của lính dựa
vào vách trước khi mở cổng. Đám phu kho nhìn nhau; không có hàng giáo đối diện,
họ cũng ngại giơ đòn gánh như vũ khí.
Vựa bước ra giữa sân.
“Trạm tụ dân ban đêm để ép kho?”
Bà Vối chống cuốc. “Không. Làng gọi người tới nhìn kho có
chuyển giống trước lúc đối chiếu hay không.”
“Già Thị lấy quyền gì?”
“Quyền của kẻ bị ghi đã nhận ba giỏ trong khi chỉ sờ một.”
Vựa quay sang Dực. “Cai đội để người bị xét vây trạm?”
Dực đáp: “Họ đứng ngoài cổng, không mang giáo. Người của quản
kho đang đứng trong sân với đòn gánh. Ai giống kẻ vây hơn?”
Một vài phu kho đặt đòn xuống. Không ai ra lệnh; họ chỉ
không muốn khi sáng tới mình bị nhớ là người đã giơ gậy trước dân đói.
Thanh mang bản đối chiếu ra. Nàng không đọc tên. Nàng đọc
con số tám mươi mốt, rồi bốn mươi hai, rồi ba mươi chín. Mỗi số được Tánh đặt
thành sỏi trên một tấm chiếu để ai không biết chữ cũng nhìn được khoảng thiếu.
Khi ba mươi chín viên sỏi nằm riêng, tiếng xì xào chạy quanh
sân.
Vựa nói: “Sỏi không phải thẻ kho.”
“Đúng,” Thanh đáp. “Vì vậy sáng mai chúng ta sẽ đối chiếu giỏ
thật.”
“Bản gốc đâu?”
“Ở trong gian chép.”
“Giao ta.”
“Không.”
“Điển Tri Sứ định mang đi?”
“Ta cũng không mang.”
Vựa khựng lại. Ông ta đã chuẩn bị để gọi nàng là kẻ cướp thẻ,
không chuẩn bị cho việc nàng từ chối sở hữu nó.
Thanh nói tiếp: “Ba dấu sẽ niêm cửa. Sáng mai, mỗi xóm mang
giỏ đã nhận, kho mang thẻ xuất, trạm mang bản đóng dấu. Đoàn chỉ giữ bản ghi phần
khác nhau, không giữ tên và không giữ bản gốc.”
“Không có tên, bản của Công Thị vô dụng.”
“Nếu vô dụng, quản kho không cần sợ nó.”
Vựa nhìn nàng, mắt tối lại.
Dọc ngoài ranh trạm, những ngọn đèn vẫn được che. Ánh sáng
chỉ lọt qua các khe gốm, không đủ soi mặt người, nhưng mùi nhựa thông bám vào
áo họ. Ai rời khỏi đây cũng sẽ mang theo dấu mình từng nhận lời gọi và tới làm
chứng.
Hùng bước tới cạnh Thanh.
“Đêm nay không ai vào kho, không ai rời trạm bằng xe hay
gánh giống. Cai đội giữ cổng. Người các xóm ngồi ngoài ranh, không vượt vào. Quản
kho có thể cử người nhìn niêm. Sáng mai, việc gì thuộc kho sẽ được xét bằng vật
của kho.”
Vựa hỏi: “Nếu ta không nhận?”
Từ cuối sân, một người phu kho lên tiếng trước khi kịp sợ:
“Thì chúng tôi cũng không gánh đêm nay.”
Mọi người quay lại. Chính là người có vết bầm dưới tai. Anh
ta không nhìn Tạc, không nhìn Thanh; chỉ nhìn hai bàn tay mình.
“Đường tối. Đổ giỏ, chúng tôi chịu.”
Một người khác đặt đòn xuống cạnh anh ta. Rồi người thứ ba.
Vựa không thể sai dân làng chuyển kho. Ông ta cũng không thể
buộc các phu kho khuân giống đi khi họ đã đặt đòn xuống. Ông ta quay vào dãy
nhà kho mà không nói thêm.
Không ai reo. Bà Vối chỉ ngồi xuống ngoài cổng, đặt cuốc
ngang gối. Dực phân lính thay phiên canh. Người của kho ngồi một phía sân, người
của trạm một phía. Giữa họ là ba mươi chín viên sỏi không thuộc về ai.
Tánh ngồi cạnh Hùng, cổ chân duỗi thẳng.
“Can.”
“Gì?”
“Địa đã nhớ bốn điều.”
“Can thấy.”
Nó chờ thêm, nhưng Hùng chỉ đưa cho nó bát nước. Tánh uống một
hơi rồi nói:
“Can khen một câu cũng không mất gì.”
Hùng nhìn vẻ mặt đầy mong đợi được cố giấu sau miệng bát, cuối
cùng không nhịn được cười.
“Mày làm đúng.”
Tánh đặt bát xuống, cố gật như người lớn. Nhưng nụ cười đã
chạy trước, rộng đến tận hai tai.
Thanh ngồi bên kia đống sỏi. Nàng nhìn Hùng và Tánh, khóe
môi cong lên, rồi cúi xuống buộc bản đối chiếu. Lần này tay nàng không run. Mỗi
nút dây được buộc vừa đủ chặt để không tuột, vừa đủ lỏng để sau này còn tháo
ra.
• • •
Gần sáng, Tạc được phép lên mái đặt lại mảnh gốm trên ống
khói.
Ông không thắp lửa hiệu thứ hai. Trên gò phía tây cũng không
có lửa đáp. Nhưng một người lính trở về từ khe cạn báo rằng hai Cơ Ấu Nghi vẫn ở
nguyên chỗ cũ. Dực cử một người mang nước và gạo lên, không mang dây trói.
Tạc nghe xong chỉ cúi đầu. Hai vai ông rung một lần rồi
thôi.
Trước khi cửa đóng, Hùng đã nhặt tấm thẻ công vụ trên nền,
buộc lại bên hông. Ba dấu niêm đã nằm trên cửa gian chép từ trong đêm: dấu trạm
ở bên trái, dấu kho ở bên phải, giữa hai dấu là một nút dây không mang dấu của
đoàn. Thanh cố ý không đóng dấu mình. Nút dây giữa cửa chỉ cho biết có người thứ
ba đã nhìn thấy tình trạng niêm, không biến đoàn thành chủ của thẻ.
Hùng hỏi nàng khi mọi người đã lui:
“Bậu có tiếc không?”
“Tiếc gì?”
“Không mang bản thứ hai.”
Thanh nhìn cánh cửa. Sau đó là những nét khắc có thể giải
thích nhiều điều về Khởi Châu, nhưng cũng có thể kéo một gia đình và ba người
phu kho vào chỗ chết.
“Có,” nàng đáp. “Qua tiếc đến mức muốn giấu nó vào áo rồi đi
ngay.”
“Sao không làm?”
“Vì muốn giữ cái biết không có nghĩa được quyền lấy nó khỏi
những người đang sống nhờ nó.”
Hùng im lặng. Chàng hiểu câu ấy không chỉ dành cho hai bó thẻ.
Trong chiếc hòm gỗ của đoàn còn có phiến đá từ Cương, dù đã được sao thành ba bộ
và được dân chợ ưng thuận. Mỗi vật họ mang theo từ nay sẽ phải đi qua một câu hỏi
khác: đoàn có quyền hiểu nó, nhưng có quyền sở hữu nó hay không?
Thanh dường như đọc được ý chàng.
“Đừng ghép việc này với bản khắc cũ.”
“Qua không ghép.”
“Nhưng bậu đang nghĩ tới nó.”
“Nghĩ không phải là ghép.”
Nàng khẽ cười. “Câu ấy nghe giống lời qua.”
“Qua học được.”
“Chưa đủ. Ngày mai xem bậu có giữ được không.”
Ở chân bếp ngoài cổng trạm, Tánh đang gom tro từ chiếc nồi
đã chuyền qua các xóm vào một hốc nhỏ. Nó không dập hết. Theo lời bà Vối, một hạt
than được vùi dưới lớp tro khô để sáng mai nhóm lại, không phải vì thiếu lửa mới
mà vì lời gọi đã qua tay nhiều người thì phải được những người ấy cùng giữ.
Tánh phủ tro xong, chìa tay gần mặt hốc.
“Không thấy sáng mà vẫn nóng.”
Bà Vối đáp: “Thứ gì cũng phô ra cho mắt thấy thì sống sao
qua đêm gió.”
“Giấu mãi thì ai biết?”
“Đến lúc cần, thổi lên.”
Tánh suy nghĩ rồi lấy một hòn đá đặt cạnh hốc, để người đi
qua không giẫm trúng. Nó không gọi ai tới xem việc mình vừa làm.
Khi trời sáng hẳn, các xóm mang giỏ giống tới. Những chiếc
giỏ được xếp thành hàng trước kho. Dân làng lần lượt nghiêng từng giỏ để lộ
đáy. Vết tam giác hiện dưới ba chiếc đầu tiên, rồi chiếc thứ tư, thứ năm. Mỗi dấu
là một đường dao nhỏ, không đủ nói ai đúng, nhưng đủ buộc kho phải mở cửa đối
chiếu.
Dực tự tay soát then. Vựa đứng bên trong, gương mặt không
còn vẻ chắc thắng của đêm trước.
Thanh giữ bản đối chiếu, không giữ bản gốc. Tạc vẫn ở lại trạm,
nhưng không bị trói. Người trên gò được mời xuống trước mặt dân các xóm, không
bị dẫn bằng giáo. Việc đếm khoảnh ngoài ruộng, hai phía bằng lòng hoãn tới khi
kho đối chiếu xong; người thứ ba cùng đếm sẽ chọn sau, không còn là người chép.
Không có ai được tuyên là vô tội trong buổi sáng ấy. Cũng
chưa ai bị gọi là kẻ gian chỉ bằng một bản thẻ. Sự thật chưa thắng; nó mới chỉ
sống qua một đêm đủ dài để có thêm người nhìn thấy.
Khi chiếc giỏ thứ chín được nghiêng để xem đáy, một tiếng
khô vang lên trong lớp hạt, không giống tiếng gạo va vào nan tre.
Tánh nghiêng đầu.
“Trong đó có vật cứng.”
Dực đưa tay giữ miệng giỏ trước khi nó thò vào.
“Đừng chạm.”
Lần này Tánh không phản đối. Nó tự lùi lại, nhìn Hùng.
Hùng gật đầu.
Dưới tro bếp, hạt than vẫn âm ỉ. Không ai còn thấy khói,
nhưng mùi nhựa thông chưa tan khỏi sân trạm. Ngọn lửa của đêm qua đã làm xong
việc của nó: không đốt một tấm thẻ nào, chỉ đi kín qua nhiều bàn tay và giữ đủ
người ở lại cho tới khi tiếng kim loại trong giỏ giống tự cất lời.