Chuyện của hai người lính trơn thời ấy
Kính tặng: Xuân - Minh
Vừa tra được mẻ gạo vào nồi thì nghe tiếng chuông reo, bà Hà vội vặn nhỏ bếp rồi ra mở cửa. Trước mặt bà là một ông già to lớn, tóc cắt móng lừa, râu quai nón nham nhở, mắt to, miệng rộng. Trên người vận bộ quân phục đã cũ, chật căng. Chân đi dép dọ đã đứt quai.
Bà e ngại cất tiếng hỏi:
- Thưa... ông tìm ai ạ?
- Tôi hỏi khí không phải: đây có phải nhà giao sư Hà không? Trần Quốc Hà ý mà?
- Dạ, phải ạ.
- Đúng hả? Tốt rồi! Hắn có nhà đấy chứ?
Bà Hà thoáng phân vân một chút, nhưng rồi vẫn vui vẻ mở rộng cả hai cánh cửa, mời:
- Dạ có ạ, mời ông vào chơi.
Khách đàng hoàng bước vào nhà. Và, không đợi mời, thoải mái ngồi luôn vào chiếc ghế gần nhất, đưa mắt lơ láo nhìn khắp phòng, rồi gật gù cái đầu có mái tóc dựng đứng như chiếc bàn chải ngựa, nói:
- ờ, khá! Nhà cửa nom tươm đấy! Ghế bành bọc da, bàn gụ lồng kính, xe máy “đờ-dim”! Chửa sắm ti vi... “mùi”, tủ “đá” hai buồng à? Bằng khen, huân chương giấu đâu không thấy treo? à mà quên chưa kịp hỏi: Chị chắc là “phu nhân” của “tay” Quốc hà, đúng không?
Đã định lắc đầu nhưng vì không quen nói dối, bà Hà lễ phép đáp:
- Dạ, đúng ạ.
- ờ... mà hắn đâu nhỉ, sao không thấy?
Bà Hà ngượng nghịu phân trần:
- Xin lỗi... bác. ông lão nhà tôi có giấy gọi ra bưu điện nhận bưu phẩm, sắp về đấy ạ. Mời bác ngồi chơi, để tôi pha nước...
Nói đoạn bà nhanh nhẹn vào tắt bếp, bưng nồi cơm chắt hết nước cho khỏi trương, rồi quay ra tráng ấm, pha trà...
Trong lúc bà Hà làm thì khách cứ thoải mái tự giới thiệu:
- Chị không biết đâu, tôi với Quốc Hà là bạn “bằng vai phải lứa” đấy. Hai thằng chúng tôi cùng tòng quân một ngày, từ cái năm một chín năm mươi cơ. Về làm đội viên trong cùng một đại đội. Tôi được làm liên lạc của Ban chỉ huy, cậu ta phải làm lính chiến. Hai thằng chúng tôi “vào sinh ra tử” kinh lắm đấy... chị chẳng biết được đâu.
Bà Hà chưa kịp có lời đáp lại, ông Hà đã bước lên hè. Khách vội xua tay, hạ thấp giọng thì thào:
- Chị im hẵng, để xem hắn có nhận ra tôi không, nhà?
Tuy không muốn nhưng vốn tính cả nể, bà Hà đành đứng im giương cặp mắt lo ngại nhìn chồng đang ung dung, tay sách một bọc sách rất to, chằng buộc kỹ càng, bước vào nhà. Khách lập tức đứng bật dậy, giương to cặp mắt ốc nhồi trừng trừng nhìn thẳng vào mặt ông Hà. Bà Hà chú ý quan sát thái độ của chồng, thấy ông ngước nhìn khách và tỏ ra sững sờ một chút rồi rất nhânh, trỏ tay vào mặt khách, hét:
- Lục! Có đúng cậu đấy không?
Khách cất tiếng cười vang bước tới giơ tay. ông Hà cũng buông rơi bọc sách đang mang trong tay xuống nền nhà và nhào tới. đôi bạn già ôm lấy nhau và cùng để mặc cho những giọt nước mắt hiếm hoi cứ tự do trào ra ướt má...
***
Sau cơn xúc động, ông Hà quay sang nói với vợ:
Đây là bác Phạm Văn Lục. Ông bạn cùng tuổi, cùng nhập ngũ với tôi một ngày và lại cùng chiến đấu trong một đại đội. Chúng tôi xa nhau chỉ còn thiếu dăm tháng là đủ năm mươi năm. Bà làm quen với ông bạn tôi đi.
Ông Lục cướp lời, nói ngay:
- Rõ khéo chửa! Chúng tôi đã làm quen với nhau từ đời, còn phải nhờ đến cậu giới thiệu nữa ư? Phải không bà chị?
- ấy chết. Em còn kém bác nhiều tuổi đấy ạ. Bác cứ coi em như em gái cho tiện.
- Không được, không được! Bạn ra bạn, em ra em chứ. ở đời cứ phải là trọng lẫn kính chung mới được. Đúng không nào?
- Vâng ạ.
Ông Hà tranh thủ chen vào:
- Như vậy là thoải mái rồi. Bây giờ thì mời bà xắn tay áo lên, thể hiện vai trò bà chủ nhà sao cho đáo để vào.
Ông Lục lên tiếng ngay:
- định bàn chuyện ăn hả? Tớ đăng ký hai bữa, mỗi bữa một chén rượu, ba bát cơm. Rượu phải “cuốc lủi” mới được. Thịt thà, cá mú, rau cỏ... vừa đủ. Thế thôi đấy. Nên nhớ: Tớ lặn lội tìm bằng được cậu là vì công việc, chứ ăn cho sướng khẩu thì... tớ đếch cần. Nói bằng thật đấy!
- Sao lại hai bữa? định đi ngay hôm nay à?
- Phải. Chuyến tầu bảy giờ tối, vé mua sẵn đây rồi...
Bà Hà vội góp lời:
- Thực đơn bác đặt cứ y như thể cơm bữa trong gia đình thế này khiến cho gia chủ thật...
Ông Hà cắt ngang lời vợ:
- Bà yên tâm, ông tướng này là thế đấy, không biết mầu mè riêu cua gì đâu. Ngay bây giờ, bà cứ việc bắt tay vào làm bữa ăn bình thường. Việc rượu chè thế nào, cứ mặc chúng tôi.
Bà Hà đành nói xuôi:
- Vâng. Xin theo ý của các ông.
Nói xong, bà lẳng lặng xách làn đi chợ. Ông Hà ra đóng cửa rồi vào nói với ông Lục:
- Ta vào trong kia đi. Chuyện tâm sự tay đôi mà không có chén rượu “cầm chịch” thì chán chết!
Ông Lục vỗ đùi, cười hơ hớ:
- Khá! Thế mới bõ công tớ đi tầm nã cậu chứ! Cuốc lủi chính hiệu hay “của rổm”?
- Yên trí. Nếp cái hoa vàng cất bằng nồi đất, chơi “đồ cổ”... an toàn nhất hạng.
Vào tới phòng ăn, ông Lục đứng sững giương to mắt nhìn quanh, rồi tấm tắc khen:
- Thằng cha này đáo để thật! Thì ra hắn “tâm ngẩm tầm ngầm, đánh rắm thầm chết voi”... ti vi mùi, tủ lạnh hai buồng, “bíp-phê” cánh kính... niêm kín vào đây ráo cả. Ghê gớm thật. Chịu thầy!
Ông Bà bất giác phì cười, giục:
- Thì hãy cứ ngồi xuống đã nào, chuyện đâu có đó, vội gì.
Nói đoạn, ông nhanh chóng lấy chai rượu, lọ lạc rang với hai chiếc cốc nhỏ và vài cái đĩa, đặt lên bàn. Và dặn:
- Rượu đấy, lạc rang đấy... nếm thử đi. Tôi làm thêm vài món, rất nhanh thôi.
Ông Lục không giờ giục đến lần thứ hai, gật gù một mình, nhắc chai rượu lên ngắm nghĩa, rồi cũng chẳng cần rót ra cốc, cứ ung dung mở nút đưa lên miệng tợp liền hai hớp rồi chẹp môi vài cái, khẽ lẩm bẩm:
- Công nhận, uống được. Dễ chừng có đến năm chục độ?
- Chính xác bốn bẩy độ.
- Rượu chợ coi chừng chúng nó nêm hóa chất, nốc vào có phen mất mạng.
- Không lo, bà chị gái chúng tôi tự tay nấu lấy cho cả lũ em trai, em rể uống. Không phải mua. Bà ấy ở ngay trong xóm này ý mà.
Làm xong món thứ nhất, ông mang ra gắp vào đĩa, nói:
- Cậu cắt ra đi, tôi làm nốt món nữa.
Ông Lục lấy dao ăn, cắt khúc năm cái lạp xường rán ra, thò tay bốc một miếng nếm thử, nhận xét:
- Cái giống này rán ăn mất ngon. Không hay! Cậu làm tiếp món gì đấy?
- Trứng ốp-lết!
- ấy! Để tớ làm cho mới được. Chân tay các cậu sinh ra để vẽ hoa, vẽ bướm chứ cầy cuốc, nấu nướng... chỉ có vứt!
Ông nói và lập tức ra giành lấy đôi đũa bếp trên tay ông Hà. Ông Hà vui vẻ nhường chỗ và đứng “tham quan”. Đặt đôi đũa xuống (tỏ ý không thèm dùng) ông Lục cầm lấy cán xoong nghiêng đi nghiêng lại dường như muốn kiểm tra độ nóng của mỡ, rồi đặt trở lại bếp. Đoạn ông nhặt quả trứng ghè nhẹ lên mép xoong, tách vỏ, nghiêng bàn tay dốc lòng trứng vào xoong, lồng hai mảnh vỏ trứng và ném xuống xô rác, rồi nhấc cái xoong lên lắc khẽ vài vòng và đột ngột hất một cái cho quả trứng đang rán bay lên nhào lộn rồi rơi trở lại vị trí cũ! Từng quả một, cứ thế thứ tự đủ cả năm quả diễn ra như một.
Ông Hà “lác mắt” lên tiếng:
- Cậu... “bếp trưởng” cửa hàng ăn mậu dịch thời bao cấp, hả?
Ông Hà cười ha hả, lắc đầu:
- Đếch phải. Nhưng, chuyện ấy phí thì giờ, ra nâng cốc nói câu chuyện thiết thực của chúng ta, hay hơn.
Rượu rót ra, cốc chạm nhau, câu chuyện của đôi bạn sau năm mươi năm gặp lại, bắt đầu...
- Tối qua tớ ngồi xem ti vi, thấy chiếu “mục” các cụ già thi bơi. Tưởng việc “giời ơi” không để tâm. Nào ngờ đến mục giải thưởng, lại nghe tuyên bố người được huy chương vàng là cụ Vũ Đình ý. Tớ giật mình vội trông lên, thì hại quá, trên phim đã chuyển sang hình khác mất rồi. Chỉ có vậy thôi mà suốt đêm trằn trọc không sao ngủ được. Sáng ra bảo vợ con: “Tôi đi Hà Nội, tối về. Mẹ con bà cháu ở nhà cứ người nào việc nấy nghiêm chỉnh. Tôi về, sai đâu chớ trách...” Vậy là tớ đang ngồi đây với cậu...
Nghe ông Lục vào chuyện cứ lốp bốp như người ta chặt tre, ông Hà ôn tồn hỏi:
Hiện giờ cậu cùng với gia đình ở đâu?
- Chũ, Bắc Giang. Trước nay vẫn đấy.
- Vợ con thế nào?
- Một vợ tám con, năm trai ba gái. Tất tật đã có vợ, có chồng. Tớ đang là ông của chín đứa cháu nội với năm đứa cháu ngoại. Và đã là cụ của hai đứa chắt!
- Đời sống thế nào?
- Thời bao cấp làm cật lực mà vẫn đói vàng mắt ra với nhau. Vài năm đổ lại thì khá rồi: Cơm trần trắng suốt bát thả cửa ních thật đấy. áo quần hễ rách là không thèm vá, vứt liền. Nhà hai, ba, bốn, năm tầng thì chửa dám mơ chứ cái tang “con sơn”: tường xây, mái ngói, nền cao, sân lát... thì chín gia đình đã có đủ chín cơ ngơi đàng hoàng, nghiêm chỉnh.
- Vì sao năm mươi năm không thèm liên hệ gì với anh em bạn cũ?
Ông Lục bỗng bật ra một tiếng cười ngắn, nghe rất lạ và nói:
- Suốt thời bao cấp, làm một nông dân không thích cầm cầy, lại ngoài diện có phiếu vé! Vậy thì cậu định xui tớ vác cái mặt võ vàng, cái thân hình rách rưới... đến nhà ai? Và đến làm gì cho thêm não ruột? Gần đây “có da có thịt” một tí, nhớ bạn bè đấy nhưng “tham công tiếc việc” nên cứ nấn ná.
- Ai bảo cho cậu biết tôi còn sống và đang ở đây, mà đến tìm?
- Cũng rất tình cờ. Cách đây gần tám năm, khi ấy tớ còn “làm chủ” ngôi hàng cơm. Một hôm có đám sinh viên đi thực tập mò tới ăn. Trong khi trò chuyện chúng khoe với nhau về một đám cưới mới tổ chức, lại còn đưa cả ảnh ra phô. Vô tình, tớ trông thấy cái răng khển cùng cặp môi “cánh nhạn” của cái người đứng giữa cô dâu, chú rể. Tớ ngợ quá bèn hỏi thì chúng nó bảo là giáo sư Trần Quốc Hà, bố đẻ của chú rể. Tớ đành bịa chuyện rằng tớ là lính cũ của cậu từ thời chống Pháp, để xin địa chỉ. Thế là chúng sẵn sàng cấp ngay. Cũng cứ nghĩ: Ngứa mồm thì hỏi cho bõ thèm vậy thôi, “sức mấy” mà một gã hàng cơm dám mơ “bắt quàng” làm họ” với một giáo sư? Nào ngờ, thời vận đến, trông thấy thiên hạ cuốc đồi, phá nương trồng vải “thắng” quá. Thế là tớ quyết định từ giã “nghệ” hàng cơm, xoay ra trồng vải thiều. Sau năm năm cả nhà dốc vốn, dốc sức đánh vật với đất, thì bắt đầu khấm khá dần lên. Làm nhà làm cửa, tậu máy bơm, ti vi...
Cho mãi đến tận hôm qua, trong lúc ngồi “oai vệ” trước cái ti vi mầu hăm mốt inh mới tậu nhưng hồn vía lại vương vấn ngoài vườn ruộng, nương đồi, thì bất đồ nghe họ nói đến tên anh đại đội trưởng “của chúng ta”! Tớ giật mình vội trông lên màn hình, thì hại quá, tiết mục ấy đã qua rồi. Tớ hỏi, con dâu bảo: “Người ta bảo rằng cụ Vũ Đình ý thi bơi giật giải Huy chương vàng”!
- Họ có chiếu hình cụ ấy không?
- Có.
- Hình dạng thế nào?
- Một cụ già bé nhỏ, cụt một bên chân đến tận... ngang cái chỗ gấu váy của các cô gái ở quán bia ôm ý cơ...
Nghe vậy tớ ngẫm nghĩ: Thế thì đúng là đại đội trưởng của mình rồi. Nhưng... quái quỉ... nếu là anh ấy thật thì làm sao mà còn có thể bơi được? Lại còn thi? Lại còn đạt huy chương vàng nữa mới chết cha người ta chứ! Nhưng, ở đời có thể trung tên chứ làm thế nào mà lại trùng cả cái chân cụt? Biết đâu...
Thế là suốt đêm tớ không sao ngủ được. Thì cậu còn lạ gì, nghề đời khi mà no cơm ấm áo, vợ không bìu, con không dín, gánh nặng gia đình đã căn bản... ổn rồi, thì con người ta dễ nảy sinh “tâm tư tình cảm” cá nhân lắm, nhất hạng lại là cái tình của những thằng lính trận đã từng vào sinh ra tử có nhau! Cuối cùng tớ quyết định: Phải đích thân về thủ đô một chuyến, hỏi cho ra nhẽ. Biết đâu đấy, nếu đúng anh Vũ đình ý đại đội trưởng của mình thật thì sao? Tớ nghĩ ngay đến cậu: Đành cứ là chơi nước “liều”, vác mặt đến tận nhà “hỏi thăm sức khỏe” để xem thái độ của “người anh em” thế nào, rồi qua đó sẽ liệu cách... “tùy cơ ứng biến”! Thế là, sáng ra tớ lập tức lên tầu...
Ông Hà bất giác vỗ đùi cười vang nhà. đoạn gật gù mái tóc bạc tỏ ra rất đắc ý, nhận xét:
- Hay thật! Một “thằng bán trời không văn tự” như cậu. Lúc nào cũng “ruột để ngoài da”; mồm miệng hổ mang hổ lửa... vậy mà cũng đã biết tính toán đường đi nước bước, trông trước ngó sau. Một sự tiến bộ vượt bậc, rất đáng biểu dương. Nào, cạn cốc!
Uống cạn. Ông Lục dốc ngược cái cốc cho ông Hà thấy, rồi lên tiếng:
- Thôi nhá, phi lộ phi loẹt như thế đủ rồi. Thì giờ hạn hẹp, ta vào việc chính. Tớ bỏ công bỏ việc ra tận đây, tìm cậu, nói rằng đi thăm thì cũng được nhưng không thật, đó chỉ là cái cớ đầu lưỡi. Tớ ra đây mục đích đi hỏi dò tin tức về anh Vũ Đình ý. Cậu có định chối là không biết tin gì về anh ấy không đấy?
- Trái lại. Tôi biết khá kỹ. Cần hỏi những gì về anh đại đội trưởng của chúng ta, mời cậu cứ hỏi thoải mái.
- Trước hết cậu phải hết sức nghiêm chỉnh nói cho tôi biết: Có đúng là anh đại đội trưởng của chúng ta đã đi thi bơi và đã giật Huy chương vàng, thật không?
Ông Hà gật gù mãi rồi làm ra vẻ quan trọng, đáp:
- Nói năng lốp chốp, mất hết ý nghĩa. Tôi cần quán triệt cho cậu nhận thức đúng đắn, chính xác từng câu từng chữ mới được: Đúng, đại đội trưởng của chúng ta đã tham dự cuộc thi bơi dành cho người cao tuổi toàn quốc. Nhớ rằng toàn quốc đấy nhé! Và đã giành huy chương vàng... Không chỉ có một huy chương vàng đâu nhé, mà là hai huy chương vàng. Ngoài ra, trước đấy đã chiếm ba huy chương bạc cùng với ba huy chương đồng. Có nghĩa: kể cả vàng, bạc, đồng “người” đã có tới tám chiếc... hiểu chưa?
Ông Lục trợn mắt, há hốc mồm lắp bắp:
- Những... những tám... tám huy chương cơ à. Thật, bỡn?
- Thật một trăm phần trăm.
Ông Lục khoái chí đấm tay xuống đùi, thốt lên:
- Chà chà, thánh thiên tử! Đại đội trưởng ra đại đội trưởng... cực kỳ là cực kỳ! Trần đời có một đấy nhé.
Thấy ông Lục tỏ ra hào hứng khác thường, ông Hà cố tình nói trêu:
- Cậu này hay nhỉ. Ngồi khểnh ở xó nhà, dỏng tai nghe thành tích của anh ấy rồi vỗ đùi lớn tiếng khen ngợi... suông, thì thằng quái nào chẳng làm được? Rõ dơ...
- Ơ! Đằng ấy chê tớ ngồi xó nhà vỗ tay suông. Thế dễ thường đằng ấy đi thi hộ anh ấy chắc? Cũng đòi... ra cái vẻ ta đây!
- Thi hộ thì xin thú thật là không. Vả lại nếu có muốn thì anh ấy cũng không cho phép cơ mà.
- Vậy thì cậu có hơn có gì tớ mà ra cái điều? Buồn cười thật đấy nhỉ?
Ông Hà vẫn cười nhưng không muốn đùa dai, nên chân thật đáp:
- Cậu cũng như “bàn dân thiên hạ” biết sao được những nỗi vất vả có cả sự chua cay và cũng hết sức khôi hài, đã giăng ra trên con đường đi tới những chiếc huy chương của anh ấy? Hãy thử hình dung: Một ông già bẩy mươi tám tuổi, thấp nhỏ như anh ấy, lại cụt một bên chân. Cả đời chưa bao giờ thi bơi lấy một lần, nay bỗng nảy sinh ý muốn đi thi. Nghe có “ngông cuồng” không chứ? Vậy là anh ấy tự chuốc lấy cả một “núi” trở ngại. Trước hết là đối với chính bản thân. Rèn luyện cách nào để khắc phục những “trở lực” từ ở chính mình. Thuở thiếu thời tuy có biết bơi, nhưng nay sau năm mươi năm (kể từ khi bị cụt chân) không “văn ôn võ luyện”? Một bên chân đã cụt (cơ thể bị lệch) làm sao giữ được thăng bằng và tốc độ? Vóc dáng bé nhỏ, (cả thể lẫn lực đều kém người)? Sau đó là đến những khó khăn khách quan: Muốn được dự thi phải do một tổ chức thể thao bơi lội (nào đó) tuyển chọn và giới thiệu. Mà anh ấy lại không tham gia một thứ câu lạc bộ nào...
Thấy ông Hà buông lửng vấn đề ở đây. Ông Lục sốt ruột giục:
- Rồi thế nào, nói tiếp đi chứ?
- Còn thế nào nữa? Từ khi sinh ra “người”, trời đã phú cho cái nết: “yêu chim ghét chjuột” (thích bay cao mà lại “sợ” chui luồn). Vợ con, bạn bè... ai cũng có nhời khuyên nhủ anh ấy hãy nhớ câu “lão giả an tri”, tìm niềm hạnh phúc trong thú “điền viên” chả hơn ư? Chính tôi cũng ra sức can ngăn anh ấy, nhưng vô hiệu cậu ạ.
- Thế thái độ anh ấy ra sao? Chống lại quyết liệt chứ gì?
- Ơ, cậu quên rằng đại đội trưởng của chúng ta là “cỡ” người thế nào rồi sao? Suốt đời, kể từ khi làm lính, rồi ra làm quan, đến khi trở về làm dân... anh ấy chỉ tôn thờ có mỗi một chữ nhẫn: Nghĩa là “người” chẳng hề chống đối ai bao giờ. Ai trách, ai khen... anh ấy vẫn cứ bình tĩnh lắng nghe... để suy ngẫm và rút kinh nghiệm, chứ không vội vàng tỏ thái độ.
- Cậu nói vậy tức là...
- Tức là anh ấy cứ lẳng lặng “kiên... nhẫn” đi tập lại để tìm lấy “cách bơi” cho riêng mình. Đồng thời, lần mò hỏi thăm, tìm đến gặp Ban phụ trách câu lạc bộ bơi lội của quận, xin họ cho gia nhập, làm một hội viên. Bước đầu như thế tạm coi là xuôi lọt. Nhưng, đến khi ủy ban Thể dục Thể thao Trung ương ra thông tư chính thức tổ chức cuộc thi bơi “Dành cho những người cao tuổi cả nước năm 199...”, thì... bắt đầu có chuyện! đầu tiên: Ban phụ trách Câu lạc bộ lập danh sách tuyển thủ, họ loại ông anh của chúng ta ngay từ vòng đầu. Không có tên trong danh sách đi dự thi, anh ấy không hề chạy chọt, xin xỏ gì hết, mà cũng chẳng đấu tranh, đòi hỏi một lời nào. Cứ thản nhiên “việc mình, mình làm”. Hàng ngày vẫn lên bể bơi tập (tất nhiên không được chung với các tuyển thủ)... Thật may, một hôm có vị thượng cấp ở Sở về kiểm tra sự chuẩn bị của Quận. Ngồi trên cao (khán đài) vị thượng cấp vô tình phát hiện ra đại đội trưởng của chúng ta đang lủi thủi bơi... ngoài cuộc. Là người có “con mắt nhà nghề” vị thượng cấp đó có sự để tâm...
Thế rồi, khi chỉ còn hai ngày nữa là đến hạn lên đường (vào Sài Gòn dự thi). Bất ngờ Chủ nhiệm Câu lạc bộ đến, có lời mời: “Nếu cụ thực sự muốn đi thi... đề nghị đóng góp một phần kinh phí”. Mừng quá, đại đội trưởng gật liền và nhận giấy giới thiệu đi khám sức khỏe. Kết quả: “Nặng 35kg; cụt một chân; răng rụng... một nửa; huyết áp thấp...” (Tờ giấy khám sức khỏe cứ như một bản án)!
Thất vọng tràn trề, trở về gặp bác sĩ phụ trách sức khỏe của đoàn chờ phán xử. Có lẽ ái ngại cho ông anh của chúng ta quá, vị bác sĩ “giầu lòng thương người” ấy đã giúp đỡ bằng cách: Cho đi nhưng không cấp giấy chứng nhận “đủ sức khỏe” như các tuyển thủ khác! (Thâm ý muốn khuyên “người” nên tự nguyện... rút lui).
Ông Lục chợt thắc mắc:
- Làm thế đếch nào mà cậu biết tỉ mỉ như vậy được?
- Này, đừng tưởng chỉ có mình cậu là lính của C363 hiện còn “sống sót” sau trận núi đanh đâu nhé. Hiện giờ ở ngay tại Hà Nội này, ngoài tôi ra còn có thêm hai cậu nữa đều là lính 363 và đều đã mang lon đại tá cả rồi. Đứa nào cũng hết sức quan tâm đến đại đội trưởng của mình. Riêng tôi do có điều kiện gia đình nhẹ nhàng hơn một tí nên rất thích “tháp tùng” đại đội trưởng, bất kể lúc nào.
- Nói vậy có ý bẳng rằng cậu đã... “tháp tùng” anh ấy kể cả khi “vào Nam, ra Bắc”?
- Chứ sao?
- Đáng mặt lắm. Tớ thật bõ công đi tìm cậu. Tiếp tục đi: “đồng ý cho đi nhưng không cấp giấy chứng nhận sức khỏe”! Đến nước ấy thì đại đội trưởng của chúng ta đành nhẽ... rụt vòi chứ, hả?
- Cậu lại quên rằng cả một đời anh ấy chỉ thờ chữ nhẫn ư? “Người” vẫn một mực “còn nước còn tát”! Nói thì bảo duy tâm, nhưng quả thực là “Hoàng thiên bất phụ hảo nhân tâm”. Vào tới Sài Gòn, Ban Tổ chức cuộc thi yêu cầu “Tất cả những ai chưa có giấy chứng nhận sức khỏe, đều phải khám lại ngay tại chỗ”. Không ngờ, số người chưa có giấy chứng nhận đông quá. Bác sĩ của Ban Tổ chức làm không kịp, bèn “có sáng kiến”: Phát cho mỗi cụ một mảnh giấy yêu cầu từng người viết cam đoan. Đại đội trưởng của chúng ta thế là một lần nữa được trời cứu, viết ngay.
- Cuối cùng, được chính thức dự thi chứ?
- Tất nhiên. Nhưng... khi chính thức “nhập trận” mới thật sự đáng sợ. Chẳng hiểu, là người trong cuộc đại đội trưởng nghĩ thế nào chứ tôi làm cái “chân” cổ động viên, đứng ngoài mà trông thì... hãi lắm! Cậu thử nhắm mắt lại mà tưởng tượng xem: Với cái tạng người “to lớn” như đại đội trưởng của mình, khi mà cởi sạch quần áo ra đứng bằng trần sì có một chân, bên cạnh các lực sĩ dân miền biển Thanh, Nghệ, Tĩnh, Bình, Trị... vị nào vị nấy da dẻ đỏ au, cao to lừng lững... chẳng gấp ba thì chí ít cũng gấp đôi đại đội trưởng. Chỉ những nom đã khiếp. Thế rồi súng nổ. Vài giây đầu tôi tối tăm mặt mũi không nhận rõ thực hư thế nào, định thần lại, nhìn rõ, tôi thật sự kinh ngạc khi thấy đại đội trưởng của mình cũng đang... “ngang ngửa” trên đường đua... như ai. Kết thúc “người” chiếm giải ba: Huy chương đồng! Thiên hạ “lác mắt” trầm trồ, ai ai cũng coi là một sự lạ lùng. Con cháu, bạn bè xúm vào bâu kín lấy anh ấy, mừng vô kể. Cậu biết không? Hầu như tất cả cánh cựu chiến binh 312 đang sinh sống ở Sài Gòn nghe tin Vũ đình ý vào dự thi bơi người cao tuổi, hôm sau đều có mặt (chứ không riêng gì “một nhúm” anhem của trung đoàn Sông Lô đâu nhé)! Thì... đã là cựu chiến binh của đại đoàn, anh nào mà chẳng ít nhiều đã từng nghe danh đại đội trưởng vũ đình ý. Có lẽ sự có mặt của đông đảo anh em đồng đội đã tác động mạnh vào anh ấy, khiến cho, mặc dù cuộc thi ngày thứ hai khó khăn hơn: 100 mét bơi ngửa! Cậu nghĩ cem có một chân mà lại nằm ngửa, chệch đường đua là cái chắc! Ai cũng lo. Không ngờ “người” vừa bơi vừa “liếc” đường dây giới tuyến, theo kiểu con nhà lính “bám thắt lưng địch mà đánh”. Trông anh ấy bơi cứ như thể dựa hẳn vào cách vạch giới tuyến, hồi hộp lắm cơ. Lượt đi “người” ở hàng thứ tư. Anh em (và cả đông đảo người xem) gào lên thôi thúc: Vũ đình ý! vũ đình ý! vũ đình ý!... Thế là lượt về “người” nỗ lực vượt lên bỏ qua một đối thủ, rồi hai đối thủ... Kết quả giải nhì: huy chương bạc!
Hôm ấy quả là một ngày cực kỳ sung sướng. Anh nào cũng xúc động ôm lấy đại đội trưởng. Mừng vô cùng, hãnh diện vô cùng. Riêng tôi, cứ ngỡ rằng như vậy là anh ấy đã toại nguyện (Đã được thử sức, thử tài với “bàn dân thiên hạ”, và đã khẳng định được mình)! Nào ngờ khi trở về Hà Nội anh ấy vẫn cứ mải mê luyện tập. Tôi hỏi, thì anh ấy nói dở đùa dở thật: “Đỉnh cao của người lính khi ra trận là huân chương quân công. Đỉnh cao của người vận động viên khi thi đấu là huy chương vàng! Tớ còn phải thi...”
Quả nhiên, anh ấy nói sao là làm y như vậy, không ai cản được. Liền hai năm sau tiếp tục đi thi: Vẫn cứ một bạc một đồng mỗi cuộc. Anh ấy cứ gan lì luyện tập dai như đỉa ấy. Cho tới năm nay thi ngay tại “sân nhà” giữa đất Thủ đô, “người” giành trọn cả hai huy chương vàng! Như tối qua đài truyền hình Trung ương vừa thông báo đấy...
Nghe rõ ngọn ngành, ông Lục bỗng trở nên tư lự. Hồi lâu mới khẽ thở dài cất tiếng:
- Thế thì kỳ lạ thật. Bẩy mươi tám tuổi rồi, thương tật như thế! Mà người thì cân nặng được những băm nhăm kí “cả bã”! Không hiểu ông ấy lấy sức ở đâu ra cơ chứ?
Dường như đã có ý đứng chờ sẵn, nghe đến đấy bà Hà bước ra nhỏ nhẹ hỏi:
- Cơm canh xong cả rồi, ông lão với bác đã muốn dùng chưa?
Ông Hà vui vẻ đáp:
- Tốt quá. Bà cho anh em chúng tôi chén ngay đi cho nóng. Cậu đồng ý chứ?
- Thật thà mà nói, bác gái đừng cười: Tôi dậy từ bốn giờ sáng, hối hả thu xếp việc nhà đến năm giờ mới tạm yên tâm phó thác tất cả cho mẹ con bà cháu nhà chúng nó, rồi vội ra ga đón chuyến tầu sáu giờ. Tầu chợ, chạy như rùa bò, mãi tám giờ mới tới ga Hà Nội. Xuất trình vé xong, phóc ngay lên xe ôm, bảo nó phóng đến đây lập tực. Chửa kịp cơm, nước, quà bánh gì sất. Định bụng “dằn mặt” nhau cái đã, xem binh tình ra sao rồi hãy hay. Tiền đẫy túi, ăn uống lúc nào nên lúc ấy, đi đâu mà vội. Tôi nói thế nghe có trái tai không, bà chị?
- Bác nói phải lắm ạ. Thôi thế chẳng mấy khi, bác đã có lòng tìm đến thăm ông lão nhà tôi, tiện bữa, mời bác xơi lưng cơm rau dưa với vợ chồng chúng tôi.
- Ôi chà chà... bà chị nói khéo thật. Tôi “con nhà lao động” quen thói bỗm bãm, nói năng chẳng chịu giữ mồm giữ miệng gì đâu. Có thế nào bà chị đừng cười, nhá! Nào, ta ăn chứ, cậu? Mời bà chị...
Đã yên tâm về người bạn của chồng mới xuất hiện lần đầu tại gia đình, bà Hà vui vẻ cùng ngồi ăn. Câu chuyện tay ba, qua lời ông bạn của chồng, bà Hà hiểu được rằng: “... trong một trận đánh ở cái nơi có tên là Núi Đanh, chồng bà với ông Lục này cùng bị thương phải đi điều trị. Khi chữa khỏi vết thương, mỗi người đi một nơi. Vốn tính nết nóng nẩy lại có phần ngang ngạnh, ông Lục được giải ngũ ngay sau ngày hòa bình lập lại. Tay trắng không nghề, ông phiêu bạt “giang hồ” kiếm sống, bất ngờ gặp một cô gái quê ở Bắc Giang, hai bên vừa lòng đẹp ý, thế là lấy nhau không cần dạm hỏi, cưới cheo gì. Bà vợ sinh đẻ bảy lần được tám người con, nuôi sống đủ cả tám. Gia đình mở ngôi hàng cơm ở ga Chũ, vợ chồng con cái “chủ tớ một phường” bám vào ngôi hàng cơm ấy, mà sống lay lắt qua ngày. Đất nước đổi mới, dân tình “bung ra” khai phá đồi hoang trồng vải. Trông thấy thiên hạ làm giầu ngay trước mắt, vợ chồng con cái ông cùng nhau bàn bạc nhất trí từ bỏ ngôi hàng cơm, đi tìm đất khẩn hoang, trồng vải. Đành lòng “trâu chậm nước đục”; phải nhận “gặm xương gặm xẩu” nhưng “tích tiểu” mãi rồi cũng phải “thành đại”. May mà nhà đông con, được miếng nào ăn gọn ngay miếng ấy, phân chia tắp lự cho từng đứa tạm thời đứng ra cai quản. Cả nhà ra công đánh vật với đất với trời: Gian truân, nhọc nhằn, đói rách... hết chỗ nói, mất già năm năm thì bắt đầu khấm khá dần lên. Nay thì... ổn lắm rồi...”.
***
Cơm xong, ra ngồi uống nước, ông Lục nói:
Nếu cậu quen ngủ trưa thì cứ tự nhiên, tôi ngồi trong phòng ăn xem ti vi chờ. Khi nào cậu dậy ta cùng đi.
- Đi đâu?
- Ơ hay. Tớ lần mò ra đây vì muốn biết về anh Vũ đình ý. Từ sáng đến giờ tai đã nghe đủ rồi, giờ thì phải mắt thấy chứ.
- à, tôi hiểu. Cậu cần tôi “dẫn đường chỉ lối” đến thăm anh chị ấy với các cháu, phải không nào? “May quá”... gia đình anh chị vũ đình ý đi Tuyên Quang từ chiều hôm qua, trưa mai mới về. Cậu đến bây giờ nhà khóa cửa, không vào được đâu.
- Bỏ mẹ rồi. Nếu vậy thì nguy quá, làm thế nào bây giờ đây?
- Sao? ở lại đây với vợ chồng tôi, mai cùng nhau mò sang tóm sống ông anh. Lo gì!
- Cậu... đúng là dân ăn dưng ngồi rồi! Bọn nhà quê chúng tớ công việc đồng áng thời này đâu có rỗi! Giờ đang mùa vụ thu hái. Khi đi đã dặn tối về, mẹ con bà cháu nó ở nhà cứ đinh ninh...
Ông Hà nói với ngụ ý bông đùa:
- Chẳng nhẽ trong xóm cậu ở chưa ai có điện thoại ư? Hay là tiếc cái vé khứ hồi đã chót mua?
Biết bị nói khích, ông Lục vẫn cười thoải mái, khen:
- Giỏi. Cậu vẫn là đứa tinh khôn hơn người. Thằng hai nhà tớ tính ngông, nó “chơi” điện thoại từ năm ngoái kia. Để tớ gọi nhờ máy nhà cậu một tí, được chứ?
Ông Hà bật cười, nói tếu:
- Cứ mỗi phút một nghìn hai, theo đúng giá dịch vụ công cộng!
Không nối lời, ông Lục nhanh nhẹn ra nhấc máy, bấm số.
Gọi điện xong ông Lục quay lại, thở dài ca cẩm:
- Hại thật. Biết làm gì hết được thì giờ cho đến tận chiều mai đây?
Ông Hà vờ làm mặt nghiêm trang, nói:
- Hay là tôi đưa cậu lên thăm lại Núi Đanh, nhân thể thắp hương viếng anh em ta đang còn nằm lại đó? Từ giờ đến mai, kịp đấy.
- Cậu bảo sao? Năm chục năm rồi, còn gì ở đấy nữa mà thăm với viếng?
- Chết thật. Thì ra cậu là một kẻ “vô tình, vô nghĩa” hạng nặng mất rồi. Thưa với cậu rằng: Từ ngày đất nước đổi mới, các cựu chiến binh của đại đoàn 312 cùng với bốn trung đoàn đều thành lập Ban Liên lạc bạn chiến đấu cũ để sinh hoạt tình nghĩa. C363 của chúng ta nằm trong D 130, E 209 thời ấy... hiện vẫn còn đại đội trưởng của mình. Hằng năm anh vũ đình ý chủ động tổ chức đi viếng số anh em 363 còn đang nằm trên đó. Mới đầu chỉ “lẻ loi” mấy anh em “tâm huyết” rủ rê nhau; dần dà các đồng chí trong Ban liên lạc trung đoàn cũng đồng tình ủng hộ. Thế là thành lệ: Cứ vào ngày 17 tháng 1 hàng năm, Ban liên lạc trung đoàn lại tổ chức cho tất cả những anh em nào “có lòng” nhớ đến các liệt sĩ Núi đanh, thì... xin mời lên ô tô. Sáng đi, tối về...
Ông Lục trợn tròn mắt, hỏi:
- Lắm tiền thế kia à?
- Làm quái gì có tiền! Hội viên mỗi năm đóng mười nghìn đồng hội phí để chi về việc họp hành, thăm hỏi khi ốm đau, chết chóc. Phải khéo thu xếp lắm mới tạm đủ. Những cuộc đi như thế, Ban tổ chức xác định phân mình: Tiền tầu xe đi, về do cá nhân đóng góp, tiền mua hương hoa và tặng phẩm... Ban liên lạc có trách nhiệm thu xếp. Còn vấn đề ăn uống, nghỉ ngơi của đoàn thì do Tỉnh ủy và ủy ban tỉnh Vĩnh Yên... làm chủ một trăm phần trăm việc tiếp đón và chiêu đãi. Bởi vậy cho nên khi đến tỉnh thì Bí thư tỉnh ủy và Chủ tịch tỉnh đích thân đứng ra tiếp đoàn, về đến huyện thì Bí thư huyện ủy và Chủ tịch huyện, khi đến Xã thì Bí thư đảng ủy và Chủ tịch Xã... mọi nơi, mọi chỗ đều cực kỳ chu đáo, chững chạc. Không thể chê trách vào đâu được.
Ông Lục ngồi nghe, mặt ngây như tượng. Mãi mới thốt lên:
- Chà chà, kinh quá nhỉ? Long trọng đến thế kia à?
- Chứ lại bỡn ư? Từ lâu Đảng ta đã liên tiếp ra lời kêu gọi: Phải “đền ơn đáp nghĩa”! Phải “đời đời nhớ ơn các liệt sĩ”! Lời kêu gọi đó đâu phải là lời nói chơi, là khẩu hiệu suông? Người anh em là dân “vùng sâu vùng xa” lâu năm, nay mới có dịp về thăm miền xuôi đổi mới, trông vào đâu, nghe thấy gì cũng ngạc nhiên là phải.
Nghe cái cung cách nói năng ấy của ông Hà, biết rằng mình đang bị “cạnh khóe” ông Lục bình tĩnh “trả miếng”:
- Cậu nói đúng như sách, nghe sướng cái lỗ tai lắm. Chỉ khốn một nỗi bên cạnh những cái mới như cậu vừa khoe, miền xuôi cũng xuất hiện lắm cái mới khiến bọn “ngu dân lạc hậu” chúng tớ nhìn thấy mà... cám cảnh thay cho các đồng đội đã hi sinh!
- A, hay đấy! Là cái gì vậy?
- Là cái sự, “các cháu trai, cháu gái” của các ngài ở dưới này đang đua nhau chạy theo “mốt” của bọn người Âu, Mỹ, nhưng lại lạc sang các cung cách mà tổ tiên ta đã có “nhời bình” rằng: “thấy người ta ăn, tranh nhau bốc cứt bỏ bị”...
Ông Hà vui vẻ kêu lên:
- Trời ơn, cái anh chàng nổi tiếng là “lông nách một nạm, chè tầu một hơi” của thời ấy, bây giờ cũng khẩu khí ra trò đấy nhỉ” Thôi, “em xin bác” vui lòng “nói nôm” ra cho em dễ hiểu, chứ “nói chữ” như thế thì em chịu, không tài nào đoán nổi.
- Được, tôi hỏi cậu: Đảng ta đang ngày đêm kêu gọi “giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc”. Vậy mà ở ngay giữa Thủ đô này, các “cháu gái” vẫn đua nhau mặc váy khoe đùi, kheo bẹn: mặc áo phơi “mầm” phơi nách! Các “cháu trai” thì cưỡi mô-tô phân khối lớn phóng bạt mạng, mặt mũi tỉnh bơ “chơi” mô-bin-phôn! Chán trò ấy là kéo nhau vào công viên hoặc lên hồ Tây, thi nhau biểu diễn các kiểu hôn hít, sờ sịt... cứ y như tây với đầm trong phim Âu, Mỹ ấy! Tất cả những trò “mới, lạ” như thế đã diễn ra hàng chục năm ở giữa Thủ đô này, có đúng là chúng nó đang “nhặt cứt” của người ta thải ra, bỏ vào bị của mình, không hả? Chẳng nhẽ những “ông to bà lớn” như các cậu cũng... “sợ bóng, sợ vía” chúng nó ư?
Ông Hà bất giác bật cười, vội lắc đầu, xua tay:
- Thôi, thôi, tôi xin nhận thua cậu “một không”. Chuyện ấy nó phức tạp và tế nhị lắm lắm, không thể áp dụng phương sách “chém to kho mặn” theo kiểu thời “cắt sổ gạo” đối với chúng được đâu. Nhưng, tôi nghĩ, cậu có thể yên tâm. Bởi vì thời gian nó như cái lò luyện kim loại ấy, nhất là nó lại được điều khiển bằng bàn tay của Đảng ta. Sớm muộn gì, rồi cậu xem... “Ngọc, đá... Vàng, thau”, đâu sẽ vào đấy hết thôi mà.
- Nói như cậu liệu có... hữu khuynh không đấy/
- Ôi, Lục ơi là Lục! Lâu lắm rồi tôi mới lại nghe có người nói đến những cái từ ngữ thời kháng chiến chống Pháp: “Hữu khuynh tiêu cực”, “cầu an hưởng lạc”, “tư tưởng lạc hậu”... mà cái người nói lại là cậu - một kẻ “thường trực” có tên trong sổ tay của các vị chính trị viên đại đội. Hay thật!
Ông Lục cũng cười, thoải mái góp lời:
- ờ, thì cũng do thằng tớ là đứa “tổ sư vạ miệng”. Nói năng văng mạng chẳng còn coi thằng nào ra cái chó gì, nên “chúng nó” mới ghét. Ai đời bốn năm làm lính trơn, nếm cơm tới sáu đại đội mà vẫn không lên nổi một cấp. Phải chờ đến khi nhận quyết định “ra quân” mới biết mình đã được phong chức tiểu đội phó! Nói của đáng tội, tớ vẫn cứ nghĩ: Cái số tớ nó chẳng ra gì, chứ nếu như anh vũ đình ý không “về vườn” sớm thế, chắc chắn đời tớ đã khác.
Ông Hà lại nổi máu đùa cợt:
- Là “cánh hẩu” với nhau, hả?
- Chả phải. Tính anh ấy tớ biết, chúa ghét thói xu nịnh, và cũng không thích chấp vặt. Đấy cậu xem: Làm một đại đội trưởng lại kiêm luôn cả chính trị viên, vậy mà anh ấy vẫn cứ đàng hoàng như không, chẳng phải “làm công tác tư tưởng” cho một thằng nào hết. Không hề “to tiếng rậm nhời” vậy mà cả đại đội “đứa” nào cũng nể. Lúc về hậu phương, cả đại đội không tên nào phạm kỷ luật dân vận. Khi ra trận, cậu thấy đại đội mình có thằng nào mèng đến nỗi “đái ra quần” không, hả?
- Chuyện. Cổ nhân đã dạy: “Thượng bất chính hạ tắc loạn”. Ví thử ngày thường mỗi khi lính đi vác gạo, làm lán hoặc đi lao động giúp dân v.v.. mà ba quân không ai nom thấy bóng vía đại đội trưởng đâu. Rồi khi ra trận, chỉ thấy đại đội trưởng lớn tiếng gào lính xông lên nhưng chính bản thân lại... chần chừ chờ... “số anh em chạy chậm”. Thì, tôi xin hỏi cậu: Liệu “cái C 363” của chúng ta có “ngoan” khi ở hậu phương, và có “khinh chết” khi ra trận như thế không nhỉ?
- Thì thế cho nên mới thành chuyện. Cậu thấy đấy, đời lính của tớ trải qua 6 “đời” đại đội trưởng, vậy mà ngoài đại đội trưởng của chúng ta, tớ có thèm nhớ “ngài” đếch nào nữa đâu!
- Nghĩa là cậu chỉ “sùng bái” có một mình anh vũ đình ý?
- Chẳng phải. Đứa nào “sùng bái cá nhân” chỉ là đứa ngu. Tớ rất thích nhân vật Bao Chửng trong phim Tầu, ông ta chẳng thiên vị đứa đếch nào, vậy mà từ thứ dân đến Hoàng đế ai ai cũng “tâm phục, khẩu phục”. Tớ cứ nghĩ cái 363 của chúng ta đối với anh vũ đình ý cũng giống như thế. Chả hạn như với tớ: Anh ấy chưa hề cho tớ một đồng xu mẻ hay là ban cho tớ một lời khen nào. Và hình như cũng chưa một lần chuyện trò bù khú hoặc tâm sự tỉ tê gì. ấy thế mà tớ vẫn cứ “tâm phục, khẩu phục” đại đội trưởng của mình như tất cả mọi anh em của cái 363. Hỏi có lạ không chứ? Nhưng, nói của đáng tội, trong cơn “bốc lên” nhớ đại đội trưởng quá, tớ hùng hục đi, lúc ngày nghĩ lại, thấy ngại. Không biết sau năm chục năm giời xa cách, liệu đại đội trưởng có còn nhớ đến một thằng đội viên quèn như tớ không? đến thăm, lỡ mà đại đội trưởng hỏi: “đồng chí tên là gì nhỉ? Tôi bây giờ... có tuổi rồi, chẳng còn nhận ra ai với ai nữa”! Như vậy thì bỏ cha tớ. Đến phải bưng lấy mặt mà “đằng sau quay” cho chóng!
Bất giác lại nổi máu khôi hài, ông Hà cười rất to, bàn:
- Khó quái gì việc ấy? ở Hà Nội này không sẵn mo nang, tôi sẽ cấp không cho cậu một cái quạt giấy mới tinh. Gặp phải tình huống ấy, chỉ việc xòe nó ra, che mặt lại là xong.
Rất biết tính nhau, ông Lục không thèm bận tâm về cách nói của bạn, vẫn cứ thản nhiên đuổi theo ý nghĩ của mình:
- Cậu bảo liệu có sự ấy diễn ra không nhỉ?
Cảm thấy ân hận vì đã chót đùa, ông Hà thành thật đáp:
- Cậu nghĩ ngợi dở hơi gì thế? đại đội trưởng của chúng ta tiếng là già nhưng vẫn còn tinh tường sắc sảo lắm, chẳng hề quên một người, một việc nào. Nhất là đối với cái loại lính “ba gai ba đồ” nổi tiếng như cậu! Rồi đấy, mai gặp cậu sẽ thấy.
- Thế còn... chị ấy và các cháu, tình hình ra sao?
- Chị Huê nguyên là y tá trong quân đội, hiện cũng đã nghỉ hưu. Anh chị ấy lấy nhau từ năm 1948 cơ mà. Còn các cháu, cả bốn đứa nay đều đã “nên người”, chững chạc lắm rồi.
- Nhà nước cho anh ấy “về vườn” ngay sau khi cắt gọn một bên chân chứ?
- Không, anh ấy đâu phải là con người dễ đầu hàng số phận như vậy? “Người” kiên quyết không chịu xa rời... “trận tuyến”. Chẳng cầm được súng thì cầm... nạng! Cũng may, ở vào thời điểm lúc bấy giờ “mọi thứ chế độ” giành cho thương binh chưa có gì hết. Bởi vậy chẳng ai thắc mắc,ghen tị gì trước việc một thương binh cụt chân khăng khăng không chịu... về vườn! Ai nấy chỉ “thương hại” anh ấy là “tổ sư gàn”! Không muốn mọi người nhìn mình bằng con mắt ái ngại, anh ấy chỉ còn một cách: công tác và sinh hoạt không mảy may thua kém người khác (cùng đang trong biên chế nhà nước và conf đủ cả hai chân).
Nói thì đơn giản thế nhưng thực tế đâu có giản đơn! Thời nào thì một con người có đủ hai chân muốn đàng hoàng “đứng thẳng” đã khó rồi, huống hồ chỉ có một chân! mà tính nết của anh ấy giời lại chót phú cho cái lưỡi không được dẻo, cái lưng không lấy gì làm mềm... Rốt cuộc “ba chìm bẩy nổi, chín cái lênh đênh” qua đủ mọi “mùi” chức trách, cuối cùng sau hai mươi năm “đi, đứng” vững vàng như (không dám nói là hơn) mọi đồng nghiệp, đồng cấp khác (có đầy đủ cả hai chân), đại đội trưởng của chúng ta được đề bạt “lên” làm hiệu trưởng một trường Bổ túc văn hóa của một cơ quan cấp bộ, và lương cũng được nâng lên một bậc: Được lĩnh lương mới: chín nhăm đồng/tháng. Kể từ năm ấy (1970) cho tới ngày nghỉ hưu (1981) vẫn giữ vững chức vụ và mức lương đó!
Năm 1981 nhận quyết định về hưu (do hoàn cảnh gia đình, chị Huệ đã xin nghỉ hưu từ năm 1973), gia đình anh chị được “đồng chí” phụ trách phòng nhà cửa của Bộ ưu áo cấp cho một căn hộ trong một ngõ hẻm khá sâu và khí ngoắt ngoéo, đồng thời được làm hàng xóm với cánh công dân “đầu trâu mặt ngựa”...
Sẵn có một quá khứ vẻ vang, nên mặc dù chỉ là dân “ngụ cư”, cả anh và chị đều được địa phương nhanh chóng mời ra làm việc. Vốn dĩ là những người ưa hoạt động, hai anh chị cùng vui lòng ra đảm nhận công tác của Phường: Chị Huệ được bầu vào Đảng ủy và ủy viên ủy ban nhân dân kiêm Hội trưởng Hội phụ nữ Phường - Còn đại đội trưởng thì làm ủy viên ủy ban kiểm tra Đảng, kiêm phó Bí thư chi bộ. Các cháu hai đứa lớn đã ra công tác, còn hai cháu bé đang đi học. Mặc dù đời sống hết sức khó khăn. Thì... ở vào thời điểm bấy giờ, có gia đình viên chức “chân chỉ hạt bột” nào khi đã “hưu” mà chẳng méo mặt vì cái việc ăn, mặc, học, hành... của con cái: Tuy nhiên, ở gia đình anh chị, được cái cả nhà đều biết chăm lo cho nhau và không ai sợ lao động. Để kiếm thêm nhằm bù đắp vào sinh hoạt: anh mày mò ép, dán những chiếc “poa-nhê” xe đạp; chị mua guốc về đóng, bán cho người ta đi. Các cháu thì hết giờ học về là lo việc chăn nuôi, trồng trọt giúp thêm vào với bố mẹ. Cuộc sống cứ thế diễn ra, tuy cực nhọc nhưng hạnh phúc...
Thôi nhá, chuyện gia đình đại đội trưởng “nói vụng” thế đủ rồi. Giờ ta vào làm vài tợp cho mồm miệng đỡ nhạt, chứ hả?
- Không chơi. Tớ tiếng là thằng thất học nhưng không ưa cái trò cờ bạc, rượu chè bê tha. Gì chứ cái mục ăn, uống, ngủ nghê là tớ “chấp hành” nghiêm nhất hạng.
- Tiếc nhỉ? Tôi cũng không ưa ăn phàm uống tục. Rượu ngon và vui đến mấy cũng chỉ một chén quả đào là tối đa. Nhưng, lúc này đang “đà” chuyện về đại đội trưởng của chúng ta, tôi bỗng nhớ hồi đầu năm kéo nhau đi thắp hương cho anh em ở Núi đanh, đại đa số anh em không phải là lính 363 - nghĩa là không tham dự đánh Xuân trạch, thanh vân đạo tú, núi đanh. Họ hỏi, tôi ú ớ quá, không biết trả lời thế nào. Chán quá!
- Tại sao không trả lời được? Cậu đích thị là lính 363, đánh đủ cả ba trận ấy cơ mà?
- Trời ơi, cậu nghĩ rằng khi ấy tôi là ai chứ? Một tên đội viên quèn, dưới quyền chỉ huy và cai quản của “ông” tiểu đội trưởng Hỉ, liệu “tầm” quan sát và kiến thức chiến thuật, chiến lược tôi có cao hơn đầu ông Hỉ và rộng hơn “xạ giới” của khẩu súng trường trong tay không? Trận nào thì một thằng lính “trơn” như tôi, tai cũng chỉ dỏng lên đợi lệnh của tiểu đội trưởng, và mắt thì căng ra mà nhìn cái mục tiêu “của mình”. Có biết quái gì nữa đâu!
Ông Lục gật gù mái tóc “móng lừa” ra ý thông cảm, nói:
- à, thì ra là thế. Tớ lại khác: Khi còn là lính 363, tớ làm liên lạc cho Ban chỉ huy đại đội. “Tầm” hiểu biết của tớ về các trận đánh “cao” hơn cậu nhiều. Tiếng là lính trơn thật nhưng... lên gặp Ban chỉ huy tiểu đoàn là sự thường; xuống gặp “Ban chỉ huy” các trung đội là cơm bữa! “Thay mặt đại đội” nhận chỉ thị của tiểu đoàn, truyền mệnh lệnh cho các trung đội... “một tay” tớ phụ trách ráo. Định đánh đâu? Đánh kiểu gì? Diễn biến thế nào? Kết quả ra sao... Tớ nắm không sót vẩy nào. Đại đội trưởng của chúng mình lắm khi quá bận quên khối chuyện, phải hỏi tớ đấy. Tớ nói thông văn tự, đại đội trưởng “nể” ra dáng, chứ đừng có tưởng!
Ông Hà thích thú ra mặt, vội hỏi “kháy”:
- ấy là nói cái sự “thông minh” của cậu từ hồi ấy chứ bây giờ chắc là quên sạch rồi, phải không nào?
- Không hề quên một mảy. Cậu tính cả đời lính của tớ chỉ được đánh độc ba trận, nhiều nhặn gì đâu. Quên là quên thế nào? khi con còn nhỏ tớ thường phải kể cho chúng nó nghe, đến khi có cháu tớ lại kể cho cháu nghe. Phải kể để cho chúng nó biết mà tự hào và nhớ ơn các thế hệ cha, ông của chúng nó chứ? Không thể để cho chúng trở thành những kẻ “ăn cháo đái bát” được.
- Rất đúng. Nhưng này, tôi nghĩ: Mấy khi có điều kiện gặp nhau, tôi đề nghị cậu “cấp” cho tôi tí vốn, để tôi cũng được “mở rộng thêm sự hiểu biết” về các trận mà anh em mình đã cùng được dự thời gian đó. Bằng lòng không?
- Tại sao không hỏi đại đội trưởng?
- Tôi đã từng hỏi nhưng anh ấy tỏ ý không “mặn” chuyện, nên không dám khai thác kỹ.
- Vì nhẽ gì vậy?
- Tính anh ấy ít chuyện chứ nhẽ nhủng gì. Cậu đồng ý kể cho tôi nghe chứ?
- ồi, cũng thì ngồi đấu khẩu, công lên việc xuống gì đâu? Ngần ấy năm giời còn được sống mà thấy mặt nhau như thế này là sướng nhất hạng rồi. Cậu mà thích nghe thì tớ tiếc gì...
- Nhưng, yêu cầu phải thật chính xác cơ!
- Yên trí, thằng tớ không quen nói phét một tấc đến giời như thiên hạ đâu...
***
“... Sau chiến thắng Đông Khê, trên đường hành quân về Vĩnh Yên, tớ được đại trưởng “nhót” lên làm liên lạc của Ban chỉ huy đại đội. Khi ấy chỉ có hai vị: Anh vũ đình ý là đại đội trưởng kiêm luôn cả chức chính trị viên, còn anh Ngọc Long, là đại đội phó. Thấy tớ “bị” lên như thế khối đứa đe rằng “cẩn thận kẻo “gần lửa rát mặt” lắm đấy”, thành thử tớ cũng hơi ngại. Nhưng sau vài ngày nếm mùi, tớ lại cảm thấy khoái. Bởi cả anh ý lẫn anh Long đều điềm đạm chững chạc, không ai lèm bèm và cũng không thích “lên mặt”. Đồng thời tớ cũng mất mẹ nó cớ để mắc khuyết điểm, vì chẳng có đứa nào để mà chành chọe...
Về tới Vĩnh Yên, sau một đêm ngủ vạ vật trong một cái xóm nhỏ chỉ có chừng sáu, bẩy nóc nhà và không có dân. Sáng ra, tớ còn nhớ hôm ấy là ngày 25 tháng 12 năm 1950, thì đại đội nhận được lệnh của tiểu đoàn: “Nhanh chóng cho đại đội bôn tập về hướng Liễn Sơn, Xuân Trạch...”. Đại đội lập tức xuất phát. Đến nơi thì có lệnh dừng lại và bố trí cảnh giới ở ven đồi Cọ, hướng mặt xuống một tràn ruộng rất rộng. Qua một đêm, gần sáng cấp dưỡng mang cơm tới. Anh Long cho anh em ăn ngay. Ăn vừa xong trời tang tảng sáng. Tiểu đoàn có lệnh xuống: “Đại đội 363 tiến lên, tìm địch mà đánh. Tiểu đoàn sẽ cho kéo dây điện thoại theo”...
Tớ thấy anh Vũ Đình ý cùng với anh Ngọc Long hội ý rồi quyết định: “Cứ thẳng hướng trước mặt, lội ruộng mà tiến” (bởi vì cả hai anh ấy đều không biết địch ở đâu?). Địa hình trống trải quá, lính ta một phần vì ruộng mảnh thấp mảnh cao rất khó đi; một phần có nhẽ chưa quen cái kiểu “tìm địch mà đánh” vào ban ngày, ở giữa cánh đồng mênh mông như thế này, nên tốc độ tiến quân xem chừng có vẻ dè dặt. Thấy vậy đại đội trưởng không cần hò hét thúc giục gì, anh ấy cứ lẳng lặng dấn bước vượt lên trước. Ba quân xem chừng hơi ngượng mặt, lập tức khẩn trương bám theo. Đại đội tiến được nửa cây số thì cánh thông tin báo cáo “hết dây”. Đại đội trưởng quay điện thoại xin ý kiến trên thì tiểu đoàn chỉ thị: “Dây hết thì bỏ điện thoại lại. Tiếp tục tiến”. Anh Ngọc Long thắc mắc hỏi anh Vũ Đình ý: “Thế thì ai chỉ huy chúng mình?” Anh Vũ Đình ý đáp: “Tiểu đoàn chứ ai nữa!” - “Nhưng điện thoại hết tác dụng rồi?” - “Thì ta tạm thời tự chỉ huy mình vậy!”.
Tớ nghe mà cảm thấy lạ. Cứ ngỡ anh ấy nói đùa, nhưng không phải: Đại đội vẫn tiếp tục tiến như thường. Đi được thêm chừng hai ki lô mét nữa thì gần tới một cái bìa rừng (khoảng cách chừng ba mươi mét). Chợt nghe có tiếng lao xao vẳng ra, đại đội trưởng tức khắc cho đại đội nhanh chóng dàn hàng ngang, và bố trí cho sáu trung liên nhằm thẳng vào cửa rừng, còn ba khẩu hướng về mé phải. Khoảng mười phút sau thì địch ló ra. Cả sáu trung liên của ta lập tức nhả đạn dữ dội, quân địch vội vã co ngay lại. Ta cũng kịp thời ngừng bắn, chờ. Ước độ mười lăm phút sau địch nã đạn súng cối dọn đường rồi cho một toán khoảng hơn một trăm tên xung phong ra. Ta lại nổ súng mãnh liệt, đánh bật chúng trở lại như lần trước...
Hai bên ngừng bắn khá lâu. Ta tranh thủ củng cố lại các điểm hỏa lực, chờ. Gần một giờ sau mới thấy chúng nổ súng mở đường, rồi bộ binh lại hùng hổ gào thét xông ra. Và ta lại một lần nữa đánh bật chúng trở lại...
Trận đánh cứ hệt như chơi trò ú tim. Có một điều tớ lấy làm khó hiểu: Từ đầu trận đến giờ tớ chưa hề nghe thấy đại đội trưởng quát tháo hoặc ra một cái lệnh nào! Chỉ thấy anh ấy cơ động như một con sóc, có mặt khắp mọi chỗ. Hình như sự có mặt của anh ấy là đã đủ cho anh em trong đại đội hiểu rằng họ phải làm gì, không cần đến mệnh lệnh hay lời động viên (về điểm này vô tình anh ấy đã cho tớ học được một “nguyên tắc” quan trọng khi đãlàm bố của một đàn con: Hễ muốn huy động chúng nó làm, tớ chỉ cần có mặt cùng làm là khắc đâu vào đấy...).
Trong lúc ta đang bình tĩnh chờ địch tiếp tục tấn công ra, thì bất ngờ có một bóng người mặc quần áo nâu, từ trong rừng lao bổ ra, cắm đầu chạy thẳng vào các họng súng của ta, hai tay huơ lên rối rít và nhào tới ôm chầm lấy một đồng chí xạ thủ, mồm hổn hển kêu lên: “Các anh ơi, chúng nó rút lui đấy! Rút rồi... rút rồi!”
Không đắn đo một giây, đại đội trưởng bảo tớ:
Hạ lệnh cho đại đội xung phong!
Tớ lập tức đứng phắt dậy gào lên vỡ họng:
- Xung pho...ooong!
Suốt đời tớ không bao giờ quên được cái tiếng gào “lịch sử” ấy!
Cả đại đội ào ào xông lên sau tiếng gào của tớ. Thế là lập tức tớ bám sát gót đại đội trưởng... như đỉa đói. Lọt được vào cửa rừng, tớ nhìn thấy xác địch nằm ngổn ngang, tinh tây! Đứa trắng, đứa đen nom rất tởm. Đuổi một hồi thì tóm được khúc đuôi của bọn chúng. Quân ta thét lên gọi hàng, bọn địch vứt vội súng xuống và giờ tay nhanh như chớp. đại đội cố đuổi thêm một quãng nữa, địch vẫn mất hút. Đại đội trưởng bảo anh em dừng lại bắt trói tù binh kẻo chúng chuồn mất. Tất cả được hơn bốn mươi tên không kể những tên đã chết.
Lần đầu tiên xung trận, lại đánh thắng ngon như “ăn óc chó”, tớ khoái không để đâu cho hết. đại đội trưởng cho quân nghỉ tại chỗ, được chén chiến lợi phẩm: bánh bích-quy, kẹo sô-cô-la với thuốc lá “cờ-la-ven A, phi-líp mo-dít”... nhiều vô kể. Lính chén thả phanh. Đang thú vị tình tang ních bánh tây, kẹo tây, hút thuốc lá tây thì máy bay của chúng nó ầm ầm lao tới rú rít inh tai nhức óc. Bọn tù binh nhớn nhác hoảng loạn tìm chỗ ẩn núp. Đại đội trưởng bảo anh em xé những tấm bạt của địch để bọc chiến lợi phẩm, sai lũ tù binh đội. Rồi cho đại đội rút.
(Sau đấy vài hôm, nghe nói tiểu đoàn 154 đã bắt gặp bọn bại binh địch vửa xổng khỏi tay C.363 của chúng ta, họ đánh tiếp và tóm được một tên quan tư...).
ông Hà ngồi nghe chăm chú, rất lấy làm vừa ý, gật gù mãi rồi khen:
- Cậu nhớ chi tiết thật. Tôi thật không ngờ, cậu còn có tài kể chuyện, nghe rất mạch lạc và dễ hiểu. Giỏi lắm. Ta nghỉ một tí rồi vào làm “tăng hai” chứ?
- ối dào, cậu có nhọc thì cứ nghỉ chứ tớ thì vần gì. Con nhà lao động chân tay, ngồi nói chuyện thế này khác gì nghỉ giải lao giữa buổi làm nương?
- Nếu vậy ta làm luôn cho gọn nhỉ?
- Chứ sao? à, còn một việc quên chưa kể: Sau trận ấy, tớ nghe đại đội trưởng nói với đại đội phó: “Công bằng mà xét thì một nửa thành quả của trận đánh này phải chia cho người phu đã liều chết xông vào trước mũi súng của ta để báo tin bọn tây đã rút”. Và anh ấy cứ ân hận mãi về việc đã không kịp hỏi tên, địa chỉ của người phu đó!
Đúng,đúng . Mãi cho tới gần đây tôi còn được nghe anh ấy than thở như vậy. Kể cũng tiếc thật. Một con người yêu nước, ghét quân giặc đến quên cả mạng sống của mình mà không được khen thưởng thì quả là áy náy.
ông Lục chép miệng:
- Ôi, tiếc vuốt đuôi, chả ích gì. Thôi, ta tiếp tục: Đại đội được nghỉ ngơi từ 27 tháng 12/1950 cho đến sáng ngày 14 tháng1/1951 nhận được lệnh của tiểu đoàn: “C.363 cấp tốc hành quân đến Thanh Vân, Đạo Tú, đợi địch”. Đại đội trưởng lập tức sai tớ truyền lệnh cho các trung đội khẩn trương xuất phát. Đến Thanh Vân, đạo Tú đại đội trưởng cho đại đội chiếm lĩnh trận địa dưới chân một quả đồi, trên bờ một con mương có “tà-luy” cao chừng ba mét, trông thẳng ra một tràn ruộng rộng; cách xa khoảng một nghìn mét có đường ô tô chạy. Trên lưng chừng một quả đồi phía sau (chếch về trái một chút) thấp thoáng có người và vũ khí, chứng tỏ trận này đại đội sẽ được chiến đấu trong đội hình của tiểu đoàn, và như vậy có nghĩa rằng trận đánh có “tầm cỡ” đáng kể...
Đại đội triển khai đội hình rất nhanh, thoải mái chờ lênhmj. Choảng chừng tám giờ sáng thấy địch xuất hiện. Chúng không đi theo đường ô tô mà lại lội bộ theo đường ruộng, dừng lại trên cánh đồng, ngay trước mặt trận địa của tiểu đoàn... để... nghỉ ngơi. Tớ ngứa ran cả người, chốc chốc lại nhìn trộm đại đội trưởng, thấy mặt mũi anh ấy vẫn cứ thản nhiên. Tớ cáu lắm nhưng không dám há mồm “chất vấn”. May sao đại đội phó bò đến thì thào hỏi đại đội trưởng: “Ngon thế kia, anh tính sao?”. Đại đội trưởng đáp: “Đánh độc lập thì muốn sao tùy ta. Đánh trong đội hình tiểu đoàn thì phải chờ lệnh đã”. Thế là tớ hiểu ra vấn đề...
Chờ chừng non một giờ, lệnh chưa thấy đâu đã thấy máy bay kéo đến gào rống ầm ĩ. Chúng nhanh chóng nhào xuống bắn phá và ném bom thẳng vào đội hình bố trí của đơn vị trên đồi mé sau đại đội ta.
Ông Hà góp lời:
- Tôi nhớ rõ trận ấy. Nói thực, cho đến bây giờ tôi vẫn thắc mắc...
- Thắc mắc về cái khoản nào?
- Về hai điều: Một là, cái đơn vị bạn chiếm lĩnh trận địa phía sau đại đội ta ấy là có thật hay chỉ là nghi binh? Nếu là thật thì nó biến đâu khi ta đánh, nó không tham gia? Hai là, có lẽ bọn Pháp không chủ trương hành binh với mục đích là lên chỗ ấy để ngồi chơi suông mấy tiêngs đồng hồ rồi rút, như tình hình thực tế lúc bấy giờ...
- Ơ, chả đúng là chúng đến và dừng lại đấy chán chê rồi rút, là gì?
- Thì thế mới nên chuyện! Cứ như “kiến thức quân sự” của tôi bây giờ mà xét, thì dám đoán rằng: Đơn bị bố trí “trên đầu” ta là có thật. Nhưng “các thầy” ấy chủ quan khinh địch, bố trí cẩu thả quá, khiến bọn địch hành quân đến đấy đã phát hiện ra, lập tức gọi máy bay tới dội bom! Thế là “các thầy” ấy rút êm bỏ mặc đại đội ta nằm lại một mình.
- Nhưng, còn bọn Pháp. Nếu biết rõ thế thì tại sao khi máy bay quần thảo xong, chúng không hè nhau xông lên?
- Vì nó sợ vẫn có thể chạm trán quân ta chứ sao nữa.
- ờ, nếu vậy tớ có thể hiểu được. Có lý đấy.
- Thôi, kết thúc chuyện ngoài lề. Cậu tiếp tục kể về trận đánh ấy đi.
Ông Lục ngẫm nghĩ như cố nối lại, rồi cất tiếng:
- Máy bay chúng nó quần đảo chán rồi chuồn thẳng. Lúc ấy đã vào khoảng mười giờ sáng. Tất cả trở lại im ắng. Bọn địch không đi tiếp, vẫn cứ ngồi ì cha chúng nó tại đấy. đại đội trưởng cũng vẫn gan lì cóc tía, kiên nhân ngồi đợi lệnh. Đến khoảng mười hai giờ thì bỗng thấy bọn Pháp rục rịch động đậy, chỉnh tề đội ngũ rồi... quay đằng sau! Anh Ngọc Long đại đội phó đến hỏi đại đội trưởng: “Kiểu kia, xem chừng chúng rút, anh định thế nào?”. đại đội trưởng rút súng, đáp:
- Cậu ra lệnh cho đại đội xung phong đi!
Nói dứt lời anh lập tức nhảy ngay xuống mương, lội ào ào sang bờ bên kia. Tất cả đại đội đều trông thấy, thế là tiếng hô xung phong của đại đội phó chưa dứt thì cả đại đội đã ào ào nhảy xuống mương, bám theo sát gót đại đội trưởng, ai nấy hò hét đuổi hết tốc lực. Bọn Pháp giật mình, ngoái lại thấy quân ta dũng mãnh truy đuổi thì mất vía ngay, đứa nào đứa nấy vứt súng cắm đầu chạy thục mạng. Toán địch chạy cuối hoảng loạn quá vội giơ tay hàng. Ta tóm sống được hai mươi sáu tên, tinh Âu-Phi. Đại đội cố đuổi thêm chừng nửa cây số nữa thì hết sức, đành “tha” cho chúng nó để “làm phúc”...
Ông Hà gật đầu:
- Công nhận, cậu nhớ giỏi đấy. Trận ấy được ngồi suông ở chỗ rộng rãi, “tầm mắt” của tôi, không kém gì cậu đâu. Chỉ có cái tai là : “hẹp” hơn cậu, chẳng nghe được gì. Hôm nay cậu nói tôi mới biết.
- Cậu biết không? Sau trận ấy tớ cứ nghĩ mãi, không hiểu đại đội trưởng của mình tự ý cho đại đội xung phong đuổi địch như thế là đúng hay sai? May hôm ấy thắng chứ nếu thua thì không khéo bị ốm đòn với tiểu đoàn chứ chả chơi đâu. ý cậu thế nào: Đại đội trưởng hành động như vậy là đúng hay sai?
Ông Hà lắng nghe, trầm tư suy nghĩ, rồi đáp:
- Đó là vấn đề rất tế nhị. Bởi, là một anh lính trơn hiểu sao được tình huống nọ kia, ý đồ tác chiến và v.v... của cấp trên về cả một trận đánh? Hơn nữa, đứng ở vị trí và kiến thức hôm nay để phán xét một trận đánh năm mươi năm về trước, tôi e rằng sẽ dễ rơi vào chủ quan lệch lạc. Tuy nhiên, ở một mức độ hạn chế, tôi nghĩ đại đội trưởng của chúng ta đã hành động đúng. Và chắc rằng dù chẳng may có thua thì tiểu đoàn cũng sẽ “làm ngơ”, không tra cứu gì đâu. Bởi về nguyên tắc, người lính ra trận mục đích cao nhất là tiêu diệt địch. Có cơ hội đánh được mà mượn cớ này, cớ kia để cho qua, đó là người lính tồi. Trên cơ sở ấy mà xét thì đại đội trưởng của ta quyết định đánh là hoàn toàn đúng. Vì chờ lệnh đến mức ấy là quá đủ rồi, nấn ná thêm chút nữa là sẽ có tội với cách mạng. Vì chắc chắn quân địch sẽ thoát thân...
- Tớ hiểu rồi. Cậu nói rất có lý, đánh là đúng thật.
- Nhưng, trong suy nghĩ của cá nhân tôi thì vẫn còn một điều mà mỗi khi nhớ lại trận đánh ấy, là tôi lại rất tiếc...
- Tiếc cái gì?
- Tiếc là, nếu như hôm ấy có một vị trong ban chỉ huy tiểu đoàn có mặt tại đấy, là tiểu đoàn phó thôi cũng được, thì rất có khả năng chúng ta sẽ “xơi tái” cả cái tiểu đoàn Âu Phi ấy.
- Cậu nói nghe khó lọt tai quá. Thêm một ông tiểu đoàn phó thì chẳng qua chỉ thêm được một khẩu súng lục, ăn nhằm gì?
- Khẩu súng lục cậu đưa vào đây chẳng dọa được ai hết. Tôi chỉ quan tâm đến cái chức của ông ta. Tôi hỏi cậu: Ví thử có mặt một ông trong Ban chỉ huy tiểu đoàn tại đấy (mà trong “luật nhà binh”: khi có quá nửa đơn vị đi làm nhiệm vụ, thì nhất thiết phải có mặt người chỉ huy),thì liệu cái đại đội bạn (không biết là một đại đội hay hai) ở bên cạnh và đằng sau chúng ta... ấy, có dám rút êm, bỏ mặc đại đội chúng ta trơ trọi nằm lại như thế không? Có mà bố bảo cũng không dám. Phải vậy không? Và, cậu thử hình dung: Nếu có cả các đại đội bạn ở lại, dưới sự chỉ huy thống nhất của Ban chỉ huy tiểu đoàn... nghĩa là với hỏa lực của hai mươi bảy khẩu trung liên cùng với ngót ba trăm khẩu súng trường đã “bật lê”... nhất tề xông lên, lao thẳng vào đội hình của một tiểu đoàn giặc đang nằm ngồi ngổn ngang giữa một khu đồng không mông quạnh! Liệu chúng có kịp “trở tay” không? nên nhớ, cự ly xuất phát xung phong chỉ chừng trên dưới một trăm mét. Vậy mà, chỉ có... nhõn một “cái 363” của chúng ta! (tôi nói vậy là vì nếu có Ban chỉ huy Tiểu đoàn thì không ai chờ khi chúng rút mới ra lệnh xung phong...).
Ông Lục đứng phắt dậy, hét lên:
- Thánh thiên tử! ừ nhỉ, cả một tiểu đoàn dưới sự chỉ huy thống nhất của ông tiểu đoàn trưởng mà “tung hoành” thì cái tiểu đoàn Âu Phi ấy chắc chắn là... ra bã. Tiếc thật!
Ông Hà vui vẻ kéo ông Lục ngồi xuống, và nói:
- Làm gì mà hăng hái thế? Việc dù hay, dở thì cũng đã trở thành quá khứ rồi. Nói lại cho vui vậy thôi, ăn thưởng ăn phạt gì đâu! Thôi ta kết thúc trận thứ hai ở đấy. Sang trận thứ ba đi.
Ông Lục tặc lưỡi đáp:
- Trận thứ ba ăn nhạu là ở cái tinh thần “đội phi pháo địch mà đánh, thà chết không lùi”, chứ có tóm được một thằng tây, thu được một khẩu súng hoặc thùng lương khô quái nào đâu... mà thành tích?
- Cậu, đúng là một tên... đại ngốc! Đánh trận mà chỉ nhăm nhăm coi việc bắt tù binh với thu chiến lợi phẩm làm mục đích, thì... vứt. Thưa với cậu: Núi Đanh là một trận đánh “lừng lẫy tiếng tăm” đã được lưu tên trong sử sách đấy! Cậu biết không: Trong tập sách nói về thành tích của đại đoàn 312 trong cuộc kháng chiến chống Pháp (do Nhà xuất bản Q.Đ.N.D. ấn hành năm 1963) có nêu rõ tên Bẩy trận đánh tiêu biểu và danh sách sáu người chỉ huy xuất sắc của đại đoàn. Trong đó có trận núi đanh và tên anh đại đội trưởng của chúng ta. Cậu có hiểu điều đó có ý nghĩa quan trọng thế nào không? Nó khẳng định trên giấy trắng mực đen rằng “Trận Núi đanh cùng với đại đội trưởng của chúng ta đã trở thành Bất tử”. Ông Lục tỏ ra hết sức hoài nghi, lắp bắp hỏi:
- Cậu... cậu lại... lòe tớ?
- Ngốc ạ, tôi lại đến phải quán triệt mục đích ý nghĩa và tầm quan trọng của trận Núi Đanh cho cậu vậy. Trước hết tôi hỏi: Có phải trong kháng chiến chống Pháp quân ta chỉ giỏi đánh đêm và đánh ở vùng rừng núi, đúng không?
- Đúng thế!
- Vậy trận Núi Đanh ta có đánh về đêm và đánh trong rừng không?
- Không hề.
- Như vậy có nghĩa lần đầu tiên chúng ta công khai chiếm lĩnh trận địa đánh nhau với địch giữa ban ngày, giữa vùng đồng bằng trống trải. Cũng tức là ta chấp nhận “thử sức” với xe tăng, đại bác, máy bay... những thứ được coi là sức mạnh vô địch của đối phương?..
Ông Lục gật đầu lia lịa, cướp lời:
- Hiểu rồi, hiểu rồi. Tóm lại, trận Núi Đanh không chỉ đơn thuần là một cuộc đọ súng thông thường, mà trên còn có ý lấy cái 363 của chúng ta làm một cuộc thí nghiệm, thử xem phi pháo của bọn tây có dọa được quân mình không, chứ gì?
- Cậu hiểu ra vấn đề rồi đấy. Thôi, ta sang “bài” mới đi!
Ông Lục thoải mái nói ngay:
- “Bài này” thì tớ đã kể hàng trăm lần cho con cháu tớ nghe, coi như đã thuộc lòng. Tối ngày mười lăm tháng một năm năm mốt, đại đội đến vị trí tập kết tại Hữu Thủ, ở gần kề con đường đất dẫn lên Tam Đảo. Đứng đấy trông sang núi đanh rất rõ.
Sáng sớm hôm sau, tiểu đoàn có lệnh: “Quân Pháp đang tiến chiếm cao điểm núi đanh. C.363 nhanh chóng xuất phát chạy thi với địch. Phải giành ưu thế trước...”
Đại đội lập tức băng qua một mảnh rừng, lội qua một tràn ruộng nước, nhằm thẳng núi Đanh lao tới. Chạy được tới chân núi đanh thì chững lại, bởi gai góc bùm tum quá, không sao len lách vượt lên được. Đại đội trưởng đành cho đại đội chạy vòng theo chân núi để tìm lối. Tìm được chỗ thưa cây thì lại dốc quá, đành cứ phải thúc nhau leo vậy thôi. Anh nào anh nấy đứt hơi mà không dám dừng lại để thở. Cuối cùng cũng lên được đến đỉnh núi Đanh, vội trông xuống thấy bọn Pháp cũng đang lóp ngóp bò lên, còn cách ta chừng sáu mươi mét. Thì ra bên nó dốc thoải hơn bên ta nhiều, vậy mà bọn chúng tiến rất khó khăn. Ta khẩn trương triển khai đội hình vừa tạm ổn vừa lúc địch đã tiến tới cách ta chỉ chừng hăm nhăm mét. máy bay của chúng gào tú điên loạn, đại bác réo qua đầu nghe chói tai. Chờ cho bọn tây tiến đến chỉ còn cách chừng mười lăm mét đại đội mới nổ súng. Hai bên bắn nhau dữ dội một chập thì kẻ địch núng thế, phải lui xuống. Biết không thể xung phong truy kích được vì đối pưhưong đông hơn ta ước tới bốn lần, đại đội trưởng vội viết báo cáo vắn tắt gửi về tiểu đoàn: “Địch có chừng bốn trăm quân trang bị mạnh. Dưới chân núi có cả xe hậu cần đi theo. Máy bay và đại bác của chúng hoạt động rất ráo riết. Để bảo đảm chắc thắng, xin tăng viện thêm một C trợ chiến”. (Sau năm giờ chiến đấu vẫn không thấy chi viện... đến).
Hai bên cứ thế giằng co. Chừng nửa giờ địch lại xung phong lên một lần, ta lại giáng trả kịch liệt, chúng lại lui xuống. Trước sau đến tám lần. Số thương vong của địch là bao nhiêu không biết, còn về phía ta, đại đội xuất phát có trên dưới một trăm quân, lúc này chỉ còn chừng hai mươi tay súng. Anh Ngọc Long than thở: “Tiếc đứt ruột, giá như có thêm một C. trợ chiến thì tôi tin ta “xơi tươi” chúng nó! Đại đội trưởng lặng thinh không trả lời, cứ thản nhiên len lỏi bước đi. Số thương vong đã chiếm tới bốn phần năm đại đội. Anh em tuy đã quá đói và mệt. đặc biệt là sức ép của tiếng máy bay gầm rú và đại bác rít gió xé màng tai, khiến cho thần kinh bị chấn động, ghê gớm. Nhưng không một người nào chùng tay súng, vẫn gan lì đẩy lùi mọi đợt xung phong của chúng. đúng vào thời điểm ấy thì đại đội trưởng trúng đạn gãy đùi bên trái. Y tá Xuân bình tĩnh, dũng cảm phơi mình ra trước hỏa lực của địch để cấp cứu cho đại đội trưởng. Tớ lúc ấy cũng đã nhận một phát đạn xuyên qua vai trái đây này. Sự bị thương của đại đội trưởng rõ ràng có lợi cho địch. Chỉ dăm phút sau, anh Cường trung đội trưởng đến báo cáo “Một toán địch luồn phía sau quân ta, đã lên được đỉnh núi. Xin cho rút để bảo vệ thương binh” (chừng bốn chục anh em). đại đội trưởng bảo: “Tập trung hỏa lực dồn địch xuống mở đường đưa thương binh ra”. Anh Cường nhanh chóng thực hiện...
Ra khỏi vòng chiến điểm lại còn mười tám anh em tiếp tục chiến đấu được (kể cả bị thương nhẹ). Bốn mươi hai anh em nằm lại núi Đanh. Số còn lại đều vào bệnh viện Bỉnh Di điều trị (trong đó có cả tớ với cậu). Vậy là hết chuyện. Và tớ cũng chia tay với C.363 kể từ đấy.
Ông Hà nói:
- Nói chung trận đánh là như vậy, tôi đồng ý. Nhưng “nói riêng” tôi muốn hỏi cậu: Cậu có ấn tượng như thế nào đối với trận đánh ấy?
- ấn tượng với ấn tủng quái gì đâu. Tớ chỉ nhớ có hai điều: Thứ nhất, có nhẽ đến nửa tháng sau hai cái tai tớ nó mới hết tiếng ve sầu rên rỉ trong màng nhĩ! Thứ hai, tớ cứ nghĩ vụng một mình: May mà cái 363 của mình không có tên nào “yếu bóng vía”... những không khéo mà đến “đái ra quần” cả lũ. Những năm tiếng đồng hồ đinh tai nhức óc như thế cơ mà? Nhưng, nói toạc “tim đen” ra thì phải công nhận rằng “ăn nhau” là ở người chỉ huy. Chẳng hiểu đại đội trưởng trong máu có chứa chất gì mà “kinh” thế không biết! Suốt trận đánh cứ như con thoi, lao bổ qua lại khắp mọi nơi mọi chỗ...
- Hoàn toàn đúng. Tôi cũng đánh giá: Trậnh núi đanh nếu có điều gì đáng ghi nhớ nhất, thì đó chính là “Chiến sĩ núi đanh ai nấy đều có một hệ thần kinh bằng thép!”
Ông Lục bỗng như nhớ ra điều gì, vội hỏi:
- Này, cậu có biết sau trận ấy 363 của chúng ta có anh nào được trên tặng huân chương không nhỉ?
- Anh Vũ đình ý được thưởng huân chương quân công, ngoài ra có anh nào được thưởng huân chương gì khác nữa, thì tôi không biết.
Ông Lục cười hể hả:
- Có thế chứ. Ông anh “chơi” một quân công trong một trận đánh cụ thể. Làm một anh lính ra trận mấy ai với cao” được đến thế?
ông Hà cũng cười, nói thêm:
- Chưa hết đâu. Trong “kho” ảnh Bác Hồ chụp với anh em “con nhà lính” chúng ta, có một bức chụp Bác đứng bắt tay với đại đội trưởng Vũ đình ý của chúng ta đấy. Và tấm ảnh ấy còn được trưng trên tờ báo ảnh của Quân đội nhân dân cơ nhé...
- Cậu... ba hoa! Làm đếch gì có chuyện ấy?
- ấy vậy mà đại đội trưởng của chúng ta lại chiếm được cái giải “độc đắc” ấy mới kỳ lạ chứ!
Thật chứ?
- Rất thật.
Ông Lục ngồi ngây thộn ra trên ghế một lúc lâu, rồi rền rĩ:
- Ôi trời đất, cha mẹ ơi! Vậy thì đại đội trưởng của chúng ta “chiếm ngôi bá chủ thiên hạ rồi”. Đằng thằng ra mà nói: Một đời người, khi còn trai trẻ cầm súng ra trận chiếm huân chương quân công trong một trận đánh cụ thể đã là chuyện hiếm. Vậy mà khi về già còn dám mang cái chân cụt đi bơi thi, đua tài với cụ già cả nước, chiếm tới tám chiếc huy chương đủ loại vàng, bạc, đồng! Hai giai đoạn quan trọng của một đời người, đều “cưỡi đầu thiên hạ” (1), thật đáng mặt “trai hùng nam quốc” quá rồi! Lại còn được chụp ảnh Bác Hồ bắt tay thương binh nữa, thì quả thật... có một không hai, đấy nhỉ?
Ông Hà cười tủm tỉm, đáp:
- Điều ấy cậu phải viết thư gửi Đài truyền hình Trung ương đề nghị họ nhờ giáo sư sử học giải đáp, chứ “cái thứ tôi” trình độ còn “mỏng” lắm, không dám trả lời đâu...
Đến đấy, hai người lính già đã ở vào cái tuổi “cổ lai hy” bất giác cùng vỗ đùi cười vang. Cứ y như cái thời họ còn là những anh lính trơn của đại đội 363 ngày ấy...
Hà Nội, một ngày cuối Thu năm 2000
================
(1) Mượn ý câu thơ trong bài di chúc của cụ Nguyễn Khuyến.