📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Miếng đệm

16 trả lời, 4.731 lượt xem — Trang 1 / 1
Miếng đệm

Tập truyện của Nguyễn Văn Hồng


Mục lục

1 - Tôi đi lính!
2 - Chiếc xẻng của ông Đại tá Người Hà Nội.
3 - Miếng đệm.
4 - Chuyện của hai người lính trơn thời ấy.
5 - Kẻ bội ước ấy, bây giờ?
6 - Bà giáo An mắc bệnh tâm thần.
7 - Nhưng... sự thật là...
8 - Một người “số”... chẳng ra gì!


Kính tặng:
Thế hệ thanh niên nam nữ thời Cách mạng Tháng Tám.

N.V.H.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
Tôi đi lính!


Nhớ về Đội tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu


Ngày 19/8/1945, dưới ngọn cờ đỏ sao vàng mở đường dẫn lối, cả Hà Nội sôi sục xuống đường, khí thế ngất trời, nhanh chóng đè bẹp mọikhả năng đề kháng của bè lũ phát xít Nhật cùng chính quyền bù nhìn tai sai của chúng.
Tổng khởi nghĩa thắng lợi hoàn toàn tại Hà Nội.
Là một thanh niên Hà Nội, xuất thân trong một gia đình theo “đạo nho” (lại ở vào cái thời mất nước), từ lúc sinh ra cho đến khi khôn lớn tôi chưa hề được biết “mùi” Độc lập Tự do. Chỉ được nghe mọi người thì thào về nó với sự khát khao vô hạn. Và, từ thuở cất tiếng khóc chào đời cho đến khi đã trở thành một thanh niên cường tráng, tôi được cha mẹ, chú bác họ hàng, và thầy cô ở nhà trường... truyền dạy cho một quan niệm rất xấu về người lính. Đối với tôi khi ấy, lũ “lính tráng” chỉ là những kẻ mạt hạng; phường vô lại; đám người cặn bã của xã hội thuộc giới “trai ở trại, gái nhà thổ” v.v... Nói tóm lại, đã là phường “lính tráng” làm sao có thể coi là người lương thiện cho được(!).
Với quan niệm ấy trong đầu, tôi đâm ra mắc tật “dị ứng” rất nặng không chỉ đối với những người làm nghề lính tráng, mà ngay cả đối với cái từ lính tôi cũng rất không ưa...
ấy vậy mà, tôi đã trở thành một người lính thực thụ. Đúng cả với nghĩa đen cùng nghĩa bóng của nó: nghĩa là tôi tập tành, canh gác, ra trận... đủ mùi! Và, điều quan trọng hơn hết, là tôi đã rất mực tự tào về quãng đời làm lính của mình. Trọn đời tôi không bao giờ quên: Cái nôi ban đầu, nơi đã cấp tờ giấy khai sinh cho cuộc đời quân ngũ của tôi, chính là Đội Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu.

Chuyện xảy ra như sau:
Ngày 22/8/1945 (sau Tổng khởi nghĩa ba ngày) người thượng cấp thời gian trước Tổng khởi nghĩa của tôi là anh Lê Tương (có bí danh là Bình cháy), đưa cho tôi một mảnh giấy xé ra từ cuốn sổ tay (đút túi áo ngực), và bảo: “Sáng mai cậu lên 107 Găm-bét-ta nộp tờ giấy này cho anh Lê Trung Toản, và ở lại đấy nhận nhiệm vụ”.
Hôm sau, mới bảy giờ sáng tôi đã có mặt ở 107 Găm-bét-ta. Đó là một ngôi nhà hai tầng, kiến trúc rất bề thế, có sân rộng và đường đi bao quanh, có nhà ngang và nhà hậu (có lẽ trước đây là nơi ở của những người giúp việc). Tôi nhìn thấy rất đông người đang đứng, ngồi, đi lại trong nhà, ngoài sân. Tất cả đều còn rất trẻ, tuổi đời có lẽ cũng xấp xỉ như tôi. Tôi bước vào, gặp ngay người quen là Nguyễn Ngọc Thư nhà ở phố Xa-Rông. Mừng quá, tôi túm luôn tay cậu ta, nói:
- Làm ơn chỉ cho mình, ông nào là ông Lê Trung Toản?
Gặp tôi, Thư tỏ ra rất vui. Cậu ta không vội trả lời câu tôi hỏi, hỏi lại:
- Cậu được giới thiệu đến nhập hội phải không? Cho tớ xem giấy giới thiệu nào.
Tôi gật đầu và móc túi áo lấy tờ giấy của anh Lê Tương viết đưa cho Thư xem. Cậu ta đọc rất nhanh rồi bảo:
- Hôm nay ông Toản đi vắng. Cậu lên gác nộp tờ giấy này cho ông Đỗ Đức Kiên cũng được. Ông ấy là chỉ huy thường trực đấy.
Tôi chưa kịp phóng lên gác thì có người đấm vào lưng tôi rất mạnh. Tôi giật mình ngoái lại, thì ra đó là Trần Hậu Tịnh ở phố Guýt-xta-vơ đuy mu-chi-ê )là dân cùng phố với tôi). Tịnh cường rất tươi và nói rất to:
- Thế ra mọi con đường đều dẫn tới Mạc-Tư-Khoa, hay thật! Cũng đến dự “Quần hùng kiếm hội” đấy hả?
Tôi giới thiệu Tịnh với Thư và ngược lại, rồi hỏi:
Chắc là cậu có mang theo giấy giới thiệu?
- Có quá đi ấy chứ.
- Vậy thì cùng tớ lên gác nộp cho xong việc đã, rồi quay xuống chuyện trò với cậu Thư sau.
Tịnh vui vẻ cùng tôi nhanh chóng đi lên gác. Chúng tôi thấy xúm quanh chiếc bàn làm việc ở cuối phòng là “một đống” người rất đông. Tịnh bèn kéo tôi đến một chiếc ghế băng còn rộng chỗ, định ngồi chờ thì chạm trán ngay với cậu Hoàng Đình Mạc nhà ở phố Bạch Mai. Cả ba chúng tôi đều đã quen nhau từ trước, nên cùng rất vui khi được gặp nhau tại nơi này. Mạc quàng tay kéo đầu tôi với Tịnh sát lại và hỏi:
- Các cậu đã biết đến đây nhận nhiệm vụ gì chưa?
- Chưa!
Mạc lên mặt nghiêm trọng, thì thào:
- Gia nhập đội “Xích vệ quân” bảo vệ Tổng Bộ và thành phố Hà Nội. Hách không? (Thời gian ấy đa số chúng tôi chưa biết có Đảng lãnh đạo. Chỉ biết có Tổng bộ Việt Minh là bộ máy lãnh đạo cao nhất của mình).
Tịnh sung sướng sắc tay Mạc, hỏi lại:
- Thật không?
- Chính xác trăm phần trăm.
Nghe hai bạn mình hồ hởi nói, tôi cảm thấy phân vân lo lắng, tự nhủ: Không khéo mà lại trở thành lính thì...
Tôi không dám nghĩ thêm, chỉ ngồi lặng im với nỗi niềm tâm sự đè nặng trong lòng. Rồi cũng đến lượt tôi vào nộp giấy. Ông Đỗ Đức Kiên hỏi tôi vài câu về tên, tuổi, học lực, địa chỉ gia đình... để ghi vào sổ. Tôi trả lời vắn tắt rồi xuống sân đứng chờ. Chừng mười giờ ông Kiên xuống, tập hợp tất cả chúng tôi lại, đọc danh sách từng người, ghép thành từng tiểu đội. May sao cả bốn đứa chúng tôi đều được có tên trong cùng một tiểu đội (số 9) - tiểu đội cuối cùng, và chỉ gồm có tám mống do Nguyễn Thủy làm tiểu đội trưởng và trong số đó đã có tới bảy tên là học sinh (suất duy nhất còn lại, đặc cách dành cho anh thợ đường dây của nhà Đèn Bờ Hồ. Người đó chính là tiểu đội trưởng Thủy.
Tối hôm ấy Chính trị viên Nguyễn Anh Bảo tập trung tất cả chín tiểu độiv ào gian phòng lớn ở tầng dưới, giải thích lý do tập hợp chúng tôi về đây. Anh nói (đại ý):
Ta đã giành lại được chính quyền từ tay phát xít Nhật và bè lũ tay sai của chúng. Đó là một sự kiện trọng đại trong lịch sử nước nhà. Song, một vấn đề hết sức cấp bách đang đặt ra trước mắt mỗi chúng ta, đó là: Trải qua hơn tám mươi năm nô lệ nhục nhã, nay đã giành được chính quyền thì phải quyết tâm giữ cho bằng được. Ai sẽ đứng ra gánh vác cái công việc nặng nề quan trọng đó ở chính ngay tại Hà Nội này? Tôi nghĩ rằng: Trước hết phải là chính chúng ta, những người đã tự coi mình là Dân Hà Nội; đã từng là những chiến sĩ tiên phong của cách mạng trong cuộc chiến đấu chống Nhật và cướp chính quyền ngày 19/8/1945 tại Hà Nội!
Các đồng chí cần hiểu rằng tình hình hiện nay rất đáng lo ngại. Cụ thể là: Lực lượng Bảo an binh và cảnh sát của chính quyền bù nhìn thân Nhật đã tan rã. Phàn lớn trốn chạy, phần còn lại tuy đã đầu hàng nhưng ta chưa thể yên tâm giao trách nhiệm bảo vệ chính quyền cách mạng vào tay họ. Bởi vậy, Tổng Bộ chủ trương tuyển lựa trong số các đoàn viên Thanh niên Cứu quốc đã có thành tích trong đấu tranh chống Nhật và bè lũ tay sai của chúng, ở ngay tại Hà Nội này. Tập hợp lại, tổ chức thành đội quân trung kiên của cách mạng, của Hà Nội; để bảo vệ Tổng Bộ và chính quyền tại Hà Nội.
Các đồng chí có ý kiến gì không?

Rời phòng họp, Nguyễn Ngọc Thư kéo ba chúng tôi ra một góc sân đứng chuyện gẫu. Cậu ta nói:
Thấy chưa. Cứ như lời ông Anh Bảo, thì rõ ràng Hà Nội của chúng ta mấy hôm nay bị “bỏ trống”. Kinh đấy chứ?
Hoàng Đình Mạc cau mặt phản đối:
- Bỏ trống là thế nào. Cứ thử đứa nào chạm vào xem, dân Hà Nội sẽ nghiền nó ra cám hết.
- Cậu nói dở ẹc, không lọt tai. Đành rằng dân Hà Nội rất hăng hái, nhưng thử hỏi đêm đến ai nấy ngủ khìn khịt tại nhà, lực lượng vũ trang đáng mặt nhất của cách mạng là các anh Giải phóng quân, thì còn ở tít mãi tận đâu ấy: lấy ai ngày đêm canh gác, tuần phòng? Bọn phản động mà nổ súng, chờ huy động được dân chúng Hà Nội thức dậy thì sự nghiệp đã đi tong hết rồi, còn gì nữa mà giữ!
Trần Hậu Tịnh cười hơ hớ, nói chêm vào:
- Vì thế nên Tổng bộ mới trưng tập chúng ta đến đây. Ngẫm ra cũng hay thật, đang từ một chú học trò đùng một cái trở thành một gã chiến binh mình mặc áo giáp, tay cầm súng trận... Tuyệt! - nói đến đây, dường như cơn hứng bốc lên, cậu ta vung tay hát rất to:
“... Ta tráng sĩ hề... gặp thời loạn lạc
Như cá gặp nước hề... ta vẫy vùng...”
Nghe các bạn mình bộc lộ tâm trạng, tôi lặng ngắt không tham gia lời nào...
Hai hôm sau chúng tôi được phát quân trang. Đủ lệ bộ nhà binh từ chỏm tóc đến gót chân: Mũ ca-lô bằng vải ka-ki mầu đất thó, áo sơ-mi và quần soóc bằng vải đay mầu cứt ngựa, giầy da dầu đế cứng có đóng cá sắt, bít tất sợi dệt mầu xanh thợ... (Nguyên vẹn một bộ đồ “lính khố xanh” lấy từ trong kho Bảo an binh ra chỉ thiếu một “chiếc khố” mầu xanh cài trước bụng). Ai nấy mặc vào, ngắm nghía cho nhau và cười nói râm ran. Rất nhiều cậu còn tỏ ra vô cùng đắc ý sau khi đã mặc bộ đồ ấy vào người.
Ngay chiều hôm ấy, Trần Hậu Tịnh quen lệ đến nháy tôi rủ cùng về (thời gian mới tổ chức, kỷ luật còn lỏng lẻo, hầu như chiều nào tôi với Tịnh cũng gạ gẫm tiểu đội trưởng Thủy cho lỉnh về qua nhà một lúc - vào cái khoảng từ 17 giờ cho tới 19 giờ, tức là sau giờ tập tành hoặc lên lớp cho tới trước giờ sinh hoạt tối). Tôi từ chối, lấy cớ đau bụng.
Thực lòng, tôi rất băn khoăn về một câu hỏi mà tự mình không sao giải đáp được: “Không biết khi trông thấy mình trở về trong bộ đồ “lính khố xanh” này thì thầy đẻ, rồi các chị, rồi chú bác họ hàng, rồi cả những cô gái cùng bà con hàng phố... sẽ nghĩ gì và có thái độ thế nào nhỉ? Chắc là ai nấy thất vọng lắm! Và họ ái ngại, nếu không muốn nói là khinh thị”.
Thế là tôi dứt khoát không về nhà nữa.
Cho tới một hôm, tôi đang đứng gác ở cổng trường Đồng Khánh (trường Trưng Vương bây giờ), thì tiểu đội phó Tạ Hoàng Mai vừa về trụ sở mang cơm ra, đến đưa cho tôi một mảnh giấy, và bảo: “Cậu có thư nhà đây này”. Tôi mở tờ giấy ra chỉ thấy vẻn vẹn có một dòng chữ: “Thầy ốm, em xin phép về ngay - Thuận”.
Tiểu đội trưởng Thủy đã được tiểu đội phó báo cáo, không chờ tôi xin phép, anh đã cho người ra gác thay tôi. Và giục:
- Cậu lấy trước một suất cơm, ăn nhanh lên rồi về xem cụ thế nào, báo cho chúng mình biết để còn đến thăm.
Tôi không kịp ăn cơm (và cũng quên phứt bộ đồ “lính khố xanh” đang mặc trên người), đến hỏi mượn Tạ Hoàng Mai chiếc xe đạp, hối hả phóng về nhà.
Trông thấy tôi, đẻ tôi, chị tôi và cả chú tôi đều mừng rỡ hỏi tôi có đói không? Có khỏe không? Tại sao hàng ba bốn tuần không ló mặt về v.v..? Tôi tránh né mọi câu hỏi bằng cách “hớt hải” đi vội vào nhà trong thăm bệnh tình của thầy tôi. Và tôi đã ngồi ỳ ra tại đấy. Thầy tôi vẫn ngồi dậy được, ông ngắm nghía tôi rất lâu rồi nói:
- Anh mặc “quân phục” nom có phần nhanh nhõn con người ra. Tập tành có vất lắm không? Nghe người ta bảo ăn uống thiếu lắm phải không? Liệu có đủ sức theo đuổi kịp với anh em không?
- Thưa thầy thời gian biểu của chúng con xếp đặt rất khoa học. Ngày nào cũng chỉ có bốn việc: Sáng tập quân sự; chiều học chính trị; tối sinh hoạt câu lạc bộ/ và... gác mỗi ngày đêm 4 tiếng. Còn ăn thì quả là có hơi kém. Nhưng đất nước đang khó khăn thế, sự thiếu ăn của chúng con đã thấm gì so với đồng bào? Con còn khỏe hơn rất nhiều anh em khác, thầy ạ.
- Anh thông suốt phận sự được vậy là tốt rồi. Đẻ anh nhớ anh nên mượn cớ thầy ốm để gọi anh về cho thấy mặt. Thường tình nhi nữ ấy mà, anh không được phép vì thế mà bịn rịn. Thôi, ra với đẻ anh một tí rồi còn đi kẻo muộn giờ...
Cuộc về thăm cha ốm lần ấy đã giúp cho tôi cảm thấy vợi bớt được nỗi ám ảnh nặng nề đối với bộ đồ “lính khố xanh” mà tôi đang bắt buộc phải mặc nó trên người: Thầy đẻ tôi, chị tôi không ai tỏ ra ghét nó!
Chiều hôm sau không tiện mượn xe đạp, tôi cuốc bộ. Con đường Đồng Khánh, Rút-đờ-Huế (Hàng Bài, phố Huế bây giờ) suốt những năm học Văn Lang ngày nào tôi chẳng phải diễu qua ít nhất là hai lần. Đồng bào hai bên đường không mấy ai lạ mặt tôi và ngược lại, tôi cũng không lạ gì họ.
Từ hôm mặc bộ đồ “lính khố xanh” lên người, hôm nay là lần đầu tiên tôi đi bộ về nhà (hôm qua tôi phóng xe đạp mượn). Trong ý thức, tôi rắp tâm sẵn sàng đón nhận những cái nhìn “mất cảm tình” của đồng bào hai bên hàng phố sẽ dành cho mình. Biết làm sao được, đã chót thì đành phải chét thôi(!). Thế nhưng... chẳng hiểu vì sao, hầu như tất cả những ngowif (kể từ em bé tới cụ già) thấy tôi đi qua hình như ai cũng có sự quan tâm. Họ nhìn tôi chăm chú. Có người còn mỉm cười rất thân ái, thậm chí còn có một vài chàng trai, cô gái giơ một bàn tay lên ngang vành tai, khẽ múa may mấy ngón tay ra ý chào thân thiện.
Từ chỗ bỡ ngỡ, hoài nghi tôi yên tâm ngay, và cũng vui vẻ mỉm cười đáp lại. Đang trong tâm trạng như vậy, bất ngờ tôi “chạm trán” ông Lê định (chủ hiệu bánh kẹo Tràng An, ở kề nhà thuốc Hồng Khê) - ông có cô con gái tên là Lê Kim Oanh, học trường Hoài Đức (trường nữ học ở giữa phố Hàng Trống); và tôi lại tình cờ là học sinh trường Văn Lang (ở kề đền Lý Quốc Sư) - nghĩa là hai chúng tôi đi và về học cùng một đường (nếu chúng tôi không ai muốn đi vòng) và cả hai đều không có xe riêng. Thế là “ngẫu nhiên” chúng tôi trở thành đôi bạn đường của nhau. Chẳng hiểu vì sao ông Lê Định rất không thích con gái ông kết “bạn đường” với tôi. Ngoài việc cấm con gái, ông còn trực tiếp đón đường “ra lệnh” cho tôi không được có “bất kỳ quan hệ gì” với con gái ông! Tôi tuy sợ nhưng dứt khoát không chịu vâng lời; vẫn cứ tiếp tục lén lút chơi với Kim Oanh. Ông Lê Định biết nhưng không bắt được quả tang nên đành chịu. Vì thế, ông rất ghét tôi. “Ghét lắm ý” (đây là cách nói của Kim Oanh). Vậy mà hôm nay, tôi vừa đặt chân đến trước hiệu bánh kẹo Tràng Anh, vừa hay ông định cũng từ trong nhà bước ra. Tôi sững người thầm nghĩ: “sắp có tai họa lớn rồi đây”! Nhưng, lạ lùng thay, tôi thấy ông cũng tỏ ra hơi sững sờ một tí, rồi thật là bất ngờ, ông trợn mắt giơ tay trỏ thẳng vào giữa mặt tôi, dõng dạc hỏi:
- Binh phục khố xanh, mũ không gắn sao. Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu hả? Ư hư, ừ hừm... thì ra cũng đáng mặt là trai Hà Nội đấy chứ nhỉ? Tốt, tốt lắm!
Nom cái kiểu cách rất mực “ta đây” nhưng cũng lại rất đỗi thân tình ấy của ông dành cho mình, tôi bất ngờ quá cứ ngớ ra mà nhìn ông, mồm thì lắp bắp:
- Dạ, thưa bác... vâng ạ! Dạ... dạ, đúng ạ!
Ông hể hả vung tay vỗ bồm bộp lên vai tôi, đẩy tôi vào trong nhà. Chưa vào tới phòng khách đã sốt sắng gọi con gái:
- Bé Kim Oanh đâu rồi. Bạn con đến chơi đây này. Ra đây mau lên con!
Rồi ông niềm nở bảo tôi:
- Ngồi xuống đi. Cứ thoải mái như ở nhà, hiểu không? Nói chứ cánh già chúng tôi nom thấy các anh các chị bây giờ chững chạc, hiên ngang trong bộ võ phục Việt Minh, thật quả cũng cảm thấy bõ công chúng tôi sinh thành, dưỡng dục...
Ông Lê Định còn chưa nói hết câu thì Kim Oanh đã từ nhà trong đi ra, dáng bộ nhanh nhẹn, rắn rỏi trong bộ váy áo Đội nữ Tự vệ Chiến đấu Hoàng Diệu. Trông thấy tôi cô sung sướng reo to:
- Ôi anh Thỏa. Sao biết Oanh về mà đến nhanh thế? Ơ kìa, anh cũgn được cử vào Tự vệ Chiến đấu Hoàng Diệu đấy ư? Tuyệt vời! Cho Oanh bắt tay một cái nào.
Tôi không dám nói với Oanh rằng tôi bị ông Định “bắt cóc” vào đây, đành chỉ còn biết cười trừ cho qua chuyện. Chợt Oanh ân cần hỏi:
- Anh từ đơn vị về hay từ nhà lên đây?
- Từ nơi đang canh gác về Oanh ạ.
- Có nghĩa anh chưa về đến nhà. Đúng không?
Tôi thoải mái công nhận:
- Rất đúng.
Cô cười rất tươi, láu táu nói ngay:
- Chơi với nhau hơn hai năm rồi mà Oanh vẫn chưa biết nhà anh. Hôm nay Oanh sẽ đi cùng anh về thăm hai bác. Được không?
Tôi hoảng quá vội tìm cách từ chối:
- Nhưng, nhưng... tôi sợ Oanh... không kịp về đơn vị!
Oanh nhìn tôi chằm chằm, rồi hỏi thẳng thừng:
- Hình như anh không muốn Oanh về thăm gia đình anh thì phải?
- Không, không đời nào lại có chuyện như vậy.
- Nếu vậy Oanh sẽ đi. Ba ơi, cho phép con đi chơi với anh Thỏa, ba nhé?
Theo dõi câu chuyện của chúng tôi từ đầu, ông Định gật đầu:
- Được, được. Đồng đội lại là bạn cũ nữa, không cần câu nệ vớ vẩn. Ba cho phép hai anh em đi chơi với nhau.
Không có cách nào khác, tôi kính cẩn chào ông Lê Định rồi cùng Kim Oanh bước ra đường. Hai đứa sóng vai thỉnh thỉnh diễu hành từ chợ Hôm về phố Guýt-xta-vơ đuy Mu-chi-ê (nay là phố Thịnh Yên). Tôi nhận thấy càng có nhiều cặp mắt, nụ cười thân thiện của dân phố và bạn bè dành cho hai đứa chúng tôi khi đi ngang qua nhà họ. Dường như không chú ý gì đến mọi người, Oanh cứ ríu rít nói với tôi hết chuyện này sang chuyện khác. Tôi nghe và có cảm tưởng hình như bộ váy áo nữ Tự vệ Chiến đấu Hoàng Diệu không chỉ làm thay đổi vẻ người của Kim Oanh, mà còn làm thay đổi cả tâm hồn và tính cách của cô nữa. Không gặp nhau mới hơn một tháng mà Oanh đã khác đi nhiều quá: Cười nhiều hơn, nói nhiều hơn. Và dáng dấp cử chỉ cũng mạnh dạn, hoạt bát khác thường.
Thấy tôi chuyện trò có vẻ cầm chừng. Đang đi, Oanh dừng bước nhìn vào mắt tôi và hỏi:
- Anh có điều gì không vui à?
- Sao Oanh lại hỏi thế? Tôi vẫn rất bình thường đấy chứ.
- Không đúng. Oanh cảm thấy anh đang phải suy nghĩ một điều gì có lẽ hóc búa lắm. Hay là... tại phải gặp lại Oanh?
Tôi giật mình vội hớt hải thanh minh:
- Không phải. Oanh nghĩ gì lạ thế? Được gặp lại Oanh tôi mừng lắm. Nhưng... tôi, tôi... dạo này tôi thấy trong người làm sao ấy Oanh ạ. Không thoải mái tí nào!
- Hay là anh ốm?
- Không phải. Tôi ăn, ngủ, tập luyện vẫn như thường.
- Lạ nhỉ? Này, Oanh hỏi thật và anh cũng phải trả lời thật cơ: Anh bị... thất vọng vì... bạn gái, phải không?
Tôi bất giác đỏ mặt, vội lắc đầu:
- Không đúng. Oanh thừa biết, ngoài Oanh ra tôi có quen bạn gái nào khác nữa đâu. Chả nhẽ Oanh không tin tôi sao?
Nghe tôi nói vậy Oanh im lặng không hỏi thêm câu nào nữa. Không biết Oanh nghĩ gì, phần tôi thì tôi rất lo, vì chưa kịp xin phép thầy đẻ mà đã dám tự tiện đưa Oanh về chơi nhà. Chắc chắn là thầy đẻ tôi sẽ dành cho Oanh một thái độ lạnh nhạt đáng sợ. Và như vậy Oanh sẽ cảm thấy bị xúc phạm, làm sao cô ấy có thể tha thứ cho tôi được? Tôi chỉ còn biết tự nhủ: Đành liều vậy thôi.
Đến nhà, giờ tay lên gõ cửa, tôi thực sự bối rối. Chị Thuận ra mở cửa. Nhìn thấy tôi đi cùng một cô gái mặc váy áo “nhà binh” chị tôi sững sờ đứng ngây ra như tượng. Tôi vội cất tiếng:
- Giới thiệu với... Oanh: Chị gái tôi. Chị tên là Thuận. Em xin giới thiệu với chị: Đây là đồng đội của em, tên là Kim Oanh. Oanh là học sinh Hoài Đức, nhà mở hiệu bánh kẹo Tràng An ở đối diện với Chợ Hôm đấy chị ạ.
Nghe tôi nói một thôi dài, Oanh tỏ ra rất ngạc nhiên. Còn gương mặt chị tôi thì hình như giãn ra, chị mở rộng cả hai cánh cửa và nghiêm trang nói:
- Các em vào nhà đi.
Để mặc cho tôi đưa Oanh vào, mời Oanh ngồi. Chị tôi đến cạnh ban thờ, trèo lên sập, bưng mâm bồng ngũ quả xuống, lấy mấy quả hồng Hạc bầy vào cái đĩa tây rồi bưng mâm bồng đặt vào chỗ cũ. Đoạn mang đĩa hồng ra bàn nước gọt vỏ, bổ thành miếng mang đặt vào trước mặt chúng tôi và bảo:
- Em mời bạn thụ lộc đi. Thắp hương từ sáng, ở nhà ăn cả rồi, các em cứ ăn tự nhiên nhé.
Chị tôi nói xong thì đi vào nhà trong. Tôi bảo Oanh:
- Chị Thuận mời, không ăn không được đâu. Oanh ăn đi.
Chúng tôi ngồi ăn hết cả năm quả hồng một cách thoải mái. Vừa ăn vừa chuyện trò nho nhỏ. Oanh bảo tôi:
- Anh đưa Oanh vào nhà trong thăm hai bác đi chứ.
Tôi ngập ngừng giải thích:
- Thầy tôi không giống tính ba Oanh. Ông cụ là thầy đồ - tức là giáo viên dạy chữ nho ý mà. Sống theo một khuôn phép gần như cố định, rất không thích có sự thay đổi. Ông bà, cha mẹ, con cháu... cùng sống dưới một nóc nhà thật nhưng ranh giới... có trật tự, phân minh. Thí dụ như việc tôi mời Oanh về chơi nhà như thế này, đáng lẽ phải xin phép thầy đẻ tôi trước đã rồi mới được làm đấy Oanh ạ.
- Chết! Thế... bây giờ phải làm thế nào?
- Chị Thuận đã bằng lòng tiếp thì khỏi lo. Chỉ có, Oanh muốn gặp thầy đẻ tôi thì nên chờ để tôi xin phép đã Oanh ạ.
- Vậy thì anh vào xin phép hai bác đi.
- Có lẽ hôm khác thì hơn. Hôm nay sắp phải về rồi!
Nghe tôi nói vậy Oanh nín lặng. Tôi cảm thấy vô cùng bứt rứt, chưa tìm được câu gì để nói với Oanh, thì đã thấy chị Thuận với đẻ tôi, mỗi người một bên, dìu thầy tôi đi ra. Tôi hoảng hốt đứng vội lên, kêu khe khẽ:
- Ơ... thầy!
Thấy vậy Oanh cũng đứng bật dậy, hớt hải chào:
- Lạy hai bác ạ. Cháu tên là Oanh, bạn anh Thỏa ạ.
Thầy tôi giơ một bàn tay ra trước khẽ xua xua, và cất giọng khào khào nói:
- Ngồi... cả... xuống... đi...
Tôi vội chạy sang giúp chị và đẻ tôi, đỡ cho thầy tôi ngồi xuống ghế. Chị tôi vội vàng pha trà, rồi bưng đến đặt trước mặt từng người. Cả gia đình tôi lẫn Oanh đều nín lặng chờ nghe thầy tôi nói. ông vẫn ngồi im, giương cặp mắt đã mờ đục ra đăm đăm nhìn Kim Oanh, rồi lại nhìn tôi, mà không nói. Lúc này tôi mới có đủ bình tĩnh để nhìn lại thầy tôi. Hôm nay ông ăn mặc vẫn như mọi ngày: Quần vải rường bâu trắng kiểu có chân què, cạp lá tọa; áo cánh tứ thân cổ đứng, hàng vải đũi Hà đông; mái tóc bạc óng lật ngược không rẽ đường ngồi, búi lại đằng sau ót tạo thành một cái “búi tó củ hành”; và chòm râu bạc hình như đã rụng nhiều, chỉ còn thưa thớt...
Nhìn một lúc, dường như đã đủ, thầy tôi quờ tay sang túm lấy tôi khẽ giật giật và nâng lên. Tôi hiểu ý thầy tôi muốn đứng dậy, vội đỡ cho thầy tôi đứng lên. Đứng được rồi thầy tôi lập tức cất bước. Chị tội vội chạy lại, cùng tôi đỡ thầy trở vào nhà trong. Sau khi đã nằm yên chỗ, thầy tôi khẽ nắm tay tôi và nói:
- Thầy đã được trông thấy dân ta cướp lại được chính quyền phá bỏ ách nô lệ mà hết Tây đến Nhật khoác lên cổ dân ta hơn tám mươi năm. Lại cũng đã được trông thấy và nghe cụ Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn Độc Lập, công bố cho cả thế giới cùng biết. Hôm nay lại được trông thấy con trai, con gái của đất Hà thành ta gọn ghẽ,l khôi ngô trong bộ đồ Chiến sĩ Cách mạng... ai nấy tinh anh, tươi trẻ, khỏe mạnh... thầy mừng lắm. Có thể yên tâm nhắm mắt được rồi... con ạ!
Tôi xúc động, cữ nắm lấy tay thầy tôi mà không biết nói thế nào. Thầy tôi gỡ tay tôi ra và giục:
- Thôi, anh đi đi kẻo muộn giờ. Đưng để cho cấp trên phải phiền lòng khiển trách, nghe không?
Tôi ngùi ngùi đứng dậy nói nhỏ:
- Con hiểu ạ. Thưa thầy con đi.
Ra đến phòng khách thấy đẻ tôi cùng chị Thuận đang ngồi nói chuyện rất vui vẻ với Oanh. Tôi cảm thấy yên tâm, “hỏi khéo” chị gái mình:
- Chị Thuận xem giúp em mấy giờ rồi ạ?
Chị tôi chưa kịp đứng dậy nhìn chiếc đồng hồ quả lắc, thì Oanh đã vén cửa tay áo xem giờ, đáp thay:
- Mới 18giờ15, chưa muộn đâu mà sợ.
Chị Thuận vui vẻ bảo:
- Dù chưa mượn thì các em cũng nên về trại sớm một tí cho được thảnh thơi. Oanh lên mãi tận quá Khai Trí Tiến Đức cơ mà. Chiều mai nhớ rủ nhau về sớm, chị làm sẵn bún ốc chờ về cùng ăn đấy.
Nghe chị Thuận nói, tôi với Oanh nhìn nhau cùng cười và đứng dậy chào đẻ tôi với chị Thuận rồi bước ra. Đến ngoài đường, Oanh tỏ vẻ bực bõ hỏi:
- Thầy anh sao lạ thế. Ra ngồi ngắm “khách” chán rồi vào nhà trong ngay. Chẳng thèm nói gì cả?
Tôi vội giải thích:
- Tính thầy tôi vốn vậy, chỉ nói khi nào thật cần, không quen chuyện trò đưa đẩy, Oanh ạ. Hôm nay, chắc là chị Thuận vào báo có Oanh đến chơi, nên thầy tôi cố gắng ra để được chính mắt trông thấy người Chiến sĩ Việt Minh gái trang phục ra sao, hình dong diện mạo thế nào... thôi mà. Tiếng là nhà nho nhưng thầy tôi là người rất yên bạn của con, không nghiêm khắc lắm đâu. Khi đã quen rồi nhất định Oanh sẽ cảm thấy dễ gần thôi.
Oanh trầm ngâm một lát rồi nói với ý tâm sự:
- Oanh mồ côi mẹ từ năm mới lên mười, và lại là con một. Hôm nay gặp đẻ anh với chị Thuận, Oanh chợt phát hiện thấy trong tâm hồn mình nảy sinh một tình cảm rất lạ. Cứ cảm thấy như là đã gặp đẻ anh và chị Thuận từ lâu lắm rồi, rõ ràng rất quen mà không sao nhớ ra được đã gặp ở đâu? Từ bao giờ?
Tôi không muốn sa đà vào câu chuyện tâm sự của Oanh, nên nói lảng sang việc khác:
- Nghe nói bên Oanh cũng thay nhau đi làm công tác Thanh vận và Nhi vận phải không?
- Đúng thế.
- Có gì thú vị không?
- Rất thích. Thế bên anh không được phân công làm việc đó à?
- Có, nhưng tôi cứ tìm đủ mọi cớ để đi... trốn.
Oanh tỏ vẻ ngạc nhiên, hỏi giật giọng:
- Tại sao mới được chứ?
- Tại vì... tôi cứ cảm thấy ngường ngượng làm sao ấy. Không thích tí nào.
Oanh im lặng một lát rồi nói:
- Đến bây giờ thì Oanh hiểu rồi. Từ lúc gặp lại anh, Oanh cứ băn khoăn không hiểu vì sao anh lại tỏ ra lúng ta lúng túng... hệt như một anh nhà quê ra tỉnh lần đầu ấy. Thì ra cả nước đã “thay cũ đổi mới” hàng tháng trời rồi, còn anh thì vẫn cứ khư khư giữ nguyên si cái cách sống và cách nghĩ cũ của mình. Chết thật.
- Oanh sao lạ thế. Đang nói chuyện đi vận động thanh niên và thiếu nhi, lại ngoặt ngay sang chuyện khác?
Oanh thốt nhiên bật cười thành tiếng và đáp:
- Không ngờ anh lại ngốc đến thế Chính do đi Thanh vận và Nhi vận mà Oanh đã trở nên khác trước gần như hoàn toàn. Chẳng lẽ anh không nhận ra ư?
Tôi nghi ngờ nhìn Oanh và nói:
- Có nhận ra, nhưng... sao lại do đi hoạt động Thanh và Nhi vận, tôi chưa hiểu?
Oanh cười vui vẻ giải thích:
- Thực lòng mà nói, lúc đầu Oanh cũng sợ lắm. Từ bé, ở nhà cũng như đi học, chỉ chơi với bạn gái. Vài năm nay mới quen với anh - tuy là con trai nhưng cũng... giống như con gái. Bây giờ đi công tác Thanh vận nghĩa là phải chơi với... tất cả, bất kể là trai hay gái! May sao thực tế lại quá sức đơn giản: đến nơi nào Oanh cũng được các bạn thanh niên nam cũng như nữ, và các em thiếu nhi ở đấy mừng rỡ tiếp đón. Thậm chí đến cả các bậc cha mẹ, ông bà... cũng rất hoan nghênh sự có mặt của anh chị em Tự vệ Chiến đấu Hoàng Diệu chúng ta. Nếu không tin anh cứ đi thử sẽ biết, rất thích cơ.
- Nhưng... tôi chưa hiểu, nếu đúng như lời Oanh kể thì, vì sao đồng bào ai nấy đều... hình như đã dành sẵn cho Oanh một sự ưu ái đặc biệt, như vậy?
- Không phải là cho riêng một mình Oanh, mà là đối với tất cả những chiến sĩ Tự vệ Chiến đấu Hoàng Diệu chúng ta. Vì sao ư? đơn giản là vì: Đội chúng ta (kể cả nam lẫn nữ) có tới hơn 300 anh chị em. Anh có biết Hà Nội có bao nhiêu phố lớn nhỏ không? Cứ tạm cho là 150 phố đi. Như vậy có nghĩa: mỗi phố quân bình có tới hai tên chúng ta là Là Dân của phố đó...
Nghe đến đấy tôi cướp lời Oanh:
- Tôi hiểu rồi, hiểu rồi! Có nghĩa rằng trước khi chúng ta đến làm công tác Thanh, Thiếu nhi vận thì đồng bào ở đấy họ đã biết rõ chúng ta là ai rồi. Đúng không?
Oanh tươi tỉnh khen:
- Anh thông minh lắm, Oanh cho anh điểm mười. Thích nhé!
Tôi lặng im không đáp.
Và, suốt đêm hôm ấy tôi chỉ mong trời chóng sáng, để... xin được tình nguyện đi làm công tác Thanh vận hoặc Nhi vận, xem sự thật nó thế nào?
Khỏi phải kể thêm rằng: Thực tế đã chứng minh tất cả. Nó đã giúp tôi xóa bỏ cái “tật dị ứng” đối với Người Lính. Và cũng kể từ đấy tôi đã thực sự trở thành một người lính... từ trong ra ngoài. Bởi vì đồng bào Hà Nội không ai coi tôi là “lính”, họ thật lòng coi tôi là con, cháu, bạn bè của họ.
Và, để cho có sự phân biệt giữa chúng tôi với bọn “lính”, đồng bào gọi chúng tôi là chiến sĩ(1).


Hà Nội, tháng Tám năm 2001



====================

(1): Khi ấy danh từ Chiến sĩ là tên gọi chung cho tất cả mọi quân nhân (không kể là chỉ huy hay lính trơn). Sau đó mới phân biệt ra thành “cán bộ” với “chiến sĩ”. Cuối cùng lại hợp thành một cái tên chung: Bộ Đội!




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0

Chiếc xẻng của ông đại tá người Hà Nội


Kính tặng anh Nguyễn Vũ Giáp


Gia đình đại tá Nguyễn Vũ tiếng rằng “tam đại đồng đường”, nhưng thực tế đếm đi đếm lại cũng chỉ được đến con số 5 là... hết: Hai vợ chồng già (ông bà đại tá); hai vợ chồng trẻ (con trai và con dâu đại tá); đứa cháu nội (gái) vừa bước sang tuổi 16. Cộng vừa đủ con số 5. Năm người ở trong hai ngôi nhà (một cũ một mới), có diện tích hơn chín chục mét vuông, trên mảnh đất hương hỏa năm trăm mười ba mét. Trong một khu vực dân cư trước kia là làng nay đã đổi thành Phường (khỏi phải nói thêm rằng đó là điều kiện sinh sống “lý tưởng” cho bất kể một công dân nào - ở vào hàng (cấp bậc) đại tá, đang được cầm sổ hộ khẩu là Người Hà Nội)!
Vậy mà, chẳng hiểu vì sao, đại tá Nguyễn Vũ, kể từ ngày về hưu đến giờ (đã 16 năm), vẫn không “đụng chân đụng tay gì” vào cái cơ ngơi bề thế ấy, làm cho nó hóa thành “bồng lai, tiên cảnh” (một nơi chứa trọ cho sinh viên hoặc cho người ta thuê để mở xưởng sản xuất chẳng hạn...). Ông vẫn cứ để cho nó “âm u” như nó từng như thế.
Thế mà thấm thoắt đã 16 năm có lẻ, thì... bất ngờ xảy ra một việc - cứ ngỡ rằng rất nhỏ “chẳng chết ai”. ấy là cô cháu gái “rượu” của ông bà đại tá (một cô gái đang tuổi “hoa học trò”, rất xinh đẹp và ngoan ngoãn) được bạn mang tới tặng cho một cây hoa quí, có tên là “Hồng long thoát ngọc”. Cô bé sung sướng mang ra vườn trồng, nhưng không tìm thấy thứ gì để đào. Sực nhớ trong phòng riêng của ông nội có một chiếc xẻng, cô chạy ngay vào lấy ra dùng. đó là một chiếc xẻng quân dụng cán gập, đã dùng nhiều tới mức cái lưỡi mòn vẹt hẳn, chỉ còn chưa bằng nửa cái bàn tay. Trồng xong cây hoa, mải đi lấy nước tưới và vuốt ve hoa, cô bé bỏ quên cái xẻng tại đó.
Ba hôm sau, từ Thái Nguyên trở về, đại tá Nguyễn Vũ phát hiện thấy bị mất cái xẻng. Vốn tính cẩn trọng, ông ra nhà ngoài pha ấm nước ngồi chờ bà đại tá ngơi tay trở vào, mới nói:
ấm nước đang ngon, bà nghỉ tay uống với tôi đã.
Bà từ tốn bước lại, vui vẻ nói:
- Cứ ngỡ ông mới đi xa về còn nhọc không dám hỏi. Chuyến thăm anh em bạn cũ lần này ông có được như ý không?
- Việc ấy để nói sau. Có một việc quan trọng hơn, tôi muốn hỏi bà: Cái xẻng ở trong phòng tôi bà mang nó đi đâu?
Bà ngơ ngác hỏi lại ông?
- ông bảo sao? Xẻng nào?
- Tôi chỉ có một cái xẻng, hình dạng nó ra sao? Để ở chỗ nào bà biết mà?
- Vâng, vâng, tôi biết! Nhưng, trong buồng ông hàng ngày tôi chỉ vào lau chùi, quét dọn. Rồi thứ nào để đâu vẫn đặt lại đúng chỗ ấy, tôi có dám mang một thứ gì ra khỏi buồng mà không hỏi ông bao giờ đâu?
Nghe bà nói vậy, đại tá Nguyễn Vũ hiểu ngay vợ mình “vô can”. Ông nói:
- Chắc chắn không có tên kẻ trộm nào mò vào nhà này chỉ để lấy một cái xẻng cùn. Anh ở trong nhà này mang nó đi đâu, bà bảo ngay lập tức mang về, để đúng vào chỗ cũ, giúp tôi!
- Vâng, ngay tối nay chờ đông đủ cả nhà tôi sẽ hỏi...

***

Cần giới thiệu qua một chút về thân thế và gia đình đại tá Nguyễn Vũ:
Trước đây bẩy mươi sáu năm, cậu bé Nguyễn Vũ đã được sinh ra và “cắt rốn, chôn nhau” tại cái làng giáp gianh giữa hai khu vực Nội-Ngoại thành Hà Nội này, trong một gia đình giầu có và theo đạo nho. Năm 1945, đang học “Bắc” phần hai (Bachelier dauxième partie) thì đảo chính Nhật-Pháp. Là một đoàn viên Thanh niên Cứu quốc của Hà Nội, Vũ nhanh chóng nhận thức được tình hình: Thời học trò đã kết thúc! Anh lặng lẽ “xếp bút nghiên”, lặng lẽ giã biệt gia đình, dấn thân vào cuộc sống của những người hoạt động cách mạng “chuyên nghiệp”. Sáu tháng sau, Cách mạng Tháng Tám nổ ra, anh học trò Nguyễn Vũ chính thức mặc quần áo lính kể từ đấy - và cuộc sống quân ngũ không ngờ kéo dài tới 40 năm, đã gói trọn cuộc đời anh...
Tháng 8 năm 1985 đại tá Nguyễn Vũ nhận quyết định nghỉ hưu trí. Từ ngôi nhà riêng của gia đình mình, Nguyễn Vũ ra đi, sau một mạch bốn mươi năm (có dư 5 tháng) anh lại trở về với đúng ngôi nhà “hương hỏa” của mình. Có một sự trùng hợp có vẻ như ngẫu nhiên mà vô cùng kỳ lạ: Trải qua bốn mươi năm với bao phen “tắm mình trong binh lửa”, vậy mà con người Nguyễn Vũ lẫn ngôi nhà “hương hỏa” này vẫn không hề vương một mảy may thương tích, ngoài sự tàn phá của thời gian...
Ngôi nhà này, khi anh “trốn nó” ra đi thì nó đang là một ngôi nhà “bề thế” nhất làng: Một ngôi nhà “đại khoa” năm gian nền cao ba thước (tương đương 0,9 mét); mái lớp ngói âm dương; cột lim tầy ôm kê đá tảng; vì kèo, chân trụ chạm khắc vẩy rồng, đuôi phượng; cửa cuốn “bức bàn”; nền trong nhà ngoài hiên thảy đều lát gạch Bát Tràng! Ngoài thì tường hoa, sân gạch, bể cạn, non bộ, cá vàng, chậu hoa cây cảnh... nhiều không kể xiết! Trong nhà nào hoành phi, câu đối, hương án, ngai thờ, đỉnh đồng, cây nến... cho đến sập gụ, tủ chè chạm khắc con dơi - cành nho với long, ly, qui, phượng... bầy biện sang trọng uy nghi, mọi chỗ đâu vào đấy chẳng thiếu thứ gì. Nay thì, tất cả đã cỗi cằn. Tường, mái rêu phong, hoành phi lở lói! Xóm làng, ba bề bốn bên, nhà bê tông cốt thép nhan nhản mọc lên hai, ba tầng; bốn, năm tầng... đồ sộ, tối tân! Khiến cho ngôi nhà “hương hỏa” bề thế nhất làng của anh học trò Nguyễn Vũ khi xưa, nay trở nên thấp bé “còm cõi” lạ lùng.
Nói cho cùng, cổ nhân dạy “thời gian như dao sắc” nếu chỉ nhìn vào hình thức mà xét thì ngôi nhà với con người của ông đại tá Nguyễn Vũ đều đã trải qua sự “tàn phá” khắc nghiệt của thời gian suốt bốn mươi năm, cả hai cùng trở nên “lọm khọm” khi được “tái hồi Kim Trọng” âu cũng là hợp lẽ. Một anh thanh niên hăm mốt tuổi, tóc đen nhánh, mắt sáng ngời, má căng, ngực nở... sau bốn mươi năm gội bom, tắm đạn... lộng lẫy với bốn ngôi sao đại tá trên vai cùng hàng chục tấm huân chương trên ngực: so với... cái mầu sương pha trên mái tóc, cái nếp nhăn trên vầng trán rộng, và cái dáng vẻ mệt mỏi trong mỗi lời nói, bước đi... thì chỉ là sự thường tình. Bởi đó là chứng chỉ của thời gian!
Còn một điều giống và cũng rất khác nhau nữa, đó là: Khi Nguyễn Vũ trốn nhà ra đi. Gia đình anh gồm có năm người: Cha, mẹ, chị và em gái anh. Nay trở về, gia đình vẫn có đủ năm người, nhưng lại là vợ, con trai, con dâu và cháu nội... một sự “cân bằng” nằm trong quy luật “hoán cải” của thời gian (!) mà hiện nay nhân loại chưa sản sinh ra được một tài năng nào có đủ khả năng chée ngự!
Là một người có nền móng trí tuệ vững vàng và dầy dạn với bom đạn, đại tá Nguyễn Vũ tiếp nhận khách quan với một tư thế thật sự thư thái và trầm tĩnh. Khi đã nhận đủ giấy tờ nghỉ hưu, dù không muốn, đại tá vẫn vui vẻ “chấp hành mọi thủ tục” do đồng chí chính ủy “triển khai”: vài cuộc liên hoàn với cán bộ các trung, tiểu đoàn rồi đến cán bộ các cơ quan trực thuộc sư. Sau đó là một chuyến com-măng-ca vượt quãng đường hơn 300 ki-lô-mét đưa tiễn đại tá về tận gia đình. Ngoài gói quà tình nghĩa của đơn vị tặng không thể chối từ, đại tá Nguyễn Vũ khi ra đi chỉ với hai bàn tay trắng nảy trở về đã có thêm một chiếc ba lô bạc maàu cùng với một chiếc xẻng quân dụng đã mòn vẹt già nửa lưỡi, cài rất chững chạc trên nắp ba lô!
Vợ đại tá, một “bà lão” 73 tuổi gầy còm nhưng còn minh mẫn và đặc biệt: còn đủ sức cai quản công việc gia đình. Con trai đại tá, là một phó tiến sĩ y khoa “phá rào” ra gom cổ phần với bạn mở phòng khám bệnh tư cùng vợ. Cháu nội đại tá, là cô bé Nguyễn Thị Minh, nữ sinh lớp 10 trung học phổ thông mà ta đã biết...
Cái gia đình gồm ba thế hệ đang cùng chung sống hòa bình ấy đều vui mừng đón đợi chồng, cha, ông nội của mình là đại tá bốn sao Nguyễn Vũ trở về. Người con trai (đã 40 tuổi) bàn với vợ: Lập tức mời kiến trúc sư vẽ kiểu, xây ngay một ngôi nhà hai tầng rất xinh xắn, trang nhã ở góc vườn, nằm lấp ló sau những tán lá dừa và ngọc lan để đón người cha thân yêu sau bốn mươi năm chinh chiéen về “dưỡng lão”! Tiếc thay, lòng hiếu thảo của hai vợ chồng người con không được đại tá Nguyễn Vũ chấp nhận. Ông nói đơn giản:
Nhà làm không thừa. Từ hôm nay thầy với đẻ các con sẽ “độc chiếm” ngôi nhà hương hỏa này của ông bà nội các con để lại. Các con thu dọn sang ở ngôi nhà mới làm. Con “cún” muốn ở với ông bà hay theo bố mẹ, tùy ý nó và vợ chồng các con.
Rồi ông nói riêng với bà:
- Xa bà ngần ấy năm, tôi nhiễm nặng cái thói “giường cái nhân” với “chăn đơn gối chiếc” mất rồi. Nhà những năm gian, tôi xin bà cho tôi riêng hẳn một gian, được không, hả bà?

***

Được bà đồng ý, ngay chiếu hôm sau đại tá đã đi gọi hai chú “thợ vườn” về nhờ mua gạch, cát, xi măng, khung hoa và cánh cửa... rồi phá một mảng tường hồi của ngôi nhà cổ, làm thành một cái cửa sổ đẹp đẽ, sáng sủa, và mang một cái bàn con kê vào đấy làm bàn viết.
Phòng riêng của đại tá Nguyễn Vũ trông vào rất ư thoáng đãng, sáng sủa: Một cái giường cá nhân kê giáp tường hậu, một cái tủ cá nhân kê kề với đầu giường, ngăn dưới đựng áo quần thay đổi, ngăn trên để sách vở và một ít đồ dùng lặt vặt; chăn màn gối đệm xếp gọn trên giường nằm; hai đôi giầy cùng hai đôi dép đặt trên cái bệ gỗ dưới gầm bàn viết. Cái ba lô với chiếc xẻng cùn được đặt trang trọng trên một cái “xích-đông” ở mé trên bàn viết!
Hồi nhà bên kia là buồng riêng của bà lão. Gian giữa thờ tổ tiên. Hai gian bên phải và bên trái kê giường khách và bàn nước. Cô bé Minh trở thành người “một chốn đôi nơi” : Khi ngủ và học thì về nhà mới, ngoài ra là sống với bà!
Đã 16 năm nay đại tá Nguyễn Vũ nghỉ hưu trí, “đứng chủ” một gia đình với sự yên ổn và nền nếp, qui củ như thế thì đột nhiên xảy ra việc mất cái xẻng!
Sau bữa cơm tối ăn muộn như lệ thường của gia đình (nhằm phù hợp với công việc mưu sinh của con trai và con dâu), chờ cho chồng đã vào phòng riêng, bà lão mới rẽ ràng hỏi con và cháu:
- Anh chị với “con cún”, có ai mang cái xẻng ở trong phòng ông lão đi đâu không?
Nghe bà hỏi, cô bé Minh giật mình vội đáp:
- Thôi chết! Cháu lấy đấy ạ.
- Thì ra cháu ư? Lấy xẻng làm gì? Nó đâu rồi?
- Cháu lấy trồng cây hoa bạn cháu mới cho. Cháu chót để quên ở chỗ ấy rồi ạ!
- Quên chỗ nào ra mang vào cho bà.
Cô bé nhanh nhảu chạy đi, một lúc sau quay vào sợ hãi báo tin:
- Cháu bật đèn sáng mà vẫn không tìm thấy. Làm thế nào bây giờ hả bà?
Không để cho mẹ chồng kịp lo nghĩ, người con dâu lên tiếng:
- Thôi, việc ấy để mẹ lo. Con chơi với bà một lúc rồi về ngủ, mai còn đi học. Có cái xẻng chứ việc quan trọng, to tát gì!
Người con trai nhẹ nhàng trách vợ:
- Một gia đình ba thế hệ chung sống, các cụ có sở thích của các cụ, em đừng quên bổn phận của mình là một đứa con. Chớ nên treo cái gương xấu cho “con cún”!
- Anh nói năng gì lạ thế? Không tôn trọng ý thầy đẻ mà em lại nhận phần giải quyết việc ấy giúp con gái em à?
Bà đại tá bảo con trai:
- Muốn dạy bảo gì chị ấy, anh cố chờ đến lúc về buồng riêng hãy nói. Còn chị, hãy nghe đẻ, đứng nên cãi nhau tay đôi với chồng như thế. Môi hở răng lạnh, khó coi lắm! Việc có quan trọng, to tát hay không chưa biết được đâu. Đẻ hiểu tính nết thầy chị, ông ấy không phải là hạng người ưa “bói bèo ra bọ”! Thôi, anh chị về bên ấy, cho đẻ thu dọn kẻo khuya rồi.
Tối hôm sau, không biết “khai thác” từ nguồn nào, người con dâu hãnh diện mang về đưa cho mẹ chồng một chiếc xẻng quân dụng mới khự “chưa bóc tom”. Bà lão vui mừng đem đặt vào đúng nơi chiếc xẻng cũ của ông đại tá.
Sáng hôm sau, khi đàn con cháu đã đi làm, đi học rồi, trong lúc cùng ngồi uống nước, ông nói với bà:
- Tôi đã xem kỹ, cái xẻng này mới nguyên, không phải cái của tôi, bà ạ!
- Thì tôi cũng nhận ra ngay đấy chứ. Nhưng, cũng là xẻng bộ đội như nhau. Càng mới càng tốt chứ sao?
- Đồ vật cũng như con người, nếu chỉ cần dùng vào công việc cho đỡ tốn công tốn sức, thì bà nói đúng. Đằng này... bà nghĩ xem nếu có ai lấy cái áo cưới cũ kỹ của bà rồi mang trả cho bà cái áo mới tinh, tốt, đẹp hơn cái áo cũ, thì bà có mừng không?
Ông nói vậy tôi hiểu rồi! ý ông muốn bảo cái nghĩa, cái tình ở đồ vật ấy đối với mình, phải không ạ? Thế thì quan trọng thật. Để tối về tôi sẽ bảo các con!
Đêm hôm ấy vợ chồng người con nằm rì rầm nói chuyện hơi khuya. Sáng hôm sau người con dâu nói với mẹ chồng:
- Con nhớ ra rồi. Cách đây mấy hôm, con có thuê người vào nhà ta thông cái cống bị tắc. Chắc là họ trông thấy cái xẻng bé Minh để quên ở đấy. Tưởng là đồ bỏ, họ nhặt mất rồi, đẻ ạ!
- Chết! Nếu vậy thì biết đường nào mà tìm? Tội nghiệp ông lão, cả một đời vào sinh ra tử, chỉ còn giữ lại được cho riêng mình cái ba-lô với cái xẻng, nay mẹ con bà cháu ta làm mất, đau lòng ông lão biết nhường nào?
- Đẻ yên tâm. Nhà con anh ấy cũng nói y như đẻ. Anh ấy giao cho con phải nghỉ việc để đi tìm bằng được cái người con thuê vào móc cống, “chuộc” lại cái xẻng. Tốn kém bao nhiêu cũng phải làm bằng được, đẻ ạ!
- Nhưng... liệu có tìm thấy người ta không? Liệu có phải là người ta nhặt không? Mà dù có phải thì liệu có còn không chứ? Khó lắm con ơi!
- Nhà con anh ấy bảo: Chị sợ không thực tâm muốn tìm thì mới không lo thấy. Anh ấy khinh con thế đấy đẻ ạ! Con sẽ đi tìm, dù có tốn bạc triệu, phải lần mò hàng tháng thì con vẫn quyết tìm bằng thấy cái người con đã thuê móc cống, lôi về đây... để minh chứng cho lòng con. Để cho chồng con hiểu rằng vợ anh ấy đâu phải là hạng đàn bà không biết bổn phận làm dâu!?
- Không nên thế con ơi? Bổn phận nào thì cũng phải là ở tự lòng ta, đâu phải nhằm để cho ai biết mặt? Hãy nghe đẻ, đừng bận tâm về lời nói của chồng con. Nếu đã thấy là việc đúng thì dù ai nói dở con cũng cứ cố mà làm; đừng nên làm vì tức, nó phí mất cái lòng thơm thảo của mình đi, con ạ!
Ba hôm sau người con dâu, mặt mày nở mang đưa cái xẻng cho mẹ chồng, nói:
- Đây, đẻ kiểm tra kỹ lại xem có đúng là cái xẻng ấy không?
Bà đại tá không giấu nổi xúc động, khen:
- Con giỏi lắm! Còn phải kiểm với tra gì, chỉ thoáng trông là đẻ đã biết ngay đúng là nó rồi. Mười sáu năm giời, tuần nào mà đẻ không lau chùi nó một vài lần, còn nhầm được ư? Thấy con vất vả suốt mấy hôm nay, ngày nào cũng đi không lại về rồi, đẻ đã lo lo. Làm thế nào mà con tìm được thế?
- Khó khăn vất vả là việc đi lùng cái anh chàng móc cống ấy thôi đẻ ạ. Hà Nội có bao nhiêu “chợ” người là con sục sạo bằng hết. Đến đâu cũng tả hình dạng, áo quần, giọng nói... rồi bảo thẳng là chỉ để tìm cái xẻng cho họ khỏi sợ, và hứa sẽ thưởng hẳm một trăm ngàn cho ai tìm giúp được người, được xẻng...
- Cuối cùng, thì ra đúng là anh ta đã lấy ư?
- Đúng thế ạ.
- Phúc mà anh ta còn giữ được, chứ không thì...
- Hắn bán béng cho hàng sắt vụn lấy một ngày ngay từ lúc ra khỏi nhà ta rồi cơ, đẻ ạ. Khi hắn dẫn con đến xin chuộc, thì cái xẻng đã bị vặt làm đôi, lưỡi nằm trong đống sắt vụn, cán bị quẳng vào đống củi. Lục lọi, bới móc hết hơi mới thấy! Hú vía, may mà chưa đẫy chuyến cho một ô tô tải, chậm chân nó mà chở đi mất thì cũng đành khoanh tay chịu chết thôi, đẻ ạ!

***

Chuyện tư của ông đại tá Nguyễn Vũ cứ ngỡ rằng sau khi tìm thấy cái xẻng là kết thúc! Bất đồ một hôm, theo một thói quen đã có hàng chục năm, mỗi khi đài truyền hình có chương trình dành cho Q.Đ.N.D. là ông không thể bỏ qua, đại tá Nguyễn Vũ nhận được lời Nắn tìm đồng đội rất rõ ràng: “... Liệt sĩ Đh Viết Ngảnh quê quán Hậu Lộc, Thanh Hóa nhập ngũ tháng 2 năm 1965. Hạ sĩ thuộc c1, d2 Binh đoàn HS. Hi sinh ngày 15 tháng 2 năm 1968 tại mặt trận phía Nam. Ai biết phần một liệt sĩ Ngảnh ở đâu, xin báo theo địa chỉ...”
Sáng hôm sau, trong lúc ngồi uống nước ông đại tá hỏi vợ:
Sổ tiết kiệm có được dăm triệu không bà?
- Sao lại dăm? Nhiều chứ ạ!
- Chừng bao nhiêu?
- Phải gần hai chục triệu chứ chả ít đâu. Ông về đã mười sáu năm trời có dư rồi! Tháng nào tôi cũng cấu lương hưu của ông ra một ít gửi vaò đấy, gọi là phòng khi ý mà.
Ông tỏ vẻ vui mừng, giục:
- Bà mang nó ra cho tôi ngó một tí, được không?
Bà vội đứng dậy, lấy chùm thìa khóa, mở cái hòm gian bằng gỗ lim dưới gầm bàn thờ, lấy quyển sổ tiết kiệm đưa ra cho ông xem. Số dư trong sổ ghi rõ: “Mười tám triệu, bốn trăm sáu mươi ngàn đồng chẵn. Ông gấp sổ đưa trả bà, ngồi tư lự một lúc rồi nói:
- Tôi cần tiêu đến số tiền này bà ạ?
- có việc gì xảy ra thế ông?
- Việc “tư” thôi. Nhưng mà... phải đi xa lắm, có khi mất hàng tháng. Tiền tầu xe, tiền ăn đường... chẳng biết thế nào?
- Vậy thì ông cứ mang hết đi, thừa còn hơn thiếu. Dọc đường lỡ mà thiếu thì biết vay ai?
- Bà nói phải. Vậy thì bà mang sổ đi rút tiền, tôi ở nhà thu xếp đồ đạc, để còn đi cho sớm sủa!
- Rút hết sổ chứ ạ?
- Có nên không, bà?
- Ơ hay, đi xa nhà hàng tháng, “ngày đàng gang nước”... tôi có được đi theo để lo cho ông đâu... mà bảo!
Bà rút được tiền tiết kiệm về thì đã hơn chín giờ. Thấy ông đứng ngóng sẵn ở ngoài hiên, dáng vẻ bồn chồn mong đợi, bà vội giãi bầy:
- Hôm nay chả biết là cái ngày gì, mà sao lắm người đến lấy tiền ra thế. Chờ lâu quá. Ông vội đi ngay à? Đợi tôi thổi ù lưng cơm nóng mà ăn cho chắc dạ rồi hãy đi, được không?
Ông chìa tay cho bà nắm, dìu bà lên bậc thềm, đi vào trong nhà, đỡ cho bà ngồi yên ổn vào đúng chỗ bà vẫn thường ngồi, rồi mới trở về chỗ của mình, rót nước đặt sang trước mặt bà và nói:
- Bà uống nước, nghỉ ngơi cho bớt nhọc đã nào. Lo gì cái sự ăn hở bà? Thời bây giờ chỗ nào có người đi lại mà chẳng có hàng ăn, đâu có như thời chúng mình còn trẻ, hễ cứ có việc đi quá bữa là đã phải sắp sẵn cơm nắm muối vừng?
- Đành một nhẽ là như thế, nhưng... tôi còn sống đây, mà có thể đành tâm đứng nhìn ông lòng không dạ đói cất bước đi xa, cho được hay sao? Vội gì thì cũng phải ăn đã, cho tôi được yên lòng, ông ạ.
Không thể cứ giữ ý mình, ông đành ngồi im...
Cơm nước xong thì đã 11 giờ. Trong bụng bà rất muốn bảo ông hãy vào nghỉ trưa một lúc đã, nhưng còn ngần ngại chưa dám nói. Trông dáng vẻ của bà, ông cũng đoán ra, bèn nói:
- Bà để công việc lại đấy, dọn sau. Ngồi xuống đây nghỉ ngơi, chuyện trò một lúc cho tôi còn đi.
Bà lẳng lặng ngồi vào chỗ của mình, e dè hỏi:
- Có còn giặc giã gì nữa đâu, mà sao ông vội đi làm vậy?
- Việc đợi tôi đã lâu quá rồi bà ạ. đúng là có nấn ná thêm vài ngày thậm chí một vài tháng nữa... cũng... không sao! Nhưng... lòng tôi cứ thấy... nóng như lửa đốt. Nói thực, ví thử không “nể mặt” bà và trong túi lại sẵn tiền, thì tôi đã đi từ lúc tám giờ tối hôm qua rồi, bà ạ!
- Việc quan trọng đến thế ư? Tôi cứ ngỡ ở vào địa vị với tuổi tác của ông bây giờ... nhất là lại không công nợ ai, thì, cứ chỗ mát mà ngồi, chỗ vui mà đứng... ai nỡ trách ông, mà sợ?
- Bà nói phải. Với đời bây giờ, ngoài bà ra chẳng ai có quyền trách tôi một điều gì hết! Nhưng, còn lòng tôi đối với tôi nữa chứ? Tôi có mắc một món nợ với lòng tôi bà ạ.
- Vâng, vâng... thế thì tôi hiểu rồi ạ. Lòng đã canh cánh nỗi niềm thì ăn ngon, ngủ yên sao được? Ông xem lại tiền nong, đồ dùng định mang theo cho thật yên tâm, rồi có dặn dò tôi câu gì thì dặn đi, để còn ra bến cho được mau mắn. Nhớ giữ gìn sức khỏe giúp tôi đấy!
Ông đứng dậy, vừa khoác hành trang lên người, vừa nói:
- Tôi nhớ và hứa sẽ mang ông lão của bà về trả cho bà thật vẹn toàn, nghiêm chỉnh. Bà bảo với vợ chồng anh chị ấy cứ yên tâm làm ăn, tôi đi tôi lại về ý mà. Chẳng may có biến cố gì thì ở đâu bây giờ chẳng có điện thoại, tôi sẽ báo về, đừng lo. Nhắc con cún phải học hành cho chững chạc, tôi đi vắng thì bà bắt bố mẹ nó phải dành thì giờ ra kiểm tra việc học của con cún từng ngày một, chúng nó mà không làm thì bà cứ đét thẳng cánh, không tha đứa nào. Thôi thế tôi đi, bà nhé!
- Vâng. Mong ông đi đến nơi về đến chốn. Việc nhà tôi lo được.
Tiễn ông ra cổng, đứng nhìn theo ông với chiếc ba lô đã bạc mầu trên lưng, bước đi xa dần, bà thầm thắc mắc: Ông lão đi công việc gì mà trên nắp ba lô vẫn cứ cài theo cả cái xẻng cùn. Hẳn là ông ấy sợ để ở nhà ngộ nhỡ ta lại đánh mất? Sao lại có thứ xẻng quí hơn cả người như thế nhỉ? Lạ cho ông lão quá!

***

Ông đại tá đi đã được hơn một tháng mà không thấy gọi điện thoại về nhà một lần nào, khiến bà đại tá cứ phải ngày ngày lắng tai chờ nghe tiếng chuông điện thoại và chốc chốc lại ngóng mắt ra phía cổng.
Xuất thân trong một gia đình khá giả, lại được tiếp nhận một nền giáo dục “cổ lỗ sĩ”: Trai thì trung, hiếu làm đầu; gái thì tiết, hạnh làm câu giữ mình!” Thời con gái của bà đại tá có thể coi là “đơn điệu” và “tẻ nhạt”. Nhất cử, nhất động đều nằm trong “khuôn phép” đã có sẵn từ đời tổ tiên, cụ kỵ, ông bà... để lại. Khoan nói tới những “khuôn vàng, thước ngọc” của cái “đạo” tứ Đức, tam Tòng với Công, Dung, Ngôn, Hanh... cao vời của các cô tiểu thư con nhà “khuê các”; mà chỉ là cái khuôn phép sơ đẳng và “dân dã” của hết thảy các cô gái “trong làng” ở vào thời điểm lúc bấy giờ - nó đã được “dân gian” lưu truyền qua những bài vè, đại để như: “thìa la thìa lẩy, con gái bẩy nghề: ngồi lê là một, dựa cột là hai, theo trai là ba, ăn quà là bốn, trốn việc là năm, hay nằm là sáu, liến láu là bẩy...” và vân vân...; lên năm lên bẩy đã phải “học ăn, học nói, học gói, học mở...”; mười hai mười ba tuổi đã bắt đầu “đi làm giúp” các đám giỗ chạp, cưới hỏi trong họ để “học dần” cái công việc làm vợ, làm dâu đãi đằng khách khứa... sau này; mười lăm tuổi là ăn kiêng nuộm răng sao cho “đen nhánh hạt na” chớ có “ăn bơ làm biếng hóa ra hạt bầu”; và ngày ngày dù bận rộn đến mấy cũng không được quên chăm lo cho mái tóc, vành khăn của mình. Đó là cái “tiêu chuẩn” hàng đầu của cánh con trai thời ấy “mong đợi” ở người con gái. Một yêu tóc “bỏ” đuôi gà, hai yêu ăn nói mặn mà có duyên, ba yêu má lúm đồng tiền, bốn yêu răng nhánh hạt huyền kém thua, năm yêu cổ yếm đeo bùa, sáu yêu nón “thúng” quai tua dịu dàng, bẩy yêu dáng điệu đoan trang... và...
Là “gái trong làng” không thể đua đòi với cavcs cô gái “ngoài phố” mặc dù cô cũng nằm kề cận địa giới nội thành), cô chỉ được học đến hết chương trình tiểu học, là phải ở nhà giúp mẹ bán hàng (một ngôi hàng tạp hóa mở tại nhà). Không biết do đâu mà “bác mẹ” anh tú Vũ - một gia đình danh giá trong làng - lại chọn đúng vào cô để mà nhờ mai mối đến dạm hỏi? “Cái duyên trời xe, cái que trời buộc”, tuy là trai gái cùng làng biết nhau thì có nhưng chuyện trò thì quả thật chưa hề! ấy vậy mà, sau ba năm đôi bên “bác mẹ” lo toan, xếp đặt cô đã trở thành vợ của “anh ấy”, vào cái năm cô chớm bước sang tuổi mười chín - đúng vào thời gian lần đầu tiên nước nhà tổ chức Tổng tuyển cử, thiết lập chế độ Dân Chủ Cộng Hòa. Lúc ấy anh đã là “lính Việt Minh”, sau lễ cưới ba hôm anh lại về “trại” theo anh em đồng đội, rồi được cấp trên cử lên chiến khu “học võ” để về làm chỉ huy. Tiếp đến những ngày cả Hà Nội đứng lên chống Pháp, cô dâu mới đi theo hầu hạ bố mẹ chồng ở nơi gia đình tản cư. Và, thật không ngờ, trong một buổi chiều mùa hạ đầy nắng ở tại cái làng Vài xa lạ ấy, đồng chí đại đội trưởng Nguyễn Vũ có dịp “tạt qua” thăm gia đình...
Bước sang năm 1948, trước nỗi lo cho sinh mạng của đứa cháu nội đầu tiên sắp ra đời, ông thân sinh ra Nguyễn Vũ quyết định cho gia đình hồi cư về Hà Nội, mặc dù trong thời gian ấy hai cái từ “dinh tê” là một nỗi nhục vô cùng!
Cũng là một sự may: Chỉ một số vật dụng quí bị lấy đi, còn ngôi nhà và phần lớn các tài sản “nặng nề” thì hầu như vẫn còn lại khá nhiều...
Từ đấy cho tới ngày “hòa bình lập lại”, người vợ trẻ ấy thay chồng nuôi dạy con, phụng dưỡng bố mẹ chồng (chị và em gái Nguyễn Vũ đã đi “ở riêng” từ trước ngày cô về làm dâu). Cho đến khi bố, lại tới mẹ chồng ốm, rồi chết. Cũng lại “một tay” cô lo liệu - mà chỉ dựa vào cái ngôi “hàng xén” tại nhà, cô học theo “nghề” của mẹ đẻ.
Tháng 6 năm 1955 tiểu đoàn trưởng Nguyễn Vũ được về thăm nhà sau chín năm xa vắng. Gặp lại người vợ “tao khang” sau tám năm cách biệt đồng thời “nhận diện” đứa con trai đã bảy tuổi! Kể sao cho xiết niềm hạnh phúc cùng nỗi nghẹn ngào của đôi vợ chồng “cũ” tuy đã rất “bén tiếng” nhưng đến nay mới thật sự “quen hơi”!
(Thời gian này Nguyễn Vũ được về nhận công tác tại Bộ Tổng Tham mựu. Hầu như tuần lễ nào anh cũng được về thăm nhà ít nhất một lần...)
Và, tháng 10 năm 1960 Nguyễn Vũ lại giã biệt vợ, con (sau năm năm bốn tháng về công tác gần nhà) để đi B (một mạch), cho tới ngày 15 tháng một năm 1976 được trên cử về Hà Nội dự cuộc họp báo công, anh mới gặp lại vợ, con! Người vợ lúc này đã là một thiếu phụ đoan trang và “mới” bốn mươi chín tuổi, cùng với đứa con trai đã là một bác sĩ hai mươi tám tuổi! Để... đoàn tụ đúng một tuần lễ, rồi lại ra đi thêm chín năm nữa. Cho đến ngày 15 tháng 8 năm 1985 mới thực sự về hẳn với gia đình!
Kể từ khi mười chín tuổi bắt đầu cuộc đời “đi ở riêng”, làm một người đàn bà có chồng, cho đến khi đã... năm mươi tám tuổi mới thực sự có một gia đình đúng với cái ý nghĩa rất mực thông thường của nó: Vợ-chồng-con-cháu... khia mưa, lúc nắng; sớm, tối quây quần bên nhau! Bà đại tá hiểu rất rõ rằng làm một người đàn bà lấy chồng bốn mươi năm mà có tới ba mươi tám năm nuôi con “đợi” chồng, “năm thì mười họa”, khi một vài năm, khi chín mười năm mới gặp lại nhau, có bận một vài ngày, có bận năm bẩy ngày... đến nay mới... gặp hẳn nhau, và mới thật sự có nhau trong từng bữa ăn, giấc ngủ; trong cả những khi “nắng sớm mưa chiều”... điều đó nó có ý nghĩa đối với đời một người đàn bà ở bà là tuyệt đối lớn lao, quan trọng. Không thể mang bất kỳ một thứ gì ở cõi đời này ra mà so sánh được - trừ cái bổn phận phải hi sinh vì nền độc lập của nước nhà! Mà cái điều thiêng liêng đó, ông lão đã làm tròn, được những người nhân danh nhà nước cho về nghỉ đã mười sáu năm rồi. Vậy mà, nay lại rời bỏ gia đình ra đi biền biệt đã hơn một tháng trời... vẫn tịt mù tin tức là cớ làm sao?
Thực lòng, pnhải đến cuộc đi này của ông tại tá, bà mới cảm nhận hết được cái tình vợ chồng trong cuộc sống của một con người: Khi còn đang tuổi thanh xuân, xa cách, nhớ nhung, mong đợi... nói là “tình” thì cũng phải thôi, nhưng hình như nó chỉ thu gọn vài cái sự đỡ đần công việc và chung chạ gối chăn; chứ nó không sâu và nặng như cái tình vợ chồng mà bà đã được ông mang trở về cho trong suốt mười sáu năm vừa qua - kể từ cái tuổi năm mươi tám cho tới bảy mươi ba này của đời bà. Nó đầy đặn, thơm thảo như bát cơm thờ; và chân thành, trong trẻo như tấm gương soi. Tiếng là vợ chồng nhưng thực thì là tri-âm, tri-kỷ! Đối xử với nhau như bạn, lúc nào cũng “trọng lẫn, kính chung”, mà vẫn lo cho nhau từng miếng ăn giấc ngủ... chẳng kể đêm ngày! Thử hỏi: Nếu không phải trải qua bốn mươi năm gian lao, khắc khoải, lòng son dạ sắt với nhưu như thế, liệu có được tái tình vợ chồng của ân, của nghĩa; “sống gửi thịt, chết gửi xương”, như thế này không nhỉ? Có nhẽ mà khó đấy, nào phải nhìn đâu xa. Cái cách vợ chồng ăn ở với nhau như cảnh con trai, con dâu của bà đấy. Hai bên cùng có học hành, bằng cấp nọ kia; cùng con nhà “gia thế”; tự tâm tự nguyện kén chọn nhau, quyết một lòng lấy nhau cho bằng được! Lấy được nhau rồi suốt ngày cứ ríu ra ríu rít như chim lièen cánh, như cây liền cành! ấy vậy mà, ngày tháng thoi đưa, chỉ mới vài ba năm sau, đang từ đôi chim bồ câu đã trở thành đôi gà chọi! Mỗi khi có dịp ngồi chuyện trò, chỉ câu trước câu sau là y như rằng “chủng chẳng”! Đâu có như vợ chồng bà, học hành không mấy, duyên phận “trời định”, nhờ tay đôi bên “bác mẹ xe cho” chồng cũng như vợ ay nấy giữ tròn bổn phận, một lòng một dạ trước sau đinh ninh kẻ kính người nhường, trải qua năm mươi tư năm với biết cơ man nào truân chuyên gian khó, vậy mà chưa hề một lần cau mày, cao giọng với nhau! Vậy là sao chứ? Bởi vì ngu dốt ư? Có nhẽ chả phải! Bởi vì được dạy bảo “đến đầu đến đũa” ư? Cũng chả phải! Thầy u bà có tốn công, tốn nhời đối với bà như bà đối với con, cháu của bà đâu? Vậy thì bởi cái gì chứ? Người ta nói: “con hơn cha là nhà có phúc”! Hơn là hơn cái tài đảm, nhân đức kia chứ hơn cái “ngón” kiếm tiền và cãi nhau, thì chẳng thà...
Bà đại tá cứ ngồi trước bàn nước, nghĩ miên man, hết đường kia sang ngả nọ. Bà không biết rằng ông đại tá đã trở về. Có sẵn thìa khóa riêng, ông tự mở cổng đi vào. Trông ông gầy đi một ít và da dẻ cũng sạm đen hơn lúc ở nhà. Nhưng dáng dấp cử chỉ thì lại có vẻ nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác với bình thường. Đặc biệt: Trên vai không thấy khoác ba lô, và cả chiếc mũ cối cũng không còn thấy ông đội trên đầu...

***

Lo liệu cho ông tắm táp, ăn uống, nghỉ ngơi và thăm hỏi chuyện trò với con, với cháu... mười phần chu đáo rồi. Đến tận sáng hôm sau, khi con trai con dâu đi làm, “cún” Minh đi học... bà mới cho quyền mình được ngồi nghe chuyện của ông...
Ông đại tá nhẩn nha kể lại với bà về công việc đã làm:
Ba mươi hai năm trước, khi đó tôi đang là một tiểu đoàn trưởng pháo binh. Trước một trận đánh, tôi cùng vài cán bộ đi thám sát tình hình bố phòng của địch. Theo lệ thường, tôi chọn một cậu hạ sĩ thông tin giỏi, rất khỏe mạnh và gan dạ đi theo. Đến cách đồn địch chừng ba trăm mét, tìm được địa thế thích hợp chúng tôi dừng lại thay phiên nhau quan sát. Cậu hạ sĩ tự động tranh thủ đào cho chúng tôi một cái hố, để phòng bất trắc. Đào xong cậu ấy mang xẻng xuống suối kỳ cọ đồng thời rửa tay chân, mặt mũi...
Trong lúc ấy, một đồng chí cán bộ trong nhóm chúng tôi chẳng biết vì trổ tài hay chủ quan, cố tình bò ra chỗ trống để quan sát cho rõ hơn. Thế là bị địch phát hiện thấy. Chúng dội đại bác sang chỗ chúng tôi vô hồi kỳ trận. May có sẵn cái hố cậu hạ sĩ đã đào cho, chúng tôi nhanh chóng tuồn xuống thoát chết! Khoảng mười phút sau, khi cơn bão lửa của địch đã ngừng, chúng tôi đứng dậy thì thấy cả một vùng xung quanh cái hố mà chúng tôi ẩn nấp đều đã tan hoang xơ xác, đất đá bị cầy xới nham nhở. Linh cảm mách tôi nhớ đến cậu hạ sĩ thông tin, tôi lập tức chạy băng xuống suối. Cậu hạ sĩ thông tin thân thể nhầu nát, nằm lặng ngắt trên vũng mãu, bên bờ suối. Duy có cái xẻng là vẫn còn lành lặn!
Tôi đã chôn người chiến sĩ ấy vào đúng cái hố mà đồng chí đã đào để cứu sống chúng tôi, bằng chính cái xẻng của đồng chí ấy. Hôm sau trở về nơi tiểu đoàn tập kết hỏi ra mới biết: Đồng chí Đinh Viết Ngảnh là một người lính lạc đơn vị, nhập vào với tiểu đoàn. Anh em chỉ biết cậu ấy “là dân Thanh Hóa” và đưa lại cho tôi một chiếc ba lô, nói rằng đó là “toàn bộ của cải” của cậu ta! Tôi mở ba lô ra xem: Có hai bộ quần áo, một cái màn, một cuốn sổ chép rất nhiều bài hát, một cái hộp nhỏ đựng kim chỉ cùng với tấm ảnh một cô gái nông thôn có gương mặt rất tròn (ảnh khoong có lời đề tặng), với một vài thứ lặt vặt khác nữa. Tuyệt nhiên không có một chút nào dấu hiệu về đơn vị cũ và quê quán!
Không tiện nói ra, nhưng lòng tôi đã thầm “trao nhiệm vụ” cho mình: Còn sống ngày nào phải cố gắng dò hỏi, tìm bằng được quê quán của đồng chí Đinh Viết Ngảnh. Và tôi lập tức trở lại nơi đã chôn đồng chí ấy, xác định chính xác vật chuẩn cố định, rồi vẽ một tấm giản đồ về ngôi mộ, mang về cài vào cuốn sổ tay của đồng chí Ngảnh.
Kể từ hôm ấy, tôi giữ gìn cái ba lô với cái xẻng hết sức cẩn thận, không khi nào dám giao nó cho ai. Đồng thời, mỗi khi có dịp gặp gỡ người nào có hy vọng, tôi đều dò hỏi “cầu may”. Đằng đẵng ba mươi hai năm trời, đã tưởng vô vọng thì “bất chợt” đài truyền hình nhắn tìm đồng đội... đúng địa chỉ mà tôi đã tìm kiếm hơn ba mươi năm!
Sau đấy thì... bà đã lo liệu cho tôi đi, và nay tôi đã xong việc trở về!
Bà lẳng lặng mở hộp lấy ra một chiếc bánh ga tô mềm đặt lên cái đĩa nhỏ, rồi rót nước mời ông:
- Thử bánh này mềm lắm, ông ăn thử đi rồi uống nước.
- Tôi xin bà!
Ông đón đĩa bánh, ăn và khen bánh ngon. Chờ ông uống nước xong, bà hỏi:
- Hôm nay ông có bận phải đi đâu không?
- Bận gì cũng đành khất lại, nghỉ ngơi vài ngày cho bớt mỏi đã bà ạ!
- Nếu vậy thì ông kể nốt khúc cuối câu chuyện cho tôi nghe được không?
- Có gì nữa đâu,à kể?
- Nói vậy có nghĩa rằng ông cứ hùng hục từ nhà này đến thẳng chỗ đã chôn cất người liệt sĩ mà ông chịu ơn. Lụi hụi đào lên, bốc hót. Rồi thui thủi mang đến giao trả cho gia đình người ta ư?
Ông cười hồn hậu và vui vẻ trách:
- Bà nói năng khéo thật. Cứ làm như tôi giống như những kẻ lạc loài, mất gốc ấy. Phong tục tốt đẹp của người Việt Nam ta đối với việc Hiếu, việc Hỷ vốn là công việc đại sự trong đời người. Sao có thể làm cẩu thả cho được? Chẳng qua do mấy chục năm mới rồi, có cái bọn mặt người dạ thú mượn cớ công việc Hiếu, Hỉ để giở trò buôn bán kiếm lời, đồng bào ta lắm người không hiểu, thấy chúng làm như thế ngỡ là sang, và cũng thấy “lợi” to quá, thế là đua nhau bắt chước... khiến cho khắp nơi cứ loạn cả lên. Bà nỡ coi tôi cũng giống như họ ư?
- Thì đấy, tôi muốn được yên tâm về ông mới phải gạn hỏi, chứ đã dám trách ông đâu? Công việc ông đi làm hay dở ra sao, chả nhẽ không đáng dạy bảo lại cho tôi ư?
Ông đại tá tỏ ra xúc động, cứ nhìn người vợ cũ kỹ, già nua của mình mãi mới nói:
- Dạy bảo bà cơ à? Tôi làm sao mà quên được rằng cả đời tôi cứ mải mê với công việc trận mạc. Lẽ đời, “có người có ta”... tôi đi biền biệt, việc nuôi dưỡng bố mẹ tôi, sinh đẻ và nuôi dạy con, cháu, và giữ nghĩa với gia tộc, xóm làng... tôi có làm được gì nào? Vậy mà khi tôi trở về, mặt mũi tôi được nở nang trước con, cháu, họ hàng, làng xóm... bà tưởng đó là vì cái lon đại tá tôi đeo trên vai này ư? Tôi muốn hỏi bà một câu: Ví thử trong những tháng năm tôi đi vắng thầy đẻ tôi đói rét, ốm đau, rồi chết; con tôi thất học, lêu lổng, trộm cắp... tất tần tật đều nhờ vào sự cưu mang của họ hàng, làng xóm mới “qua cầu thoát nạn”... thì bà thử hình dung xem: Liệu cái mặt tôi bây giờ nó như thế nào? Liệu tôi còn dám “vác” nó trở về để mà đón nhận lời “ca tụng” của bà con làng xóm được không? Do ai mà tôi... được con, cháu, gia tộc, xóm làng, bằng hữu quí trọng nể vì, tôi biết chứ! Sao tôi dám lên mặt dạy bà cho được?
- Ơ hay chửa? Ông... lôi thôi quá! Cái đạo làm người liền bà Việt Nam là phải gánh vác giang sơn nhà chồng, nếu không thế thì tôi còn là nàng dâu của họ Nguyễn ở cái làng này sao được? Điều ấy có gì là ghê gớm đâu mà ông cứ nói làm cho tôi thêm ngượng ra. Tôi chỉ muốn nghe ông kể chuyện về cái công việc ông đi trả nghĩa bạn ông, để tôi học lấy điều hay nhẽ phải thôi mà!
Ông đại tá biết không thể đừng được nữa, đành chiều lòng bà, thuật lại chuyến đi:
- Từ nhà ra đi, thoạt kỷ thủy, tôi đi tầu hỏa rồi đi ô tô, xe ôm. Đường sá bây giờ đi lại cũng không vất vả cho lắm. Chỉ ba ngày là tôi đã có mặt ở nơi cần đến. Hơn ba chục năm rồi còn gì, cảnh vật đổi khác hoàn toàn, may mà có bức giản đồ không thì đến chịu, chẳng còn nhận ra đâu vào đâu nữa. Xem đi xét lại, cuối cùng tôi khẳng định là ngôi mộ của đồng chí Ngảnh nằm trong lòng một ngôi nhà của đồng bào Cao Bằng với di cư đến. Tôi vào lân la làm quen, thì nhận thấy bà con không thích tiếp mình. Người già người trẻ nghe hôi hỏi, ai cũng lắc đầu và tuôn ra hàng tràng tiếng Tày hay tiếng Nùng chi đó. Thế là ngôn ngữ bất đồng! Tôi đành lần mò, tìm ào ủy ban Xã đề nghị họ giúp đỡ. Chờ hơn một ngày mới được ông chủ tịch tiếp. Nghe tôi trình bầy xong, ông chủ tịch ngoẹo đầu ngoẹo cổ thở dài thườn thượt, rồi phân bua hoàn cảnh thế này, thế nọ của Xã, và giải thích cho tôi nghe về chính sách dân tộc của Đảng và Chính phủ... gần hai tiếng đồng hồ, rồi năm lần bảy lượt nhắc đi nhắc lại: “Khó khăn lắm! Đồng chí phải lên thỉnh thị trên Huyện thôi, chứ cấp xã chúng tôi không dám “manh động”, mong đồng chí thông cảm cho”
Tôi nghĩ mà thương. Đành nhẽ là phải hỏi đường lên Huyện. Cũng may con ông chủ tịch xã làm nghề lái xe ôm, cháu xung phong chở tôi đi, chỉ lấy giá hữu nghị (đấy là cách nói của cậu ta): mười ngàn. Và bảo sẽ vui lòng ngồi chờ, nếu tôi có nhu cầu quay lại!
Ông chủ tịch huyện cùng với ông phó chủ tịch đang bận “hội ý” công tác, nhường việc tiếp tôi cho ông chánh văn phòng. Ông chánh văn phòng nghe tôi trình bầy xong, bảo: “Đây là công việc do Ban Thương binh, Xã hội “chuyên trách”, mời đồng chí tìm gặp đồng chí Trung Hiếu trưởng ban Thương binh Xã hội của huyện để giải quyết”!
Tôi tìm mãi mới “tóm” được đồng chí Trung Hiếu. Ngồi chờ ông ấy “tranh thủ” tiếp một vài người đến hỏi một vài việc khẩn cấp hơn, mất chừng hơn một giờ nữa. Sau khi đã yên tâm không còn ai “quấy rầy”, đồng chí ấy mới rất ân cần niềm nở tiếp tôi. Lịch sự đề nghị tôi hãy thong thả, thoải mái nghỉ ngơi, cho đồng chí ấy được “hân hạnh thay mặt các anh lãnh đạo tiếp khách tận ngoài Hà Nội mới vào...”.
Loay hoay mãi, cuối cùng thì tôi vẫn phải tiếp tục nghe giải thích về những khó khăn của địa phương, và về chính sách dân tộc của Đảng và Chính Phủ. Tất nhiên kỹ hơn ở xã, đồng thời cũng... tốn nhiều thời gian hơn!
Thật may, anh con ông chủ tịch xã là người biết trọng lời hứa, anh lại đèo tôi về mà cũng chỉ lấy có mười ngàn như lúc đi.
Hôm sau tôi thử đến “làm công tác dân vận” thêm một lần nữa “cầu may”, hi vọng sẽ thuyết phục được chủ ngôi nhà đó cho đào cái mộ để bốc hót hài cốt của đồng chí Ngảnh. Thật buồn, vẫn cứ là chủ, khách ai nói người ấy tự nghe! Tôi thất vọng quá, ruột nóng như lửa đốt. Có nhẽ chỉ còn con đường lên tỉnh hoặc về trung ương, may chăng tìm được “lối thoát” cho vong hồn đồng chí Ngảnh!
Trong lúc còn lúng túng chưa biết nên quyết định nhẽ nào, thì bất ngờ, tôi trông thấy một nhóm anh em bộ đội biên phòng đi qua. Tôi nảy ra ý nghĩ: Hay là thử lên đồn, trình bầy hoàn cảnh, rồi đề nghị họ nghĩ giúp xem có cách gì gỡ mối bòng bong này. Tuy ít hi vọng, nhưng biết đâu may ra...
Phúc nhà ta to bằng cái đình, bà ạ. Tôi gặp ngay được ông trưởng đồn là người quen cũ. Trước nay cứ nghe thiên hạ nói câu “nhất quen, nhị quyền, tam tiền, tứ chế”... tôi cho là họ bịa ra để nói “tiếu lâm” với nhau mua vui. Không ngờ, sao mà nó đúng đến thế? Nghe tôi mới nói chưa được một nửa ý kiến, ông trưởng đồn đã gạt đi, mà bảo: “Sư trưởng” yên tâm đi. Việc lớn bằng trời cũng cứ gác lại đấy. Mời “thủ trưởng” nghỉ ngơi rồi đi tắm giặt cho sạch bụi bậm đường trường đi đã. Gớm khiếp, nom thủ trưởng “phong trần” quá!
Tôi bảo ông ta:
- Nhưng... công việc thì “nước sôi lửa bỏng” mà dân với quan thì... như thế!?
- Ôi dào! Đã bảo nghe em, cứ yên tâm nghỉ ngơi. Bảo đảm với thủ trưởng đúng giờ ngọ ngày mai mọi “thủ tục hành chính” sẽ được hoàn tất. Như vậy đã vừa ý thủ trưởng chưa nào?
Tôi đành răm rắp nghe theo và phấp phỏng chờ đợi. Quả nhiên, trưa hôm sau, mọi sự khó khăn phiền toái “thoắt cái” đã trôi vèo đi như một chiếc lá vàng rơi trên dòng nước lũ. Tôi hỏi, ông đồn trưởng ấy đáp:
- Giời đất ơi, thủ trưởng “về vườn” đã ngót hai chục năm rồi. Tình hình xã hội bên ngoài nó tiến nhanh như vũ bão ấy. Cái thời thủ trưởng còn “đương quyền đương chức” muốn gì thì gì cứ phải túm chặt lấy cái phương châm “Quân với Dân như cá với nước”, “người với người là bạn”... bước chệch ra là... ăn đòn ngay! Thời bây giờ ý à? Người với người là gì thủ trưởng biết không? Thôi, cho qua chuyện ấy đi, thủ trưởng ạ. Thì, thời đại vào kỷ cương ấy mà lại!
Tôi không hề có nhu cầu tìm hiểu xem cái “kỷ cương” mà ông đồn trưởng ấy nói xem nó là thế nào. Trong lòng chỉ băn khoăn về một điều: Không hiểu, trước một chính sách lớn của Đảng và Chính phủ đối với các dân tộc miền núi, đến chính quyền Xã rồi cả cấp Huyện cũng phải “né”. Vậy mà một “anh” trưởng đồn biên phòng, chỉ mang có cái quân hàm thiếu tá trên vài, cứ cười cười cợt cợt y như đùa, mà lại giải quyết xong băng đi, nhẹ như tên ấy. Lạ thật...
Không nén nổi tò mò, tôi ngập ngừng nêu câu hỏi:
- Tôi thật chưa hiêur, các ông ở đây làm cách nào mà...
- Đơn giản thôi “cụ” ơi. Em hỏi cụ: Cớ sao nhà nước lại đặt chúng em nằm đúng chỗ này? Vì nó là vùng giáp giới với nước bạn phải không ạ? Đó là “tiền đề” của mọi vấn đề “tế nhị” đấy cụ ạ!
Thấy tôi vẫn giữ vẻ mặt khó đăm đăm, tỏ ra chưa thoải mái. ông trưởng đồn bèn cười, hỏi:
- Thế nào, thủ trưởng vẫn chưa nhận ra ư? Chết thật, bọn trẻ “lếu láo” chúng gọi thủ trưởng là “cụ bôn” nghĩ cũng đúng! Hẳn thủ trưởng cho rằng đám đồng bào từ “ngoài ta” di cư tự do vào đây, cố ý chiếm cái thẻo đất ven bờ suối ấy là để “khai hoang” ư? Và, các “vị” ở xã, ở huyện họ “e ngại” không muốn giúp thủ trưởng là vì họ sợ vi phạm chính sách dân tộc của Đảng và Chính phủ chứ gì? Thưa với thủ trưởng “động tác giả” hết đấy ạ. Chẳng thế thì cớ sao hễ cứ chúng em lộ mặt ra là đâu đấy có vẻ như “hòa bình, hữu nghị” ráo cả. Chết cái, chúng em không thể đứng gác ở từng nhà, từng nơi suốt đêm ngày được...
- Tôi biết điều ấy chứ! Tôi không có ý muốn hỏi về cái sự buôn gian bán lậu hoặc xì ke ma túy. Mà chỉ muốn biết cụ thể cái công việc tôi nhờ, các ông đã “can thiệp” cách nào mà người chủ nhà ở đấy chịu “xuống thang” nhanh thế?
- á à... thưa thủ trưởng, mẹo vặt ý mà. Cứ là phải “dĩ độc trị độc” thủ trưởng ạ. Đã là lính biên phòng, chúng em đóng ở đâu là phải “thủ” sẵn mấy chú “thông ngôn” chính hiệu, theo phương châm “bệnh nào có thầy lang nấy”. Ngay chiều hôm qua em đã cử một đồng chí “thổ mừ” chính cống đến “thương lượng” với chủ nhà, trên cơ sở chính sách thương binh liệt sĩ của Đảng và Chính phủ, kèm một điều kiện nhỏ: đồn sẽ “đứng ra” chuyển “cái lều” của gia đình sang bên cạnh, rồi lại chuyển về chỗ cũ, đầy đủ, nguyên vẹn y như cũ. Xong việc, đồn xin “tặng” gia đình mười kí thịt với mười kí gạo để gia đình nấu rượu làm cỗ cúng “then”. Đấy, thủ trưởng xem “có lý có tình” quá phải không ạ?
Vậy là tôi “tỉnh ngộ” ngay. Và tôi chỉ còn phải đề nghị ông đồn trưởng giúp cho một người, cùng tôi đi ra “thực địa”, đào một cái hố nhỏ sâu xuống để kiểm tra xem có đúng là một thật không? Khi thấy xương, tôi mới thật yên tâm lấp trở lại như cũ. Rồi vào ủy ban xã báo cho họ biết kết quả, đồng thời nhờ họ gọi điện báo cáo lên huyện giúp. Xong đâu đấy, tôi quay về, tìm đến Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Thanh Hóa, xin gặp phòng chính sách báo cáo tình hình và đề nghị họ giới thiệu cho về gặp gia đình đồng chí Ngảnh. Để mời cùng tôi đi cải táng và đưa hài cốt đồng chí ấy về quê nhà.
Kết quả, bà biết thế nào không? Chẳng những chỉ một gia đình đồng chí Ngảnh, mà cả đại biểu của thôn, của xã, của huyện và của tỉnh... cũng đều sẵn lòng cùng đi cải táng, rước hài cốt đồng chí ấy về quê. Thấy mọi người lúng túng về kinh phí, tôi tình nguyện “góp” một chiếc xe bốn sáu chỗ ngồi đưa đi đón về...
Đến địa điểm cải táng mới thực là cảm động: đại biểu chính quyền xã và huyện sở tại cũng có mặt tham dự. Long trọng lắm, tình nghĩa lắm, bà ạ.
Ngày về đến làng, bà con ra đón trống rong cờ mở... vinh hạnh cho hương hồn đồng chí Ngảnh không sao kể xiết...
Bà đại tá bỗng hỏi:
- Thế còn... cái ba lô, cái xẻng... ông vứt đâu?
- Ơ, bà lão nói gì lạ thế? Sao lại vứt? Tất cả đều được rước đặt vào trưng bầy trong phòng truyền thống xã. Đảng ủy và ủy ban còn yêu càu tự tay tôi phải viết bài tường trình về trường hợp anh dũng hi sinh của đồng chí Ngảnh, có chữ kí đồng thời kèm theo hiện vật là cái ba lô và chiếc xẻng... làm bằng. Còn cái mũ cối của tôi thì cô gái có khuôn mặt tròn trong tấm ảnh “di vật” của liệt sĩ, hiện đã có cháu nội, cháu ngoại rồi. Hôm ấy cũng có mặt, đã ngỏ lời hỏi xin tôi cái mũ... để làm kỷ niệm!
Và, số tiền tiết kiệm bà đưa cho, tôi đã tiêu hết, chẳng còn lại đồng nào. Cũng may...
Bà đại tá bất giác nhăn mặt, nói ra vẻ trách:
- Ông nói chuyện gì lạ thế? Sao bỗng dưng lại mang đồng tiền phân bạc ra chen vào đây? Nhờ có anh đồng chí Ngảnh ấy hi sinh mà ông được sống để hưởng lộc của cách mạng, được trở về với vợ con, hưởng hạnh phúc gia đình! Tiền bạc nào sánh được? Nói ví thử ông lại như người ta: Mồm nói nhớ ơn liệt sĩ nhưng khi đến việc thì lại ngồi mát tại nhà, chỉ tay năm ngón sai người nhà đồng chí Ngảnh đi làm hết mọi việc, thì thử hỏi tôi cùng các con cháu ông còn dám hãnh diện, tự hào về ông được nữa không?
Nghe bà vợ già nói lại, đại tá Nguyễn Vũ không nén lòng được, ông xúc động đứng dậy, bước tới, khẽ nâng bàn tay nhăn nheo của vợ lên, rưng rưng nói:
- Cảm ơn bà! Tôi có biết điều ấy, bà ạ!

Hà Nội, ngày 27 tháng 7 năm 2000





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
Miếng đệm


Tặng Kim Ngọc


Tỉnh giấc đã lâu rồi, Mai vẫn chưa muốn dậy. Cô cố nằm nán lại trên chiếc giường còn thơm mùi “véc-ni”, để tận hưởng cái cảm giác thanh thản, tươi vui đầy ắp tình cảm gia đình ruột thịt thân thiết của mình, sau năm năm ròng rã phải cách xa...
Là con gái đầu lòng của một gia đình trí thức mới, có cha là tiến sĩ vật lý đang giảng dạy tại một trường đại học có uy tín, và mẹ là một cử nhân ngoại ngữ đang công tác ở một cơ quan cấp Bộ. Mai còn có ông bà nội đều đã cao tuổi và một em trai đang học đại học năm thứ hai khoa kiến trúc...
Mai dự thi đại học đạt điểm cao, được trúng tuyển đi du học nước ngoài. Cô đã hoàn thành khóa học đào tạo cử nhân khoa lý luận phê bình văn học ở nước bạn, với tấm bằng loại ưu.
Sau năm năm xa gia đình, Mai thực sự ngỡ ngàng, khi trở về tới nhà mình. Ngôi nhà cấp bốn nằm khiêm tốn trên mảnh đất dệ ao, giữa những khóm chuối, gốc ổi, bưởi... lưu niên, trong ngày côn ra đi nay không còn nữa. Thay vào đấy là một tòa biệt thự nguy nga, lộng lẫy nằm chững chạc giữa những mảnh sân rải sỏi, những lối đi lát gạch lá dừa, và những bồn hoa, cây cảnh cùng những bàn đá, đôn sứ, ghế xích đu... lịch sự, trang nhã... nhiều không kể xiết! Thêm nữa, hỏi ra mới biết, bố mẹ của Mai đều đã “thoát ly biên chế nhà nước” ra làm thuê cho các tổ chức kinh tế do người nước ngoài vào đầu tư. Mang sẵn “bản chất” căn cơ từ trong máu, bố mẹ Mai chỉ cần “thắt lưng buộc bụng” vài năm là đã làm được cuộc “cách mạng vĩ đại” trên miếng đất “vườn không ra vườn, nhà chẳng ra nhà” bên dệ ao, từ đời cụ kỵ ông bà để lại “vốn chẳng có giá trị gì” trở thành một cơ ngơi bề thế, với kiểu cách kiến trúc và thiết bị tối tân hiện đại...
Chỉ mới trải qua một ngày đêm trở về sống giữa gia đình, Mai đã được nhìn, nghe, cảm nhận không biết bao điều tốt đẹp đã đến và sẽ còn tiếp tục đến với gia đình. ông bà nội tuy tuổi đời đã cao song vẫn còn khỏe mạnh, minh mẫn; bố mẹ đều có tài năng trí tuệ vững vàng, và đang độ sung sức trong công việc; đứa em trai học hành chăm chỉ và sống nghiêm túc, đầy hứa hẹn... Tất cả những điều đó cùng một lúc hiện lên lồ lộ ngay trước mắt Mai, đã khiến cho tâm hồn cô luôn luôn xôn xao, dào dạt, ngập tràn hạnh phúc. Và lúc này cô đang thoải mái “buông thả” cho cả tâm hồn lẫn thể xác của mình được tự do đắm chìm trong sự mơn man, ve vuốt của những cảm giác êm ái, vui tươi trong một buổi bình minh êm dịu, ở tại ngôi nhà đẹp đẽ cùng với nguồn tình cảm đầm ấm của gia đình mình. Bất chợt có tiếng bà nội từ phòng bên vọng sang:
Chưa dậy ư con? Gần tám giờ rồi đấy!
Không có tiếng người đáp. Lại vẫn tiếng bà nội:
- Dậy đi con. Có việc hệ trọng đây. Dậy mà tắm rửa, ăn sáng rồi còn đi cho kịp.
Tiếng bố Mai đáp với giọng lụng bụng:
- Hôm nay ngày nghỉ, mẹ để cho con ngủ chứ? Hệ trọng, hệ trọng... mẹ thì cái gì chẳng hệ trọng!
Giọng bà nội vẫn ôn tồn:
- Chú Bổng mất rồi. Bố con đã lên trên ấy từ lúc năm giờ. ông lão dặn lại: mười giờ sáng nay sẽ nhập quan, bảo con lên chịu tang rồi về. Ba giờ chiều lên đưa đám.
Tiếng bố Mai hỏi:
- Chú Bổng nào ạ?
- ơ hay. Chú Bổng con cụ Ký Cảnh chứ còn chú Bổng nào?
- Mẹ... lạ thật! Họ hàng nội ngoại hàng huyện người, hơi sức đâu mà con nhớ được?
Tiếng bà nội cất lên đầy nhẫn nại:
- Cụ Ký là chú ruột của bố con. Ngày con còn đang học phổ thông, cụ mất, bố chẳng đưa con lên chịu tang là gì? Nhà cụ ở quãng giữa phố Huế, chả nhẽ con quên rồi ư?
- à à... vâng, phố Huế. Con nhớ, nhưng... con cụ ấy chết thì cần gì đến sự có mặt của con? Bố đại diện cho cả nhà là đủ quá rồi con gì!
- Tục lệ là thế, con ạ. Phàm giả ông chú bà bác trong họ qua đời thì con cháu trong nội tộc, ai mắc công việc làm ăn ở nơi xa chẳng kể. Còn lại, đều phải có mặt chịu tang mới phải đạo. Nghĩa tử là nghĩa tận mà lại.
Đột nhiên tiếng cười của bố Mai bật ra nghe rất mực... khó hiểu, cùng một lúc với giọng nói không lấy gì làm nghiêm túc:
- Thế thì mẹ cứ coi như con đang vắng nhà, không biết tin nên không kịp về chịu tang. Vậy là xong chứ có gì đâu?
- Không được đâu con ơi. Chính mồm bố con dặn lại, đến tối ông lão về hỏi, mẹ biết trả lời ra sao?
- Trả lời bố thế nào là việc của mẹ, con không biết.
Câu chuyện đến đấy đột nhiên ngừng lại. Mai bâng khuâng tự hình dung ra thái độ của bà nội và của bố lúc này: Trước mắt cô hiện lên hình ảnh một bà cụ gày gò có mái tóc bạc phơ với gương mặt rầu rầu, đứng lặng nhìn một người đàn ông to lớn đang nằm trên một chiếc giường gỗ cẩm lai được đóng rất cầu kỳ. Mặt người đàn ông đó úp vào tường, lưng quay ra phía bà cụ...
Niềm vui vừa đấy còn tràn ngập lòng Mai, thoắt đã biến đi để nhường chỗ cho cái hình ảnh không vui mắt ấy. Và một ý nghĩ chợt vẩn lên trong óc cô: Sao vậy nhỉ? Chỉ cần bớt đi một chút thì giờ trong lúc đang nghỉ ngơi, để làm vui lòng những người thân yêu của mình, điều đó chẳng đã là hạnh phúc rồi ư? Đằng này, lại còn là nghĩa vụ đối với gia đình và gia tộc? Chả lẽ một người như bố mà không hiểu cái điều đơn giản đó thật sao?
Mai bất giác buột miệng thở dài. Trước nay trong tâm hồn trong trẻo của Mai, hình ảnh ông nội với bố luôn là những mẫu hình lý tưởng về người đàn ông trên cõi thế gian này. Vậy mà mới có năm năm xa cách, bố... sao lại như thế nhỉ?
Mai vùng dậy, khoác áo bước ra khỏi căn phòng ngủ sang trọng của mình...
Tập thể dục rồi tắm xong, Mai trở ra. Trên đường về phòng riêng Mai trông thấy bà nội với mẹ đang ngồi trong phòng khách, vẻ mặt ai nấy buồn thiu. Cô tạt vào tươi cười lên tiếng:
- Bà với mẹ đang “con chấy cắn đôi” đấy ạ. Cho con tham gia với nào?
Mẹ Mai ngẩng lên, khẽ lắc đầu, đáp lại:
- Chuyện bà với mẹ là chuyện người lớn. Con biết gì mà đòi tham gia?
Vẫn giữ nguyên nụ cười tươi tắn trên môi, Mai bước tới sà xuống ngồi ôm lấy bà nội, hỏi:
- Bà ơi, hồi nẫy cháu đã nghe trộm được việc bà bảo bố cháu. Chắc là bà với mẹ cháu đang bàn cách... dạy cho bố cháu một bài học, phải không ạ?
Mẹ Mai tỏ dấu ngạc nhiên, hỏi:
- Thế ra con cũng đã biết rồi ư? Vậy thì xin mời cô cử nhân mới ra lò hãy góp ý kiến giúp bà nội với mẹ, xem có cách nào “điều động” bố con đi làm nghĩa vụ đối với gia tộc không nào?
Không trả lời mẹ, Mai nũng nịu hỏi bà:
- Bà ơi. Thế... nếu bố con cứ nhất định ỳ ra, không chịu đi. Thì có sao không ạ?
Bà nội buồn bã lắc đầu:
- Thì... gia đình chúng ta sẽ phải đeo mo vào mặt, vì đã có một đứa con, một người chồng, một người cha... có bằng cấp này nọ, thậm chí còn làm thầy giáo dạy đại học nữa, mà lại vô tình, bạc nghĩa với họ hàng! ông nội còn sống trờ trờ ra đấy mà đã thế rồi, liệu ông nội chết đi thì cái gia đình này sẽ trôi về ngả nào đây?
Mai sửng sốt hỏi lại:
- Quan trọng đến thế cơ ạ?
- Cũng còn tùy ở lòng mỗi con người, cháu ạ. Hiểu ra thì đó là quan trọng, vô tri vô giác thì còn nói làm gì!
- Nhưng mà với bố cháu? Sao bà không nói thẳng cho bố cháu biết những điều bà đang nghĩ ngợi, buồn phiền. để bố cháu kịp thời tỉnh ngộ ạ?
- “Dạy con từ thuở còn thơ”! Bố cháu đã năm chục tuổi đầu rồi lại có cả cái bằng tiến sĩ trong tay... làm gì bố cháu không biết rằng cái cây mà mất gốc; dòng nước mà đứt nguồn; con người mà xa lìa tổ tông, gia tộc... thì sẽ thế nào? Tuy nhiên, cái điều mà bà lo lơn là chỉ trong nội nhật hôm nay, khi xong việc trở về... khéo mà ông lão không nhịn được hơn nữa, thì lôi thôi lắm.
Mẹ Mai cất giọng đầy lo âu hỏi:
- Hay là... để con đi thay anh ấy nhà con, được không hả mẹ? cháu đến càng đông đàn dài lũ càng trọng. Song, ai có danh phận nấy. Mẹ với con muốn gì thì cũng là danh phận nàng dâu... “khác máu tanh lòng”, thay sao được?
Mai buột miệng:
- Thế cháu thì sao ạ?
- Cháu ư? Bà cũng đã nghĩ đến điều ấy. Gia lễ dạy rằng “Ngũ đại mai thần chủ”: Ông nội với cụ Bổng là anh em con chú con bác ruột; sang đến đời bố cháu còn là cháu chú cháu bác; đến đời của cháu thì đã là chắt chú chắt bác - tức thị đời thứ tư rồi! Tuy vẫn còn nằm “trong diện” chịu tang, song cũng đã coi là xa. Hơn nữa, cháu lại là phận gái “nữ nhi nan hóa”, sớm muộn gì thì cũng đi làm dâu nhà người ta! Giá như có thằng cu Hoàng nó ở nhà thì lại đi một nhẽ. Hai chị em kèm nhau cùng lên thì có bề dễ nói năng với ông nội cháu cùng họ mạc hơn một tí...
Mai sung sướng reo lên:
- ôi, thế thì cháu đi gọi em Hoàng cháu về. Khó gì đâu ạ?
- Biết tìm nó ở đâu bây giờ? Vả lại, dù có tìm được cu Hoàng thì có khi đã muộn mất rồi!
- Cháu biết em cháu đang ở đâu. Nghe nói mười giờ mới phát tang bây giờ chưa đến chín giờ. Cháu sẽ mượn xe của mẹ cháu đi tìm em cháu, rồi hai chị em cháu sẽ đi thẳng đến nhà ông Bổng. à, nhưng là nhà số mấy ạ?
- Bà chỉ nhớ nhà chứ không nhớ số. Khó gì đâu? Cháu cứ đến quãng giữa phố Huế, thấy nàh có đám thì dừng lại hỏi, khắc thấy thôi mà.
- Vâng ạ. Cháu về phòng thay đồ rồi đi bà nhé?
Mẹ Mai vội lên tiếng:
- ấy chưa được. Con phải hỏi bà xem cần mua đồ lễ thế nào? Và hai chị em phải trình với ông nội ra sao về việc bố con không có mặt chứ?
Nghe mẹ nói, Mai ngẩn mặt nhìn bà nội. Bà nội rẽ ràng đáp:
- Người trong nội tộc, phúng tiền có ích hơn là vòng hoa hoặc bức trướng. Mà việc ấy các cháu phải lên hỏi ông nội đã, kẻo lễ chồng lễ, không ra thế nào. Còn, muốn nói đỡ cho bố cháu thì đành nhẽ là phải nói dối ông rằng bố cháu mắc... cảm đột ngột. Chứ biết nói sao cho lọt tai ông được bây giờ.

***

Từ đám tang người ông họ trở về, long Mai cứ vấn vương một cảm giác thắc thỏm, lo âu về cái chiều sâu khuất trong cuộc sống thật của chính gia đình mình. Cô thầm tự hỏi. Mọi người trong gia đình đều đã thoát cảnh nghèo túng, nhưng cuộc sống xem chừng không lấy gì làm vui vẻ. Đặc biệt là bà và mẹ! Cái biểu hiện bất như ý đối với thái độ của bố trong cuộc đi viếng tang, chỉ là “sự cố” bất thường trong đời sống gia đình, hay nó còn ẩn chứa một nguyên nhân sâu xa nào khác?
Từ nhỏ, Mai vốn đã say mê với những trang miêu tả về số phận con người. Cô yêu đến rạo rực và cũng xúc động đến nghẹn ngào đối với những niềm vui hoặc những nỗi oan trái của mỗi nhân vật qua từng trang chữ! Chính tình cảm ấy đã thôi thúc Mai nộp hồ sơ dự thi khối C, trước sự hoan nghênh nhiệt thành của ông nội nhưng đồng thời lại bị bố phản đối gay gắt. ở vào thời điểm lúc bấy giờ, trong gia đình Mai, ý kiến của ông nội luôn giữ phần tối hậu quyết định đối với mọi việc trong nhà, khi vì lẽ gì đó có sự bất đồng... Và, chính nhờ có sự “can thiệp” đầy hiệu lực đó của ông nội mà hôm nay Mai đã trở thành một cử nhân lý luận phê bình văn học - một “nghề nghiệp” mà Mai say mê, trân trọng và sẽ sống chết trọn đời với nó!
Vốn dĩ đã sẵn có một tâm hồn nhạy cảm “bẩm sinh”, Mai nhanh chóng cảm nhận được cái góc khuất kín đáo của gia đình, qua biểu hiện của cha và thái độ bất như ý của bà với mẹ. Cô tự nhủ sẽ để tâm “khám phá” đến tận “chân tơ kẽ tóc” của vấn đề, để tìm ra sự thật cuối cùng là thế nào?
Đã từng có mười tám năm liền sống trong vòng tay của ông bà nội nhiều hơn là của bố mẹ, Mai biết rất rõ từng đặc điểm trong tính cách nhân sinh và nếp sinh hoạt của ông bà nội. Cô đoán chắc là sáng nay ông bà nội sẽ có một cuộc nói chuyện tay đôi “quan trọng”. Và cô quyết định sẽ nghe trộm...
Chờ cho bố mẹ và em trai đã ra khỏi nhà, Mai mới nhẹ nhàng trở dậy cầm theo một quyển sách, đi ra sân. Len lén xách một cái ghế nhỏ mang đến đặt dưới chân tường mé bên cạnh khuôn cửa sổ phòng khách, rồi quay ra tập thể dục rất... mê mải! Khi thấy bà nội đã làm xong mọi việc, trở vào phòng khách, Mai vội vàng chạy đi đánh răng, rửa mặt thật nhanh, rồi đến ngồi lên chiếc ghế đã đặt sẵn, mở sách ra, chăm chú... đọc! Một lúc sau Mai nghe rất rõ tiếng ông bà nội trò chuyện với nhau:
Tôi hỏi, bà phải nói thật: Có đúng là sáng hôm qua “con trai bà” ngộ cảm thực không?
- Ơ hay! Chả nhẽ mẹ con chúng nó dám nói dối ông ư? Mà nói dối để làm gì chứ?
- ờ thì tôi thấy ngờ nên hỏi thế thôi. Việc giáo dục con cháu không thể lơ là chểnh mảng được. Sơ ý một tí là đang từ con người hóa thành con vật ngay đấy, bà ạ.
- Thì tôi cũng biết vậy đấy chứ, có khi nào dám lơ là, chểnh mảng đâu?
- Tôi biết! Nhưng mà, bà này, tôi hỏi thật: Bà có nhận thấy “con trai bà” vài năm đổ lại đây, nó... khác quá không?
- Ông nói lẩn thẩn gì thế? Khác cái gì mà khác? Vả chăng nếu có khác thì cũng là cái nhẽ thường thôi mà. ông nghĩ xem, trước đây con nó là người nhà nước, ỷ vào hai chữ biên chế, dù có làm ăn lơ là một tí cũng chẳng sao. Chứ đâu như bây giờ, làm thuê cho người nước ngoài, nhãng ra một tí là họ đuổi việc như chơi ý mà...
- Tôi biết, tôi biết... Nhưng tôi không hỏi bà về việc đó. Tuổi bà với tuổi tôi chẳng còn lạ gì cái đồng tiền, miếng cơm của kẻ đi làm thuê. Mặc dù đồng tiền, miếng cơm thời ấy với cái thời bây giờ nó to, nhỏ không giống nhau, nhưng xét về thực chất thì vẫn là bọn người ngoại quốc thuê người mình làm việc để cho chúng lấy lợi. Phải không nào? Và, cũng rất giống nhau, trong cung cách thuê người, ấy là, khi đã tan tầm phủi đít ra về là chủ đi đường chủ, tớ đi đường tớ. Chẳng ai có trách nhiệm gì với ai nữa. Phải không nào?
- Thế thì mới gọi là chủ nghĩa tư bản!
- Bà lại lạc sang ý khác mất rồi. Đây tôi chỉ muốn nói đến cái khía cạnh: Theo cái thời bây giờ, người làm thuê chỉ phải lao động mỗi tuần lễ 5 ngày, mỗi ngày 7 tiếng đồng hồ. Ngoài số thời gian đó ra, người làm thuê muốn làm gì mặc xác. Đúng không?
- Thì thế chứ sao?
- ấy đấy! Vậy thì tôi xin hỏi bà: Nói cho chắc chắn thì chỉ tính từ vài năm đổ lại đây, cớ sao các bạn hữu thân thiết của “con trai bà” mỗi ngày một thưa vắng dần đi, cho đến nay thì hầu như chẳng còn một ai lai vãng đến cái nhà này? Rồi nữa, cũng đã vài năm nay, những ngày lễ tết, bà có thấy “con trai bà” đến thăm hỏi thầy học; thăm hỏi bố mẹ vợ nó không? Vì sao vậy? Cuối cùng, cũng đã vài năm nay, mỗi khi trong gia tộc có công có việc, tôi nhắc nhở thì “con trai bà” luôn luôn kiếm cớ lảng ra, khi thì nói rằng “Quan thầy đang nằm bệnh viện phải đi thăm”, khi thì “mẹ người bạn cùng công tác mới mất, phải đi viếng” v.v... và v.v... Tóm lại là, mọi quan hệ tình nghĩa với thầy học, với gia đình nhà vợ, với bạn bè... và ngay cả với gia tộc hai bên nội ngoại “con trai bà” cũng “cho qua” bằng hết! Bà hãy nhận xét đi nào? Tôi nói đúng hay sai?
Giọng bà nội bỗng lạc đi, ngập ngừng khổ sở:
- Ông, ông... cũng phải thông cảm... cho... con chứ! Công việc của con làm chắc là chẳng dễ dàng gì, phải lao tâm khổ tứ nhiều lắm, cho nên... cho nên...
- Thời trai trẻ, chưa có độc lập, tôi đã từng đi làm thuê cho người Pháp, tôi biết. Chúng nó không cần “làm công tác tư tưởng” và cũng không gò gẫm, khiên cưỡng trong việc sử dụng kẻ làm thuê. Ai đủ tài, đủ sức cáng đáng công việc của nó thì nó thuê. Ai cần phải “lao tâm khổ tứ” mới làm nổi việc thì, dù là bố nó nó cũng thải. Nhưng mà thôi, không sa đà vào chuyện đó. Tôi đang hỏi bà về thái độ của “con trai bà”. Có phải vài năm đổ lại đây, nó đang có chiều hướng suy thoái về đạo lý làm người. Phải vậy không?
Giời ơi! Ông ông... cay nghiệt thế ư? Ông muốn nói gì thì nói nhưng phải để dành chỗ cho con nó... thở với chứ? Chưa chi đã kết oán gán tội cho nó như thế thì còn ra làm sao, hở ông?
Giọng của ông nội vẫn trầm tĩnh nhưng khô, lạnh:
- Bà đừng nên xúc động thế. Câu chuyện gia đình, con cái, đã nói thì phải nói cho hết nhẽ. Miễn là sự thật thì dù có đau nhức hai lỗ tai, ta cũng nên cố gắng nhẫn nại lắng nghe lời nhau, bà ạ. Hơn nữa, tôi chỉ mới hỏi bà xem rằng tôi nhận xét như thế là đúng hay sai chứ đã kết tội ai đâu?
- Không kết tội nhưng... nhưng... nghe nó cạn tầu ráo máng quá, tôi không chịu được!
- Vậy thì hãy tạm khoanh chuyện ấy lại. Tôi xin hỏi bà một điều khác. ở vào cái tuổi bẩy mươi ba của bà, chắc rằng bà đã có đủ trải nghiệm để hiểu rằng cái cần nhất cho mỗi kiếp người là có được hạnh phúc trong khi sống. Phải vậy không?
- Thì chẳng đúng là như thế hay sao?
- Vậy thì theo ý bà, một con người thật sự có hạnh phúc, là con người như thế nào?
- Có công ăn việc làm đàng hoàng chững chạc, phong lưu. Cư xử với cha mẹ, vợ con, gia đình, họ mạc, xóm làng, bầu bạn... có nghĩa có tình, được ai nấy kính trọng, yêu quí... Như thế là người có hạnh phúc chứ còn gì nữa?
- Tôi tạm thời đồng ý với bà trên hai điểm chuẩn mực đó. Nói gọn lại tức là: Phải có trí tuệ và thể lực tốt, có nghề nghiệp vững vàng, có tư cách chững chạc... để làm ra của cải khiến cho đời sống vật chất được đầy đủ, phong lưu. đồng thời lại cần phải có tình nghĩa với mọi người để ai nấy đều yêu quí, kính trọng. Đúng không bà?
- Đúng thế.
- Bà thừa nhận điều đó là đúng. Vậy thì, đối với những người chỉ biết cắm đầu cắm cổ kiếm tiền cho thật nhiều... kiếm đến thế nào cũng chưa thỏa mãn. Ngoài ra, chẳng cần quan tâm gì đến tình cảm gia đình, họ hàng, bầu bạn... thì ta nên coi họ là hạng người đáng yêu quí, kính trọng hay là... như thế nào nhỉ?
Mai nghe và hiểu ý ông muốn nói gì với bà. Cô bàng hoàng đứng dậy đi thẳng về phòng riêng.

***

Mai đến tận công trường chờ sẵn. Vừa tan lớp đi ra, trông thấy chị, Hoàng ngạc nhiên hỏi:
Có chuyện gì xảy ra thế chị?
Mai cười vui vẻ đáp:
- Thật nghiệp, nhàn rỗi quá, đón rủ em đi chơi chứ có chuyện gì đâu.
Hoàng nhòm vào sát tận mặt chị gái, rồi lắc đầu nói:
- Em không tin.
- Cớ sao vậy?
- Chị là người của công việc, “bẩm sinh” đã thế rồi mà.
- Ôi, chết thật thôi! ấy là cái nết từ thuở còn là trẻ con của chị, bây giờ em xem, chị đã là người lớn thế này rồi cơ mà. Thôi nào, lên xe đi!
Tuy lòng vẫn còn hoài nghi nhưng Hoàng cũng vui vẻ lên xe. Mai nổ máy phóng lên trước cho Hoàng rượt theo. Đến hồ Gươm, hai chị em dừng lại, Mai ngao ngán nói:
- Tiếc quá, cái ghế năm năm trước chị em mình ngồi tâm sự trước khi chị đi du học, đã bị người ta ngồi mất rồi!
- Thì tìm một cái khác, thiếu gì.
- ừ, cũng phải đành vậy.
Khi đã tìm được một nơi ưng ý, vừa ngồi yên chỗ Mai chủ động nói ngay:
- Hoàng ạ, sau năm năm xa nhà, chị trở về thấy gia đình thay đổi khiếp quá. Chắc rằng trong thời gian chị vắng nhà, đã xảy ra nhiều việc... ghê gớm lắm, phải không em?
Hoàng cười khẩy, gạt đi?
- Việc gì mà ghê gớm! Em không quan tâm.
- Nhưng... là kẻ đi xa về, chị khao khát muốn biết.
- Thì chị hỏi mẹ, hỏi bà... hai cái kho chuyện trong gia đình chúng ta, chị tha hồ khai thác.
Mai nhẫn nại nói tiếp:
- Em biết rõ cách thức trò chuyện của bà và mẹ rồi mà. Mọi điều bà và mẹ nói ra đều đã được “khử trùng” tinh tươm...
Hoàng vẫn cố lảng tránh, cậu miễn cưỡng giảng giải nguyên cớ về sự kém hiểu biết của mình:
- Dù sao thì bà và mẹ còn có chuyện để kể, chứ em thì ngày nào cũng học tổ, học lớp. Hết giảng đường lại đến thư viện, có mấy khi ở nhà đâu? Vả lại tính em vốn không thích để ý đến những chuyện lặt vặt...
- Thì chị có đòi hỏi em phải kể những chuyện lặt vặt đâu? Dù thế nào... em cũng là một thành viên trong gia đình, chẳng lẽ suốt năm năm em không hề biết một tí gì về gia đình của mình hay sao?
Bị dồn tới cùng, Hoàng nhăn nhó thở dài, miễn cưỡng đáp:
- Tất nhiên là đối với những việc mà dù có bịt mắt, bưng tai vẫn cứ nhìn thấy, nghe thấy... thì ai chẳng phải biết. Có gì cần nói lại đâu?
- Thí dụ?
- Chả hạn như... chuyện làm nhà ấy.
Mai cố giấu một nụ cười thỏa mãn, cô nghiêm trang nói:
- Cái nhà thì chị trông thấy rồi. Nhưng chuyện làm nhà thì từ hôm trở về đến giờ, chị chưa nghe ai nói. Kể cho chị nghe đi.
Đã chót nói, Hoàng đành phải tiếp tục theo chuyện:
- Tựu chung, vẫn chỉ là sự bất như ý của ông nội với bố kể từ khi bố vứt toẹt cái bằng tiến sĩ cùng cái danh hiệu giảng viên đại học, ra đi làm thuê cho bọn nước ngoài. Từ đấy tình hình đã nặng nề rồi, thì lại tiếp đến việc làm nhà. Chẳng hiểu bố nghĩ thế nào mà không hỏi ý kiến ông, đã gọi người đến đo đạc, đào móng đổ nền... ông nội không nói một lời nào, lẳng lặng đi mua vé, lên tầu vào Sài Gòn ở với cô Loan liền sáu, bảy tháng mới ra. Và từ đấy ông nội tránh không nhìn mặt bố nữa!
Mai kinh ngạc kêu lên:
- Trời ơi, đến thế cơ à?
- thế đấy chị ạ.
- Chẳng lẽ bà, mẹ, rồi cả em nữa... cứ để mặc như vậy sao?
Hoàng cau có đáp:
- Tính cách của ông nội thế nào chả lẽ chị chưa biết ư? Thêm vào đấy, từ khi đi làm thuê cho bọn Tây, bố cũng hơi có vẻ... xa cách với mọi người, chẳng hiểu vì sao?
Ngẫm nghĩ một lát, Mai nói giọng không được bình thường:
- Thôi được. Em không muốn quan tâm đến việc nhà, tùy em. Nhưng với chị, chẳng nhẽ em không giúp, nếu chị có lời yêu cầu?
- Nhưng... cụ thể là việc gì chứ ạ?
- Xa nhà lâu ngày trở về, chị thấy nhà cửa, con người và đời sống của gia đình thay đổi nhiều quá, đặc biệt là... ông nội, bố và... cả em nữa. Chị muốn em, trong vài phút tạm quên cá nhân mình, cho chị nghe nhận xét của em về... “ba người đàn ông” của gia đình chúng ta?
Hoàng thờ ơ, hỏi:
- Vì sao ạ?
- Bởi vì bà nội với mẹ, chị nhận thấy... hình như chỉ có một chút khác với khi chị còn ở nhà. ấy là là đã có những bộ quần áo lành, sách và sang hơn trước. Ngoài ra... vẫn thế! Còn ông nội, bố và cả em... chị “cảm thấy” khác lắm! Điều đó tự chị mày mò “tìm hiểu” thì không dễ. Chị rất cần sự giúp đỡ của em. Em nghĩ sao?
Nghe chị gái nói, Hoàng ngồi lặng ngắt, vẻ đầy suy tư. Chờ mãi không thấy em trả lời, Mai thở dài chép miệng, nói:
- Không yêu cầu em nói dài, chỉ vắn tắt vài chục từ cũng được. Nếu như vậy vẫn là khó đối với em thì đành vậy. Chị thành thật xin lỗi. Ta về đi!
Nói xong Mai đứng dậy ra lấy xe. Hoàng gắt khẽ:
- Thì chị hãy ngồi xuống đã nào.
Biết em trai đã bằng lòng nói chuyện, Mai trở lại ngồi xuống chỗ cũ, lặng lẽ chờ...
Một lúc lâu Hoàng thở dài, nói với giọng đầy miễn cưỡng:
- Chị “nhận thấy” ông nội với bố và em khác trước, đồng thời “cảm thấy” bà và mẹ chỉ khác... ở bộ quần áo! đúng đấy! Ông nội vốn đã “khắc kỷ” giờ càng trở nên khắc kỷ hơn. Bố thì vốn đã “vị kỷ” giờ càng trở nên vị kỷ hơn! Còn em vốn là đứa “nhu nhược” giờ càng trở nên nhu nhược hơn! Thế thôi...
Mai nhìn Hoàng đăm đăm, rồi đột ngột hỏi:
- Lý do?
- Thì, thì... chị chỉ cần vài chục từ thôi mà!
- Đúng vậy. Nhưng, dù chỉ một từ cũng vẫn cần phải hàm chứa một nội dung cụ thể. Em nói ông nội khắc kỷ, bố vị kỷ, em nhu nhược... đó chỉ là những cặp từ rỗng không, chưa có nội dung. Thôi, đừng “lên gân” với chị nữa. Chị em mình nên chuyện trò bình thường thì tốt hơn. Chị về nước với đầy ắp những tình cảm, những ước vọng cần được bù đắp, được chia xẻ! Vậy mà đã ba ngày rồi, ngoài bà với mẹ ra, đã ai dành cho chị được vài chục phút để cho, để nhận cùng chị chút tình ruột thịt của người ở nhà đối với người đi xa mới trở về! Sao vậy? Ông bận đằng ông, bố bận đằng bố, em bận đằng em. Mỗi ngày gia đình chỉ ăn với nhau một bữa cơm thôi, mà vẫn kẻ ăn trước, người ăn sau. Thế là thế nào? Chị thực sự không hiểu. Trước ngày chị đi du học, gia đình chúng ta có khi nào như vậy đâu? điều chị cần ở em lúc này là - dù chỉ một chút thôi. ấy là giải thích cho chị hiểu nguyên nhân nào đã khiến cho gia đình chúng ta, một gia đình không có ai là người xấu, tại sao lại xa cách nhau như vậy?
Hoàng sửng sốt trước những lời Mai nói. Anh thực sự lúng túng vì chợt cảm thấy xấu hổ với lòng mình...
Đã từ lâu, anh chủ trương đứng ra ngoài “mọi sự rắc rối” trong gia đình. Bởi anh nghĩ: Ta chỉ là một tên “nhãi ranh”, một kẻ đứng “đội sổ” trong gia đình, chưa kịp mở miệng đã được nghe lời nhắc nhở: “con )hoặc cháu) thì biết gì mà nói? Học đi!”. Ngày một ngày hai, cứ như “mưa dầm thấm sâu”, Hoàng trở nên dửng dưng với mọi việc xảy ra trong ngôi nhà của... ông, bà, cha, mẹ mình. Anh tự tìm “lối thoát” cho bản thân bằng một điều “tâm nguyện” hết sức thầm kín mà vững chắc: Học thật giỏi, để tạo lập bằng được một cuộc sống cho riêng mình, không một chút lệ thuộc vào ông, bà, bố, mẹ (anh cố ý gạch đít ba từ không một chút)... Và, anh đã thực sự học như điên, học tới cái mức bạn bè gọi anh là “thợ cầy”, là “cái máy ghi âm” (bởi anh có thể đọc vo một bài sinh hoặc hóa không thiếu “một dấu phẩy”). Bạn bè “nể” thì có nể song họ coi anh là một thứ “rô bốt”, một kẻ không có tâm hồn (anh hoàn toàn xa lạ với tấtcả những đêm vũ hội, những quán trà, những buổi sinh nhật của bạn bè...). Cuối cùng, anh trở thành một con người sống chỉ biết có bản thân mình. Đối với anh: Gia đình chỉ là nơi ăn, ngủ và... thỉnh thoảng một chút tiền chi tiêu vặt vãnh. Còn bạn bè thuần túy chỉ là nơi để hỏi hoặc giải đáp những điều có dính dáng đến việc học hành... Chỉ thế thôi.
Ngày chị gái trở về, Hoàng biết nhưng không đi đón (mặc dù mẹ đã thuê riêng một chuyến tắc xi đủ chỗ cho mọi người trong gia đình cùng đi. Cuối cùng chỉ có ông nội, bà nội với mẹ đi). Tối về Hoàng có chào chị. Và rồi, trong khung cảnh tíu tít giữa bà với mẹ, hai chị em chỉ kịp nói với nhau vài câu về sức khỏe và học hành. Cho đến hôm nay...
Hoàng đỏ mặt ngượng nghịu đáp:
- Em... chót mải học quá, chẳng quan tâm gì đến mọi chuyện xảy ra xung quanh. Tuy nhiên, đôi khi ngẫu nhiên được chứng kiến, em mang máng “cảm thấy” ông nội rất không vừa lòng đối với bố, và thậm chí hình như còn có ý khinh bỉ!
Mai vội hỏi giật giọng:
- Khinh bỉ ư? Tại sao chứ?
- Em cũng không biết tại sao. Theo em nghĩ, có lẽ do cả ông nội lẫn bố đều là những người “cực đoan”. Khi còn chế độ bao cấp thì chẳng sao, nhưng nay xã hội bung ra, đổi mới, đời sống no đủ, thậm chí dư dật... từng người được dịp phát huy cao độ tính cách riêng của mình, tuy cùng xuất phát từ một chuẩn mực chung là đổi mới nhưng mỗi người lại đi theo một hướng riêng, có thể nói ngược chiều nhau...
Mai tỏ ra đặc biệt quan tâm, cô chăm chú nghe, và hỏi:
- Giải thích thêm một chút, cứ thế, giải thích theo ý riêng của em thôi, không câu nệ đúng, sai? Hướng riêng là thế nào?
- Chị biết đấy: Ông nội hơn 30 năm đi bộ đội rồi chuyển ngành ra làm cán bộ, không hề bận tâm gì đến việc hội hè, đình đám. Thậm chí các ngày giỗ chạp tổ tiên nội ngoại cũng không làm! Vậy mà, từ khi đổi mới, nhất là từ khi mọi người trong nhà đã thoát cảnh nghèo khổ, ông nội lao vào công cuộc đổi mới như một con thiêu thân thấy ánh lửa. Nhưng lại theo cái hướng... phục cổ. Ông nội hăng hái và rất tận tình tham gia mọi cuộc ma chay, cưới xin, giỗ chạp, đình đám, hội hè... từ trong họ hàng đến quê hương nội, ngoài. Ngoài ra, ông nội còn làm ủy viên các thứ Ban chấp hành như Hội Cựu Chiến binh, Hội Thơ Văn Người cao tuổi, Hội Sinh Vật cảnh... rồi đến cả Ban Liên lạc Trường Võ bị, Ban Liên lạc đại đoàn Chiến thắng, Ban Liên lạc đồng hương huyện Mỹ Văn (quê nhà) v.v... Hơn thế nữa, ông nội còn hăng hái “vào Nam ra Bắc” tìm người nọ, hỏi người kia, hết sức say sưa mê mải, không hề tiếc công sức, tiền bạc... để chắp nối, xác minh cái quãng gia phả của dòng họ Lê Văn chẳng may “bị đứt” mất hơn năm mươi năm! Trong khi ấy thì bố lại từ bỏ gần như tất cả... học vị, nghề nghiệp, tình cảm gia đình, họ hàng, bầu bạn... để lao vào kiếm tiền. Kiếm một cách mãnh liệt, hết sức “toàn tâm toàn ý” không kể đêm ngày...
Chị nghĩ xem, trong một gia đình có một người ông, một người bố cùng hăng hái, nhiệt tình với sự nghiệp đổi mới của xã hội một cách triệt để đến thế? Một người không quan tâm đến điều gì khác, ngoài việc kiếm tiền; một người chỉ biết dốc tâm, dốc sức vào việc công ích, đến mức quên cả bản thân mình! Hai cái “cực đoan” ấy lại chung sống dưới một nóc nhà! Vậy đấy...
Mai tư lự rất lâu, rồi khẽ thở dài, nói nhỏ:
- Không ngờ gia đình chúng ta lại nảy sinh ra sự lạ đến như vậy? Ông nội thì chị hoàn toàn có thể hiểu được, chứ như bố, chả lẽ lại quá đáng đến thế sao?
- Em không dám phán xét gì hết. Và cũng sẽ không tham gia vào bất kỳ một việc gì chị định làm đâu.
- Tại sao?
- Em không thích. Thế thôi!
- ừ, chị hiểu rồi. Về thôi em ạ!
- Vâng...

***

Từ sau buổi chuyện trò với Hoàng, Mai chủ tâm quan sát mọi việc diễn ra trong gia đình, biểu hiện qua cử chỉ, thái độ, lời ăn tiếng nói của từng người... khi tiếp xúc với nhau.
Cô nhanh chóng nhận ra những điều Hoàng nhận xét về ông nội với bố là có thật. Cũng rất lạ. Trước mọi biểu hiện ấy ở ông và bố, không hiểu vì sao bà nội với mẹ vẫn cứ thản nhiên như không hề nhìn thấy, cảm thấy gì. Mai thầm hẹn sẽ tìm cách hỏi bà và mẹ...
Nhân một chiều thứ bẩy, Mai vui vẻ hỏi mẹ:
Mẹ có chương trình gì cho chiều nay không mẹ?
- Đọc sách! Con có việc cần đến mẹ ư?
- Con thèm một cuộc đi dạo tay đôi với mẹ.
Mẹ Mai nhìn sâu vào mắt con gái, rồi ân cần hỏi:
- Có tâm sự gì phải không, con?
Vâng ạ.
- Ngồi ở phòng riêng của con chẳng tốt ư?
Mai cười rất tươi và khẽ lắc đầu, nũng nịu:
- Chuyện con gái lớn nói với mẹ không thể hạn chế thời gian, mẹ ạ. ở nhà, nhỡ có khách đến hoặc bà nội cần sai bảo gì, thiệt con quá!
Tỏ ý thông cảm, mẹ Mai gật đầu rồi nhẹ nhàng đi vào phòng mẹ chồng. Lát sau quay ra bảo Mai:
- Mẹ xin phép bà nội rồi. Đi lúc nào tùy con.
- ôi, thích quá! Đi ngay mẹ ạ. Con vài thay đồ đây...
Chừng phút sau Mai đã nhanh nhẹn cùng mẹ ra đường. Cô đề nghị:
- Mẹ cho con cầm lái nhé?
- Con mới tập, để mẹ cầm lái mới được. Định đến đâu đây?
- Tùy ý mẹ ạ. Chỗ nào mẹ cho là yên tĩnh nhất, sẽ hợp với con.
- Vậy thì được rồi...
Bà đáp và nổ máy. Quanh quéo hồi lâu, Mai được mẹ đưa tới một nhà vườn có những bộ bàn ghế đơn giản bầy khuất sau những khóm cây xanh. Khung cảnh có phần êm dịu thoải mái. Mai ngồi xuống ghế nhìn ngó một hồi, rồi khen:
- Hà Nội của mình giờ cũng ăn chơi đáo để quá, mẹ nhỉ. Giá cả thế nào hả mẹ?
- Với cánh đành ông có lẽ cũng đáng kể đấy. Mẹ con ta chỉ thuê chỗ ngồi thôi mà. Ngồi với nhau ở công viên bây giờ chẳng thoải mái gì đâu, con ạ. Con uống nước cam nhé?
- Tùy mẹ ạ!
Mẹ Mai gọi hai cốc cam vắt. Và giục con:
- Nào, chuyện gì con nói đi. Mẹ sẵn sàng rồi đây!
Mai nhìn mẹ chăm chú, rồi bình tĩnh đáp:
- Chuyện trong gia đình nhà ta thôi mẹ ạ.
- Nhà ta ư? Chuyện gì vậy?
Mai nghiêm trang gật đầu, đáp:
- Vâng. Con nghĩ: Chẳng nhẽ mẹ không thấy giữa ông nội với bố con đang có “vấn đề” hay sao?
Nghe con nêu vấn đề một cách thiết thực và đơn giản cứ y như một người “thầy cãi” trong phòng xử án, mẹ Mai không giấu được vẻ ngạc nhiên, bà nhìn con trân trân, rồi hỏi:
- Theo con thì là vấn đề gì vậy?
- Vấn đề gì thì con đang muốn hỏi mẹ đấy. Phần mình, con chỉ quan sát thấy hiện tượng...
- Hiện tượng thế nào, con nói xem?
- Từ hôm con trở về đến nay đã gần mười ngày rồi, vì nhiều lý do khác nhau, tựu trung con chưa được ngồi ăn một bữa cơm nào có đầy đủ sáu người trong gia đình, đặc biệt là sự có mặt của ông nội và bố trong cùng một bữa ăn, kể cả những khi hai người đang cùng có mặt ở nhà. Tại sao thế ạ?
Mẹ Mai khẽ lắc đầu, và gượng cười đáp:
- Thì con thấy đấy, ông nội là người coi trọng công việc hơn tất cả. Những khi mải việc, ông không quan tâm đến ăn, vì vậy ông thường ăn sau thậm chí có khi còn bỏ bữa đấy. Mà, ở tuổi con, hãy để cho tâm hồn được thảnh thơi, bận tâm đến những công việc của người lớn làm gì cho hao tâm tổn trí. Thôi, không nói những chuyện ấy nữa, con gái ạ.
Mai cười và kêu lên với vẻ hồn nhiên:
- Ôi, mẹ! Con đã hăm tư tuổi và có bằng cử nhân lý luận phê bình, đâu còn là trẻ con nữa ạ. Bà nội có thể cởi mở tâm sự với mẹ được thì vì cớ gì mà mẹ lại tránh né con? Chả lẽ mẹ coi con là một đứa vô tích sự, không đáng được nghe chuyện của mẹ ư:
- Không, không, con không được nghĩ như vậy. Sở dĩ có những việc trong gia đình mẹ không nói cho con biết chỉ vì con mới đi xa về, cần phải được nghỉ ngơi thoải mái, mẹ không muốn con phải bận tâm suy nghĩ những chuyện không vui. Vả lại, thực tế, dù có nói với con thì con cũng chẳng giúp được gì đâu. Tốt nhất, cứ để cho con sống thanh thản trong khoảng trời của con, với những công việc của riêng con, thì hơn.
- Con cảm ơn mẹ. Nhưng, thực tế thì con đã biết và con tình nguyện được nghe mẹ nói chuyện cơ mà. Mẹ đừng bận tâm về vấn đề tư tưởng của con. Con biết việc gì nên làm việc gì không nên, và cũng hứa trước với mẹ: Sẽ không hỏi những điều mà mẹ muốn giữ cho riêng mẹ. Mẹ đồng ý chứ ạ?
Nhận thấy con gái thực tâm muốn biết việc nhà không phải với ý thức tò mò, mẹ Mai đành gật đầu nói:
- Vậy thì được. Việc trong một gia đình có ba thế hệ cùng sống chung thì rất nhiều vấn đề. Con muốn nghe vấn đề cụ thể gì nào?
- Con đã nói rồi thôi: Vấn đề đang diễn ra giữa ông nội với bố con.
Ngẫm nghĩ một lát, mẹ Mai bắt đầu nói, giọng đầy tư lự:
- Đó là vấn đề đã vài năm nay gây cho bà nội cùng với mẹ rất nhiều suy nghĩ. Với riêng mẹ thì dễ thôi. Chỉ thương bà nội, bà y như một cái rốn bể, được đời sinh ra để đựng tất cả những gì lắng đọng lại trong một bể nước...
Mai nhăn trán hỏi lại mẹ:
- Mẹ nói rõ hơn một tí, con chưa hiểu!
- Có gì là khó hiểu đâu con? Trong một gia đình gồm ba thế hệ sống chung. Lại trải qua ba giai đoạn lịch sử gay gắt, và có thể coi là khác biệt: Thời kỳ nô lệ: thời kỳ độc lập và chiến tranh, rồi bao cấp; thời kỳ đổi mới... Là một cử nhân nghiên cứu lý luận, con hiểu mỗi thời kỳ ấy nó có cơ sở tư tưởng và nền tảng sinh hoạt xã hội của nó, chứ?
- Con hiểu. Vậy thì sao ạ?
- Gia đình chúng ta: Ông bà nội là những người đã nếm trải qua cả ba thời kỳ ấy - nói khác đi: Trong tâm hồn các cụ đã được lưu rất sâu, rất đậm hệ tư tưởng của thời nô lệ và thời độc lập trong chiến tranh và bao cấp, với những “tình cảm yêu và ghét rất sâu sắc” đối với nó. Nay được dịp đổi mới tư duy và sinh hoạt, mỗi người được phép nghĩ và làm những gì mình muốn miễn là không vi phạm luật pháp...
Thấy mẹ im, Mai giục:
- Thế rồi sao ạ?
- Tất nhiên là những sở thích cá nhân, do chiến tranh và bao cấp... người ta buộc lòng phải từ bỏ. Nay xã hội đổi mới, mọi sở thích cá nhân, miễn là luật pháp không cấm, ai nấy cứ việc tự do hành động thoải mái!
- Xin mẹ một vài ví dụ ạ.
- Thì hãy nhìn ngay vào ông nội đấy. Một con người đạo cao đức trọng, ngay thẳng, liêm khiết... trọn một đời theo Đảng, hết lòng Trung với nước Hiếu với dân... Chẳng hề quan tâm gì đến lễ bái, thờ cúng. Vậy mà bây giờ cả tháng, cả năm lăn lộn vào cái việc đình đám, ma chay, cưới xin. Tốn bao nhiêu thời giờ, sức lực, tiền của... không hề tiếc!
- Việc ấy con đã biết. Còn bà nội thì sao ạ?
- Ơn trời, gia đình chúng ta có được bà nội. Cụ là người phụ nữ Việt Nam thuần khiết và mẫu mực. Cụ chẳng mảy may bận tâm “khai thác” một chút gì ở sự đổi mới của xã hội. Trước sau vẫn cứ một lòng thủy chung với cách sống của cụ. Khi còn công tác thì tận tụy với công việc chung; khi trở về gia đình thì hết lòng chăm lo cho đời sống của chồng, của con, của cháu; rồi thăm viếng, đãi đằng họ hàng, bầu bạn mỗi khi đến việc. Luôn luôn ôn hòa, nhã nhặn, chu đáo mọi bề...
- Con hiểu. Bà nội chẳng hề thay đổi gì thật. Thế còn bố con thì... thế nào ạ?
- Bố con cũng như mẹ, là lớp người được sinh ra khi nước nhà đã được Độc lập Tự do Hạnh phúc. Nhưng lại phải nếm trọn cái giai đoạn lịch sử khắc nghiệt của chiến tranh và bao cấp. Nên rất hiểu ý nghĩa và giá trị của hạnh phúc, với cả nghĩa bóng lẫn nghĩ đen của nó. Bởi vậy, trước sự đổi mới của xã hội, bố mẹ mừng lắm, chẳng khác gì chim sổ lồng. Cũng may nhờ được xuất thân từ những gia đình có nền nếp, lại có học lực thật, nên không bị lạc bước vào những cái “cửa ngách” của nền kinh tế thị trường. Song, bố con mang sẵn gien di truyền của ông nội - đó là cái chất cực đoan! Con ngạc nhiên ư? Thì hãy bình tĩnh nhìn nhận xem: ông nội suốt năm chục năm ròng sẵn sàng từ bỏ hết để lao vào cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của đảng; nay thì lấy cớ là đã ngoài bẩy mươi (được miễn mọi thứ công việc của Đảng), thế là bỏ cả sinh hoạt Đảng, lao vào thế giới của tâm linh và Trời Phật. Chẳng những thế, cụ còn muốn mọi người trong gia đình phải noi gương cụ, làm theo cụ (như đã từng noi gương và làm theo khi cụ còn đang công tác). Bố con cũng “cái chất” ấy nhưng lại thể hiện theo cách khác: Khi xã hội còn bao cấp thì học chí chết để lấy bằng cử nhân, rồi phó tiến sĩ, rồi tiến sĩ... Chế độ bao cấp bị xóa bỏ, thế là đùng đùng vứt toẹt hết cả bằng cấp lẫn bục giảng, để lao vào học ngoại ngữ và vi tính rồi đi làm thuê cho các công ty nước ngoài...
Mai đắn đo nghĩ ngợi, rồi hỏi:
- Điều ấy thì con hiểu được, mẹ ạ. Nhưng, với gia đình và hàng mỗi khi có công việc, quan hệ qua lại với nhau có ảnh hưởng gì đến việc kiếm tiền đâu. Cớ sao bố lại lảng tránh ạ?
Mẹ Mai thở dài ngao ngán đáp:
- Thì mẹ đã nói rồi: Cái gien di truyền “cực đoan” nó là như vậy mà. Ông nội lao vào “phục cổ” là lập tức bỏ hết mọi thứ! Bố con lao vào kiếm tiền cũng lập tức quên hết mọi thứ! Ngay đến cả em trai con, mới “nứt mắt” mà đã mang “cái chất” ấy rồi...
- Cả em Hoàng nữa... cụ thể là sao ạ?
- Cũng như con: Em con từ khi mới lọt lòng cho tới bây giờ đã sống với ông bà nội nhiều hơn với bố mẹ. Nó yêu ông bà nội hơn hết thảy mọi người khác ở đời. Vài năm gần đây nó cảm thấy bố có vẻ coi trọng công việc kiếm tiền quá, sinh ra chểnh mảng với gia đình, họ hàng, bạn bè. Thậm chí còn dám “lờ” cả những điều ông nói! Nó rất không tán thành thái độ ấy ở bố nhưng không dám can thiệp, đành phản ứng bằng cách từ chối mọi sự quan tâm của bố dành cho nó...
- Con chưa thật hiểu, mẹ ạ?
Mẹ Mai cười rất buồn, giải thích:
- Nó giao hẹn với mẹ: Lấy xong bằng cử nhân dứt khoát không học lên, mà lập tức sẽ đi công tác ngay. Và sẽ thuê nhà ở riêng, không sống với gia đình!
- Sao vậy ạ?
- đơn giản thế mà con không nhận ra ư? Em Hoàng con chủ tâm hành động như vậy là có ý nhắc bố: “Nếu bố thích kiếm tiền cho nhiều thì xin bố giữ lấy mà dùng. Con không cần đến nó đâu”!
Nghe trọn mọi điều, Mai ngồi lặng đi trong cảm giác ngột ngạt, nặng nề. Mẹ Mai nhìn con gái bằng ánh mắt cảm thông, khẽ hỏi:
- Về thôi chứ con?
Mai ngước cặp mắt buồn bã nhìn lại mẹ và lắc đầu:
- Chuyện chưa xong mẹ ạ. Còn có một điều con muốn hỏi, xin mẹ thêm vài phút nữa.
- Vậy thì con hỏi đi.
- Trước tình hình như vậy, bà nội với mẹ... cam chịu bịt tai, nhắm mắt cho qua con ạ?
Mẹ Mai vẫn giữ nụ cười buồn trên môi, cố nén tiếng thở dài, khẽ đáp:
- Con muốn bà nội với mẹ phải thế nào?
- Làm thế nào thì con chưa nghĩ ra, nhưng dứt khoát là phải có cách nào đó tác động vào, khiến cho ông nội, bố, và cả em Hoàng nữa... nhận ra cái sự lệch lạc, vô lối trong suy nghĩ và hành động của mỗi người chứ?
- Sẽ không giải quyết được gì. Chẳng những thế còn có khả năng đẩy tình hình đến chỗ xấu hơn, là khác!
Mai cau có lắc đầu, dằn dỗi:
- Vô lí, con không tin. Lẽ phải thộc về bà với mẹ cơ mà?
Mẹ Mai nhìn con bằng ánh mắt thương hại, và nói:
- Con ngây ngô lắm, con ạ. Mọi “sự cố” trong gia đình đều rất kỵ lấy lí lẽ ra để phân giải đúng, sai. Cái thứ đó hãy để dành các vị trạng sư trong các phiên tòa. Chừng nào con có chồng, con sẽ hiểu. Trong đời sống gia đình, người ta cần sự cảm thông, bù đắp và chia xẻ... không cần đến lý sự. Mọi lý sự trong gia đình đều có khả năng dẫn tới sự đối chọi, tranh chấp hơn thua. Và tất nhiên sẽ mở đường cho rạn nứt và tan vỡ...
Mai cướp lời mẹ. Cô nói giọng phẫn uất:
- Mẹ lý giải như vậy có nghĩa là cứ đành chịu để mặc kệ cho tình hình gia đình tồi tệ như vậy sao?
Mẹ Mai nghiêm nét mặt, trách:
Con nói năng hồ đồ rồi đấy. Thế nào là mặc kệ? Thế nào là tồi tệ? Ông nội nếu có “quá đà” chút nào đó, thì cũng chỉ là cái “quá đà” rất đáng kính của những người già đầy nhiệt tình và trí tuệ. Có làm hại đến ai nào? Tồi tệ ở điểm nào chứ? Còn bố của con vì mải kiếm tiền sao nhãng bổn phận đối với họ hàng, với bạn hữu... dĩ nhiên là không hay. Nhưng có thể coi đó là một tội lỗi cần phải kịp thời ngăn chặn bằng một hình thức nào đó không? Cả với em Hoàng con cũng vậy, nó chống đối ngầm với bố (dù bố có sai đi nữa) là ngu xuẩn, vô ý thức. Song đã đáng phải cảnh cáo nó một cách vội vàng hay chưa? ấy là xét về lý thì như vậy. Nhưng như mẹ vừa mới nói: Trong đời sống gia đình, cố gắng tránh “vặn lý” với nhau thì tốt hơn. Tạo hóa sinh ra giống đực và giống cái, phú cho mỗi giống có một thế mạnh riêng biệt, đó là giới tính. Chớ nên lẫn lộn. Con thấy đấy: Ông nội, bố, và em Hoàng con... ai nấy đều “quyết đoán” và “cực đoan”, dám làm và dám chịu trách nhiệm về việc làm của mình. đó là “thế mạnh” mà tạo hóa dành cho giới họ. Nữ giới chúng ta có thế mạnh riêng của mình, đó là sự kiên nhẫn, ôn hòa... lấy tình cảm thay cho lý sự. Mẹ không khôn gì hơn mọi người, chỉ may mắn được sống với bà nội con. Hơn hai chục năm làm con dâu của cụ, được cụ truyền dạy cho một “bảo bối” đầy “sức mạnh” của người phụ nữ: đó là ý thức Bổn phận đối với chồng, với con, với cháu! Chính vì bà nội có được ý thức ấy nên đã luôn giữ được thăng bằng trong gia đình. Con nghĩ lại xem: ở gia đình chúng ta ông nội chiếm một vị trí quan trọng như thế nào, con biết chứ? Vậy mà đã khi nào con thấy ông nội “dám” cau mày, nhăn mặt với bà nội chưa, chứ đừng nói đến gắt gỏng, quát nạt? ông hiện đang rất không vừa lòng về bố con. ở gia đình nào khác, rất có thể đã có sự ầm ĩ, còn ở gia đình chúng ta thì sao? Con cần phải hiểu rằng vì chúng ta có bà nội “cầm chịch”, ông nội yên tâm sớm muộn gì rồi bà nội sẽ điều chỉnh bố con và cả em Hoàng con nữa, vào đúng “quĩ đạo” của gia đình...
- Mẹ tin như vậy ạ?
- Mẹ tin.
- Nhưng, có cần thiết phải tốn nhiều thời gian đến thế không ạ?
Mẹ Mai trố mắt nhìn con, rồi lắc đầu:
- Trời ơi, con tôi! Tình yêu và hạnh phúc gia đình là công việc và nhu cầu của cả cuộc đời mỗi con người. Miễn là nó an toàn và bền vững, sao lại sợ tốn thời gian?
Mai bất giác nói lẩm bẩm trong miệng:
- Bổn phận! Bổn phận...
- Đấy là cách nói của bà nội, con ạ. Nghe nó nặng nề quá phải không? Với mẹ, mẹ lại gọi nó bằng cái tên khác nghe nhẹ nhõm hơn, và cũng vui tai hơn.
- Là gì ạ?
- Là một miếng đệm con gái ạ!
Mai sửng sốt hỏi lại:
- Một miếng đệm nhỏ nhoi trong các thùng hàng ý ạ?
Mẹ Mai trầm ngâm một lát, rồi gật đầu nói:
- Con muốn hiểu như vậy cũng được, không sao. Mẹ muốn hỏi ví thử như ở con: Rồi đây, đối mặt trước xã hội con có thể sẽ là một nghệ sĩ, hoặc một nhà khoa học, thậm chí là một chính khách hoặc v.v... Nhưng, liệu con có thể mang tất cả những thứ đó về bầy biện trong gia đình mình để tạo lập nên một tình yêu, một hạnh phúc đích thực và lâu bền được không? Nếu như con không hề có ý thức gì về bổn phận của một người vợ, người mẹ, người bà... nghĩa là làm một người phụ nữ thực sự ở trong chính gia đình của mình - người giữ vai trò gần như là quyết định trong việc bảo vệ cái tổ ấm thiêng liêng của mỗi kiếp ngưoừi ở cõi đời này. đó là mái ấm gia đình! Được làm một miếng đệm “nhỏ nhoi” trong gia đình của chúng ta, như bà nội với mẹ đang làm, chẳng lẽ không bõ công ư?
Nghe mẹ nói ra những lời gan ruột, Mai xúc động ngồi nghiêng đầu ngẫm nghĩ rồi khẽ thốt lên:
- Một miếng đệm... con hiểu rồi ạ! Mẹ ơi, con cảm ơn mẹ...

Hà Nội, một ngày cuối Đông Canh Thìn







http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
Chuyện của hai người lính trơn thời ấy


Kính tặng: Xuân - Minh


Vừa tra được mẻ gạo vào nồi thì nghe tiếng chuông reo, bà Hà vội vặn nhỏ bếp rồi ra mở cửa. Trước mặt bà là một ông già to lớn, tóc cắt móng lừa, râu quai nón nham nhở, mắt to, miệng rộng. Trên người vận bộ quân phục đã cũ, chật căng. Chân đi dép dọ đã đứt quai.
Bà e ngại cất tiếng hỏi:
- Thưa... ông tìm ai ạ?
- Tôi hỏi khí không phải: đây có phải nhà giao sư Hà không? Trần Quốc Hà ý mà?
- Dạ, phải ạ.
- Đúng hả? Tốt rồi! Hắn có nhà đấy chứ?
Bà Hà thoáng phân vân một chút, nhưng rồi vẫn vui vẻ mở rộng cả hai cánh cửa, mời:
- Dạ có ạ, mời ông vào chơi.
Khách đàng hoàng bước vào nhà. Và, không đợi mời, thoải mái ngồi luôn vào chiếc ghế gần nhất, đưa mắt lơ láo nhìn khắp phòng, rồi gật gù cái đầu có mái tóc dựng đứng như chiếc bàn chải ngựa, nói:
- ờ, khá! Nhà cửa nom tươm đấy! Ghế bành bọc da, bàn gụ lồng kính, xe máy “đờ-dim”! Chửa sắm ti vi... “mùi”, tủ “đá” hai buồng à? Bằng khen, huân chương giấu đâu không thấy treo? à mà quên chưa kịp hỏi: Chị chắc là “phu nhân” của “tay” Quốc hà, đúng không?
Đã định lắc đầu nhưng vì không quen nói dối, bà Hà lễ phép đáp:
- Dạ, đúng ạ.
- ờ... mà hắn đâu nhỉ, sao không thấy?
Bà Hà ngượng nghịu phân trần:
- Xin lỗi... bác. ông lão nhà tôi có giấy gọi ra bưu điện nhận bưu phẩm, sắp về đấy ạ. Mời bác ngồi chơi, để tôi pha nước...
Nói đoạn bà nhanh nhẹn vào tắt bếp, bưng nồi cơm chắt hết nước cho khỏi trương, rồi quay ra tráng ấm, pha trà...
Trong lúc bà Hà làm thì khách cứ thoải mái tự giới thiệu:
- Chị không biết đâu, tôi với Quốc Hà là bạn “bằng vai phải lứa” đấy. Hai thằng chúng tôi cùng tòng quân một ngày, từ cái năm một chín năm mươi cơ. Về làm đội viên trong cùng một đại đội. Tôi được làm liên lạc của Ban chỉ huy, cậu ta phải làm lính chiến. Hai thằng chúng tôi “vào sinh ra tử” kinh lắm đấy... chị chẳng biết được đâu.
Bà Hà chưa kịp có lời đáp lại, ông Hà đã bước lên hè. Khách vội xua tay, hạ thấp giọng thì thào:
- Chị im hẵng, để xem hắn có nhận ra tôi không, nhà?
Tuy không muốn nhưng vốn tính cả nể, bà Hà đành đứng im giương cặp mắt lo ngại nhìn chồng đang ung dung, tay sách một bọc sách rất to, chằng buộc kỹ càng, bước vào nhà. Khách lập tức đứng bật dậy, giương to cặp mắt ốc nhồi trừng trừng nhìn thẳng vào mặt ông Hà. Bà Hà chú ý quan sát thái độ của chồng, thấy ông ngước nhìn khách và tỏ ra sững sờ một chút rồi rất nhânh, trỏ tay vào mặt khách, hét:
- Lục! Có đúng cậu đấy không?
Khách cất tiếng cười vang bước tới giơ tay. ông Hà cũng buông rơi bọc sách đang mang trong tay xuống nền nhà và nhào tới. đôi bạn già ôm lấy nhau và cùng để mặc cho những giọt nước mắt hiếm hoi cứ tự do trào ra ướt má...

***

Sau cơn xúc động, ông Hà quay sang nói với vợ:
Đây là bác Phạm Văn Lục. Ông bạn cùng tuổi, cùng nhập ngũ với tôi một ngày và lại cùng chiến đấu trong một đại đội. Chúng tôi xa nhau chỉ còn thiếu dăm tháng là đủ năm mươi năm. Bà làm quen với ông bạn tôi đi.
Ông Lục cướp lời, nói ngay:
- Rõ khéo chửa! Chúng tôi đã làm quen với nhau từ đời, còn phải nhờ đến cậu giới thiệu nữa ư? Phải không bà chị?
- ấy chết. Em còn kém bác nhiều tuổi đấy ạ. Bác cứ coi em như em gái cho tiện.
- Không được, không được! Bạn ra bạn, em ra em chứ. ở đời cứ phải là trọng lẫn kính chung mới được. Đúng không nào?
- Vâng ạ.
Ông Hà tranh thủ chen vào:
- Như vậy là thoải mái rồi. Bây giờ thì mời bà xắn tay áo lên, thể hiện vai trò bà chủ nhà sao cho đáo để vào.
Ông Lục lên tiếng ngay:
- định bàn chuyện ăn hả? Tớ đăng ký hai bữa, mỗi bữa một chén rượu, ba bát cơm. Rượu phải “cuốc lủi” mới được. Thịt thà, cá mú, rau cỏ... vừa đủ. Thế thôi đấy. Nên nhớ: Tớ lặn lội tìm bằng được cậu là vì công việc, chứ ăn cho sướng khẩu thì... tớ đếch cần. Nói bằng thật đấy!
- Sao lại hai bữa? định đi ngay hôm nay à?
- Phải. Chuyến tầu bảy giờ tối, vé mua sẵn đây rồi...
Bà Hà vội góp lời:
- Thực đơn bác đặt cứ y như thể cơm bữa trong gia đình thế này khiến cho gia chủ thật...
Ông Hà cắt ngang lời vợ:
- Bà yên tâm, ông tướng này là thế đấy, không biết mầu mè riêu cua gì đâu. Ngay bây giờ, bà cứ việc bắt tay vào làm bữa ăn bình thường. Việc rượu chè thế nào, cứ mặc chúng tôi.
Bà Hà đành nói xuôi:
- Vâng. Xin theo ý của các ông.
Nói xong, bà lẳng lặng xách làn đi chợ. Ông Hà ra đóng cửa rồi vào nói với ông Lục:
- Ta vào trong kia đi. Chuyện tâm sự tay đôi mà không có chén rượu “cầm chịch” thì chán chết!
Ông Lục vỗ đùi, cười hơ hớ:
- Khá! Thế mới bõ công tớ đi tầm nã cậu chứ! Cuốc lủi chính hiệu hay “của rổm”?
- Yên trí. Nếp cái hoa vàng cất bằng nồi đất, chơi “đồ cổ”... an toàn nhất hạng.
Vào tới phòng ăn, ông Lục đứng sững giương to mắt nhìn quanh, rồi tấm tắc khen:
- Thằng cha này đáo để thật! Thì ra hắn “tâm ngẩm tầm ngầm, đánh rắm thầm chết voi”... ti vi mùi, tủ lạnh hai buồng, “bíp-phê” cánh kính... niêm kín vào đây ráo cả. Ghê gớm thật. Chịu thầy!
Ông Bà bất giác phì cười, giục:
- Thì hãy cứ ngồi xuống đã nào, chuyện đâu có đó, vội gì.
Nói đoạn, ông nhanh chóng lấy chai rượu, lọ lạc rang với hai chiếc cốc nhỏ và vài cái đĩa, đặt lên bàn. Và dặn:
- Rượu đấy, lạc rang đấy... nếm thử đi. Tôi làm thêm vài món, rất nhanh thôi.
Ông Lục không giờ giục đến lần thứ hai, gật gù một mình, nhắc chai rượu lên ngắm nghĩa, rồi cũng chẳng cần rót ra cốc, cứ ung dung mở nút đưa lên miệng tợp liền hai hớp rồi chẹp môi vài cái, khẽ lẩm bẩm:
- Công nhận, uống được. Dễ chừng có đến năm chục độ?
- Chính xác bốn bẩy độ.
- Rượu chợ coi chừng chúng nó nêm hóa chất, nốc vào có phen mất mạng.
- Không lo, bà chị gái chúng tôi tự tay nấu lấy cho cả lũ em trai, em rể uống. Không phải mua. Bà ấy ở ngay trong xóm này ý mà.
Làm xong món thứ nhất, ông mang ra gắp vào đĩa, nói:
- Cậu cắt ra đi, tôi làm nốt món nữa.
Ông Lục lấy dao ăn, cắt khúc năm cái lạp xường rán ra, thò tay bốc một miếng nếm thử, nhận xét:
- Cái giống này rán ăn mất ngon. Không hay! Cậu làm tiếp món gì đấy?
- Trứng ốp-lết!
- ấy! Để tớ làm cho mới được. Chân tay các cậu sinh ra để vẽ hoa, vẽ bướm chứ cầy cuốc, nấu nướng... chỉ có vứt!
Ông nói và lập tức ra giành lấy đôi đũa bếp trên tay ông Hà. Ông Hà vui vẻ nhường chỗ và đứng “tham quan”. Đặt đôi đũa xuống (tỏ ý không thèm dùng) ông Lục cầm lấy cán xoong nghiêng đi nghiêng lại dường như muốn kiểm tra độ nóng của mỡ, rồi đặt trở lại bếp. Đoạn ông nhặt quả trứng ghè nhẹ lên mép xoong, tách vỏ, nghiêng bàn tay dốc lòng trứng vào xoong, lồng hai mảnh vỏ trứng và ném xuống xô rác, rồi nhấc cái xoong lên lắc khẽ vài vòng và đột ngột hất một cái cho quả trứng đang rán bay lên nhào lộn rồi rơi trở lại vị trí cũ! Từng quả một, cứ thế thứ tự đủ cả năm quả diễn ra như một.
Ông Hà “lác mắt” lên tiếng:
- Cậu... “bếp trưởng” cửa hàng ăn mậu dịch thời bao cấp, hả?
Ông Hà cười ha hả, lắc đầu:
- Đếch phải. Nhưng, chuyện ấy phí thì giờ, ra nâng cốc nói câu chuyện thiết thực của chúng ta, hay hơn.
Rượu rót ra, cốc chạm nhau, câu chuyện của đôi bạn sau năm mươi năm gặp lại, bắt đầu...
- Tối qua tớ ngồi xem ti vi, thấy chiếu “mục” các cụ già thi bơi. Tưởng việc “giời ơi” không để tâm. Nào ngờ đến mục giải thưởng, lại nghe tuyên bố người được huy chương vàng là cụ Vũ Đình ý. Tớ giật mình vội trông lên, thì hại quá, trên phim đã chuyển sang hình khác mất rồi. Chỉ có vậy thôi mà suốt đêm trằn trọc không sao ngủ được. Sáng ra bảo vợ con: “Tôi đi Hà Nội, tối về. Mẹ con bà cháu ở nhà cứ người nào việc nấy nghiêm chỉnh. Tôi về, sai đâu chớ trách...” Vậy là tớ đang ngồi đây với cậu...
Nghe ông Lục vào chuyện cứ lốp bốp như người ta chặt tre, ông Hà ôn tồn hỏi:
Hiện giờ cậu cùng với gia đình ở đâu?
- Chũ, Bắc Giang. Trước nay vẫn đấy.
- Vợ con thế nào?
- Một vợ tám con, năm trai ba gái. Tất tật đã có vợ, có chồng. Tớ đang là ông của chín đứa cháu nội với năm đứa cháu ngoại. Và đã là cụ của hai đứa chắt!
- Đời sống thế nào?
- Thời bao cấp làm cật lực mà vẫn đói vàng mắt ra với nhau. Vài năm đổ lại thì khá rồi: Cơm trần trắng suốt bát thả cửa ních thật đấy. áo quần hễ rách là không thèm vá, vứt liền. Nhà hai, ba, bốn, năm tầng thì chửa dám mơ chứ cái tang “con sơn”: tường xây, mái ngói, nền cao, sân lát... thì chín gia đình đã có đủ chín cơ ngơi đàng hoàng, nghiêm chỉnh.
- Vì sao năm mươi năm không thèm liên hệ gì với anh em bạn cũ?
Ông Lục bỗng bật ra một tiếng cười ngắn, nghe rất lạ và nói:
- Suốt thời bao cấp, làm một nông dân không thích cầm cầy, lại ngoài diện có phiếu vé! Vậy thì cậu định xui tớ vác cái mặt võ vàng, cái thân hình rách rưới... đến nhà ai? Và đến làm gì cho thêm não ruột? Gần đây “có da có thịt” một tí, nhớ bạn bè đấy nhưng “tham công tiếc việc” nên cứ nấn ná.
- Ai bảo cho cậu biết tôi còn sống và đang ở đây, mà đến tìm?
- Cũng rất tình cờ. Cách đây gần tám năm, khi ấy tớ còn “làm chủ” ngôi hàng cơm. Một hôm có đám sinh viên đi thực tập mò tới ăn. Trong khi trò chuyện chúng khoe với nhau về một đám cưới mới tổ chức, lại còn đưa cả ảnh ra phô. Vô tình, tớ trông thấy cái răng khển cùng cặp môi “cánh nhạn” của cái người đứng giữa cô dâu, chú rể. Tớ ngợ quá bèn hỏi thì chúng nó bảo là giáo sư Trần Quốc Hà, bố đẻ của chú rể. Tớ đành bịa chuyện rằng tớ là lính cũ của cậu từ thời chống Pháp, để xin địa chỉ. Thế là chúng sẵn sàng cấp ngay. Cũng cứ nghĩ: Ngứa mồm thì hỏi cho bõ thèm vậy thôi, “sức mấy” mà một gã hàng cơm dám mơ “bắt quàng” làm họ” với một giáo sư? Nào ngờ, thời vận đến, trông thấy thiên hạ cuốc đồi, phá nương trồng vải “thắng” quá. Thế là tớ quyết định từ giã “nghệ” hàng cơm, xoay ra trồng vải thiều. Sau năm năm cả nhà dốc vốn, dốc sức đánh vật với đất, thì bắt đầu khấm khá dần lên. Làm nhà làm cửa, tậu máy bơm, ti vi...
Cho mãi đến tận hôm qua, trong lúc ngồi “oai vệ” trước cái ti vi mầu hăm mốt inh mới tậu nhưng hồn vía lại vương vấn ngoài vườn ruộng, nương đồi, thì bất đồ nghe họ nói đến tên anh đại đội trưởng “của chúng ta”! Tớ giật mình vội trông lên màn hình, thì hại quá, tiết mục ấy đã qua rồi. Tớ hỏi, con dâu bảo: “Người ta bảo rằng cụ Vũ Đình ý thi bơi giật giải Huy chương vàng”!
- Họ có chiếu hình cụ ấy không?
- Có.
- Hình dạng thế nào?
- Một cụ già bé nhỏ, cụt một bên chân đến tận... ngang cái chỗ gấu váy của các cô gái ở quán bia ôm ý cơ...
Nghe vậy tớ ngẫm nghĩ: Thế thì đúng là đại đội trưởng của mình rồi. Nhưng... quái quỉ... nếu là anh ấy thật thì làm sao mà còn có thể bơi được? Lại còn thi? Lại còn đạt huy chương vàng nữa mới chết cha người ta chứ! Nhưng, ở đời có thể trung tên chứ làm thế nào mà lại trùng cả cái chân cụt? Biết đâu...
Thế là suốt đêm tớ không sao ngủ được. Thì cậu còn lạ gì, nghề đời khi mà no cơm ấm áo, vợ không bìu, con không dín, gánh nặng gia đình đã căn bản... ổn rồi, thì con người ta dễ nảy sinh “tâm tư tình cảm” cá nhân lắm, nhất hạng lại là cái tình của những thằng lính trận đã từng vào sinh ra tử có nhau! Cuối cùng tớ quyết định: Phải đích thân về thủ đô một chuyến, hỏi cho ra nhẽ. Biết đâu đấy, nếu đúng anh Vũ đình ý đại đội trưởng của mình thật thì sao? Tớ nghĩ ngay đến cậu: Đành cứ là chơi nước “liều”, vác mặt đến tận nhà “hỏi thăm sức khỏe” để xem thái độ của “người anh em” thế nào, rồi qua đó sẽ liệu cách... “tùy cơ ứng biến”! Thế là, sáng ra tớ lập tức lên tầu...
Ông Hà bất giác vỗ đùi cười vang nhà. đoạn gật gù mái tóc bạc tỏ ra rất đắc ý, nhận xét:
- Hay thật! Một “thằng bán trời không văn tự” như cậu. Lúc nào cũng “ruột để ngoài da”; mồm miệng hổ mang hổ lửa... vậy mà cũng đã biết tính toán đường đi nước bước, trông trước ngó sau. Một sự tiến bộ vượt bậc, rất đáng biểu dương. Nào, cạn cốc!
Uống cạn. Ông Lục dốc ngược cái cốc cho ông Hà thấy, rồi lên tiếng:
- Thôi nhá, phi lộ phi loẹt như thế đủ rồi. Thì giờ hạn hẹp, ta vào việc chính. Tớ bỏ công bỏ việc ra tận đây, tìm cậu, nói rằng đi thăm thì cũng được nhưng không thật, đó chỉ là cái cớ đầu lưỡi. Tớ ra đây mục đích đi hỏi dò tin tức về anh Vũ Đình ý. Cậu có định chối là không biết tin gì về anh ấy không đấy?
- Trái lại. Tôi biết khá kỹ. Cần hỏi những gì về anh đại đội trưởng của chúng ta, mời cậu cứ hỏi thoải mái.
- Trước hết cậu phải hết sức nghiêm chỉnh nói cho tôi biết: Có đúng là anh đại đội trưởng của chúng ta đã đi thi bơi và đã giật Huy chương vàng, thật không?
Ông Hà gật gù mãi rồi làm ra vẻ quan trọng, đáp:
- Nói năng lốp chốp, mất hết ý nghĩa. Tôi cần quán triệt cho cậu nhận thức đúng đắn, chính xác từng câu từng chữ mới được: Đúng, đại đội trưởng của chúng ta đã tham dự cuộc thi bơi dành cho người cao tuổi toàn quốc. Nhớ rằng toàn quốc đấy nhé! Và đã giành huy chương vàng... Không chỉ có một huy chương vàng đâu nhé, mà là hai huy chương vàng. Ngoài ra, trước đấy đã chiếm ba huy chương bạc cùng với ba huy chương đồng. Có nghĩa: kể cả vàng, bạc, đồng “người” đã có tới tám chiếc... hiểu chưa?
Ông Lục trợn mắt, há hốc mồm lắp bắp:
- Những... những tám... tám huy chương cơ à. Thật, bỡn?
- Thật một trăm phần trăm.
Ông Lục khoái chí đấm tay xuống đùi, thốt lên:
- Chà chà, thánh thiên tử! Đại đội trưởng ra đại đội trưởng... cực kỳ là cực kỳ! Trần đời có một đấy nhé.
Thấy ông Lục tỏ ra hào hứng khác thường, ông Hà cố tình nói trêu:
- Cậu này hay nhỉ. Ngồi khểnh ở xó nhà, dỏng tai nghe thành tích của anh ấy rồi vỗ đùi lớn tiếng khen ngợi... suông, thì thằng quái nào chẳng làm được? Rõ dơ...
- Ơ! Đằng ấy chê tớ ngồi xó nhà vỗ tay suông. Thế dễ thường đằng ấy đi thi hộ anh ấy chắc? Cũng đòi... ra cái vẻ ta đây!
- Thi hộ thì xin thú thật là không. Vả lại nếu có muốn thì anh ấy cũng không cho phép cơ mà.
- Vậy thì cậu có hơn có gì tớ mà ra cái điều? Buồn cười thật đấy nhỉ?
Ông Hà vẫn cười nhưng không muốn đùa dai, nên chân thật đáp:
- Cậu cũng như “bàn dân thiên hạ” biết sao được những nỗi vất vả có cả sự chua cay và cũng hết sức khôi hài, đã giăng ra trên con đường đi tới những chiếc huy chương của anh ấy? Hãy thử hình dung: Một ông già bẩy mươi tám tuổi, thấp nhỏ như anh ấy, lại cụt một bên chân. Cả đời chưa bao giờ thi bơi lấy một lần, nay bỗng nảy sinh ý muốn đi thi. Nghe có “ngông cuồng” không chứ? Vậy là anh ấy tự chuốc lấy cả một “núi” trở ngại. Trước hết là đối với chính bản thân. Rèn luyện cách nào để khắc phục những “trở lực” từ ở chính mình. Thuở thiếu thời tuy có biết bơi, nhưng nay sau năm mươi năm (kể từ khi bị cụt chân) không “văn ôn võ luyện”? Một bên chân đã cụt (cơ thể bị lệch) làm sao giữ được thăng bằng và tốc độ? Vóc dáng bé nhỏ, (cả thể lẫn lực đều kém người)? Sau đó là đến những khó khăn khách quan: Muốn được dự thi phải do một tổ chức thể thao bơi lội (nào đó) tuyển chọn và giới thiệu. Mà anh ấy lại không tham gia một thứ câu lạc bộ nào...
Thấy ông Hà buông lửng vấn đề ở đây. Ông Lục sốt ruột giục:
- Rồi thế nào, nói tiếp đi chứ?
- Còn thế nào nữa? Từ khi sinh ra “người”, trời đã phú cho cái nết: “yêu chim ghét chjuột” (thích bay cao mà lại “sợ” chui luồn). Vợ con, bạn bè... ai cũng có nhời khuyên nhủ anh ấy hãy nhớ câu “lão giả an tri”, tìm niềm hạnh phúc trong thú “điền viên” chả hơn ư? Chính tôi cũng ra sức can ngăn anh ấy, nhưng vô hiệu cậu ạ.
- Thế thái độ anh ấy ra sao? Chống lại quyết liệt chứ gì?
- Ơ, cậu quên rằng đại đội trưởng của chúng ta là “cỡ” người thế nào rồi sao? Suốt đời, kể từ khi làm lính, rồi ra làm quan, đến khi trở về làm dân... anh ấy chỉ tôn thờ có mỗi một chữ nhẫn: Nghĩa là “người” chẳng hề chống đối ai bao giờ. Ai trách, ai khen... anh ấy vẫn cứ bình tĩnh lắng nghe... để suy ngẫm và rút kinh nghiệm, chứ không vội vàng tỏ thái độ.
- Cậu nói vậy tức là...
- Tức là anh ấy cứ lẳng lặng “kiên... nhẫn” đi tập lại để tìm lấy “cách bơi” cho riêng mình. Đồng thời, lần mò hỏi thăm, tìm đến gặp Ban phụ trách câu lạc bộ bơi lội của quận, xin họ cho gia nhập, làm một hội viên. Bước đầu như thế tạm coi là xuôi lọt. Nhưng, đến khi ủy ban Thể dục Thể thao Trung ương ra thông tư chính thức tổ chức cuộc thi bơi “Dành cho những người cao tuổi cả nước năm 199...”, thì... bắt đầu có chuyện! đầu tiên: Ban phụ trách Câu lạc bộ lập danh sách tuyển thủ, họ loại ông anh của chúng ta ngay từ vòng đầu. Không có tên trong danh sách đi dự thi, anh ấy không hề chạy chọt, xin xỏ gì hết, mà cũng chẳng đấu tranh, đòi hỏi một lời nào. Cứ thản nhiên “việc mình, mình làm”. Hàng ngày vẫn lên bể bơi tập (tất nhiên không được chung với các tuyển thủ)... Thật may, một hôm có vị thượng cấp ở Sở về kiểm tra sự chuẩn bị của Quận. Ngồi trên cao (khán đài) vị thượng cấp vô tình phát hiện ra đại đội trưởng của chúng ta đang lủi thủi bơi... ngoài cuộc. Là người có “con mắt nhà nghề” vị thượng cấp đó có sự để tâm...
Thế rồi, khi chỉ còn hai ngày nữa là đến hạn lên đường (vào Sài Gòn dự thi). Bất ngờ Chủ nhiệm Câu lạc bộ đến, có lời mời: “Nếu cụ thực sự muốn đi thi... đề nghị đóng góp một phần kinh phí”. Mừng quá, đại đội trưởng gật liền và nhận giấy giới thiệu đi khám sức khỏe. Kết quả: “Nặng 35kg; cụt một chân; răng rụng... một nửa; huyết áp thấp...” (Tờ giấy khám sức khỏe cứ như một bản án)!
Thất vọng tràn trề, trở về gặp bác sĩ phụ trách sức khỏe của đoàn chờ phán xử. Có lẽ ái ngại cho ông anh của chúng ta quá, vị bác sĩ “giầu lòng thương người” ấy đã giúp đỡ bằng cách: Cho đi nhưng không cấp giấy chứng nhận “đủ sức khỏe” như các tuyển thủ khác! (Thâm ý muốn khuyên “người” nên tự nguyện... rút lui).
Ông Lục chợt thắc mắc:
- Làm thế đếch nào mà cậu biết tỉ mỉ như vậy được?
- Này, đừng tưởng chỉ có mình cậu là lính của C363 hiện còn “sống sót” sau trận núi đanh đâu nhé. Hiện giờ ở ngay tại Hà Nội này, ngoài tôi ra còn có thêm hai cậu nữa đều là lính 363 và đều đã mang lon đại tá cả rồi. Đứa nào cũng hết sức quan tâm đến đại đội trưởng của mình. Riêng tôi do có điều kiện gia đình nhẹ nhàng hơn một tí nên rất thích “tháp tùng” đại đội trưởng, bất kể lúc nào.
- Nói vậy có ý bẳng rằng cậu đã... “tháp tùng” anh ấy kể cả khi “vào Nam, ra Bắc”?
- Chứ sao?
- Đáng mặt lắm. Tớ thật bõ công đi tìm cậu. Tiếp tục đi: “đồng ý cho đi nhưng không cấp giấy chứng nhận sức khỏe”! Đến nước ấy thì đại đội trưởng của chúng ta đành nhẽ... rụt vòi chứ, hả?
- Cậu lại quên rằng cả một đời anh ấy chỉ thờ chữ nhẫn ư? “Người” vẫn một mực “còn nước còn tát”! Nói thì bảo duy tâm, nhưng quả thực là “Hoàng thiên bất phụ hảo nhân tâm”. Vào tới Sài Gòn, Ban Tổ chức cuộc thi yêu cầu “Tất cả những ai chưa có giấy chứng nhận sức khỏe, đều phải khám lại ngay tại chỗ”. Không ngờ, số người chưa có giấy chứng nhận đông quá. Bác sĩ của Ban Tổ chức làm không kịp, bèn “có sáng kiến”: Phát cho mỗi cụ một mảnh giấy yêu cầu từng người viết cam đoan. Đại đội trưởng của chúng ta thế là một lần nữa được trời cứu, viết ngay.
- Cuối cùng, được chính thức dự thi chứ?
- Tất nhiên. Nhưng... khi chính thức “nhập trận” mới thật sự đáng sợ. Chẳng hiểu, là người trong cuộc đại đội trưởng nghĩ thế nào chứ tôi làm cái “chân” cổ động viên, đứng ngoài mà trông thì... hãi lắm! Cậu thử nhắm mắt lại mà tưởng tượng xem: Với cái tạng người “to lớn” như đại đội trưởng của mình, khi mà cởi sạch quần áo ra đứng bằng trần sì có một chân, bên cạnh các lực sĩ dân miền biển Thanh, Nghệ, Tĩnh, Bình, Trị... vị nào vị nấy da dẻ đỏ au, cao to lừng lững... chẳng gấp ba thì chí ít cũng gấp đôi đại đội trưởng. Chỉ những nom đã khiếp. Thế rồi súng nổ. Vài giây đầu tôi tối tăm mặt mũi không nhận rõ thực hư thế nào, định thần lại, nhìn rõ, tôi thật sự kinh ngạc khi thấy đại đội trưởng của mình cũng đang... “ngang ngửa” trên đường đua... như ai. Kết thúc “người” chiếm giải ba: Huy chương đồng! Thiên hạ “lác mắt” trầm trồ, ai ai cũng coi là một sự lạ lùng. Con cháu, bạn bè xúm vào bâu kín lấy anh ấy, mừng vô kể. Cậu biết không? Hầu như tất cả cánh cựu chiến binh 312 đang sinh sống ở Sài Gòn nghe tin Vũ đình ý vào dự thi bơi người cao tuổi, hôm sau đều có mặt (chứ không riêng gì “một nhúm” anhem của trung đoàn Sông Lô đâu nhé)! Thì... đã là cựu chiến binh của đại đoàn, anh nào mà chẳng ít nhiều đã từng nghe danh đại đội trưởng vũ đình ý. Có lẽ sự có mặt của đông đảo anh em đồng đội đã tác động mạnh vào anh ấy, khiến cho, mặc dù cuộc thi ngày thứ hai khó khăn hơn: 100 mét bơi ngửa! Cậu nghĩ cem có một chân mà lại nằm ngửa, chệch đường đua là cái chắc! Ai cũng lo. Không ngờ “người” vừa bơi vừa “liếc” đường dây giới tuyến, theo kiểu con nhà lính “bám thắt lưng địch mà đánh”. Trông anh ấy bơi cứ như thể dựa hẳn vào cách vạch giới tuyến, hồi hộp lắm cơ. Lượt đi “người” ở hàng thứ tư. Anh em (và cả đông đảo người xem) gào lên thôi thúc: Vũ đình ý! vũ đình ý! vũ đình ý!... Thế là lượt về “người” nỗ lực vượt lên bỏ qua một đối thủ, rồi hai đối thủ... Kết quả giải nhì: huy chương bạc!
Hôm ấy quả là một ngày cực kỳ sung sướng. Anh nào cũng xúc động ôm lấy đại đội trưởng. Mừng vô cùng, hãnh diện vô cùng. Riêng tôi, cứ ngỡ rằng như vậy là anh ấy đã toại nguyện (Đã được thử sức, thử tài với “bàn dân thiên hạ”, và đã khẳng định được mình)! Nào ngờ khi trở về Hà Nội anh ấy vẫn cứ mải mê luyện tập. Tôi hỏi, thì anh ấy nói dở đùa dở thật: “Đỉnh cao của người lính khi ra trận là huân chương quân công. Đỉnh cao của người vận động viên khi thi đấu là huy chương vàng! Tớ còn phải thi...”
Quả nhiên, anh ấy nói sao là làm y như vậy, không ai cản được. Liền hai năm sau tiếp tục đi thi: Vẫn cứ một bạc một đồng mỗi cuộc. Anh ấy cứ gan lì luyện tập dai như đỉa ấy. Cho tới năm nay thi ngay tại “sân nhà” giữa đất Thủ đô, “người” giành trọn cả hai huy chương vàng! Như tối qua đài truyền hình Trung ương vừa thông báo đấy...
Nghe rõ ngọn ngành, ông Lục bỗng trở nên tư lự. Hồi lâu mới khẽ thở dài cất tiếng:
- Thế thì kỳ lạ thật. Bẩy mươi tám tuổi rồi, thương tật như thế! Mà người thì cân nặng được những băm nhăm kí “cả bã”! Không hiểu ông ấy lấy sức ở đâu ra cơ chứ?
Dường như đã có ý đứng chờ sẵn, nghe đến đấy bà Hà bước ra nhỏ nhẹ hỏi:
- Cơm canh xong cả rồi, ông lão với bác đã muốn dùng chưa?
Ông Hà vui vẻ đáp:
- Tốt quá. Bà cho anh em chúng tôi chén ngay đi cho nóng. Cậu đồng ý chứ?
- Thật thà mà nói, bác gái đừng cười: Tôi dậy từ bốn giờ sáng, hối hả thu xếp việc nhà đến năm giờ mới tạm yên tâm phó thác tất cả cho mẹ con bà cháu nhà chúng nó, rồi vội ra ga đón chuyến tầu sáu giờ. Tầu chợ, chạy như rùa bò, mãi tám giờ mới tới ga Hà Nội. Xuất trình vé xong, phóc ngay lên xe ôm, bảo nó phóng đến đây lập tực. Chửa kịp cơm, nước, quà bánh gì sất. Định bụng “dằn mặt” nhau cái đã, xem binh tình ra sao rồi hãy hay. Tiền đẫy túi, ăn uống lúc nào nên lúc ấy, đi đâu mà vội. Tôi nói thế nghe có trái tai không, bà chị?
- Bác nói phải lắm ạ. Thôi thế chẳng mấy khi, bác đã có lòng tìm đến thăm ông lão nhà tôi, tiện bữa, mời bác xơi lưng cơm rau dưa với vợ chồng chúng tôi.
- Ôi chà chà... bà chị nói khéo thật. Tôi “con nhà lao động” quen thói bỗm bãm, nói năng chẳng chịu giữ mồm giữ miệng gì đâu. Có thế nào bà chị đừng cười, nhá! Nào, ta ăn chứ, cậu? Mời bà chị...
Đã yên tâm về người bạn của chồng mới xuất hiện lần đầu tại gia đình, bà Hà vui vẻ cùng ngồi ăn. Câu chuyện tay ba, qua lời ông bạn của chồng, bà Hà hiểu được rằng: “... trong một trận đánh ở cái nơi có tên là Núi Đanh, chồng bà với ông Lục này cùng bị thương phải đi điều trị. Khi chữa khỏi vết thương, mỗi người đi một nơi. Vốn tính nết nóng nẩy lại có phần ngang ngạnh, ông Lục được giải ngũ ngay sau ngày hòa bình lập lại. Tay trắng không nghề, ông phiêu bạt “giang hồ” kiếm sống, bất ngờ gặp một cô gái quê ở Bắc Giang, hai bên vừa lòng đẹp ý, thế là lấy nhau không cần dạm hỏi, cưới cheo gì. Bà vợ sinh đẻ bảy lần được tám người con, nuôi sống đủ cả tám. Gia đình mở ngôi hàng cơm ở ga Chũ, vợ chồng con cái “chủ tớ một phường” bám vào ngôi hàng cơm ấy, mà sống lay lắt qua ngày. Đất nước đổi mới, dân tình “bung ra” khai phá đồi hoang trồng vải. Trông thấy thiên hạ làm giầu ngay trước mắt, vợ chồng con cái ông cùng nhau bàn bạc nhất trí từ bỏ ngôi hàng cơm, đi tìm đất khẩn hoang, trồng vải. Đành lòng “trâu chậm nước đục”; phải nhận “gặm xương gặm xẩu” nhưng “tích tiểu” mãi rồi cũng phải “thành đại”. May mà nhà đông con, được miếng nào ăn gọn ngay miếng ấy, phân chia tắp lự cho từng đứa tạm thời đứng ra cai quản. Cả nhà ra công đánh vật với đất với trời: Gian truân, nhọc nhằn, đói rách... hết chỗ nói, mất già năm năm thì bắt đầu khấm khá dần lên. Nay thì... ổn lắm rồi...”.

***

Cơm xong, ra ngồi uống nước, ông Lục nói:
Nếu cậu quen ngủ trưa thì cứ tự nhiên, tôi ngồi trong phòng ăn xem ti vi chờ. Khi nào cậu dậy ta cùng đi.
- Đi đâu?
- Ơ hay. Tớ lần mò ra đây vì muốn biết về anh Vũ đình ý. Từ sáng đến giờ tai đã nghe đủ rồi, giờ thì phải mắt thấy chứ.
- à, tôi hiểu. Cậu cần tôi “dẫn đường chỉ lối” đến thăm anh chị ấy với các cháu, phải không nào? “May quá”... gia đình anh chị vũ đình ý đi Tuyên Quang từ chiều hôm qua, trưa mai mới về. Cậu đến bây giờ nhà khóa cửa, không vào được đâu.
- Bỏ mẹ rồi. Nếu vậy thì nguy quá, làm thế nào bây giờ đây?
- Sao? ở lại đây với vợ chồng tôi, mai cùng nhau mò sang tóm sống ông anh. Lo gì!
- Cậu... đúng là dân ăn dưng ngồi rồi! Bọn nhà quê chúng tớ công việc đồng áng thời này đâu có rỗi! Giờ đang mùa vụ thu hái. Khi đi đã dặn tối về, mẹ con bà cháu nó ở nhà cứ đinh ninh...
Ông Hà nói với ngụ ý bông đùa:
- Chẳng nhẽ trong xóm cậu ở chưa ai có điện thoại ư? Hay là tiếc cái vé khứ hồi đã chót mua?
Biết bị nói khích, ông Lục vẫn cười thoải mái, khen:
- Giỏi. Cậu vẫn là đứa tinh khôn hơn người. Thằng hai nhà tớ tính ngông, nó “chơi” điện thoại từ năm ngoái kia. Để tớ gọi nhờ máy nhà cậu một tí, được chứ?
Ông Hà bật cười, nói tếu:
- Cứ mỗi phút một nghìn hai, theo đúng giá dịch vụ công cộng!
Không nối lời, ông Lục nhanh nhẹn ra nhấc máy, bấm số.
Gọi điện xong ông Lục quay lại, thở dài ca cẩm:
- Hại thật. Biết làm gì hết được thì giờ cho đến tận chiều mai đây?
Ông Hà vờ làm mặt nghiêm trang, nói:
- Hay là tôi đưa cậu lên thăm lại Núi Đanh, nhân thể thắp hương viếng anh em ta đang còn nằm lại đó? Từ giờ đến mai, kịp đấy.
- Cậu bảo sao? Năm chục năm rồi, còn gì ở đấy nữa mà thăm với viếng?
- Chết thật. Thì ra cậu là một kẻ “vô tình, vô nghĩa” hạng nặng mất rồi. Thưa với cậu rằng: Từ ngày đất nước đổi mới, các cựu chiến binh của đại đoàn 312 cùng với bốn trung đoàn đều thành lập Ban Liên lạc bạn chiến đấu cũ để sinh hoạt tình nghĩa. C363 của chúng ta nằm trong D 130, E 209 thời ấy... hiện vẫn còn đại đội trưởng của mình. Hằng năm anh vũ đình ý chủ động tổ chức đi viếng số anh em 363 còn đang nằm trên đó. Mới đầu chỉ “lẻ loi” mấy anh em “tâm huyết” rủ rê nhau; dần dà các đồng chí trong Ban liên lạc trung đoàn cũng đồng tình ủng hộ. Thế là thành lệ: Cứ vào ngày 17 tháng 1 hàng năm, Ban liên lạc trung đoàn lại tổ chức cho tất cả những anh em nào “có lòng” nhớ đến các liệt sĩ Núi đanh, thì... xin mời lên ô tô. Sáng đi, tối về...
Ông Lục trợn tròn mắt, hỏi:
- Lắm tiền thế kia à?
- Làm quái gì có tiền! Hội viên mỗi năm đóng mười nghìn đồng hội phí để chi về việc họp hành, thăm hỏi khi ốm đau, chết chóc. Phải khéo thu xếp lắm mới tạm đủ. Những cuộc đi như thế, Ban tổ chức xác định phân mình: Tiền tầu xe đi, về do cá nhân đóng góp, tiền mua hương hoa và tặng phẩm... Ban liên lạc có trách nhiệm thu xếp. Còn vấn đề ăn uống, nghỉ ngơi của đoàn thì do Tỉnh ủy và ủy ban tỉnh Vĩnh Yên... làm chủ một trăm phần trăm việc tiếp đón và chiêu đãi. Bởi vậy cho nên khi đến tỉnh thì Bí thư tỉnh ủy và Chủ tịch tỉnh đích thân đứng ra tiếp đoàn, về đến huyện thì Bí thư huyện ủy và Chủ tịch huyện, khi đến Xã thì Bí thư đảng ủy và Chủ tịch Xã... mọi nơi, mọi chỗ đều cực kỳ chu đáo, chững chạc. Không thể chê trách vào đâu được.
Ông Lục ngồi nghe, mặt ngây như tượng. Mãi mới thốt lên:
- Chà chà, kinh quá nhỉ? Long trọng đến thế kia à?
- Chứ lại bỡn ư? Từ lâu Đảng ta đã liên tiếp ra lời kêu gọi: Phải “đền ơn đáp nghĩa”! Phải “đời đời nhớ ơn các liệt sĩ”! Lời kêu gọi đó đâu phải là lời nói chơi, là khẩu hiệu suông? Người anh em là dân “vùng sâu vùng xa” lâu năm, nay mới có dịp về thăm miền xuôi đổi mới, trông vào đâu, nghe thấy gì cũng ngạc nhiên là phải.
Nghe cái cung cách nói năng ấy của ông Hà, biết rằng mình đang bị “cạnh khóe” ông Lục bình tĩnh “trả miếng”:
- Cậu nói đúng như sách, nghe sướng cái lỗ tai lắm. Chỉ khốn một nỗi bên cạnh những cái mới như cậu vừa khoe, miền xuôi cũng xuất hiện lắm cái mới khiến bọn “ngu dân lạc hậu” chúng tớ nhìn thấy mà... cám cảnh thay cho các đồng đội đã hi sinh!
- A, hay đấy! Là cái gì vậy?
- Là cái sự, “các cháu trai, cháu gái” của các ngài ở dưới này đang đua nhau chạy theo “mốt” của bọn người Âu, Mỹ, nhưng lại lạc sang các cung cách mà tổ tiên ta đã có “nhời bình” rằng: “thấy người ta ăn, tranh nhau bốc cứt bỏ bị”...
Ông Hà vui vẻ kêu lên:
- Trời ơn, cái anh chàng nổi tiếng là “lông nách một nạm, chè tầu một hơi” của thời ấy, bây giờ cũng khẩu khí ra trò đấy nhỉ” Thôi, “em xin bác” vui lòng “nói nôm” ra cho em dễ hiểu, chứ “nói chữ” như thế thì em chịu, không tài nào đoán nổi.
- Được, tôi hỏi cậu: Đảng ta đang ngày đêm kêu gọi “giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc”. Vậy mà ở ngay giữa Thủ đô này, các “cháu gái” vẫn đua nhau mặc váy khoe đùi, kheo bẹn: mặc áo phơi “mầm” phơi nách! Các “cháu trai” thì cưỡi mô-tô phân khối lớn phóng bạt mạng, mặt mũi tỉnh bơ “chơi” mô-bin-phôn! Chán trò ấy là kéo nhau vào công viên hoặc lên hồ Tây, thi nhau biểu diễn các kiểu hôn hít, sờ sịt... cứ y như tây với đầm trong phim Âu, Mỹ ấy! Tất cả những trò “mới, lạ” như thế đã diễn ra hàng chục năm ở giữa Thủ đô này, có đúng là chúng nó đang “nhặt cứt” của người ta thải ra, bỏ vào bị của mình, không hả? Chẳng nhẽ những “ông to bà lớn” như các cậu cũng... “sợ bóng, sợ vía” chúng nó ư?
Ông Hà bất giác bật cười, vội lắc đầu, xua tay:
- Thôi, thôi, tôi xin nhận thua cậu “một không”. Chuyện ấy nó phức tạp và tế nhị lắm lắm, không thể áp dụng phương sách “chém to kho mặn” theo kiểu thời “cắt sổ gạo” đối với chúng được đâu. Nhưng, tôi nghĩ, cậu có thể yên tâm. Bởi vì thời gian nó như cái lò luyện kim loại ấy, nhất là nó lại được điều khiển bằng bàn tay của Đảng ta. Sớm muộn gì, rồi cậu xem... “Ngọc, đá... Vàng, thau”, đâu sẽ vào đấy hết thôi mà.
- Nói như cậu liệu có... hữu khuynh không đấy/
- Ôi, Lục ơi là Lục! Lâu lắm rồi tôi mới lại nghe có người nói đến những cái từ ngữ thời kháng chiến chống Pháp: “Hữu khuynh tiêu cực”, “cầu an hưởng lạc”, “tư tưởng lạc hậu”... mà cái người nói lại là cậu - một kẻ “thường trực” có tên trong sổ tay của các vị chính trị viên đại đội. Hay thật!
Ông Lục cũng cười, thoải mái góp lời:
- ờ, thì cũng do thằng tớ là đứa “tổ sư vạ miệng”. Nói năng văng mạng chẳng còn coi thằng nào ra cái chó gì, nên “chúng nó” mới ghét. Ai đời bốn năm làm lính trơn, nếm cơm tới sáu đại đội mà vẫn không lên nổi một cấp. Phải chờ đến khi nhận quyết định “ra quân” mới biết mình đã được phong chức tiểu đội phó! Nói của đáng tội, tớ vẫn cứ nghĩ: Cái số tớ nó chẳng ra gì, chứ nếu như anh vũ đình ý không “về vườn” sớm thế, chắc chắn đời tớ đã khác.
Ông Hà lại nổi máu đùa cợt:
- Là “cánh hẩu” với nhau, hả?
- Chả phải. Tính anh ấy tớ biết, chúa ghét thói xu nịnh, và cũng không thích chấp vặt. Đấy cậu xem: Làm một đại đội trưởng lại kiêm luôn cả chính trị viên, vậy mà anh ấy vẫn cứ đàng hoàng như không, chẳng phải “làm công tác tư tưởng” cho một thằng nào hết. Không hề “to tiếng rậm nhời” vậy mà cả đại đội “đứa” nào cũng nể. Lúc về hậu phương, cả đại đội không tên nào phạm kỷ luật dân vận. Khi ra trận, cậu thấy đại đội mình có thằng nào mèng đến nỗi “đái ra quần” không, hả?
- Chuyện. Cổ nhân đã dạy: “Thượng bất chính hạ tắc loạn”. Ví thử ngày thường mỗi khi lính đi vác gạo, làm lán hoặc đi lao động giúp dân v.v.. mà ba quân không ai nom thấy bóng vía đại đội trưởng đâu. Rồi khi ra trận, chỉ thấy đại đội trưởng lớn tiếng gào lính xông lên nhưng chính bản thân lại... chần chừ chờ... “số anh em chạy chậm”. Thì, tôi xin hỏi cậu: Liệu “cái C 363” của chúng ta có “ngoan” khi ở hậu phương, và có “khinh chết” khi ra trận như thế không nhỉ?
- Thì thế cho nên mới thành chuyện. Cậu thấy đấy, đời lính của tớ trải qua 6 “đời” đại đội trưởng, vậy mà ngoài đại đội trưởng của chúng ta, tớ có thèm nhớ “ngài” đếch nào nữa đâu!
- Nghĩa là cậu chỉ “sùng bái” có một mình anh vũ đình ý?
- Chẳng phải. Đứa nào “sùng bái cá nhân” chỉ là đứa ngu. Tớ rất thích nhân vật Bao Chửng trong phim Tầu, ông ta chẳng thiên vị đứa đếch nào, vậy mà từ thứ dân đến Hoàng đế ai ai cũng “tâm phục, khẩu phục”. Tớ cứ nghĩ cái 363 của chúng ta đối với anh vũ đình ý cũng giống như thế. Chả hạn như với tớ: Anh ấy chưa hề cho tớ một đồng xu mẻ hay là ban cho tớ một lời khen nào. Và hình như cũng chưa một lần chuyện trò bù khú hoặc tâm sự tỉ tê gì. ấy thế mà tớ vẫn cứ “tâm phục, khẩu phục” đại đội trưởng của mình như tất cả mọi anh em của cái 363. Hỏi có lạ không chứ? Nhưng, nói của đáng tội, trong cơn “bốc lên” nhớ đại đội trưởng quá, tớ hùng hục đi, lúc ngày nghĩ lại, thấy ngại. Không biết sau năm chục năm giời xa cách, liệu đại đội trưởng có còn nhớ đến một thằng đội viên quèn như tớ không? đến thăm, lỡ mà đại đội trưởng hỏi: “đồng chí tên là gì nhỉ? Tôi bây giờ... có tuổi rồi, chẳng còn nhận ra ai với ai nữa”! Như vậy thì bỏ cha tớ. Đến phải bưng lấy mặt mà “đằng sau quay” cho chóng!
Bất giác lại nổi máu khôi hài, ông Hà cười rất to, bàn:
- Khó quái gì việc ấy? ở Hà Nội này không sẵn mo nang, tôi sẽ cấp không cho cậu một cái quạt giấy mới tinh. Gặp phải tình huống ấy, chỉ việc xòe nó ra, che mặt lại là xong.
Rất biết tính nhau, ông Lục không thèm bận tâm về cách nói của bạn, vẫn cứ thản nhiên đuổi theo ý nghĩ của mình:
- Cậu bảo liệu có sự ấy diễn ra không nhỉ?
Cảm thấy ân hận vì đã chót đùa, ông Hà thành thật đáp:
- Cậu nghĩ ngợi dở hơi gì thế? đại đội trưởng của chúng ta tiếng là già nhưng vẫn còn tinh tường sắc sảo lắm, chẳng hề quên một người, một việc nào. Nhất là đối với cái loại lính “ba gai ba đồ” nổi tiếng như cậu! Rồi đấy, mai gặp cậu sẽ thấy.
- Thế còn... chị ấy và các cháu, tình hình ra sao?
- Chị Huê nguyên là y tá trong quân đội, hiện cũng đã nghỉ hưu. Anh chị ấy lấy nhau từ năm 1948 cơ mà. Còn các cháu, cả bốn đứa nay đều đã “nên người”, chững chạc lắm rồi.
- Nhà nước cho anh ấy “về vườn” ngay sau khi cắt gọn một bên chân chứ?
- Không, anh ấy đâu phải là con người dễ đầu hàng số phận như vậy? “Người” kiên quyết không chịu xa rời... “trận tuyến”. Chẳng cầm được súng thì cầm... nạng! Cũng may, ở vào thời điểm lúc bấy giờ “mọi thứ chế độ” giành cho thương binh chưa có gì hết. Bởi vậy chẳng ai thắc mắc,ghen tị gì trước việc một thương binh cụt chân khăng khăng không chịu... về vườn! Ai nấy chỉ “thương hại” anh ấy là “tổ sư gàn”! Không muốn mọi người nhìn mình bằng con mắt ái ngại, anh ấy chỉ còn một cách: công tác và sinh hoạt không mảy may thua kém người khác (cùng đang trong biên chế nhà nước và conf đủ cả hai chân).
Nói thì đơn giản thế nhưng thực tế đâu có giản đơn! Thời nào thì một con người có đủ hai chân muốn đàng hoàng “đứng thẳng” đã khó rồi, huống hồ chỉ có một chân! mà tính nết của anh ấy giời lại chót phú cho cái lưỡi không được dẻo, cái lưng không lấy gì làm mềm... Rốt cuộc “ba chìm bẩy nổi, chín cái lênh đênh” qua đủ mọi “mùi” chức trách, cuối cùng sau hai mươi năm “đi, đứng” vững vàng như (không dám nói là hơn) mọi đồng nghiệp, đồng cấp khác (có đầy đủ cả hai chân), đại đội trưởng của chúng ta được đề bạt “lên” làm hiệu trưởng một trường Bổ túc văn hóa của một cơ quan cấp bộ, và lương cũng được nâng lên một bậc: Được lĩnh lương mới: chín nhăm đồng/tháng. Kể từ năm ấy (1970) cho tới ngày nghỉ hưu (1981) vẫn giữ vững chức vụ và mức lương đó!
Năm 1981 nhận quyết định về hưu (do hoàn cảnh gia đình, chị Huệ đã xin nghỉ hưu từ năm 1973), gia đình anh chị được “đồng chí” phụ trách phòng nhà cửa của Bộ ưu áo cấp cho một căn hộ trong một ngõ hẻm khá sâu và khí ngoắt ngoéo, đồng thời được làm hàng xóm với cánh công dân “đầu trâu mặt ngựa”...
Sẵn có một quá khứ vẻ vang, nên mặc dù chỉ là dân “ngụ cư”, cả anh và chị đều được địa phương nhanh chóng mời ra làm việc. Vốn dĩ là những người ưa hoạt động, hai anh chị cùng vui lòng ra đảm nhận công tác của Phường: Chị Huệ được bầu vào Đảng ủy và ủy viên ủy ban nhân dân kiêm Hội trưởng Hội phụ nữ Phường - Còn đại đội trưởng thì làm ủy viên ủy ban kiểm tra Đảng, kiêm phó Bí thư chi bộ. Các cháu hai đứa lớn đã ra công tác, còn hai cháu bé đang đi học. Mặc dù đời sống hết sức khó khăn. Thì... ở vào thời điểm bấy giờ, có gia đình viên chức “chân chỉ hạt bột” nào khi đã “hưu” mà chẳng méo mặt vì cái việc ăn, mặc, học, hành... của con cái: Tuy nhiên, ở gia đình anh chị, được cái cả nhà đều biết chăm lo cho nhau và không ai sợ lao động. Để kiếm thêm nhằm bù đắp vào sinh hoạt: anh mày mò ép, dán những chiếc “poa-nhê” xe đạp; chị mua guốc về đóng, bán cho người ta đi. Các cháu thì hết giờ học về là lo việc chăn nuôi, trồng trọt giúp thêm vào với bố mẹ. Cuộc sống cứ thế diễn ra, tuy cực nhọc nhưng hạnh phúc...
Thôi nhá, chuyện gia đình đại đội trưởng “nói vụng” thế đủ rồi. Giờ ta vào làm vài tợp cho mồm miệng đỡ nhạt, chứ hả?
- Không chơi. Tớ tiếng là thằng thất học nhưng không ưa cái trò cờ bạc, rượu chè bê tha. Gì chứ cái mục ăn, uống, ngủ nghê là tớ “chấp hành” nghiêm nhất hạng.
- Tiếc nhỉ? Tôi cũng không ưa ăn phàm uống tục. Rượu ngon và vui đến mấy cũng chỉ một chén quả đào là tối đa. Nhưng, lúc này đang “đà” chuyện về đại đội trưởng của chúng ta, tôi bỗng nhớ hồi đầu năm kéo nhau đi thắp hương cho anh em ở Núi đanh, đại đa số anh em không phải là lính 363 - nghĩa là không tham dự đánh Xuân trạch, thanh vân đạo tú, núi đanh. Họ hỏi, tôi ú ớ quá, không biết trả lời thế nào. Chán quá!
- Tại sao không trả lời được? Cậu đích thị là lính 363, đánh đủ cả ba trận ấy cơ mà?
- Trời ơi, cậu nghĩ rằng khi ấy tôi là ai chứ? Một tên đội viên quèn, dưới quyền chỉ huy và cai quản của “ông” tiểu đội trưởng Hỉ, liệu “tầm” quan sát và kiến thức chiến thuật, chiến lược tôi có cao hơn đầu ông Hỉ và rộng hơn “xạ giới” của khẩu súng trường trong tay không? Trận nào thì một thằng lính “trơn” như tôi, tai cũng chỉ dỏng lên đợi lệnh của tiểu đội trưởng, và mắt thì căng ra mà nhìn cái mục tiêu “của mình”. Có biết quái gì nữa đâu!
Ông Lục gật gù mái tóc “móng lừa” ra ý thông cảm, nói:
- à, thì ra là thế. Tớ lại khác: Khi còn là lính 363, tớ làm liên lạc cho Ban chỉ huy đại đội. “Tầm” hiểu biết của tớ về các trận đánh “cao” hơn cậu nhiều. Tiếng là lính trơn thật nhưng... lên gặp Ban chỉ huy tiểu đoàn là sự thường; xuống gặp “Ban chỉ huy” các trung đội là cơm bữa! “Thay mặt đại đội” nhận chỉ thị của tiểu đoàn, truyền mệnh lệnh cho các trung đội... “một tay” tớ phụ trách ráo. Định đánh đâu? Đánh kiểu gì? Diễn biến thế nào? Kết quả ra sao... Tớ nắm không sót vẩy nào. Đại đội trưởng của chúng mình lắm khi quá bận quên khối chuyện, phải hỏi tớ đấy. Tớ nói thông văn tự, đại đội trưởng “nể” ra dáng, chứ đừng có tưởng!
Ông Hà thích thú ra mặt, vội hỏi “kháy”:
- ấy là nói cái sự “thông minh” của cậu từ hồi ấy chứ bây giờ chắc là quên sạch rồi, phải không nào?
- Không hề quên một mảy. Cậu tính cả đời lính của tớ chỉ được đánh độc ba trận, nhiều nhặn gì đâu. Quên là quên thế nào? khi con còn nhỏ tớ thường phải kể cho chúng nó nghe, đến khi có cháu tớ lại kể cho cháu nghe. Phải kể để cho chúng nó biết mà tự hào và nhớ ơn các thế hệ cha, ông của chúng nó chứ? Không thể để cho chúng trở thành những kẻ “ăn cháo đái bát” được.
- Rất đúng. Nhưng này, tôi nghĩ: Mấy khi có điều kiện gặp nhau, tôi đề nghị cậu “cấp” cho tôi tí vốn, để tôi cũng được “mở rộng thêm sự hiểu biết” về các trận mà anh em mình đã cùng được dự thời gian đó. Bằng lòng không?
- Tại sao không hỏi đại đội trưởng?
- Tôi đã từng hỏi nhưng anh ấy tỏ ý không “mặn” chuyện, nên không dám khai thác kỹ.
- Vì nhẽ gì vậy?
- Tính anh ấy ít chuyện chứ nhẽ nhủng gì. Cậu đồng ý kể cho tôi nghe chứ?
- ồi, cũng thì ngồi đấu khẩu, công lên việc xuống gì đâu? Ngần ấy năm giời còn được sống mà thấy mặt nhau như thế này là sướng nhất hạng rồi. Cậu mà thích nghe thì tớ tiếc gì...
- Nhưng, yêu cầu phải thật chính xác cơ!
- Yên trí, thằng tớ không quen nói phét một tấc đến giời như thiên hạ đâu...

***

“... Sau chiến thắng Đông Khê, trên đường hành quân về Vĩnh Yên, tớ được đại trưởng “nhót” lên làm liên lạc của Ban chỉ huy đại đội. Khi ấy chỉ có hai vị: Anh vũ đình ý là đại đội trưởng kiêm luôn cả chức chính trị viên, còn anh Ngọc Long, là đại đội phó. Thấy tớ “bị” lên như thế khối đứa đe rằng “cẩn thận kẻo “gần lửa rát mặt” lắm đấy”, thành thử tớ cũng hơi ngại. Nhưng sau vài ngày nếm mùi, tớ lại cảm thấy khoái. Bởi cả anh ý lẫn anh Long đều điềm đạm chững chạc, không ai lèm bèm và cũng không thích “lên mặt”. Đồng thời tớ cũng mất mẹ nó cớ để mắc khuyết điểm, vì chẳng có đứa nào để mà chành chọe...
Về tới Vĩnh Yên, sau một đêm ngủ vạ vật trong một cái xóm nhỏ chỉ có chừng sáu, bẩy nóc nhà và không có dân. Sáng ra, tớ còn nhớ hôm ấy là ngày 25 tháng 12 năm 1950, thì đại đội nhận được lệnh của tiểu đoàn: “Nhanh chóng cho đại đội bôn tập về hướng Liễn Sơn, Xuân Trạch...”. Đại đội lập tức xuất phát. Đến nơi thì có lệnh dừng lại và bố trí cảnh giới ở ven đồi Cọ, hướng mặt xuống một tràn ruộng rất rộng. Qua một đêm, gần sáng cấp dưỡng mang cơm tới. Anh Long cho anh em ăn ngay. Ăn vừa xong trời tang tảng sáng. Tiểu đoàn có lệnh xuống: “Đại đội 363 tiến lên, tìm địch mà đánh. Tiểu đoàn sẽ cho kéo dây điện thoại theo”...
Tớ thấy anh Vũ Đình ý cùng với anh Ngọc Long hội ý rồi quyết định: “Cứ thẳng hướng trước mặt, lội ruộng mà tiến” (bởi vì cả hai anh ấy đều không biết địch ở đâu?). Địa hình trống trải quá, lính ta một phần vì ruộng mảnh thấp mảnh cao rất khó đi; một phần có nhẽ chưa quen cái kiểu “tìm địch mà đánh” vào ban ngày, ở giữa cánh đồng mênh mông như thế này, nên tốc độ tiến quân xem chừng có vẻ dè dặt. Thấy vậy đại đội trưởng không cần hò hét thúc giục gì, anh ấy cứ lẳng lặng dấn bước vượt lên trước. Ba quân xem chừng hơi ngượng mặt, lập tức khẩn trương bám theo. Đại đội tiến được nửa cây số thì cánh thông tin báo cáo “hết dây”. Đại đội trưởng quay điện thoại xin ý kiến trên thì tiểu đoàn chỉ thị: “Dây hết thì bỏ điện thoại lại. Tiếp tục tiến”. Anh Ngọc Long thắc mắc hỏi anh Vũ Đình ý: “Thế thì ai chỉ huy chúng mình?” Anh Vũ Đình ý đáp: “Tiểu đoàn chứ ai nữa!” - “Nhưng điện thoại hết tác dụng rồi?” - “Thì ta tạm thời tự chỉ huy mình vậy!”.
Tớ nghe mà cảm thấy lạ. Cứ ngỡ anh ấy nói đùa, nhưng không phải: Đại đội vẫn tiếp tục tiến như thường. Đi được thêm chừng hai ki lô mét nữa thì gần tới một cái bìa rừng (khoảng cách chừng ba mươi mét). Chợt nghe có tiếng lao xao vẳng ra, đại đội trưởng tức khắc cho đại đội nhanh chóng dàn hàng ngang, và bố trí cho sáu trung liên nhằm thẳng vào cửa rừng, còn ba khẩu hướng về mé phải. Khoảng mười phút sau thì địch ló ra. Cả sáu trung liên của ta lập tức nhả đạn dữ dội, quân địch vội vã co ngay lại. Ta cũng kịp thời ngừng bắn, chờ. Ước độ mười lăm phút sau địch nã đạn súng cối dọn đường rồi cho một toán khoảng hơn một trăm tên xung phong ra. Ta lại nổ súng mãnh liệt, đánh bật chúng trở lại như lần trước...
Hai bên ngừng bắn khá lâu. Ta tranh thủ củng cố lại các điểm hỏa lực, chờ. Gần một giờ sau mới thấy chúng nổ súng mở đường, rồi bộ binh lại hùng hổ gào thét xông ra. Và ta lại một lần nữa đánh bật chúng trở lại...
Trận đánh cứ hệt như chơi trò ú tim. Có một điều tớ lấy làm khó hiểu: Từ đầu trận đến giờ tớ chưa hề nghe thấy đại đội trưởng quát tháo hoặc ra một cái lệnh nào! Chỉ thấy anh ấy cơ động như một con sóc, có mặt khắp mọi chỗ. Hình như sự có mặt của anh ấy là đã đủ cho anh em trong đại đội hiểu rằng họ phải làm gì, không cần đến mệnh lệnh hay lời động viên (về điểm này vô tình anh ấy đã cho tớ học được một “nguyên tắc” quan trọng khi đãlàm bố của một đàn con: Hễ muốn huy động chúng nó làm, tớ chỉ cần có mặt cùng làm là khắc đâu vào đấy...).
Trong lúc ta đang bình tĩnh chờ địch tiếp tục tấn công ra, thì bất ngờ có một bóng người mặc quần áo nâu, từ trong rừng lao bổ ra, cắm đầu chạy thẳng vào các họng súng của ta, hai tay huơ lên rối rít và nhào tới ôm chầm lấy một đồng chí xạ thủ, mồm hổn hển kêu lên: “Các anh ơi, chúng nó rút lui đấy! Rút rồi... rút rồi!”
Không đắn đo một giây, đại đội trưởng bảo tớ:
 Hạ lệnh cho đại đội xung phong!
 Tớ lập tức đứng phắt dậy gào lên vỡ họng:
 - Xung pho...ooong!
 Suốt đời tớ không bao giờ quên được cái tiếng gào “lịch sử” ấy!
 Cả đại đội ào ào xông lên sau tiếng gào của tớ. Thế là lập tức tớ bám sát gót đại đội trưởng... như đỉa đói. Lọt được vào cửa rừng, tớ nhìn thấy xác địch nằm ngổn ngang, tinh tây! Đứa trắng, đứa đen nom rất tởm. Đuổi một hồi thì tóm được khúc đuôi của bọn chúng. Quân ta thét lên gọi hàng, bọn địch vứt vội súng xuống và giờ tay nhanh như chớp. đại đội cố đuổi thêm một quãng nữa, địch vẫn mất hút. Đại đội trưởng bảo anh em dừng lại bắt trói tù binh kẻo chúng chuồn mất. Tất cả được hơn bốn mươi tên không kể những tên đã chết.
 Lần đầu tiên xung trận, lại đánh thắng ngon như “ăn óc chó”, tớ khoái không để đâu cho hết. đại đội trưởng cho quân nghỉ tại chỗ, được chén chiến lợi phẩm: bánh bích-quy, kẹo sô-cô-la với thuốc lá “cờ-la-ven A, phi-líp mo-dít”... nhiều vô kể. Lính chén thả phanh. Đang thú vị tình tang ních bánh tây, kẹo tây, hút thuốc lá tây thì máy bay của chúng nó ầm ầm lao tới rú rít inh tai nhức óc. Bọn tù binh nhớn nhác hoảng loạn tìm chỗ ẩn núp. Đại đội trưởng bảo anh em xé những tấm bạt của địch để bọc chiến lợi phẩm, sai lũ tù binh đội. Rồi cho đại đội rút.
 (Sau đấy vài hôm, nghe nói tiểu đoàn 154 đã bắt gặp bọn bại binh địch vửa xổng khỏi tay C.363 của chúng ta, họ đánh tiếp và tóm được một tên quan tư...).
 ông Hà ngồi nghe chăm chú, rất lấy làm vừa ý, gật gù mãi rồi khen:
- Cậu nhớ chi tiết thật. Tôi thật không ngờ, cậu còn có tài kể chuyện, nghe rất mạch lạc và dễ hiểu. Giỏi lắm. Ta nghỉ một tí rồi vào làm “tăng hai” chứ?
- ối dào, cậu có nhọc thì cứ nghỉ chứ tớ thì vần gì. Con nhà lao động chân tay, ngồi nói chuyện thế này khác gì nghỉ giải lao giữa buổi làm nương?
- Nếu vậy ta làm luôn cho gọn nhỉ?
- Chứ sao? à, còn một việc quên chưa kể: Sau trận ấy, tớ nghe đại đội trưởng nói với đại đội phó: “Công bằng mà xét thì một nửa thành quả của trận đánh này phải chia cho người phu đã liều chết xông vào trước mũi súng của ta để báo tin bọn tây đã rút”. Và anh ấy cứ ân hận mãi về việc đã không kịp hỏi tên, địa chỉ của người phu đó!
Đúng,đúng . Mãi cho tới gần đây tôi còn được nghe anh ấy than thở như vậy. Kể cũng tiếc thật. Một con người yêu nước, ghét quân giặc đến quên cả mạng sống của mình mà không được khen thưởng thì quả là áy náy.
ông Lục chép miệng:
- Ôi, tiếc vuốt đuôi, chả ích gì. Thôi, ta tiếp tục: Đại đội được nghỉ ngơi từ 27 tháng 12/1950 cho đến sáng ngày 14 tháng1/1951 nhận được lệnh của tiểu đoàn: “C.363 cấp tốc hành quân đến Thanh Vân, Đạo Tú, đợi địch”. Đại đội trưởng lập tức sai tớ truyền lệnh cho các trung đội khẩn trương xuất phát. Đến Thanh Vân, đạo Tú đại đội trưởng cho đại đội chiếm lĩnh trận địa dưới chân một quả đồi, trên bờ một con mương có “tà-luy” cao chừng ba mét, trông thẳng ra một tràn ruộng rộng; cách xa khoảng một nghìn mét có đường ô tô chạy. Trên lưng chừng một quả đồi phía sau (chếch về trái một chút) thấp thoáng có người và vũ khí, chứng tỏ trận này đại đội sẽ được chiến đấu trong đội hình của tiểu đoàn, và như vậy có nghĩa rằng trận đánh có “tầm cỡ” đáng kể...
Đại đội triển khai đội hình rất nhanh, thoải mái chờ lênhmj. Choảng chừng tám giờ sáng thấy địch xuất hiện. Chúng không đi theo đường ô tô mà lại lội bộ theo đường ruộng, dừng lại trên cánh đồng, ngay trước mặt trận địa của tiểu đoàn... để... nghỉ ngơi. Tớ ngứa ran cả người, chốc chốc lại nhìn trộm đại đội trưởng, thấy mặt mũi anh ấy vẫn cứ thản nhiên. Tớ cáu lắm nhưng không dám há mồm “chất vấn”. May sao đại đội phó bò đến thì thào hỏi đại đội trưởng: “Ngon thế kia, anh tính sao?”. Đại đội trưởng đáp: “Đánh độc lập thì muốn sao tùy ta. Đánh trong đội hình tiểu đoàn thì phải chờ lệnh đã”. Thế là tớ hiểu ra vấn đề...
Chờ chừng non một giờ, lệnh chưa thấy đâu đã thấy máy bay kéo đến gào rống ầm ĩ. Chúng nhanh chóng nhào xuống bắn phá và ném bom thẳng vào đội hình bố trí của đơn vị trên đồi mé sau đại đội ta.
Ông Hà góp lời:
- Tôi nhớ rõ trận ấy. Nói thực, cho đến bây giờ tôi vẫn thắc mắc...
- Thắc mắc về cái khoản nào?
- Về hai điều: Một là, cái đơn vị bạn chiếm lĩnh trận địa phía sau đại đội ta ấy là có thật hay chỉ là nghi binh? Nếu là thật thì nó biến đâu khi ta đánh, nó không tham gia? Hai là, có lẽ bọn Pháp không chủ trương hành binh với mục đích là lên chỗ ấy để ngồi chơi suông mấy tiêngs đồng hồ rồi rút, như tình hình thực tế lúc bấy giờ...
- Ơ, chả đúng là chúng đến và dừng lại đấy chán chê rồi rút, là gì?
- Thì thế mới nên chuyện! Cứ như “kiến thức quân sự” của tôi bây giờ mà xét, thì dám đoán rằng: Đơn bị bố trí “trên đầu” ta là có thật. Nhưng “các thầy” ấy chủ quan khinh địch, bố trí cẩu thả quá, khiến bọn địch hành quân đến đấy đã phát hiện ra, lập tức gọi máy bay tới dội bom! Thế là “các thầy” ấy rút êm bỏ mặc đại đội ta nằm lại một mình.
- Nhưng, còn bọn Pháp. Nếu biết rõ thế thì tại sao khi máy bay quần thảo xong, chúng không hè nhau xông lên?
- Vì nó sợ vẫn có thể chạm trán quân ta chứ sao nữa.
- ờ, nếu vậy tớ có thể hiểu được. Có lý đấy.
- Thôi, kết thúc chuyện ngoài lề. Cậu tiếp tục kể về trận đánh ấy đi.
Ông Lục ngẫm nghĩ như cố nối lại, rồi cất tiếng:
- Máy bay chúng nó quần đảo chán rồi chuồn thẳng. Lúc ấy đã vào khoảng mười giờ sáng. Tất cả trở lại im ắng. Bọn địch không đi tiếp, vẫn cứ ngồi ì cha chúng nó tại đấy. đại đội trưởng cũng vẫn gan lì cóc tía, kiên nhân ngồi đợi lệnh. Đến khoảng mười hai giờ thì bỗng thấy bọn Pháp rục rịch động đậy, chỉnh tề đội ngũ rồi... quay đằng sau! Anh Ngọc Long đại đội phó đến hỏi đại đội trưởng: “Kiểu kia, xem chừng chúng rút, anh định thế nào?”. đại đội trưởng rút súng, đáp:
- Cậu ra lệnh cho đại đội xung phong đi!
Nói dứt lời anh lập tức nhảy ngay xuống mương, lội ào ào sang bờ bên kia. Tất cả đại đội đều trông thấy, thế là tiếng hô xung phong của đại đội phó chưa dứt thì cả đại đội đã ào ào nhảy xuống mương, bám theo sát gót đại đội trưởng, ai nấy hò hét đuổi hết tốc lực. Bọn Pháp giật mình, ngoái lại thấy quân ta dũng mãnh truy đuổi thì mất vía ngay, đứa nào đứa nấy vứt súng cắm đầu chạy thục mạng. Toán địch chạy cuối hoảng loạn quá vội giơ tay hàng. Ta tóm sống được hai mươi sáu tên, tinh Âu-Phi. Đại đội cố đuổi thêm chừng nửa cây số nữa thì hết sức, đành “tha” cho chúng nó để “làm phúc”...
Ông Hà gật đầu:
- Công nhận, cậu nhớ giỏi đấy. Trận ấy được ngồi suông ở chỗ rộng rãi, “tầm mắt” của tôi, không kém gì cậu đâu. Chỉ có cái tai là : “hẹp” hơn cậu, chẳng nghe được gì. Hôm nay cậu nói tôi mới biết.
- Cậu biết không? Sau trận ấy tớ cứ nghĩ mãi, không hiểu đại đội trưởng của mình tự ý cho đại đội xung phong đuổi địch như thế là đúng hay sai? May hôm ấy thắng chứ nếu thua thì không khéo bị ốm đòn với tiểu đoàn chứ chả chơi đâu. ý cậu thế nào: Đại đội trưởng hành động như vậy là đúng hay sai?
Ông Hà lắng nghe, trầm tư suy nghĩ, rồi đáp:
- Đó là vấn đề rất tế nhị. Bởi, là một anh lính trơn hiểu sao được tình huống nọ kia, ý đồ tác chiến và v.v... của cấp trên về cả một trận đánh? Hơn nữa, đứng ở vị trí và kiến thức hôm nay để phán xét một trận đánh năm mươi năm về trước, tôi e rằng sẽ dễ rơi vào chủ quan lệch lạc. Tuy nhiên, ở một mức độ hạn chế, tôi nghĩ đại đội trưởng của chúng ta đã hành động đúng. Và chắc rằng dù chẳng may có thua thì tiểu đoàn cũng sẽ “làm ngơ”, không tra cứu gì đâu. Bởi về nguyên tắc, người lính ra trận mục đích cao nhất là tiêu diệt địch. Có cơ hội đánh được mà mượn cớ này, cớ kia để cho qua, đó là người lính tồi. Trên cơ sở ấy mà xét thì đại đội trưởng của ta quyết định đánh là hoàn toàn đúng. Vì chờ lệnh đến mức ấy là quá đủ rồi, nấn ná thêm chút nữa là sẽ có tội với cách mạng. Vì chắc chắn quân địch sẽ thoát thân...
- Tớ hiểu rồi. Cậu nói rất có lý, đánh là đúng thật.
- Nhưng, trong suy nghĩ của cá nhân tôi thì vẫn còn một điều mà mỗi khi nhớ lại trận đánh ấy, là tôi lại rất tiếc...
- Tiếc cái gì?
- Tiếc là, nếu như hôm ấy có một vị trong ban chỉ huy tiểu đoàn có mặt tại đấy, là tiểu đoàn phó thôi cũng được, thì rất có khả năng chúng ta sẽ “xơi tái” cả cái tiểu đoàn Âu Phi ấy.
- Cậu nói nghe khó lọt tai quá. Thêm một ông tiểu đoàn phó thì chẳng qua chỉ thêm được một khẩu súng lục, ăn nhằm gì?
- Khẩu súng lục cậu đưa vào đây chẳng dọa được ai hết. Tôi chỉ quan tâm đến cái chức của ông ta. Tôi hỏi cậu: Ví thử có mặt một ông trong Ban chỉ huy tiểu đoàn tại đấy (mà trong “luật nhà binh”: khi có quá nửa đơn vị đi làm nhiệm vụ, thì nhất thiết phải có mặt người chỉ huy),thì liệu cái đại đội bạn (không biết là một đại đội hay hai) ở bên cạnh và đằng sau chúng ta... ấy, có dám rút êm, bỏ mặc đại đội chúng ta trơ trọi nằm lại như thế không? Có mà bố bảo cũng không dám. Phải vậy không? Và, cậu thử hình dung: Nếu có cả các đại đội bạn ở lại, dưới sự chỉ huy thống nhất của Ban chỉ huy tiểu đoàn... nghĩa là với hỏa lực của hai mươi bảy khẩu trung liên cùng với ngót ba trăm khẩu súng trường đã “bật lê”... nhất tề xông lên, lao thẳng vào đội hình của một tiểu đoàn giặc đang nằm ngồi ngổn ngang giữa một khu đồng không mông quạnh! Liệu chúng có kịp “trở tay” không? nên nhớ, cự ly xuất phát xung phong chỉ chừng trên dưới một trăm mét. Vậy mà, chỉ có... nhõn một “cái 363” của chúng ta! (tôi nói vậy là vì nếu có Ban chỉ huy Tiểu đoàn thì không ai chờ khi chúng rút mới ra lệnh xung phong...).
Ông Lục đứng phắt dậy, hét lên:
- Thánh thiên tử! ừ nhỉ, cả một tiểu đoàn dưới sự chỉ huy thống nhất của ông tiểu đoàn trưởng mà “tung hoành” thì cái tiểu đoàn Âu Phi ấy chắc chắn là... ra bã. Tiếc thật!
Ông Hà vui vẻ kéo ông Lục ngồi xuống, và nói:
- Làm gì mà hăng hái thế? Việc dù hay, dở thì cũng đã trở thành quá khứ rồi. Nói lại cho vui vậy thôi, ăn thưởng ăn phạt gì đâu! Thôi ta kết thúc trận thứ hai ở đấy. Sang trận thứ ba đi.
Ông Lục tặc lưỡi đáp:
- Trận thứ ba ăn nhạu là ở cái tinh thần “đội phi pháo địch mà đánh, thà chết không lùi”, chứ có tóm được một thằng tây, thu được một khẩu súng hoặc thùng lương khô quái nào đâu... mà thành tích?
- Cậu, đúng là một tên... đại ngốc! Đánh trận mà chỉ nhăm nhăm coi việc bắt tù binh với thu chiến lợi phẩm làm mục đích, thì... vứt. Thưa với cậu: Núi Đanh là một trận đánh “lừng lẫy tiếng tăm” đã được lưu tên trong sử sách đấy! Cậu biết không: Trong tập sách nói về thành tích của đại đoàn 312 trong cuộc kháng chiến chống Pháp (do Nhà xuất bản Q.Đ.N.D. ấn hành năm 1963) có nêu rõ tên Bẩy trận đánh tiêu biểu và danh sách sáu người chỉ huy xuất sắc của đại đoàn. Trong đó có trận núi đanh và tên anh đại đội trưởng của chúng ta. Cậu có hiểu điều đó có ý nghĩa quan trọng thế nào không? Nó khẳng định trên giấy trắng mực đen rằng “Trận Núi đanh cùng với đại đội trưởng của chúng ta đã trở thành Bất tử”. Ông Lục tỏ ra hết sức hoài nghi, lắp bắp hỏi:
- Cậu... cậu lại... lòe tớ?
- Ngốc ạ, tôi lại đến phải quán triệt mục đích ý nghĩa và tầm quan trọng của trận Núi Đanh cho cậu vậy. Trước hết tôi hỏi: Có phải trong kháng chiến chống Pháp quân ta chỉ giỏi đánh đêm và đánh ở vùng rừng núi, đúng không?
- Đúng thế!
- Vậy trận Núi Đanh ta có đánh về đêm và đánh trong rừng không?
- Không hề.
- Như vậy có nghĩa lần đầu tiên chúng ta công khai chiếm lĩnh trận địa đánh nhau với địch giữa ban ngày, giữa vùng đồng bằng trống trải. Cũng tức là ta chấp nhận “thử sức” với xe tăng, đại bác, máy bay... những thứ được coi là sức mạnh vô địch của đối phương?..
Ông Lục gật đầu lia lịa, cướp lời:
- Hiểu rồi, hiểu rồi. Tóm lại, trận Núi Đanh không chỉ đơn thuần là một cuộc đọ súng thông thường, mà trên còn có ý lấy cái 363 của chúng ta làm một cuộc thí nghiệm, thử xem phi pháo của bọn tây có dọa được quân mình không, chứ gì?
- Cậu hiểu ra vấn đề rồi đấy. Thôi, ta sang “bài” mới đi!
Ông Lục thoải mái nói ngay:
- “Bài này” thì tớ đã kể hàng trăm lần cho con cháu tớ nghe, coi như đã thuộc lòng. Tối ngày mười lăm tháng một năm năm mốt, đại đội đến vị trí tập kết tại Hữu Thủ, ở gần kề con đường đất dẫn lên Tam Đảo. Đứng đấy trông sang núi đanh rất rõ.
Sáng sớm hôm sau, tiểu đoàn có lệnh: “Quân Pháp đang tiến chiếm cao điểm núi đanh. C.363 nhanh chóng xuất phát chạy thi với địch. Phải giành ưu thế trước...”
Đại đội lập tức băng qua một mảnh rừng, lội qua một tràn ruộng nước, nhằm thẳng núi Đanh lao tới. Chạy được tới chân núi đanh thì chững lại, bởi gai góc bùm tum quá, không sao len lách vượt lên được. Đại đội trưởng đành cho đại đội chạy vòng theo chân núi để tìm lối. Tìm được chỗ thưa cây thì lại dốc quá, đành cứ phải thúc nhau leo vậy thôi. Anh nào anh nấy đứt hơi mà không dám dừng lại để thở. Cuối cùng cũng lên được đến đỉnh núi Đanh, vội trông xuống thấy bọn Pháp cũng đang lóp ngóp bò lên, còn cách ta chừng sáu mươi mét. Thì ra bên nó dốc thoải hơn bên ta nhiều, vậy mà bọn chúng tiến rất khó khăn. Ta khẩn trương triển khai đội hình vừa tạm ổn vừa lúc địch đã tiến tới cách ta chỉ chừng hăm nhăm mét. máy bay của chúng gào tú điên loạn, đại bác réo qua đầu nghe chói tai. Chờ cho bọn tây tiến đến chỉ còn cách chừng mười lăm mét đại đội mới nổ súng. Hai bên bắn nhau dữ dội một chập thì kẻ địch núng thế, phải lui xuống. Biết không thể xung phong truy kích được vì đối pưhưong đông hơn ta ước tới bốn lần, đại đội trưởng vội viết báo cáo vắn tắt gửi về tiểu đoàn: “Địch có chừng bốn trăm quân trang bị mạnh. Dưới chân núi có cả xe hậu cần đi theo. Máy bay và đại bác của chúng hoạt động rất ráo riết. Để bảo đảm chắc thắng, xin tăng viện thêm một C trợ chiến”. (Sau năm giờ chiến đấu vẫn không thấy chi viện... đến).
Hai bên cứ thế giằng co. Chừng nửa giờ địch lại xung phong lên một lần, ta lại giáng trả kịch liệt, chúng lại lui xuống. Trước sau đến tám lần. Số thương vong của địch là bao nhiêu không biết, còn về phía ta, đại đội xuất phát có trên dưới một trăm quân, lúc này chỉ còn chừng hai mươi tay súng. Anh Ngọc Long than thở: “Tiếc đứt ruột, giá như có thêm một C. trợ chiến thì tôi tin ta “xơi tươi” chúng nó! Đại đội trưởng lặng thinh không trả lời, cứ thản nhiên len lỏi bước đi. Số thương vong đã chiếm tới bốn phần năm đại đội. Anh em tuy đã quá đói và mệt. đặc biệt là sức ép của tiếng máy bay gầm rú và đại bác rít gió xé màng tai, khiến cho thần kinh bị chấn động, ghê gớm. Nhưng không một người nào chùng tay súng, vẫn gan lì đẩy lùi mọi đợt xung phong của chúng. đúng vào thời điểm ấy thì đại đội trưởng trúng đạn gãy đùi bên trái. Y tá Xuân bình tĩnh, dũng cảm phơi mình ra trước hỏa lực của địch để cấp cứu cho đại đội trưởng. Tớ lúc ấy cũng đã nhận một phát đạn xuyên qua vai trái đây này. Sự bị thương của đại đội trưởng rõ ràng có lợi cho địch. Chỉ dăm phút sau, anh Cường trung đội trưởng đến báo cáo “Một toán địch luồn phía sau quân ta, đã lên được đỉnh núi. Xin cho rút để bảo vệ thương binh” (chừng bốn chục anh em). đại đội trưởng bảo: “Tập trung hỏa lực dồn địch xuống mở đường đưa thương binh ra”. Anh Cường nhanh chóng thực hiện...
Ra khỏi vòng chiến điểm lại còn mười tám anh em tiếp tục chiến đấu được (kể cả bị thương nhẹ). Bốn mươi hai anh em nằm lại núi Đanh. Số còn lại đều vào bệnh viện Bỉnh Di điều trị (trong đó có cả tớ với cậu). Vậy là hết chuyện. Và tớ cũng chia tay với C.363 kể từ đấy.
Ông Hà nói:
- Nói chung trận đánh là như vậy, tôi đồng ý. Nhưng “nói riêng” tôi muốn hỏi cậu: Cậu có ấn tượng như thế nào đối với trận đánh ấy?
- ấn tượng với ấn tủng quái gì đâu. Tớ chỉ nhớ có hai điều: Thứ nhất, có nhẽ đến nửa tháng sau hai cái tai tớ nó mới hết tiếng ve sầu rên rỉ trong màng nhĩ! Thứ hai, tớ cứ nghĩ vụng một mình: May mà cái 363 của mình không có tên nào “yếu bóng vía”... những không khéo mà đến “đái ra quần” cả lũ. Những năm tiếng đồng hồ đinh tai nhức óc như thế cơ mà? Nhưng, nói toạc “tim đen” ra thì phải công nhận rằng “ăn nhau” là ở người chỉ huy. Chẳng hiểu đại đội trưởng trong máu có chứa chất gì mà “kinh” thế không biết! Suốt trận đánh cứ như con thoi, lao bổ qua lại khắp mọi nơi mọi chỗ...
- Hoàn toàn đúng. Tôi cũng đánh giá: Trậnh núi đanh nếu có điều gì đáng ghi nhớ nhất, thì đó chính là “Chiến sĩ núi đanh ai nấy đều có một hệ thần kinh bằng thép!”
Ông Lục bỗng như nhớ ra điều gì, vội hỏi:
- Này, cậu có biết sau trận ấy 363 của chúng ta có anh nào được trên tặng huân chương không nhỉ?
- Anh Vũ đình ý được thưởng huân chương quân công, ngoài ra có anh nào được thưởng huân chương gì khác nữa, thì tôi không biết.
Ông Lục cười hể hả:
- Có thế chứ. Ông anh “chơi” một quân công trong một trận đánh cụ thể. Làm một anh lính ra trận mấy ai với cao” được đến thế?
ông Hà cũng cười, nói thêm:
- Chưa hết đâu. Trong “kho” ảnh Bác Hồ chụp với anh em “con nhà lính” chúng ta, có một bức chụp Bác đứng bắt tay với đại đội trưởng Vũ đình ý của chúng ta đấy. Và tấm ảnh ấy còn được trưng trên tờ báo ảnh của Quân đội nhân dân cơ nhé...
- Cậu... ba hoa! Làm đếch gì có chuyện ấy?
- ấy vậy mà đại đội trưởng của chúng ta lại chiếm được cái giải “độc đắc” ấy mới kỳ lạ chứ!
Thật chứ?
- Rất thật.
Ông Lục ngồi ngây thộn ra trên ghế một lúc lâu, rồi rền rĩ:
- Ôi trời đất, cha mẹ ơi! Vậy thì đại đội trưởng của chúng ta “chiếm ngôi bá chủ thiên hạ rồi”. Đằng thằng ra mà nói: Một đời người, khi còn trai trẻ cầm súng ra trận chiếm huân chương quân công trong một trận đánh cụ thể đã là chuyện hiếm. Vậy mà khi về già còn dám mang cái chân cụt đi bơi thi, đua tài với cụ già cả nước, chiếm tới tám chiếc huy chương đủ loại vàng, bạc, đồng! Hai giai đoạn quan trọng của một đời người, đều “cưỡi đầu thiên hạ” (1), thật đáng mặt “trai hùng nam quốc” quá rồi! Lại còn được chụp ảnh Bác Hồ bắt tay thương binh nữa, thì quả thật... có một không hai, đấy nhỉ?
Ông Hà cười tủm tỉm, đáp:
- Điều ấy cậu phải viết thư gửi Đài truyền hình Trung ương đề nghị họ nhờ giáo sư sử học giải đáp, chứ “cái thứ tôi” trình độ còn “mỏng” lắm, không dám trả lời đâu...
Đến đấy, hai người lính già đã ở vào cái tuổi “cổ lai hy” bất giác cùng vỗ đùi cười vang. Cứ y như cái thời họ còn là những anh lính trơn của đại đội 363 ngày ấy...

Hà Nội, một ngày cuối Thu năm 2000


================


(1) Mượn ý câu thơ trong bài di chúc của cụ Nguyễn Khuyến.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
Kẻ bội ước ấy, bây giờ...


Từ sau ngày quân ta về tiếp quản Thủ đô, ngẫu nhiên thành lệ:

Hằng năm, cứ đến ngày 10 tháng 10 là ngôi nhà xinh xắn có mảng sân lát gạch Bát Tràng đỏ au của gia đình ông Thiện, lại có cuộc họp mặt các anh chị em trong gia đình cùng dăm bẩy người bạn thân thiết. Họ tụ tập về đây là do nhu cầu tự thân của mỗi người, không cần đến sự mời chào của chủ nhà. Bởi, phần lớn trong bọn họ, từ một góc vắng rất riêng tư trong tâm hồn, đã được lưu giữ rất sâu về một ngày 10 tháng 10 năm nay, trong đám khách khứa “không mời mà cứ đến” ấy, có thể thiếu vắng người này hoặc người kia, chứ vẫn không hề vắng mặt một cặp vợ chồng từ ở tỉnh xa về. Người chồng là một cựu chiến binh mặt vuông chữ điền, dáng người cao lớn đậm đà. Ông mặc bộ lễ phục sĩ quan cấp tá (mặc dù tiết trời Hà Nội đang “rộ” nắng hanh vàng, ông vẫn đóng nghiêm chỉnh đủ cả sơ-mi trắng cổ cồn với cà-vạt đen cùng giầy da cao cổ), xách theo một va li hành lý xem chừng khá nặng! Người vợ trang phục theo cung cách nửa tỉnh nửa quê: Mái tóc dài, dầy đã pha sương vấn trần, được cài một chiếc kẹp to mầu cánh gián có in những đóa hoa cúc trắng; chiếc áo vét len đan mầu sữa khoác ra ngoài áo sơ mi cổ cánh nhạn mầu xanh da trời, quần lĩnh đen có vân hoa chỉ buông gấu tới mắt cá chân, đi đôi dép nhựa mầu cá vàng không quai hậu... Trên vai bà vợ là một gánh “cây nhà lá vườn” Gồm một chiếc sọt đằng trước đựng đầy những gói to, gói nhỏ cùng với cam, mít và dứa; đằng sau là một chiếc bu đại nhốt đôi gà sống thiến to sụ cùng với dăm bẩy cô gà mái tơ...

Trên gương mặt cả hai vợ chồng ông cựu chiến binh đều sạm nắng và lấm tấm mồ hôi, song vẫn hân hoan, tươi tắn tràn trề hưng phấn...
Nghe tiếng chuông reo, bà Thiện vội ra mở cổng, reo lên vui vẻ:

Ôi, cả nhà ơi! Chú Khải, cô Thu về rồi đây này!

Ông Thiện cùng vợ chồng người em gái (là bà Cẩm Vân và giáo sư Lên Hân) đang ngồi chuyện vãn, nghe tiếng bà Thiện reo, cùng vội chạy ra đón khách. Giáo sư Lê Hân vui vẻ hỏi ngay:

- Sao “các cậu” không sang rủ vợ chồng Văn Hùng, Cẩm Tú cùng về một thể?

Bà Thu nhanh nhảu đáp thay chồng:
- Chúng em có sang rủ đấy chứ ạ. Nhưng bác Hùng vẫn giữ chân đảng ủy, mà xã bên ấy đang làm đường dân sinh, bận lắm ạ.

Ông Thiện nói chen vào:

- Cái anh chàng Hùng mắc bận thì mặc xác nó, cô Cẩm Tú bận gì mà không về được?

Bà Thu đưa mắt nhìn chồng. ông Khải cười hềnh hệch, đáp:
- Ôi giời, bọn “nhà quê” chúng em thì có bao giờ hết việc? Tinh những việc không tên ý mà. Với lại dạo này cô ấy cũng không được khỏe. Chiều qua em phóng xe sang mời, cô ấy bảo em về xin lỗi anh chị với “ông bà giáo sư Hân” giúp cho cô ấy...

Nghe ông Khải nói vậy, Bà Thiện vội hỏi:
- Sao hả? Cẩm Tú ốm ư? ốm thế nào? Lâu chưa?

Ông Khải bối rối lắc đầu:
- Dạ, không sao đâu ạ. Nhức đầu, sổ mũi qua quít thôi mà.

Bắt gặp cái vẻ lúng túng ấy của ông Khải, giáo sư Lê Hân lập tức nói chen ngang vào:
- Chị em các bác lạ thật! Vào trong nhà cho thoải mái rồi hãy đôi hồi có hơn không? Bắt tội bác Thu đứng mãi thế này sao?

Nghe em rể nhắc khéo, bà Thiện vội đỡ gánh cho bà Thu, đồng thời ân cần trách:

- Đã dặn mãi rồi. Của một đồng công một nén! Bỏ thì giờ công sức ra được với anh chị là quí lắm. Tha lôi nhiều thế này cho ốm người ra chứ. Bây giờ nhờ giời cũng khấm khá rồi, có đói rách như thời bao cấp nữa đâu mà bảo...


Bà Thu được dịp “thanh minh”:
- Em biết chứ ạ. Có điều, tinh những thứ tay chúng em làm ra cả. Phải cho chúng em được dịp khoe với các bác ngoài này chứ ạ?
Mãi tới lúc này bà Cẩm Vân mới nháy mắt với ông Khải và cười cợt nói với bà Thu:

- Cậu chẳng cần khoe thì tôi cũng đã biết tài của cậu từ lâu rồi kia, đâu phải chờ đến tận giờ? Đúng không?

Nghe cái giọng “ba-lơn” vui vẻ, nhất là chạm vào cặp mắt lấp lánh nét tinh quái rất quen thuộc của bà Cẩm Vân, bà Thu bất giác đỏ mặt và làm ra vẻ sửng sốt reo lên:

- Ôi! Thế ra anh chị đã lên nhà tầng từ khi nào mà chẳng thèm gọi chúng em một câu, để chúng em về mừng?

Bà Thiện thật thà giải thích:
- Thằng cháu Toàn nó gửi tiền về và giục chúng tôi làm lại nhà để đón vợ chồng con cái nó về thăm gia đình. Thế là anh cô gọi thợ đến làm. Chẳng chọn ngày, cũng chẳng ăn mừng ăn mõ gì. Làm xong lập tức ở ngay. Cô chú muốn trách thế nào tôi xin nhận tất.

Bà Thiện vừa dứt lời, ông Thiện tiếp luôn:
- Chuyện nhà cửa nói thế đủ rồi. Tôi tranh thủ bàn công việc đây: Chú Khải, cô Thu đi mệt cứ nghỉ ngơi thoải mái đã. Bà Hạnh với cô Cẩm bắt tay vào chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ đi; chờ chú Khải bớt nhọc thì muốn bày vẽ gì, bốn chị em cứ tự do tùy thích, đừng trông mong gì vào tôi với chú Hân đấy. Nghe rõ chưa nào?

Ông Khải tươi cười đáp ngay:
- Anh yên tâm. Tay dao tay thớt đã có em. Năm nay anh chị có mời thêm người nào không ạ?
- Cứ theo lệ cũ: làm mười lăm suất là vừa. Thừa thiếu đâu mặc, có chết ai mà lo...
Dăm năm đổ lại đây, nhờ có người con trai đi du học rồi lưu vong luôn ở nước ngoài, rất năng gửi tiền về tự giúp gia đình. Nên ông bà Thiện thường có tổ chức tiệc mặn đón khách. Lâu lâu thành lệ.
Sáng hôm sau, khi cuộc tiếp đón và khoản đãi bằng hữu vào ngày kỷ niệm Thủ đô giải phóng đã đi qua. Ông bà Khải đã có lời xin phép lên Ba Đình từ sớm xếp hàng để được vào lăng viếng Bác. ở nhà chỉ còn lại hai vợ chồng. Lo liệu cho chồng ăn sáng xong, trong lúc ngồi uống nước, bà Thiện e ngại gợi hỏi:

Cuộc họp mặt lần này, tôi thấy hình như ông không được vui, phải vậy không? Có chuyện gì thế ạ?

Nghe vợ hỏi, ông Thiện lặng thinh hồi lâu mới khẽ thở dài, buồn rầu thổ lộ:
- Có lẽ tôi phải thu xếp đi thăm xem em Tú thế nào, bà ạ!

Bà Thiện nghiêm trang lắng nghe từng lời chồng nói, rồi gật đầu đáp:
- Tôi cũng thấy cần phải lên thăm cô chú ấy một chuyến mới phải. Nhưng, vợ chồng mình cũng nên thống nhất ý kiến xem nên đi vào thời gian nào là tiện, mang theo những gì để còn chuẩn bị.

Ông Thiện nhìn vợ đăm đăm, rồi lại thở dài, khẽ nói:

- Em Tú lấy chồng,l đi làm dâu đã ngoài ba mươi năm rồi. Bà có biết mỗi khi nhớ đến cô ấy tôi nghĩ gì không? Cùng là hạt máu của cha mẹ sinh thành, tài đức nào có hơn kém gì nhau, trong ba anh em tôi, khi thầy đẻ tôi còn sống em Tú là đứa thông minh nhất nhà và cũng được cưng chiều nhất nhà. Vậy mà...

Rất thông cảm với tâm sự của chồng, bà Thiện nhẹ lời an ủi:
- Trời sinh ra mỗi con người có một số phận riêng, số cô ấy thế biết làm sao khác được. ông có buồn rầu cũng chẳng giải quyết được gì, tôi nghĩ tốt nhất là vợ chồng mình nên tìm cách giúp đỡ cô ấy một cách thực tế, thì hơn.

Ông Thiện giương mắt ngạc nhiên nhìn vợ và hỏi:

- Giúp một cách thực tế à? Là thế nào?

- Thì... nhà cửa làm xong rồi. Đồ đạc ta chẳng mua sắm mới có sao đâu? Còn dư gần chục triệu đấy, ta mang lên giúp cô ấy...

Nghe vợ nói vậy, ông Thiện ngồi lặng thinh suy nghĩ, rồi khẽ nói:
- Tiền à? Nếu quả thực chỉ cần mang lên đưa tay cho Tú gần chục triệu là coi như đã góp được phần giải quyéet vấn đề về căn bản, tôi còn mong ước gì hơn? Nhưng, hình như vấn đề không đơn giản như vậy đâu.

Đã rất nhiều lần kỷ niệm ngày 10 tháng 10 cùng với những kỳ giỗ chạp, lễ tết... vắng mặt vợ chồng Tú và hiếm khi hai vợ chồng Tú với Hùng cùng về Hà Nội với nhau. Và, mỗi khi thấy vậy ai cũng tỏ ra thắc mắc ngỏ lời hỏi, để rồi cùng dễ dàng bỏ qua sau khi được nghe “đương sự” viện ra vô vàn lý do để biện bạch cho sự vắng mạt “bất khả kháng” của chồng hoặc vợ mình. Riêng với ông Thiện, tuy không thoải mái về những lời biện bạch của em gái hoặc em rể và trong lòng rất không vui, nhưng ông cũng chỉ biết thở dài cam chịu.

Cho đến lần này...

Ông Thiện từ từ rời bàn nước, vào giường nằm vắt tay qua trán nghĩ ngợi miên man...

Câu chuyện có thể coi như được bắt đầu từ cái ngày mồng mười tháng mười năm sáu mươi. Hôm ấy gia đình đại úy Thiện như lệ thường, có một cuộc họp mặt vui vẻ với dăm người đồng đội, cùng là dân Hà Nội, cùng ra đi kháng chiến và cùng được trở về tiếp quản Thủ đô từ tay giặc Pháp (vào cái ngày mười tháng mười năm năm tư không thể nào quên được ấy), để cùng nhau “ôn cố tri tân” bên ấm trà “chín hào ba” cùng vài gói thuốc lá Trường Sơn quí hiếm (1). Thình lình có tiếng người gọi cổng (thời bấy giờ chưa mấy nhà có chuông điện)

Cô em út ít Nguyễn Thị Cẩm Tú mười tám tuổi, nữ sinh năm cuối cùng ban tú tài, nhanh nhẹn chạy ra mở cổng...

Ai nấy đều tỏ ra ngạc nhiên khi thấy một anh con trai rất trẻ, dáng dấp khỏe mạnh, khôi ngôi nhưng cử chỉ lại hết sức vụng về, bẽn lẽn. Bộ quần áo anh ta mặc trên người nom cũng rất lạ mắt: Một bộ đồng phục mới toe mầu xanh thợ, hình như còn nguyên cả nước hồ chưa kịp giặt (không hề thấy bầy bán ở các quầy hàng mậu dịch). Mọi người còn đang đưa mắt hỏi nhau. Bất chợt đại úy Thiện đập tay xuống đùi rất mạnh, kêu lên:

Thằng Khải! Đúng không?

Anh con trai đỏ bừng mặt, mừng rỡ gật đầu, vội đáp:
- Vâng, em đây ạ!
- Tốt nghiệp rồi hay là về phép đấy?
- Dạ, em tốt nghiệp rồi ạ.
- Tuyệt!

Anh nói và đứng dậy hồ hởi vẫy Khải lại gần, giới thiệu:
- Giới thiệu với... cả nhà: Đây là chú Trần Khải, lính “giơ neo” (2) đại đội mình hồi cuối chiến dịch Điện Biên. Đến năm...

Dạ, một chín năm bẩy ạ!
- ờ ờ phải rồi, một chín năm bẩy được cử sang Trung Quốc học lái phản lực mích, giờ đã tốt nghiệp trở về đây.

Mọi người hoan hỉ, ai cũng sẵn lòng dành cho anh con trai ấy cái bắt tay kèm theo nụ cười thân ái. Duy chỉ có hai cô em gái của đại úy Thiện: Cô lớn Nguyễn Thị Cẩm Vân, sinh viên năm thứ hai Đại học Sư phạm, và cô bé út Nguyễn Thị Cẩm Tú học sinh lớp mười... là không giơ tay cho bắt và cũng không hề hé môi cười, chỉ đỏ mặt ngồi im như phỗng! Không ai biết hai cô gái ấy nghĩ gì trong lúc đó.

Nhưng rồi những ngày tháng tiếp theo, trên cơ sở lòng yêu mến kính trọng đối với đại đội trưởng cũ của mình, anh phi công trẻ Trần Khải rất chăm lui tới thăm hỏi đại úy Thiện cùng với gia đình (Bởi một lý do rất đơn giản: Gia đình anh ở mãi tận Phú Thọ, mà quy chế cho phép thứ bẩy nào anh cũng được ra khỏi trại từ năm giờ chiều cho đến chín giờ tối).
Và... chỉ vài tháng trôi qua, tình bạn trong sáng và tươi đẹp đã nảy nở giữa cô sinh viên sư phạm với anh phi công trẻ. Để rồi cũng chỉ vài tháng sau... tình yêu đã nảy mầm và mặc nhiên tồn tại giữa hai người...

Biết việc đó, gia đình đại úy Thiện cùng những người quen biết khác hầu như không ai cảm thấy ngạc nhiên. Riêng đại úy Thiện khi nghe vợ thì thào nói trong đêm thanh vắng:

- Hình như cô Cẩm nhà mình với cậu Trần Khải “có vấn đề” đấy anh ạ?
- Thì sao?
- Ơ hay! Một đằng là em gái đã lớn, một đằng là lính cũ của anh. Anh phải có ý kiến với cô cậu ấy chứ?

- ý kiến thế nào? Tại sao phải có ý kiến?
- Anh hay nhỉ. Phận làm anh, làm chị thì phải lo cho em. Anh lại coi như người qua đường, không bận tâm gì cả, là sao?

Đại úy Thiện cười khẩy nói giọng đầy diễu cợt:
- Một sinh viên sư phạm hai mươi tuổi với một phi công hai mươi sáu tuổi, chúng nó yêu nhau rồi lấy nhau... em định lo hộ chúng nó cái gì? Có cái gì phải lo nào?

Người vợ thở dài, bần thần đáp:
- Em cũng chẳng biết nữa. Chỉ cảm thấy không yên tâm làm sao ấy, anh ạ.

- Hãy thử nói cái không yên tâm của em cho anh nghe nào?

- Chả hạn như là... em gái mình sinh ra và lớn lên ở Hà Nội này, cậu Khải lại là trai... nông thôn, liệu có hợp không?

- Hư! Em chẳng hiểu gì cả. Thậm chí không biết rằng mình đang sống ở thời đại nào nữa! Nông dân, nông dân! Cái “mác” tiểu tư sản cùng cái “chất” học trò đã bắt chúng ta phải trả giá thế nào chẳng lẽ em chưa biết ư? Thôi, em cứ mặc kệ chúng nó, kẻo rồi lại hối hận không kịp đâu...
Thế là mối tình thơ mộng của Trần Khải với Cẩm Vân cứ việc tự do tung cánh bay lượn dưới bầu trời Hà Nội hòa bình, hạnh phúc. Để rồi dẫn tới: Hương lành lan tỏa, khiến cho một đồng đội của Khải mon men theo chân bạn đến thăm gia đình đại úy Thiện. Và... không hề che giấu ý muốn “cưa cẩm” cô nữ sinh lớp mười đang tỏ ra hết sức tò mò về mối tình của người chị gái. Kết quả: Một “Tình yêu sét đánh” đã nổ ra giữa cô bé Cẩm Tú với Văn Hùng - anh phi công trẻ, bạn đồng học của Trần Khải.

Khỏi phải kể hai chị em gái cùng có người yêu là hai anh phi công trẻ, ở chung một phi đội bay thì nó mê li, huyền diệu đến thế nào. Chỉ biết rằng họ hàng và lân bang, bầu bạn... ai ai cũng phải tấm tắc ngợi khen trước sự thân thiết, gắn bó, đầy cảm thông giữa bốn con người đang đắm say tình ái và tràn trề hạnh phúc đó.

Cho tới một ngày, theo như lệ thường, Trần Khải đến chờ sẵn ở cổng trường Sư phạm để đón người yêu, bất ngờ trông thấy một cô bạn cùng quê từ trong trường đi ra. Anh ngỡ ngàng chạy tới chào hỏi, hóa ra cô bạn ấy cũng là sinh viên sư phạm đang trong thời gian làm luận văn tốt nghiệp.

Thoạt tiên, tuy lòng rất vui và hãnh diện về người bạn “chăn trâu cắt cỏ” thuở xưa, nay đã trở thành cô gái đầu tiên của quê nhà sắp nhận bằng đại học. Nhưng anh vẫn còn đủ tỉnh táo để nhớ rằng mình đang có người yêu là một cô gái Hà Nội mười phần duyên dáng và kiều diễm hơn cô bạn láng giềng đã từng “hàng ngày” tranh nhau kín nước cùng tắm truồng chung một bên thành giếng đầu làng, lại còn vui vẻ kỳ lưng, dội nước cho nhau thuở ấy...

Sẽ vẫn yên ổn, nếu không xảy ra “vụ khen thưởng” đặc biệt vào dịp kỷ niệm ngày quốc khánh lần thứ mười sáu (mồng hai tháng chín năm một nghìn chín trăm sáu mốt). Do có thành tích trong tập luyện Khải được trên ưu tiên cho nghỉ phép mười ngày về thăm gia đình (thời gian đó không quân là một binh chủng rất mới nên được quản lý theo một chế độ riêng).
Nhận được thông báo khen thưởng Trần Khải vô cùng cảm động. Xa cách gia đình từ năm một nghìn chín trăm năm ba. Năm một nghìn chín trăm năm bẩy (trước ngày đi học lái máy bay) anh có xin về phép thăm gia đình, nhưng không được trên chấp thuận. Nay, không dám ước bỗng nhiên được đáp ứng. Sự việc diễn ra quá ư đột ngột và cũng hết sức khẩn trương. Chín giờ tối hôm trước được thông báo, năm giờ sáng hôm sau “nhân tiện” có xe của cấp trên lên Phú Thọ cho anh được cùng đi!
Thời bấy giờ chưa có điện thoại công cộng. Khải về phép mà không kịp có một lời nào cho Cẩm Vân (Mãi tới thứ bẩy, qua Văn Hùng cô mới biết). Tất nhiên, với tâm hồn của một cô sinh viên “người Hà Nội” thì sự việc như thế quả là nghiêm trọng. Mặc dù Văn Hùng đã cố gắng giải minh giúp bạn. Cẩm Vân vẫn không sao có thể dễ dàng gạt bỏ những dằn vặt quái ác cứ tự do len lỏi vào tâm trí của cô, không kể là trong bữa ăn, giấc ngủ hay đang giờ lên lớp...

Trong khi ấy, với đầy ắp cả “một kho” tình cảm và tâm sự tốt đẹp - có cả thiêng liêng nữa - Trần Khải náo nức bồn chồn nhẩm đếm từng chặng một, trên con đường về thăm lại quê nhà. Anh khấp khởi hi vọng sẽ trình bầy và được cha mẹ đồng tình về mối quan hệ tình cảm giữa Cẩm Vân với mình. Anh tin vào tấm lòng đầy bao dung và cũng hết sức nuông chiều mà trước nay cha mẹ vẫn sẵn dành cho mình, không hề cảm thấy lo ngại gì.

Lòng phơi phới như diều gặp gió, Trần Khải bước từng bước hối hả trên con đường làng quen thuộc trở về nhà.

Cuộc gặp mặt đầy xúc động diễn ra gần đúng như dự cảm trên đường về của Khải. Cha mẹ già đi nhanh quá với sức tưởng tượng trong anh. Tuy nhiên, sự trở về đột ngột của anh đã có một tác động kỳ lạ, khiến cha mẹ anh vui mừng hể hả như con trẻ, đi lại nhanh con cón, cười nói không biết mệt.

Thắp ba nén hương trên ban thờ gia tiên, lễ xong Khải sang thắp hương cắm vào chiếc bát nhang đặt trước bức chân dung người anh trai rồi chắp tay nói khẽ: “Anh ơi, em về thăm thầy bầm và thắp hương lễ anh đây ạ. Em biết, sở dĩ em được cấp trên tin cậy cho đi học lái máy bay, là một phần nhờ vào tấm bằng Tổ quốc ghi công mà anh đã để lại cho em và gia đình. Em hứa sẽ luôn xứng đáng với anh. Mong anh sống khôn chết thiêng hãy phù hộ cho thầy bầm mạnh chân khỏe tay để làm ra cơm ăn, áo mặc no đủ! Phần em, nếu dịp này được thầy bầm và tổ chức ưng thuận thì em sẽ cưới vợ. Vợ chồng em sẽ thay anh trông nom, nuôi dưỡng thầy bầm lúc về già, anh ạ...”.

Chuyện trò với anh trai xong, Khải lễ rồi quay ra tiếp bạn bè. Mọi người lục tục kéo đến mỗi lúc một đông. Khải hết sức ngạc nhiên khi trông thấy cô bạn gái gặp ở Hà Nội cũng đến chúc mừng người bạn thời thơ ấu đi xa lâu ngày, nay trở về thăm quê. Cuộc gặp gỡ không hẹn trước giữa đám bạn cũ, bên nồi “ba mươi” nước chè xanh với bó thuốc lá quấn tay, diễn ra thật tưng bừng náo nhiệt, kéo dài đến tận khuya mọi người mới chịu giải tán ra về. Với ai Khải cũng ân cần tiễn ra tận cổng, riêng với cô bạn “sư phạm” không biết vì nguyên cớ gì mà mẹ anh vẫn giữ lại nói chuyện chưa chịu dứt ra. Một lúc sau, dường như vô tâm, mẹ anh kêu lên:

- Ôi kìa, thế ra khách khứa ra về hết cả rồi mà “bầm-con” ta vẫn mải mê chuyện, chẳng biết gì cả. Thôi, để bầm bảo anh nó đưa con về tận nhà, đừng sợ!

Khải nghe rất rõ từng lời mẹ nói, anh mỉm cười thầm nghĩ: “Cụ cậy mình là hội viên Hội Mẹ chiến sĩ. Với ai cũng thoải mái xưng là bầm hết”. Không đợi mẹ giục, anh vui vẻ nhận phần:

- Đúng đấy bầm ạ. Để con đưa Thu về kẻo ông bà ở bên ấy không biết lại mắng oan cô... gái rượu.

Cô gái không bắt lời, cứ lẳng lặng đi ra ngõ. Khải thoải mái đi theo, khẽ gọi:

- Đợi tôi đã nào, Thu!

Cô gái vẫn đi, và hình như còn rảo bước hơn. Khải vượt lên sóng hàng, ân cần hỏi:

- Giận tôi lắm hả? Cho tôi xin lỗi vậy. Trông thấy Thu sang nhưng bạn bè cứ rối lên, không sao bỏ họ mà chạy lại chào hỏi Thu được. Thôi, thông cảm nhé!

Đến lúc này cô gái mới mở miệng:

- Ai người ta thèm để tâm đến việc ấy!

- Ôi, vậy ư? Thế thì tôi yên tâm rồi. Này, Thu tốt nghiệp rồi phải không?

Cô gái kéo dài giọng đáp:

- Phải ạ!

- Chắc là đang trong thời gian nghỉ phép chờ đi nhận công tác phải không?

- Chả phải.

- Nếu vậy tại sao lại có mặt ở nhà?

- Thích thì ở, ai cấm được?

- Nói năng kinh nhỉ? Nhận công tác ở đâu biết chưa?

- Biết từ lâu rồi.

- Ghê nhỉ! ở đâu thế?

- ở đây chứ đâu nữa.

Khải ngạc nhiên kêu lên:

- Ngay tại xã nhà ý à?

- Xã “mình” làm gì có trường cấp ba?

- à à... thế thì tôi hiểu rồi. Về công tác tại trường cấp ba của huyện, đúng không?

- Rất đúng.

- Thích nhỉ?

- Thích quá ý chứ!

Cứ thế, kẻ hỏi người đáp, chủng chẳng như chó sủa ma. Khải cảm thấy ngán, anh quay sang chuyện khác:

- Hồi nãy Thu với bầm tôi nói với nhau chuyện gì mà say sưa thế. Có cho tôi biết được không?

- Muốn biết, về mà hỏi... bầm ấy. Sao lại đi hỏi... người ta?

Nghe cách nói năng kỳ lạ ấy Khải hơi chột dạ. Anh cảm thấy hoang mang, không biết nói gì thêm nữa. Từ đấy cho đến tận cổng nhà Thu, cả hai người đều không ai chịu nói thêm với nhau một lời nào. Mãi tới khi Thu bước vào trong cổng Khải mới nói với theo:

- Thu cho tôi gửi lời thăm hai bác nhé. Mai tôi sẽ sang chào... cả nhà!
Không có tiếng trả lời. Trên đường về, lòng bâng khuâng ngẫm nghĩ về cô bạn gái thời thơ ấu cùng với thái độ và cách nói năng khó hiểu của cô, Khải định bụng sẽ tìm cách hỏi mẹ cho rõ nhé. Nhưng rồi lại nghĩ: dù thế nào thì cũng chẳng có gì quan trọng, ở trong gia đình mình, chỉ có thầy mới là người quyết định mọi vấn đề. Bầm với cô ấy muốn “âm mưu” chuyện gì cũng... không sao. Miễn là ngày mai cần phải tranh thủ “khai” với thầy mối quan hệ của mình với Cẩm Vân. Thầy gật là yên chuyện thôi. Chắc chắn thầy sẽ không phản đối. Xét cho cùng, có cớ gì để mà phản đối chứ?

Như người trút được gánh nặng, đêm ấy Khải ngủ rất ngon.

Sáng ra, Khải chưa kịp dậy đã nghe tiếng cha bảo mẹ:

- Bà vào gọi con dậy, chuẩn bị còn đi kẻo muộn.

Nghe vậy Khải vùng ngay dậy, nói to:

- Con dậy ngay đây ạ. Đi đâu thế hả thầy?

- Dậy rồi thì ra rửa mặt mũi cho tỉnh táo, vào uống nước, thầy có việc cần nói với anh đây.

Khải đáp một tiếng vâng rất gọn, nhanh nhẹn ra giếng dội nước tắm, gội ào ào. Chỉ mươi phút sau anh đã thoải mái ngồi đối diện với cha bên bàn nước.

Người cha từ tốn mở đầu cuộc nói chuyện bằng câu hỏi:

- Anh có nhớ năm nay anh bao nhiêu tuổi không?

- Dạ, nhớ chứ ạ. Năm nay con hăm bẩy, đúng không thầy?

- Sao lại hăm bẩy? Anh sinh ngày Bạch lộ năm Giáp Tuất. Tràn hăm tám rồi đấy, chẳng còn non nớt gì đâu. Biết chửa?

Khải cười toét miệng, kêu to:

- Ôi trời, thầy lại đi tính tuổi theo âm lịch, kể gì!

- Anh ăn nói hay nhỉ. Là người Việt Nam, không tính theo ngay âm thì cúng giỗ, cấy gặt làm sao? Thôi, không đôi co. Tôi hỏi anh: Liệu bây giờ chúng tôi bảo anh lấy vợ thì có sớm quá không? ý anh thế nào, nói ra đi?
Khải trố mắt nhìn cha, chợt nghĩ: “Thật may, đang chưa biết “tâu” với cụ vào lúc nào cho tiện thì cụ lại hỏi”. Anh làm ra vẻ nghĩ ngợi một tí rồi điềm đạm đáp:

- Kể ra cũng là vừa phải thôi ạ. Không sớm mà cũng chưa quá muộn đâu ạ.

Người cha gật đầu liền mấy cái tỏ vẻ hài lòng, và nói:

- Thế thì được rồi, coi như thoải mái cả đôi ba đường. Bà xem qua quít một tí, còn đi cho sớm sủa, kẻo nắng!

Khải giật mình, hoảng hốt hỏi vội:

- Thầy định đưa con đi đâu ạ?

Ông bố ngước nhìn bà mẹ, nghiêm nghị hỏi:

- Thế... từ hôm qua đến giờ bà vẫn chưa nói gì với anh ấy ư?

Bà mẹ bối rối giãi bầy:

- Thì, từ lúc con nó về đến nhà, bạn bè khách khứa bộn lên cho đến tận khuya. Tôi biết nói với con vào lúc nào cho được mà lại trách tôi?

Ông bố đành tặc lưỡi nói xuôi:

- Thôi được. Bây giờ mới biết cũng chẳng chậm nào! Bà vào kiếm cái gì cho cha con tôi lót dạ thì kiếm đi, quàng lên.

Bà mẹ vừa quay lưng, từ người cổng đã có tiếng người oang oang vừa nói vừa đi vào:

- Nào, thằng cu Khải đâu. Ra cho chú xem mặt anh phi công của làng ta oai vệ đến chừng nào, nào?

Ông bố vội nhắc con:

- Chú hai đến đấy. Chạy ra chào chú đi.

Khải vội chạy ra tươi cười lên tiếng:

- Chú sang chơi ạ. Mời chú vào xơi nước với thầy bầm cháu!

Người chú bước vội tới, túm chặt hai cánh tay người cháu, và nhòm vào tận mặt, vừa lắc vừa nói:

- Lớn khiếp thế này cơ à? Mày giỏi lắm cháu ạ. Nhất làng đấy biết chửa? Về phép được lâu không?

- Thưa chú mười ngày, không kể về và đi ạ.

- Tức thị mười hai ngày cả thảy, hả?

- Vâng ạ!

- Nhất rồi. Cả về lẫn đi, một ngày gọn. Còn đứt đuôi con nòng nọc mười một ngày. Phen này nhất thầy bầm cháu ở cái làng này rồi, chẳng anh nào hơn được đâu nhá!

Bố mẹ Khải đã kịp ra đón. Ông bố lên tiếng:

- Chú vào trong này uống nước đã. May quá, tôi cũng đang tính ăn lót dạ xong sẽ đưa cháu sang bên chú. Thế này thì tiện quá rồi. Người chú vừa bước lên bậc hè vừa nói với cháu:

- Gớm, nghe tin mày về nước từ năm ngoái, ở nhà mong quá là mong. Đận này được về phép đàng hoàng thế này là mọi việc sẽ đâu vào đấy nghiêm chỉnh, - ông quay sang hỏi bố mẹ Khải: Em nói thế có đúng không, hai bác?

Bố Khải vui vẻ gật đầu, đáp:

- Đúng, đúng! Chú ngồi xuống đã nào. Cháu nó về phép lại có ô tô con của đơn vị cho đi nhờ, nên vội. Chẳng kịp mua một cái kẹo cho trẻ gọi là. Nghĩ ngượng quá. Chú uống nước đi!

- Ơ hay, quà cáp cái gì? đi bộ đội thì giết ai ra tiền mà nói chuyện quà với cáp? Bác tính anh em ta đưa thằng cháu Khải sang “trình diện” ông bà Chiền ngay sáng nay ý à?

- Chả sáng nay thì chú định chờ đến bao giờ nữa?

- Không! ấy là em hỏi thế thôi, chứ đi sáng nay là đúng rồi! Con về phép chiều hôm trước, sáng sớm hôm sau bố đẻ cùng chú ruột đã thân chinh dẫn đến chào. Long trọng đến thế còn gì? Rồi đấy bác xem, tiếng đồn nức làng trên xóm dưới chứ bỡn đấy à?

Khải ngồi nghe chú với bố chuyện trò mà phát hoảng. Không kìm được, anh hấp tấp hỏi:

- Thầy với chú định đưa con đi đâu thế ạ?

Người chú trợn mắt hỏi lại:

- Ơ hay! đi hỏi vợ cho anh chứ còn đi đâu? Chẳng lẽ anh vẫn chưa biết hay sao?

Ông bố vội lên tiếng trước:

- Tại tôi sơ tâm, cứ nghĩ tính khí đàn bà, mẹ cháu tài nào chẳng phô với con ngay. Chẳng ngờ bà ấy vẫn chưa kịp nói. Thôi thì bây giờ ta trực tiếp nói với cháu, càng tốt chứ sao?

Vậy là mọi việc được phơi bầy trần trụi ra trước mặt Khải. Không phải là mới hôm nay, hôm qua hoặc tháng trước hay năm ngoái... Mà “sự việc” đã được hai gia đình xếp đặt và định đoạt từ trước đây đã năm năm. Nó được khơi nguồn bởi cuộc tiếp xúc giữa ông Chiền bí thư Đảng ủy xã với đồng chí cán bộ tổ chưcs của đơn vị Khải, khi về thẩm tra lý lịch của anh, trước khi quyết định cử anh đi học...

Vốn đã sẵn có cảm tình với anh con trai thư của người đồng chí đã từng cùng mình, kẻ cầm cờ người vác loa, rầm rộ lên cướp chính quyền tận huyện. Rồi từ đấy cứ vững vàng cùng nhau tiến bước. Cho đến nay người làm chủ nhiệm Hợp tác xã, người bí thư Đảng ủy. Cả hai đều có chân trong thường vụ đã ba bốn khóa rồi. Ông tính, gả chồng cho cô gái út, nhìn mặt trai tráng trong cả xã không ai hơn anh con trai thứ của ông bạn cày thuở trẻ, nay lại đang cùng gánh vác công việc lãnh đạo xã nhà. Nay, càng mười phần tốt đẹp hơn. Nghĩa là với chữ ký xác nhận như thế của ông vào lý lịch thì “cu cậu” đắt phi công là cái chắc!

Khi được ông bạn bí thư Đảng ủy nhân lúc vui chuyện “nói hớ” ra rằng, theo con mắt ông ấy nhìn vào đám con trai xã nhà, chỉ duy nhất có thằng con mình là đáng mặt hơn cả... thì ông chủ nhiệm lấy làm hãnh diện vô cùng. Ông nói với bà:

- Bác ấy nói vậy bà có hiểu ý là gì không?

- Là khen con mình chứ còn là gì nữa mà ông phải hỏi?

- Bà ngu lắm. Phải hiểu ý bác ấy muốn bảo cho tôi với bà biết rằng bác ấy đã nhắm thằng hai nhà ta làm rể đấy, hiểu chửa?

- Thật vậy sao? Nghĩa là hai bác bên ấy muốn gả con bé cái Thu cho thằng cu Khải nhà ta ấy ư?

- Chẳng thật thì bỡn chắc. Rồi đấy bà xem, sai đâu cứ mang đầu tôi ra mà chặt.

Thế rồi, chẳng hiểu từ lỗ nẻ nào, dư luận cứ tự do tuôn ra nhanh như mưa mùa hạ. Khắp làng trên xóm dưới, từ người già đến con trẻ ai ai cũng biết việc ông bà bí thư Chiền sắp gả cô út cho cậu con trai thứ nhà ông bà Chủ nhiệm hợp tác xã nhà! Tin đồn đại đã lâu mà gia đình ông bí thư vẫn không hay biết gì cả. Cho tới một hôm, nhân cuộc họp Đảng ủy thường kỳ còn chưa chính thức khai mạc, một ông ủy viên ngứa miệng hỏi chơi ông bí thư?

- Nghe nói ông bà bên ấy sắp sửa cho cô út đi ở riêng?

- Tầm bậy! Ông nghe ai nói?

- Dư luận đồn inh lên như thế, chẳng nhẽ ông không biết gì ư?

- Ơ, có tin đồn à? Đồn ra làm sao?

- Họ đồn ông bà bên ấy sắp sửa kết thông gia với ông bà chủ nhiệm.

Không đúng hay sao?

- A, hay nhỉ? Lại có tin đồn như vậy thật ư? Chắc là tuổi trẻ, các cô các cậu ấy lại có thư từ thăm hỏi nhau gì đó, nên thiên hạ người ta đồn thổi lên chứ gì?

Ngừng một tí ông tặc lưỡi nói tiếp:

- ờ mà giả thử con bé nhà tôi với thằng cu thứ nhà ông bà chủ nhiệm Khôi chúng có tình ý với nhau thật đi nữa thì đâu phải là cái sự gì lạ lùng, đáng để cho dư luận lên án chứ? Có phải vậy không, các... ngài?

Mọi người ồn lên đồng tình. Có người còn cao hứng kể cả cái chuyện hai ông vốn là bạn “nối khố” từ thuở còn ở truồng; đã từng cùng nhau vác cờ lên cướp chính quyền tận trên huyện và v.v...

Chờ cho không khí đã dịu lại, ông bí thư cười cười hất hàm hỏi:

- Thế nào ông Khôi, chẳng may lũ trẻ chúng dám tự ý dan díu với nhau thì ông bà bên ấy tính sao với vợ chồng tôi đây?

Được lời như cởi tấm lòng, ông Khôi vội đáp:

- Vợ chồng tôi thì chẳng cần biết các cô các cậu ấy nghĩ ngợi ra sao và thiên hạ đồn đại những gì, miễn là ông bà bên ấy không chê, dứt khoát tôi sẽ sang xin cô út về làm dâu. Tôi mà nói sai xin mọi người ở đây cứ ỉa vào mặt tôi!

Với nơi nào chẳng biết. ở nơi này mà nói thì một khi hai ông bố “có chức có quyền” đã ra nhời trước dư luận như thế, thì đó là lời “dao chém đá”!
Từ hôm ấy hai bà vợ công khai tiếp chuyện bất kỳ một ai có ý muốn dò hỏi về chuyện kết làm thông gia của họ. Riêng với Thu, cô đowcj bố đẻ chuẩn bị tư tưởng cho thật chu đáo: “Mọi người chưa ai biết nó đi học phi công đâu, kể cả ông bà Khôi, con ạ. Thì tự tay thầy đã ký xác nhận vào lí lịch, rằng bố mẹ nó đều là đảng viên, có anh trai là liệt sĩ, gia đình ba đời trong sạch, không có ai là địa chủ, cường hào hoặc làm tay sai cho địch, thì chẳng đúng như vậy ư? Với một bản lí lịch như thế, không đắt phi công thì có họa là... là...! Làm thân con gái, con xem nội trong vùng này, kiếm đâu ra một anh con trai hơn nó nào”?

Nghe cha giảng giải, Thu cảm thấy nôn nao, cô nghĩ và nhớ lại quá khứ. Quả thật từ sâu thẳm lòng mình, cô chưa hề có ý nghĩ mình sẽ là vợ của Khải, mặc dù hai người là bạn từ thuở lọt lòng mẹ và suốt cả bẩy năm học trường làng. Là con gái một bí thư đảng ủy xã, Thu có cảm nhận rất sớm về “vị thế” của mình, cô dửng dưng với mọi trò tình ái “rẻ tiền” của cánh trai làng. Vẫn “treo cao giá ngọc” cho đến khi nghe cha nói về việc muốn gả mình cho Khải. đó là năm 1957, khi đang học lớp mười, cô cố nhớ lại hình ảnh của anh và thầm nhủ: “Không thật đẹp trai, nhưng cũng không đến nỗi! Là phi công ư? Phi công ư? Phi công ư? Cũng đáng đấy chứ! Và, thế là cô tự quyết định: Sẽ tiếp tục học lên đại học, cho “anh chàng biết mặt”...

Ngồi nghe chú và bố “lên lớp” giảng giải mọi nhẽ thiệt hơn, Khải hoang mang tê tái ngẫm nghĩ. Chống lại rõ ràng là ngu. Theo thì dứt khoát là... không thể được. Vậy thì chỉ còn một cách là “hoãn binh chi kế”, để rồi sẽ liệu sau. Nghĩ vậy anh nhăn nhó nói:

- Gì mà gấp thế ạ. Thầy bầm với chú để cho con có thời gian suy nghĩ đã chứ? Lấy vợ là việc quan trọng lắm đấy ạ! Con không thể...

Ông bố đứng phắt dậy, gằn giọng:

- Anh nói gì? Không thể... không thể cái gì, hả? Tôi có còn là cha anh không? Vợ tôi kia, có còn là mẹ anh không, hả? Chúng tôi đẻ được ra anh, nuôi dạy anh thành người hữu ích như bây giờ. Có phải anh định nói rằng chúng tôi bảo anh lấy vợ là sai, là ngu, có phải vậy không hả?

- Ơ kìa thầy! ý con có định nói thế đâu ạ. Con chỉ đề nghị thầy bầm với chú thư thư để cho con còn nghĩ đã, chứ có...

Người chú giơ tay ngắt lời Khải. Ông nói dẽ dàng:

- Bác cả không nên nóng thế làm gì. Cháu Khải chưa hiểu thì ta giảng giải cho cháu hiểu thôi mà, - ông quay sang nói riêng với Khải: Cháu biết rằng chú cũng đã có mười lăm năm tuổi quân, và cũng chỉ mới rời quân ngũ chưa đầy một năm... chứ?

- Dạ, cháu biết ạ.

- Và chú đã từng được vào tiếp quản Thủ đô vào ngày mồng mười tháng mười năm năm tư chứ?

- Dạ, vâng ạ.

- Thế đấy! Tóm lại: Chú là đồng đội của cháu, nhưng nhiều tuổi quân hơn cháu,l đã từng vào sinh ra tử nhiều hơn cháu, và cũng đã được sống ở đất Thủ đô gần bốn năm! Nếu chú có “lên mặt” dạy bảo cháu thì không đơn thuần chỉ vì chú là chú ruột của cháu đâu. Đúng không nào?

- Dạ, cháu hiểu ạ.

- Chú biết cháu mới về nước được non một năm, mà kỷ luật của bộ đội không quân thì khiếp lắm. Hẳn là cháu chưa có cơ hội làm quen với các cô thiếu nữ ngoài ấy. Bởi thế chú không cần đưa cái món “đạn bọc đường” ra để “răn đe” cháu làm gì cho tốn thì giờ. Chú chỉ nói câu chuyện thiết thực cho cháu nghe: Thầy bầm cháu chẳng may giời bắt tội “sinh con một bề”. AnhKhoa cháu đã là liệt sĩ. Gia đình chỉ còn trông cậy vào mình cháu. Rồi đây cháu muốn làm vương làm bá gì ở đâu cũng mặc. Nhất thiết khi hết hạn ở quân ngũ là cháu phải về làng sinh sống. Cái sự báo hiếu cho thầy bầm cháu chỉ là một phần rất nhỏ thôi. Cái quan trọng là mồ mả tổ tông, là ngai thờ, bài vị của cả một dòng họ... không thể tùy tiện di dời đi đâu được. Chốt lại một câu: Cái đường vợ con của cháu, muốn sớm muốn muộn gì cũng được, tùy cháu. Không ai ép. Duy có một điều khẳng định: vợ cháu nhất thiết phải là gái làng này, hoặc chí ít thì cũng là người vùng này. Không thể khác được. Cháu hiểu không?

Gương mặt Khải phút khốc bỗng bạc ra. Anh hổn hển nói lắp bắp một cách khổ sở:

- Nhưng thưa chú, cháu còn đang tại ngũ, việc lấy vợ đâu phải do cháu hoặc gia đình quyết định được ạ.

- Chú biết. Tổ chức họ can thiệp là nhằm bảo vệ các anh và giữ vững đội ngũ, ngăn không cho bất kỳ một luồng tư tưởng xấu nào xâm nhập vào quân đội, chứ không cấm các anh lấy vợ. Ta sẽ làm đầy đủ thủ tục một cách đàng hoàng, ngại gì đâu?

- Nhưng... cháu chưa kịp báo cáo...

- Ô hay! đã có gì để báo cáo, hả cháu? Hôm nay thầy cháu với chú chỉ đưa cháu đến chơi, thăm hỏi xã giao. Ngầm đánh tiếng để thăm dò một tí thế thôi, chứ đã sắm sanh lễ vật, tiến hành ăn hỏi hay dẫn cưới gì đâu, mà rộn?

Khải cảm thấy cổ họng đắng ngắt, anh ngồi ngây như tượng...

***


Về đơn vị đã bẩy ngày rồi, Khải vẫn chưa nghĩ được cách nào nói cho Cẩm Vân biết để thông cảm với hoàn cảnh khắc nghiệt của mình. Trong khi ấy Văn Hùng cứ sồn sồn trách mắng, thúc bách anh phải nhanh chóng sang xin lỗi Cẩm Vân về việc đi phép mà không báo cho Cẩm Vân biêts để cô ấy lo cuống lên, không hiểu có sự gì đã xảy ra! Mặc dù là bạn thân nhưng Khải vẫn chưa dám thổ lộ với Văn Hùng về nỗi oan trái mà anh đang gặp phải.

Qua mười ngày sống với gia đình sau tám năm xa cách, Khải cố gắng dồn gần hết thời gian và tình cảm vào cho mẹ, đó là một nhu cầu tự thân không hề khiên cưỡng. Và, cũng chính trong mười ngày ấy anh đã phát hiện ra một điều quan trọng: Mẹ cực nhọc và cô đơn quá. Gia đình chỉ có hai anh em trai. Người anh đã hi sinh, còn Khải lại ở xa. Nhà trơ lại hai cha mẹ già. Cha Khải không mấy khi ở nhà, và khi có mặt ở nhà hầu như cũng không hề để tâm xem xét, chia xẻ những nỗi lo âu cùng sự bận rộn của bà vợ già đã quá quen thuộc của ông.

Trong lúc ngồi buồn bã, Khải bất ngờ trông thấy mẹ vừa lom khom bước đi vừa quài tay ra sau tự đấm lên lưng. Anh thoắt cảm thấy da mặt mình sượng ra, vội chạy lại tranh lấy bộ quần áo bẩn trên tay mẹ mang đi giặt...

Rồi đến một hôm, Khải lại bất ngờ trông thấy gương mặt mẹ ngời lên rạng rỡ, khi Thu mang tấm áo dài nâu mới may đến mặc thử cho bà. Tấm áo bà ao ước từ lâu mà chưa sắm được, không phải vì bà không có tiền, mà chỉ bởi bà không biết nhờ cậy ai giúp cho việc đó.

Anh chợt nhận ra chỉ có tấm lòng cùng với bàn tay của người con gái mới có thể phát hiện ra, sẵn sàng chia xẻ với người mẹ những gì bà cần!
Hơn bao giờ hết, Khải ý thức việc mình lấy vợ không thể chỉ đơn thuần là vì mình, được nữa. Mẹ không sinh được con gái để nhờ cậy những công việc rất riêng của người phụ nữ lúc về già. Mẹ rất cần một người con dâu biết thông cảm với bà, chăm lo cho bà...

Cuối cùng vấn đề đặt ra trước Khải thật rõ ràng. Chú và bố lý lẽ với anh bằng những lời giản dị nhưng sắc bén, thắt bó chặt chẽ. Riêng mẹ vẫn cứ lặng lẽ, không đòi hỏi anh một điều gì. Vậy mà...

Sau nhiều đêm mất ngủ, Khải dằn lòng trở dậy chùm chăn, bấm đèn pin, viết thư cho Cẩm Vân:

Cẩm Vân ơi!

Anh đã trở thành một kẻ bội ước đáng khinh bỉ nhất, không xứng đáng được nhận tình yêu của em. Và anh cũng không dám cầu xin em tha thứ...
Thư nói không hết lời. Muôn ngàn lần xin lỗi em...

Ký tên
Trần Khải


Sáng hôm sau anh xin gặp thủ trưởng đơn vị, thẳng thắn trình bày vắn tắt nội dung “sự việc” và xin phép nghỉ tập nửa ngày để về Hà Nội. Được thủ trưởng thông cảm, chấp thuận, Khải về thẳng cơ quan Bộ Tư lệnh Pháo binh xin gặp đại úy Thiện...

Không quanh co rào đón, Khải kể lại với đại úy Thiện nguyên vẹn mọi điều mà gia đình anh đã yêu cầu và quyết định cuối cùng của chính mình. Rồi kết luận:

Em có lỗi vì chưa tự hiểu hoàn cảnh của mình đã vội ngỏ lời với Vân để đến nỗi bây giờ gây nên đau khổ cho cô ấy. Và cũng đã phụ lòng tin yêu của anh dành cho em. Em không dám xin anh tha thứ và không còn đủ can đảm gặp Vân để xin lỗi. Em viết thư này nhờ anh trao cho Vân giúp em...

***


Khi ấy ai cũng nghĩ nỗi đau khổ của Cẩm Vân sẽ là vô hạn. Và Trần Khải, sau “vụ” ấy sẽ không còn mặt mũi nào quay trở lại cái ngôi nhà xinh xắn có mảnh sân lát gạch Bát Tràng đỏ au... kia nữa...

Nhưng rồi, theo dòng chảy của thời gian, việc đời lại không đi đúng vào đường thẳng như người ta tưởng. Nó diễn ra khuất khúc và cũgn đơn giản lạ kỳ. Thoạt tiên là sự tủi hờn, phẫn uất của Cẩm Vân trước hành vi phản bội đột ngột và “trắng trợn” của người yêu. Cô khóc lóc, khăng khăng đòi anh trai, hoặc Văn Hùng cũng được, đưa cô sang “đối mặt” với Trần Khải. Cô cần ở anh ta một lời giải thích rõ ràng về hành vi tráo trở “một cách vô lí” không thể nào hiểu được này!

Đại úy Thiện cùng Văn Hùng đều tìm cách tránh trớ không đáp ứng yêu cầu của Cẩm Vân. Chỉ có người chị dâu và cô em gái là thực sự đau xót và có nhu cầu chia xẻ...

Cẩm Vân khăng khăng không chịu nghe theo bất kỳ một lời khuyên nhủ nào của ai, cô cứ vùi mình trong u buồn, đau khổ, giận hờn. Mọi người đành nén lòng im lặng đợi chờ sự mầu nhiệm của phương thuốc mà tự ngàn xưa, khi sinh ra loài người, tạo hóa đã dành sẵn cho họ “những kẻ thất tình”. Đó là thời gian!

Có một điều không ai ngờ tới đã xảy ra, không phải với Cẩm Vân mà lại là Cẩm Tú. Trước “bài học đáng sợ” của Trần Khải đã gieo vào tâm hồn chị gái mình, Cẩm Tú sinh ra “cảnh giác”. Cô bất chấp tất cả, tự chủ động yêu cầu Văn Hùng làm đám cưới! Rất thông cảm với người yêu, Văn Hùng đem việc đó ra hỏi ý kiến của đại úy Thiện. Không dám giữ phần quyết định, đại úy Thiện nêu quan điểm: “Chúng ta là bộ đội. Những việc quan trọng như thế này nhất thiết phải được tổ chức thông qua...”

Công việc diễn ra tuy chậm nhưng vô cùng đơn giản. Cả đôi nam nữ đều là con em gia đình kháng chiến. Lai lịch không có vấn đề đáng ngờ. Riêng Văn Hùng lại là con trai đầu lòng của liệt sĩ, gia đình chỉ còn mẹ góa với ba người em. Cô lớn đã lấy chồng, còn cô bé với cậu út vẫn đang sống ở nhà. Tóm lại, vấn đề hôn nhân của hai người không hề gặp một trở ngại nào trên cả ba phía: Cá nhân, gia đình, và tổ chức...

Cuối năm sáu hai đám cưới được tiến hành ngay tại Hà Nội. Sau một tuần về thăm quê, trình diện với họ hàng nhà chồng, Cẩm Tú vẫn được trở về Hà Nội sống tại ngôi nhà cũ, cùng các anh chị cô...

Năm sáu ba Cẩm Tú sinh con gái đầu lòng. Sau thời gian nghỉ đẻ, do có sự can thiệp tích cực của đơn vị bộ đội, Cẩm Tú được tuyển dụng làm giáo viên cấp một của thành phố, được ưu tiên nhận công tác rất gần nhà...

Cũng năm ấy, một tin vui nữa đến với gia đình đại úy Thiện: Cẩm Vân thi tốt nghiệp ra trường, được trên điều động về nhận công tác tại Bắc Ninh. ở đây cô đã gặp Lê Hân. Cùng là người Hà Nội với nhau, lại cùng dạy trong một trường - Hân được đi tu nghiệp tại nước ngoài và nhận lớp trước Cẩm Vân bốn năm. Sau hơn một năm “tìm hiểu”, hai người cùng về báo cáo với gia đình xin được làm đám cưới.

Ngôi nhà xinh xắn ấy từ đấy nổi lên thành “một điểm sáng” hạnh phúc trong khu phố, nhất là vào những ngày chủ nhật. Mặc dù về “khoản” tem phiếu lúc bấy giờ nó rất eo hẹp, song được cái ai cũng hiểu đó là tình hình chung của cả nước, mọi người đều dễ dàng có sự thông cảm cho nhau, đến với nhau là thật lòng, không mảy may bận tâm về sự nghèo túng, đón tiếp nhau chẳng được đậm miệng khi ăn, mát lưng khi nằm và v.v... Bởi vậy cho nên, người ta thấy ở ngôi nhà ấy, ngày chủ nhật nào cũng đầy ắp tiếng nói cười... của vợ chồng con cái ông bà Thiện; của người vợ trẻ Cẩm Tú tay ôm con nhỏ ra tận cổng đón chồng; và của cả đôi vợ chồng mới cưới Cẩm Vân-Lê Hân tranh thủ đèo nhau bằng xe đạp từ Bắc Ninh về thăm nhà. Ba cặp vợ chồng cùng ba bốn đứa trẻ quần tụ đầm ấm, với phương châm: “có gì ăn nấy” rất thật lòng...

Một năm sau, Cẩm Vân sinh đứa con trai đầu lòng, và Cẩm tú sinh đứa con thứ hai, là trai.

Mặc dù khó khăn có tăng lên với tất cả mọi người trong việc nuôi dạy con cái học hành và chăm lo cho các bé sơ sinh, nhưng không hề vì thế mà có sự suy giảm nguồn hạnh phúc trong gia đình của họ.

Tiếc thay, giặc Mỹ đã chính thức gieo tai họa chiến tranh lên miền Bắc! Chấp hành chủ trương của chính phủ, người Hà Nội đi sơ tán về các miền lân cận. Vợ chồng Hân-Cẩm đang tại vị ở Bắc Ninh không kể, ông bà Thiện đều là quân nhân. Ông là cán sự ở Bộ Tư lệnh Pháo binh, bà làm y sĩ tại Bệnh viện 354 nên vẫn ở lại Hà Nội, chỉ tổ chức cho hai đứa con đang đi học, sơ tán theo trường lên Thạch Thất. Còn Cẩm Tú một mình ôm hai con nhỏ theo trường sơ tán về mạn ứng Hòa...

Sự cực nhọc gian truân của các gia đình công nhân viên chức ở Hà Nội trong thời kỳ ấy, thực là không “bút nào tả xiết”. Song ai nấy vẫn cảm thấy yên lòng, bởi nhìn sang bốn phía thấy ai ai cũng cùng cảnh ngộ!
Được hơn một năm, một hôm, bất ngờ Cẩm Tú nhận được tờ điện báo: “Mẹ gẫy chân đang nằm viện. Em về ngay” (Hùng). Con còn đang sống bằng sữa mẹ, không thể gửi lại cho ai được, Cẩm Tú chỉ kịp xin phép hiệu trưởng rồi nhờ sự giúp đỡ của bạn bè, lai cả ba mẹ con về Hà Nội “cầu cứu” anh ruột, chị dâu...

Ba anh chị em bàn đi tính lại, cạn hết mọi nhẽ, đành quyết định: Hai vợ chồng ông Thiện cũng xin cơ quan cho nghỉ công tác hai ngày. Mượn thêm người quen một chiếc xe đạp nữa (khi ấy cả hai vợ chồng ông bà Thiện chỉ có một chiếc xe đạp). Đèo ba mẹ con Cẩm Tú về tận Lập Thạch. ở gia đình trên ấy hiện còn hai đứa em của Văn Hùng, tạm thời nhờ cô chú ấy thay nhau trông cháu giúp cho Tú rảnh chân chạy lo công việc. Bà Thiện còn “trình bày hoàn cảnh” với giám đốc bệnh viện, xin được tờ vé ưu tiên ra cửa hàng mậu dịch, mua hai hộp sữa với một cân đường kính về chia làm hai phần, biếu mẹ chồng Tú một phần, phần còn lại giữ phòng cho cháu nhỏ...

Đúng mười ngày sau Cẩm Tú phờ phạc trở về nói với ông bà Thiện:
Em phải quay lại xin chuyển công tác về trên ấy anh chị ạ.

- Vì sao lại như vậy? - Bà Thiện giật giọng hỏi.

Cẩm Tú thở dài não nuột, đáp:

- Mẹ chồng em chân trái bị hoại thư, phải tháo bỏ từ khớp gối trở xuống. Một bà già ở nông thôn mà chống nạng đi lại thì còn cấy gặt, gồng gánh... thế nào được ạ?

Ông Thiện vô tâm nói ngay:

- Thì để cụ ở nhà trông nom nhà cửa cho con cháu đi làm, không tốt ư?

- Anh ơi, dân nông thôn làm gì có phiếu vé. Rời đồng ruộng ra là treo niêu ngay lập tức, anh ạ.

Bà Thiện hỏi:

- Thế hai người em chú Hùng đâu mà không nuôi được mẹ?

- Dạ, cô Thảo đã cho ăn hỏi từ năm ngoái. Lo bà cụ chết, nhà trai đang một mực xin cưới. Còn chú út đã nhập ngũ từ dạo Tết rồi còn đâu.
Ông Thiện cất tiếng:

- Thế hai vợ chồng đã kịp bàn bạc thống nhất chưa?

- Nhà em viết thư nói rằng “trong hai vợ chồng phải có một người chấp nhận hi sinh”! Anh nghĩ thử xem: Anh ấy ra đi từ khi còn là một cậu học trò, giờ quay về học làm một bác thợ cày, liệu có làm nổi không? Còn em thì... nói cho cùng, chỉ phải thay đổi điều kiện sinh hoạt đang là người Hà Nội bỗng chốc trở thành bà nông dân... thế thôi! Cái chức giáo viên cấp một vẫn... an toàn cơ mà. Có ai tranh mất đâu ạ?

- Nhưng... làm thế nào em nuôi nổi mẹ chồng?

- Rồi sẽ “nổi” thôi ạ, anh chị đừng lo.

Bà Thiện vẫn không yên tâm, gạn hỏi:

- Thế... ngay trước mắt, em tính giải quyết thế nào?

- Chỉ chừng một tuần lễ nữa người ta cho mẹ chồng em xuất viện. Cũng khoảng thời gian ấy em cố gắng giải quyết xong thủ tục chuyển khẩu. Em mười ba kí rưỡi, hai cháu mười một kí, gộp lại là hai tư kí rưỡi. Bốn mẹ con bà cháu chia ra mà ăn, khoai sắn thêm vào, miễn là không bị cắt bữa...

Bà Thiện vẫn không yên tâm, cố nói thêm:

- Theo chị biết: Chuyển khẩu từ Hà Nội đi thì dễ như không ý, nhưng muốn nhập trở lại nếu không mạnh thế thì đừng hòng?

- Em biết chứ ạ: “Đã bước chân đi là cấm kỳ quay lại”! Vì... Văn Hùng em sẵn sàng chấp nhận tất cả...

Nghe em gái nói vậy, ông Thiện thầm nhủ: “Thế đấy! Một khi đã lấy tình yêu làm “điểm chuẩn” thì không còn khả năng bàn luận hơn thiệt gì với cô ấy được nữa rồi”!


3

Sáng nay ông Thiện đèo ông Khải sang Gia Lâm thăm vài anh em ở cùng đội bay ngày trước. ở nhà chỉ còn lại bà Thiện với bà Thu. Sau bữa ăn sáng, trong lúc ngồi uống trà, bà Thiện cởi mở tâm sự:

Anh chị đang định hôm nào cô chú về trên ấy sẽ theo chân lên thăm vợ chồng nhà Hùng-Tú một chuyến. đã ba năm nay hai cô chú ấy chẳng thấy người nào về, mà thư từ cũng không thấy gửi. Lạ quá, không hiểu đã có chuyện gì xảy ra mà cô chú ấy muốn giấu?

Bà Thu bối rối, ngập ngừng nói:

- Chẳng có chuyện gì đâu bác ạ. Mấy năm trước đi lại khó khăn khỏi kể, vài năm nay tậu được xe máy, vợ chồng em sang bên ấy chơi luôn ấy mà. Năm nào ít nhất cũng phải vài bốn lần. Hai bác ấy vẫn khỏe mạnh như thường chứ có sao đâu.
- Thế trước hôm về đây cô chú có sang rủ vợ chồng Hùng-Tú thật không?
- Thật chứ ạ. Hôm ấy em vội thu dọn nhà cửa, chỉ có mình nhà em đi. Khi về em có hỏi, nhà em nói chỉ gặp bác Tú ở nhà, bác Hùng còn mắc trông coi công việc làm đường của xã. Cả hai đều vẫn mạnh khỏe, có sao đâu ạ!
Bà Thiện vẫn đăm chiêu lắc đầu, than thở:
- Tiếng là chị dâu em chồng nhưng cô Tú đối xử với tôi còn thân thiết hơn cả với cô Vân ý. Hơn bốn chục năm trời chưa hề có điều tiếng gì. Nói cô thông cảm: Dạo cô Tú quyết định chuyển khẩu về trên ấy để trông nom phụng dưỡng mẹ chồng, tôi lo mất ăn mất ngủ nhưng chẳng biết làm thế nào! Thì cô tính: Thân con gái học trò thành phố, từ bé đến khi khôn lớn chỉ biết có chữ nghĩa; việc lao động đồng áng nào có biết tí gì đâu. Bỗng chốc đùng đùng về ở hẳn nông thôn. Cha mẹ đều đã khuất núi, là anh là chị, cô bảo chúng tôi yên tâm sao được? Có điều, ở vào thời điểm lúc bấy giờ ai có suất phiếu vé của người nấy, biết em với cháu đói mà đành chỉ còn nước khóc thầm...
Là một giáo viên lâu năm, nghe bà Thiện cởi mở nỗi niềm cứ như người chị hiền chuyện trò với em gái ruột, bà Thu cảm thấy trong lòng nôn nao xúc động không sao kìm nén được nữa, bèn ngập ngừng thổ lộ:
- Em xuất thân nông thôn nhưng may được ăn học, em rất thông cảm với bác. Thực tâm, em hằng nghĩ về mình: Cũng thì lấy chồng làm phi công, lại cùng cảnh đi làm dâu như nhau, mà sao em cứ có cảm nhận rằng cuộc sống của em với nhà em thoải mái như thế cớ sao cuộc sống của hai bác Văn Hùng, Cẩm Tú nó lại... khó hiểu đến như vậy?
Bà Thiện hốt hoảng hỏi ngay:
- Cụ thể là sao? Quẫn bách lắm hả?
- Không ạ. Về kinh tế thì mức thu hoạch giữa vợ chồng em với hai bác ấy xấp xỉnh như nhau. Hai vợ chồng lương hưu mỗi tháng già một triệu, con cháu lại không phải nuôi đứa nào. ở nông thôn, ngần ấy tiền, hai vợ chồng già chi tiêu thoải mái lắm rồi bác ạ.
- Vậy thì vì cớ gì mới được chứ? Hay là chú Hùng mắc thói trăng hoa, khiến Cẩm Tú buồn?
- Không đâu ạ. Bác Hùng chỉ ham vui, rất thích những nơi đình đám cỗ bàn tụ tập đông người để được nói. đấu khẩu hết ngày, thâu đêm không chán! Được cái bác ấy có chức có danh, nơi nào có công có việc cũng có nhời mời...
Vẫn miên man nghĩ về Tú, bà Thiện lắc đầu than thở:
- Vô lý! Con gái có, con trai có. Tất cả đều đã có công ăn việc làm chững chạc, và đều đã sống tự lập được cả rồi. Tiền nong cơm áo, nhà cửa... không thiếu. Thời giờ lại của mình một trăm phần trăm, không bị ràng buộc, thúc ép gì. Phải có cớ gì để mà buồn phiền đau khổ mới được chứ?
Bà Thu tư lự rất lâu mới đáp:
- Trước kia em cũng nghĩ như bác, mãi gần đây em mới nhận ra rằng, hình như hai bác ấy không hợp nhau...
- Cô nói thế nào ý chứ, sao lại không hợp? Hai cô chú ấy đã tự nguyện đến với nhau, gắn bó còn hơn cả keo sơn. Trải qua biết bao nhiêu thử thách, hi sinh mà vẫn bền gan vững chí, một lòng một dạ với nhau suốt mấy chục năm trời. Sao lại có thể nói là không hợp cho được?
- Em cũng biết trước nói ra sẽ chẳng ai tin. Thôi thì để chờ mấy hôm nữa bác lên chơi trên ấy vài ngày, rồi bác sẽ thấy...
Bà Thiện gạn gùng:
- Nhưng ít nhất cô cũng phải nói cho tôi biết, căn cứ vào đâu mà cô có cơ sở để nghĩ rằng “họ” không hợp nhau chứ?
Bà Thu chân thật đáp:
- Thú thật, em cũng chỉ nhận thấy bác Tú cứ u sầu ủ rũ thế nào ấy. Và rồi em ngẫm nghĩ liên hệ gần xa... mà suy luận ra như thế thôi, bác ạ!
- Cô trông thấy Cẩm Tú âu sầu, ủ rũ lắm à?
- Vâng ạ. Mấy năm trước em sang chơi thì thấy bác ấy vẫn rất bình thường. Chị em chuyện trò vui vẻ lắm. Chỉ từ khi bác Văn Hùng về nghỉ hưu thì dần dần em cứ thấy khác mãi đi. Nom bác Cẩm Tú mỗi ngày mỗi phờ phạc võ vàng. Em áy náy, có hỏi nhưng bác Tú chỉ lắc đầu bảo rằng vẫn bình thường, không ốm và gia đình cũng chẳng có chuyện gì! Em nhớ, có lần hai chị em đang ngồi chuyện trò thì bác Hùng đi thăm bạn ở tận Yên Bái trở về. Em chào hỏi, bác ấy trả lời em, còn giữa hai bác ấy với nhau thì không ai nói với ai một nhời nào. Mãi tận đến lúc em sửa soạn ra về, hai bác mới cố gượng bảo nhau đi chặt dứa cho quà lũ trẻ nhà em. Nghe cách hai bác nói với nhau mà em thấy chạnh lòng. Nó dửng dưng trống rỗng làm sao ấy, khó thông cảm lắm ạ.
Bà Thiện dường như đã bị chinh phục, hấp tấp hỏi:
 Và cô đã nghĩ ngợi, phân tích, suy luận?
 - Vâng ạ.
 - Kết quả thế nào, nói đi?
 - Em cứ nghĩ vẩn vơ, tự nhìn nhận lại cái cảnh của vợ chồng em, chán lại liên hệ sang cái cảnh của vợ chồng bác Lê Hân, Cẩm Vân... rồi tự hỏi: Nói ví thử, nếu dạo ấy bố mẹ chồng em không có ý kiến gì, cứ để mặc cho nhà em với bác Cẩm Vân lấy nhau, thì tình hình bây giờ sẽ thế nào nhỉ?
 - Theo cô thì sẽ thế nào?
 - Chắc là nặng nề lắm ạ.
 - Tại sao?
 Bà Thu ngước nhìn bà Thiện rất lâu rồi từ tốn hỏi lại:
 - Chả nhẽ mỗi khi có sự họp mặt như hôm mới rồi, bác không có nhận xét gì trước cái cảnh vợ chồng chúng em ngồi “bầy hàng” bên vợ chồng hai bác Hân-Vân, hay sao?
 - Có chứ!
 - Bác thấy thế nào ạ?
 - Từng đôi “ăn ý” với nhau lắm. Nói tóm lại: Rất đẹp đôi! Tôi thích lắm...
 Bà Thu bỗng thở dài, nói khẽ:
 - Vậy đấy bác ạ. Giả thử mang ghép bác Cẩm Vân vào với nhà em, và ghép em vào với bác Lê Hân, thì... bác thử hình dung xem nó có được... đẹp đôi không ạ?
 Bà Thiện tỉnh ngộ, gật đầu đáp:
 - Tôi hiểu ý cô rồi. Đúng vậy, các cụ ta xửa đã có câu: “Đất có lề, quê có thói”! Một tình yêu giữa hai con người không có những thói quen cùng với những sở thích giống nhau, thì khó mà tạo lập được sự bền vững lâu dài. Khi hai bên còn là người yêu thì ai chẳng ý tứ, điệu đà. Ngay khi đã thành vợ thành chồng rồi mà không được sống chung với nhau trong một nóc nhà, hỏi có khác gì “khách”, chưa thể đã thật hiểu nhau được. Chỉ đến khi nào thực sự chung sống cả tháng, cả năm liền bên nhau thì mọi cá tính của từng người mới bộc lộ hết ra! Khi ấy mới nảy sinh vấn đề. Có phải ý cô như vậy không?

- Vâng ạ. Em thường nghĩ: Ví như hai bác đấy. Cả hai cùng là người được sinh ra và lớn lên ở Hà Nội này. Yêu nhau từ thuở còn là các cô cậu học trò. Thế rồi cách mạng và kháng chiến, mỗi người phiêu bạt một nơi. Mãi đến năm năm mươi bộ đội tiến vào giải phóng Lao Cai, hai người bất ngờ gặp lại nhau. Thế là xin tổ chức cho được làm đám cưới. Rồi từ đấy lại mỗi người một nơi. Trải qua biết bao gian truân khổ ải, hai bác vẫn thông cảm lẫn nhau, vui vẻ thuận hòa cho tới hôm nay...

- Cô nhận xét đúng đấy. Trong số anh chị em chúng ta: Vợ chồng chúng tôi: cô với chú Khải: chú Lê Hân với cô Cẩm Vân... cặp nào cặp nấy sở dĩ “an toàn, mát mẻ” là vì đã được đặt đúng vào cái bệ vững chắc của nó. đôi khi, dù có xảy ra điều này việc kia thì cũng chỉ như cơn gió chướng thoảng qua, rồi đâu lại trở về đúng với cái chỗ của nó. Tóm lại, chỉ có cặp chú Văn Hùng với cô Cẩm Tú là... xem ra không ổn thật. Thôi, để tôi sẽ lên gặp vợ chồng cô ấy chuyện trò, bàn bạc đến nơi đến chốn, may ra có thể sẽ êm thôi.

Bà Thu dè dặt nêu ý kiến:

- Bác Cẩm Tú rất giầu lòng tự trọng, mọi việc cứ muốn tự mình lo liệu không muốn ai can thiệp. Em nghĩ, giá như hai bác có thể thu xếp “mời” bác Tú về dưới này một thời gian để nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng. Sau đấy hãy tìm cách lựa lời hỏi han. Biết đâu sẽ có hi vọng giải quyết được vấn đề đấy ạ...

- Được thế còn nói gì? Chỉ sợ lợn gà, vườn ruộng trói chân không cho cô ấy đi thôi chứ?

- Em đoán không hề gì đâu ạ. Chú em trai bác Hùng với vợ con ở ngôi nhà cùng sân với hai bác ấy. Anh chị em ruột trông nom giúp đỡ nhau một vài tháng, ở nông thôn chúng em, đó là sự thường bác ạ.

Bà Thiện tỏ vẻ yên tâm, nói:

- Nếu vậy thì tốt rồi. Tôi tin, có thời gian chị em tâm sự cho cạn nhẽ, chắc là cô ấy sẽ hiểu ra thôi. Thời trẻ nông nổi, đã chót quyết định vội vàng, bây giờ nhận ra thì đã già rồi. Buồn tủi, đau khổ tức là đã “lỡ một” lại còn muốn tiếp tục “lầm hai”... tự mua sầu chuốc tủi vào thân, ích lợi gì đâu?
- Bác ơi, mà mà chẳng biết thế ạ. Nhưng vấn đề là giải quyết ra sao chứ?
Bà Thiện đăm chiêu nghĩ ngợi, rồi đáp:

- Ngẫm cho cùng, chỉ có duy nhất một giải pháp: Hai vợ chồng cùng phải giúp nhau tỉnh ngộ, từng người tự mình chủ động kiềm chế, loại bỏ bớt những “sở thích” vô bổ ích đối với đời sống gia đình... Tất nhiên sẽ rất khó khăn đấy. Song một khi đã “giác ngộ”, ai mà chẳng phải tự vượt qua chính bản thân mình...

Bà Thu vui vẻ nối lời:

- Em hoàn toàn đồng ý với bác. đúng là chỉ còn cách ấy!


Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2001



==================

(1) Chè, thuốc lá bán tự do giá ba hào một gói (chín hào ba gói).

(2) Cách gọi “châm chọc” dành cho các chú lính nhập ngũ khi sắp giải phóng Điện Biên Phủ.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
Bà giáo An mắc bệnh tâm thần


Thân tặng Lê Sam



Chuyện thật bất ngờ, và cũng thật khó tin: Người ta đang kháo nhau rằng “Bà giáo An mắc bệnh tâm thần”!

Hư thực ra sao chưa ai dám khẳng định. Nhưng không vì thế mà dư luận ngần ngại. Thì miệng lưỡi người đời xưa nay vẫn vậy. Người ta lý sự: “Nghe thiên hạ nói thế nào thì nói lại như thế chứ ai đơm đặt gì đâu?”. Và thế là nghiễm nhiên, cái tin khôgn biết từ nguồn nào phát ra rằng “bà giáo An mắc bệnh tâm thần”, cứ tự do bay lượn khắp nơi chẳng khác nào con chim được sổ lồng. Chửa mấy ngày mà khắp hàng huyện, đâu đâu cũng đã biết cái “dư luận” rất đáng quan tâm, “rằng thì là bà giáo An thôn Thượng mắc bệnh tâm thần rồi đấy, biết chưa?”...

Chắc hẳn có người không khỏi ngạc nhiên, và hỏi: “Một người phụ nữ mắc bệnh tâm thần - dù người ấy là bà giáo đi nữa, thì có gì ghê gớm, lạ lùng đâu? Sao mọi người lại làm ra vẻ quan trọng như vậy?”.

Xin thưa: ở những đâu chẳng biết chứ nội trong cái huyện này mà nói, thử hỏi liệu có mấy gia đình không có con đã hoặc đang học cấp ba, hoặc đã đi dự thi đại học? Vậy thì, có nhẽ nào lại không biết đến bà giáo An? Đơn giản vì bà là một giáo viên nổi tiếng khắp hàng huyện. Không phải chỉ bởi bà đã có hơn bốn mươi năm tuổi nghề. Cái chính là ở bà có một tấm lòng ưu ái thật hiếm thấy dành cho mỗi học trò của mình, cộng thêm với tấm lòng ấy là một tài năng và trách nhiệm sư phạm không mấy ai bì kịp. Trong cuộc đời cô giáo của bà chưa có sách vở nào ghi lại, nhưng “theo cửa miệng” mọi người, thì “bà giáo An đã góp phần” đào tạo nên không biết bao nhiêu kỹ sư, bác sĩ, phó tiến sĩ rồi cả tiến sĩ nữa... rải ra trên khắp cả nước! Chẳng phải nói ngoa. Đã từng có một ông Bộ trưởng đi xe con hẳn hoi, về tận nhà riêng của bà để thăm sức khỏe cô giáo cũ của ông ấy đấy!

Rõ ràng ở một cái thôn chỉ có không quá một trăm hộ dân sinh sống, như cái thôn Thượng đây, “sự kiện” có một ông bộ trưởng đến tận nhà riêng, với tư cách là đứa học trò cũ đến thăm cô giáo. Chuyện như thế đâu phải... sự thường!

Tuy nhiên, có một “tình tiết” rất liên quan cần phải nói ngay rằng từ trước tới nay bà giáo An được kẻ gần, người xa nể vì và kính trọng chính là do bởi nghề nghiệp với tấm lòng của bà, chứ tuyệt nhiên không phải vì bà là mẹ đẻ của ông chủ tịch huyện nhà! Bởi vì “người đời” đôi khi không được rạch ròi cho lắm, họ cứ tùy tiện nói năng nhầm lẫn lung tung! Thành thử dễ sinh ra sự hiểu lầm, đang từ việc nọ đâm xọ sang việc kia, khiến cho việc hay, việc dở cứ nhòe nhoẹt lẫn lộn, thật giả khó phân. Lấy ngay cái dư luận đang “xì xào” về bà giáo An, làm ví dụ. Cùng nội trong một việc “truyền dư luận”, mà người ta cũng chẳng chịu “truyền” cho giống nhau. Cụ thể, người này bảo:

Bà giáo An thôn Thượng mắc bệnh tâm thần đấy, biết chưa?

Kẻ khác lại đưa tin:

- Này, mẹ đẻ ông chủ tịch “đương” của huyện nhà tâm thần “nặng” đấy nhé!

Người vô tư thoáng nghe hai cách “đặt vấn đề” như thế, dễ dàng thông cảm, cho qua ngay. Bởi, tựu chung lại, họ hiểu người ta đã nói với họ về bà giáo An. Thế là đủ. Nhưng... (ở đời vẫn hay vướng một chữ “nhưng”), nếu có người nào đó thích cái trò “chẻ sợi tóc làm tư, làm tám” (như kiểu một vài ông già dư ăn mà lại nhàn rỗi quá, sáng sáng tụ tập nhau ngồi uống trà, đàm luận việc đời...), thì họ lại tìm thấy trong hai cách nói ấy nó “gói đựng” ý tứ rất khác nhau. Thì không ư? Nếu “con bệnh” chỉ là bà giáo An thì... “có là gì” nào? Còn, nếu “lại” là mẹ đẻ ông chủ tịch đương của huyện nhà, thì vấn đề đâu có đơn giản? Tại sao ư? Xin thưa: Khoan nói đến cái sự quan tâm đúng đắn của những ai đó trong số ngót mười vạn dân trong huyện đôí với ông chủ tịch mà họ kính yêu quí trọng, mà chỉ đề cập đến trường hợp, vì một lẽ gì đó có người nêu câu hỏi: “Chẳng biết cái bệnh tâm thần nó có di truyền từ mẹ sang con không nhỉ?” Thì, các ngài nghĩ xem, liệu ông chủ tịch “của chúng ta” có đau đầu không chứ? Bởi “chơi” ngón đó có khác nào gợi ý thiên hạ “treo” một bản án sau gáy ông chủ tịch?

Và thế là dư luận cứ mặc sức tung hoành. Duy chỉ có hai người “trong cuộc” là bà giáo An (với tư cách đương sự) và ông chủ tịch huyện (là người có liên quan) là không hay biết chút gì. Nghe nói vậy có vẻ như vô li, song thực tế lại đúng là thế thật. Bởi vì bà giáo An vốn là một người đức cao vọng trọng, có danh tiếng lớn trong hàng huyện, người già con trẻ ai đã biết bà đều có lòng vì nể. Mỗi khi gặp bà thảy đều đối xử lễ phép, nghiêm cẩn. Tuyệt nhiên không hề dám sỗ sàng, bỗ bã. Đã như thế rồi, lẽ nào có thể ngỏ lời “vấn an” như kiểu cách họ thường nói với nhau: “Thế nào nghe người ta bảo bà mắc bệnh tâm thần. Có thật vậy không?”, cho được? Cái cách nói “bằng vai phải lứa” ấy chỉ được phép để dùng giữa họ với nhau thôi. Chứ ai lại đối với bà giáo An mà cũng cứ nói năng phứa phựa đi như thế, còn ra cái thể thống gì nữa? đối với bà giáo An đã phải thế rồi, huống chi là đối với ông chủ tịch, người cai quản hàng chục vạn dân chúng, lại càng không thể! Vậy là, chính cái ý thức “kính nhi viễn chi” trong dân dã quen dành cho các bậc bề trên mà họ tôn kính ấy, đã bịt kín mọi ngả dư luận không cho lọt được đến tai bà giáo An cùng với ông chủ tịch.

Thành thử dư luận vẫn cứ là dư luận... một chiều!

***


Thôn Thượng này vốn là đất ngoạithành. Nên, mặc dù đã được nhà nước ta cho xáp nhập vào thành phố đã lâu, và đặc biệt, ước chừng mươi năm nay, tốc độ đô thị hóa nông thôn tràn về đây rất mạnh. Nhà gianh vách đất đã bị “tiêu diệt” hoàn toàn! Thậm chí đến kiểu nhà “con sơn” tường xây con kiến, mái lợp ngói móc cũng bị lâm vào một tình thế không lấy gì làm hãnh diện cho lắm. Đang từ vai trò “nhà chính” - có nghĩa là nơi gia chủ đặt ban thờ tổ tiên và tiếp đãi khách gần xa, nó đã đổi sang thành “nhà ngang” - có nghĩa là nơi dành để chứa đủ mọi thứ tạp vật của gia đình, đồng thời để cho đàn bà mắc võng nằm ru con trẻ. Làng trên xóm dưới người ta đua nhau xây nhà tâng kiên cố. Kẻ trường lực thì đổ của ra làm gọn ngay một lần cả hai tầng, thậm chí ba bốn tầng; người đoản lực thì cố gắng vay mượn đổ được cái móng “bê tông cốt thép” cho thật vững vàng, rồi xây lên một tầng đổ mái bằng, chờ... khi nào khấm khá sẽ “lên tầng” cho được “bằng người”...

Vì vậy bộ mặt thôn Thượng có thể nói không ngoa rằng đã thay đổi từng ngày, trong từng nhà! Vậy mà, trong tình hình ấy, vẫn còn một ngôi nhà cứ thản nhiên đứng đấy, giữ nguyên kiểu cách, hình dạng y như cũ, tuyệt nhiên không mảy may có chút gì thay đổi theo thời thế. đó là ngôi nhà của bà giáo An!

Bà giáo An đích thực là “gái làng” này. Không phải chỉ mới một vài đời, mà đã từ thời cụ kị tổ tiên, hàng chục đời “cắt rốn chôn rau” ở trên mảnh đất này. Khách đường xa ai ghé qua làng, có lòng muốn hỏi thì, kể từ con trẻ đến cụ già thảy đều sẵn lòng mách bảo, rằng bà giáo chính là cháu nội cụ đồ Hòa, là con gái út của thầy giáo Hiếu, một gia đình thời nào cũng có người đỗ đạt cao, danh tiếng nhất nhì trong hàng tổng...

Cách mạng nổi lên, hai vợ chồng ông giáo Hiếu cùng bốn người con lớn đều có chân trong Việt Minh, đi cướp chính quyền rồi cùng theo kháng chiến. Năm ấy cô bé An mới mười một tuổi, được cha mẹ gửi gia đình bên ngoại, tản cư lên Phú Thọ. Cô sống với người dì ruột ở nơi tản cư đến năm năm hai thì được trên tuyển chọn cho đi học tập ở nước ngoài. An học một mạch liền sáu năm, lấy xong bằng đại học mới trở về. Lúc này kháng chiến đã thành công, miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng, qua gợi ý của mẹ đẻ, An tình nguyện xin được về dạy học ở trường cấp ba của huyện nhà...
Hai năm sau cô xây dựng gia đình, lấy một người bạn cùng học ở nước ngoài và đang dạy cùng trường. Năm sáu lăm giặc Mỹ đánh phá miền Bắc dữ dội, chồng An cùng một số học sinh của anh hăng hái tình nguyện tòng quân, lên đường đánh Mỹ; để lại đứa con trai năm tuổi cho người vợ trẻ nuôi dạy.
Chồng đi vừa chẵn mười năm thì chị nhận được giấy báo tử gửi về, rằng anh đã anh dũng hi sinh trong trận quân ta tiến công và giải phóng thị xã Buôn Mê Thuột. Năm ấy chị vừa chẵn bốn mươi tuổi, đứa con duy nhất anh để lại cho chị khi ấy cũng đã mười lăm, đang học lớp tám của chương trình phổ thông mười năm.
Trong những năm tháng ấy, trước sự nghiệp giải phóng miền nam thống nhất đất nước thiêng liêng và cao cả, mọi sự hi sinh của mỗi người lính đều trở nên đơn giản. Bởi trên toàn cõi Việt Nam có gia đình nào không có người ra trận, có xóm thôn nào không có giấy báo tử gửi về?
Nhận tin người chồng thân yêu đã hi sinh, cô giáo An không dám đóng cửa nằm khóc mặc dù lòng cô rất muốn. Nghĩa vụ của một cô giáo chủ nhiệm và bổn phận của một người mẹ đã giúp cô có đủ nghị lực để đưngs vững trên vị trí của mình...
Nhưng, nếu có ainói thêm rằng chính ngôi nhà hương hỏa mà mẹ con cô đang ở, nơi mang di tích của dòng họ Lê nổi tiếng trong vùng, đồng thời cũng là nơi lưu giữ gần như nguyên vẹn những gì mà người cha liệt sĩ sáu mươi ngày đêm chống Pháp bảo vệ Thủ đô, và người chồng liệt sĩ mười năm chiến đấu góp phần giải phóng miền Nam... còn để lại, mới chính là điểm tựa tinh thần vững chắc nhất của đời cô, đã cho cô niềm tin và sức mạnh để vượt qua mọi thách thức ở đời, thì cũng không sai.

***


Ngôi nhà của bà giáo An đang ở chỉ là một ngôi nhà kiểu cổ, mái lợp ngói ta, cửa đóng bức bàn và đặc biệt trong nhà ngoài hiên đầy những cột với kèo, khiến cho người lạ nhìn vào cứ có cảm tưởng như là nó thấp xuống, tối đi và có vẻ nặng nề, lạc lõng...

Thế nhưng đối với mẹ con bà giáo An, và hầu hết bà con đã cao tuổi ở làng này, thì đối với họ, ngôi nhà đó được coi như “thánh địa”! Một nơi “bất khả xâm phạm”!

Thực ra, chẳng có gì là huyền bí, như đã nói ở trên, đó là ngôi nhà thờ của dòng họ Lê nổi tiếng trong vùng vì thời nào cũng có người thi đỗ, làm quan. Và trong kháng chiến chống Pháp, gia đình nhớn bé bẩy người thì có đến sáu người “thoát ly”. Kháng chiến thắng lợi chỉ có người mẹ cùng với một người con trai và hai cô con gái trở về. Người cha cùng anh con trai cả đã vĩnh viễn nằm lại chiến trường, không tìm thấy mộ.

Người mẹ lâm bệnh qua đời. Người anh tria cùng với hai chị gái rời quân ngũ, được nhận trọng trách ở nội thành, không ai về lại ngôi nhà cũ. Mẹ con bà giáo An trở thành người thừa tự của dòng họ: Trông nom công việc thờ cúng tổ tiên, cha mẹ; gìn giữ khói hương trong ngôi nhà hương hỏa ấy.
Với con mắt khách quan nhìn vào thấy là như thế. Riêng đối với bà giáo An lại khác. Bởi, từ trong sâu thẳm trí giác của bà, mỗi gốc cây, chậu cảnh, bờ rào, lối đi, tường hoa, mảnh sân, góc vườn... cho tới mọi thứ giường phản, bàn ghế, vật dùng, thức đựng còn lại ở ngôi nhà này, trong còn mắt của bà, nó đều chứa đựng không sao kể xiết những nỗi niềm tâm sự thông qua những kỷ niệm, về ông bà, cha mẹ, các anh các chị... trong suốt quãng đời thơ ấu của đời bà. Chỉ nói riêng về búi thạch trúc do chính tay cụ nội trồng ở đầu ngõ kia cũng đã chứa đựng xiết bao ý nghĩa sâu xa. Bà đã được nghe ông nội, rồi cha đẻ nhắc đến nó, kể về nó hàng trăm ngàn lần. Trước sau vẫn chỉ với một nội dung và ý nghĩa không hề thay đổi: “Cụ nội các con trảy kinh, thi đậu đại khoa, võng lọng về làng, ngoài biển, cờ, áo, mũ vua ban, cụ chỉ mang theo từ trong kinh về nhà một câu trúc nhỏ, và tự tay trồng nó ở nơi đầu ngõ nhà mình. Với ngụ ý: “Kẻ trên người dưới trong nhà này, không kể là ai, dù đi xa về gần hễ bước chân qua cánh cổng kia để ra đi hạc để trở về đều phải cúi đầu chào nó trước tiên hoặc cuối cùng”!

Người thiên hạ nghe vậy có khi còn có ý muốn đòi được nghe lời giải thích, chứ anh em con cháu trong nội tộc họ Lê thì không cần. Bởi ai nấy đều đã được cha mẹ truyền dạy từ khi còn mới bập bẹ học nói, về ý nghĩa của nó rồi kia. Rằng đã là người nhà này thì dù đi đâu, ở đâu cũng phải giữ cho bằng được cái khí tiết thanh cao, ngay thẳng. Không phải hổ thẹn khi gặp lại khóm thạch trúc ấy!

Một ngôi nhà cổ nằm giữa mảnh đất hơn hai nghìn mét vuông, trải qua hàng chục đời kế tiếp, khi nhiều khi ít đời nào cũng có người góp công với nước, làm nên sự tích vẻ vang cho dòng họ. Như vậy thử hỏi có vật gì, có chỗ nào trong ngôi nhà này, trên miếng đất này không lưu giữ hơi hướng, dấu tích của ông, cha? Muốn đổi thay nó, khó lắm! Làm sao có thể đổi thay cho được?

Nhưng...

Đất nước đang trên đường đổi mới. Ngôi nhà và miếng đất lại nằm vào một cái làng “sát nách” thành phố, kề ngay trên mặt đường quốc lộ! Lân bang ba bề bốn bên đua nhau “đô thị hóa”, duy chỉ còn lại ngôi nhà bà giáo An là cứ nghiễm nhiên không chịu thay đổi, dù chỉ là một chút. Trước sự thể như vậy, người biết thì chẳng có ý kiến gì, những không không biết trông vào lập tức cảm thấy “tức mắt”, thành thử cũng hay “ngứa miệng” nói chơi một vài câu. Là một ngườilàm công tác sư phạm mẫu mực, bà giáo An rất ít khi tham gia các cuộc chuyện trò vô bổ, song không vì thế mà bà không biết đã có người này người kia tỏ ý quan tâm đến ngôi nhà cùng với mảnh đất của gia đình bà. Biết vậy bà vẫn giữ thái độ bình thản “chuyện đâu bỏ đó”. Cuối cùng, rồi thì những người “ngứa miệng” nhất cũng không còn muốn ngứa nữa, ngôi nhà với mảnh vườn hơn hai nghìn mét vuông của gia đình bà An vẫn cứ ung dung tồn tại...

Rồi người con trai duy nhất của bà giáo An tốt nghiệp đại học nông nghiệp. Anh theo gương mẹ, xin về công tác tại huyện nhà, lập tức được bố trí vào chân phó phòng nông nghiệp huyện. Là người có phẩm hạnh và tài trí thật sự, chỉ sau một năm công tác anh đã được đề bạt lên chức trưởng phòng. Rồi anh lấy vợ. Đó là cô bạn học sau anh một lớp, người cùng làng, con gái của một cán bộ cách mạng lão thành mới được nhà nước cho nghỉ hưu trí, về xin đất làm một ngôi nhà ba tầng rất đẹp ở ngay gần kề phố huyện, sát cạnh ngôi trường cấp ba nơi bà giáo An đang dạy.

Ông bà thông gia của bà giáo An vẫn song toàn. Có hai người con đều là gái. Cô chị đã lấy chồng và cùng chồng công tác trong nội thành. ở nhà chỉ còn có cô em vừa tốt nghiệp ra, chưa nhận công tác, đang còn tạm sống với bố mẹ già, nay làm dâu bà giáo An.

Con trai lấy vợ được hai năm thì bà giáo An cũng được nghỉ hưu. Giữa lúc cả xã hội đâu đâu cũng nhôn nhao lên về cái sự học thêm với học thi. Chỉ có một người con đã thật sự trưởng thành, bà giáo An không còn phải lo lắng gì về đường sinh kế, lại sẵn có tấm lòng yêu học trò và say mê giảng dạy, bà lập tức làm đơn xin phép được mở lớp dạy không thu học phí ở ngay tại nhà mình...

Thoạt đầu chỉ có hơn chục em nhà ở gần đấy đến xin học. Thế rồi “tiếng lành đồn xa”, chỉ dăm bảy tháng sau ngôi nhà của bà giáo An đã chật ních học trò. Không phải riêng có những em ở mấy làng lân cận, mà là gần như đủ mặt đại biểu học sinh “hàng huyện” có mặt tại nhà bà.
Tự biết sức mình kham không xuể, từ chối không đành lòng, bà giáo An bèn ra công liên hệ với số bạn đồng học cũ nay cũng đã về hưu, kêu gọi họ giúp đỡ. Rất nhiều người hưởng ứng, hàng ngày từ ngoài phố thay nhau đi xem ôm vào tương trợ. Lâu dần, qua thực tế hoàn cảnh của từng người và nhu cầu của lớp, bà giáo An kén được hai người phù hợp và có điều kiện thuận lợi hơn cả, mời họ về ở hẳn tại nhà bà, cùng ăn cùng ở cùng dạy... không công!

Trong thời gian ấy, con đường công danh của con trai bà mỗi ngày một rộng mở. Cứ từng bước đi lên, chưa tới năm năm đã trở thành chủ tịch huyện nhà. Vợ anh cũng đã trở thành trưởng trạm giống cây trồng của huyện. Một phần vì nhà cửa bây giờ đã trở nên ồn ào chật chội, hàng ngày chỉ vì bữa ăn, giấc ngủ mà phải đi về lãng phí thời gian quá, phần nữa, cháu nội bà, đứa con đầu lòng của “anh chị huyện” đã đến thời kỳ cần phải được học hành chu đáo và v.v... Ông bà thông gia có lời với bà giáo An: “Để tiện sinh hoạt, bảo đảm sức khỏe và công tác cho con cho cháu, thôi thì hai nhà đã như một, đâu chẳng là nhà của anh chị ấy. Xin hãy cho vợ chồng chúng nó cùng với thằng cu ở lại trên này!
Được lưòi, bà giáo An vui vẻ chấp nhận ngay. Bà giải thích: “Con cháu là của chung. ở đâu miễn là có lợi cho sức khỏe, học hành, công tác của con, của cháu thì đạo làm ông bà, cha mẹ là phải hoan nghênh, ủng hộ”...
Vậy là từ đấy vợ chồng ông chủ tịch huyện dọn đến ở hẳn một tầng trong ngôi nhà ba tầng bên ngoại. Được cáithời đại bao cấp đã lùi xa, điều kiện sinh hoạt của mọi người đều đã được nâng cao. Cái sự sắm xe máy đối với vợ chồng ông chủ tịch huyện, hoặc lắp cái máy điện thoại đối với một người như bà giáo An, thì thật là đơn giản. Tóm lại, cái khoảng cách bốn ki lô mét từ huyện lỵ về thôn Thượng hay ngược lại, không hề có ảnh hưởng xấu tới qun hệ mẹ con, bà cháu và đôi bên thông gia... gì hết.
Vợ chồng ông chủ tịch huyện đều là người có học, và đều xuất thân từ những gia đình nền nếp, rất có ý thức về bổn phạn đối với nhau cũng như đối với những người đã sinh đẻ ra mình. Mỗi tuần lễ ít nhất là một lần đến hai lần, khi thì cả đôi khi thì một người, về thôn Thượng, “đồng quà tấm bánh” trực tiếp thăm nom sức khỏe bà giáo An; còn như qua điện thoại thì đó là công việc hàng ngày.

Bà giáo An cũng rất lấy làm đẹp ý. Bởi vì “tổ giáo viên” của bà rất tâm đồng ý hợp, ai cũng một lòng tận tâm tận lực vì học trò thân yêu. Khôgn những chỉ đơn thuần giảng dạy, họ còn tự nguyện góp tiền lương, thuê người làm hẳn một cái nhà tạm, giúp cho những em ở xa có chỗ nấu ăn bữa trưa và nghỉ ngơi. Trong tình hình ấy, con trai và con dâu bà dọn lên ở nhờ trên ông bà thông gia là phải quá. Qua vài ba năm đầu, cứ rút kinh nghiệm dần, cuối cùng các bà đã định ra được một chương trình ổn định để giảng dạy cho từng loại học trò đễnin thụ giáo: đối với loại “học thêm” thì chia ra làm nhiều bậc, đếnhọc theo một thời gian riêng và không hạn chế. Còn với loại “học thi” thì có sự xem xét rất là chu đáo và thận trọng. Trò nào đến cũng nhận cho học thử một tuần, rồi ba bà họp bàn cân nhắc thật chi li để đi đến quyết định: Người nào giỏi hoặc khá thì khỏi nói, lớp sẵn sàng tiếp nhận; người học yếu nhưng nghe giảng thì hiểu được bài và có ý ham học, nghĩa là có thể hi vọng, lớp cũng cố gắng thu nhận. Còn với những trò nào trải qua một tuần học thử mà vẫn không tiếp nhận được bài giảng, hoặc đua đòi đến lớp để lấy tiếng với gia đình bè bạn, thì sẽ thẳng thắn, kiên trì khuyên nhủ nên sớm tỉnh ngộ, hiểu thực chất khả năng và trình độ của bản thân, tự giải phóng mình ra khỏi cuộc ganh đua, đỡ hao tổn tiền bạc, công sức và thời gian vào cái công việc mà không có hi vọng gì đi tới đích!

Cứ thế, mỗi năm “lớp luyện thi tại nhà của bà giáo An” đã giúp cho năm ít cũng là mười chín, nhiều nhất là ba mươi tư em học sinh của huyện nhà được thoải mái bước vào cổng trường đại học của nước nhà. Công việc ấy khởi đầu từ năm bà mới được cầm sổ hưu trí, cho đến nay bà đã bước sang tuổi sáu mươi chín vừa chẵn mười bốn năm rồi. Và vẫn chưa có dấuhiệu gì của sự kết thúc!
Vậy mà, bỗng nhiên có dư luận “bà giáo An người ở thôn Thượng mắc bệnh tâm thần... nặng”!

***


Không biết nghe được từ miệng ai, bà mẹ vợ của ông chủ tịch huyện hớt hải về báo tin với chồng:

Này ông, có tin bà thông gia của nhà ta mắc bệnh tâm thần đấy, ông biết chửa?

Vốn người điềm đạm, ông cục trưởng về hưu Lê Đức Công hỏi lại vợ:

- Nhà hai đứa con gái có chồng, bà nói thông gia là thông gia nào chứ?

- Thì, bà giáo “hưu” mẹ chồng “bé” Thanh Thảo ý chứ ai!

Ông Công nhăn trán, khẽ lắc đầu phủ nhận:

- Tầm bậy! Hôm chủ nhật vợ chồng con cái chúng nó vừa đèo nhau về thăm bà, nếu có việc ấy thì chúng đã kể.

Bà vợ nhệu môi cười, trách:
- Ông thì chỉ giỏi ngồi trà lá với mấy ông bạn thông thái phố huyện, để bình phẩm về đường lối lãnh đạo của các ông to bà lớn, chứ biết đâu đến việc nhà. Các con gái, con rể ông chúng nó chẳng đứa nào có nhu cầu được ngồi nhỏ to “tâm sự” với ông và tôi đâu, ông ạ!

- Bà nói lạ! Chuyện quan trọng trong gia đình, là con cái trong nhà, chúng nó không nói với bố mẹ thì bà định bảo nó nói với hàng xóm ư?
- Hàng xóm chúng cũng chẳng nói.

- Chuyện bà lằng nhằng rau muống, chán chết!

- Vâng... mong sao mọi người ai cũng “lằng nhằng” được như tôi thì thiên hạ khối kẻ được nhờ. Thử hỏi ông có biết vì sao mà các con ông đứa nào cũng ngậm miệng như hến, không chịu nói hở ra với ai một lời nào về cái chuyện mẹ ốm. Vì sao ông biết không? Chỉ vì việc ấy nó quan trọng quaqs, nguy hiểm quá, ông biết chửa?

Ông Công bất giác bật cười, đai lại:

- Hư... quaan trọng nguuy hiểm! Một bà giáo già đã mấp mé cái ngưỡng “cổ lai hi”, nói gì tâm thần, kể cả “kềnh” ngay ra đấy thì đã sao nào?

- Tôi biết mà. ông thì chỉ tài giỏi ở những việc quốc gia đại sự, chứ những việt thiết thân như thế này có khi nào ông gặp phải đâu mà biết được? Tôi hỏi ông nhé: Nếu cái việc bà mẹ chồng “bé” Thanh Thảo nhà ta mắc bệnh tâm thần là đúng sự thực, thì... cái chức chủ tịch huyện, với đại biểu Quốc hội của con rể ông liệu người ta có để yên cho ông? Biết đâu người ta chẳng viện cái cớ “den dủng, di truyền di trủng” ra để cho nó nghỉ việc?

Hình như nghe ra, ông thần mặt ngồi im. Chờ một lúc, thấy ông vẫn không hề biểu lộ thái độ gì, bà giục:

- Ông liệu mà tính cách nào đi chứ, cứ ngồi như bụt thế định để chờ nước đến chân rồi mới nhẩy ư?

Không trả lời bà. ông lặng lẽ nghiêng đầu nghĩ ngợi hồi lâu, rồi dường như đã đi đến một quyết định, ông chậm chạp đứng dậy, dềnh dàng thay quần áo, đội mũ, nói giọng đĩnh đạc:

- Bà trông nhà đấy. Có thể đến chiều tôi mới về!

- Nhưng ông đi đâu mới được chứ? Có người muốn gặp thì bảo họ thế nào?

- Đi việc của tôi. Ai hỏi bảo họ chờ đến tối.

Biết tính chồng, bà không dám hỏi thêm, đành đứng chờ ông ra khỏi nhà để cài chốt cửa.

Ông ung dung đi từng bước khoan thai đến thẳng chỗ ngã ba nơi có ngôi hàng bách hóa tổng hợp phố huyện thì dừng lại bên cạnh một anh lái xe ôm, nói:

- Chú mày cho tớ về dưới làng một chốc.

Có vẻ nhưđã rất quen với khách, anh lái xe ôm ngước nhìn ông, tỏ vẻ ngạc nhiên hỏi:

- Hôm nay cụ về làng mà lại “tay không” thế ạ?

Ông giật mình vội gật đầu đáp:

- à à... chết thật, tớ đãng trí thế đấy. Chờ chút, tớ vào kiếm hộp bánh đã nhớ.

Ông nói rồi vào ngay quầy bánh kẹo mua các thứ làm thành hai túi bánh kẹo thì như nhau nhưng một túi có thêm chè và thuốc lá. Đoạn quay ra, đàng hoàng leo lên xe ôm.

Anh lái xe nổ máy đi được chừng vài chục mét đã gợi chuyện:

- Phải phải, thì mỗi ngày thể lực mỗi kém, đi nhiều không đủ sức nữa rồi. Dưới ta dạo này thế nào, có chuyện gì mới không?

- ồi dào, cụ tính ở cái làng như làng ta thì thiếu gì chuyện ạ. Đàn ông đàn bà già nửa làng hàng ngày vào kiếm ăn trong phố, ngồi lê hóng hớt, tha về làng thôi thì chẳng thiếu thứ chuyện gì, cụ ạ.

Nhận thấy anh lái xe trả lời không trúng với ý mình nên ông cảm thấy không muốn nói chuyện, im lặng cho qua. Cũng may, đoạn đường từ huyện vềlàng chỉ có chừng bốn cây số, xe chạy chưa đến mười phút đã tới nhà. ông chưa xuống khỏi xe anh lái đã hỏi:

- Cụ ở lại đến mai hay về ngay ạ?

- Chú mày về nhà nghỉ ngơi, chờ tớ. Chắc là không tới hai tiếng đồng hồ đâu. Xong việc tớ sẽ ra nhà chú mày.

- Vâng, cụ cứ thoải mái chuyện trò, con chờ được ạ.

Anh lái xe vừa rồ máy, ông lập tức đi thẳng đến nhà ông trưởng tộc. Sau khi đã trao quà, thăm hỏi sức khỏe và công việc làm ăn của nhau xong, ông vào đề ngay:

- Bác ở nhà có nghe ai nói gì về bà lão thông gia của chúng em không?

Ông trưởng họ ngẫm nghĩ rồi hỏi lại:

- Chú hỏi tôi như vậy ý hẳn đã nghe người ta nói đến tai, về việc bà thông gia của chú thím mắc bệnh... dở người, phải vậy không?

- Vâng ạ!

- Chú có tin điều đó là thật không?

- Em cũng chưa biết thế nào nên vội về đây hỏi bác.

Ông trưởng họ lặng lẽ vê thuốc lào ngồi hút liền mấy điếu, rồi tự rót nước uống. Mãi mới cất lời:

- ở nhà, tôi có nghe được điều ấy lâu rồi. Dễ chừng cũng đã đến hơn một tháng ấy. Tôi đã bỏ công đi hỏi han, tra vấn nhiều người... cuối cùng biết được cái dư luận ấy lại chính ở từ trên phố huyện “các chú” truyền về. Tôi cũng đã vài ba lần kiếm cớ này cớ nọ sang thăm và nói chuyện với bà giáo An, để thăm dò xem sao. Tôi chưa thể kết luận nhẽ nào nên cứ lần lữa chưa muốn báo tin cho chú thím biết. Vì “nhời nói đọi máu”, ai kia người ta có thể nói bừa chứ tôi thì không được phép...

- Em biết chứ ạ. Nhưng... bác nói bác đã sang gặp và chuyện trò với bà thông gia của chúng em. Thế bác thấy... tình hình bà ấy thế nào ạ?

- Cứ như mắt tôi nhìn thì chẳng thế nào hết. Vẫn đi lại, ăn mạc, làm việc, nói năng... đoan trang, tinh tươm, tỉnh táo như thường. Thành thử tôi đâm ngờ. Biết đâu chẳng có kẻ căm bà ấy mở lớp dạy lũ trẻ học không lấy công, triệt mất món béo bở của chúng nó, nên chúng nó thù, đơm tiếng đặt điều ra như thế để làm hại uy tín của bào giáo cũng nên.

Nghe rõ từng lời ông trưởng họ kể, ông Công nhất nhất gật đầu tiếpnhận, nói thêm với ngụ ý giãi bầy tâm sự:

- Bác biết đấy, em xa làng từ bé. Khi còn trẻ con gia đình đã cho ra Hà Nội trọ học. Lớn lên theo cách mạng rồi đi suốt. Hơn chục năm nay trở về nghỉ hưu, khi ấy còn lệ thuộc vào tem phiếu, vả lại cũng do tuổi cao muốn ở gần bệnh viện cho tiện việc bảo dưỡng cái thân già nên em xin tiêu chuẩn đất cát, vật liệu, làmcái nhà trên phố huyện cho tiện cả đôi đường. Vẫn gần tổ tiên, gia tộc mà vẫn hưởng lộc nước được đầy đủ theo đúng chính sách của đảng và Chính phủ...

Ông trưởng họ cướp lời:

- Chú tính thế là đúng quá rồi. Cả họ cả làng ai cũng phải khen cái đường đi nước bước của chú đấy. Về với làng xóm tiếng rằng quí thì quí thật nhưng còn lắm sự phiền hà, nhiêu khê lắm. Nhất là với một lão thành cách mạng như chú: Đảng ủy, ủy ban quyền bính trong tay nhỡ ra có điều này tiếng nọ, có mặt chú sống tại làng, không nói không được mà nói ra thì... có phải dễ đâu? Chẳng bằng cứ dở gần dở xa cho nhẹ lòng. Tôi nói thế có phải tai không?

- Bác đã nói thì còn sai vào đâu được! Nhưng, ngẫm cho kỹ thì cũng có những cái thiệt. Ví như việc gia đình của chúng em đấy. Tiếng là gả chồng cho con lấy người cùng làng, nhưng em có biết được gì nhiều về bên gia đình thông gia của chúng em đâu.

- Chú nói lạ, có gì khúc mắc nào? Con rể chú hình dong tại mạo thiền chiện ra đấy rồi. Bố đẻ của nó là con nhà cách mạng nòi, được Đảng cử ra nước ngoài ăn học có bằng đại học hẳn hoi, vậy mà vẫn xung phong tình nguyện tòng quân ra trận đánh Mỹ và hi sinh. Mẹ nó là bà giáo An đấy, tôi nghĩ chú biết bà giáo từ thuở bà ấy còn chưa biết mặc quần ý chứ! Tất cả đều sáng rõ như ban ngày, còn có điều gì không biết thì chú thử nói ra xem nào?

Ông Công thận trọng cất lời:

- Những điều bác dạy em biết hết chứ ạ. Song lúc này anh em ta đang nói chuyện với nhau về cái dư luận họ bảo bà thông gia của em mắc bệnh tâm thần. Em muốn tìm hiểu chuyên về cái điểm ấy thôi. Về riêng bà giáo An thì em biết rõ rồi. Nhưng... về ông thân sinh ra bà giáo, là thầy Hiếu; rồi cả ông nội của bà ấy nữa, là cụ đồ Hòa, thì em chỉ được nghe tên chứ có biết được điều gì cụ thể đâu. Mà cái bệnh tâm thần ai dám bảo đảm là nó không có sự di truyền từ đời trước sang đời sau?

Nghe thủng ý của ông em họ, ông trưởng tộc gật gù công nhận:

- Nếu nói về điều ấy thì, mặc dù tôi ở làng từ nhỏ tới giờ, và đã bước qua tuổi bẩy mươi ba rồi, cũng đành chịu, không biết. Cụ đồ Hòa mất từ khi tôi chưa ra đời, thầy giáo Hiếu hi sinh từ ngày ta mới bắt đầu kháng chiến chống Pháp. Lâu lắm rồi còn gì.

- Trong làng còn có người nào cao tuổi hơn anh em ta không hả bác?

- Làng thì có đôi ba người hơn tuổi tôi với chú, nhưng chưa ai tới tám mươi. Tuổi ấy chẳng biếthơn anh em ta mấy hột. Ngoài hàng xã thì đông, có đến dăm người ngót nghét chín mươi cơ đấy. Để rồi tôi sẽ dò hỏi thử xem họ có biết được chút gì về thầy giáo với cụ đồ không?

Cảm thấychuyện trò đã đủ, ông Công “vâng” một tiếng rồi đứng dậy xin sang thăm bà thông gia...
Đang dở buổi dạy, thấy ông Công đến, bà giáo An cho học trò tạm nghỉ để tiếp khách. Sau khi trao gói quà và chè nước, thăm hỏi nhau chỉn chu mọi nhẽ giữa đôi bên thông gia, ông Công viện cớ ảnh hưởng sự học của lũ trẻ để xin phép ra về - thực ra thì ông cảm thấy được mắt nhìn, tai nghe đã tạm đủ. Bà giáo An không mảy may hay biết một chút gì về ýtứ của ông thông gia. Bà vẫn giữ nguyên lòng trân trọng, cùng thái độ ân cần vui vẻ đối với ông bố đẻ của đứa con dâu...
Xem ôm đưa ông Công trở về phố huyện. Ông không về thẳng nhà lại rẽ theo lối vào nhà ông giáo Vũ - nguyên hiệu trưởng trường cấp ba của huyện, đã cùng về nghỉ hưu một đợt với bà giáo An, hiện đang là bạn “thể dục dưỡng sinh” rất tâm đồng ý hợp với ông.
Gặp nhau, qua vài câu thăm hỏi mang tính chất xã giao cho phải phép, ông Công tranh thủ vào việc ngay:

- Ông Vũ này, ông công tác ở trường cấp ba của huyện có được mươi năm không nhỉ?

- Sao lại mươi năm? Tôi là một trong số bảy giáo viên đầu tiên đến “tiếp quản” ngôi trường này khi nó vừa xây dựng xong, chưa kịp làm lễ khánh thành cơ mà.

Ông Công gật gù ra vẻ thán phục:

- à thì ra đứng vào hàng “khai quốc công thần”. Có lẽ cùng thời với bà thông gia nhà tôi.

- Sao lại cùng? Bà An mãi đến một chín năm tám mới tốt nghiệp về nhận công tác ở đây. Trường khai giảng từ một chín năm sáu cơ mà!

- ồ, vậy là ông còn sớm hơn những hai năm?

- Thì thế nên đắn đo mãi tỉnh mứoi quyết chọn tôi thay chân bà Hương làm hiệu trưởng, chứ không đã là bà An, đâu đến lượt tôi?

Ông Công tiếp tục dẫn dắt câu chuyện:

- Kể cũng bền đấy nhỉ. Hơn ba chục năm trời cùng chung lưng đấu cật, nếm trải đủ mọi mùi gian truân vất vả, góp công làm nên lịch sử vẻ vang cho ngôi trường của huyện nhà. Lớp người như ông với bà thông gia của tôi đến hôm nay có lẽ cũng không còn đậu lại được là bao ddâu nhỉ?

- ồ, nếu nói về số giáo viên có mặt nhận công tác tại trường từ những năm năm sáu, năm tám đổ về trước như chúng tôi dễ chừng cũng chỉ còn có tôi với bà An đậu lại ở đất này. Bà An vốn dĩ là người bản địa, mỗi mình tôi dân nơi khác đến “gửi rể”...

Ông Công cười vui vẻ đế vào:

- Ông mượn tiếng gửi rể để định “làm khách” của huyện chúng tôi mãi mãi ư? Không nên khôn vặt như thế ông ơi!

Ông Vũ cũng vui vẻ đáp:

- Đâu có, đâu có! Cổ nhân đã dạy: “Trai ở “gửi rể” như chó chui gầm chạn”. Như vậy tôi là người hèn chứ sao gọi là khôn cho được?

Chợt cảm thấy mình thất thố, ông Công vội xuê xoa:

- ồi, chuyện trò lêu têu với nhau cho vui ý mà, khôn dại gì nữa mấy anh già chúng mình? Ông Vũ này, có một điều áy náy tôi sang để nhờ ông góp ý cho đây. ông có thì giờ rảnh không?

Ông Vũ tươi cười hỏi trêu lại:

- Rảnh không ư? Thế ra ông nghĩ rằng trên đời này chỉ có mỗi mình ông là tỉ phú thời gian sao? áy náy điều gì, nếu ông đã có lòng tin “kẻ láng giềng gần” này, xin cứ thoải mái đàm luận.

- Về bà thông gia của tôi ấy mà. Là đồng nghiệp đồng thời cũng lại là người lãnh đạo lâu năm đối với bà ấy, ông nhận thấy trong công việc dạy học của bà giáo An có... vấn đề gì không?

Nghe ông Công đột ngột nói ra những lời như vậy, ông Vũ ngạc nhiên ngồi lặng thinh một lúc mới thận trọng hỏi lại:

- Chắc là ông đã nghe người ta đồn đại điều gì về bà giáo An, phải không?

- Đúng thế! Tôi mới nghe được một dư luận không thích tí nào ông ạ!

- Dư luận là thế nào, ông?

- Họ bảo bà thông gia của tôi mắc bệnh tâm thần.

Không hề tỏ ý ngạc nhiên, ông Vũ vẫn trầm tĩnh hỏi tiếp:

- Và ông đã tin?

Ông Công thở dài, đáp:

- Nếu tin thì tôi đã chẳng phải sang đây hỏi ông.

- Như vậy tức là “bán tín bán nghi”... phải không?

Ngần ngại một chút rồi ông Công gật đầu công nhận:

- Đúng thế. Vậy thì theo ý ông việc đó hư, thực ra sao?

- Cái dư luận tầm bậy đó tôi nghe thấy từ lâu rồi, và tôi chẳng định là láo, nên bỏ ngoài tai.

- Nhưng... đối với bà giáo An, chả lẽ...

Ông Vũ cười khẩy, cướp lời:

- Chả lẽ làm sao? Là một bà giáo về hưu, dạy học làm phúc không lấy tiền, ai thích học thì đến chẳng thích thì đừng. Dư luận nào có thể làm hại được bà ấy mà sợ? Và sự thật hiển nhiên ra đấy: Từ khi có dư luận đến nay lớp học vẫn hoạt động bình thường, kẻ học vẫncứ học, người dạy vẫn cứ dạy chẳng ai rụng một cái lông chân nào. Thật ý nghĩa khi người xưa đẻ ra câu chuyện ngụ ngôn: “Có cái xe ngựa đi qua làng, lũ chó tức tối hóng mõm ra thi nhau sủa váng cả lên! Rốt cuộc, là chó thì tất nhiên nó phải sủa; là xe thì ta cứ việc đi”. Bận tâm làm gì cho mệt óc hả ông?

Nghe trọn mọi lời ông Vũ nói, nhận thấy đã đủ, ông Công giữ lại điều tâm sự của riêng mình, đối đáp qua lại thêm vài câu rồi tìm cớ nói lời tạm biệt. Về tới nhà, không cần nghỉ ngơi, ông gọi bà đến căn dặn:

- Tôi đã đi tìm hiểu qua những đầu mối quan trọng nhưng vẫn chưa thể kết luận được vấn đề. Tôi sẽ đi một vài nơi nữa trong Hà Nội để xác minh cho thật yên tâm. Bả nhà tôi giao cho hai việc: Một là, theo như tôi đãđiều tra được thì nguồn dư luận phát sinh ra chính từ ở đây. Bởi vậy trong thời gian tôi vắng nhà, bà phải cố gắng dò la xem “nó” cụ thể là do ai tung ra, và vì mục đích gì? Hai là, khi chưa có kết luận chính xác thì tuyệt đối không được hé môi, nói hở ra một lời nào với vợ chồng chúng nó, kẻo mà gây hoang mang không cần thiết, hiểu không?

Bà nhất nhất gật đầu ghi nhận mọi lời ông dặn, chỉ nêu một sự thắc mắc nhỏ:

- Nhưng ông cũng phải cho tôi biết ông ra Hà Nội đến những đâu, để nhỡ ra có chuyện gì tôi còn biết đường mà hỏi chứ?


Nghe cũng phải tai, ông đành nói:

- Tôi đếntừng nhà thăm ông anh trai với hai bà chị gái của bà An, sau đó sang Châu Quì gặp một người quen cũ đang làm viện phó ở bên đó để hỏi xem cái bệnh quái ác ấy nó di truyền di troẹt ra làm sao và liên quan đến mấy đời?

- Vâng, vâng! Tôi hiểu rồi ạ

Ông cục trưởng nghỉ hưu đi “chơi” Hà Nội đã ba ngày rồi mà vẫn chưa trở về. Trong ba ngày ấy bà vợ ông cục trưởng ra sức đi “thăm hỏi” hầu như không còn thiếu một người quen nào trong các tổ chức công tác hoặc sản xuất, kinh doanh của huyện. Kết quả “kẻ có công trời chẳng phụ”. Bà đã “điều tra” ra đích danh cái đứa đã dám tung dư luận rằng bà giáo An, người mẹ đẻ đáng kính của con rể bà “mắc bệnh tâm thần”.

Từ trưa đến giờ bà đi ra đi vào nôn nóng mong ông về. Càng mong càng mất hút, chẳng thấy tăm hơi ông đâu cả. Không thể sang văn phòng ủy ban nói với con rể được, và cũng không thể kiên gan kìm nén được lâu hơn nữa, bà đành khóa cửa, tức tốc ra đi xem ôm xuống tận trạm giống cây trồng tìm con gái...
Đang giữa giờ làm việc, nghe nhân viên báo có mẹ đẻ đến tìm. Bà vợ ông chủ tịch huyện ngỡ có sự gì bất trắc xảy ra ở nhà, lập tức chạy vội ra gặp mẹ. Chưa kịp mở miệng hỏi thì mẹ bà đã lên tiếng trước:

Con vào thu xếp công việc rồi theo mẹ về nhà ngay.

- Mẹ ơi, có việc gì thế ạ?

- Việc quan trọng, cứ về rồi sẽ biết.

- Nhưng con còn...

Bà mẹ gạt phắt:

- Không nhưng gì nữa. Mẹ điên ruột lắm rồi. Nhanh lên, mẹ chờ.

Kỹ sư Thanh Thảo, trưởng trạm giống cây trồng của huyện thực sự hoang mang trước thái độ và cách nói năng kỳ lạ chưa từng thấy ở mẹ mình. Chị đành bực bõ quay vào dặn dò nhân viên vài lời, rồi lấy xe ra đèo mẹ về nhà. Trên đường, biết mẹ rất sợ nói chuyện khi ngồi xe đèo, Thanh Thảo không dám mở miệng nói lời nào.

Về đến nhà, chưa kịp cởi áo ngoài Thanh Thảo hỏi ngay:

- Có việc gì mà gay gắt thế, mẹ nói đi?

Bà mẹ cũng không cần cởi áo ngoài, đáp:

- Con ngồi xuống đấy, - không chờ cho con ngồi yên chỗ, bà nói ngay: Con có biết đã ba hôm nay bố mẹ con đâm ngược đổ xuôi, vất vả quên ăn bỏ ngủ là vì việc gì không?

Thanh Thảo chưa kịp đáp thì có tiếng chuông reo. Bà mẹ bực bõ rên lên: “Giời ạ! Khách khứa nào thế không biết” - rồi bà bảo con “Cứ ngồi yên đấy, để tôi ra khất họ có việc gì mai hãy đến”...

Không ngờ người gọi cổng lại là ông cục trưởng. Vào thấy con gái ngồi đấy ông ngạc nhiên hỏi:

- Sao về sớm thế con?

Thanh Thủy cau có trả lời bố:

- Chẳng biết có chuyện gì mà mẹ đùng đùng xuống tận Trạm lôi con về đây. Bực chết được!

Bà mẹ khóa cổng xong, vừa vào đến nơi nghe con gái nói thế, lập tức bắt nhời ngay:

- Không việc gì phải bực. May quá, ông về đây rồi. Mời ông hãy giải quyết cho ra ngô ra khoai việc này xem trắng đen nó ra làm sao nào!

Ông điềm đạm khuyên vợ:

- Việc dù có nghiêm trọng đến mấy thì bà cũng nên ngồi xuống đã rồi muốn nói gì hãy nói. Có ai nói tranh mất phần của bà đâu?

Nói xong, ông đủng đỉnh vào nhà trong thay đồ, rửa mặt đâu vào đấy rồi bước ra, ngồi nghiêm chỉnh, cất tiếng hỏi:

- Việc ra sao nào. Giữa hai mẹ con ai thấy cần phải nói trước thì nói đi, tôi nghe đây!

Người con lập tức nói ngay:

- Việc thế nào là tự ở mẹ chứ con thì có gì mà phải nói?

Dường như đã bình tĩnh lại, bà mẹ cấtgiọng rất ôn hòa có ý như nói riêng với chồng:

- Việc ông đi giao lại bảo tôi ở nhà làm. Tôi bỏ công điều tra đến tận từng “chân tơ kẽ tóc” thì, chẳng hóa ra cái kẻ bỗng dưng dựng nên cái dư luận độc ác ấy lại chính là... con gái ông đấy, chứ chả phải người xa lạ ở tận đâu đâu!

- Bà nói sao? Nghĩa là “ròi trong xương bò ra” ư?

- Vâng, đúng thế đấy ạ.

Nghe bố mẹ nói năng, đối đáp với nhau Thanh Thảo vội hỏi:

- Hình như bố mẹ đang nói về con phải không?

- Chẳng cô thì còn ai vào đây?

- Nhưng việc gì mới được chứ? Và tại sao lại là con? Mẹ nói nhanh lên nào.

Không để cho vợ lên tiếng, ông Công giơ tay ra hiệu cho bà ngồi im. Rồi điềm đạm hỏi:

- Bà kể lại tôi nghe: Bà đã nghe ai nói. Cụ thể là nói thế nào? Cứ kể lại nguyên văn lời của người ta đã nói với bà, chứ không được phép xen lẫn ý bà vào đấy. Rõ chưa? Bà bắt đầu đi!

Bà dọn lại kiểu ngồi cho được thật đàng hoàng rồi kể:

- Tôi đi dò hỏi thì chả hóa thiên hạ ai ai cũng đã biết cái dư luận ấy từ lâu rồi, chỉ còn có ông với tôi và “anh huyện” là chưa biết mà thôi. Thế là tôi cứ truy từng người lần ngược lên để tìm thủ phạm. Và người cuối cùng đã phải khai ra sự thật, là ai ông biết không?

- Không hỏi. Là ai bà nói ra đi.

- Là con gái ông Thuyết, nguyên bí thư huyện ủy đã nghỉ hưu. Cái nhà cô Hằng ấy chứ ai!

Ông gõ ngón tay xuống bàn, cật vấn:

- Cô Hằng ấy nói với bà thế nào?

- Cô ấy nói rằng: “Vâng, chính tai cháu nghe từ chính mồm của chị Thanh Thảo nói với “bà bô” cháu rằng mẹ chồng chị ấy “tâm thần hạng nặng” mà lị! Nghe chị ấy nói thế nào thì cháu kể lại với mọi người như thế chứ có thêm bớt gì đâu”? ấy, cô Hằng đã nói lại với tôi đúng nguyên văn là như vậy đấy.

- Rõ rồi! - ông quay sang hỏi Thanh Thảo: Con đã nghe rõ từng lời mẹ con kể rồi chứ? Có đúng thế không?

Thanh Thảo vung hai cánh tay, thở ra một hơi dài kêu lên:

- Trời ạ, có vậy mà mẹ làm con tắc thở. Thưa bố, thưa mẹ Đúng ạ! Chính con đã nói với bà Thuyết đúng như thế đấy ạ.

Ông Công nghiêm trang gặng hỏi:

- Lý do nào khiến con nói ra điều đó?

Thanh Thảo thoải mái đáp:

- Dạ, một cách nói vui vẻ hàm chứa một chút hóm hỉnh, bố ạ.

Ông nguyên cục trưởng không kịp nhắc mình phải luôn luôn tỏ ra là một người ung dung, bình tĩnh như ông vẫn âm thầm hãnh diện mà đã giật mình, cau mặt nhìn Thanh Thảo và nói như quát:

- “Vui vẻ, hóm hỉnh” à? Hừ! Tôi không hỏi “chị” về cách nói, mà điều tôi cần biết là nội dung, hiểu không? Nghĩa là do từ nguyên nhân nào đã dẫn chị tới chỗ nói rằng mẹ chồng chị là “tâm thần nặng”? Hiểu ý tôi chưa?

Đến lúc này thì Thanh Thảo bắt đầu cảm thấy “có vấn đề”. Nét tươi cười thoắt biến mất nhường chỗ cho vẻ ngượng ngùng trên gương mặt, cô ngập ngừng đáp:

- Con hiểu ý bố!

- Vậy thì trả lời đi.

Ngẫm nghĩ một lát, Thanh Thảo bình tĩnh trình bầy:

- Sự kính trọng của con đối với mẹ chồng như thế nào, chắc chắn bố mẹ đều đã biết. Tuy nhiên, trong sinh hoạt đôi khi cũng vẫn có những trường hợp... tạm gọi là bất đồng quan điểm. Và, về phía mình, con nghĩ rằng con đúng, bởi vậy trong lúc bất giác con đã sử dụng cách nói năng với người quen như bố mẹ đã thấy.

- Hãy nêu dẫn chứng về những “quan điểm bất đồng” mà chị nghĩ rằng chị đúng?

Lại ngẫm nghĩ một lúc, Thanh Thảo nói giọng đầy tự tin:

- Con có phải là đứa tham lam, biển lận không? Có khả năng vì tiền mà chôn vùi danh dự của gia đình, của bản thân và của chồng, con con không? Điều ấy bố mẹ biết rõ là không thể có ở con. Có đúng thế không ạ? Bởi vì trên thực tế, với số vốn chúng con tích cóp được trong thời gian học ở nước ngoài, góp cổ phần với vợ chồng chị Thanh Lan, lợi nhuận thu về bình quân hàng chục triệu mỗi tháng đã cho phép con chi tiêu tạm gọi là thoải mái, phải không ạ? Trên cơ sở ấy. Mỗi khi về thăm mẹ chồng, con mang theo chút quà nếu co trị giá năm bẩy chục ngàn, thậm chí một vài trăm ngàn... thì đó đâu phải là điều cần phải chấn chỉnh? Vậy mà, bố mẹ biết không: Mẹ chồng con, hầu như lần nào cũng lấy việc đó ra để “răn đe” con. Bà coi con như một cô học trò phổ thông - một đối tượng quen thuộc để bà giảng dạy khoa đạo đức công dân, rằng: Phải sống liêm khiết và giản dị; rằng phải chăm lo tu dưỡng phẩm chất và nhân cách làm người; tránh xa mọi cám dỗ của vinh hoa hưởng lạc; và rằng chỉ có một cuộc sống giản dị trong sinh hoạt cộng với một tâm hồn thật sự thanh cao mới giúp ta tạo lập được giá trị đích thực là người và v.v... Con đã trình bày với mẹ chồng con rằng thời đại của chúng con là thời đại của một xã hội Việt Nam đổi mới rồi. đảng và Chính phủ cho phép dân không những chỉ ăn no, mặc ấm... mà còn cố gắng phấn đấu để được ăn ngon, mặc đẹp! Người ta công khai tổ chức thi hoa hậu, trình diễn các kiểu thời trang, biểu diễn nhạc nước ngoài v.v... miễn là không buôn gian bán lậu, tham nhũng, ltrộm cướp, hối lộ hoặc xì ke, ma túy. Tóm lại, nền đạo đức của thời đại chúng con là nền đạo đức hòa đồng với tốc độ phát triển văn minh của toàn thế giới.

Ông cục trưởng giơ tay ra hiệu cho con gái tạm ngừng. Và nói:

- Chừng đó đã đủ để giải thích về cái “quan điểm bất đồng” thứ nhất của chị đối với mẹ chồng rồi. Hãy chuyển sang trường hợp bất đồng thứ hai.

Thanh Thảo hơi ngớ ra một tí. Nhưng rồi cô cũng nhanh chóng trấn tĩnh lại mình, và thoải mái dẫn giải:

- Con xin lấy ngay trường hợp nảy sinh cái câu nói mà con gái bà Thuyết đã nghe lỏm được và gây thành dư luận: Bố mẹ biết rằng gia đình nhà chồng con có một tài sản rất đáng giá ở thôn Thượng chứ ạ? Và, bố mẹ chắc chắn cũng biết rất rõ rằng đất thổ cư có chước bạ chủ quyền trong tay, mà lại ở kề ngã ba đường cái thì... cái ý nghĩa của câu nói “tấc đất tấc vàng” không còn là “ngụ ngôn” nữa, nó đã trở thành hiện thực một trăm phần trăm rồi, có đúng như thế không ạ? Người chủ sở hữu hơn hai ngàn mét vuông đất chiếm gọn “hai mặt tiền” ở chỗ ngã ba đường cái thôn Thượng ấy lại chính là mẹ chồng con. Cả huyện này còn ai không biết rằng chồng con chính là đứa con trai độc nhất của bà giáo An thôn Thượng. Và thế là, từ khi được làm con dâu cụ, con đã được nghe có đến hàng trăm lần, lời nhờ vả thậm chí mua chuộc con, giúp cho: khuyên nhủ mẹ chồng, cắt bớt ra dăm trăm mét vuông “nhượng” lại cho họ, lấy tiền mà “cải tạo cuộc sống, bồi dưỡng sức khỏe, kéo dài thêm tuổi thọ...” cho con, cháu được hưởng phúc lộc nhỡn tiền, kẻo mà thiên hạ nhìn vào, sẽ có cớ để mà chê trách vợ chồng con, rằng chỉ biết chăm chút cho cái bản thân mình, chẳng đoái hoài gì đến mẹ già...

Không để cho con gái nói hết, ông cục trưởng cắt ngang:

- Tóm lại là chị đã tán thành quan điểm của bọn họ?

- Vâng! Nhưng không phải là “vơ bèo vạt tép”, mà con đã hết sức thận trọng “chọn mặt gửi vàng”, tuyển lựa mãi mới kén được một người đáng mặt là “láng giềng gần” của mẹ chồng con. Đó là vợ chú Thuyết nguyên bí thư huyện ủy của huyện nhà đấy ạ!

ông Cục trưởng nhếch mép thoáng phác một nét cười khó hiểu, hỏi tiếp:

- Nghĩa là chị đã nhận lời sẽ thuyết phục mẹ chồng bán đất cho bà Thuyết. Và đã ra sức thực hiện lời hứa?

- Vâng!

- Kết quả thế nào?

- Mẹ chồng con một mực lắc đầu, không nghe.

Ông cục trưởng lại thoáng phác một nét cười khó hiểu, nói tiếp bằng cái giọng có pha chút diễu cợt:

- Lý lẽ của chị non quá chăng? Thuyết phục được bà ấy phải là người có tư duy sắc bén mới hi vọng!

- Con mà lại không đủ lý lẽ ư? Bố hơi coi thường con rồi đấy bố ạ!

- Vậy ư? Có thể cho tôi nghe một vài ý tứ chính mà chị đã trình diễn trong cuộc thương thuyết đó, được không?

- Vì đã biết rất rõ tính nết của mẹ chồng rồi, con chủ trương mọi ý kiến nói ra chỉ qui gọn vào ba điểm then chốt: Một là, chồng vợ, con cái chúng con tình nguyện đứng ngoài quyền thừa kế tài sản, đơn giản là vì chúng con đã có một nền kinh tế dư dật và ổn định. Hai là, mẹ già rồi mà xã hội đang tiến lên như vũ bão, con cái lại “có mặt có mũi” và gia đình không hề nghèo; mẹ cần phải được hưởng thụ nền văn minh của nhân loại trên cả hai phương diện: tinh thần và vật chất cho thật đáo để, bõ cái công của mẹ đã nếm trải biết bao nỗi gian truân, khổ ải suốt cả một đời rồi. Cụ thể: Chỉ cần cắt bớt đi một phần tư cái trại này nhượng cho gia đình chú bí thư huyện ủy cũ của huyện nhà. Tiền bán được bao nhiêu mẹ giữ lấy, dành ra một phần chi vào việc xây dựng ngôi nhà mới tối tân, hiện đại với đầy đủ mọi tiện nghi sinh hoạt cao cấp và khép kín. Bảo đảm cho mẹ một cuộc sống thần tiên và hạnh phúc hơn người. Phần tiền còn lại mẹ cất gọn vào “hầu bao”, chi dần vào sinh hoạt và thi thoảng cùng các bạn “hưu” đi du lịch đây đó cho thoải mái cuộc đời! Bà là, ngôi nhà cổ “của mẹ” cùng với toàn bộ vườn hoa, cây cảnh kèm theo, sẽ được gom gọn lại đầy đủ và bảo tồn nghiêm chỉnh. Con sẽ đích thân đứng ra lo liệu việc đó, đảm bảo không suy suyển một li... Đấy, bố nghĩ xem con đặt vấn đề rõ ràng, rành mạch đến như thế liệu đã đủ sâu sắc, trong sáng và vô tư hay chưa?

Ông cục trưởng không trả lời, mà lại hỏi tiếp:

- ý kiến của chị “kín nhẽ” như vậy, để có thể từ chối, mẹ chồng chị đã đưa ra “lý lẽ” thế nào?

- Mẹ chồng con chỉ trả lời vắn tắt, rằng: “Là người của thời đại đổi mới, các chị coi trọng sự hưởng thụ vật chất hơn tất cả mọi thứ ở đời: Chỉ thích ăn ngon, mặc đẹp, ở nhà cao cửa rộng, dùng những đồ dùng sang trọng, hiện đại, đắt tiền. Say mê làm vệ sinh thân thể! Chúng tôi thuộc lớp người cổ hủ: Cái sự ăn, mặc, ở... chỉ cầu no, ấm, bền chắc. Và giữ sao cho thân thể luôn được sạch sẽ, khỏe mạnh... thế là được. Còn thì, chỉ ham mê chăm lo làm vệ sinh tâm hồn, sao cho lúc còn sống, mỗi khi nhớ đến tổ tiên lòng không thấy tủi thẹn; sau này chết đi rồi vẫn còn lưu lại được chút tiếng thơm cho con, cháu... kẻo hoài phí mất một kiếp người”!

***


Thanh Thảo dắt xe đi đón con được một lúc lâu rồi mà ông cục trưởng vẫn ngồi tư lự. Chờ mãi, cuối cùng bà cục trưởng cất giọng đầy lo âu, ngập ngừng hỏi chồng:

- Việc đã đến thế rồi, ông tính thế nào cho tôi biết với chứ?

Ông nhìn bà đăm đăm, rồi nói:

- Bà muốn biết gì nào?

- Ơ hay, là tôi muốn biết ý ông định thế nào để còn giảng giải cho con nó hiểu chứ?

Ông khẽ nhếch môi cười rất buồn, đáp:

- Thế ra khi nghe “chị ấy” nói bà không hiểu gì ư? Phần tôi thì tôi hiểu ra rằng: Cả mẹ chồng lẫn con dâu “họ” đều đã bộc lộ rất rõ - và cũng rất thật lòng mình: Một bên coi cái phần xác là chuẩn mực và lấy luật pháp của nước nhà làm “điểm tựa”; một bên lại coi cái phần hồn làm chuẩn mực và lấy truyền thống của dân tộc và gia đình ra làm “điểm tựa”. Cả hai bên đều có cơ sở rất vững chắc để đứng chân trong hoàn cảnh xã hội ta hiện nay. Ai dám lấy quyền gì bảo “họ” là sai? Bà cần biết ý tôi thì đấy, bà muốn giảng giải thế nào xin tùy ý.

Hà Nội 20/2/1999





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0

Nhưng... sự thật là...


Tặng Bích Lan


Buổi sáng. Vào khoảng chín giờ. đó là thời gian yên tĩnh nhất trong ngày, ở con hẻm cụt này.
Mé sau cửa sổ một căn hộ giữa xóm, kề bên lối đi, có một ông già què dáng người nho nhã, đang nằm nghiêng trên chiếc ghế xích đu đọc báo. đó là ông Vũ Văn Hòa, người Bắc di cư vào đây từ cuối năm năm tư, làm nghề giáo học dưới thời Mỹ-Ngụy, sau chuyển sang làm cho ta. Nay đã được nghỉ, có sổ hưu trí đàng hoàng.
Ông đã từng có vợ, có con. Gia đình hòa thuận, yên ấm. Khi miền Nam được giải phóng, người vợ thuyết phục chồng không được, đã lén ôm con lên tầu “di tản” ra nước ngoài. Từ đấy ông sống độc thân cho đến tận bây giờ. Là một trong hai người “khai sơn phá thạch” lập nên cái xóm “Hẻm Cụt” này hiện còn trụ lại. Ông quen mặt biết tên không thiếu người nào trong hẻm, song chỉ thật sự quí mến tin cậy có mẹ con bà Lan, tuy bà chỉ hơn ông vài tuổi nhưng ông coi bà như chị gái, đỗỉ cực kỳ nghiêm cẩn, lễ phép.
Bà Lê Thị Lan vốn là một con người thuần hậu, ít lời. Bà cũng là người Bắc di cư, sinh sống bằng nghề bán xôi cho mọi người ăn sáng. Chồng bà là người thế nào không ai biết. Từ khi đến cư ngụ ở đây cho tới bây giờ - đã gần năm mươi năm rồi, chỉ thấy một mẹ một con nương tựa vào nhau. Bà ôm con di cư vào đây cùng một đợt với ông Hòa. Còn đứa con của bà, cô bé Nguyễn Thị Hồng Liên lớn lên nhờ được ông Hòa hết lòng dạy học, đã trở thành cô giáo, rồi lấy chồng ra ở riêng, hàng ngày chạy đi chạy lại thăm mẹ, thăm thầy.
Mối quan hệ giữa hai gia đình ông Hòa, bà Lan cứ “thoang thoảng hoa nhài” như thế gần năm chục năm qua không một lần xích mích, người cả xóm trông vào ai cũng có lòng vì nể...
Cho đến sớm nay, một buổi sáng bình thường như mọi ngày. Trong lúc ông Hòa đang nằm ung dung đọc báo, có một ông già, nom cung cách ăn mặc có dáng vẻ như là một hội viên Hội Cựu Chiến binh, do xe ôm đưa tới thả xuống giữa hẻm. ông già đi lại ngó nghiêng một hồi, dừng lại trước căn hộ của bà Lan, đứng tần ngần nhìn cánh cửa bị khóa rồi thở dài quay ra. Qua khung cửa sổ nhà ông Hòa mở rộng, thấy ông đang nằm đọc báo, người khách lưỡng lự mấy giây rồi mạnh dạn lên tiếng:

-Thưa cụ, xin cụ thứ lỗi, cho phép tôi hỏi thăm một chút. Được không ạ?

Nghe giọng “đặc” Bắc của một người ý chừng đã cao tuổi, hỏi mình. Ông Hòa ngồi dậy, quay ra. Quả nhiên, một ông già cao dong dỏng, tóc bạc râu dài, dáng người nghiêm trang đạo mạo, đang đứng ngoài cửa nhìn ông bằng ánh mắt vẫn còn rất tinh anh. Ông vội đáp:
-Vâng, được ạ. Mời cụ cứ hỏi.
-Thưa cụ, tôi muốn tìm một người quen có tên là bà Lê Thị Lan ở ngõ này. Nếu cụ biết xin làm ơn chỉ giúp.
Làm hàng xóm của bà Lan đã hơn bốn mươi năm, lần đầu tiên ông Hòa thấy có một người lạ mặt đến hỏi thăm bà, mà lại là một ông già nói giọng Bắc. Ông vội đáp:

-Vâng, có. Bà ấy ở kề ngay bên cạnh đây. Nhưng giờ này bà Lan đi chợ chưa về.

-Thưa cụ, chừng nào thì bà Lan về, cụ biết không ạ?

Ông Hòa nhìn đồng hồ rồi đáp:
-Bây giờ mới chín giờ. Bình thường thì khoảng mười giờ là bà ấy đã về. Còn lâu đấy, mời cụ vào trong này ngồi cho đỡ mỏi.
-Vâng, cảm ơn cụ.

Ông già nói xong quay đầu gọi: “đúng nhà rồi, vào trong này đã con”. Một người đàn ông chừng trên dưới bốn mươi tuổi dắt chiếc xe máy đi đến, cất tiếng chào ông Hòa:

-Cháu chào cụ ạ.

-Vâng, chào bác. Bác dựng xe đấy, không cần khóa đâu. Mời cụ với bác vào trong này ngồi nghỉ, xơi nước đã.

Cha con ông già thận trọng bước vào. ông Hòa miền nở mời ngồi và nhanh chóng thay trà, pha nước, tráng chén...

Ông già nói với người con:

-Mừng thế đấy. Chờ bà lão về, con chào bà lão xong thì có thể đi làm. Cứ để bố ở đây, chiều quay lại đón, thế nhớ.

-Vâng ạ.

Nước đã đủ ngấm, ông Hòa rót mời khách. Rồi ân cần hỏi:
-Cụ với bác chắc là ở ngoài Bắc mới vào?

Ông già vui vẻ đáp:
-Thưa cụ, chỉ có tôi là mới, còn thằng cháu thì đã vào công tác trong này ngót mười năm rồi.

-Vậy ư. Xin phép hỏi: Cụ ở tỉnh nào ngoài Bắc ta?

-Dạ, thưa cụ chúng tôi ở Hà Nội ạ?

-Còn bác đây chắc là con trưởng của cụ. Bác đang nhận công tác gì ở thành phố?

-Thưa cụ cháu là con rể tôi. Cháu hiện đang làm việc tại Sở Y tế thành phố.

-ồ tôi xin lỗi. Hai bác đã cho cụ được bế cháu chưa ạ?

-Cảm ơn cụ, các cháu lập gia đình đã lâu. đã cho tôi đowcj một đứa cháu ngoại năm nay lên sáu.

-Vậy ạ. Cụ bà nhà ta vẫn ở Hà Nội hay là...

Ông Hòa chưa nói hết câu thì bất ngờ có một cô bé chừng mười lăm, mười sáu tuổi bước vào, tươi cười thoải mái hỏi:

-Ông ơi, bà cháu chưa về ạ?

-Chưa. Có việc gì vậy? Mẹ cháu bận gì mà mấy hôm nay không thấy sang thăm bà?

-Cháu sang xin bà cháu tiền nộp cho lớp. Mẹ cháu đi họp chưa về ạ.

-Mẹ cháu đi họp ư. ở đâu? Đi lâu chưa?

-Thưa ông, mẹ cháu đi Đà Lạt, đã ba ngày rồi ạ.

-Mẹ cháu có hẹn bao giờ về không? Bà cháu biết chưa?

-Dạ, một tuần nữa mẹ cháu mới về. Bà cháu biết rồi ạ.

Đến đây ông Hòa quay sang nói với khách:

-Con bé này là cháu bà Lan đấy cụ ạ. Nhà nó ở phố bên, cũng gần đây thôi. Cả hai bố mẹ nó cùng làm nghề dạy học.

Rồi ông nói với cô bé:

-Ông cụ với bác đây là người quen của bà cháu, ở ngoài Hà Nội vào thăm. Cháu vào chào cụ, chào bác đi.

Cô bé tiến lại, hai bàn tay nắm vào nhau đặt lên bụng và cúi đầu lễ phép nói đúng giọng Hà Nội:

-Cháu chào ông ạ. Cháu chào bác ạ.

Gương mặt lộ rõ vẻ xúc động, ông khách vội đứng dậy nắm lấy tay cô bé, nói:

-Ông chào cháu. Cháu bao nhiêu tuổi, học lớp mấy rồi?

-Dạ thưa, cháu mười sáu tuổi, đang học lớp mười ạ.

-Vậy ư? Cháu ngoan quá. Ông là bạn của bà cháu từ cái thuở còn bé như cháu bây giờ. Do loạn lạc phải xa nhau, nay mới tìm lại được đấy cháu ạ.

-Dạ...


Cô bé thưa một tiếng rồi cứ giương cặp mắt trong veo lên ngơ ngẩn nhìn người bạn của bà, một ông già lạ hoắc có chòm râu dài trắng như cước. Và đặc biệt, lời nói và thái độ hiền từ, nhân hậu khác thường.

Buông tay cô bé, khách ngồi xuống hỏi ông Hòa:

-Thưa cụ, cô bé là cháu nội hay cháu ngoại của bà Lan thế ạ?

-Bà ấy chỉ có một mình chị Hồng Liên, sinh từ Hà Nội mang theo vào đây, làm gì có người con nào khác nữa đâu? Con bé là cháu ngoại của bà ấy đấy.

-Cụ bảo sao? Có đứa con mang từ Hà Nội vào ạ?

-Vâng. Năm nay chị ấy có nhẽ đã gần năm mươi, cũng sắp đến tuổi về hưu rồi cụ ạ!

-Nghe ông Hòa giải đáp, khách bần thần ngồi nín lặng. Chợt cô bé reo lên:

-Ơ bà về! Cháu chào hai ông ạ, cháu chào bác ạ.

Miệng chào, chân cô bé nhảng vội ra đón. Ông Hòa vui vẻ đứng dậy đi ra cửa, tươi cười báo tin:

-Chị đã về đấy ư? Hãy rẽ vào đây một tí, có khách đến thăm chờ chị lâu rồi đấy ạ.

-Vâng, vâng, tôi vào ngay đây!

Cô bé víu vai bà, ghé mồm sát lên gần tai, thì thào. Bà Lan lắng nghe, nét mặt thoáng lộ vẻ phân vân, nhưng vẫn bình thản dắt cháu đi tới. Dừng lại trước cửa nhìn vào, bà lễ phép nói:

-Chào cụ, chào bác. Cụ với bác tìm tôi ạ?

Ông già đứng hẳn dậy trông ra. Trước mắt ông là một bà già bé nhỏ, có mái tóc trắng phau như tuyết, với gương mặt thanh thoát, sáng sủa nhưng lạnh lẽo, u ẩn.

Ông nhanh chóng nhận ra những nét thân quen còn lưu lại trên gương mặt ấy, nên vội vàng bước tới, hồ hởi hỏi:

-Bà đấy ư? Trời ạ... nếu không chủ tâm đi tìm thì khó mà nhận ra. Cứ ngỡ đã hết hi vọng được gặp lại bà...

Bà Lan giương to mắt ngỡ ngàng nhìn khách, lộ rõ vẻ lúng túng, khẽ lắp bắp:

-Tôi xin lỗi... cụ là...

-Thảo! Tôi là Quang Thảo đây mà, bà không nhận ra ư?

Gương mặt bà Lan vụt biến sắc, nhợt ra. Hai con mắt lộ vẻ kinh hoảng, bà hổn hển nói đứt quãng:

-Dạ... dạ... tôi nhớ ạ. Mời... xin mời... ông với bác về... bên nhà... tôi ạ!

Cảnh tượng đó khiến ông Hòa cảm nhận được đôi điều. Song, là người tinh tế và kín đáo, ông im lặng tiễn cha con ông già sang nhà bà Lan với thái độ ân cần, trân trọng.

Người con rể của ông Thảo sau khi đã được ông giới thiệu và được chào bà Lan thì xin phép đi ngay.

Bà Lan tỏ ra bối rối, hoảng hốt ấp úng mời ông Thảo ngồi và xin phép vào phía sau lấy nước. Đứa cháu bám theo bà, một lát trở ra khoanh tay cúi đầu chào ông Thảo, rồi đi. Còn lại một mình, trong lúc ngồi chờ, ông tranh thủ quan sát. Căn phòng bầy biện đơn sơ, mang dáng dấp của một nơi thờ cúng kiêm phòng khách: giáp tường, ở nơi chính giữa bầy một chiếc ban thờ kiểu cổ, đủ ngai thờ, bài vị, mâm bồng ngũ quả, cây nến, bình hoa, bát nhang... với màn the. Phía trước ban thờ bầy bộ bàn ghế gỗ tạp đã cũ, nước quang dầu mầu cánh gián lâu ngày đã mòn hết, để trở ra những thớ gỗ mầu xám xỉn. Góc tường bên kê một chiếc tủ nhỏ và một chiếc giường cá nhân. Trên tường treo một tấm gương soi. Căn phòng thật quang đãng, nhưng không hiểu vì sao nó cứ gợi lên trong ông một cảm giác trống trải rất lạ...

(Còn nữa)




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
Ngồi chờ đã lâu mà vẫn không thấy bà Lan mang nước ra. Trong lòng sinh nghi, ông Thảo ngoái đầu ngóng vào gian trong, chờ đợi. Cuối cùng, mối nghi hoặc dâng cao khiến ông vượt qua mọi sự tị hiềm, bồi hồi đứng dậy, đắn đo bước từng bước ngắn, đi vào phía trong.

Qua một căn phòng ngỏ cửa, bài trí kiểu buồng ngủ, đến một mảnh sân hẹp, rồi đến bếp. ở cửa bếp, trên chiếc ghế, bà Lan ngồi ôm đầu như một pho tượng, trước ấm nước đang phì hơi nghi ngút...

Ông Thảo sững sờ đứng lặng người ngắm bà Lan hồi lâu, rồi bước lại gần, khẽ cất tiếng:

-Nước sôi rồi kìa, bà lão!

Như người đang trong cơn mơ sực tỉnh, bà Lan vội buông rời hai bàn tay khỏi đầu, đứng dậy bối rối thốt lên:

-Ông đấy ư? Vâng, vâng... tôi lên ngay đây ạ!

Lòng ngùi ngùi thương cảm, ông Thảo với tay xách quai ấm nước, cất giọng thân tình, nói:

-Để tôi mang nước lên pha trước cho ngấm trà. Bà thu dọn bếp núc rồi lên sau nhé, tôi chờ.

Ông nói và vội vã quay gót. Ông hiểu, những vệt nước mắt còn ướt nhòa trên gương mặt của bà đã nói lên rất nhiều, trước cuộc gặp gỡ quá bất ngờ này...
(còn nữa)




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
2

Thời bấy giờ Hà Nội còn là một thành phố của Bắc kỳ “xứ” đông Dương thuộc nước Pháp (trên bản đồ thế giới nó có tên là indochine-francaise)
Thảo với Lan là người cùng xóm và cùng được đi học. Lan học dưới Thảo hai lớp. Thảo là “người làng” và là con thứ của một thầy đồ(1). Lan là “dân ngụ cư”(2) và là con gái đầu lòng của một ông phán nhà đoan (3), từ nơi khác đến thuê nhà ở kề bên nhà Thảo.

Hai cô cậu học trò, ở kề bên nhà nhau hơn năm năm trời mà không hề một lần chào hỏi hoặc chuyện trò, chỉ bởi họ được sinh ra và nuôi dạy ở hai gia đình có hai nếp sinh hoạt và quan niệm khác biệt: Gia đình Thảo theo đạoNho, và sinh hoạt theo kiểu cách “dân làng”. Nghĩa là con trai vẫn mặc quần dài trắng, áo chùng thâm; con gái vẫn mặc yếm,vấn khăn... Gần như ngược lại, gia đình Lan thuộc giới “cấp tiến”. Con trai mặc giống như “tây con”; con gái mặc “tân thời”: quần dài trắng, áo lơ-muya (4), đường ngôi rẽ lệch, tóc kẹp buông dài mé sau lưng...

Có lẽ sẽ mãi mãi vẫn cứ là khoảng cách giữa họ, nếu không nổ ra cuộc Cách mạng Tháng Tám. Khi ấy Thảo đang học năm thứ nhất Ban Tú tài, còn Lan đã nghỉ học ở nhà được bốn năm, sau khi đã tốt nghiệp lớp nhất Tiểu học (5).


Chính quyền cách mạng hết sức coi trọng lực lượng thanh niên, đồng thời cũng xóa bỏ khoảng cách giữa mọi tầng lớp giai cấp và tập quán sinh hoạt. Hầu hết thanh niên trong xóm đều được kết nạp vào “Thanh niên Cứu quốc Hội” và chia thành từng tổ để cùng nhau sinh hoạt. Lan với Thảo được xếp vào chung một tổ, Thảo là tổ trưởng...
Hai người nhanh chóng trở thành bạn thân. Thảo mười chín và Lan mười bảy, cả hai đều đang độ thanh xuân, đều vô tư và trong sáng, đều bừng bừng nhiệt huyết sanữ sàng cống hiến, hi sinh cho đất nước, cho cách mạng!
Trước khí thế sôi nổi của cả xã hội lúc bấy giờ, ông đồ Phú - cha của Thảo, cũng như ông phán Phước - cha của Lan dù cùng cảm thấy chướng mắt mỗi khi trông thấy Lan với Thảo sóng vai trên con đường làng, vừa đi vừa trò chuyện tay đôi, trước sự “nhĩ mục quan chiêm” của bà con dân làng. Nhưng, đành cắn răng nín lặng.
Sau ngày Tổng tuyển cử (mồng sáu tháng một năm bốn sáu) Thảo tòng quân. Cuộc đi chơi đầy “riêng tư” trong cái đêm trước khi chia tay đã khắc sâu vào tâm khảm của đôi trai gái ấy, vĩnh viễn không thể phai mờ...
Người con gái nói:
-Thế là từ mai Thảo đã trở thành một Vệ quốc quân rồi. Ước gì Việt Minh lấy cả lính con gái, để Lan cũng được đi cùng Thảo!
 Người con trai nói:
-Lan nghĩ thế thôi chứ nếu có thì Lan cũng chẳng đi được đâu. Hoàn cảnh của Lan... tôi biết chứ.
 Cô gái giật mình dừng bước, giương mắt nhìn bạn đăm đăm rồi cất tiếng e ngại hỏi:
-Thảo biết gì cơ?
-Biết Lan không phải là con đẻ của mợ Lan. Đúng không?
 Gương mặt cô gái thoắt biến sắc, cô ấp úng nói không ra lời:
-Thảo... Thảo biết rồi à? Ai nói với Thảo điều đó thế?
-Không ai nói cả. Tự tôi nhìn, nghe, ngẫm nghĩ... thì biết.
-Thảo nhìn thấy ư? Thấy những gì? Bằng cách nào? Vô lý, Lan không tin.
 Anh con trai ngượng nghịu thú nhận:
-Sân nhà tôi cách sân nhà Lan một bức tường. Những năm trước, thỉnh thoảng đứng ở bên này sân nghe tiếng mọi người trong nhà Lan nói vọng sang, tôi cũng không chú ý. Chỉ từ khi chúng mình quen nhau, tôi mới sinh ra tò mò, muốn biết tất cả những gì có liên quan đến Lan, nên... tôi đã... nhìn trộm sang nhà Lan!
-Eo ơi... nhìn trộm à? Mấy lần rồi?
-Nhiều lắm, không nhớ hết được...
-Hàng ngày ý à?
-ừ.
-Không đúng. Nghe trộm thì được chứ nhìn sang thì khó lắm. Nhiều lúc, nhà đi vắng cả, Lan thử nhảy lên mà vẫn không nhìn sang nhà Thảo được cơ mà.
-Khó gì. Tôi căng một sợi dây cao hơn bờ tường một chút. Phơi quần áo lên rồi mang một chiếc ghế đẩu ra... Lan làm gì, tôi nấp nhìn thấy hết!

Cô gái hốt hoảng kêu lên:
-Thật thế sao? Trời ơi... như vậy tức là...
-Thật thế đấy Lan ạ. Tôi đã biết tất cả. Lan chỉ... lành lặn, sang trọng khi bước chân ra khỏi nhà. Trở về đến nhà lúc nào lập tức Lan lại trở thành một người khác hẳn. Lam lũ, tất bật như... như...

Cô gái thốt nhiên quay lưng, úp mặt vào gốc cây và bật lên tiếng khóc nghẹn ngào, tức tưởi. Anh con trai luống cuống giây lát rồi rụt rè đặt tay lên vai cô gái, hồi hộp nói trong hơi thở gấp:
-Đừng khóc nữa Lan ơi. Tôi... tôi... xin lỗi Lan. Từ nay tôi sẽ... tôi sẽ...

Bất ngờ cô gái đột ngột quay người ôm lấy anh con trai, gục đầu lên vai anh, nức nở hỏi:
-Anh... anh khinh... em lắm khải không? Em... em... trời ơi!
-Không, không phải thế. Chính vì biết Lan vất vả, khổ cực như vậy nên tôi đã... đã yêu Lan.

Cô gái rời tay ngẩng đầu, ngập ngừng hỏi:
-Anh... nói... thật ạ?
-Tôi không biết nói dối. Lan có tin không?
-Có ạ, em tin. Nhưng...
-Sao cơ?
-Thầy anh với cậu em(6)... em sợ lắm!

-Đừng sợ. Bây giờ cách mạng rồi, với lại chúng mình còn trẻ, thời gian sẽgiúp cho các cụ hiểu chúng ta, Lan ạ!
-Vâng ạ.

Cô muốn nói thêm một câu “có được anh rồi, từ nay em chẳng còn buồn nữa. Em sẽ sống, chết vì anh. Thật đấy!...” Lòng dạ bàng hoàng, cô gái run rẩy nép mình bên người bạn trai mà từ nay cô đã ký thác cả cuộc đời trắng trong, tinh khiết, nguyên vẹn của mình cho anh.

Thực ra không phải là một sự bất ngờ đối với cô. Bởi vì, với riêng cô mà nói, kể từ khi gia đình đến thuê nhà ở nơi này - khi đó cô mới mười hai tuổi và còn được đi học - hàng ngày cô đã trông thấy anh đi qua cửa nhà mình với chiếc cặp da dầu “tây quăng” trên tay, với bộ quần áo “Lý đình dù” (quần dài trắng, áo chùng thâm) đủ bốn mùa “đóng bộ” trên người. Rồi, chẳng hiểu nguyên do từ đâu, chỉ sau chừng độ một năm, cái hình ảnh lạ lẫm ấy bỗng trở thành nỗi bâng khuâng khó tả đối với cô, khiến cho cô, lâu dần, không biết từ ngày giờ nào đã trở thành một cái máy, rất đúng giờ, ra đứng sẵn sau cửa sổ, lặng lẽ trông theo “con người ấy” đi và tan học về mỗi ngay.

Cô bé Lan mười ba tuổi, con gái đầu lòng của một thầy phán (7), sau khi lấy được mảnh bằng “Sơ học yếu lược” (8) thì nghỉ học, ở nhà để làm công việc nội trợ cho một gia đình gồm có bố, mẹ với ba em nhỏ, cộng thêm cả cô nữa là vừa đúng sáu người. Đến nay đã hơn bốn năm.
Là một gia đình được xã hội mặc nhiên xếp vàohàng ngũ “tây học” có nghĩa thuộc phe “cấp tiến”. Vì vậy, từ việc cư xử, nói năng đến cung cách ăn mặc và sinh hoạt v.v... đều “tây hóa”, nghĩa là tất cả những gì là “cổ hủ” phải sẵn sàng vứt bỏ không thương tiếc. Tuy nhiên cũng còn nỗi bất hạnh nhỏ: Được tiếng là “tây học”, là “cấp tiến” nhưng lại rơi vào bậc “khởi điểm” của giai tầng ấy - làm việc cho Tây, ăn lương tháng, nhà có sáu người mà không mướn nổi một người đầy tớ, phải cần đến đứa con mười ba tuổi nghỉ học ở nhà làm nội trợ! đó là một nỗi thẹn tủi của cả gia ddình, song cái người phải thực sự tiếp nhận nó lại chỉ một mình Lan. Có lẽ, để thích nghi với công việc nội trợ, nên đã từ lâu “mợ quên may quần áo cho Lan. Vì vậy, Lan thấy mình rất giống anh ở nhà bên cạnh: Quanh năm, bất kể thời tiết thế nào, vẫn chỉ được mặc bộ đồ duy nhất mỗi khi bước chân ra khỏi nhà! Cái điểm giống nhau một cách ngẫu nhiên ấy kéo dài hàng ba bốn năm liền lại đang ở vào cái tuổi cần làm dáng đã khiến cho Lan mỗi ngày mỗi cảm thấy có sự quan tâm đến anh “hàng xóm” kia nhiều hơn. Thế rồi cách mạng nổ ra. Bức rào ngăn cách bởi sự đố kỵ giữa “tây học” với hán học” không còn đứng vững được trước cơn bão táp cách mạng, đã mở đường cho Lan “công khai” gặp gỡ Thảo, họp hành, trò chuyện. Cho đến hôm nay, đến lúc này... mọi vương vấn, bâng khuâng, hồi hộp ở cô đối với anh, đã được giải minh: Đó là thời khắc dành cho mối tình ban sớm trong tâm hồn người con gái bắt đầu tỏa hương.
Đêm hôm ấy trên con đường Đại Cồ Việt, từ cửa Ô Cầu Dền đến hồ Bẩy Mẫu rộng rãi và rất thưa người đi lại, đôi trai gái vừa bước qua tuổi thiếu niên sóng vai đi bên nhau, rì rầm cởi mở mọi niễm niềm tâm sự cùng nhau. Cho đến khi ấy Thảo mới biết đích xác Lan mồ côi mẹ từ năm mới lên ba. Sau đấy một năm cha Lan lấy vợ mới, và liền sáu năm sinh thêm cho Lan ba cô em gái nữa! Người mẹ kế không độc ác như trong truyện cổ tích, nhưng bà chỉ “ưa” chăm lo cho bản thân cùng ba đứa con do bà sinh ra. Với Lan thì bà vui lòng dành cho sự quan tâm trong công việc. Bà chỉ dẫn cho cô rất tỉ mỉ, chu đáo, tận tình! Chẳng may mỗi khi Lan có lỗi lầm, bà rất thật thà kể lại cho chồng biết, chứ không hề rầy la mắng mỏ Lan. Không khí gia đình vì thế luôn luôn giữ được “ấm êm, hòa thuận”. Từ khi nghỉ học, phải một mình quán xuyến mọi công việc lao động chân tay trong nhà, Lan luôn luôn có thừa công việc để làm, và cũng lại rất thiếu - gần như hoàn toàn, tiếng cười cùng những lời âu yếm, dịu dàng... của cậu mợ và các em gái dành cho mình. Cô sống trong một tâm trạng ưu tư, lạnh lẽo triền miên. Những khi cô đơn quá, Lan chỉ biết âm thầm tự trò chuyện với chính mình, không cần đến tiếng nói của con người.
Những ngày được gần Thảo, được nghe giọng nói lúc nào cũng nghiêm trang, hiền lành, chân thật của anh... Lan luôn luôn cảm thấy lòng cô ấm áp và ngập tràn mơ ước! Tất cả nỗi niềm tâm sự khó nói ra, đêm nay, trên con đường vắng vẻ và rất quen thộc này, Lan đã thủ thỉ, nghẹn ngào kể hết cho Thảo nghe, không giữ lại một chút nào cho riêng mình.
Lòng đầy xúc động, Thảo mạnh dạn nắm chặt bàn tay bénhỏ của Lan, nghiêm trang nói như một người cất lời thề:

Kể từ hôm nay anh sẽ bảo vệ em, cho đến... chết!

Và cô đã nép sát vào anh chân thành, tin tưởng...

(còn nữa)




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0


3

Bà Lan từ tốn bước ra, gọn ghẽ, sáng sủa... bình tĩnh hỏi ông Thảo:

Ông vào trong này đã lâu chưa? Sao biết tôi ở đây mà đến thăm?

Như người đang mơ sực tỉnh, ông Thảo vội đáp:
-Tôi mới vào lúc mười một giờ đêm qua. Nhận được điện của vợ chồng nó là tôi lập tức đi ngay, chẳng kịp mua quà biếu bà...

Bà Lan nhẹ nhàng ngồi xuống chiếc ghế đối diện với ông và nhắc lại:
-Ông vẫn chưa nói cho tôi biết vì sao...

Cặp mắt tinh tường của ông Thảo đăm đăm nhìn bà Lan một lúc lâu rồi ngùi ngùi cất tiếng:

-Trẻ trung... đất nước chia hai, biết tin bà di cư mà không dám nghĩ đến chuyện đi tìm. Nước nhà thống nhất, tôi lẳng lặng vào Nam tìm bà ba bận, chẳng khác gì xuống biển mò kim. Mười năm nay, đứa con gái út vào công tác trong này, tôi tâm sự với con, nhờ cậy nó để tâm dò tìm tung tích của bà. Trưa hôm qua nhận được điện của vợ chồng nó báo, tôi vội nhờ con trai đèo sang Nội Bài, lên chuyến máy bay chín giờ tối, đến được nhà vợ chồng chúng nó thì đã hơn mười một giờ đêm. Sớm nay chồng nó đưa tôi tới đây, bà đi chợ chưa về, đành ngồi nhờ bên ông lão hàng xóm, chờ bà.

Mặc dù đã thầm hẹn với lòng mình: sẽ cố gắng giữ cho bằng được dáng vẻ thư thái, tự nhiên. Nhưng, đến lúc này, nghe cái giọng nói chân thật quá đỗi thân thiết ấy thủ thỉ “trần tình”... Không cầm được lòng được nữa, bà quay mặt sang một bên, rút khăn lau những giọt nước mắt đang nối nhau tuôn tràn xuống má. Một lúc lâu, đã trấn tĩnh trở lại, bà sụt sịt cất tiếng:

-Ông bà với các cháu ngoài ấy thế nào, nói cho tôi biết đi?

-Tôi thì bà đang trông thấy đây rồi. Ba mươi năm chiến tranh vẫn nguyên vẹn hình hài, chẳng sứt mẻ tí gì. Mẹ các cháu kém tôi hai tuổi, vừa đúng cùng tuổi với bà, và cũgn vẫn còn rắn rỏi như bà. Bà ấy cho tôi được ba cháu, hai gái một trai. Cả ba đều đã có chồng, có vợ, có con, có nghề nghiệp ổn định. Con bé út tên là Hoài Lăng sau khi học xong ở trường Y, cháu được trưởng cử vào trong này, rồi lấy chồng cùng ngành. Hai đứa chúng nó đã có một đứa con gái sáu tuổi. để rồi tôi sẽ dẫn “cả gia đình” chúng nó đến thăm bà.


Nét ưu tư lộ rõ trên gương mặt, bà Lan bối rối hỏi:

-Ông... vào đây có... ở chơi được... lâu không?

-Hai, ba, thậm chí bốn, năm ngày... tùy bà. Tôi vào kỳ này là vì bà thôi mà.

-Bốn, năm ngày thôi ư? Có nán thêm được nữakhông?

Nghe bà Lan nói vậy, ông Thảo chân thật đáp:

-Tôi với bà, cả hai hiện giờ đều đã có gia đình riêng yên ổn. Được tận mắt trông thấy bà vẫn còn khỏe mạnh, minh mẫn. Có nhà cửa cao ráo, vững vàng, thoáng đãng. Có con cháu đề huề... tôi mừng và yên tâm rồi bà ạ. Tôi tính ở lại thêm vài ngày để chuyện trò với bà rồi tổ chức cho vợ chồng, con cái những đứa trẻ của hai nhà cho chúng nó gặp nhau, để sau này đám trẻ nhà tôi biết đường mà thay tôi chạy đi chạy lại thăm nom bà.

Bà Lan lại rưng rưng nước mắt, nghẹn ngào không nói nên lời. Ông Thảo lo ngại hỏi dồn:

-Bà sao vậy? Tôi nói năng sơ suất điều gì khiến bà đau lòng ư? Cho tôi xin lỗi. MOng bà biết cho lòng tôi rất thật. Đối với bà, nói theo lương tâm, lòng tôi trước sau vẫn không thay đổi. Rồi đây tôi sẽ đưa mẹ các cháu vào đây thăm bà, bà sẽ hiểu rõ ngọn ngành tất cả về tôi suốt năm chục năm xa bà tôi đã sống thế nào...

Nghe đến đấy bà Lan bật lên khóc nức nở, vội vã lắc đầu, nói:

-Không phải thế đâu, ông ơi! Được gặp lại ông tôi chỉ thấy tủi thẹn chứ không dám oán trách điều gì đâu. Chuyện tôi dài lắm, nói khẩn thiết, không thể trì hoãn hơn, tôi buộc lòng phải nói với ông ngay bây giờ...

-Vâng, vâng, bà nói đi. Bất cứ điều gì bà nói ra tôi cũng xin nghe theo hết.
-Bà Lan ngập ngừng thổ lộ:

-Ban nãy, bên nhà ông giáo Hòa, ông đã xưng tên mình ra trước mặt mọi người, khiến ai nấy đều đã nghe rõ cả...

-Vâng, quả vậy. Có điều gì khiến bà khó xử ư?

-Vâng ạ.

-Sao nào? Bà nói đi! Nếu cần tôi sẽ xin cải chính. Việc ấy có khó gì đâu!

-Cần lắm ạ. nhưng không phải là cải chính. Bởi vì... tôi đã có một đứa con gái...

-Tôi biết. Chị ấy làm cô giáo trung học, lấy chồng nhà ở phố bên cạnh, đã có con học lớp mười. Hiện giờ chị ấy đang đi họp ở tận Đà Lạt, một tuần nữa mới được về, đúng chưa nào?

-Đúng thế ạ. Hiềm nỗi có một điều chưa ai biết, ấy là... tôi đã liều lĩnh... mượn tên ông... để... khai cho cháu khi đi học. Cái sự của tôi... khi ấy, tôi cứ ngỡ rằng đành “mặt dầy mày dạn” vậy, song “cũng chỉ một mình mình biết, một mình mình chịu, chỉ là cái sự... “ngộ biến tòng quyền”, miễn sao cho con bé được đi học, có chữ có nghĩa bằng người. Nào ngờ đâu... “quá mùa ra mưa”, cơ sự ngày càng thấm thêm sâu, con bé lớn lên cứ đinh ninh rằng nó là đứa trẻ có cha, tên cha nó là Nguyễn Quang Thảo! Sự ấy đã nghiễm nhiên trở thành “thật” đối với cháu suốt bốn mươi sáu năm qua, cả trong tiềm thức lẫn trên “giấy trắng mực đen”. Bây giờ, bỗng ông xuất hiện, xưng danh ra trước mặt ông Hòa, người thầy giáo của nó, lại có mặt cả đứa con gái của nó nữa! Mong ông lượng thứ mà thông cảm cho tôi. Tôi không sợ phải muối mặt nhận lỗi với nó, cái chính là tôi chỉ sợ sẽ... mất nó từ nay. Mà nó cũng sẽ không còn biết giấu mặt vào đâu trước chồng, con và họ mạc nhà chồng. Rằng... cuối cùng, nó chỉ là một đứa con hoang, mạo nhận có cha, thật ra thì...

Hổn hển nói một hơi dài. Dứt lời, bà Lan đưa hai bàn tay run rẩy lên bưng lấy mặt, đầu cúi rũ xuống, hai cánh vai gầy cứ rung lên theo nhịp nấc tức tưởi mà bà đang gắng kìm nén...

ông Thảo ngây đờ như tượng gỗ. Chuyện quá đột ngột đối với ông. Thuận theo “việc đã rồi”: nhận là cha của Hồng Liên ư? Biết giải thích thế nào với vợ, con mình cho được? Nhắm mắt làm ngơ, bỏ mặc mẹ con bà Lan tự khuôn xử với nhau ư? Cơ sự này đối với họ sẽ đổ vỡ hoàn toàn. Ông cứ ngồi ngây tại chỗ, gương mặt già nua phơi đầy những nét ưu tư nghiệt ngã...

(còn nữa)




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
4

Bác sĩ Nguyễn Thị Hoài Lăng đi ra đi vào mãi, cố nấn ná chờ cho tới đúng chín giờ mới dắt xe ra khỏi nhà. Chị muốn cuộc viếng thăm này phải được diễn ra mười phần hoàn hảo: nhẹ nhõm, thân tình, tin cậy và cởi mở! Mặc dù mới chỉ là cuộc gặp gỡ đầu tiên...

Suốt cả đêm qua, Hoài Lăng trằn trọc nghĩ về thái độ lạ lẫm của cha mình. Từ cái thuở còn cắp sách đến trường chị đã được nghe mẹ kể về mối “tình sử” của cha. Chị chỉ cười vui, coi đó là câu chuyện “cổ” nghe để biết vậy thôi. Nào ngờ, khi lớn lên, học hết trương trình đại học y khoa, nhận tờ quyết định vào Sài Gòn công tác. Thì, chính cha chị đã đích thân tiễn chị vào tận Sở Y tế Sài Gòn. Trước khi ra về ông đã nghiêm trang ủy thác cho chị một nguyện vọng thầm kín, chị không thể chối từ, bởi qua mọi biểu hiện của cha, chị cảm thấy nó thiêng liêng quá. Ông cầm tay con gái, giọng nói rưng rưng, ngắc ngứ dặn dò, rồi kết luận:

Con cố gắng... tìm mọi cách... giúp bố, dò tìm tung tích bà ấy. Rồi báo tin cho bố biết. Phải khổ công, kiên trì lắm đấy con ạ! Bố tin cậy vào con...

Hoài Lăng luôn luôn nhớ nguyện vọng ấy của cha. Người đàn bà nào đó có tên là Lê Thị Lan, trạc tuổi mẹ chị, dân Hà Nội di cư vào Sài Gòn năm năm tư bỗng dưng thành ẩn số cho chị kiếm tìm. Vừa để thỏa ước nguyện của cha, và cũng hấp dẫn trí tò mò của Hoài Lăng. đối với chị, cha vừa gần gũi, chân tình, lại vừa cao xa đến khó hiểu. Cha luôn luôn có những sự bất ngờ và mới mẻ. Khám phá cả đời cũng không hiểu hết về cha. Song chị lại được Sở phân công về làm bác sĩ điều trị tại một bệnh viện cấp quận, giới hạn quan hệ rất hẹp. Chị đã cốgằng hết sức nhưng vẫn không thu được kết quả gì. Khi lập gia đình, may sao chồng Hoài Lăng là đồng nghiệp và công tác ngay tại Sở Y tế thành phố. Chị đã tâm sự với chồng để nhờ anh giúp đỡ. Kết quả, sau ngót mười năm kiên trì dò la, vợ chồng Hoài Lăng mới tìm thấy “người đàn bà trong tâm tưởng” của cha...

Hôm qua, nhìn cha bồn chồn, náo nức lên xe đi gặp người... “xưa” Hoài Lăng cảm thông, lòng thoáng chút ái ngại cho thế hệ của các bậc cha mẹ. Thời đại của các cụ thật oái oăm, tình yêu và hôn nhân không mấy khi trôi chảy thuận chiều. Nhưng, với cha, dù sao cũng còn có được cơ may tái ngộ, mặc dù đã năm mươi năm trôi qua.

Không ngờ, khi ông trở về, nhìn gương mặt cha, Hoài Lăng thốt giật mình. Nom cha tối tăm, u ẩn quá! Chị lo ngại hỏi không hiểu sao cha chỉ lắc đầu im lặng.

Bàn tính với chồng được anh động viên, lòng đầy tự tin Hoài Lăng tự mình tìm đến “người bạn gái” ngoài năm mươi năm về trước của cha, tìm lời giải đáp về thái độ khó hiểu ở ông...

Mở cửa đón Lăng là một bà già có mái tóc bạc phơ, với thân hình nhỏ thó, dáng bộ phờ phạc và đặc biệt, cả hai con mắt đều sưng vù, đỏ mọng. Chị lễ phép cất tiếng:

-Thưa dì, cho con hỏi dì Lan ạ?

Nhìn Hoài Lăng bằng ánh mắt nghi ngại, bà chủ nhà nghiêm nghị gật đầu, đáp:

-Tôi đây ạ.

-Ôi, dì. Con tên là Hoài Lăng, là con gái út của bố Thảo con đây ạ. Con chào dì. Dì cho phép con được vào thăm dì chứ ạ?

Bà Lan hơi sửng sốt nhưng vẫn mở rộng thêm cánh cửa, nói:

-Vâng, mời... chị vào trong này.

Nhanh nhẹn khóa xe, Hoài Lăng nhẹ tay xách túi quà bước lên ân cần hỏi:

-Hôm nay dì nghỉ không đi chợ ạ?

-Vâng. Tôi hơi khó ở nên nghỉ một buổi. Chị ngồi chơi. Hôm qua ông nhà sang đây phải ngồi cả ngày, hẳn là mệt lắm phải không chị? Tôi quên chưa hỏi ông cụ: anh chị với các cháu ở có xa đây không?

-Thưa dì, chúng con với cháu bé ở bên quận Bình Thạnh, cách đây chừng sáu cây số ạ.

-Vậy thì cũng không xa lắm. Hôm qua nghe ông nhà nói đã nhờ chị dò tìm ra chỗ ở của mẹ con tôi. Có đúng thế không?

-Dạ thưa dì đúng ạ.

-Chị tài thật. Thành phố này rộng quá, người đông như kiến. Tôi không hiểu chị đã làm cách nào mà lần mò ra.


Hoài Lăng tươi cười, vui vẻ khoe:
-Ôi... rồi dì với bố con phải gắn huân chương cho chồng con đấy. Anh ấy “lợi dụng” được làm việc ở cấp Sở, có quyền la cà khắp các quận các phường. Đến đâu cũng “móc ngoặc” với cánh công an hộ tịch, hộ khẩu. Kiên trì liền tám chín năm mới tìm được dì đấy ạ.

-Thế thì anh ấy giỏi thật. Tôi cứ nghĩ ngợi suốt đêm, lo lắng không yên. Giờ thì rõ rồi. Chị có biết vì sao ông nhà lại làm khổ các anh các chị như vậy không? Tôi thật là áy náy...

-Con biết mà. Đêm qua thấy bố con trằn trọc không chớp mắt, con đoán ngay thế nào dì cũng mất ngủ. Bố con thì tốt thật nhưng dù thế nào cụ vẫn cứ là đàn ông, làm sao hiểu thấu được hết tâm sự của dì? Là con cái của các cụ nhưng con là phụ nữ, con nghĩ rằng con có thể hiểu được dì, dì ạ. Nhân khi chị Hồng Liên còn đi vắng, con sang xin dì cho con được sống với dì một ngày. Dì có bằng lòng cho phép con không ạ?

Nghe đứa con gái của người chồng trong mộng tưởng suốt cả đời mình ân cần, thẳng thắn chuyện trò với vẻ mặt, giọng nói đầy tin cậy, cởi mở... bà Lan thấy phân vân, không biết nên đáp lại thế nào cho phải. Đành cứ ngồi im.

Thông cảm với bà, Hoài Lăng đứng dậy, mạnh dạn, tự nhiên, nêu ý kiến:

-Con đoán chắc từ sáng đến giờ dì vẫn chưa ăn. Vì vậy con cố để dành bụng sang đây ăn với dì. Bây giờ con vào bếp, dì ngồi nghỉ ngơi một lát, con nấu bát cháo nóng hai dì con mình cùng ăn. Con làm nhanh thôi dì ạ.

Hoài Lăng nói dứt, lập tức mở túi quà lấy ra một túi nhỏ có sẵn hai gói cháo khô với một quả tim lợn. Bà Lan vội ngăn lại:

-ấy đừng, tôi... tôi... chị để tôi làm. Bếp núc, đồ ăn thức đựng... chị biết đường nào mà lần?

Không hiểu cố ý hay chỉ là vô tình, Hoài Lăng hào hứng đáp:

-Vậy thì hai mẹ con ta cùng xuống bếp, vừa làm vừa trò chuyện. Để con dắt xe vào trong nhà đã ạ.

Nhìn Hoài Lăng đi lại, nói năng, làm lụng... cử chỉ thoải mái, hoạt bát, chính xác... bà Lan chạnh lòng, nghĩ thầm: Số phận của ta... cũng thì làm một kiếp đàn bà... nếu không gặp ngang trái hẳn đứa con gái khôn ngoan, giỏi giang này biết đâu lại chẳng phải là con ta? Sinh đẻ nuôi dạy được đứa con gái thế này, bà vợ ông ấy hẳn là một người đàn bà tài đảm lắm!

Đưa được xe vào nhà, Hoài Lăng cài chốt cửa rồi vui vẻ rủ:

-Xong rồi. Mẹ con ta vào bếp đi!

***

Ăn cháo và cất dọn xong, Hoài Lăng lấy trái cây trong túi ra gọt vỏ, xắt miếng, bầy lên đĩa, bưng mời bà Lan:

Dì xơi một chút tráng miệng ạ. ở đất Sài Gòn này, dạo mới vào, nhiều bữa con ăn trái cây trừ cơm, dì ạ.

Bà Lan vô tình buột miệng:

-ừ, dì với bé Hồng Liên dạo mới vào cũng vậy. Nhưng, không dám ham ăn nhiều, sợ tốn.

Nghe cách bà Lan nói, Hoài Lăng hiểu mối nghi hoặc trong lòng bà Lan đã được nới lỏng. Chị giữ vẻ mặt tự nhiên, nói:

-Con năm nay băm bẩy, chị Hồng Liên hơn con mấy tuổi hở dì?

-Mới băm bẩy thôi ư? Kém em Liên những mười một tuổi kia à? Thế anh cả với chị gì ở ngoài ấy đã... nhiều tuổi chưa?

-Chị đầu đàn của chúng con tên là Nguyễn Thị Lan Anh, sinh năm sáu mốt, năm nay băm chín tuổi. Anh trai sinh đôi cùng với con, tên là Nguyễn Quang Lân. Thế là mẹ con ở ngoài ấy “tăng năng suất” vượt mức kế hoạch, đẻ hai lần được những ba đứa chúng con, dì ạ.

Hoài Lăng chủ tâm nói vui, không ngờ bà Lan nghe lại quay đầu, rút khăn lau mắt.

Chị hớt hải gọi:

-Dì ơi, sao vậy? Con nói vui thôi chứ có ý gì đâu ạ?

Bà Lan quay lại, lau nước mắt rồi sụt sịt nói:

-Dì bây giờ cứ động một tí là mau nước mắt như trẻ con ý, chả sao gượng được. Đừng chấp nhặt cái thói dở người của dì con ạ. Nghe chuyện con kể, dì mừng cho bố con đã có được một gia đình yên ấm, hạnh phúc. Thật may, nếunhư bố con lấy phải một người đàn bà bạc phận như dì, thì không biết sẽ ra sao?

Hoài Lăng rời chỗ đang ngồi, chị bước sang kéo ghế ngồi sát cạnh bà Lan, khẽ khàng nắm lấy tay bà. Và Hoài Lăng bất chợt giật mình bởi chị nhận được một cảm giác rất lạnh từ bàn tay khô khỏng của bà Lan truyền sang. Lòng bồi hồi xúc động, chị nhanh chóng đi đến một quyết định...

(còn nữa)




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0

5

Cuộc nói chuyện tay đôi giữa hai cha con đã đến hồi kết thúc. Hoài Lăng nhăn mặt nói với giọng dằn dỗi:

Các cụ đều đã ở vào cái tuổi thượng thọ cả rồi, đâu phải còn ham hố những trò nhăng nhít? Bố có nhận là chồng dì Lan, là bố chị Hồng Liên thì đã làm sao? Sợ mẹ con ngoài ấy vào “đánh ghen” à? Hay là bố sợ Đảng cảnh cáo, khai trừ vì phạm tội “đa thê”, vi phạm luật hôn nhân gia đình? Hay là...

Thôi thôi... con lắm điều quá rồi đấy. Bố chẳng sợ gì những điều con đặt ra đâu. Cái mà bố thật sự bận tâm, ấy là sự phải, trái, đúng, sai, thật, giả! Trước đây hơn năm mươi năm bố yêu bà Lan, cho đến bây giờ vẫn yêu bà ấy... điều đó là thật. Bây giờ bố đã có vợ - là mẹ của các con, và ba chị em con... điều này cũng là thật!Cô Hồng Liên là con gái của người đàn ông nào, bố đâu có biết. Nay đứng ra xưng xưng nhận là bố đẻ của cô ta, điều đó là giả dối, không phải là sự thật. Biết đâu, một ngày nào đó người bố thật của cô ta xuất hiện, thử hỏi lúc ấy bố còn mặt mũi nào không? ờ thì ở vào cái tuổi của bố với mẹ con và bà Lan bây giờ chẳng còn “nụ cà, hoa mướp” gì nữa thật, song luật pháp bao giờ cũng vẫn là luật pháp. Họ làm ngơ thì chẳng có sự gì, nhưng một khi họ giở giói ra phỏng thân phận bố liệu sẽ ra sao?

Hoài Lăng thở dài nói buông xuôi:

-Con rất thất vọng về bố. ý nghĩ cứ máy móc, đóng cọc và... cả một đời lúc nào cũng lo sợ với cảnh giác! Bây giờ con chỉ xin hỏi bố một câu này nữa thôi: Có phải thời của bố, Cụ Hồ đã từng dạy rằng trước mọi việc phải cư xử sao cho có lý có tình, đúng vậy không ạ?

-Rất đúng. Thì sao nào?
-Nếu đúng vậy thì con nghĩ rằng: Về Lý thì đúng bố là chồng của mẹ con và là cha của chúng con. Đồng thời, về tình thì bố lại đúng là người yêu của dì Lan. Phải vậy không ạ?

-ờ, phải.

-Vậy thì bố nghĩ xem, cái gì là thật, cái gì là giả?

-!!!???

-Thế đấy bố ạ. Bố yêu dì Lan và suốt đời mang hận vì không lấy được dì ấy làm vợ, đó là sự thật. Và chị Hồng Liên là con gái của người đàn bà mà cả đời bố ao ước được làm chồng, đó cũng là sự thật. Quá khứ giữa bố với dì Lan thế nào con không biết. Hiện tại, bốn mươi sáu năm nay dì không có ai ngoài chị Hồng Liên bên cạnh và hình bóng bố trong tim. Nay bố đột ngột xuất hiện! Ai vì ai? Ai được hãnh diện? Ai bất hạnh? Đúng, sai, thật, giả thế nào... bố thử phân tích xem? Và bố cũng không nên đánh giá mẹ con thấp quá như thế, không đúng đâu!

***


Qua thêm một đêm thức trắng nữa. Sớm hôm sau ông Thảo tắm táp thay quần áo chỉnh tề, rồi lẳng lặng đi ra cửa. Chồng Hoài Lăng vội chạy ra, hỏi:

Bố định đi đâu, chờ con rửa mặt đã.

-Không cần. Hôm nay tôi đi xe ôm cho được chủ động thời gian. Nói xong, ông lập tức đi thẳng ra khỏi ngõ. Gặp chiếc xe ôm đầu tiên ông nói ngay với anh lái:

-Cậu chở tôi đến Hẻm Cụt, đường Lê Hoàng Phái, Gò Vấp.

Anh lái hình như không biết địa chỉ đó, nhưng khôn khéo nói:
-Chú vui lòng chờ con bơm thêm hơi cho lốp căng chút xíu, đi cho lanh.

Nói đoạn, anh vội dắt xe ra chỗ người có bơm khẽ hỏi dò, rồi nhanh chóng quay lại mời:

-Chú lên xe, ngồi thoải mái vào, con chở.

Quanh quéo một hồi, xe đưa ông Thảo đến đúng con hẻm hôm trước. Rủi thay, hai cánh cửa căn hộ của bà Lan đã bị khóa kín. Không còn phương sách nào tốt hơn là lại vào ngồi nhờ nhà ông Hòa hàng xóm. Trở lại, ngó vào khuông cửa sổ mở rộng, quả nhiên ông Hòa đã dậy, đang ngồi trước bàn uống nước một mình. Thấy bóng người, ông Hòa ngước lên nhận ra ông Thảo, vội đứng dậy cất tiếng:

-Ôi kìa cụ sang chơi. Mời cụ vào xơi nước.

Lòng đã có chủ định, ông Thảo bình tĩnh bước vào, vui vẻ chìa tay, nói:
-Trước lạ sau quen. Xin được tự giới thiệu: Tôi chính là chồng bà Lan. Chúng ta là hàng xóm thân tình, xưng hô với nhau là bác cho phải hơn, có được không ạ?

Ông Hòa cười thành tiếng, lắc mạnh bàn tay của ông Thảo, đáp:
-Không những là hàng xóm, tôi còn là em kết nghãi của bà Lan. Phải gọi bác là anh rể đấy, bác ạ. Chị, em, chú, cháu chúng tôi bốn mươi sáu năm naynương tựa vào nhau, ngày mưa ngày nắng, khi đói lúc no... bác cứ thong thả chờ đứa con gái của bác, mấy hôm nữa họp xong trở về nó kể cho mà nghe.

-Vâng, vâng, tôi cũng đang mong cháu. Không biết con bé cao, thấp, gầy, béo ra sao? Mấy chục năm trời chẳng một lần trông thấy mặt nhau tội nghiệp mẹ con bà ấy!

-Bác ngồi xuống đã, nước đang ngon, mời bác này. Nói chứ, chỉ thoạt gặp bác là tôi đã đoán ra ngay. Con cháu Liên giống bác như lột. Rồi đấy bác sẽ thấy. Cũng dáng người dong dỏng, cũng nói năng lưu loát, cử chỉ khoáng đạt... y hệtbác, chả giống bác gáitý nào. hay là tôi đánh điện báo cho cháu biết là bác đã tìm thấy gia đình, có lẽ nó mừng đến phát điên lên đấy bác ạ.

-Phải hỏi mẹ cháu đã, bà ấy quyết định thế nào tôi theo thế ấy không dám lạm quyền, kẻo bà ấy giận.

-Vâng, cũng phải. Bây giờ mới tám giờ, có sớm cũng ngoài chín giờ bác gái mới hết được hàng.

-Bác bảo con cháu Hồng Liên nó sẽ mừng khi được biết tôi về. Vậy ra cháu đã từng nói chuyện với bác về tôi sao?

-Trời ơi, lúc bé nói gọi tôi là chú. Khi lớn nó kêu tôi là thầy. Mọi nỗi niềm tâm sựcủa nó, bác gái thì nghiêm khắc lại kiệm lời, cháu không nói, không hỏi tôi thì còn biết nói, biết hỏi ai ở cái hẻm này? Phần tôi mà nói, bốn mươi sáu năm nay không có mẹ con cháu Hồng Liên thì tôi cũng đến trở thành một kẻ lạc loài không biết ở tận nơi đâu...

-Thế kia ư. Theo bác nhận xét thì về mặt tâm hồn, tình cảm, trí tuệ... cháu nó là người thế nào?

-Bác có lòng tin mà hỏi, tôi cũng cứ xin nói thật: Con gái bác là một con người bảo thủ, cực đoan. Tài, đức hệt như một chiếc mề đay: mặt phải, mặt trái đều bộc lộ phân minh. Có lẽ đó là do chịu ảnh hưởng sự nuôi, dạy của bác gái.
-Bác nói vậy cụ thể là sao chứ?

-Thì... thí dụ như... nói về cái thuật kiếm tiền, hay là phấn đấu tìm con đường làm chính trị chính em và v.v... thì nó là một đứa “đoảng vị” chẳng biết gì đâu. Ngược lại, nói về công việc giảng dạy cho học sinh,l hoặc là câu chuyện văn chương, hội họa, thi ca v.v... thì nó vào loại giỏi đấy. Nói cách khác: Về tâm hồn, tư cách, thì con gái bác có giá trị thật sự. Và tất nhiên sẽ chẳng thể giầu tiền lắm bạc bằng thiên hạ được đâu.

-Tôi hiểu. Thế còn tư tưởng và sinh hoạt của cháu. Theo nhận xét của bác thì có vấn đề gì cần phải quan tâm?

-Sinh hoạt coi như vô sự. Bởi hai vợ chồng nó đều là giáo viên giỏi, cha mẹ chồng song toàn, gia đình nền nếp đủ bát ăn. Còn hai đứa con của chúng nó đều đã lớn. Thằng anh đang học trường Cao đẳng Mĩ thuật; con em thì bác gặp rồi đấy. Tóm lại là về sinh hoạt và đời sống thì bác có thể yên tâm. Duy vấn đề tư tưởng thì con gái bác “có vấn đề” đấy. Nhưng có lẽ...

Ông Thảo hấp tấp hỏi dồn:

-Bác bảo sao? Có vấn đề ư? Nghiêm trọng không?

-Cũng có thể coi là nghiêm trọng, vì hàng mấy chục năm ròng cứ thấy mỗi ngày mỗi tăng, không thấy giảm. Nhưng nay bác đã có mặt, tôi tin bệnh cháu Hồng Liên sẽ được bác chữa cho... dứt điểm.

-Tôi ư? Tôi biết gì về nghề thuốc đâu?

-Sao lại nói đến thuốc ở đây? Nếu là bệnh mà thầy lang, bác sĩ có thể chữa được thì còn gọi là tư tưởng làm gì? Có phải bác đã hỏi tôi về tư tưởng của cháu, đúng không?
-đúng. Vậy thì, hẳn là đã có ai đó hoặc sự gì đã làm cháu bất mãn hoặc thất vọng ghê gớm lắm, phải không bác?

-Bác đoán đúng đấy.

- Là ai? Là sự việc gìvậy?

-Là bác chứ ai vào đây nữa.

-Là tôi ư? Vô lý! Tại sao lại là tôi?

-Ô hay! Cháu Hồng Liên là con gái bác. Từ khi ra đời, cháu không hề biết mặt cha. Về tình, điều đó đã là một thiệt thòi không nhỏ đối với cháu. Nhưng còn một điều khác lớn hơn, có thể gọi là một sự thương tổn nặng nề và dai dẳng, dày vò cháu đêm ngày: đó là những câu hỏi, ltrước hết là của khách quan, rồi lâu dần trở thành những câu hỏi tự vấn! Giá như cháu nó làm một nghề khác, và ít quan tâm đến thơ văn, hội họa, âm nhạc... có lẽ vấn đề cũng sẽ không đến nỗi nặng nề. Đằng này, con gái bác là một cô giáo dạy văn, tâm hồn lại rất nhạy cảm với những câu chữ, âm thanh, mầu sắc... Chính nghề nghiệp cùng những cảm nhận khách quan đã tác động vào cháu không ngừng, khiến cháu luôn phải bận tâm ngẫm nghĩ về thân phận của mình. Mới cách đây một tuần lễ, trước khi đi họp ở Đà Lạt cháu còn tranh luận với tôi khá căng thẳng về một vấn đề tưởng như đã sáo mòn, đó là ý nghĩa của câu thành ngữ “Lá rụng về cội”...

-Rồi sao?

-Loay hoay chứng minh một lát, cuối cùng con gái bác hỏi độp tôi một câu hết sức đơn giản: “Chú không cần “lý thuyết” rắc rối, hãy đơn cử ở cái thân cháu đây này. Chú giải thích xem cháu “rụng” về nơi đâu? “Cội” của cháu là ở chỗ nào? Cháu là một con người có bố, có mẹ đàng hoàng. Tên họ bố cháu là Nguyễn Quang Thảo, mẹ cháu là Lê Thị Lan... Vậy thì thưa chú, cái “cội” họ Lê của mẹ, và họ Nguyễn của cha cháu hình thù nó ra sao? Cao hay thấp? To hay nhỏ? Nông hay sâu? Và vân vân v.v... Nghĩa là tất cả những điều cháu học được, cảm nhận được và đã mang dạy cho các em học sinh, về cái đẹp trong tâm hồn, tính cách của con người việt nam như “uống nước nhớ nguồn”, “yêu quí ông bà cha mẹ họ hàng”, “chim có tổ, người có tông; đi đâu, ở đâu cũng phải nhớ về quê cha đất tổ...” Nói rất hay, thậm chí còn được khen là một giáo viên giỏi. Nhưng thưa chú, có đêm nào cháu ngủ yên được về những điều mà cháu đã giảng cho học trò của cháu lúc ban ngày? Đám trẻ ấy sẽ nghĩ ra sao, nếu chúng biết rằng cô giáo của chúng chỉ là một cái máy nói, một cái thùng rỗng, một cái xác rất mạnh khỏe nhưng hồn vía không biết gửi vào đâu... Bởi, cháu chỉ là một kẻ ăn gửi ở nhờ “trên không chằng, dưới không rễ” giữa thế gian này!”. Đấy, bác nắm được rồi chứ? Tư tưởng của con gái bác xem ra thì không đơn giản đâu. Bác liệu mà tìm cách “điều trị” cho cháu. Chỉ có bác mới làm nổi việc này...

Ngồi im nghe ông Hòa nói với phong cách chững chạc của một thày giáo và với sự nhiệt thành của một người chú mà ông thực tâm dành cho Hồng Liên, ông Thảo cảm thấy xấu hổ với lòng mình về những suy nghĩ và cử chỉ bộc lộ trong buổi gặp bà Lan ngày hôm qua. ông nghiêm trang đứng dậy nắm tay ông Hòa, nói với ý thức một người cha:

-Cảm ơn bác. Chờ lát nữa “bà lão” nhà tôi về, nói với bà ấy vài việc, rồi tôi sẽ lên Đà Lạt gặp cháu. Nếu có thể thì đón cháu cùng về.

Ông Hòa tỏ ra xúc động, cứ lắc tay ông Thảo, nói:
-Bác nói phải. Hẳn con bé sẽ ngạc nhiên và mừng đết ngất người...

Ông Thảo chưa kịp nối lời thì có tiếng xe máy đỗ xịch ngay ngoài cửa. Ngước trông ra, một phụ nữ đã đứng tuổi đang rời xe ôm. Nom dáng dấp và cách trang phục đúng một người đang có chức trách trong guồng máy xã hội: Quần âu màu xám nhạt; áo vét màu trắng ngà khoác ra ngoài áo sơ mi màu tím than; đầu đội mũ vải mềm màu nâu có vành nhỏ; chân đi xăng đan gót bằng có quai hậu...

Người phụ nữ nhanh nhẹn mở túi khoác lấy tiền trả anh lái, rồi hấp tấp bước lên hè, đứng sững trước cửa trông vào, đột ngột kêu lên một tiếng ngắn:
-Chú ơi!

Ông Thảo chưa hiểu ra sao đã thấy ông Hòa đứng choàng dậy, quờ tay vơ vội cây nạng, hấp tấp bước ra, reo to:

-Trời ơi! Làm sao cháu biết tin mà về nhanh vậy? Bố cháu đang tính chiều nay lên Đà Lạt với cháu, - ông quay lại nói với ông Thảo: Kìa bác, con gái bác đây này. Cháu Hồng Liên đấy!

ông Thảo đứng bật dậy, giương to mắt nhìn trân trân vào người đang đứng trước khuông cửa. Người phụ nữ run rẩy nhào ngay vào mếu máo thốt lên một tiếng nghẹn ngào:

-Bố!

Dù đã có sự chuẩn bị cho một cuộc tiếp xúc nhưng trước cảnh huống cụ thể này, ông Thảo thực sự mất hết khả năng tự chủ. Bất giác ông giơ tay đón đợi Hồng Liên lao vào. Bốn cánh tay ôm choàng lấy nhau trong xúc động và ứa trào nước mắt.
Bán hết hàng, hôm nay bà Lan còn phải đi mua sắm vài thứ nên về muộn. Khi bà tới nhà đã thấy ngỏ cửa. Ông Thảo đang ung dung ngồi trước bàn đọc báo. Vừa mừng vừa ngạc nhiên, bà hỏi:

-Ô kìa, ông sang chơi từ bao giờ vậy? Làm thế nào mở được cửa?

Ông Thảo đứng dậy tươi cười đáp:

-Tôi sang từ lúc bà vừa ra khỏi nhà. Có cô tiên hiện ra mở giúp cửa cho vào ngồi chờ. Lại còn đun cả nước cho uống, mua cả bánh mời ăn nữa cơ, bà ạ.

Nghe giọng cởi mở, vui đùa của ông, nhìn trên mặt bàn thấy có đĩa bánh thật, bà Lan ngẩn ra giây lát rồi bước tới mở nắp chiếc phích thấy có hơi nóng bốc lên, bà e dè nói:

-Ngỡ ông không sang, chứ nếu biết trước tôi đã ở nhà sắp sẵn nước nôi. Làm ông vất vả, tôi thật có lỗi.


Ông Thảo cướp lời:

-Bà vẫn cứ thật thà như đếm! Tôi sang đây thấy cửa khóa, vào luôn nhà ông Hòa chứ ai dại gì đi mở cửa trộm. Hai anh em đang ngồi chuyện trò huyên thiên thì Hồng Liên xộc đến. Bố con nước mắt nước mũi, cười cười mếu mếu một hồi, rồi nó lấy chìa khóa riêng mở cửa, mua bánh, đun nước... Cha con ăn uống no nê xong, nó bảo: “Con về bên nhà sửa soạn trước. Chốc nữa mẹ về, bố bảo mẹ dẫn bố sang ngay nhà con. Hẳn bố mẹ chồng con mừng lắm. Hôm nay con phải ép bốn cụ say bét nhè một phen cho bõ hận!”

Cái hạnh phúc tưởng như đơn giản này bấtchợt hiện ra khiến bà Lan sững sờ nhìn ông Thảo, cứ ngỡ nghe nhầm. Hồng Liên ư? Bố con cười cười mếu mếu ư? Mẹ dẫn bố sang ư? Bốn cụ say bét nhè ư? đầu óc bà quay cuồng bởi “hàng đống” câu hỏi đột ngột ùa đến, khiến bà không hiểu kịp và không sao giải thích được.

Nhìn gương mặt bà Lan thoắt nhợt ra, đờ đẫn khác thường khiến ông Thảo trào dâng niềm thương cảm. Lòng bồi hồi xúc động, ông đến gần, nhẹ nhàng đặt tay lên lưng bà, dìu vào ghế, cùng ngồi cạnh nhau, ân cần giải thích:

-Tôi lú lẫn nên đã cư xử không đúng với bà. Nhìn thái độ của tôi con út nó phát hiện ra. Chắc nó sang gặp bà. Trở về, nó nói tôi không còn biết giấu mặt vào đâu. Con cái chúng ta nhớn nhao, giỏi giang cả rồi, bà ạ. Nó nói đúng thì dù nó là con, mình cũng nên nghe mới phải. Hôm nay tôi sang sớm, chủ bụng gặp bà để nhận lỗi rồi bàn với bà xem nên gỡ mối tơ vò như thế nào cho vẹn được cả bốn năm đường! Chẳng ngờ, không biết ai báo tin cho cái Liên, vậy là nó bỏ cả hội nghị đâm bổ về. Nước mắt nước mũi chan hòa, chẳng còn thèm đếm xỉa đến đất trời gì nữa cả. Tôi nỡ mặc bà đau đớn, thiệt thòi mãi sao? Bà phải vui lên chứ. Người ta bảo con cái là cái dây nối chồng vào với vợ cho tới đầu bạc răng long. Nay cái sự giữa tôi với bà không phải là do các con nó gỡ cho hết bối rối tơ vò đó sao. Vả lại, nói cho cùng, kẻ đau đớn thiệt thòi là bà với tôi chứ mọi người nào ai biết đấy là đâu. Phải không bà?

Ngồi kề bên, nghe ông thủ thỉ những lời ân tình ấm áp, bà dụi đầu vào vai ông rấm rứt khóc rồi thốt lên:

-Anh ơi! Thương nhớ anh cả một đời. Đã tưởng vĩnh viễn sẽ không còn được gặp anh. Sẽ phải sống trong tủi thẹn, chết không nhắm được mắt. Chẳng ngờ, trời cao còn trông lại cho em được gặp anh, được nghe anh nói những lời tình nghĩa như thế, dù chết ngay bây giờ em cũng mãn nguyện rồi, anh ạ.

Lòng dào dạt xót thương, ông Thảo nhẹ nhàng vòng tay ôm ngang lưng bà Lan, khẽ kéo bà sát vào mình. Bà Lan ngả người, gục đàu xuống, áp hẳn vào ngực ông. Họ không nói gì thêm, cứ ngồi ôm nhau như thế, và sẽ không biết còn kéo dài tới khi nào nếu Hồng Liên không đẩy cửa bước vào. Trông thấy bố mẹ đang chìm đắm trong yêu thương, Hồng Liên lè lưỡi, rụt cổ lùi bước, len lén khép lại cánh cửa. Linh cảm mách bảo khiến bà Lan ngẩng đầu quay ra cất tiếng:

-Liên, con đấy phải không?

Hồng Liên đẩy rộng cửa bước vào, gương mặt rạng rỡ, cười rất tươi nói giọng đầy xúc động:

-Con chính thức yêu cầu bố phải trả cho mẹ con món nợ tình cảm nửa thế kỷ mẹ con kiên trinh chờ bố. Bố nghe rõ chưa nào?

Ông Thảo thốt nhiên đỏ mặt, vội vã gật đầu:

-Bố hiểu, bố hiểu.

Bà Lan đỡ lời:

-Nghe bố con bảo con mời bố mẹ sang nhà con phải vậy không? Thế là thế nào?

-Thưa mẹ, đúng đấy ạ. Chính bố chồng con đã điện gọi con về và bây giờ các cụ sai con sang mời bố mẹ đến xơi cơm. Gia đình ba thế hệ bên chồng con đã tề tựu đông đủ, chờ được đón bố mẹ sang đấy nhé.

Bà Lan bỗng lặng ngắt một lát, rồi như nhận thức ra điều gì đó bà đứng dậy đi vào buồng. Ông Thảo cũng ngỡ ngàng nói với Hồng Liên:

-Không nghĩ bố mẹ chồng con lại sốt sắng đến thế nên bố ăn mặc xuềnh xoàng quá, có khi làm xấu mặt con mất.

-Ơ hay, bố nghĩ gì lạ thế? Bộ quân phục cựu chiến binh bố đang mặc đẹp nhất trần gian rồi còn gì. Con hãnh diện với nhà chồng con về bộ đồ này của bố đẻ con đấy, bố ạ...

(còn nữa)




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0

7

Bố mẹ chồng của Hồng Liên đều là cán bộ cách mạng chuyên nghiệp lâu năm, người Bắc, sau ngày nước nhà Thống Nhất được điều vào tăng cường cho miền Nam. Ông bố là thủ trưởng một cơ quan cấp cục, còn bà mẹ làm bên ngành thương nghiệp. Cả hai đều là những đảng viên kỳ cựu. Nay đều đã nghỉ hưu...

Đối với cuộc hôn nhân của con trai, thoạt đầu cũng lấy làm khó nghĩ. Bởi, xét về mặt bằng giữa hai cá nhân thì cả hai đều là giáo viên trung học, đều có bằng đại học chính quy (mặc dù bằng của Hồng Liên do chế độ Mỹ-Ngụy cấp), đang cùng dạy học ở một trường... Có thể tạm coi là tương xứng. Nhưng xét lai lịch thì rất là không ổn: Mẹ Hồng Liên là dân di cư, lai lịch không rõ ràng, làm nghề “buôn thúng bán bưng” kiếm sống. Còn cha là ai, ở đâu, làm nghề gì? Thì chịu... không một ai biết rõ ngoài một cái tên trống rỗng: Nguyễn Quang Thảo.

Là một gia đình cách mạng “toàn tòng” lại rước một cô con dâu lai lịch như thế về nhà, phỏng còn ra cái thể thống gì? Biết đặt “thông gia thông giáo” vào thứ bậc nào cho phải mỗi khi vì lẽ gì đó giáp mặt nhau? Chính vì ý thức rõ được điều đó nên khi nhận thấy không còn khả năng thuyết phục được con trai, buộc lòng ông bà đành chấp nhận cho hai người làm đám cưới, tại... cơ quan! Nghĩa là bỏ qua hết thảy mọi lễ nghi theo tập tục cổ truyền. Họ hàng, bè bạn cũng như cha mẹ cô dâu, chú rể... cùng kéo đến cơ quan nghe Ban tổ chức tuyên bố lý do, ai muốn phát biểu gì thì phát biểu. Sau đó mọi người lên xe kéo nhau ra khách sạn đánh chén, rồi chia tay ai về nhà người nấy...

Gả chồng cho con hai mươi mốt năm có lẻ rồi, bà Lan vẫn chưa hề biết cánh cửa nhà con rể cao hay thấp, rộng hay hẹp? Và cũng chưa một lần có hân hạnh được đón tiếp ông hoặc bà thông gia đến chơi nhà. Cũng ngần ấy thời gian giữa ai mẹ con bà luôn luôn dành cho nhau một sự cảm thông. Bà không bao giờ có một nhận xét hoặc hỏi câu nào về ông bà thông gia của mình. Hồng Liên cũng hành động y như mẹ, chị không hề nói với mẹ bất kể một chuyện gì về bố mẹ chồng. Hai lần sinh con, cả hai lần chị đều xin phép bố mẹ chồng cho được về ở với mẹ suốt hai tháng nghỉ đẻ theo chế độ. Trong thời gian đó chỉ có một mình chồng chị được “độc quyền” đưa đi, đón về và chạy đi, chạy lại thăm nom... vợ, con!

Hai mẹ con mang chung một nỗi niềm tâm sự, tuy không cùng điểm xuất phát nhưng đều chứa chan cay đắng, tủi buồn. Bà Lan vì Hồng Liên, còn Hồng Liên thì vì... tình yêu!

Hôm nay, hai mẹ con thoắt thay đổi cách suy nghĩ và hành động. Cả hai thoải mái cất bước bên cạnh ông Thảo. Hồng Liên rất muốn đi vào giữa, để được một tay nắm tay bố một tay nắm tay mẹ. Nhưng bà Lan chẳng biết vì sao lại “tụt dép”, phải dừng để sửa. Khi xong, bà thản nhiên bước sang mé bên kia, đi sát cạnh ông...

Ông Thảo hoàn toàn không biết một chút gì về tâm sự của mẹ con bà Lan. ông chỉ biết một điều: Hai lần gặp bà đều thấy bà có đeo nhẫn vàng, hoa tai, hạt ngọc... Vậy mà hôm nay trở vào phòng thay trang phục cho đẹp để sang nhà thông gia, khi trở ra nom con người và hình dáng của bà rõ ràng có gọn ghẽ, đoan trang hơn trong chiếc áo “bà ba” lụa màu nâu tây, chiếc quần lụa màu đen, trên đầu vấn khăn nhung tuyết, dưới chân đi dép quai da đế bằng. Ngoài ra, không một chút vàng ngọc điểm trang! Là người cả một đời mặc quần áo lính, ông thực sự xúc động trước cách trang phục nuột nà mà gọn ghẽ, mộc mạc, thuần khiết, nền nã của bà, thầm nghĩ bà đã trút bỏ vàng ngọc với chiếc áo lụa màu mỡ gà duyên dáng là vì ông. Cho tới khi bà nhường hẳn cánh tay bên phải của ông cho Hồng Liên để được một mình đi sát cạnh ông, thì ông chỉ muốn quay về, để được ôm trở lại cái thân hình nhỏ bé thơm tho của bà trong tay, như lúc nãy...
Hồng Liên đột ngột phá tan dòng suy nghĩ của ông Thảo bằng câu hỏi với cái giọng háo hức như con trẻ:

Bố ơi, bố trông xem mẹ con hôm nay tháo bỏ trang sức, mặc áo màu sẫm, lại vấn khăn nhung đen, nom “cũ kĩ, cổ lỗ” quá bố nhỉ?

Ông Thảo thốt lên:
-ồ... con gái! Bố đang muốn cảm ơn mẹ con. Đó là cách trang phục mẹ muốn dành riêng cho bố ngắm, để nhắc bố về một thời đã qua, đấy con ạ.

Hồng Liên tròn mắt nhìn sang mẹ.

Nghe ông Thảo trả lời con gái, bà Lan lòng rộn bao suy nghĩ: Cảm ơn anh đã hiểu lòng em. Song còn một nhẽ mà anh không biết được đâu. ấy là nỗi cay đắng trong gan ruột em từ khi Hồng Liên đi làm dâu một gia đình giàu sang, quyền chức! Hôm nay họ mới “cho phép” em đặt chân vào nhà họ! Em không muốn họ nghĩ em là một kẻ coi trọng giàu sang, khát khao quyền thế. Bao giờ em cũng chỉ muốn là em thôi, anh ạ”.

Thấy mẹ từ lúc bước ra khỏi nhà vẫn chẳng nói lời nào, Hồng Liên khéo léo khêu gợi:

-Mẹ ơi, bây giờ bố con còn đẹp lão thế này, chắc lúc trẻ bố con đẹp trai lắm, phải không mẹ?

Bà Lan khẽ lắc đầu đáp:

-Mẹ chẳng biết nữa. Thời bấy giờ có khi nào mẹ dám nhìn thẳng vào mặt bố con đâu, mà biết rằng ông ấy đẹp hay xấu trai?

-Con không tin. Hàng nửa thế kỷ sống trong tình thương yêu của mẹ, con đã chứng kiến không dưới hàng chục trường hợp người đàn ông đến tìm cách ve vãn mẹ, xin tình nguyện dâng trái tim cho mẹ. Mẹ đều tìm cớ thoái thác, quyết không chấp nhận hình ảnh một người đàn ông nào khác được phép chen lấn vào hình ảnh của bố con trong tâm khảm mẹ. Vậy mà mẹ lại bảo không biết bố con đẹp hay xấu trai?

Thấy bà Lan bối rối, lòng tràn ngập cảm thương, ông Thảo vội lên tiếng:

-Đừng làm khó cho mẹ con nữa, Hồng Liên. Thời các con bây giờ nhờ có cách mạng giải phóng cho, được bình quyền với nam giới đã năm sáu chục năm rồi. Như con, bắt đầu đi học lập tức đã có quyền được ngồi học chung một bàn với con trai. Mẹ con đâu có được cái kiểu sinh hoạt tự do như vậy?

Hồng Liên vẫn chưa chịu, chị vặn hỏi:

-Là giáo viên văn con hiểu điều đó chứ bố. Nhưng, đằng này, bố mẹ đã là vợ chồng cơ mà?


Nghe đếnđấy, bà Lan kinh hoảng vội nắm lấy tay ông Thảo. Cảm nhận được điều lo sợ ẩn chứa trong bàn tay run rẩy của bà, ông Thảo bồi hồi xúc động, thuận miệng giải thích:

-Liên ơi! Con là... kết quả của tình yêu giữa... bố với mẹ, chưa qua đám cưới...

Hồng Liên bất giác buông rời bàn tay của chị ra khỏi tay ông Thảo. óc chị chợt lóe lên ý nghĩ: “Nghĩa là đứa con ngoài giá thú là mình ư?” Và lòng chị dấy lên nôn nao một tình cảm xót thương đối với mẹ: Trời ơi! Chỉ một lần ái ân “vụng trộm” mà mẹ đã sẵn lòng bỏ qua tuổi thanh xuân, bỏ qua cả một đời người để gìn giữ một tình yêu tuyệt đối! Cả một đời chỉ dành cho một con người cụ thể! Mẹ, mẹ ơi!

Nước mắt chứa chan, Hồng Liên hết nhìn mẹ lại nhìn bố. Thế hệ các cụ có quan niệm sống như thế, và đã sống như thế. Giờ chị tin truyền thuyết về hòn đá Vọng Phu. Chính là mẹ chị đây. Cả bố nữa, người chinh phụ đã trở về...

Bữa tiệc diễn ra chưa đầy hai giờ đồng hồ. Đối với bà Lan nó kéo dài khủng khiếp.

Do thịnh tình của chủ nhà - với dụng ý để tăng thêm phần long trọng - bốn ông bà thông gia cùng ngồi một mâm riêng, trên bộ “sa lông” gỗ gụ mặt đá hoa, chạm khắc cực kỳ tinh xảo... bầy chất chất hàng chục lon bia “các bớt”, nước ngọt “cô ca”, cùng với thịt hộp, cá hộp, nấm hộp, dưa chuột hộp... khui từ những chiếc hộp rất đẹp mang nhãn hiệu “U.S.A” hoặc “Tho-lang” mà... một người dân thường như bà Lan chỉ thoáng nhìn đã cảm thấy ngợp bởi sự sang trọng chưa từng thấy của những món hàng quí đó!

Đôi bên thông gia ngồi đối diện. Dù ngượng ngùng, bà Lan vẫn phải tiếp chuyện ông bà thông gia. Đã hơn năm mốt năm, tuy không nói ra lời nhưng trong thâm tâm bà Lan vẫn luôn cảm thấy áy náy đối với ông bà thông gia. Rằng có điều rất không phải với bố mẹ chồng của Hồng Liên là bà vì nhiều nhẽ đã không hề lui tới thăm hỏi, thậm chí không có nhu cầu... làm quen! Cũng may, ông bà thông gia tỏ ra rộng lượng, hết sức thông cảm, chẳng trách cứ gì. Hôm nay có sự xuất hiện của ông Thảo, bà được mời đến dự bữa ăn thân mật do ông bà thông gia tổ chức và đích thân ngồi tiếp. Bà Lan hiểu hân hạnh này là quá lớn. Song chẳng hiểu từ đâu, lòng riêng bà vẫn cứ cảm thấy ngại ngần, rất không muốn đi. Vì từ chối cuộc tiếp xúc vinh hạnh này sao được?

Bây giờ thì bà đang ngồi đây. Mặt đối mặt. Trên bàn đầy những thức ăn rất sang, song vì không hợp khẩu vị nên bà không sao nuốt được, dù chỉ là một miếng. Bà vốn là người chậm mồm chậm miệng, lại càng lúng búng như mắc ngậm hột thị, nói không thành lời, đành ngồi “chịu trận”.

Chỉ cách một cái mặt bàn, ông bà thông gia hiện lên chân thực trước mắt bà Lan, đúng như tạo hóa đã ưu ái ban cho họ. đó là một ông già to lớn, bệ vệ trong bộ pi-ja-ma (9) kẻ sọc to màu đen trắng còn mưói nguyên. Mái tóc màu muối tiêu, cắt cao, nom lởm chởm như một chiếc bàn chải ngựa. Gương mặt to, phốp pháp, đỏ căng. Đặc biệt trên gương mặt phúc hậu ấy có cái mũi cùng với cặp môi rất nở nang, oai vệ. Mỗi khi ông muốn biểu đạt điều gì đó, cặp môi đầy đặn lại múa lên dọn đường, để rồi phát ra những tiếng ậm ự ề à cực kỳ chững chạc, tỏ rõ ông là một con người nói năng có suy nghĩ chín chắn, chỉn chu, đầy ý thức trách nhiệm! Bà thông gia khác hẳn. Với dáng người hơi mảnh mai quá nên nom như khô gầy. Nhưng cách ăn mặc và trang điểm có thể coi là nhất hạng. Tuy tuổi bà cũng đã cập kề cái ngưỡng “xưa nay hiếm” nhưng mái tóc bồng bềnh kiểu “súp lơ” vẫn được nhuộm rất công phu. Mái tóc ấy nó tương phản khí lộ liễu với gương mặt gầy đánh phấn hơi quá tay trắng lốp như được nặn bằng thạch cao của bà. Riêng bộ thời trang bà đeo, khoác trên người thì thật là không thể chê vào đâu được! Tất cả đều hàng “xịn”, trăm phần trăm là thứ thiệt. Váy áo thuần lụa tơ tằm do chính tay các nghệ nhândanh tiếng ở tận làng Vạn Phúc tỉnh Hà Đông (cũ) dệt; nhẫn đeo tay có gắn hạt xoàn trị giá cả chục ngàn đô la do bà tự tay sắm lấy trong dịp đi du lịch qua Thái Lan cùng chồng. Chuỗi ngọc trai bà đeo nơi cổ đích thực là “nguyên chất” Mã Lai do con gái và con rể bà đang công tác bên đó gửi về làm quà mừng ngày sinh nhật của bà v.v... Cộng thêm, bà được trời phú cho một giọng nói trong, nhanh, mạnh mẽ, dứt khoát và đanh thép, đầy tự tin

Sự tương phản ấy khiến bà Lan thực sự lúng túng.

Bà thông gia mời mọc, chèo kéo mãi bà Lan vẫn không chịu gắp thức ăn cho. Chán quá, bà quay sang góp sức với chồng, tiếp đãi ông Thảo thật là nồng nhiệt.
Với ông Thảo. Vốn là một chính ủy đã từng có hơn hai mươi năm cai quản cả một trung đoàn rồi tới đại đoàn quân sĩ, ông có không ít sự trải nghiệm trong việc nhìn nhận con người. Đồng thời, ông không hề quên mình là ai, đang ở đâu, làm gì. Vừa đối đáp với chủ nhà, ông Thảo vẫn để tâm đến bà Lan. Cảm nhận được sự lúng túng của người ít giao tiếp nên ông thấy cần phải kết thúc cuộc chiêu đãi ddầy tình thân ái này, bèn nghiêng đầu hỏi bà Lan:

Bà lại lên cơn đau đấy ư?

Như người đang sắp chết đuối trên sông, bà Lan vội đáp:
-Vâng ạ!

Nghe vậy, ông thông gia sốt sắng lên tiếng:

-Để mời bà vào nhà trong nằm nghỉ. Cứ tự nhiên thoải mái như ở bên nhà. Đã là thông gia thì hai gia đình như một, bà không nên mặc cảm, giữ kẽ...

Bà Lan vội lắc đầu:

-Không ạ, không ạ... tôi không sao đâu ạ...

Hồng Liên hấp tấp chạy lại nắm tay mẹ, khẽ hỏi:
-Mẹ cảm thấy trong người thế nào ạ?

-Mẹ chỉ thấy mệt thôi.

Ông Thảo lập tức đứng dậy, nghiêm trang nói:

-Là tình thân gia, ông bà bên này có lòng quí mến gọi chúng tôi đến ăn tiệc và chuyện trò. Tiệc đã ăn và chuyện cũng đã được nói. Tiếc vì bà lão nhà tôi trong người khó ở, không thể ngồi lâu. Xin cho vợ chồng chúng tôi được thất lễ, về sớm một chút!

Hồng Liên nhanh chóng dìu mẹ đứng dậy. Ông bà thông gia biết không giữ được đành phải chiều lòng, ân cần đưa tiễn khách ra tận cửa, bịn rịn chia tay...

Đỡ mẹ ra tới đường cái, Hồng Liên gọi xe. Bà Lan vội ngăn:

Không cần đâu con. Để mẹ đi bộ tay đôi với bố, cho thoải mái. Mẹ muốn thế. Con vào nhà đi. Sáng mai sáng sớm, mẹ có việc nhờ đấy.

Nghe giọng nói của mẹ vẫn tỉnh táo, bình thường, Hồng Liên lập tức hiểu ra. Chị yên tâm đáp:

-Vâng ạ. Bố dẫn mẹ đi chậm thôi nhé. Mai con sẽ sang sớm.

Còn lại hai người, ông Thảo bước thật chậm, hỏi bà Lan:
-Giữa mẹ con bà với bên thông gia hình như có vấn đề gì. Phải không?

Chưa vội trả lời câu hỏi của ông, bà Lan khẽ nói:

-Những lúc chỉ có hai chúng ta, anh đừng gọi em là bà, anh ạ.

Ông Thảo cảm động gật đầu:

-Anh hiểu rồi, hiểu rồi...

-Anh chưa hiểu đâu, thật đấy! Nhưng... để rồi khi nào có dịp em sẽ nói rõ đầu đuôi tấtcả mọi sự với anh. Riêng về việc đi dự tiệc hôm nay thì... em xin được thay mặt cho cả cháu Liên, hết sức cảm ơn anh.

Có ý không hài lòng, ông Thảo nghiêm mặt nói:

-Sao lại là cháu Liên? Hãy giải thích một chút về lời cảm ơn ấy, cho anh nghe nào?

-Phải giải thích ạ? Có cần không?

-Anh thấy cần chứ.

Ngần ngại giây lát, bà Lan đi sát lại gần ông Thảo, cố nén một tiếng thở dài, đáp:

-Anh biết rõ Hồng Liên không phải là con anh. Chỉ vì thương em, anh “ra mặt” trước bố mẹ chồng nó như thế này, em lo lắm...

-Sao? Lo những gì, nói anh nghe?

Bị bất ngờ trước cách nói năng khô cứng của ông Thảo, bà Lan cảm thấy tủi thân muốn khóc. Nhưng rồi vốn quen nhẫn nhịn, bà cố nén lòng nghẹn ngào nói:

-Anh còn phải hỏi em nữa ư? Là một người đàn bà... hèn hạ như em còn biết rằng... rằng cái việc anh nhận em là vợ, nhận Hồng Liên là con, là... là nói dối! Nhưng, dân chúng trong Hẻm Cụt, vợ chồng con cái Hồng Liên, và cả bố mẹ chồng nó nữa... lại cứ nghĩ là chuyện thật. Chả nhẽ... một người như anh mà còn phải cần đến sự giải thích rằng đó là một việc... một việc rất sai ư?

Ông Thảo nhìn thẳng vào mặt bà Lan nói cộc lốc:

-Thì sao?

Không nén được nữa, bà Lan bật khóc thốt lên:
-Thì em với Hồng Liên bất quá chỉ phải lấy tay che mặt lại. Chứ anh... còn vợ anh, con anh, cháu anh... còn chức tước, bổng lộc... liệu sẽ ra sao, khi người ta phát hiện ra? Mà cái điều ấy chắc chắn sẽ chẳng tránh được đâu!

Ông Thảo im lặng. Thấy vậy bà Lan cũng không nói gì thêm. Hai người cứ thế lặng lẽ đi bên nhau. Về tới cửa, trong khi mở khóa, bà Lan khẽ hỏi:

-Hãy còn sớm. Anh vào ngồi nghỉ, chờ em pha chén nước nóng uống đã, rồi hãy về.

Ông Thảo thản nhiên hỏi trống không?

-Về đâu?

-Ơ hay, về chỗ ở của anh chứ đâu nữa?

Vừa lúc bà Lan đã mở được cửa, ông Thảo bước ngay vào, đến ngồi xuống ghế, hỏi:
-Thế ra đây không phải là nhà em ư?

-Dạ, đúng là nhà em đấy chứ ạ.

-Vậy thì anh còn phải về đâu nữa? Suốt từ sáng tới giờ, anh đã nói với ông Hòa hàng xóm, nói với em, với con, rồi nói với cả ông bà thông gia... rằng anh là chồng em, là bố con Liên. Chẳng thấy em phản đối gì cả. Thế chả hóa ra trò đùa à? Anh có biết nói đùa bao giờ đâu. Em hiểu rõ như thế mà?

Bà Lan ngỡ ngàng giương to mắt nhìn ông Thảo. ông Thảo từ tốn đứng dậy đi ra khép cửa, rồi dìu bà cùng ngồi xuống ghế, nói:

-Em ạ. Mấy hôm nay anh chợt nhận thấy mình là một con người chẳng ra gì!... Khoan, đừng cựa quậy thế, cứ ngồi im nghe anh nói cho rõ đã. Anh đã sống không thật với chính anh. Đúng thế! Phần em yêu anh như thế nào, để rồi em sẽ tự giãi bầy. Bây giờ đã đến lúc chúng ta nên nói ra tất cả với nhau cho được nhẹ lòng em ạ. Phần anh, suốt bốn, năm chục năm vừa qua, nếu có ai dám nói vào mặt anh rằng cái việc anh yêu em là giả dối, thì thực lòng, anh sẽ dành cho kẻ đó một sự khinh bỉ không thèm bàn cãi. Bởi anh cho đó là những kẻ chỉ biết có thứ tình yêu thể xác. Anh đã yêu em, đã giữ gìn tình yêu ấy suốt cả cuộc đời mình, kể cả trước và sau khi lấy vợ. Và anh cứ ngấm ngầm an ủi mình rằng: Đó là vì “hoàn cảnh”! Thế đấy em ạ!

Thấy ông Thảo ngừng nói, bà Lan dè dặt lên tiếng:

Thì đúng là như thế còn gì. Ai chẳng vì hoàn cảnh bắt buộc? Có ai lại mong muốn cả một đời làm một kẻ sống không chồng, không con như em bao giờ?

Ông Thảo sửng sốt hỏi giật giọng:

-Em nói sao? Không chồng, không con như em là thế nào?

-Chuyện dài lắm. Không nói một chốc một nhát được đâu. để rồi thong thả, khi nào có dịp em sẽ kể. Mà... anh có nghe cũng chẳng giải quyết nổi việc gì nữa, nghe làm gì cho mệt óc ra, hả anh?

-Vẫn cứ phải nghe, em ạ. Được rồi, đồng ý chuyện về em hượm lại, nói sau. Bây giờ hãy cho anh “tự kiểm điểm” với em trước đã...

Ông Thảo đứng dậy tráng ấm, pha nước, rót mời bà Lan. Hai người ung dung nhấm nháp xong tuần trà. Ông Thảo trở lại với câu chuyện đang bỏ dở:

-Ban nãy nghe anh nói câu “đó là vì hoàn cảnh”, em coi là “Đúng”. Không phải thế đâu. “Sai” đấy em ạ! Anh hỏi em nhé: Cái việc anh với em yêu nhau, và hứa sẽ “Sống, chết vì nhau” là có thật hay chỉ là giả dối?

-Là thật chứ ạ.

-Việc anh còn sống trở về nghe tin em di cư vào Nam, anh tự cho phép mình “bắt cá hai tay”: cứ đàng hoàng ve vuốt hình ảnh của em trong tâm, đồng thời ôm ấp vợ con trên giường... là thật hay chỉ là giả dối?

-Cái ấy thì... em... em...

-Thế đấy. Hơn ai hết, em biết rõ anh là con thứ, họ Nguyễn nhà anh không bắt anh phải cấp cho dòng họ người nối dõi tông đường, và luật pháp cũng không buộc anh phải lấy vợ. Vậy thì, trong khi vẫn nói là yêu em,l nhưng anh lại đi lấy vợ khác. Hành động đó nên hiểu thế nào? Không hoàn cảnh nào bắt anh phải yêu em, và cũng chẳng có hoàn cảnh nào bắt anh phải lấy vợ. đúng thế không?

-Đúng ạ!

-Chưa hết. Nước nhà thống nhất, anh vào Sài Gòn tìm em ba bận không thấy. Đến khi con út tốt nghiệp trường Y, anh khuyến khích nó đi nhận công tác ở Sài Gòn, cậy nhờ nó cố gắng tìm em. Sau ngót mười năm, vợ chồng nó tìm được em, báo tin ra buổi trưa thì buổi chiều anh đã ra mua vé máy bay vào Sài Gòn ngay trong đêm đó. Sớm hôm sau nhờ con rể đèo đến tìm em, trong lòng anh lấy làm vui sướng và... hãnh diện lắm! Thì cứ tự ngỡ rằng “ta, một người có trái tim chứa đựng một tình yêu chung thủy hơn người”! Thế rồi sao? Khi gặp em, biết em có một đứa con “riêng” đã lấy chồng có con học tới trung học và đại học cả rồi. Nhưng... thật oái oăm: Trong chứng chỉ vào đời của nó lại có tên một người cha là... anh! Khỏi cần kể lại cái thái độ đớnhèn, hoảng sợ của anh đã bộc lộ trước mặt em khi nghe tin ấy. Tóm lại, anh đã chạy trốn một cách... một cách... thật đáng xấu hổ! May sao Hoài Lăng, đứa con gái út của anh, nó đã kịp thời phán xét cái hành vi xuất phát từ một tình yêu “cao thượng” và “chung thủy” ấy của anh. Để cho anh tỉnh ngộ ra rằng: Vì ai mà anh vào đây? Vì ai mà cuộc sống của mẹ con em đang yên ổn bỗng bị đe dọa khủng khiếp? Anh tự hỏi mình: “Nguyễn Quang Thảo ơi. Ông là một lão già đáng kính hay chỉ là một gã đàn ông đáng khinh bỉ? Xin ông hãy tự trả lời đi”! Và, em ơi, anh đã bừng tỉnh và quay lại. Anh đã hành động có ý thức vì một tình yêu có trách nhiệm! Dẫu rằng chúng ta đều trở thành các... cụ cả rồi.

Bà Lan ngơ ngẩn hỏi lại:

-Nghĩa là anh sẽ...

-Anh, sẽ, ở, lại, đây, sống, với, em!

-Nhưng còn...

-Anh sẽ thông báo kịp thời quyết định này của anh với tất cả những nơi, những người cần thông báo. Trước hết là với em.

(còn nữa)




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0

9

Trong đời, lần đầu tiên bà Lan được tự tay làm một bữa cơm, thết đãi hai người đàn ông mà bà yêu, quí nhất: Một người là chồng không có giá thú, một người là em không có khế ước trình tòa! Trong lúc bà Lan nấu ăn thì ông Thảo theo chân ông Hòa ra đồn công an phường làm thủ tục đăng ký tạm trú. Anh sĩ quan phụ trách hộ khẩu nghe ông Hòa nhân danh tổ trưởng dân phố giới thiệu người đến xin đăng ký và trình sổ hộ khẩu của bà Lan. Anh công an phường không quan tâm gì tới cuốn sổ hộ khẩu, cứ nhìn ông Thảo chằm chằm, rồi hỏi:

Chú có mang theo giấy tờ tùy thân đó không?

-Có đây ạ.

Ông Thảo đáp, lấytấm thẻ Cựu chiến binh ra trình. Anh công an cầm đọc, rồi hỏi:

-Chú còn thứ giấy chứng nhận nào khác không?

Ông Thảo đưa nốt tấm thẻ thương binh và thẻ Đảng. Anh công an thoắt đổi sắc mặt, tươi cười hỏi thăm:

-Vậy ra chú là... người nhà của bác sĩ Phong đó ạ?

-Vâng. Bác sĩ Phong là con rể tôi.

-Trời ơi, về cái vụ tra tìm tung tích dì Lan, bác sĩ Phong “làm rầy” con lắm đó chú. Hay quá he! Chú tính tạm trú lâu, mau để con vào sổ?

-Anh vui lòng tạm cấp cho ba tháng đã.

Nhận lại sổ hộ khẩu và ba tấm thẻ, trước khi ra về ông Thảo cất lời mời thay cho câu chào:

-Khi nào rảnh, mời anh đến chơi với vợ chồng tôi.

-Dạ. Con quên chưa giới thiệu với chú: Chú Hòa tổ trưởng đây là thầy học con đó. Con sẽ qua thăm chú với dì Lan, nhưng từ nay có công việc hoặc cần gì, chú cứ nói với thầy Hòa, khỏi phải lên đây vất vả, chú à.

Ông Thảo cảm ơn rồi cùng ông Hòa ra về. Trên đường, ông Hòa tỏ ra xúc động, nói với ông Thảo:
-Hẻm ta ở trước nay không có ai là đảng viên. Toàn dân “tứ chiếng giang hồ” đến tụ lại thành xóm ấp. Từ hôm nay đã có một đảng viên mang quân hàm đại tá tới nhập cư, tình nguyện xin làm “công dân” của hẻm. Chuyện “động trời” đấy, bác ạ. Em nghĩ rất đáng viết một bài lưu bút, để đánh dấu một sự đổi mới quan trọng, trong con hẻm “của ta”. Bác nghĩ có nên không?

Ông Thảo vui vẻ đáp:
-Thời đại chúng ta đầy những biến động “long trời lở đất”. Nhất là ở vào thời điểm đang có sự đổi mới, chuyện hay cực hay, chuyện dở cực dở chứ... như trăm thứ hoa đua nở mà. Muốn viết về họ, liệu mấy vạn trang cho xuể? Còn như chỉ viết về một cá nhân tôi, một người chiến binh xong trận mạc trở về dẫu có là đại tá thì...

Ông Hòa tiu nghỉ, gật gưỡng mãi tóc bạc một hồi rồi nói:

-Chịu bác! hơn bốn chục năm nay em được dân hẻm phong làm “thầy”. Bởi em làm nghề dạy học nên việc lớn việc nhỏ gì cũng có lòng đến “cầu kiến”. Em cứ ngỡ... chỉ cần giơ tay lên là với ngay được tới trời. Thật xấu hổ!

-Đâu phải chỉ riêng ông nghĩ thế? Cái cung cách “tự hào” một cách nực cười ấy hiện đang nhan nhản khắp nơi ý mà. Cũng may anh em ta sớm tỉnh ngộ...

Hai người về tớinhà thì cơm nước đã tinh tươm. Bà Lan bưng thau nước ra mời hai người rửa tay. Ông Thảo nói vui:

-Hôm nay có ông Hòa, tôi xin được “ăn theo”. Từ mai, những công việc “bưng bê” như thế này là phần việc của tôi đấy nhé.

Bà Lan không đáp, ngước nhìn ông bằng ánh mắt chứa rất nhiều ý nghĩa. ông Hòa dựng chiếc nạng vào tường, ngồi ngay vào ghế, nói:

-Mời bác trai rửa tay, em tiếng là thầy giáo nhưng lại mắc cái tật không biết rửa tay trước khi ăn. ấy sống một mình, không ai đe nẹt, muốn sao nên vậy, hư thân mất nết quen rồi, bác ạ.

Ông Thảo lau tay cho khô, vào ngồi đối diện với ông Hòa, nói:

-Cánh đàn ông chúng mình hễ cứ rời bàn tay các bà ấy ra là chẳng mấy anh sống ra hồn. Ông như thế là giỏi đấy!

-Giỏi gì đâu, bác? Chẳng qua chỉ là cái sự “trói vào mà đánh khen hay chịu đòn” mà thôi.

-Vậy thì vì sao không kiếm lấy một bà làm bạn?

-Thực lòng muốn muốn lắm, nhưng cứ lo kiếm bạn chẳng may lại vớ phải giặc thì... chết dở, bác ạ.

Bà Lan từ dưới bếp đi lên thấy hai người vẫn ngồi chuyện suông, bèn trách:

-Ơ hay, ông chủ nhà chưa dàn bát, so đũa, rót rượu ư? Muộn quá rồi còn gì.

Bà nói nhưng rồi lại tự tay nhanh nhẹn làm hết mọi việc. Bữa ăn sâu nặng cái ý nghĩa mà nó gói đựng: Vui vẻ, ấm cúng, thân tình...

Tàn cuộc, ông Hòa về rồi, bà Lan mới bảo ông Thảo:

-Anh giúp em mang cái bóng đèn ở ngoài này vào thay cho cái bóng ở trong phòng ngủ.

Miệng nói, tay bà mở bao nến lấy ra hai cây, đốt lên, gắn một cây tại chỗ, cây còn lại mang vào buồng. Tuy không hiểu nguyên nhân, ông Thảo vẫn cứ vui vẻ làm theo ý bà Lan. Bà lại nói:

-Anh mệt rồi, đi nằm trước cho đỡ mỏi. Em dọn dẹp một chút rồi sẽ vào sau. Được không ạ?

-Anh không mệt mỏi gì đâu, để anh làm cùng với em.

-Thôi anh... Có một tí việc, anh cứ nghỉ đi.

Nói rồi bà Lan nhanh nhẹn đi vào bếp. Ngồi lại một lát, lòng cảm thấy bâng khuâng. Ông Thảo đi vào buồng, đứng khoanh tay ở giữa phòng ngắm nhìn khắp mọi thứ. Chiếc giường cũ kỹ kê gọn trong một góc phòng. Trên giường, chăn gối, màn chiếu xếp rất ngăn nắp. Mé cuối giường, kề bên cửa sổ có chiếc bàn viết nhỏ, trên mặt bàn có hai chồng sách với hộp bút và một tấm gương soi. Góc phòng bên này đặt cái tủ đứng rất to, bên cạnh đó là một chiếc mắc áo treo cao trên tường, trên mắc có sẵn vài bộ áo quần. Tiếp đến một cái bục thấp, đặt chiếc quạt bàn kiểu mới...

Căn buồng chỉ rộng chừng mười hai mét vuông, nhưng nom rộng rãi, thoáng đãng. Đứng ngắm chắn chê, ông lững thững quay ra nhà ngoài rót nước uống, ngồi trầm tư lặng lẽ. Bà Lan từ dưới bếp đi lên. Nom bà tươi tắn khác thường trong bộ đồ ngủ mầu sữa, cùng với mái tóc còn ướt bắt gặp ánh điện, sáng lên óng ánh. ông Thảo vội đứng lên giơ hai tay ra đón:
-Em tắm đấy ư? - Ông khẽ hỏi.

-Vâng ạ.

Tiếng bà nghe thoảng như hơi thở. Bà tiến đến nép người gọn trong vòng tay ông. Ông Thảo dụi mặt lên mái tóc ướt của người yêu, hai bàn tay vuốt ve cái thân hình bé nhỏ đang run lên trong vòng tay cũng đang run rẩy của ông. Hai con người tóc bạc má gầy ấy không nói một lời, cứ ôm chặt lấy nhau, cùng chìm sâu trong những nhịp thở gấp gáp...

Một lúc lâu sau, bà khẽ nói:

-Anh ơi, ta vào trong nhà đi.

Ông Thảo không đáp nhưng lẳng lặng bế bổng bà Lan nằm ngửa trên hai cánh tay, bước từng bước rất chậm vào buồng. Bà Lan cứ nằm im trên tay ông, chờ khi vào đến trong buồng mới hổn hển nói:

-Anh ơi, em muốn... anh bế em lên giường, rồi ngồi ôm em trong tay. Được không ạ?

-Sao vậy em?
-Em không muốn ngủ. Em chỉ muốn được ngồi trong lòng anh. Được anh ôm thật lâu... em muốn lắm!
(còn nữa)




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0

10

Chuyện về em... - bà Lan kể cho ông Thảo nghe.

Sau cái đêm chúng mình cùng nhau hẹn ước. Em về nhìn đồng hồ đã một giờ khuya. Cậu em vẫn ngồi chờ, không nói một câu nào. Thế nhưng, từ hôm ấy, trừ hai lần đi chợ mua thức ăn mỗi ngày, em không được phép ra khỏi nhà. Bạn bè đến gọi đi họp, mợ em đều tìm cớ rất khéo để “xin phép” thay em. Yên tâm là anh đã tòng quân, em không cần phản ứng, cứ lặng lẽ làm việc và tự do nhớ anh...
Rồi chiến tranh bùng nổ. Gia đình em dắt díu nhau tản cư về quê mợ em ở Hưng Yên. Được hơn một năm thì kinh tế kiệt quệ. Cậu em đành cho gia đình hồi cư theo người ta trở về. May sao căn nhà thuê cũ vẫn còn...
Năm 1949 em bước sang tuổi hai mươi, cậu em có ý muốn gả em cho con trai một người bạn làm cùng Sở. Anh ta cũng đã qua lại nhà em nhiều lần. Em không dám khai với cậu mợ em về chuyện của chúng ta, chỉ dựa vào cái cớ duy nhất: “Nhà đông em, đều còn đang tuổi ăn học, cậu mợ bắt con đi lấy chồng lấy ai trông nom các em con”? Thế là thoát. Ngờ đâu, một năm sau cậu em mắc bệnh lao, gia đình tinh đàn bà, con gái... chẳng biết nhờ cậy vào đâu. Cuối cùng cậu em không qua khỏi, mất vào giữa năm năm hai.
Anh làm sao biết được tình cảnh của em khi ấy. Sau lễ ba ngày cậu em, mợ em thu vén tất cả tài sản, gọi người đến bán, rồi đưa ba đứa con của bà với bố em đi đâu không biết. Nhà ở thuê đã hết hạn. Em hóa thành bơ vơ, không nhà cửa, không cha mẹ, anh chị em, nghề nghiệp!

Thế họ hàng nhà em đâu?

- Em làm gì có họ hàng nào? Cậu em người Hà Nam lên Hà Nội làm thuê rồi lấy mẹ em người ở ấp Thái Hà. Nhưng mẹ em lại chết từ năm em mới lên ba. Anh có nhớ hàng xôi nhà chị Mão không?

- Nhớ. Nó nằm chỗ góc đường phố Huế rẽ vào ngõ nhà chúng ta. Bán xôi lạp xường. Có con bé tóc tai bờm xờm như quỉ dạ xoa...

- Năm đói, chị ấy nhặt nó ở cửa ô mang về sai vặt, gọi là con Nuôi rồi thành tên. Anh Mão đánh Tây chết trận, chị tản cư về quê một thời gian, không sống được, mẹ con lại bồng bế nhau hồi cư, tiếp tục bán xôi. Em bị đuổi khỏi nhà, đi lang thang vơ vẩn ngoài đường từ sáng cho đến sẩm tối, mỏi mệt quá đánh liều gõ cửa nhà chị Mão xin vào ngủ nhờ. Thoạt đầu chị từ chối nhưng rồi nghĩ lại, bằng lòng cho em vào bếp ngủ chung với con Nuôi. Con bé khi ấy đã mười sáu, mười bảy tuổi, cơ thể nở nang, tóc tai gọn ghẽ ra dáng lắm rồi. Khiếp... nó lắm rận quá. Nằm với nó một đêm mà người em đầy những rận. Nửa tháng sau mới trừ hết được.

-Rồi sao nữa?
- Cứ sáng ra là em đi vơ vẩn tìm việc làm, tối lại trở về đấy ngủ nhờ. Có đến gần một tháng như vậy.

- Còn chuyện ăn uống?

- Kể từ khi gia đình hồi cư, em chỉ nhận của chị Thúy về móc “găng tay” thuê cho chị ấy, mỗi đôi một hào công. Em cứ móc ba đêm là xong một đôi. Tích cóp tới hơn ba năm, em sắm được năm cái nhẫn vàng, mỗi cái một đồng cân. Em giấu rất kỹ, mợ em nghi ngờ khám xét mấy lần vẫn không tìm ra. Khi cậu em ốm, em bán dần mua thuốc cho cậu em hết bốn chiếc. Còn lại một chiếc, em bán, ăn dè mỗi ngày một bữa cháo, một bữa cơm, mỗi bữa một bát. Anh còn nhớ chị Thúy không?

-Là chị gái cậu Thành, ở nhà số bẩy. Anh lạ gì.

-Trí nhớ của anh tài thật, em chịu đấy.

Ông Thảo ghì bà Lan, khẽ rung rung, nhắc:

-Bỏ chị Thúy lại đấy. Em nói tiếp về em đi.

Lang thang mãi cũng chán. Em nghe lời khuyên của cái Nuôi, nhận làm thuê cho hai nơi: Dạy cho hai đứa con của chị Mão học chữ mỗi ngày bốn tiếng, được nuôi cơm và được ngủ một mình một giường, không có tiền công. Đến xin nhận chỉ móc thuê cho chị Thúy với giá công cao gấp rưỡi trước. Em làm quên chết suốt hai năm liền, sắm dần được chín cái nhẫn vàng mười, mỗi cái một đồng cân. Em chỉ đeo một cái vào tay, còn bao nhiêu giấu trong độn tóc. Thời kỳ này em biết vấn khăn rồi, anh ạ. Đã hăm nhăm tuổi còn gì?
-Rồi sao nữa?

Bà Lan bỗng thở dài u uất, ngập ngừng mãi mới nói được:

-Thế rồi nghe tin chiến thắng Điện Biên Phủ! Em mừng không sao ngủ được. Đêm nào cũng khóc... phấp phỏng mong chờ ngày được gặp lại anh...

-Kìa em, nói tiếp đi.

Bà Lan lại thở dài, lắc đầu:

-Em mệt rồi ạ. Chúng mình ra uống nước đi anh.

Ông Thảo nhẹ nhàng đặt bà Lan nằm xuống giường, cúi xuống thơm lên trán bà rồi nói:

-Em nằm nghỉ một lát, để anh ra lấy nước cho.

Bà Lan ngoan ngoãn như một đứa bé gái, đắm đuối nhìn ông, im lặng. ông Thảo nhanh nhẹn đi ra nhà ngoài, tráng ấm, pha một ấm trà mới, rồi bưng cả khay ấm chén lẫn phích nước trở vào, đặt lên mặt bàn viết. Đoạn bế bà Lan dậy, mang ra ngồi bên mép giường, một tay ôm bà trong lòng, một tay rót nước, cùng uống...

Bà Lan ngoan ngoãn nằm trong tay ông Thảo, hé môi hớp từng hớp nước do ông nâng lên đưa vào tận miệng. Hồi lâu bà nguẩy đầu ngỏ ý không uống nữa, ông lại bế bà lên giường ngồi như trước, bà cựa quậy và nói:

-Thôi anh ạ. Dù sao việc cũng đã qua lâu rồi, nói lại có ích lợi gì đâu? Bây giờ, cuối cùng thì em cũng đã gặp được anh, được gọi anh là anh và xưng là em với anh như ngày nào. Còn được anh ôm trong tay, đặt ngồi trong lòng như thế này nữa... em sung sướng, mãn nguyện lắm rồi. Thực tâm, em cũng biết rằng, làm như thế này là rất không phải với chị nhà, với các con của anh chị. Nhưng... em... thèm khát quá, không thể nào cưỡng lại được. Em chỉ xin được... vụng trộm... sau lưng chị và các cháu một lần này thôi. Khuya lắm rồi, đi ngủ thôi anh ạ. Anh ngủ ở đây, em sẽ ra nằm ở cái giường con ngoài nhà...

Bà Lan nói xong định nhoài ra khỏi tay ông Thảo, bị ông giữ lại, nói giọng hơi sẵng:

-Không đi đâu cả. Anh đã nói rõ ràng rằng từ nay anh sẽ sống với em. Lời nói đó của anh, em có thể coi chỉ là chuyện đùa ư?

-Không ạ, nhưng...

-Nhưng làm sao?

-!?!?...

-Ô kìa... Anh đã có vợ con rồi chứ gì? Anh thừa nhận đó là sự thật! Nhưng... đồng thời cũng còn có một sự thật khác nữa, đó là trong tâm tưởng của cả anh với em đều có một người chồng, một người vợ... đích tưực của lòng mình. Vì đủ mọi thứ lý do này nọ, mà phải cắn răng, nén lòng lại, âm thầm chịu đựng hàng hơn năm chục năm dòng, vẫn không sao nguôi nhớ thương nhau. Nay, trời cho được gặp lại thì đã sức tàn lực kiệt, nhưng tình cũ nghĩa ưa có tàn đâu, có kiệt đâu? Cớ sao ta cứ tự dối lòng mình thêm nữa?

Ông Thảo nói một hơi dài rồi ngồi thở dốc. Bà Lan thu mình nằm run như giẽ trong vòng tay ôm ấp của ông. Một lúc lâu, dường như đã tĩnh tâm lại, ông Thảo lặng lẽ bế bà lên, đặt nằm xuống giường rồi cũng nằm xuống theo, nghiêng người ôm chặt bà vào ngực, nhẹ vuốt ve tấm lưng gầy của bà, khẽ thủ thỉ:

-Trong cơn xúc động anh đã chót nói năng nóng nẩy với em. Từ nay em đừng có “nhưng” gì nữa. Giữa chúng ta chỉ còn tồn tại có một cái nhưng, đó là: nhưng... sự thật là... chúng ta yêu nhau, và chúng ta đã tự vật lộn với mình một cách rất tội nghiệp cả một đời người. Nay đã tỉnh ra. Em không cần lo nghĩ vẩn vơ gì. Nào ôm chặtlấy anh cho thỏa nỗi chờ mong. Ôm đi nào! Ôm đi... phải rồi, như thế. ôm chặt hơn nữa vào...

Bỗng bà Lan ngồi nhỏm dậy thở ra một hơi dài, rồi tự ý tụt xuống khỏi giường, đi vào bếp múc nước ra chậu, rửa mặt rất lâu. Đoạn quay vào rót nước uống, rồi trèo lên giường, nhẹ nhàng nằm xuống bên ông Thảo, tay khoanh trước ngực, ngửa mặt trông lên, bình tĩnh cất tiếng:

-Trong những ngày ấy... Anh có nghe em nói không đấy?

Ông Thảo vẫn chong chong theo dõi mọi cử chỉ, hành động của bà Lan. Đến lúc nghe bà hỏi mới lên tiếng:

-Vẫn chờ nghe em nói. Trong những ngày ấy... làm sao?

-Càng gần tới ngày bộ đội ta về tiếp quản, em càng nôn nao nhớ mong, chờ đợi anh. Và tự vẽ ra trong óc không biết cơ man nào những dấu hỏi... vui mừng lẫn lo sợ. Trong khi ấy Hà Nội loạn lên vì cướp bóc, bán chạy đồ đạc để di cư. Chị Mão không dám mở cửa hàng. Hôm nào cũng phải chờ đến tám chín giờ mới mở cửa đi ra chợ mua vội vàng mớ rau, bìa đậu rồi về đóng cửa lại. Năm mạng người cứ ru rú quanh quẩn trong nhà với nhau. Rồi... tai họa vẫn ập tới. Vào một buổi tối, thình lình có tiếng quát gọi, đòi khám nhà bắt Việt Minh. Không thể đừng, chị Mão đành sai cái Nuôi ra mở cửa. Ba thằng lính say rượu, súng ống lăm lăm trong tay, xông ngay vào. Một thằng ngoái lại cài chốt cửa. Linh tính báo cho em biết là có sự nguy hiểm. Em lập tức vùng lên chạy vào trong bếp. Chúng chẳngkhó khăn gì trong việc lùng bắt, lôi cổ từng người ra khỏi chỗ nấp, bắt ngồi để giương to mắt ra mà chứng kiến chúng “oẳn-tù-tì”: Đứa nào thắng cả hai keo sẽ chiếm được em, đứa thắng một keo được cái Nuôi, đứa còn lại sẽ phải nhận chị Mão! Cứ thế, theo thứ tự, mỗi người chúng em bị hai đứa giữ chặt chân tay, cho đứa còn lại... hành sự! Xong người này đến lượt người kia...
Sau đấy chúng đập phá hòm, tủ... lột áo, tháo khuyên tai, vòng tay, nhẫn vàng...

Chúng cuốn gói rồi mà năm người chúng em vẫn cứ còn nằm lăn lóc, co dúm người lại mà... khóc.

Sáng hôm sau, cả nhà chị Mão hấp tấp bồng bế, gánh gồng... trốn về quê. Còn lại một mình, em kinh hoảng đến mê mụ cả người. Cũng gói ghém áo quần, nhét vào tay nải, khoác lên vai, thất thểu bước ra đường. Em cứ đi mà chẳng biết là mình đi đâu nữa, chỉ thấy sợ, chỉ thấy bơ vơ... Sợ lắm. Bơ vơ lắm cơ... anh ạ. Em gặp một đoàn người tay ôm, tay xách, lũ lượt di cư. Thuận chân, em nhập luôn vào đoàn, theo luôn họ. Chẳng nghĩ gì đâu, chỉ cảm thấy hình như nhập vào với họ cho thêm đông người, sẽ đỡ sợ hơn...

Những ngày dừng chân ở Hải Phòng chờ đến lượt xuống tầu há mồm. Em bình tĩnh dần dần trở lại. Đầu óc đã tỉnh táo hơn, em nảy ý muốn quay trở về Hà Nội. song về Hà Nội ngộ nhỡ gặp anh thì làm thế nào? Chắc anh đã trở về! Giấu anh ư? Khai thật hết cả với anh ư? Xấu xa, nhục nhã quá! Nào anh có tội tình gì mà nỡ bắt buộc anh phải ôm ấp một người vợ ô uế nhơ nhuốc như thế này cho đành lòng! Em cứ như một con kiến bối rối trong cái chảo nóng, thèm khóc một tí cũng không dám khóc, thèm than thở một tí cũng chẳng dám than thở với ai. Bất ngờ em gặp một đứa bé còn chập chững, rõ ràng nó bị lạc. Em đi qua đi lại hàng chục lần vẫn thấy nó đứng khóc ở đấy. Động lòng, em sán đến hỏi han, vuốt ve nó. Và, nó lập tức bám lấy em...

Con bé có dáng một đứa trẻ con nhà giầu. Quần áo lót đều bằng vải phin nõn, quần áo ngoài với mũ đều là len đan. Dưới cổ chân có đeo một chiếc “plắc” bạc khắc dòng chữ “J.Hông Liên né le 25 Janvier 1953”- Em hiểu con bé là dân công giáo, có tên thánh là Dô-dê-phin Hồng Liên, sinh ngày hai nhăm tháng một năm một nghìn chín trăm năm ba. Thật lạ lùng, đang trong tâm trạng cô đơn đau khổ cùng cực, bế con bé lên tay em bỗng có cảm giác như lòng mình ấm lại...

Từ hôm ấy, nói cho thực lòng, giữa con bé và em chưa biết ai cần ai hơn? Tuy nhiên, em vẫn còn đủ ý thức để hiểu nó là đứa trẻ bị lạc, chứ quyết không phải là bị bố mẹ nó bỏ rơi. Vậy là ngày nào em cũng bế nó đi diễu qua các toán người di cư chưa đến lượt lên tầu, còn đứng ngồi ngong ngóng khắp nơi. Không một ai tỏ ra quan tâm đến em với cháu bé. Đến khi tới lượt em được lên tầu mà vẫn chưa có người đến tìm bé Hồng Liên, em cứ áy náy nghĩ: Có thể một tí nữa họ sẽ đến. Nấn ná mãi, cuối cùng tầu rời bến. Rồi cứ thế em lùi mãi, lùi mãi... cho tới chuyến tầu cuối cùng...

Ông Thảo thở dài buông câu hỏi:

-Thế là em lên tầu di cư?

-Vâng ạ.

-Và đã quên hẳn anh?

-Quên sao được? Em chỉ giận mình, thương anh. Cứ nghĩ: Anh đi kháng chiến, xả thân cứu nước. Em ở lại chỉ có mỗi một việc giữ cái thân mình chờ anh mà cũng không giữ được! Còn mặt mũi nào trông thấy anh nữa? Đến cáinước ấy, anh thử nghĩ hộ em xem, khi mà đã biết là không còn hi vọng được làm vợ của anh, mà lại không cửa không nhà, không cha không mẹ, không anh chị em, họ hàng... thì Hà Nội đối với em chỉ còn lại là sự lạnh lẽo và nỗi lo sợ kinh hoàng!
-trong những ngày tháng tiếp sau đó em sống ra sao?

- Quên chưa nói đến chuyện ông Hòa. Trong những ngày cuối cùng sống trên đất Hải Phòng, đếnlúc này hầu như mọi người bắt gặp mẹ con em, ai cũng gọi em với bé Hồng Liên như thế. Rồi gặp một cậu thanh niên ốm yếu, một bên chân bị tật, đi lại rất khó khăn. Cậu ta tỏ ra đặc biệt quan tâm tới mẹ con em. Cứ lân la, ngượng nghịu, nom rất buồn cười. Cậu ta cứ một điều thưa chị, hai điều xưng em. Cậu ta đinh ninh chúng em là hai mẹ con “bơ vơ” trên đường di cư. Em không bắt chuyện nên chẳng mất công cải chính làm gì. Thế rồi, chẳng hiểu vì sao cậu ấy cũng “nhỡ tầu” như mẹ con em, ngẫu nhiên cùng có mặt trong chuyến tầu cuối cùng chở người từ bến Hải Phòng di cư vào Sài Gòn. Tới Sài Gòn cậu thanh niên ấy đi đâu em không hề biết. Chừng nửa tháng sau, khi em đã thuê được một gian nhà ở ngay đầu cái hẻm này, sắm được đồ đạc để nấu xôi mang ra cửa bày bán cho khách qua đường, thì bỗng cậu ấy xuất hiện. Nom người nhem nhếch thảm hại quá. Em mời cậu ấy ăn xôi. Lúng túng mãi, cuối cùng cậu ấy nói thật rằng không có tiền. Đã từng biết thế nào là đói, nên em bảo cậu:

-Không phải họ hàng. nhưng tôi nghĩ cậu không phải là người xấu. Trong cơn hoạn nạn, giúp đỡ nhau là sự thường. Cậu cứ ăn đi, tôi cho cậu nợ, sau này kiếm ăn được cậu sẽ trả tôi. Đừng ngại.

Nghe em nói vậy, cậu ấy lấy bàn tay không quệt nước mắt. Không nói năng gì, cúi mặt bưng bát xôi ngồi ăn. Xong, đứng dậy, cậu lại quệt nước amứt nói lúng búng một câu:

-Em chào chị, em đi ạ!

Rồi tập tễnh bước đi. Em thấy lạ, rõ ràng hôm ở Hải Phòng cậu ấy có một cái nạng đuya-ra rất đẹp cơ mà...

Mãi sau này em mới biết cậu ấy là học viên trường võ bị Đà Lạt của Pháp, bị gẫy chân trong khi học, trở thành phế binh. Khi ta rục rịch về tiếp quản Thủ đô, sợ gặp mặt các bạn bè cũ đi kháng chiến trở về thì ngượng nên trốn gia đình di cư một mình. Khi đi trong người có dắt khá nhiều vàng và tiền. Đến Sài Gòn chẳng may bị bạn lừa, lấy hết. đi xin việc làm chưa được nhận. Đành chịu đói đến ăn xôi chịu ở hàng em...

ít lâu sau cậu ấy được người ta xếp cho làm giáo học. Có lương cậu ấy mang đến trả em, rồi ngỏ ý:

-Trong con hẻm này đã có vài gia đình người Bắc cư ngụ . Nếu chị đồng ý thì em sẽ làm đơn xin “nhà nước” cho phép hai chị em, mỗi người làm một cái nhà nho nhỏ ở trong đó, dựa vào nhau mà sống, chị ạ...

- Thấm thoắt thế mà đã bốn mươi sáu năm trời rồi!

Bà Lan buông một tiếng thở dài, rồi im.

Ông Thảo bất giác cũng thở dài và ngồi dậy, lẳng lặng luồn tay bế bà Lan lên, đặt vào lòng mình, nhẹ nhẹ kéo đầu bà vào ngực, rồi cúi xuống cho hai mái đầu sát vào nhau...

Ông Thảo thì thầm bên tai bà Lan:

-Cảm ơn bé Hồng Liên. Và cũng phải cảm ơn cả ông Hòa. Nhờ có con và ông ấy mà anh còn được gặp em... trọn vẹn như thế này!

Bà Lan chìm trong im lặng, lắng nghe...

Ánh điện một trăm oát về khuya tỏa khắp gian buồng một màu trắng sáng ngời, soi tỏ hai mái tóc ngắn, dài đang gục vào nhau... hai mái tóc cùng nhau phát ra những tia sáng óng ánh như giát bạc. Dường như trên cõi thế gian này chỉ còn có thế...

***

Hoài Lăng khóa xe xong, cô bước lên bậc hè e dè gõ cửa. Cánh cửa không cài chốt trong, từ từ hé ra. Hoài Lăng trông thấy bố và bà Lan đang vui vẻ, thoải mái ngồi đối diện trước bàn, thanh thản uống trà. Chị hớn hở lên tiếng:

- Bố... mẹ! Thế mà con cứ lo bố mẹ chưa dậy.

Bà Lan đứng lên, tươi cười hỏi:
-
Chị sang đón bố về bên ấy ư?

-Dạ không ạ. Con sang mời bố mẹ sáng nay sang xơi cơm với vợ chồng con và cháu “cún” của bà đấy ạ.

Ông Thảo lên tiếng:

-Việc gì thì hãy cứ ngồi xuống đã rồi hãy nói có được không? Cớ sao lúc nào cũng hối hả như vậy? Muốn mời cơm bố mẹ ư?

-Vâng ạ. Nhân ngày chủ nhật chứ ngày thường thì chúng con bận cả, không dám đón bố mẹ sang.

Bà Lan nhẹ nhàng nói:

-Thế thì phải nán lại một tí, chờ Hồng Liên nó sang, cùng bàn xem nên làm thế nào cho phải hơn.

Ông Thảo ngạc nhiên hỏi:

-Có chuyện gì vậy?

-Chuyện gì đâu. Hôm qua, sau bữa cơm ở bên ấy, trước khi về tôi có dặn con sáng nay sang tôi nhờ một việc, là ý tôi muốn tổ chức bữa ăn, họp mặt cả hai cái gia đình nho nhỏ của Hoài Lăng và Hồng Liên tại đây, cho vui ý mà.

Hoài Lăng hưởng ứng ngay:

-Ôi thích quá. Con cũng rất muốn gặp anh chị Hồng Liên và lũ trẻ của anh chị ấy. Tổ chức họp mặt ở đây thì tuyệt quá đấy ạ. Chừng mấy giờ thì chị Liên sang, hả mẹ?

Vừa hay Hồng Liên hiện ra trước khung cửa, tươi cười chào:
-Con chào bố, chào mẹ ạ.

Đang tươi cười, chị chợt sững sờ khi trông thấy Hoài Lăng. ngược lại, vì đã có sẵn ý thức chờ cuộc gặp gỡ này, Hoài Lăng mừng rỡ chạy lại nắm tay Hồng Liên, niềm nở reo:

-Ôi, chị Hồng Liên! Đố chị biết em là đứa nào đấy?

Hồng Liên ngỡ ngàng đưa mắt cầu cứu ông Thảo. Ông trông thấy cái nhìn ấy nhưng lại nói với bà Lan:

- Đấy, bà nhìn xem “một giọt máu đào hơn ao nước lã”, các con bà chúng nó thông cảm với nhau nhanh hơn chúng ta.

Nghe ông nói, bà Lan không giấu nổi xúc động, đi đến cầm tay cả hai người và ân cần giới thiệu với Hồng Liên:
- Đây là Hoài Lăng, em gái út của con đấy. Chị em nhận nhau đi.

Hồng Liên ngỡ ngàng giương to mắt nhìn Hoài Lăng, rồi đột ngột ôm lấy Hoài Lăng, nghẹn ngào rên rỉ:

-Trời ơi... em! Em gái của chị! Tôi có được cả em gái ư, hở trời?

Nhìn các con, bà Lan chợt cảm thấy chạnh lòng thầm hỏi: Vậy là thế nào? Giữa hai đứa làm gì có “máu đào”, mà sao chúng sung sướng ôm nhau, cùng rơi nước mắt vì xúc động, vui mừng? Còn ta cùng ba đứa em gái của ta thì sao? Rõ ràng trong huyết quản của cả bốn chị em đều có chung dòng máu của cha, vậy mà chưa bao giờ có sự chị em âu yếm thương yêu nhau, dù chỉ là một chút, càng lớn càng lạnh nhạt, xa cách! Anh Thảo ơi, em xin thay mặt cho con... cảm ơn anh!

Trong lòng nảy sinh một ý định, bà quay lại bàn nước khẽ hỏi:

-Đi với em một lúc, được không ạ?

Cảm thấy có chuyện, ông Thảo thì thào:

-Đi đâu?

Bà Lan khẽ ngoái đầu về phía Liên với Lăng ngụ ý ra hiệu. Ông Thảo hiểu ý bèn gật đầu.

Bà Lan ra ngồi xuống ghế, bình thản cất tiếng:

Thôi nào, hai chị em lau nước mắt đi, nghe mẹ dặn đây: Hôm nay bố mẹ mở tiệc đãi con, cháu. Không một đứa nào ở Sài Gòn này được vắng mặt. Bây giờ mẹ đi chợ. Hai chị em ở nhà mẹ giao cho một việc: Có bao nhiêu tâm sự thì nói với nhau cho hả đi. Sau đó ra ngoài phố gọi điện báo cho chồng, con bận gì thì bận, đúng mười một giờ phải có mặt tụ họp đông đủ ở đây. Nghe rõ chưa nào?

-Hoan hô mẹ. Chúng con xin y lệnh thi hành ngay. Nhưng con nghĩ mẹ cứ ở nhà với bố, để hai chị em chúng con đi chợ, bảo đảm sẽ mua sắm vừa ý mẹ một trăm phần trăm. Mẹ đừng lo.

Bà Lan không trả lời, cứ thản nhiên đi vào nhà trong thay áo quần rồi xách làn đi ra, đưa mắt cho ông Thảo và nói:

-Ông có muốn đi với tôi ra xem chợ không?

-Có có, bà chờ tôi một tí.

Ông vội vã vào lấy mũ, rồi trở ra gỡ cái làn trong tay bà, nói:

-Bà để tôi mang làn đi theo cho đúng cách một phụ bếp. Ta đi thôi, bà!

Hồng Liên nhìn theo ông Thảo và bà Lan sóng vai đi trong ngõ. Chị khẽ thốt lên:

-Bố mẹ tình cảm quá chừng! Tội nghiệp mẹ đã phải chờ đợi bố quá lâu...

Nghe Hồng Liên nói và chứng kiến mọi biểu hiện của chị từ nãy đến giờ, Hoài Lăng ngùi ngùi thương cảm. Khẽ kéo tay nhắc:

-Chị em mình vào bàn nước ngồi đi chị.

Hồng Liên như người đang mơ sực tỉnh, vội gật đầu. Nhưng khi vào tới bàn nước chị bỗng đổi ý, rủ:

-Này, ra ngồi trên giường thích hơn. Cho chị được ôm em một lúc. Giường của chị đấy em ạ. Đã hơn hai mươi năm chị “phụ bạc” nó mà mẹ vẫn cứ cố giữ nó lại đây, vẫn nằm đúng ở chỗ này...

Hồng Liên thủ thỉ nói với giọng rưng rưng đầy xúc động. Hoài Lăng rất thông cảm nhưng vốn tính nết không ưa bi lụy, chị cố ý nói lảng:

-Lúc này chắc “hai cụ” của chúng ta đang hạnh phúc lắm đấy, chị nhỉ?

-Chị thương mẹ Lan lắm, Hoài Lăng ạ. Thế mẹ... mẹ... ở ngoài Hà Nội, thế nào em?

-Mẹ tên là Linh, Nguyễn Thị Linh. Chẳng biết có phải do bố cố ý kén chọn không, mà mẹ Linh ngoài ấy với mẹ Lan trong này rất giống nhau: Cả hai đã cùng tuổi lại cùng bé như cái kẹo ấy, và cùng rất ít nói. Chỉ có một điểm khác, ấy là mẹ Linh tóc chỉ mới hơi hơi “rắc phấn” chứ mái tóc mẹ Lan đã bạc óng như cước cả, chẳng còn một sợi nào đen.

Hồng Liên ngậm ngùi đáp:

-Thì em nghĩ xem, năm mươi năm chờ đợi còn gì là đời người? Cũng còn may được gặp lại. Tóc bạc da mồi, chứ tình yêu thì có kể gì tuổi tác?

Hoài Lăng vui vẻ nói trêu:

-Giời ạ! Nghe chị nói cứ y như giọng của một cô giáo dạy văn ấy. Mà thật sự bố mẹ chúng mình cũng quả là “ghê gớm”. Cụ bà thì cả đời cắn răng bóp chặt trái tim lại, chờ cụ ông. Còn cụ ông, thì... mãi đếngần đây em mới phát hiện ra. Cả ba chị em em ngoài ấy đều bị cụ “mượn” tên để tưởng nhớ cụ bà. Chị nghĩ xem, có lãng mạn không chứ?

-Sao, em nói thế nào? Mượn tên à? Mượn như thế nào?

-Chị lớn em, bố đặt tên cho là Nguyễn Thị Lan Anh. Anh trai sinh đôi cùng với em, bố đặt tên là Nguyễn Quang Lân. Còn em “bị” bố đặt tên là Nguyễn Thị Hoài Lăng! Khi lớn lên một tí em ức đến muốn chết về cái tên của mình. Nghe nó dở hơi quá. Chẳng có ý nghĩa gì hết. mãi đến khi tốt nghiệp, nhận quyết định vào Sài Gòn côngtác, nghe bố “long trọng” ủy thác cho nhiệm vụ phải dò tìm bằng được tung tích mẹ Lan, thì em mới “ngã ngửa” người, bố “thâm nho” khiếp quá!

Hồng Liên cau mặt, lắc đầu:

-Chị vẫn chưa hiểu...

-ôi, chị ơi là chị! Nguyễn Thị Lan Anh có nghĩa là gì? Có phải là Lan (của) Anh không nào? Còn Nguyễn Quang Lân, thì rõ ràng Quang là tên bố còn chữ Lân bỏ cái mũ thì là chữ gì? Cuối cùng, cái con Hoài Lăng này tên nó mang ngụ ý gì, nếu chị bỏ bớt cái đuôi với cặp sừng? Là Hoài Lan, đúng không nào?

Nghe đến đấy, Hồng Liên run rẩy nắm chặt tay Hoài Lăng, khe khẽ thốt lên:
-Thì ra là như thế ư? Nếu vậy thì mẹ Lan đã không uổng công kiên trinh chờ đợi bố. Hoài Lăng ơi, em không thể hình dung được bốn mươi sáu năm qua, mẹ với chị đã phải sống trong đau khổ, khắc khoải như thế nào ở trong cái hẻm này đâu...

Hồng Liên ngừng nói và sụt sịt rút khăn ra lau mắt. Hoài Lăng cũng cảm thấy trong lòng tràn ngập cảm thương, chị thì thào:

-Kể cho em nghe đi chị. Trong những năm tháng ấy mẹ với chị sống ra sao?

Hồng Liên cố nén xúc động, chị cứ nuốt khan mãi, mới ngập ngừng kể:
-Dạo mới vào đây chị còn bé quá. Hàng ngày mẹ cắp chị bên nách gánh xôi đi bán. Lớn lên một tí thì lon ton chạy theo mẹ. Vô tư lắm, chẳng hiểu gì. Mãi đến tuổi đi học mới dần dần biết thương mẹ, đồng thời có nhu cầu mỗi ngày một khát khao hơn, về bố. Chị nhớ, sau rất nhiều lần khuyên giải, cuối cùng chị bị mẹ “cảnh cáo”:
-Mẹ bảo cho con biết, đây là lần cuối cùng mẹ trả lời con: Bố con đi làm ăn ở nơi xa, không hẹn ngày về. Và không biết có về với mẹ con mình nữa hay không? Nhớ chưa? Bình thường mẹ là người rất hiền hậu và dường như nhút nhát. Nhưng mỗi khi cần phải quyết định một điều gì thì mẹ lại tỏ ra vô cùng nghiêm khắc và kiên định. Vì hiểu rõ điều đó nên chị đành bấm gan chịu đựng. Nhưng... bạnbè soi mói, rồi khi đến tuổi “hoa lá” bị người yêu căn vặn. Chị mất ăn mất ngủ chỉ vì không biết tí gì về người bố đẻ của mình. Có một lần, vì khao khát có cha quá, chị đã cả gan “xui” mẹ lấy chồng! Em không biết đâu, thời bấy giờ mẹ xinh đẹp, nền nã lắm cơ. Hầu như lúc nào cũng có người đàn ông “thường trực” xin được làm cha của chị. Trong đó không thiếu những “anh trai tơ” có học thức, có nghề nghiệp đàng hoàng. Với tất cả, mẹ đều sử dụng một câu trả lời cứ như công thức toán lý: “Tôi đã có chồng, có con rồi ạ. Con tôi còn nhỏ dại, chồng tôi còn sống, đang đi làm ăn xa gia đình. Xin hãy giúp tôi tránh xa tiếng xấu, thì tôi vô cùng biết ơn”. Lắm lúc chị thắc mắc, tự hỏi mình: “Không biết ông bố mình là người “ghê gớm” đến như thế nào, mà khiến cho mẹ không sao có thể đành lòng dứt ông ra khỏi con tim của bà”?

Vốn quen vui đùa, Hoài Lăng tươi cười hỏi:

-Thế bây giờ thì sao? Chị thấy bố chúng ta có “đến nỗi” nào không?

-Em hỏi gì lạ thế? Bố của chị em mình phong độ thanh cao, nho nhã, đàng hoàng... Chị thấtự phục mẹ có con mắt tinh đời. Có được một người yêu như bố, mẹ có “bỏ dỗi” một đời cũng đáng.

-Em cũng đã giác ngộ về bố của chúng ta, và rất hãnh diện với cái tên Hoài Lăng của mình. Vì nó được là “chứng chỉ” của mối tình tuyệt vời lãng mạn giữa bố với mẹ của chị em ta. Về mẹ, còn điểm nào đặc sắc nữa không chị?

Hồng Liên vui vẻ đáp:

-Nhiều như lá rừng, chẳng kể hết được đâu em ạ.

-Thì em nói là đặc sắc cơ mà?

Hồng Liên ngẫm nghĩ một lát, rồi nói:

-Có một chuyện không lấy gì làm đặc sắc nhưng chị rất thích ở mẹ. đó là hầu như chưa lần nào chị được nghe mẹ kể chuyện về gia đình, họ hàng quê hương... của mẹ. Vậy mà thường xuyên, từ khi chị còn bé tí cho tới tận bây giờ, chị đã sắp được làm mẹ chồng rồi vẫn cứ bị mẹ “khiền” về cái tội “mất gốc”.

-Thế thì hay thật, chị kể đi nào?

-Em thấy đấy, chị vào sống ở Sài Gòn này từ khi mới hai tuổi, nghĩa là còn đang tập nói. Vậy mà em nghe xem từ ngôn ngữ đến giọng nói chị có Sài Gòn tí nào không? Công của mẹ đấy. Mẹ “canh gác” chị rất ngặt, sai một tí là ăn mắng ngay. ý của mẹ bắt chị phải “ghi lòng tạc dạ” cái nguyên tắc do mẹ đặt ra: “... để hòa hợp với mọi người xung quanh, cón có thể nói theo cách nói của Sài Gòn. Ví như gọi bát là chén, mũ là nón, ông ấy là ổng... và v.v... Nhưng vẫn phải giữ đúng y nguyên giọng Hà Nội cho mẹ. Chỉ còn một chút ấy để giúp con nhớ về nguồn gốc, vậy mà con nỡ bỏ qua lời mẹ dặn. con nghĩ xem, như Cụ Hồ đấy, xa quê xa nước bấy nhiêu năm trời khi trở về vẫn nói với đồng bào bằng đúng tiếng Việt Nam, đúng giọng xứ Nghệ. Trong khi biết bao bậc trí sĩ, biết bao nhà học giả có tuổi có tên trong sử sách hẳn hoi, đứng trước đồng bào, hễ mở miệng ra là nói “Jơ, vu... ngộ, nị...”, rõ là dơ dáng, dại hình”! Thế đấy em ạ.

Hoài Lăng đang định nói thì đã thấy ông Thảo và bà Lan vui vẻ bước vào. Chị vội chạy ra đón và reo lên âu yếm như con trẻ:

-ôi... Bố mẹ đã về! Mẹ ơi, con vừa nghĩ ra được sáng kiến này hay lắm cơ, mẹ ạ.

Bà Lan vui vẻ hỏi:

- Hay chưa kìa? Làm mẹ trẻ con rồi mà cứ tí tởn như con trẻ ấy thôi. Sáng kiến thế nào, nói mẹ nghe?
-
Hoài Lăng làm ra vẻ phụng phịu, đằng hắng mãi, rồi nói:

-Con sẽ xin nghỉ phép năm. Ra Hà Nội làm “công tác tiền trạm”. Xong đâu đấy sẽ điện vào, nhờ bố hộ tống mẹ, với vợ chồng con cái của chị Hồng Liên, cùng với chồng, con của con... ra Hà Nội thăm quê. Cho mẹ Linh với anh Quang Lân và chị Lan Anh con ở ngoài ấy lác “xệch” mắt ra một phen! Được không ạ?

Hồng Liên đứng vụt dậy ôm lấy Hoài Lăng, hổn hển thốt lên:

-Tuyệt vời! Hoài Lăng ơi, em của chị giỏi quá! Cảm ơn em!...

Bà Lan bối rối ngước nhìn ông Thảo. Ông Thảo sắc mặt bừng đỏ nhìn lại bà, chỉ mỉm cười gật đầu liên tiếp...

Hà Nội ngày 10/1/2001



=================================================
(1) Thầy dạy chữ Hán.
(2) Không phải dân làng (không được tham gia các sinh hoạt của làng)
(3) Nhân viên ngành thuế (thời Pháp thuộc).
(4) áo “tân thời” (bỏ yếm).
(5) Tương đương lớp sáu hiện nay.

(6) Thời ấy con cái các viên chức thường gọi bố mẹ là ba, me; cậu, mợ.

(7) Tên gọi dành cho các viên chức làm việc “bàn giấy”.
(8) Tốt nghiệp cấp I (chương trình sáu năm).
(9) Quần áo ngủ.





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-10 13:06:48tieuboingoan>
Một người số chẳng ra gì


Ông Bình vội vã ra Hà Nội vì có lệnh của bà vợ triệu ông phải về gấp. Vừa đặt chân tới nhà, chưa kịp đôi hồi được lời nào với nhau, bà Bình đã nhăn nhó, dỗi dằn nói với chồng:
Đấy! Mời ông về liệu mà giải quyết cách nào cho tôi được yên thân thì giải quyết đi. Tôi thật không còn hiểu ra sao nữa, hễ cứ đi là biền biệt, chẳng còn nhớ đường về. Làm ở nhà chờ đến mỏi mắt!
Đã có tới hơn bốn mươi năm “chung lưng đấu cật”, cùng nhau nếm trải đủ mọi mùi cay, đắng, ngọt, bùi ở cõi đời để gây dựng mối quan hệ vợ chồng, làm nên cái “tổ ấm thiêng liêng” này, ông Bình đã hiểu đến từng “chân tơ kẽ tóc” của vợ. Vì vậy, chẳng vội vàng gì, và cũng không tỏ ra ngạc nhiên, ông cứ ung dung cởi bỏ mọi đồ thô mang theo, rồi lấy bộ quần áo sạch, đi vào buồng tắm...
Người sạch sẽ, áo quần thơm tho rồi ông Bình ung dung bước ra phòng khách. Trông thấy vợ vẫn còn ngồi đấy nhưng trên mặt bàn đã thấy bầy các dụng cụ pha trà, cà phê cùng với hoa quả và bánh ngọt. Ông cất giọng vui vẻ hỏi:
ở nhà, chắc hẳn các con, cháu bà đã có đứa nào bố lếu bố láo nên bà gọi tôi về, phải không?
Nghe chồng hỏi, bà Bình cứ giương to mắt nhìn ông trân trân, rồi bĩu môi thưỡi hẳn ra như môi cá mè. Mãi mới đủng đỉnh đáp bằng cái giọng cố tình làm va vẻ kênh kiệu:
Ông ăn với nói hay nhỉ? Con tôi, cháu tôi mà lại có đứa nào dám “bố lếu, bố láo” ư?
Vậy thì vì cớ gì, đang bỗng dưng bà đùng đùng triệu tôi về?
Bà thở hắt ra, buông thõng một câu:
Là vì ông bạn quí hóa của ông đấy ạ.
Ông Bình trợn mắt nhìn lại vợ, nghiêm mặt hỏi:
Là ai? Chuyện gì vậy?
Xin thưa với ông... Chuyện gì thì mời ông cứ gặp bác Sĩ Minh mà hỏi, khắc biết. Tôi không hoài hơi đưa chuyện...
Ông Bình tỏ ra thật sự quan tâm. Khẽ hỏi:
- Bác ấy đến nhà ta à?
Bà kéo dài giọng, đáp:
Vâng... aaa... ạạ!
Bác ấy có dặn lại điều gì không? Có nói hiện bây giờ đang ở đâu không?
Bà nghếch mặt, hất đầu lên gác một cái, đáp:
Ông lên đấy mà hỏi.
Ông Bình sửng sốt hỏi vội:
Bà nói sao? Bác ấy đang ở ngay tại nhà ta ư?
Thưa vââ...ng ạ.
Lâu chưa? Từ bao giờ?
Chỉ mới được ngót... mười ngày thôi ạ!
Ông Bình ngồi nín lặng ngẫm nghĩ. Thì ra “bà lão” phát lệnh triệu ta về là vì việc này ư?
Ông Sĩ Minh với ông Bình là bạn của nhau từ thuở còn “để chỏm”. Nhưng, hình như chưa bao giờ họ coi nhau là bạn thân. Mặc dù giữa hai người có rất nhiều điểm “cùng”. Chả hạn như họ cùng học với nhau một lớp thời tiểu học; cùng có mặt đánh Tây trong dịp Hà Nội “sáu mươi ngày đêm chống Pháp” tại Liên khu 2; cùng học Võ bị khóa 6; cùng công tác và chiến đấu trong một đại đoàn 312; kết thúc kháng chiến chống Pháp cả hai cùng còn sống và cùng trở về phố cũ. Ông Bình nhận công tác tại Bộ Văn hóa; ông Sĩ Minh vào học cao đẳng Mỹ thuật. Một năm sau họ cùng lấy vợ (Sĩ Minh cưới một cô diễn viên chèo nổi tiếng xinh đẹp; ông Bình cưới một cô thợ dệt). Và, ngẫu nhiên hai người bất ngờ chạm trán nhau ở 62 Bà Triệu... (Thời bấy giờ có “thủ tục”: các đôi nam nữ tổ chức cưới (thường là bộ đội, công nhân, viên chức...), chỉ cần mang tờ giấy đăng ký kết hôn kèm theo bảy mươi hai đồng (tiền tài chính) đến số nhà 62 phố Bà Triệu, nộp cho chủ nhà cưới. Nhận phiếu hẹn giờ (ngày thì do mình được phép chọn), rồi về thông báo cho họ hàng, gia đình, bạn bè... biết. Đến đúng ngày giờ đã “vào sổ nhà hàng”, từng đôi cô dâu chú rể tự động đến đấy (bằng xe đạp hay đi bộ... tùy ý) nghe thủ trưởng cơ quan huấn thị; gia đình và bạn bè dặn dò, chúc tụng... tất cả mọi việc gói gọn trong bốn năm phút. Rồi giải tán)...
Ông Bình tự nguyện “nhường” ông Sĩ Minh chọn giờ vì họ cùng đến. ông Sĩ Minh “nhường” ông Bình cưới “ca” trước, còn mình nhận “ca sau...
Tình bạn giữa hai người cứ “thoang thoảng hoa nhài” như vậy cho đến năm bảy mươi thì ông Bình xin nghỉ hưu non, rồi chuyển cả gia đình về ở hẳn tại vùng Ba Huyện (Bắc Ninh)...
Ngót mười năm sau họ lại có hạnh ngộ gặp nhau trong một trường hợp rất đáng nhớ. ông Bình bị xuất huyết dạ dày. Vợ con hoảng sợ vội đưa sang “Trường bổ túc học sinh đi nước ngoài” vì ông Bình có người bạn thân đang làm hiệu trưởng tại đấy, mong được giúp đỡ, thu xếp cho đi nhờ ô tô về Hà Nội cấp cứu. Người bạn thân ấy sốt sắng báo tin:
Ông Sĩ Minh đang có mặt ở đây. Ông ấy đưa con trai đến để chuẩn bị đi Bun. Ông nhớ Sĩ Minh không? Minh “văn nghẽo” khóa sáu ý mà?
Ông Bình mừng rỡ nói cho bạn biết rằng ông với ông Sĩ Minh đã quen nhau từ khi còn “mặc quần hổng đũng”.
Vậy là mọi việc diễn ra cực “đẹp”: Ông Sĩ Minh nhanh chóng nhận ra bạn cũ, và ái ngại rên lên:
Trời ơi, ông “phong trần” đến mức này ư? Sao vậy?
Ông Bình tuy trong lòng rất tủi nhưng vẫn cảm thấy ngùi ngùi xúc động trước sự quan tâm rất chân tình của ông Sĩ Minh nên cứ nắm chặt lấy tay bạn để tỏ bầy thái độ thay cho lời nói.
Ông Sĩ Minh không những chỉ cho ông Bình đi nhờ xe về Hà Nội mà còn bỏ công giao dịch với bệnh viẹen 108 (một bệnh viện vào cỡ lớn nhất của quân đội, khi đó), xin cho ông Bình được vào điều trị tại đấy, với lý do ông Bình là thương binh hạng 5/6 vĩnh viễn. Chẳng biết ông ta loay hoay thế nào, cuối cùng ông Bình được bệnh viện 108 đồng ý tiếp nhận. Vậy là vợ chồng ông Bình thêm một lần nữa được dịp cảm ơn ông Sĩ Minh, bởi không những đã được ông cho đi nhờ xe mà còn được ông – với uy tín và tài khôn khéo của mình, đã xin cho ông được chữa bệnh “trái tuyến” (thời bấy giờ biết bao kẻ “có sừng có mỏ” còn đành chịu bó tay trước hai cái chữ “trái tuyến” tai ác này, huống chi một cán bộ èng èng, hưu non cỡ ông Bình)!
Trời trông lại, đàn con của ông Bình theo gương nhau, đứa nào cũng chăm học, chăm làm... mỗi ngày mỗi lớn, học hành mỗi thêm tấn tới, năm nào cũng được là học sinh tiên tiến và được cử đi dự học sinh giỏi cấp tỉnh. Rồi lần lượt theo nhau vào đại học đủ mặt. Và, khi tốt nghiệp đều được nhận việc tại Hà Nội...
Gia đình ông Bình rời Hà Nội đi tìm nơi “đất lành” để mưu sự học cho đàn con. Nay cả ba đứa con ông đều đã tốt nghiệp đại học và cùng nhận việc tại Hà Nội. ông bà Bình không còn lý do gì để ở lại nơi “đất khách”, nên lặng lẽ thu xếp hành trang trở về nơi “cắt rốn chôn rau”. Nhà cũ không còn nữa, hai ông bà đành phục tùng hoàn cảnh, dắt díu nhau tha thẩn lùi bước ra ngoại vi thành phố tìm chốn dung thân. Cuối cùng, mua được miếng đất hoang nơi dệ ao, cách trung tâm Hà Nội già mười cây số, với giá ba chỉ vàng (ngày hôm nay mà nghe nói với số lượng vàng như thế có thể mua được đất ở thì ai cũng cho là chuyện “tiếu lâm”, không thể là sự thật. Nhưng với thời điểm bấy giờ (khi vàng còn bị coi là đồ quốc cấm, và đất còn là tài sản của quốc gia; hai thứ đó không ai được quyền mua hoặc bán). Đôi bên phải tiến hành “hợp pháp hóa” bằng cách: người có đất dựng một cái lều vịt lên miếng đất “của mình”; người có vàng phải chấp nhận “chơi nước liều” là đưa vàng cho người có đất rồi nhận tờ giấy của chủ đất viết: “Bán “cái nhà”
trên mảnh “vườn” ba trăm mét vuông với giá tiền tám mươi ngàn đồng chẵn! Gọi là có giấy trắng mực đen để “làm tin”, thế thôi! Vàng lúc bấy giờ mua “lậu” với giá hai bảy ngàn đồng một chỉ. Có đất rồi, cả gia đình dốc sức vào vật lộn với nó ròng rã ba tháng liền. Cuối cùng cũng có được một ngôi nhà ba gian, tường cốt nứa trát bùn ngào với rơm, nền đất nện, mái lợp lá gồi. Cả nhà thở phào sung sướng bảo nhau. Tuy chỉ là nhà tranh vách đất ở ngoại thành... nhưng vẫn cứ... lại được là dân Hà Nội (mặc dù chỉ được chính quyền ghi nhận vào diện tạm trú - mang bí số KT3).
Thế rồi nước ta công khai tuyên bố đổi mới, mở cửa mời các nhà tư bản ngoại quốc vào đầu tư, được phép thuê nhân công Việt Nam làm việc...
Tiếp đến, chẳng biết do đâu, cả nước đùng đùng nổi cơn sốt đất. Đặc biệt là ở các thành phố lớn thì “cơn sốt” đã biến thành “nạn dịch” vô cùng kinh khủng. Chúng chỉ hoành hành mới được chừng vài năm mà miếng đất gia đình ông Bình mua với giá ba chỉ vangf ở nơi dệ ao, đã có người đến nài nỉ ông bán lại cho họ với giá chín mươi cây vàng (gấp ba trăm lần giá khi mua). Cả gia đình ông Bình lại được dịp mở hội nghị, cùng nhau bàn luận phân tích, quán triệt tình hình... rồi ra quyết định: Nhất trí cắt bớt một phần ba (nghĩa là đúng một trăm mét vuông) bán lấy ba mươi cây càng. Dùng số tiền đó làm hẳn một ngôi nhà hai tầng “bê tông cốt thép” cho bõ đời! Và thế là, ngôi nhà “bề thế nhất làng” đã được mọc lên, khiến cho nơi dệ ao bệu rệch ngàn năm bỗng nổi lên thành một “chấm son” rực rỡ ở cái nơi xóm quê vốn hiu quạnh của vùng ngoại thành này (ở thời điểm bấy giờ trở về trước).
Câu thành ngữ từ ngàn xưa để lại: “không ai khó ba đời” vậy là đã ứng nghiệm với gia đình ông Bình. Nó đến hơi sớm và thật bất ngờ (chưa hết một đời nghèo khó của ông, và không do cầu cúng, buôn bán, lừa lọc hoặc thăng quan tiến chức gì...).
Trải qua hơn bốn mươi năm trời chức nhỏ rồi về hưu non, lương lậu, tem phiếu giới hạn trong cái mức “vặt mũi đút miệng” còn khó khăn. Mỗi khi bạn bè khách khứa đến nhà... thật xấu hổ. Cơm canh rượu thịt đã đành... không dám hé môi mời đãi, đến như chén nước, điếu thuốc lắm lúc cũng phải muối mặt đánh bài lờ! Cực chẳng đã, đành cứ phải trốn khách như chó trốn con. Mãi rồi bạn bè cũng có sự “thông cảm”, không đến nữa...




Nay gặp vận “trời cho”, có nhà cao cửa rộng khang trang. Con cái phương trưởng (ba đứa thì hai đứa làm thuê cho công ty nước ngoài lĩnh lương đô la, chi tiêu bằng tiền Việt...), đời sống dĩ nhiên dư dật hơn người! Và thế là ông bà Bình nảy sinh tâm lý (hay gọi hồi sinh cũng được) thèm được gặp bạn cũ...
Lũ con thương bố mẹ, cố công tìm hỏi nhiều người, hi vọng móc nối lại được với những người mà bố mẹ thèm gặp! Đang trong thời gian lúng túng dò tìm, bất đồ ông hiệu trưởng trường bổ túc học sinh đi nước ngoài đột ngột tìm đến... trước hết là thăm sức khỏe của gia đình, sau nữa, “nghe nói” thằng cháu Hùng làm việc rất uy tín với “các” công ty nước ngoài, muốn gặp cháu một chút, hỏi xem có giới thiệu được cho thằng con trai lớn của ông, đi học trung cấp nước ngoài trở về đã bốn năm chưa xin được việc làm... vào một nơi nào đó “chỉ cần” vài trăm đô một tháng thôi, cũng được!
Tiến sĩ Hùng theo chủ đi Mai-lai-xi-a chưa biết khi nào mới trở về. Cái sự nhờ xin việc hãy tạm gác lại đấy. Ông bà Bình mừng rỡ chèo kéo, nài mới người bạn già ở lại vài ngày chờ con trai mình về. Khách vui vẻ nhận lời. Thế rồi trong lúc chuyện trò khách bỗng hỏi ông Bình:
Có nhớ Sĩ Minh không?
- Quên sao được? Ông Sĩ Minh với tôi là người cùng phố và là bạn học thời con nhỏ. ông có biết bây giờ ông ta ở đâu không?
Nghe ông Bình hỏi vậy, khách không đáp mà lập tức đứng dậy ra bấm số điện thoại, thoải mái mời ông Sĩ Minh đến uống rượu (thì ra ông Sĩ Minh ở cách nhà ông Bình chưa quá năm nghìn mét).
Khỏi phải kể thêm rằng bữa rượu tay ba giữa những người bạn cũ (nay đều khấm khá về kinh tế) nó thoải mái và thắm đượm tình nghĩa bằng hữu đến như thế nào? Cũng kể từ hôm ấy, ông Sĩ Minh thi thoảng lại chủ động xuống chơi thăm ông Bình cùng gia đình. Bà Bình và đám con trai, con gái, con dâu ông Bình dần dà ai nấy coi ông Sĩ Minh như một người thân. Sự thật thì ông Sĩ Minh là một con người rất lịch thiệp, thạo đời: Là một họa sĩ tốt nghiệp cao đẳng loại trung bình nhưng động vào lĩnh vực nào ông cũng tỏ ra là một người từng trải, am tường rất nhiều lĩnh vực, nhiều ngành trong xã hội. Cộng vào đấy, ông Sĩ Minh sẵn được tạo hóa ban cho một hình hài cao ráo, tráng kiện và một gương mặt có thể gọi là khôi ngô, sáng sủa. Ngoài điểm ấy ra, ông còn có một giọng nói rất ấm áp với cách nói chuyện đằm thắm và đầy hình ảnh, nó đã khiến cho con trai, con dâu (và đôi khi cả vợ chồng đứa con gái nhà ở trong nội thành, về chơi) cùng “say” như điếu đổ, đứa nào đứa nấy cứ ngồi ngây thộn ra mà nghe, mà phục “lăn long lóc”...
Ông Sĩ Minh nhanh chóng trở thành “thần tượng” của đám con ông bà Bình. Tình bác cháu giữa ông Sĩ Minh với chúng thật là thân ái và thắm thiết. Vậy mà...
Ông Bình hiểu rất rõ vợ mình. Bà thuộc loại phụ nữ “cổ” - rất mực kính trọng chồng và tận tụy với con. Đối với bà, chồng con là tất cả. Vì chồng, vì con bà sẵn sàng quên cả bản thân; cớ sao “bỗng dưng” bà có thể gọi điện yêu cầu ông phải bỏ dở chuyến đi để trở về, chỉ vì có một người bạn thân đến chơi, ở lại?

***

Ông Bình hỏi vợ:
- Thế hôm mới đến ở, bác ấy đặt vấn đề ra sao?
- Chẳng hề đặt vấn đề vấn đủng gì.
- Bà nói sao? Nghĩa là bác ấy cứ lừng lững đến “ăn vạ” gia đình chúng ta ư?
- Cũng chẳng ăn vạ ăn vủng gì.
- Chuyện bà chủng chẳng quá, tôi chịu không sao hiểu nổi. Có lí nào một người tài cao tước lớn như bác Sĩ Minh mà lại... lại... Bà hãy bình tĩnh diễn giải tỉ mỉ, tường tận mọi sự xảy ra, kể từ hôm bác ấy đến ở nhà ta tới bây giờ, cho tôi nghe xem nào?
Ngẫm nghĩ một lát, bà Bình chậm rãi trình bầy:
- Tối hôm ấy cơm nước xong, cả nhà quây quần chuyện vãn chờ xem phim thì bác ấy đến chơi. Nghe mẹ con tôi nói là ông đi Đà Lạt thăm vợ chồng đứa con gái và cháu ngoại không hẹn trước ngày quay ra, bác ấy tỏ ra rất thất vọng, cứ ngồi lặng cả đi. Thấy vậy, chẳng biết nghĩ ngợi thế nào mà thằng Hùng lại rủ bác ấy lên gác, hai bác cháu chuyện tay đôi. Xem xong phim cũng chưa thấy hai bác cháu xuống, tôi nghĩ chưảng cần phải chờ tiễn, bác Sĩ Minh chứ nào phải ai xa lạ. Mặc cho hai bác cháu tự do muốn chuyện đến bao giờ tùy ý. Thế là tôi cứ việc đi ngủ. Sáng dậy, tôi đi quét quáy nhà cửa thì thấy bác ấy đứng ở ban công tập thể dục, cứ tự nhiên như không ý. Tôi thấy lạ nhưng tự nhủ: ông vắng nhà, khách đàn ông đến con nó thay ông tiếp đãi là phải, ta chẳng nên can thiệp; lỡ ra “ý con ýmẹ có sự thế này thế nọ” thì xấu mặt! Được vài ngày, thằng Hùng được chủ sai đi In-đô-nê-xi-a. Nó vội, không kịp về nhà, chỉ gọi điện báo cho vợ nó, nhờ báo lại cho tôi biết. Con trai đi rồi, nhà vắng đàn ông, tôi khó nghĩ quá, cứ im lặng thì sợ xóm giềng dịnghị, mà hỏi thì chẳng hiểu con nó đã mời mọc hứa hẹn với bác ấy ra sao. Bây giờ mở mồm ra hỏi, biết hỏi thế nào? Chả nhẽ lại hỏi đúng như lòng mình nghĩ, rằng: tại sao bác ở lâu thế mà chưa chịu đi” ư?
Ông Bình cảm thấy bối rối, vội xua tay nói:
- Không không... ý tôi chỉ muốn hỏi bà xem đã tiếp đãi bác ấy thế nào. Có được chu đáo không, thôi mà. Như vậy là tốt rồi. Thoạt nghe tôi cứ lo bà có điều gì thất thố để bác ấy có thể hiểu nhầm thì không hay. Vậy thôi. Giờ tôi đề nghị thế này: Từ lúc này trở đi, việc tiếp đãi bác ấy bà cứ khoán trắng cho tôi. Sơ xuất đâu bà cứ tôi mà nẻ. Đồng ý chưa?
Bà Bình thở hắt ra, đáp:
- Thì tôi phải gọi ông về cũng chỉ muốn có thế. Giữa các ông với nhau, hay dở gì đừng để di lụy đến mẹ con tôi, kẻo rồi tôi mà không nín được thì rắc rối lắm đấy!
- Tôi hiểu, tôi hiểu!
ông Bình đáp lời vợ và cảm thấy trong lòng thoải mái. ông vui vẻ tráng ấm, pha một ấm trà ngon mời vợ uống, ân cần kể về tình hình sức khỏe và sự sinh sống của vợ chồng đứa con gái cùng cháu ngoại trong Đà Lạt cho bà nghe...
Làm xong cái thủ tục “quan trọng” đó, ông Bình thoải mái ung dung đi lên gác.
Ông Sĩ Minh đang nằm đọc sách, thình lình nghe có tiếng gõ cửa, nhỏm dậy thốt lên một câu (quen như khi còn công tác):
- Cứ vào...
Ông Bình đẩy cửa bước vào. Bị bất ngờ, ông Sĩ Minh bỗng nhiên bối rối, cứ cong cả mười ngón tay vuốt mãi lên mái tóc nhuộm đen nhánh của mình, và trợn mắt lên mà nhìn bạn. Ông Bình tươi cười vừa bước tới vừa nói:
- Vừa về đến nhà đã nghe bà lão nhà tôi báo tin ông đang ở đây. Dân nội thành các ông dứt được công việc về vùng quê này nằm khểnh ít lâu, sướng đời chứ hả?
Trước thái độ thân tình, cởi mở của ông Bình, ông Sĩ Minh thôi cào đầu, đứng dậy giơ tay cho bạn bắt và nói:
- Tôi đến tìm ông vì có một việc nan giải muốn “cầu hiền” để thỉnh giáo, chẳng ngờ ông đi vắng. Thế là cứ đánh bài ỳ, nằm ăn vạ bà ấy và các cháu ở đây, chờ ông về. Sốt ruột chế đi được!
Ông Bình vẫn tươi cười, cất giọng bông đùa đáp lại:
- Này, ông có lòng hạ cố coi tôi là bạn cũ mà đến chơi, thì khả dĩ tôi còn đủ thoải mái ngồi với ông, chứ nếu lại muốn giở cái trò ma mãnh gì ra để bêu xấu tôi là không được đâu nhé
- ờ cái ông này, ngườita nói thực lòng mà lại chẳng chịu tin: Tôi đang cần ông thật đấy mà...
Ông Bình cảm thấy “có vấn đề” nhưng vẫn giữ vẻ mặt hoài nghi cười cợt nói:
- Vâng, thôi thì muốn thế nào thì thế, ông cứ ra bàn ngồi chờ mộttí, để tôi xuống nàh kiếm be cuốc lủi với vài món nhắm lên, rồi ai thật ai giả ta sẽ làm cho ra nhẽ. Đồng ý không nào?
Ông Sĩ Minh phẩy tay gạt đi, và nói:
- Không cần phải đi kiếm ở đâu sất, trong tủ lạnh kia đã cóđủ cả rồi. Ngôi vào bàn đi...
Ông Bình ngoái nhìn và không khỏi ngạc nhiên. Khi bước vào, do chỉ nhăm nhăm quan sát ông Sĩ Minh, nên ông không hề bận tâm đến điều gì khác. Lúc này, nghe ông Sĩ Minh nói đến tủ lạnh, ông mới nhận ra căn phòng của ông đã có sự thay đổi “đáng nể”: chỗ đặt cái “chạn” nhựa đựng các hộp chè, thuốc, bánh, kẹo... do ông “thiết kế và trang bị” nay không còn nữa, nó đã được thay vào bằng một chiếc tủ lạnh hai ngăn màu sữa rất xinh xắn, mang nhãn của hãng National. Và, bộ bàn ghế ngồi uống nước bằng gỗ hồng sắc “gia bảo” của ông cũng đã được thay bằng chiếc bàn gỗ gụ hai tầng mặt kính dày tám ly, với sáu chiếc ghế đệm “mút” bọc vải giả da màu cánh gián, rất ư là hiện đại...
Không dám vội tỏ thái độ gì, ông Bình đành lẳng lặng vâng theo sự điều kiển của ông Sĩ Minh, tiến lại ngồi trên một chiếc ghế êm ái, đợi. Ông Sĩ Minh ung dung bước tới mở tủ lạnh, lấy ra ba bốn lon bia Ha-li-đa với một chai Lúa Mới cùng mấy món xúc xích, giò lụa, ta-tê, lạp xường... mang bầy cả lên bàn. Rồi nói:
- Tính tôi thế: Đã từng có hân hạnh chạm cốc, tôi biết ông chỉ ưa “cuốc lủi”, còn tôi thì gan và huyết áp có vấn đề nênchỉ dám chơi cái món bia. Vì vậy, cái sự ăn uống, nói năng... đã là bạn bè, cứ phải tự do, tùy thích. Ông đồng ý chứ?
- Tất nhiên, tất nhiên... Các cụ tãưa đã chẳng dạy: “Ăn uống chọn người quen; đánh bạc tìm kẻ lạ” đó sao? Ngồi cùng mâm mà lạ nhau, chuyện trò đưa đẩy, ăn uống cầm chừng... chán chết. Ngược lại chạm trán nhau trên chiếu bạc; nếu là tôi với ông, “bóc áo tháo cầy” nhau được ư?
Ông Bình nồng nhiệt đáp lại và với tay nhấc chai Lúa mới, mở nắp rót ra chén...
Ông Sĩ Minh cũng bật nắp hộp bia. Hai người chạm “cốc”, bắt đầu cuộc rượu. Uống xong ngụm rượu đầu tiên, ông Sĩ Minh cất giọng tâm tình, thủ thỉ:
- Số ông ai ngờ lại may mắn thế này! Gia đình, nhà cửa, sức khỏe... nó hoàn thiện đến mức khiến cho người đời nhìn vào phải phát ghen lên. Đặc biệt là bà vợ và các con ông. Tất cả đều đàng hoàng, chững chạc. Mẹ con tuy mỗi người mỗi tính nhưng ai nấy cư xử, nói năng đều lịch sự, êm tai... rất có phong độ. Cổ nhân nói rằng “lửa thử vàng, gian nan thử sức”, quả có thế thật. Tôi qua lại nhà ông trước sau kể đã có đến hàng chục lần, nhưng chỉ là cái trò giao tế bình thường, cầu vui, hay ở dở bước. Chả bận tâm xem xét, nghĩ ngợi gì. Chỉ mãi tới lần này, bất ngờ gặp phải nạn lớn. Bị số phận đánh bật ra hè phố. Cùng đường, đành muối mặt tìm đến đây, với ý định hỏi ông xem có cao kiến gì gỡ cho tôi thoát khỏi được thế cờ hiểm ác mà tôi đang gặp phải này không? Tôi thực sự choáng váng khi nghe bà ấy báo tin là ông đi vắng còn lâu mới về! Đang chưa biết sẽ phải mở mồm thưa thốt với bà ấy ra sao, thì hình như nhìn vẻ mặt của tôi, thằng con trai ông nó có sự cảm thông, thế là nó và vợ nó thi nhau gợi ra hết chuyện nọ đến chuyện kia, bác bác cháu cháu cứ tíu ta tíu tít nói nói cười cười râm ran cho đến tận khuya. Rồi thì, nó bảo tôi: “Bác ở béng lại đây chờ bố cháu về. Phòng làm việc của bố cháu cũng có sẵn giường đấy bác ạ...”. Được lời như cởi tấm lòng, thế là tôi ngủ lại. Hôm sau, nó lẳng lặng sai vợ nó đi mua bàn ghế và tủ lạnh thay vào đây và giải thích: “Gia đình cháu đã định thay từ lâu rồi nhưng vợ cháu ngại việc, cứ nấn ná khất lần. May có bác đến chơi, thế là nhân tiện... làm luôn, xong được một việc. à, bác ơi, “tục lệ” ở nhà cháu (do bố mẹ cháu qui định) mỗi ngày cả nhà chỉ tập trung ăn với nhau một bữa cơm, vào buổi tối, do vợ cháu nấu. Ngoài ra, từng người tùy ý, đến bữa ai thích ăn gì cứ việc tự động chiến đấu, bác ạ”! Vậy là tôi “đành” tặc lưỡi lặng im chấp nhận. Thấm thoắt thế mà đã chín ngày rồi đấy. Có điều rất lạ: Tôi thì ngượng mồm không có ời lẽ gì với bà vợ ông được, vậy mà bà ấy vẫn cứ bình thản thoải mái chẳng hề tỏ ý thắc mắc gì về sự có mặt của tôi ở trong nhà này. Phong thái y hệt như một sư bà đắc đạo, cứ việc mình mình làm, ai hỏi thì trả lời, không chủ động gợi chuyện của khách. Có được thực sự đến sống trong nhà ông từng ấy ngày, tôi mới phát hiện ra cái nét tuyệt vời trong chiều sâu tâm hồn, của từng người trong gia đình ông. ông quả là người may mắn nhất đời này!
Nghe ông Sĩ Minh nói với ngụ ý tâm sự và không tiếc lời khen mình là người may mắn, ông Bình bỗng chạnh nhớ chuyện xảy ra trước đây ngót mười năm. Khi ấy gia đình ông vẫn còn đang sống ở khu Ba Huyện (Bắc Ninh), các con ông đều đang còn học phổ thông, và ông còn phải hàng ngày, nắng đi bẫy chim, mưa đi kiếm cá... tần tảo nuôi con ăn học. Sống trong cảnh nghèo, các con ông nhận thức được rất sớm cái ý nghĩa “sinh tử” chứa đựng trong từng trang sách và bài giảng. Chúng đua nhau học không cần đến sự giục giã của bố, mẹ hoặc lời đe nẹt của thầy, cô giáo. Bởi vậy mà cả ba đứa con ông cứ nhẹ nhàng nối đuôi nhau qua cấp một, cấp hai, rồi cấp ba để trước sau cùng học một thầy, và cùng thay nhau nhận danh hiệu học sinh tiên tiến qua từng năm học. điều đó có nghĩa: Suốt thời gian nuôi các con ăn học, ông chưa hề một lần được “nếm mùi” đi cầu cạnh các thầy cô giáo để xin điểm cho con. Vậy mà, cái việc đáng lẽ là rất bình thường ấy, chẳng ngờ đã trở thành một taihọa đối với gia đình ông. Chỉ vì, xóm ông ở có một ông cán bộ cấp huyện cũng có con học cùng trường với các con ông, chẳng hiểu vì sao chúng học rất kém, khiến cho ông cán bộ cấp huyện ấy năm nào cũng phải “có lời” với chị trưởng phòng giáo dục huyện, để chị “can thiệp” với “cơ sở” tăng điểm cho lũ con ông để chúng khỏi bị lưu ban. Dù là trường cấp một, hai hay ba thì cũng “của huyện”; ở vào thời bấy giờ, công việc này đối với một chị trưởng phòng giáo dục được coi như không có vấn đề gì!
Ông bà Bình tuy là dân “ngụ cư” và chỉ là những viên chức nhỏ đã nghỉ hưu, song cả hai đều “được tiếng” là “dân có học”, đặc biệt hơn nữa: Có ba đứa con thì cả ba năm nào cũng có tên trong danh sách đi thi học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh, và hầu như năm nào cũng có đứa đoạt giải! Có lẽ từ chính những lý do đó mà ông cán bộ cao cấp huyện đã có lòng ưu ái, dành cho gia đình ông bà Bình một vinh dự khác thường: đó là, thi thoảng ông đã tự ýthu xếp, bớt ra một vài giờ vàng ngọc, chủ động sang chơi chuyện trò với ông bà Bình, có tính chất trao đổi kinh nghiệm về việc dạy dỗ con cái. Để rồi, trăm lần như một, trước khi ra về, ông cán bộ cấp huyện bao giờ cũng tỏ ra chân thật và thân tình, ban cho vợ chồng ông Bình một lời khen: “Ông bà thật may mắn. Có ba đứa con, đứa nào cũng ngoan ngoãn và học giỏi. May thật đấy!”
Cuối cùng, khi hai đứa con nhỏ của ông Bình đi thi đại học và cùng đỗ, thế là sinh chuyện! Sở dĩ có sự hai đứa cùng đi thi, là vì năm ngoái thằng anh mắc tai nạn không có mặt dự thi. Con em lại học sớm một năm, nên cả hai anh emcùng thi đại học một năm - trước đó, đứa con lớn của ông bà Bình đã thi và đã đỗ... Hai anh em được trường đại học Y khoa Hà Nội gửi giấy báo đỗ nhưng chờ mãi mà vẫn không nhận được giấy triệu tập đến trường. Lên Ban tuyển sinh huyện hỏi, được biết: “Nhà đã có chị “được” vào đại học, huyện bảo rằng như thế là đủ rồi. Về đi!”...
Nghe con vừa khóc vừa thuật lại như vậy, ông Bình không tin, vội đi bộ mười cây số lên huyện xin gặp Ban tuyển sinh. Và đã được nghe trưởng ban tuyển sinh thông báo lại đúng y như vậy. Còn nói thêm: Đó là chủ trương của lãnh đạo huyện. Gia đình có thắc mắc gì xin mời sang trình bầy với ông Chánh văn phòng kiêm ủy viên thường trực của ủy ban huyện”.
Ông Bình chờ hai ngày thì được ông chánh văn phòng ủy ban huyện tiếp, được nghe giải thích rất rõ ràng chững chạc:
- Tình hình biên giới đang căng thẳng, ông biết chứ. Gia đình ông chưa có cống hiến, hai đứa con ông phải ở lại chờ đấy đã. Không nhập trường được đâu.
Ông Bình thận trọng, lễ phép trình bầy:
- Nhưng, thưa ông, hai cháu thì, thằng anh đã đi dựkhám tuyển nghĩa vụ quân sự hai năm liền, năm nào cũng bị loại và đã được cấp thẻ dự bị loại hai. Còn con em mới có mười sáu tuổi, lại là gái - cháu nó đi học sớm một năm ạ.
- Không cầm súng đánh giặc được thì đi dân công phục vụ tiền tuyến. Còn thiếu tuổi cứ chờ cho đủ. Chiến tranh có phải là công việc của một năm đâu?
- Nhưng, thưa ông, cáccháu đều thi và đã đỗ. Mà luật pháp của nước ta có điều khoản nào quy định cho mỗi gia đình chỉ được một suất thi vào đại học đâu ạ?
- Ông vặn lý với tôi đấỳa? Đúng, Nhà nước không hạn chế thi vào đại học. Song, ai được vào, ai không được vào lại thuộc quyền hạn của nơi xét duyệt có cho chuyển hộ khẩu hay không? Nghe nói ông là người có học, vậy thì tôi hỏi ông: Có lí nào một gia đình dân thường có ba đứa con, lại cả ba nhồng nhồng kéo nhau vào đại học. Trong khi đó, một gia đình như gia đình ông chủ tịch huyện sở tại có tới bẩy người con, chỉ cầu lấymột người vào đại học mà không sao được. Như vậy là thế nào? Có công bằng không, hả? Thế ra những nông dân như chúng tôi cứ nai lưng ra “chân lấm tay bùn” sản xuất và sinh đẻ. Lấy thóc gạo nuôi xã hội, lấy người ra trận. để cho cái dân thành phố quen thói “ăn trắng mặc trơn” các người ùn ùn đua nhau vào đại học cả ư? Như thế hỏi còn có dân chủ hay không, hả? Ông hãy thử trả lời tôi xem nào?
Nghe những lời nửa như giải thích, nửa như mắng mỏ ấy của ông chánh văn phòng kiêm ủy viên thường trực huyện nhà dành cho mình, ông Bình cứng họng, đành sượng sùng cáo lui. Về nằm nghĩ nửa tháng ròng, ông Bình vẫn cứ cảm thấygia đình mình bị hàm oan. Ông bèn chong đèn liều mạng ngồi viết đơn liền bốn đem, xé bỏ gạch xóa mãi cuối cùng tạm vừa lòng với lá đơn của mình. Ông ra thị xã, nhờ một người bạn làm thư ký đánh máy trên ủy ban tỉnh, tìm cách đánh máy giúp cho thành bẩy bản. Ông gửi đi bẩy nơi: Ban tuyển sinh tỉnh; ông Bộ trưởng Bộ đại học và trung học chuyên nghiệp; ông hiệu trưởng trường đại học Y khoa Hà Nội; ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ; ông Chủ tịch Quốc hội; và cụ Chủ tịch nước...
Kết quả, một tháng sau, ông chủ tịch xã sở tại cho giao thông cầm giấy triệu tập đến tận nhà ông Bình, triệu ông lên, nghiêm trang thông báo: “Tất cả những lá đơn ông gửi lên “khiếu kiện”, trên đã chuyển cả về cho cơ sở xem xét. Tôi có trách nhiệm mời ông lên báo cho ông biết là như vậy. Ông có ý kiến gì không?”
Ông Bình rất đỗi hoang mang, chỉ còn biết ngồi cúi đầu im lặng. Thấy vậy, ông chủ tịch xã tỏ lòng thương hại, nói thêm:
- Các cụ ta dạy rằng: “Đất lành cò đậu”, gia đình ông đếncư trú ở đây ủy ban chúng tôi không hề có ý phân biệt đối xử đối với gia đình ông. ông có đồng ý như vậy không nào? ấy vậy mà ông lại... lại... lại... ông định khiếu ai chứ, hả? Nghe nói ông là người có học mà sao lại hành động ngu như thế? Dám “khiếu” vượt cấp, ý thức tổ chức của ông để đâu? Định bỉ mặt chúng tôi ư? Thôi, cho ông về mà suy nghĩ... liệu đấy kẻo rồi hối cũng không kịp đâu!
Trước những lời răn đe nghiêm khắc ấy, không còn đường nào khác, ông Bình đành lủi thủi quay về, ra sức động viên, an ủi vợ con phải hết sức cố gắng tự đấu tranh với bản thân, chống không để cho những ý nghĩ tiêu cực nó len lỏi được vào tư tưởng. Phải một lòng một dạ tin tưởng vào tương lai tốt đẹp...
Thật may, cuộc chiến tranh biên giới chưa đầy một năm đã kết thúc. Hai đứa con ông được họ trả về nhà. Phúc đức làm sao, huyện đồng ý cho phépcác con ông được đi thi lại...
Vốn sinh trưởng trong một gia đình nho học, từ nhỏ ông Bình đã tập nhiễm quen với “cái đức” của đạo Khổng: “Nhân bất tri, nhi bất uẩn, bất diệc lạc hồ”. (đại ý: người (vì) kém hiểu biết (mà làm); ta không (lấy thế làm) giận; há chẳng vui sao)? Do vậy, trước cái thói ngang ngược của một vài kẻ vô học mà lại có chức có quyền, họ cứ ngỡ rằng một khi “quyền cao chức trọng” là phải dương dương tự đắc, phải tự tôn tự tác... mới ra vẻ một con người có oai. Họ hiểu sao được cái sự họ gieo tai họa cho gia đình ông, khiến đàn con ông đang còn ở tuổi thiếuniên đã bị họ tạc vào trí não nỗi oán hận đối với người làm công việc cai quản vùng sở tại. Đó thật là một vết hoen ố không dễ gì xóa bỏ trong tâm tưởng lớp người rồi đây sẽ kế thừa trách nhiệm “làm chủ” đất nước này...
Ông Bình không oán giận những kẻ “nhân bất tri” đó. Song từ đấy ông sinh ra “dị ứng” đối với những lời khen, rằng các con ông học giỏi, rằng ông là người may mắn - nếu lời khen lại do một người có chức quyền nỏia, thì ông lại càng sợ lắm. Vậy mà hôm nay, lại do từ miệng ông Sĩ Minh nhắc đi nhắc lại cái lời khen vốn đã trở thành nỗi kinh hoàng của đơì ông ấy, khiến ông cảm thấy choáng váng, ngồi ngây đờ tại chỗ... mặc cho đầu óc hồi nhớ về “kỷ niệm” xưa...

***

Đang hào hứng cởi mở lòng mình với bạn, chợt thấy ông Bình mặt mũi thất sắc, ngồi ngây như phỗng. Ông Sĩ Minh e ngại nghĩ thầm: Ta nói năng có điều gì “chạm nọc” ông ấy chăng? Ngẫm nghĩ một hồi, ông ngập ngừng lên tiếng:
Tất cả những điều tôi nói với ông là tình thực. Tôi biết: hai chúng ta tiếng rằng quen nhau đã năm sáu mươi năm, nhưng thực chất thì đã khi nào có điều kiện được ngồi hàn huyên cùng nhau như một đôi tri kỷ? Năm thì mười họa gặp nhau chốc lát cũng chỉ hề hà quấy quá vài câu cửa miệng cho ra vẻ là người lịch thiệp; là cũng có nghĩa có tình với bạn bè như ai. Thế rồi đường ai nấy đi. Trong lòng chỉ lưu lại được một gương mặt vô hồn với lời ghi nhận: Ông ấy tôi có quen(!). Vậy thôi! ấy thế mà vừa rồi tôi lại nói năng với ông những lời như của một bậc hiền nhân nói với bạn tâm giao. ông nghe và cảm thấy nó lạ tại quá, phải không?
Ông Bình sửng sốt giương mắt nhìn ông Sĩ Minh giây lâu, rồi cấtgiọng xúc động nói:
- Quả có thế thật. Song, ở vào cái tuổi như tôi với ông bây giờ cặp mắt không còn sáng nữa, nhưng đôi tai thì lạ lắm, nó hơi nghễnh ngãng một tí nhưng lời nào đã lọt vào tai thì... đừng lo nó không hiểu. Vả lại, từ cổ chí kim, các bậc danh nhân đã có ai lấy số lượng thời gian làm thước đo cho tình bầu bạn đâu? Đã gọi là tri kỷ thì chỉ cần nghe nhau nói vài lời gan ruột chứ đâu cần những lơì khéo ngoài đầu lưỡi? Lần này gặp nhau, nghe ông nói ra những lời như thế, tôi hiểu ông đã dành cho tôi một tấm lòng như thế nào? Tôi hiểu mà...
Ông Sĩ Minh cũng tỏ ra xúc động. Ông vụng về quờ tay cầm lấy lon bia lẩy bẩy giơ lên,nói:
- Vậy thì uống nào. Uống cho đáo để vào rồi tôi sẽ nói cho mà nghe tất cả những gì ông gọi là gan ruột. Sẽ nói bằng hết. Nào, cạn nhé!
Ông Bình cũng thận trọng nâng chén rượu lên khẽ đụng vào lon bia trong tay ông Sĩ Minh, rồi đưa lên môi nhấp một ngụm - ông vốn không có thói quen uống một lần cạnchén...
Hai người bạn già giao du với nhau đã trọn đời, vậy mà chỉ đến hôm nay họ mới thực lòng coi nhau là bạn. Thực lòng ăn, uống nói năng cùng nhau như đối với chính mình. Kẻ nói, nói thực lòng; người nghe, nghe thấm dạ. Một điều tưởng chừng quá ư đơn giản nhưng không dễ gì được thấy trong mỗi đời người...
Ông Sĩ Minh đột nhiên hỏi:
- Việc tôi và mẹ lũ trẻ ly hôn ông biết chứ?
- Vâng, tôi có nghe nói.
- Ông nghĩ gì về việc đó?
- Tôi chỉ cảm thấy lạ lùng. Không dám nghĩ gì hơn, vì nhận thức rằng đó là việc của riêng gia đình bác, tôi không nên tọc mạch.
- Nhưng, nếu hôm nay tôi muốn... tâm sự thì bác có vui lòng nghe không?
Ông Bình ngồi lặng thinh một lát, rồi đáp:
- Quỹ thời gian của tôi lâu nay có phần dư dật. Nếu được bác có lòng tin mà cởi mở với tôi, thì tôi xin thành tâm nghe...

***

Tôi đựoc ba me tôi sinh ra nhưng lại được trời ban cho cái tính... nói thẳng ra là có phần hơi “hoa lá” một tí. Cụ thể là tôi rất có cảm tình với các cô gái đẹp. Có lẽ vì thế mà tôi trở thành họa sĩ chứ không phải một nghề nào khác, mặc dù tôi là con người được tiếng là đa tài!
Tôi yêu Minh Nhật ngay từ cái nhìn đầu tiên, quyết định sẽ cưới cô ấy bằng được. Thật may, hai chúng tôi đã cùng “bị nhau chinh phục”. Việc chúng tôi yêu nhau và lấy nhau diễn ra mười phần thuận lợi, cứ như trời sinh ra chúng tôi để cho nhau vậy. Cưới được một năm, cô ấy sinh cho tôi một cháu trai. Tôi vốn không thích cho cô ấy làm nghề diễn viên, nhân cô hội này tôi thuyết phục cô ấy từ giã sân khấu, cô ấy nhất định không nghe. Hai năm sau cô ấy sinh tiếp một cháu gái nữa. Tôi lại khuyên cô ấy từ bỏ sân khấu, và cô ấy một lần nữa lại từ chối. Lần này tỏ ra rất gay gắt khiến tôi ngờ rằng, hình như đối với tôi, cô ấy không còn cảm thấy là “tất cả của đời em” như khi chúng tôi mới kết hôn nữa ! Sẵn được tạo hóa ban cho cái số đào hoa, nay lại được cộng thêm cái mối ngờ này nữa, tôi ngày càng phóng túng hơn trong sinh hoạt cá nhân. Tôi “đi thực tế” liên tục, có khi hàng tháng mới về qua nhà một lần. Có lần cô ấy bóng gió nhận xét: “Anh đi vẽ về không thấy tranh, chỉ thấy mang về cái thứ mùi... rất khó chịu”! Tôi thoải mái giải thích: “Em yên tâm. Chồng em là một người hiểu biết. Đời anh rất nhiều bạn, song vợ thì chỉ có một. Người đó là em”...
Về phía vợ tôi, tôi cảm thấy hình như “các cuộc tình” trên sân khấu đã đáp ứng thỏa mãn nhu cầu của cô ấy, nên đối với tôi cô ấy chỉ coi là một người chồng thuần túy: cùng ăn, cùng ở, cùng ngủ, cùng nuôi dạy hai đứa con... thế thôi. Ngoài ra, cô ấy không hề tỏ ra có sự quan tâm gì khác đối với tôi. Và, tôi đã chấp nhận cái mối quan hệ vợ chồng kiểu đó. Cả hai chúng tôi cùng thực sự cảm thấy thoải mái, tự do...
Cái mối duyên “trời định” ấy giữa hai chúng tôi đã “đứng vững” vừa chẵn băm nhăm năm (từ 1955-1990.
Trước khi bàn tới cái nguyên sụp đổ, tôi muốn nói với bác về cái nguyên nhân giúp cho sự “đứng vững “băm nhăm năm liên tục (không một lần xô xát) của cuộc hôn nhân giữa hai chúng tôi! Bác còn nhớ khi chúng ta cùng học lớp ba Trần Văn Khánh chứ?
Thấy ông Sĩ Minh đang chuyện tâm sự bỗng chuyển sang hỏi một câu như thế, ông Bình vội đáp:
- Nhớ chứ ạ!
- ấn tượng của bác về tôi khi ấy thế nào?
Ông Bình lúng túng, miễn cưỡng trả lời:
- Cũng... cũng - bác tha lỗi, khi ấy tiếng rằng học cùng lớp nhưng, tôi nhớ hình như hai chúng ta không chơi với nhau. Tôi chỉ biết bác qua lời người khác, rằng nhà bác giầu lắm, bố bác là một ông quan. Và tôi thấy hàng ngày bác có xe nhà gọng đồng đưa đi, đón về. Thế thôi...
Ông Sĩ Minh thốt nhiên khẽ thở dài, dái:
- Đúng vậy! Những gì bác thấy khi đó đều là thật cả. Và chính những cái đó đã làm ra “số phận” của tôi. Tôi là con trai của một quan “đốc” (thời bấy giờ ở Hà Nội này, đốc tờ còn đếm được trên đầu ngón tay ý mà). Ba me tôi chỉ sinh được hai người con, đều là trai. Em tôi kém tôi sáu tuổi. Cách mạng thành công rồi kháng chiến, ba me tôi đưa cả gia đình ra vùng tự do theo kháng chiến, trở thành nhân sĩ yêu nước. Hòa bình về, tôi giải ngũ vào học cao đẳng Mỹ thuật, em trai tôi cũng đã học xong chương trình phổ thong, vào đại học Y khoa. Đến khi chống Mỹ, nó tình nguyện tòng quân và đã hi sinh! Bác nghĩ xem: Với một kẻ như tôi, bản thân đã là một sĩ quan quân đội “có mác đỏ”, lại được xuất thân trong một gia đình “trí thức kháng chiến”, thêm nữa lại có em trai là liệt sĩ (có nghĩa tôi là người độc quyền thừa hưởng mọi thứ quyền lợi của cả gia đình và bản thân mình có được). Trên “cái nền” như thế, tôi sống khá thoải mái. Và tất nhiên cả vợ tôi, các con tôi cũng vậy (dù khi ấy hoàn cảnh bao cấp rất ngặt nghèo về cái miếng ăn và chỗ ở). Nhưng, gia đình tôi có cái may là khi đi kháng chiến, ngôi nhà cũ cô tôi vẫn giữ được. Khi gia đình tôi trở về, lập tức có chỗ ở ngay. Và với “tư thế” của ba tôi (khi ấy ông còn sống), dù nhà ở có rộng rãi hơn mọi người, thì phòng nhà cửa cũng không gây khó dễ gì. Băm nhăm năm vợ chồng tôi sống với nhau tại cái nhà ấy, tạm gọi là yên ổn. Đồng thời cũng trong băm nhăm năm ấy, “con đường công danh” của tôi cũng cứ “tuần tự nhi tiến”... từ một nhân viên lên tổ trưởng, phó phòng, trưởng phòng, giám đốc, cục phó rồi cục trưởng... cứ vài ba năm lại leo lên một bậc (mặc dù tài - đức của tôi, tôi biết, cũng có hạn thôi...)
Thế rồi năm tám nhăm cô tôi mất, năm tám bẩy đến me tôi và sang năm chín mươi là tiếp đến ba tôi. Cả ba cái cột cái trong gia đình tôi lần lượt ra đi, bỏ lại cho vợ chồng tôi tất cả! Vợ chồng tôi trở thành “chủ nhà” từ đấy. Vậy là cái hạt ươm băm nhăm năm đã đến lúc nảy mầm, đòi được phơi mình ra ánh sáng mặt trời: Vợ tôi viết đơn xin ly hôn! Lý do cô ấy đưa ra: Chồng tôi đã phản bội tôi, đi theo người đàn bà khác”! (Bác biết đấy, thì như tôi đã nói: Ba me tôi sinh ra tôi nhưng trời lại phú cho tôi cái “số đào hoa”. Không phải đến khi cô ấy viết đơn tôi mới đi “hoa lá” với người đàn bà khác, mà, có thể nói thẳng ra rằng: kể từ khi chưa biết cô ấy là ai, cho đến suốt băm nhăm làm chồng của cô ấy, có khi nào tôi thiếu “đàn bà khác”. Mà điều đó thì cô ấy rất biết, vì chính tôi cũng đã từng công khai nói với cô ấy, rằng tôi rất nhiều bạn nhưng vợ thì chỉ có một. Cô ấy nghe rất rõ và không hề phản đối. Vậy thì tôi đâu phải là kẻ có lỗi. Phải không ạ?
Ông Bình không đáp lại câu hỏi của ông Sĩ Minh, mà lại hỏi:
- Thế tòa xử không cần đến sự đồng ý của bác à?
- Đâu có chuyện như thế? Ba mặt một lời đàng hoàng chứ.
- Nghĩa là bác đã ký? Công nhận nguyên đơn là có thật?
Ông Sĩ Minh cười nụ cười rất chán chường, đáp:
- Không phải. Tôi ký vì một lẽ khác! Bác biết không? Khi nghe tôi hỏi: Cả đời tôi “hoa lá”, tại sao đến tận bây giờ “bà” mới đòi ly hôn? Cô ấy thẳng thắn đáp: “Vì phải chờ đến bây giờ em mới được coi là chủ nhà”! Vậy là tôi ký, bác ạ.
Ông Bình ngậm ngùi gật đầu:
- Vâng, thế thì tôi hiểu...

***

... Được tòa chia cho một nửa ngôi nhà, cô ấy lập tức rao bán. Người ta bâu tới “xem”, bàn luận. Ai cũng “tiếc” nếu phải chia nó ra làm hai nửa! Rằng như thế nó “mất đẹp”, và rằng nếu thế thì phải phá bỏ hoàn toàn rồi cùng xây dựng lại, thì mới thuận mắt (vì rằng đất trong khuôn viên còn rộng chán...). Tôi dửng dưng với tấtcả mọi lời bàn ra tán vào của họ. Nhưng rồi, một trong những “người bạn” của tôi góp “lời bàn”: Anh vẫn ao ước mở một Ga-lơ-ri, sao không nhân dịp này thực hiện “béng” đi có phải tuyệt vời không?
(Người có lời bàn “tuyệt vời” đó là một cô bạn con nhà gia thế, mới băm chín tuổi, cử nhân Văn, du học ở Nga về, đã có chồng và cũng đã ly hôn trước tôi dăm tháng).
Tôi hứa sẽ lưu tâm suy nghĩ về lời bàn ấy. Thế rồi, chưa kịp đi đến một quyết định về ngôi nhà, tôi đã phải quyết định một vấn đề khác “cấp bách” hơn: Đi đăng ký kết hôn! (Người chấp nhận cùng tôi ký vào bản đăng ký kết hôn, không ai khác, chính là cô bạn đã ban cho tôi lời bàn tuyệt vời nói trên). Và rồi...
Dưới bàn tay “tuyệt vời” của “hai bà vợ”, chưa tới sáu tháng sau một Ga-lơ-ri “của vợ chồng tôi” đã được chính thức khai trương (tất nhiên là bằng tiền bán nhà). Phải nói ngay rằng: Tôi chỉ đóng vai “cố vấn”, mọi việc hoàn toàn do hai người vợ đảm đang của tôi “miệng nói tay làm” mười phần chỉn chu, tốt đẹp.
Đã có tới băm nhăm năm sống với người vợ hát chèo, nay mới chưa tới sáu tháng sống với người vợ cử nhân Văn học, tôi cảm nhận được rất nhiều điều mới mẻ “đầy ấn tượng” lạc thú tinh vi của hai từ hạnh phúc. Thế nhưng, oan nghiệt thay, cái tật ham cắp giá vẽ “đi thực tế” ở tôi chỉ chững lại được tới chừng ấy thời gian thôi, đến đây nó lại thức dậy giục giã tôi rất gắt gao. Không sao kìm nén được, tôi đành chuẩn bị hành trang. Biết chuyện, người vợ trẻ của tôi nhiệt liệt hoan nghênh và ân cần, chu đáo thu xếp mọi việc giúp tôi lên đường...
Tôi xúc động nghĩ thầm: Thế ra cái bằng cử nhân Văn học quả là có ý nghĩa. Nó giúp cho một cô gái kém tôi những băm mốt tuổi có được đủ “tầm” trí tuệ để cảm thông với... chồng! Cuộc sống giữa hai vợ chồng tôi cứ thế êm đẹp trôi đi trong nồng nàn hạnh phúc chẵn hai năm. Cho tới lần đi mới rồi, sau nửa tháng xa nhà quay trở về, không thấy gương mặt tươi trẻ cùng với nụ cười đằm thắm của người vợ trẻ chạy ra đón như thường lệ, mà chỉ thấy một tờ giấy niêm phong dán ngang cánh cổng sắt(1). Tôi choáng váng đứng chết lặng một lúc lâu, rồi thất thểu tìm đến nhà ông tổ trưởng dân phố. Nghe tôi hỏi ông tổ trưởng ngậm ngùi “thông báo”: “Cơ nghiệp của gia đình ông đứng tên bà Lê Đoan Chính. Bà Chính đã thế chấp ngôi nhà lấy tiền hùn vốn với một người tên là Đặng Quốc Hùng mở văn phòng “ma” tuyển dụng người đi xuất khẩu lao động. Công việc vỡ lở. Bà Đoan Chính cùng ông Quốc Hùng ôm gọn số bạc bà con cả tin đóng góp, lặn mất tăm. Cơ quan pháp luật đến niêm phong ngôi nhà đã gần hai ngày rồi!”
Còn sót chút tiền trong ví, tôi thuê căn phòng hẹp ở một khách sạn hạng ba, nằm nghĩ suốt bốn mươi tám tiếng đồng hồ, không tìm ra được một giải pháp nào khả dĩ có thể giải cứu được cho bản thân thoát ra khỏi mối đại họa này. Bế tắc quá, tôi đến đây hi vọng bác sẽ cho tôi một lời bàn sáng sủa, giúp tôi thoát hiểm. Nghe nói bác đi vắng dài ngày mà tiền trong ví tôi không còn nổi một trăm ngàn. Đang lo thì thằng cháu Hùng đã kịp phát hiện ra. Cháu nó đã cứu tôi một bàn thua trông thấy...
Lắng nghe rõ mọi điều, ông Bình ngẫm nghĩ rồi lâu rồi thận trọng nói:
Tôi hiểu mức nghiêm trọng của vấn đề, và cảm ơn bác đã có lòng tin, tìm tôi để cởi mở tâm sự. Tôi biết, người như bác đâu có thiếu bạn “tâm phúc” quyền cao chức trọng. Tuy nhiên, trước khi đáp lại thịnh tình của bác, tôi muốn được hỏi bác đôi điều mà tôi chưa tỏ. Được không?
Ông Sĩ Minh sốt sắng đáp:
- Vâng, vâng, mời bác cứ hỏi. Tôi hứa sẽ nói thật hết mọi sự.
- Tài sản và các thứ quyền lợi thuộc về bác, hiện còn lại những gì. Chỉ kể những thứ được pháp luật đảm bảo thôi.
- Chỉ có số tiền bảy trăm hămtám ngàn lương hưu trí hàng tháng, nằm trong sổ sách của phường. Và, may chăng là một ít tranh vẽ, sách vở, đồ dùng cá nhân... không có giá trị gì về kinh tế, đang còn ở trong cái nhà bị niêm phong.
- Thế các cháu. Khi ly hôn với bà vợ trước, cháu nào thuộc về bác? Hiện cháu làm công tác gì? ở đâu? đời sống ra sao?
- Khi ly hôn tòa xử cho tôi được nhận thằng con trai, đứa con gái theo mẹ. Cháu Long tôi đã thu xếp cho cháu đi Bun từ khi nước ta còn chống Mỹ (nghĩa là trước khi chúng tôi ly hôn). Cháu học xong không chịu về nước mà sống lưu vong bên đó. Bất hạnh, cuối năm ngoái, trong công việc làm ăn cháu đã bị đồng bọn bắt đi thủ tiêu mất xác. Việc này tôi được nghe qua miệng mấy đứa bạn của cháu về nước, kể lại...
- Thế còn đứa cháu gái. Giữa hai cha con có liên hệ gì không?
- Ngay sau khi bán được nhà, một đồng nghiệp cũ đã mời cô ấy (cùng đứa con) đi du lịch nước ngoài - Và rồi, từ đấy không có tin tức gì nữa.
Ông Bình thôi không hỏi thêm. Một lúc sau ông nói:
- Tôi nghĩ... Với số tiền bảy trăm hăm tám ngàn lương hưu mỗi tháng, nếu là ai khác thì vấn đề sẽ rất đơn giản. Nhưng với bác, ắt sẽ khó khăn...
Không để cho ông Bình kịp nói tiếp, ông Sĩ Minh cướp lời:
- Đúng đúng! Đời tôi, từ buổi lọt lòng mẹ cho tới hôm nay chỉ thạo hai việc: Học chữ và vẽ: làm cách mạng và... ăn chơi! Ngoài hai việc đó, sự sống của tôi nằm gọn trong vòng tay của mẹ tôi, sau đó là “vòng tay” của cách mạng! Nay mẹ tôi không còn nữa, mà cách mạng thì đã cho tôi về hưu. Với bảy trăm hăm tám ngàn đồng bạc trong tay, tôi biết xoay xở thế nào để sống cho qua từng tháng?
Ông Bình chân thật đáp:
- Phải tập thôi bác ạ. Dù đã ở vào cái tuổi ngoài bẩy mươi rồi, đang quen vùng vẫy giữa nơi sông dài, biển rộng. Nay bỗng chốc bị dồn vào ngòi, lạch, chứ chưa phải cống, rãnh đâu nhé. Tôi biết đối với bác thực là khó khăn. Nhưng... cứ là phải tập thôi bác ạ. Con ngườita được tạo hóa sinh ra, bất kể là vua chúa hay kẻ cùng đinh... đều đã có sẵn từ trong máu hai chữ “thích nghi”. Sách cũ chẳng đã từng dạy “ngộ biến tòng quyền” đó sao? Tôi tinh rồi bác sẽ quen thôi. Tuy nhiên, cũng phải từ từ. Làm quen dần, bác ạ. Đã coi vợ chồng tôi và các cháu là những người có thể tin cậy được, xin mời bác cứ nán lại đây dăm bữa nửa tháng - thậm chí vài ba tháng. Chờ cho cái tâm tĩnh lại, khắc sẽ tìm được lối đi thích hợp. Tôi tin thế, bác ạ.
Ông Sĩ Minh thẳng thắn ngỏ ý:
- Nếu như... tôi giao sổ lương hưu của tôi cho bác gái hoặc vợ thằng cháu Hùng quảng lý, và cứ tiếp tục sống như thế này, ở nhà bác. Liệu có được không?
- Tôi nghĩ là không được đâu. Bởi người Việt chúng ta quen sống theo cách “đóng cửa trong nhà bảo nhau”. Gia đình chúng tôi cũng vậy, khách đến nhà tất nhiên phải “giữ kẽ”, và như vậy sẽ khiến khách kém thoải mái. Nếu không tin, xin bác cứ thử sẽ rõ thôi mà.
Ngồi lặng thinh hồi lâu, ông Sĩ Minh thở dài thốt lên:
- Có nhẽ bác nói đúng. Trông thấy cảnh nhà bác tôi rất thèm, song tôi không thể có được cái hạnh phúc như bác. Bởi... tôi là một người số... chẳng ra gì!..
Ông Bình đưa bàn tay của mình sang, khẽ vỗ vỗ lênđùi người bạn già, không nói gì thêm...

Hà Nội ngày 11 tháng 7 năm 2001



Đôi lời về tác giả


- Họ và tên: Nguyễn Văn Hồng.
- Ngày sinh: 20-4-2924.
- Nguyên quán: Làng Thịnh Yên (Nay là phố Thịnh Yên, phường phố Huế, quận Hai Bà Trưng) - Hà Nội.
Cùng một tác giả:
1/ - In chung trong các tập:

- Một thời ở Đại đoàn 312 NXBQĐ. 1990
- Chặng đường Chiến sĩ NXBQĐ. 1993
- Đời lính, đời người NXBQĐ. 1998
- Những tháng ngày đẹp nhất NXBQĐ. 1998

2/ - In riêng:

- Khoảng cách khắc nghiệt - Tập truyện - NXBHN. 2000
- Bộ tiểu thuyết:
Cửa Ô NXBHN. 2001
Có một gia đình NXBHN. 2001
Thắng, bại NXBHN. 2001
- Nhưng... sự thật là... - Tập truyện - NXBHN. 2002


Tập truyện "MIẾNG ĐỆM" đến đây là
HẾT




📎 496|504




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0