Diễn Đàn » Sách truyện tự sáng tác

Chị Nguyệt - Truyện ngắn của Quang Nguyễn

0 trả lời, 11 lượt xem — Trang 1 / 1
​Thuở ấy, tôi chỉ là đứa trẻ chân đất, quần đùi, suốt ngày mải miết rượt đuổi theo lũ bạn dưới bóng me chua rợp mát trước hiên nhà chị Nguyệt. Cây me chua xum xuê vươn từng tầng lá như chiếc ô xanh khổng lồ che rợp khoảng sân quê rát nắng. Nơi đó, đám con gái xúm xít trò nhảy cò cò, quay dây, bọn con trai chúng tôi say sưa bắn bi, chọi dép lăn lóc rồi cự cãi om sòm. Làng trên xóm dưới, ai cũng dành cho chị Nguyệt một niềm thương mến mênh mang. Nhớ những bận đi bán khoai mì về, còn dư bao nhiêu chưa bán hết, chị lại đơm đầy tay chia sạch cho bọn trẻ chúng tôi. Trong đám loi choi lem luốc đó, tôi là đứa quấn quýt bên chị nhiều nhất. ​Nhà chị cách nhà tôi chỉ một hàng rào râm bụt đỏ. Những ngày ba má mải mê bôn ba ngoài đồng xa, chị lại là chỗ dựa che chở, coi sóc tôi từng chút một. Chị Nguyệt lớn hơn tôi sáu tuổi, năm đó vừa tròn mười sáu, cái tuổi trăng tròn chưa kịp khuyết, vậy mà đôi vai gầy phải gánh nặng cả gia đình.
​Mỗi buổi sương sớm, khi những vệt nắng đầu ngày còn ngập ngừng giăng mắc trên cỏ lá, chị đã đội mâm khoai mì nghi ngút khói trên đầu. Làn khói ấy quyện cùng hơi sương mờ ảo tựa vệt mây mỏng vờn quanh khuôn mặt đen thủi đen thui của chị. Chị dắt tay tôi đi qua biết bao nẻo đường quê hằn vết đất cát, từ góc chợ lao xao tiếng cười nói đến tận cổng trường học xào xạc bóng cây phượng. Có những buổi chiều tà, khi hoàng hôn buông rèm thẫm lên hàng bạch đàn cuối xóm, nhuộm vàng lên những nếp nhà cũ kỹ tựa bức tranh thủy mặc đượm buồn, hai chị em mới lầm lũi dắt díu nhau về.
​Chị Nguyệt có vóc dáng nhỏ con, tấm thân ốm nhom ốm nhách, đằng sau sự mảnh dẻ đó lại là một sức chịu đựng kiên cường. Tôi nhớ những lần theo chị ra cái giếng soi bóng mây trời. Chị thả gàu sâu hun hút xuống lòng giếng rêu phong, kéo lên hai thùng nước đầy sóng sánh. Chị để chiếc đòn gánh lên vai bước đi thong dong, nhẹ nhàng như thể gánh cả bầu trời tuổi thơ yên bình về tới ngõ. Tôi đi sau, nhìn chiếc đòn gánh gập oằn xuống gần chạm mặt đất, tưởng chừng sắp gãy đôi trên bờ vai mảnh khảnh ấy mà lòng dâng lên niềm thương xót nghẹn ngào. ​Với tôi, chị Nguyệt chẳng khác nào người chị ruột thịt chung một mái nhà, hai chị em cứ quấn quýt như hình với bóng. Mà đi đâu chị cũng rủ tôi theo, cho đỡ buồn, cho biết đây biết đó. Những ngày mưa dầm rả rích không thể đi bán, tôi lại tung tăng theo chị ra vườn đào khoai lang đem vô nhà nấu. Mùi củ chín thơm lừng cả gian bếp ám khói mù mịt, hai chị em vừa thổi vừa ăn.
​Tôi khoái nhất những chiều mưa lất phất, trời buông màng mờ đục như nước cơm vừa chắt ra chiếc tô sành, hai chị em ngồi bên góc bếp bập bùng lửa đỏ. Ánh than hồng liếm nhẹ lên gương mặt chị, chia đôi chân dung ấy thành hai bờ nửa sáng nửa tối, kỳ ảo và sâu lắng tựa nốt nhạc trầm lộp độp trên mái lá. Giọng chị ngân lên man mác giữa tiếng củi lách tách, kể cho tôi nghe về những ngày tôi còn ấu thơ mới tập tễnh bước đi chập chững. Và những câu chuyện của má chị kể. 
​- Con gái xóm mình nghèo lắm em ơi. Má chị ngày trước hay nói: đời người con gái sống ở quê này, cả một đời chắt chiu rốt cuộc cũng chẳng có tài sản gì to tát. Ngoài đôi bông tai má cho con gái, cây kim, trục chỉ, vá may qua ngày, mái tóc đen sạch thơm thoang thoảng hương đồng gió nội với một cái bếp lúc nào cũng phải giữ cho đỏ lửa... Bấy nhiêu đó thôi, mà là cả vốn liếng, là chút tự trọng nuôi mình sống trọn một kiếp người, dù sau này có về làm dâu nhà người ta hay ở vậy suốt đời cũng vậy.
​Tôi nhìn lọn tóc xõa bên gò má gầy của chị, lòng ngô nghê hỏi:
​- Vậy sau này chị có lấy chồng không chị Nguyệt? Mà lấy chồng rồi thì chị ở đâu? Chị có còn đi bán đậu phộng, củ mì, củ lang nấu nữa không?
​Chị khẽ thở dài, tay gạt gạt nắm tro tàn đã nguội dưới gầm bếp, ánh mắt đăm đắm nhìn vào ngọn lửa đang tàn dần, giọng nghẹn lại như sóng vỗ đêm xa:
​- Nếu đi lấy chồng chị sẽ không còn ở trong cái nhà này nữa. Phận con gái nhà nghèo như chị, có ước mơ chi chuyện gấm vóc lụa là hay được người ta nuông chiều. Chỉ mong sao cái bếp nhà mình luôn có lửa, gánh khoai ngày mưa bán hết để nuôi ba nuôi má. Chứ bước chân về làm dâu nhà người, đời mình sướng khổ ra sao, làm sao ai biết trước được hả em.
​- Sau này khi lớn, em đi vác lúa kiếm thật nhiều tiền. Em mua cho chị áo đẹp, không để chị phải mặc cái áo rách đi gánh khoai mì nắng cháy da nữa đâu.
​- Sao không nghĩ làm cái gì đó ít cực khổ hơn mà lại đi vác lúa? - Chị nói.
​- Thì em thấy mấy anh trong xóm đi vác lúa được nhiều tiền lắm. - Tôi đáp những lời ngây ngô.
​- Nếu ăn học thành tài, đi làm sẽ kiếm được tiền nhiều hơn cả vác lúa ở quê mình, lại ít cực tấm thân. - Chị nhìn tôi rồi đáp, giọng nói hòa với những tiếng mưa.
​- Thì làm cái gì cũng được. Miễn có tiền mua áo cho chị là được rồi.
​Chị Nguyệt mỉm cười, giọt nước mắt chực trào nơi khóe mắt phản chiếu qua ánh lửa bên bếp. Chị xoa đầu tôi, bàn tay chai sần vì quanh năm tần tảo, nhẹ nhàng thì thầm bằng một điệu buồn buông lơi, thấu suốt như người đã nhìn tỏ hết sự đời:
​- Đời người ta như ngọn khói bếp này vậy... Bay lên rồi cũng tan vào khoảng không, chẳng giữ lại được gì cho riêng mình. Người ta có bạc vàng thì để lại của cải, còn chị em mình nghèo, chỉ cần sống sao cho tình nghĩa không bị phôi pha, để sau này nhớ lại còn có cái mà mỉm cười... Vậy là đủ rồi.
​Khi lớn tôi mới thấm câu nói này. Đời người con gái ở chốn quê nghèo này, thương sao mà sâu nặng tột cùng. Sinh ra giữa đồng chua nước mặn, chị lớn lên như nhành lúa nhẫn nại đâm chồi giữa đất cằn, chẳng một lần dám đo đếm thiệt hơn hay mưu cầu cho riêng mình chút phần tươi đẹp. Nặng tình nặng nghĩa từ thuở còn nằm trên chiếc võng với lời ru điệu ca dao, chị coi sự hy sinh như một thiên mệnh tự nhiên của kiếp sống. Thương cha mẹ cơ hàn, thương luôn cả cái xóm nghèo xơ xác, tấm lòng người con gái quê nghèo tựa như dòng sông mang nặng phù sa, chấp nhận đục ngầu, chấp nhận lở bồi, miễn sao bồi đắp cho đôi bờ cuộc đời của người khác được xanh màu hoa trái. Thân gái mỏng manh tựa nhánh lục bình cô độc giữa dòng sông chưa kịp bén rễ nông sâu đã phải chịu trăm bề trôi nổi. Cây kim, trục chỉ là bổn phận của người con gái. Mái tóc đen mượt dài tựa dải lụa mềm mại mà cái nghèo chẳng thể cướp nổi của chị. Chái bếp luôn đỏ lửa là nơi họ sưởi ấm gia đình, chu toàn cho từng bữa cơm gạt đi những đói rét giông bão ngoài kia. Giá trị của người con gái không đo bằng son vàng hay nhung lụa, mà đong bằng sự chu toàn chắt chiu, lòng vị tha và nét trinh nguyên âm thầm chảy qua bao mùa nắng cháy. Cam chịu và bao bọc gia đình.
​Thế là, bánh xe thời gian âm thầm lăn vệt, chị lớn lên rồi theo học nghề may. Mỗi sáng, khi sương mù còn giăng mờ trên khắp nẻo đường quê, chị đã đạp xe qua tận huyện xa, mãi đến chiều tối, khi vệt nắng cuối ngày tắt lịm mới thấy chị lầm lũi đạp xe về. Từ ngày ấy, tôi ít có dịp gặp chị hơn. Cho đến một thời gian sau, khi đã học xong, chị mở tiệm may nhỏ ngay tại nhà. Lúc này, tôi mới lại được gặp chị mỗi ngày như những năm tháng tuổi nhỏ. Năm đó chị đã hai mươi lăm tuổi, cái tuổi ở quê người ta đã tay bế tay bồng, vậy mà chị vẫn lẻ bóng. Suốt ngày, chỉ lặng lẽ ngồi bên chiếc máy may cũ kỹ, tiếng kim nhịp nhàng hòa cùng điệu thở dài khẽ khàng, cái đầu cúi xuống đung đưa theo từng đường kim mũi chỉ nối liền những bờ mơ ước cho người khác. Chị dường như đứng bên ngoài những ồn ào của thế thái nhân tình. Đôi lần tôi ghé chơi, mỉm cười nhắc chuyện chồng con, chị chỉ khẽ lắc đầu, buông một câu nhè nhẹ, giọng man mác như tiếng lá khô rơi ngoài hiên:
​- Lớn rồi sao chẳng lo lập thân, cứ lỏng nhỏng đi chơi suốt vậy em? Lo kiếm lấy cái nghề rồi tính chuyện cưới xin đi chứ... Cứ thế này, sau này đứa nào mà chịu thương, chịu lấy làm chồng.
​Hễ tôi nhắc chị chuyện yên bề gia thất, chị lại mỉm cười đẩy ngược trách nhiệm sang tôi. Thế là, mấy đứa con gái đến may đồ chị cũng đều đon đả làm mai làm mối tôi cho người ta, như thể chị lo sợ tôi sẽ chịu cảnh cô đơn cả đời. Nhớ có bận chiều tà, khi nắng muộn giát một vệt vàng đượm buồn qua khung cửa sổ tiệm may, chị dừng tay kim, nhìn ra khoảng sân vắng rồi thì thầm một câu nói khiến tôi nhớ mãi suốt cả cuộc đời:
​- May đồ cho người ta mặc đẹp, chị thấy vui lắm... Nhiều lúc chị nghĩ, đời chị giống như cái trục chỉ này vậy, cứ cặm cụi rút từng sợi ruột của mình ra để nối liền nếp áo hạnh phúc cho đời. Rồi đến khi chỉ hết, còn lại cái trục trơ ra, người ta mặc áo mới đi mất, còn mình thì lại nằm lặng lẽ ở một góc bàn may... Nhưng mà có sao đâu, miễn là người ta được ấm áp...
​Rồi cái ngày rời quê cũng đến. Buổi sáng hôm đó, tôi sang nói với chị rằng ngày mai tôi sẽ lên thành phố mưu sinh, sẽ không còn la cà, ăn không ngồi rồi báo cha, báo mẹ. Tối hôm đó, sau cuộc vui chia tay bạn bè, tôi trở về nhà thì đã mười một giờ đêm. Dưới ánh trăng mờ dán vào miếng tấm gỗ đầy khe hở, tôi ngơ ngác thấy bóng dáng gầy gò của chị đang đứng chờ trước ngõ, cái đèn pin trên tay chị chao nghiêng theo những lần cử động như ngọn nến mồ côi giữa đêm dài. Trước đây, chưa bao giờ chị thức khuya tới vậy. Mỗi lần tôi đi chơi về ngang qua, ô cửa sổ nơi chị ngồi may đã tắt đèn tự bao giờ. Nhưng đêm nay, nơi đó vẫn hắt ra vệt sáng vàng vọt, ấm áp. Chị nhìn tôi, khoảng không im lặng đong đầy những niềm thương không lời. Chị đưa vào tay tôi chiếc áo khoác màu đen dày cộm, do chị tự tay may, kèm theo hai nắp dầu cù là. Đôi mắt chị buồn thăm thẳm như giếng cạn thuở mùa khô, giọng dặn dò ngập ngừng, run run trong đêm hôm khuya khoắt
​- Đi rồi thì ráng giữ gìn sức khỏe nghen em. Cố ăn uống đàng hoàng, nghe nói Sài Gòn phố thị người ta đông đúc xô xát phức tạp lắm, đừng đi chơi đêm khuya la đà. Sài Gòn chứ không phải quê hương của mình đâu.
​Tôi cầm chiếc áo trên tay mà lòng buồn rười rượi, cay xè nơi khóe mắt. Đứng trước chị, giữa cái lạnh hun hút của đêm quê tàn, lòng tôi trào dâng một niềm lưu luyến khôn nguôi. Tôi nghẹn ngào nhìn chị, khe khẽ thì thầm:
​- Đi rồi, một ngày nào đó em sẽ trở về, chứ chẳng lẽ đi luôn hay sao?
​Đêm mênh mông bọc lấy hai chị em. Chị Nguyệt giương đôi mắt trầm buồn nhìn tôi thật lâu, ánh nhìn như muốn khắc sâu từng nét mặt đứa em nhỏ hàng xóm vào tận đáy lòng. Rồi chị mỉm cười, một nụ cười mong mong nhạt nhòa trong sương khuya, cất giọng khẽ khàng, ngẩn ngơ tựa tiếng thở dài của đêm tối:
​- Ừ thì khi nào về thì về, đừng nói trước. Vì nói trước, chị ở lại quê nhà sẽ chờ đợi. Mà đời thì con người ta nó ngộ lắm, miễn chờ đợi là chỉ muốn cho nhanh, cho mau. 
​Hai từ chờ đợi thốt ra rất nhẹ, mà sao tôi thấy nặng trĩu cả khoảng không, gieo vào lòng tôi một nỗi niềm khắc khoải. Đời chị đã đứng yên ở vạch quê nghèo này đủ lâu để gánh từng cơn gió lạnh, nỗi cô đơn thiếu bạn, chị sợ những hẹn thề dở dang lại chất thêm gánh nặng đợi chờ lên đôi vai gầy mỏi mệt. Tôi thương chị quá, thân gái mỏng manh tựa cánh hoa tàn trước gió, gánh hết mọi lo âu, thu vén tất cả dịu dàng cho người khác mà chẳng chút nghĩ suy cho thân mình. ​Tôi biết, để có chiếc áo ấm áp này mang đi, chị đã cặm cụi may suốt từ sáng đến giờ, dồn vào từng mũi kim là tất cả âu lo, săn sóc. Chị em vẫn vậy, dù thời gian có làm bãi bể nát đá, dù năm tháng có phủ màu phong sương lên vóc dáng, thì tình thương chị dành cho tôi vẫn vẹn nguyên như buổi ban đầu, như những tháng ngày tôi còn bé dại. Tôi gật đầu lặng lẽ, không dám hứa thêm điều gì. Chị khẽ chớp mắt, rồi kiên quyết nói sáng sớm mai sẽ đạp xe chở tôi ra bến xe đò đầu huyện. Tôi vội vã lắc đầu từ chối, cho rằng mình nay đã lớn khôn, đã biết tự lo liệu chu toàn cho bản thân, chị đừng bận lòng thức khuya dậy sớm làm chi cho nhọc sức. Thế mà, chị vẫn nhất quyết không chịu, đôi mắt đăm đắm nhìn tôi có sự bướng bỉnh nhưng rất tội nghiệp:
​- Cái thằng nhỏ này, dẫu lớn cỡ nào thì đi xa vẫn là đứa em nhỏ. Chị phải tiễn em đi mới thấy yên cái lòng.
​Tôi bất lực chỉ đành lặng nhìn chị chao nghiêng pha ánh đèn pin ra đường cho tôi bước về nhà. ​Sáng hôm sau, tôi lên đường. Khi chuyến xe đò từ từ lăn bánh chao qua con đường đất đỏ, tôi quay đầu nhìn qua ô cửa kính mờ sương. Dưới gốc cây bàng già, chị Nguyệt vẫn đứng đó. Bóng dáng chị mảnh khảnh, cô đơn trơ trọi giữa bến xe vắng lặng. Tà áo bay nhè nhẹ trong gió thu lạnh ngắt. Chị giơ bàn tay nhỏ thó lên vẫy, ánh mắt dính chặt theo chiếc xe xa dần, chan chứa bao dung yêu thương và sự lo âu vỡ vụn. Tôi càng đi xa, bóng chị càng nhỏ lại như một vệt mực mờ dán lên bờ cõi tuổi thơ tôi, lặng lẽ đứng dõi theo em mình đi gieo bước vào chốn dông bão cuộc đời. Ngồi trên chuyến xe đò xóc nảy của nỗi niềm chia ly ấy, tôi bàng hoàng phát hiện chiếc áo khoác chị may có một số tiền bên túi trong. Bảy mươi ngàn, số tiền không lớn đối với người ta, nhưng là số tiền chắt chiu từ từng đường kim mũi chỉ, từ những giọt mồ hôi vất vả những đêm đông của chị. Chị biết nếu đưa tận tay, tôi sẽ nhất quyết từ chối, nên đành lén nhét vào túi áo. Cầm những đồng tiền đượm mùi mồ hôi và tình thương ấy, mặt tôi nóng bừng, nước mắt sắp chực trào ra. Chị thương tôi đến mức phải đau lòng khi nghĩ tới.
​Nơi thành phố hoa lệ nhưng đầy xa lạ, những đêm khuya lạnh giá, tôi khoác trên mình chiếc áo đen chị may mà thấy lòng ngập tràn hơi ấm gia đình. Chiếc áo ôm trọn lấy tôi như một cái ôm âm thầm, lặng lẽ che chắn cho tôi trước phong ba phố thị, chiếc áo mà chị đã rút từng sợi chỉ tình thương để dệt nên, dù chính bản thân chị lại chẳng thể tự che chắn cho kiếp sống dông bão của mình. Người con gái nghèo là vậy, chẳng có kho tàng quý giá để trao tặng cho người họ trân quý, chỉ có lòng tận tụy chắt chiu từng đồng tiền lẻ, gom góp tất cả chân tình giấu vào nếp áo cho người ra đi. Bốn tháng sau, giữa chốn thị thành chật chội rợp bóng bê tông, tôi nhận được tin chị Nguyệt đi lấy chồng. Người ta nói chồng chị là anh Tuấn ở bên huyện, nơi ngày trước chị từng theo học nghề may. Người ở quê xầm xì vì bên nhà chồng thương chị lắm, chẳng để chị phải động tay động chân vào việc gì nặng nhọc, người chồng lại hết mực nuông chiều, chăm chút cho chị từng li từng tí. Ai nấy đều mừng cho chị, họ nói con Nguyệt thuở nhỏ chịu bao cay đắng, vất vả bao nhiêu thì giờ đây được bù đắp, sung sướng bấy nhiêu. Nghe tin ấy, lòng tôi dâng lên niềm hân hoan khó tả, mừng đến mức muốn khóc. Cuối cùng thì người chị tội nghiệp hàng xóm của tôi cũng đã chịu đi tìm hạnh phúc, đang được tắm mát trong suối nguồn tình yêu thương của gia đình chồng.
​Trong một kỳ nghỉ lễ, tôi bắt xe về lại quê nhà. Biết tin tôi về, chị Nguyệt vội vã sang chơi. Chị đón tôi bằng sự thao thiết những câu hỏi thăm về cuộc sống bôn ba nơi xứ người. Nhưng hôm tháng tư đó, giữa tiết trời oi nồng, chị lại mặc một bộ quần áo kín mít, chiếc khẩu trang che kín gần hết gương mặt, chị không chịu tháo ra khi nói chuyện. Chị ốm đi nhiều quá, tấm thân vốn đã mong manh nay lại càng xơ xác tựa cành cây khô trước trận bão lớn. Đã bao tháng ngày xa cách, tôi muốn nhìn lại dung nhan của chị mà chị cứ giấu giếm sau lớp vải. Chị né tránh ánh nhìn của tôi, cất giọng gượng gạo mà linh cảm của tôi báo hiệu có điều gì đó rất bất thường ở phía chị:
​- Chị làm dâu ở bên đó sống tốt lắm. Người ta thương chị, chị hạnh phúc. Chắc quanh đây chẳng có ai may mắn được sướng như chị đâu.
​Tôi mỉm cười nói vậy thì tốt quá, chứ nhiều người lấy chồng về khổ hơn cả thời con gái. Thế nhưng đằng sau lời khoe khoang giếm giấu đó, lòng tôi cứ dâng lên một nỗi bất an khắc khoải, tựa ngọn lửa ngầm đang gặm nhấm lòng mình. Nhất là chị im lặng khá lâu, như đang tán thành với câu nói của tôi. ​Lúc hai chị em ra ngồi bên hàng rào râm bụt chuyện trò dưới cái nắng oi bức, chị đưa tay lên buộc lại mái tóc. Trong khoảnh khắc vô tình đó, chiếc tay áo rộng bất ngờ tuột xệch xuống. Khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, làn da dưới ánh nắng trưa oi ả hiện ra tàn nhẫn và trần trụi. Tôi đứng chết lặng, tim như vỡ vụn thành vô vàn mảnh nhỏ. Da thịt dịu dàng ngày nào của chị hằn lên những vết bầm tím bầm sưng húp, tôi nắm lấy vén lên, đồng thời tháo luôn chiếc khẩu trang. Hiện ra trước mặt tôi là vô số vết thương chồng chất trên thân thể gầy guộc, vết bầm cũ chưa kịp tan, vết mới lại đè lên tươi rói, tựa những vệt mực lem nhem trên trang giấy trắng. Nhận ra tôi đã nhìn thấy tất cả, chị giật mình hoảng hốt, cuống cuồng kéo khẩu trang, kéo lại tay áo che đi thân thể rồi cúi gục đầu im lặng. Nước mắt giận dữ và đau đớn trong tôi trào ra, từng tiếng thốt lên xé lòng:
​- Rốt cuộc cái cuộc sống tốt đẹp của chị đây? Hạnh phúc mà chị vừa khoe khoang là thế này sao?
​Chị cúi mặt, hai hàng nước mắt trong đục nghẹn ngào lăn dài trên gò má sưng xước. Chị buông hai tay xụi lơ, rồi giọng chị cất lên vỡ òa giữa nghẹn ngào tủi thân:
​- Đời người con gái biết bến nào là trong, bến nào là đục mà chọn hả em.
​Câu nói cay đắng đó rơi vào khoảng im lìm trước ngõ nhà vắng, xé rách mớ dối lừa mà chị đã gồng mình che đậy suốt bao tháng ngày. Chị nghẹn ngào thì thầm giữa tiếng khóc đầy tủi thân:
​- Người ta chỉ yêu thương chị lúc ban đầu thôi. Chị tưởng nhẫn nhịn rồi họ đổi tính, tưởng mình gánh hết cay đắng thì nhà cửa mới êm ấm... ai ngờ... Đời người con gái nghèo như chị, sao đi đến đâu cũng chỉ toàn là giông bão.
​Ôi, thương thay cho kiếp hồng nhan tựa dải lụa bạch bị vần vò giữa vũng bùn nhem nhuốc! Thế mới hiểu, cái giá cho thân phận người con gái nghèo ở chốn quê nhà đôi khi quá đỗi cay nghiệt. Vì sinh ra trong thiếu thốn, người ta cứ nghĩ mình không có quyền đòi hỏi, nên đành cam chịu nhẫn nhịn, nuốt nước mắt chảy ngược vào trong. Chị tưởng sự nhẫn nại của mình có thể cải biến một tâm hồn sa đọa, như giọt nước trong vắt hy vọng làm sạch cả dòng sông đục, nhưng cuộc đời đâu phải lúc nào cũng mỉm cười với tấm lòng bao dung và tử tế. Tôi nghẹn ngào khuyên chị phải ly hôn với người chồng vũ phu đó, chị gật đầu cay đắng. Người con gái nghèo hy sinh cả tuổi thanh xuân, đến lúc trao gửi thân ngọc cho người ta thì lại nhận về toàn là vết hằn rách xé. Suy cho cùng, kiếp sống của chị Nguyệt chưa từng có lấy một khoảnh khắc sung sướng trọn vẹn...
​Sau lần đó, chị Nguyệt kiên quyết ly dị rồi dắt díu thân tàn trở về sống với mẹ ruột. Chị lại trở về với góc máy may quen thuộc, lầm lũi vá khâu qua ngày như những tháng ngày chưa vướng bận nợ duyên. Tiếng kim nhịp nhàng cất lên mỗi chiều như nhịp đập nhẫn nại, lặng lẽ của đời chị khâu vá lấy niềm vui, tô điểm may mặc cho người đời nhưng lại bất lực bỏ quên nếp rách cay đắng của chính mình. Nhưng tạo hóa thì ghen ghét một phận đời cay đắng, như câu nói đã nghèo còn gặp cái eo! Một thời gian ngắn sau, tin sét đánh giáng xuống xóm nghèo, chị Nguyệt bị ung thư máu giai đoạn cuối. ​Trong những ngày tháng cuối cùng bị căn bệnh quái ác gặm nhấm thân xác, chị nằm trên chiếc giường thấu xương, tấm thân teo tóp tựa như chiếc lá thu phai sắp lìa cành. Vậy mà chưa một lần chị oán trách ông trời, chưa một lời thở than cay đắng. Những trưa dầm mưa hay những chiều sương buốt, chị nằm nhìn qua ô cửa sổ hẹp, thều thào nói với má chị bằng một niềm an nhiên tĩnh lặng tới xót xa:
​- Bệnh tật là do cái số của con nó vậy rồi, má đừng khóc nữa...con đi trước, chỉ thương ba má ở lại không ai lo khi tuổi già sức yếu. Mấy chục năm qua con chưa làm được gì để trả hiếu, giờ lại để má đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh. Con chỉ cầu mong sau này, cái xóm mình bớt nghèo, đứa trẻ nào cũng được đi học, để có tương lai, chứ không phải như con quá mù mịt. ​
Rồi ánh mắt hốc hác, đong đầy nỗi hoài niệm lại nhìn hết khuôn mặt của từng người đến thăm bệnh, giọng nói chỉ còn là tiếng thều thào đứt quãng nhìn sang nơi má tôi rồi hỏi:
​- Sao lâu quá không thấy thằng nhỏ nó về quê. Chắc trên đó nó làm cực khổ lắm phải không thím. Nó mà về, thím nhớ dặn, đừng nhậu nhẹt đi chơi nhiều, nơi phố thị cạm bẫy nhiều lắm, đừng nói với nó là con đang bị bệnh.
​Những người xung quanh nghe xong ngậm ngùi, má tôi đưa tay lau nước mắt. Má vội vã chạy ra bưu điện bấm số của chủ nhà trọ, nhờ báo lại cho tôi biết để thu xếp trở về. Nghe tin, tôi vội vã xếp lại mọi công việc, điên cuồng bắt xe về quê ngay trong đêm để được gặp chị lần cuối. Nhưng hỡi ôi, tôi chưa kịp về đến ngõ thì chị đã trút hơi thở cuối cùng, vĩnh viễn rũ bỏ mọi đau thương để trở về với đất mẹ. Chị đi vào một đêm mưa buồn u ám trước tôi ba tiếng đồng hồ, khi tiếng sấm xa xăm gầm gừ như tiếng thở dài của đất trời khóc thương cho một kiếp hồng nhan bạc phận. Như vậy là tôi đã không còn cơ hội để nói với chị vài lời khi chị còn sống.
​Bây giờ, ngôi nhà cũ năm nào vẫn nằm đó, cha mẹ chị Nguyệt vẫn mỏi mòn bám trụ lấy nếp nhà rợp bóng sương quê. Thế nhưng, người con gái dịu dàng thuở trước thì đã vĩnh viễn không còn. ​Chẳng còn vệt sáng vàng vọt từ ngọn đèn hắt ra bóng chị đổ dài, chẳng còn tiếng kim tạch tạch đều đặn vang lên như nhịp thở kiên nhẫn của quê nhà, và đau đớn thay, chẳng còn bóng dáng mảnh khảnh ấy đứng tựa hiên đêm ngóng gót đứa em về. ​Thế mới ngẫm, tình thương trên đời đâu cần chung một dòng máu mới gọi là ruột thịt. Có những ân tình chắt chiu qua giông bão còn sâu lắng, thiêng liêng hơn cả cốt mủ thân thương. Chẳng chung nguồn cội, chỉ dắt díu nhau qua qua những con đường nắng mưa, vậy mà chị đã rút trọn từng sợi ruột, gánh hết cay đắng về mình chỉ để che chắn chút êm đềm cho kiếp sống của đứa em hàng xóm. Người ta nói chị thương tôi, bởi vì nhà chị không có anh chị em, là con một.
​Đời người con gái quê nghèo, suy cho cùng chẳng có gì ngoài đôi bông tai được má cho như một trọng trách thay má gánh vác việc nhà, cây kim trục chỉ vá may qua nếp rách kiếp người, và một cái bếp lúc nào cũng giữ cho đỏ lửa. Bấy nhiêu đó thôi mà thành gia tài, thành chút tự trọng đi qua trọn một đời giông tố. Những điều nhỏ nhoi ấy, chiếc áo đen lặng lẽ trao đêm lạnh, xấp tiền đượm mồ hôi lén nhét túi áo, bóng dáng gầy gò dắt chiếc xe đạp cũ đứng chờ nơi bến đỗ, đã âm thầm tạc nên một tượng đài bất tử trong tâm khảm tôi. Tượng đài đúc bằng lòng vị tha vô bờ của người chị đã dành trọn thanh xuân để che chở cho người khác.
Gió chiều vẫn hiu hắt thổi qua những vệt rêu mốc mờ trên chân tường cũ. Tiếng rao khoai mì thuở mười bảy của chị đã chìm sâu vào lòng đất mẹ, chỉ còn lại giọt lệ muộn màng của đứa em thơ rơi xuống, vỡ tan giữa khoảng trời kỷ niệm mênh mang. ​Hoàng hôn chậm rãi buông bức rèm tím thẫm xuống xóm nghèo, nhàn nhạt nuốt chửng nếp nhà gianh trơ trọi vào lòng bóng tối. Lửa bếp nhà ai bắt đầu thắp lên bập bùng, tỏa ra mùi khói lam chiều nồng nặc đến xót mắt, cay xè nơi sống mũi. Nhưng gian bếp nhà chị thì đã vắng bóng người nhóm lửa tự bao giờ. Ngọn lửa ấm chị giữ gìn trọn một kiếp người, nay chỉ còn là nắm tro tàn lạnh ngắt. Tôi tựa lưng vào cội me già, nghe từng chiếc lá nhỏ chao rơi khẽ khàng trên vai tựa những cái vuốt ve ân cần ngày cũ. Giữa cõi đời mênh mông bôn ba, tôi đã đi qua biết bao phố thị đèn hoa rực rỡ, nhưng chẳng nơi đâu tìm lại được hơi ấm từ chiếc áo khoác đen chị may dạo ấy. Cái lạnh của mùa đông phố thị dẫu buốt giá đến đâu, cũng chẳng thể xé lòng bằng cái lạnh côi cút, bơ vơ giữa hiên nhà vắng chị chiều nay.
​Thế mới thấy, đời người con gái ở chốn quê nghèo, mấy ai không khao khát cho riêng mình một mái ấm bình yên, một bờ vai vững chãi để tựa vào mỗi bận giông bão kéo qua? Ai mà chẳng mong đời mình đơm hoa kết trái trong êm ấm, tựa loài thảo mộc bình thản đón nắng xuân tươi. Nhưng hỡi ôi, định mệnh nghiệt ngã chưa bao giờ ban cho người ta một con đường bằng phẳng. Cuộc đời chị Nguyệt là chuỗi ngày dài gầy gộc, gánh gập oằn trút xuống đôi vai mỏng mảnh. Chị đã mang trọn một trái tim trong trẻo, bao dung nhất đi qua từng nếp rách của kiếp người, rút cạn từng sợi ruột chỉ để che chắn cho người khác, để rồi rốt cuộc đến lúc nằm xuống, chẳng đổi lại được lấy một khoảnh khắc an yên trọn vẹn...
​Chị ơi! Kiếp này sống như ngọn đèn dầu cạn bấc, lặng lẽ rút tơ soi sáng cho đời rồi âm thầm lụi tàn trong gió lạnh. Chị gửi lại nơi quê nhà cả một tuổi xuân vất vả, gửi vào lòng đất mẹ một tấm thân gầy chứa đầy những vết hằn cay đắng, và gửi lại trong tâm khảm đứa em một nỗi đau nghẹn ngào, một nỗi nhớ niềm thương không bao giờ nguôi khoai. Dẫu năm tháng có phôi pha, dẫu mái tóc tôi rồi cũng điểm màu phong sương qua muôn đời giông bão, thì hình bóng người chị nghèo gánh cả bầu trời tuổi thơ dưới bóng me chua vẫn sẽ mãi là giọt trăng nguyên sơ nhất, dịu dàng nhất soi chiếu suốt hành trình kiếp sống của tôi. ​Căn bếp lạnh, hiên nhà vắng bóng chị, cây me rủ bóng cô đơn, tất cả cứ trơ ra giữa lòng quê tịch mịch, giăng mắc một vết thương sâu thẳm, vĩnh viễn chẳng thể lành lặn nổi. Giờ đây, dẫu tôi có đi làm kiếm thật nhiều tiền, có mua được nghìn tà áo đẹp, thì cũng chẳng còn chị ở đây để mặc. Giá như thời gian có thể quay ngược về thuở hai chị em cùng bước dưới bóng me chua ngày cũ, để tôi được đi sau lưng chị, được ôm lấy bờ vai gầy dịu dàng ấy mà san sẻ hết những nhọc nhằn, giông bão kiếp người... Nhưng tất cả nay chỉ còn là niềm luyến tiếc nghẹn ngào, một tiếng gọi chị ơi xé ruột vọng vào khoảng không vô tận, đắng xát và miên man tới vô cùng. Mỗi lần đi ngang qua căn nhà cũ, tôi vẫn vẹn nguyên một thói quen vô thức, dừng lại và đưa mắt nhìn qua ô cửa sổ hẹp, nơi chị từng bao năm cằm tựa vào khung gỗ đếm nhịp thời gian trôi, nơi chị từng miệt mài bên chiếc máy may cũ kỹ rút từng sợi chỉ tình thương dệt nếp áo cho người. Nhưng hỡi ôi, ô cửa năm nào giờ đìu hiu, trống vắng. Nơi ấy bây giờ chỉ còn là một khoảng không hun hút, tối lặng, sao chẳng còn bóng dáng người con gái dịu dàng ngồi đó với đôi mắt nhìn ra. Cái nhìn vô vọng ấy gieo vào lòng tôi một nỗi hẫng hụt ám ảnh đau đớn tới thắt ruột thắt gan. Trong nỗi nghẹn ngào u uất, tôi vẫn thường quen cất tiếng gọi: «Chị Nguyệt ơi»
📎 FB_IMG_1793873309672.jpg
Đăng nhập để trả lời
★ ★ ★ ★ ★ 0