📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Maugham - một vài truyện ngắn

18 trả lời, 4.210 lượt xem — Trang 1 / 1
Chào các bạn,

Mình lướt web đã tình cờ té vô đây được chừng tháng nay rồi, đã lẳng lặng đọc (hưởng thụ) 2, 3 truyện mà các bạn đã đăng [sm=----.gif] và, qua đó, đã rất mến phục các bạn. Nay mình xin biến yêu thương thành hành động cách mạng bằng một vài đóng góp nho nhỏ cho VNTHUQUAN.

Xin được bắt đầu bằng một truyện ngắn của Maugham mà mình đã dịch (từ bản tiếng Pháp). Có còn phải giới thiệu nữa không nhỉ? Hẳn là không rồi các bạn yêu văn học hẳn đều đã biết nhà văn, khỏe viết, trường phái cynisme này rồi.

Rất xin lỗi các bạn rằng mặc dù đã đọc qua các bài hướng dẫn nhưng mình vẫn không chắc chắn đã hiểu đúng về (các?) cách đăng truyện. Vậy xin được phép làm theo cách mình cảm thấy dễ nhất: copy and paste từ file Word! [:D]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-23 13:47:58prusten>
CÔ GÁI MỘNG MƠ

William Sommerset MAUGHAM, “Complete Short Stories”, William Heinemann, London, 1951.
prusten dịch


Một trong số những rất nhiều nhược điểm của cuộc sống thực tế là rất ít khi nó tạo ra được một câu chuyện trọn vẹn. Đôi khi có một vài sự kiện thu hút sự chú ý của chúng ta, một số người gặp phải một chuyện rắc rối không lối thoát làm cho chúng ta phải hồi hộp tự hỏi không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Ấy thế mà thông thường lại chẳng có gì xảy ra cả! Tai hoạ mà chúng ta dự báo trước như không thể tránh khỏi thực ra lại có thể được giải quyết một cách đơn giản và vở bi kịch hoành tráng đột nhiên trở thành một câu chuyện tầm phào.

Tuổi già cũng có những cái bất lợi nhưng ít ra để bù lại nó cũng mang lại cho một thuận lợi đó là cho phép bạn cso thể hiểu được kết cục của nhiều chuyện mà bạn đã từng chứng kiến trước đó rất lâu mà chưa hiểu được. Bạn đã chẳng còn hy vọng hiểu được chuyện đã được giải quyết như thế nào nữa, thế nhưng đúng lúc không ngờ nhất người ta lại mang giải đáp đến cho bạn.
Ý nghĩ đó đến với tôi khi đang ngồi nghỉ trong phòng khách của khách sạn, sau khi tiễn bà hầu tước San Esteban ra xe. Tôi gọi một ly cocktail, châm một điếu thuốc và tĩnh tâm nhớ lại những kỷ niệm xưa. Khách sạn mới và rất đẹp nhưng hoàn toàn giống như bao khách sạn khác ở Châu Âu và tôi tiếc là đã chọn nó, chỉ vì nó sạch, thay vì khách sạn Madrid cổ kính và đẹp như tranh – nơi tôi thường ở mỗi khi đến Sevilla. Đúng là tôi có thể chiêm ngưỡng dòng sông Guadalquivir từ phòng tôi nhưng điều đó không thể bù đắp cho những ồn ã với đủ các loại âm thanh như của một ban nhạc jazz vọng lên từ phòng trà có vũ nữ tổ chức hai hay ba lần mỗi tuần ở đây, thu hút đủ loại khách
Chính vì thế mà sau khi đi dạo cả buổi chiều tôi bị rơi vào giữa đám đông nhộn nhạo khi trở về khách sạn. Tôi đến thẳng bàn tiếp tân lấy chìa khoá để lên phòng. Người trực vừa đưa chìa khoá cho tôi vừa báo là có một phụ nữ đã đến tìm tôi.
- Một phụ nữ ư?
- Đó là bà hầu tước San Esteban. Bà ấy rất muốn gặp ông.
Tôi chẳng biết ai có tên như thế cả.
- Chắc là có một sự nhầm lẫn rồi.
Tôi chưa dứt lời thì thấy một quý bà tiến đến và đưa tay về phía tôi với một nụ cười rất tươi. Tôi vẫn không nhớ ra đã gặp người này ở đâu. Bà nắm chặt tay tôi và nói bằng tiếng Pháp rất chuẩn:
- Tôi rất vui được gặp lại ông, trời đã bao nhiêu năm rồi! Tôi đọc trên báo biết ông ở đây, thế là tôi quyết định đến thăm ông. Lần cuối cùng chúng ta đã khiêu vũ với nhau là khi nào nhỉ? Ôi, lâu lắm lắm rồi! Ông có còn hay đi khiêu vũ nữa không? Tôi vẫn đi thường xuyên, à tôi đã lên chức bà rồi đấy. Tất nhiên là tôi có hơi béo lên thật nhưng kệ, khiêu vũ sẽ làm cho tôi không béo lên nữa.
Bà ta nói nhanh đến nỗi tôi nghe cũng thấy đứt hơi. Đó là một phụ nữ mập, đứng tuổi, trang điểm rất kỹ, tóc nâu đỏ đậm, tất nhiên là tóc nhuộm, và được cắt khá ngắn. Bà ta mặc một bộ đồ mốt mới nhất của Paris – thực ra những mốt Paris không hợp với người Tây Ban Nha lắm. Bà ta có nụ cười rất tươi và trong trẻo khiến cho người đối thoại cũng muốn cười theo. Bà ta có vẻ rất hạnh phúc với cuộc sống của mình. Ở tuổi này mà vẫn đẹp đến thế, chắc hẳn rằng thời trẻ bà ta đẹp lắm. Nhưng tôi vẫn không nhận ra bà ta là ai.
- Hãy đến uống một ly champagne với tôi và chúng ta nói lại chuyện cũ. Hay là ông thích dùng cocktail hơn? Sevilla của chúng tôi đã thay đổi rất nhiều, ông thấy đấy. Các phòng trà vũ nữ, rượu cocktail như là ở Paris và London ấy. Chúng tôi cũng bắt nhịp với xu thế thời đại, với xã hội văn minh.
Bà ta dẫn tôi tới một cái bàn gần khu dành cho vũ nữ. Quả là tôi không thể giả vờ tự nhiên được nữa, chỉ e rằng sự nhầm lẫn có thể dẫn tôi đến những chuyện không tưởng tượng được.
- Tôi xin lỗi, tôi thực sự là đáng trách nhưng tôi không tài nào nhớ ra được là mình đã quen biết ai ở Sevilla tên là …
- Tên San Esteban? Bà ta cắt lời tôi. Đúng rồi. Chồng tôi là người gốc Salamanque. Ông ấy làm ngoại giao, giờ ông ấy đã mất rồi. Khi chúng ta biết nhau tôi còn mang tên Pilar Carreon. Hẳn là màu tóc nhuộm nâu đỏ của tôi đã làm ông không nhận ra chứ tôi không nghĩ là tôi đã đổi nhiều lắm.
- Đúng thế, tôi vội tiếp lời. Thực ra họ mới của bà làm tôi không nhận ra.
Lúc này thì tôi đã nhớ ra rồi và tôi cố gắng giấu sự ngạc nhiên. Thật không ngờ cô Pilar Carreon đã từng nhảy với tôi ở nhà bà bá tước Marbella và ở Phòng trưng bày ngày nào nay đã trở thành bà quả phụ béo tốt trước mặt tôi. Tôi thực sự không làm quen được với cái ý nghĩ ấy. Không biết bà ta có ngờ rằng tôi cũng đã được biết về vụ tai tiếng của bà ta đã từng làm rung động cả Sevilla không. Tôi cố gắng nói năng thật thận trọng và tôi thở phào nhẹ nhõm sau khi nói lời tạm biệt rất nồng nhiệt. Giờ đây tôi có thể tự do tìm lại những kỷ niệm xưa.

Bốn mươi năm trước đây, Sevilla chưa phải là một thành phố thương mại giàu có như bây giờ. Thời đó các con phố còn lát đá cuội, rất vắng vẻ, yên tĩnh, và người ta còn có thể thấy khắp nơi những tổ cò trên tháp chuông nhà thờ. Nhưng người đấu bò tót, những sinh viên và những kẻ thích rong chơi suốt ngày lang thang trong thành phố. Cuộc sống thật dễ dàng. Thời đó tất nhiên là chưa có xe ôtô và những người dân Sevilla có xe ngựa kéo phải là những người khá giả và cũng phải rất tiết kiệm. Có những người đã sẵn sàng hy sinh những điều quý giá nhất của đời mình để có được sự xa xỉ ấy. Để có thể được coi là thuộc xã hội thượng lưu người ta phải làm được một điều là chiều chiều, từ 5 giờ đến 7giờ, đi xe dọc vườn Delicias dọc sông Guadalquivir. Ở đó chúng ta sẽ thấy đủ các loại xe ngựa kéo: những chiếc Victoria kiểu Anh lịch lãm, những chiếc mui trần cũ kỹ vừa đi vừa rung như thể sắp vỡ tan thành từng mảnh, những con tuấn mã và những chú ngựa già xấu xí sắp đến ngày phải đến với kết cục bi thảm trong trường đấu. Nhưng có một cỗ xe luôn thu hút sự chú ý của những người mới đến. Đó là một chiếc Victoria rất mới, rất duyên dáng và được kéo bởi một đôi la tuyệt đẹp. Người đánh xe và người hầu mặc đồng phục xám nhạt kiểu người Andalucia. Đó là cỗ xe đẹp nhất Séville từ trước đến giờ, nó là của bà bá tước Marbella, người Pháp kết hôn với một người Tây Ban Nha. Bà ta đã học theo một cách hứng thú cái kiểu cách của quê chồng và thêm vào đó sự lịch lãm của người Paris và điều đó làm cho phong cách của bà ta thật đặc sắc. Các xe khác bao giờ cũng đi rất chậm rãi để cho mọi người có thể nhìn rõ người ngồi trên xe nhưng bà bá tước thì luôn cho la phi nước kiệu, giữa hai hàng xe đang từ từ đi, chạy qua chạy lại hai vòng dọc vườn Delicias rồi biến mất. Trong phong cách của bà ấy có cái gì đó thật đế vương giả. Khi nhìn thấy vẻ duyên dáng của bà ta trong xe, với kiểu đầu tuyệt đẹp, mái tóc vàng trên mức tự nhiên, người ta sẽ chẳng ngạc nhiên gì về địa vị mà hiện nay bà ta có. Bà ta thường là người xướng ra các loại mốt, những quyết định của bà ta có sức mạnh như những đạo luật. Tuy nhiên bà bá tước có nhiều người hâm mộ và cũng không ít kẻ thù địch. Và người cương quyết nhất trong số họ là bà công tước mới goá chồng Dos Palos, với địa vị xã hội và nguồn gốc gia đình bà ta nghĩ rằng đáng lẽ ra bà ta phải có được vị trí số một mà bà người Pháp kia đã giành được bằng sắc đẹp, trí thông minh và cá tính của mình.
Bà công tước có một cô con gái độc nhất: cô Dona Pilar. Khi tôi gặp cô ấy lần đầu cô mới hai mươi tuổi và rất đẹp. Cô có đôi mắt đẹp mê hồn và làn da màu đào – một lời khen tầm thường nhưng trong trường hợp này với cô là hoàn toàn phù hợp. Pilar mảnh dẻ, hơi cao đối với một người Tây Ban Nha, làn môi đỏ của cô làm nổi bật thêm lên hàm răng trắng. Mái tóc dày đen mượt của cô được chải theo một kiểu rất phức tạp – là mốt vào thời ấy. Cô ấy rất quyến rũ. Sự khát khao trong đôi mắt đen, sự ấm ám trong nụ cười và sức quyến rũ trong từng cử chỉ của cô làm người ta mê mẩn (khao khát). Cô thuộc thế hệ trẻ Tây Ban Nha đang cố gắng phá bỏ tục lệ cổ hủ cho rằng tất cả những cô gái trẻ dòng dõi phải sống tách rời với thế giới bên ngoài cho tới khi lấy chồng. Tôi thường chơi quần vợt với cô và khiêu vũ cùng cô trong những buổi dạ hội do bà bá tưóc Marbella tổ chức. Bà công tước thì cho là những buổi tiệc với bữa tối và rượu sâm panh, mà bà người Pháp tổ chức là quá xa hoa. Về phần bà ta, mỗi khi đãi khách quý tại nhà mình, độ 2 lần trong một năm, bà ta mời họ dùng nước chanh và bánh quy. Nhưng bà công tước có một trại nuôi bò đấu do chồng đểlại, và khi những con bò mới được đưa ra trận bà ta tổ chức ăn trưa ngoài trời với các bạn bè và người trong gia đình nhưng với những nghi thức thời Trung Cổ làm tôi rất tò mò. Một hôm tôi đi cùng đoàn kỵ sỹ dẫn đàn bò của bà công tước đi đến một đấu trường ở Séville. Chúng tôi đi ban đêm, Dona Pilar đi đầu đoàn mang một bồ đồ như trong tranh của Goya. Thật chẳng có gì quyến rũ hơn là cưỡi ngựa đi trong đêm trên những con ngựa vùng andalouisia và theo sau là một đoàn 6 chú bò tót được bao bọc bởi một đàn bò trong tiếng cồm cộp của móng bò.
Rất nhiều người giàu có hoặc có địa vị, đôi khi vừa giàu có vừa có địa vị, đã từng cầu hôn với Dona Pilar nhưng mặc cho mẹ cô trách mắng, cô đã từ chối tất cả. Bà công tước lấy chồng từ lúc mười lăm tuổi và thấy không thể chấp nhận được khi con gái mình đã 20 tuổi rồi mà vẫn chưa có gia đình. “Nó muốn gì chứ? Già kén kẹn hom. Nhiệm vụ của nó là lấy chồng.” Nhưng Pilar rất bướng bỉnh, cô luôn tìm ra lý do để từ chối những người theo đuổi cô.
Nhưng cuối cùng một ngày sự thật cũng lộ ra.
Trong những buổi dạo xe hàng ngày ở vườn Delicias, trên chiếc Landau lỗi thời, Dona Pilar và mẹ thường gặp bà bá tước cho xe đi nước kiệu chạy qua chạy lại hai vòng liền. Hai quý bà ghét nhau đến nỗi họ giả vờ không nhìn thấy nhau nhưng Pilar thì không thể không ngắm cỗ xe lộng lẫy và hai con la xám tuyệt đẹp, tuy nhiên, để tránh cái nhìn của bà bá tước cô phải nhìn anh chàng đánh xe. Đó là người đàn ông đẹp trai nhất Sevilla, trong bộ trang phục màu xám trông anh ta thật ưa nhìn. Tất nhiên, chẳng ai biết chuyện gì đã xảy ra nhưng, vô tình càng nhìn Pilar lại càng thích cái vẻ oai vệ của anh chàng đánh xe và, những điều bí ẩn bắt đầu từ đây, bằng một cách nào đó họ đã gặp được nhau. Ở Tây Ban Nha các tầng lớp trong xã hội pha trộn một cách lạ lùng đến nỗi người hầu phòng có thể có trong mình dòng máu quý tộc hơn cả chủ của mình. Pilar đã rất vui khi biết được rằng anh chàng đánh xe có nguồn gốc từ gia đình Leon ngày xưa đã từng là gia đình quý tộc nhất ở Andalucia, và như vậy anh ta và cô là hoàn toàn tương xứng. Chỉ đơn giản là tạo hoá đã sắp đặt cho cô sống trong một gia đình công tước còn anh ta thì phải kiếm sống trên ghế đánh xe một chiếc Victoria. Chẳng có gì đáng phàn nàn vì chính nhờ cái vị trí trên ghế cao ấy mà anh ta đã thu hút được sự chú ý của cô gái kiêu kì nhất Sevilla. Họ yêu nhau say đắm.

Nhưng, đúng vào thời điểm đó, một chàng trai khác, hầu tước San Esteban, đã viết thư cho bà công tước để cầu hôn với Pilar, họ đã gặp nhau mùa hè trước đó ở Saint-Sébastien. Bà công tước rất hài lòng. Hơn nữa đã từng có nhiều đôi lấy nhau giữa hai gia đình từ thời vua Phillippe II. Bà công tước quyết định sẽ không nhượng bộ con gái nữa và khi nói chuyện với Pilar bà đã nói cho cô biết rằng cô đã lẩn tránh quá lâu rồi, bây giờ phải lựa chọn giữa hầu tước San Esteban và tu viện.
- Con sẽ không lấy ông hầu tước mà cũng chẳng vào tu viện. Pilar trả lời.
- Thế con làm gì đây? Mẹ sẽ chẳng giữ con bên mình lâu hơn nữa đâu.
- Con sẽ lấy José Leon.
- Ai vậy?
Pilar ngập ngừng một lát, và có thể là hơi đỏ mặt một chút, ít ra là người ta cũng hy vọng như vậy.
- Anh ấy là người đánh xe của bà bá tước.
- Bá tước nào?
- Bà bá tước Marbella.
Tôi vẫn còn nhớ rất rõ bà công tước và tôi biết rằng khi nổi giận thì bà ấy hoàn toàn thay đổi. Bà la hét, van xin, khóc lóc cố gắng làm cô con gái đổi ý. Màn kịch rất dữ dội. Có người còn nói rằng bà công tước đã kéo tóc con gái để đánh nhưng tôi biết, trong trường hợp ấy, Pilar thừa sức chống đỡ. Cô khẳng định lại với mẹ cô rằng cô yêu José Leon, anh ta cũng yêu cô và cô đã kiên quyết sẽ lấy anh ta làm chồng. Cuối cùng bà công tước phải triệu tập một cuộc họp gia đình để giải quyết chuyện này. Và, để tránh nỗi nhục cho gia đình, họ đã quyết định gửi Pilar về nông thôn cho tới khi nào cô quên cái mối tình ngông cuồng này đi. Pilar đã dò biết được dự định của họ và đã nhanh chân chốn đến nhà bố mẹ người yêu. Đó là những người đáng kính, họ sống trong một căn hộ xòng xĩnh ở khu Triana, phía bên kia sông Guadalquivir.
Sau sự việc ấy, chuyện không thể giấu được nữa. Trong các câu lạc bộ, người ta bàn tán rất nhiều về chuyện này. Mọi người vừa cười hỉ hả vừa bàn luận về cái tin bất ngờ ấy; những người cầu hôn đã bị Pilar từ chối giờ lại được chúc mừng. Họ đã gặp may! Bà công tước thất vọng vô cùng. Bà ta chẳng còn biết làm gì hơn nữa ngoài việc đến gặp Tổng giám mục, một người thân thiết mà bà ta đã từng đến gặp để xưng tội. Bà ta van xin ông đích thân đến khuyên nhủ cô con gái bị tình yêu làm cho mù quáng của mình.
Pilar được goi đến và ông tổng giám mục, vốn đã rất quen can thiệp vào những rắc rối, bất hoà trong gia đình đã làm tất cả những điều có thể để cho cô thấy sự sai trái trong cách cư xử của cô. Nhưng cô không chịu nghe gì hết. Chẳng có gì có thể làm cô từ bỏ người mình yêu. Bà công tước cũng được gọi vào cố gắng thuyết phục con gái lần cuối nhưng chẳng ăn thua gì. Pilar trở lại chỗ mình đang ở tạm và bà công tước, nước mắt ròng ròng ở lại với ông Tổng giám mục. Ông này, rất thương người và có nhiều mưu mẹo, đợi khi bà bình tâm trở lại đã khuyên bà hãy thử một biện pháp cuối cùng là đến gặp bà bá tước Marbella. Đó là người phụ nữ khôn khéo nhất Séville, có thể là bà ta sẽ tìm ra cách giải quyết vấn đề.
Thoạt đầu bà công tước phẫn nộ phản đối. Đời nào bà ta lại chịu đi nhờ vả kẻ thù lớn nhất của mình cơ chứ. Thà rằng nhà của bà sập còn hơn! Ông tổng giám mục biết phải làm gì với những người đàn bà ngoan cố. Ông dùng mọi sự khéo léo của mình ra để làm bà ta đổi ý và cuối cùng bà ta cũng đồng ý đến cậy nhờ vào lòng tốt của bà bá tước người Pháp. Tuy rất tức tối nhưng bà ta cũng phải viết một lá thư cho kẻ thù của mình để xin gặp và ngay chiều hôm đó bà ta đã có mặt ở phòng khách nhà bà bá tước. Tất nhiên bà bá tước là một trong những người đầu tiên biết chuyện nhưng bà ta vẫn cứ nghe bà mẹ bất hạnh kể lại như thể không hề biết gì. Bà ta thực sự rất thích chí với hoàn cảnh ấy. Kẻ luôn luôn đố kỵ mình nay phải quỳ xuống chân mình xin xỏ, thật là một chiến thắng ngoài sức tưởng tượng. Thế nhưng bà bá tước cũng là người tốt bụng, bà ta cũng chẳng phải là người hoàn toàn không có lương tri.
- Quả là rắc rối thật. Tôi rất tiếc rằng thủ phạm lại là một trong những người làm của tôi. Chỉ có điều tôi không biết có thể làm được gì đây.
Bà công tước ước thầm có thể vả cho cái mặt đầy phấn son kia một cái nhưng vẫn phải cố nén cơn giận của mình, bà nói giọng run run:
- Thật không hẳn vì tôi mà tôi kêu gọi tới bà. Đó là vì Pilar. Tôi biết, cũng như mọi người, rằng bà là người thông minh nhất thành phố này. Tôi nghĩ, và cả ông tổng giám mục cũng đồng ý với tôi, rằng nếu có một giải pháp nào đó thì chắc chắn rằng bà sẽ tìm ra ngay.
Bà bá tước biết rằng đó là những lời nịnh quá đáng nhưng bà ta chẳng phật ý tí nào, nếu không muốn nói là ngược lại.
- Hãy cho tôi thời gian suy nghĩ.
- Tất nhiên rồi. Nếu như đó là một người quân tử thì tôi đã nhờ đến con trai tôi rồi, nó chỉ việc giết hắn ta đi là xong. Nhưng bá tước Dos Palos làm sao có thể đấu súng với người đánh xe của bà bá tước Marbella được.
- Đúng thế.
- Thời ngày xưa có phải đơn giản hơn không. Tôi chỉ cần mướn 2 kẻ giết thuê cắt cổ tên bịp đó đi. Nhưng những luật lệ thời nay làm cho những người tử tế chẳng có gì để bảo vệ mình trước sự xúc phạm của người khác cả.
- Tôi cực lực phản đối tất cả những giải pháp làm tôi mất người đánh xe rất tốt của tôi. Bà bá tước nói khẽ.
- Nhưng nếu như anh ta lấy con gái tôi thì làm sao anh ta có thể là người đánh xe cho bà được nữa. Bà công tước kêu lên, tức giận.
- Thế bà có chịu cho Pilar của hồi môn đủ để họ có thể sinh sống được không?
- Tôi ư? Tôi sẽ không cho nó một xu nào. Tôi đã cảnh cáo Pilar rồi, nó sẽ chẳng có gì cả. Nếu chúng tính dựa vào tôi thì chúng sẽ chết đói đấy.
- Vậy thì tôi nghĩ rằng anh ta sẽ vẫn tiếp tục làm người đánh xe cho tôi. Trên nóc chuống ngựa có mấy phòng nhỏ cũng khá tử tế đấy.
Mặt bà công tước hết tái xanh rồi lại đỏ lựng lên.
- Hãy bỏ qua tất cả những gì đã xảy ra giữa chúng ta. Chúng ta hãy là bạn. Chẳng lẽ bà lại làm nhục tôi đến thế sao. Nếu chẳng may tôi đã có làm điều gì đó không phải với bà thì tôi xin quỳ xuống xin bà tha thứ.
Má bà tràn trề nước mắt.
- Hãy lau nước mắt đi, bà công tước - cuối cùng bà người Pháp nói. Tôi sẽ cố gắng hết sức xem sao.
- Bà có thể làm được điều gì đó đúng không?
- Có thể thế. Chắc chắn là Pilar sẽ không có của cải gì đúng không?
- Không một xu nếu nó lấy chồng không được sự đồng ý của tôi.
Trên mặt bà bá tước nở một nụ cười rạng rỡ.
- Người ta vẫn nói rằng người miền Nam thơ mộng và người miền Bắc bủn xỉn. Nhưng thực ra là ngược lại. Những người miền Bắc mới lãng mạng. Tôi sống với người Tây Ban Nha đã đủ lâu để nhận thấy đầu óc họ rất thực tế.
Bà công tước đã quá chán chẳng còn muốn phản đối lời nhận xét xúc xiểm của bà bá tước nhưng thực chất là chưa bao giờ bà lại căm ghét bà bá tước như lúc này. Bà bá tước Marbella đứng dậy:
- Tôi sẽ trả lời bà trong ngày hôm nay.
Rồi bà ta tiễn khách một cách rất lạnh nhạt.
Thông thường cỗ xe sẵn sàng vào lúc 5 giờ nhưng hôm nay trước buổi đi dạo thường nhật, bà bá tước ăn mặc chỉnh tề đã cho gọi José vào gặp. Khi thấy anh ta bước vào trong bộ đồng phục màu xám nhạt, bà ta cũng phải thừa nhận rằng anh ta có vẻ rất đàng hoàng và không phải là một người tồi. Nếu anh ta không phải chính là người đánh xe của bà thì… nhưng thôi đây không phải là lúc nghĩ chuyện nhảm. Anh ta đứng thẳng trước mặt bà rất tự nhiên, thậm chí với chút vẻ bạo dạn kiêu kỳ. Anh ta chẳng có gì là vẻ của người ở cả.
“Một tượng thần Hylạp, bà bá tước nghĩ thầm, chỉ có ở Andalucia mới có thể có những người đàn ông như thế này.”
- Tôi nghe nói rằng anh sẽ lấy con gái bà công tước DosPalos.
- Nếu như bà bá tước không phản đối.
Bà ta nhún vai.
- Anh có thể lấy ai anh muốn, tôi không quan tâm. Nhưng anh cũng biết rằng Dona Pilar sẽ không có chút tài sản nào chứ?
- Có tôi biết, thưa bà. nhưng tôi có một chỗ làm việc tốt và tôi có thể nuôi vợ tôi được. Tôi yêu cô ấy.
- Tôi không trách gì anh. Cô ta rất xinh đẹp. Nhưng tôi phải báo trước với anh rằng tôi không giữ một người đánh xe đã có gia đình. Kể từ ngày cưới của anh, anh sẽ không còn là người làm của tôi nữa. Tôi chỉ muốn nói với anh như vậy thôi. Anh có thể đi ra được rồi.
Rồi bà ta chuyển sang đọc tờ báo mới được chuyển đến từ Paris. Nhưng đúng như bà ta đã dự đoán, José vẫn đứng im không đi, anh ta nhìn xuống nền nhà. Một lát sau, bà bá tước nhìn lên:
- Anh còn đợi gì nữa?
- Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng bà bá tước sẽ đuổi việc tôi. Anh ta nói giọng không chắc chắn lắm.
- Tôi tin chắc rằng anh sẽ dễ dàng tìm thấy một chỗ làm khác.
- Vâng, nhưng…
- Nhưng sao? Có vấn đề gì? Bà ta hỏi khô khan.
Anh ta thở dài đau khổ:
- Cả Tây Ban Nha chẳng đâu có được một đôi la đáng giá như đôi la của bà ở đây. Chúng chỉ không biết nói thôi. Nhưng chúng hiểu hết những gì tôi nói với chúng.
Bà bá tước nở một nụ cười làm xiêu lòng bất cứ người đàn ông nào chưa từng yêu.
- Tôi rất tiếc nhưng anh phải chọn giữa tôi và người yêu của anh…
Anh chàng đánh xe bối rối đổi từ chân này sang chân kia, đưa tay vào túi định lấy thuốc lá nhưng lại chợt nhớ ra mình đang ở đâu nên ngừng lại. Anh ta nhìn bà bá tước và gương mặt chợt loé lên một nụ cười tinh quái mà tất cả những ai đã từng sống lâu năm ở Andalucia đều hiểu.
- Vậy thì tôi không thể do dự nữa. Pilar sẽ hiểu rằng điều đó thay đổi tất cả. Người ta lấy vợ lúc nào mà chẳng được nhưng một chỗ làm việc như thế này thì người ta chỉ có thể có một lần trong đời thôi. Thật là ngớ ngẩn nếu từ bỏ nó chỉ vì một người đàn bà.
Và như vậy cuộc phiêu lưu kết thúc ở đó. José Leon tiếp tục đánh xe cho bà bá tước Marbella nhưng từ đó bà ta nhận thấy rằng khi đi dọc vườn Delicias, anh chàng đánh xe điển trai của mình cũng thu hút ánh mắt người khác chẳng kém gì kiểu mũ mới nhất của bà.

Một năm sau đó Pilar kết hôn với hầu tước San Esteban.

Toujours plus loin vers l'inconnu
Đăng nhập để trả lời
0
Chào Prusten

[sm=welcome.gif] Prusten đến với gia đình VNTQ.

Cảm ơn Prusten đã góp sức với VNTQ,

Và cách post bài của Prusten rất đúng, vì như vậy an toàn nhất đó Prusten.
Nhở mà trong D Đ, đôi khi bị lỗi, trong lúc mình đem bài lên, có khi bị mất,
nhưng đã có trong word thì đâu sợ mất bài, mất cái này copy cái khác há [:D]

Chúc Prusten luôn vui, mỗi khi online nhé

Thân ái





📎 càphêEspresso|tulipess
Đăng nhập để trả lời
0
Cảm ơn bạn Ct. ly đã khẳng định lại cho mình cách làm đúng.
Tục ngữ có câu được đằng chân lân đằng đầu, [:)] mình mạn phép xin bạn sửa lại lời chúc cuối thư cho trường hợp của mình vì mình online không nhiều nếu chỉ vui mỗi khi online thì ít quá mà online nhiều thì không làm việc khác được, liệu bạn có thể đổi thành "chúc vui mỗi khi thở" được không? [:D]

See you soon at Thu Quan

Toujours plus loin vers l'inconnu
Đăng nhập để trả lời
0
liệu bạn có thể đổi thành "chúc vui mỗi khi thở" được không?


hihihi

Hít thở là hít.......Online à prusten à !

Để CtLy si nghĩ xem có câu nào.....hay hơn nữa nhen [:D] Có gì Prusten giúp cho CtLy vài....lời hay ý đẹp với đi ,
Đăng nhập để trả lời
0

Trích đoạn: ct.ly

Có gì Prusten giúp cho CtLy vài....lời hay ý đẹp với đi ,


Ct. ly: Last one trước khi bị các Admin, Mod & cie nhắc nhở post bài nội dung phù hợp với diễn đàn.

[:D] Lời hay ý đẹp thì mình xin chịu, chỉ xin chúc bạn vui đến lần tới online (và nhận thêm lời chúc mới) [;)]

Toujours plus loin vers l'inconnu
Đăng nhập để trả lời
0
Nhà thơ vĩ đại

William Sommerset MAUGHAM, “Complete Short Stories”, William Heinemann, London, 1951.
prusten dịch



Tôi không mấy quan tâm đến những người nổi tiếng và cũng chẳng có hứng thú gì đặc biệt lắm với việc được gặp họ. Khi người ta tạo cơ hội cho tôi gặp một người nào đó, được đặt cao hơn người khác nhờ tài năng hay địa vị, thì tôi thường khéo léo từ chối cái vinh dự ấy. Và tôi cũng đã hành động như vậy khi anh bạn Diego Torre của tôi định viết thư giới thiệu tôi với Santa Ana. Tuy nhiên, lần này tôi từ chối là có một lý do rất chân thành: tôi biết Santa Ana không chỉ là một nhà thơ vĩ đại mà còn là một nhân vật nổi tiếng lãng mạn; thực ra tôi cũng tò mò muốn biết xem con người với những cuộc tình đã đi vào truyền thuyết, ít nhất là ở Tây Ban Nha ấy bây giờ sống ra sao thế nhưng vì ông ấy đã rất già và ốm yếu nên tôi e rằng việc tiếp đón một người không quen biết, hơn nữa lại là người nước ngoài sẽ chỉ làm ông ấy mệt mà thôi.

Calisto de Santa Ana là người cuối cùng của trường phái lãng mạn, tuy đang sống giữa một thế giới thù địch với chủ nghĩa Byron (1) thì ông vẫn luôn sống với phong cách Byron và kể lại cuộc đời khó khăn của mình trong những bài thơ đã từng làm cho ông trở thành người độc nhất vô nhị trong giới văn sĩ thời đó. Tôi không phải là người có thể nhận xét đúng đắn về giá trị các bài thơ ấy vì tôi mới chỉ hai mươi ba tuổi khi tôi đọc chúng lần đầu tiên với đầy hứng thú. Sự cuồng nhiệt, chủ nghĩa anh hùng kiêu hãnh, sự mãnh liệt và sự đa dạng của chúng đã làm tôi say mê. Ngay cả đến ngày hôm nay, những câu thơ có âm sắc, những giai diệu không thể quên được ấy vẫn còn hoà quyện với những kỷ niệm ngọt ngào thời trai trẻ của tôi đến nỗi nếu đọc lại những bài thơ ấy bây giờ trái tim tôi sẽ vẫn cứ rung động như ngày xưa. Vậy nên tôi thường nghĩ rằng Calisto de Santa Ana hoàn toàn xứng đáng với tiếng tăm của ông tại tất cả những nước nói tiếng Tây Ban Nha. Thời đó, tất cả giới trẻ đều đọc thơ ông và các bạn tôi thì luôn miệng nói về ông với lối sống tự do, những bài diễn văn mãnh liệt, những lời nói hóm hỉnh sâu sắc, những câu chuyện tình. Đó là một người có tư tưởng nổi loạn, đến mức nhiều khi vượt quá giới hạn cho phép, một người táo bạo, liều lĩnh, và hơn hết đó là một người đa tình. Không ai là không biết đến tình yêu cuồng nhiệt của ông đối với một diễn viên này hay một ca sĩ nọ – chúng tôi đã thuộc lòng vì đọc đi đọc lại nhiều lần những lời thơ cháy bỏng về tình yêu, về sự dằn vặt hay giận giữ của ông – và chúng tôi cũng đã được biết rằng một công chúa Tây Ban Nha – nàng công chúa kiêu căng nhất trong những công chúa dòng Bourbons đã mềm lòng trước ông rồi phải bỏ vào tu viện khi bị ông ruồng bỏ. Trước đây, khi vua Tây Ban Nha bỏ một người tình thì người ấy phải đi tu vì một người đã từng là thiếp của vua thì không thể yêu người khác được. Vậy thì Calisto de Santa Ana chẳng phải là một vị vua lớn thời nay sao? Chúng tôi đã rất khâm phục hành động lãng mạn ấy, người đàn bà ấy và nhà thơ của chúng tôi.

Tất cả những chuyện đó thuộc về một quá khứ đã xa và từ một phần tư thế kỷ nay Don Calisto, sống ẩn tại quê nhà, thành phố Ecija và chẳng thèm màng tới thế giới bên ngoài vì nó chẳng còn có gì cho ông nữa. Tình cờ khi ở Sevilla tôi có nói là sẽ đến Ecija chơi, không phải vì Don Calisto mà vì những kỷ niệm của tôi ở thị trấn nhỏ vùng Andalucia ấy và lúc đó ông bạn Diego Torre của tôi đã tỏ ý sẵn sàng viết thư giới thiệu tôi đến gặp Don Calisto. Thỉnh thoảng ông ấy vẫn tiếp những cây viết trẻ và trong khi nói chuyện với họ ông tìm lại được sự cuồng nhiệt đã từng làm say mê những cử toạ của ông trong thời kỳ vàng son.
- Bây giờ ông ấy thế nào? - Tôi hỏi
- Rất tuyệt.
- Ông có ảnh của ông ấy không?
- Rất tiếc là không. Từ sau khi tròn 35 tuổi ông ấy không bao giờ cho phép ai chụp ảnh ông ấy cả. Ông ấy nói rằng muốn thế hệ sau biết về ông chỉ qua những hình ảnh thời trai trẻ.
Phải thừa nhận rằng tôi đã thấy sự kiêu kỳ này thật là cảm động. Tôi biết rằng thời trẻ ông rất đẹp và bài thơ mà ông đã viết khi nhận thấy rằng tuổi trẻ của mình đã vĩnh viễn trôi qua cho thấy ông đã phải đau đớn đến mức nào khi thấy sức chinh phục của mình đang dần tàn héo đi.
Nhưng tôi đã từ chối thịnh tình của ông bạn, tôi chỉ cần đọc lại những bài thơ yêu thích và đi dạo trên những đường phố yên tĩnh và đầy nắng của Ecija. Bởi vậy tôi đã rất bất bình khi nhận được một tờ thiệp của con người vĩ đại ấy: Diego Torre đã viết cho ông ấy báo rằng tôi đến Ecija và ông ấy viết sẽ rất vui lòng tiếp tôi sáng hôm sau vào lúc mười một giờ. Trong hoàn cảnh ấy tôi chẳng có lựa chọn nào khác ngoài việc đến nhà Don Calisto vào giờ đã định.

Khách sạn tôi ở trông ra quảng trường La Plaza - rất náo nhiệt vào buổi sáng mùa xuân này, nhưng sau khi rời khỏi đó rồi thì tôi lại có cảm giác như đang đi qua một thành phố bỏ không. Không một bóng người trên những con phố khúc khuỷu trắng toát, hay nói đúng hơn tôi chỉ nhìn thấy một người phụ nữ, mặc đồ đen, đang chậm rãi trở về nhà sau buổi lễ. Ở Ecija có rất nhiều nhà thờ, cứ bước vài bước là người ta lại có thể nhìn thấy một nhà thờ nhỏ cũ hay một đỉnh tháp chuông đầy tổ cò ở trong. Thế nhưng ngày xưa Ecija đã từng là một thành phố quan trọng. Rất nhiều nhà ở đây có cổng lớn với cột đá. Thời ấy những người giàu có lên nhờ buôn bán với Châu Mỹ – Thế Giới Mới – tìm về nơi yên tĩnh này để nghỉ ngơi trong những năm tháng cuối đời. Don Calisto ở một trong số những ngôi nhà ấy. Ngay từ lúc đứng ngoài cổng đợi người ra mở tôi đã thấy nó rất đẹp. Vẻ hoành tráng và cổ kính của cánh cổng lớn rất phù hợp với những gì tôi tưởng tượng về nhà thơ dữ dội này. Tôi nghe tiếng chuông vọng khắp trong nhà mà chẳng có ai ra mở cửa, tôi phải nhấn chuông lại lần nữa, rồi lại một lần nữa và cuối cùng thì cũng có một bà già có ria mép ra hỏi:
- Ông đến có việc gì?
Bà ta có đôi mắt đen rất đẹp nhưng u ám, có lẽ là người quản gia. Tôi đưa cho bà danh thiếp của mình. Bà mở cổng sắt mời tôi vào, nói tôi đợi rồi đi lên tầng trên. Đang đi ngoài phố vào, sự mát mẻ của sân trong (2) rất dễ chịu. Sân rất rộng và khung cảnh xung quanh hoành tráng, chắc hẳn người đã cho xây dựng nó là một trong những người đã đi chinh phục Châu Mỹ, nhưng tường thì đã khá bẩn, lát nền đã bị hỏng nhiều chỗ, đôi chỗ trên trần lớp trát đã bị bục. Nhìn chung có vẻ là nghèo túng hơn là thiếu sự chăm sóc. Tôi biết rằng Don Calisto không giầu có. Có một thời ông kiếm tiền không khó khăn gì nhưng ông không coi trọng đồng tiền lắm và luôn chi tiêu không tính toán. Chắc rằng giờ đây ông sống trong thiếu thốn nhưng có lẽ cũng chẳng để ý đến điều đó. Giữa sân có hai ghế bành lưng ngả bên cạnh một chiếc bàn, trên đó có một vài tờ báo cũ từ 15 ngày trước. Tôi tò mò tự hỏi Don Calisto mơ tưởng tới điều gì khi ông ngồi đây hút thuốc trong những đêm hè nóng bỏng. Giữa các cột trên tường, có một vài bức tranh Tây Ban Nha tối màu và xa xa là một vài tấm khắc gỗ đã cũ và bụi bặm được treo lên làm trang trí. Cạnh một cánh cửa có treo một đôi súng ngắn, tôi lấy làm thích thú khi nghĩ là chúng đã được sử dụng trong cuộc đấu súng nổi tiếng nhất trong các cuộc đấu súng của Don Calisto: ông đã đấu súng và chiến thắng công tước Dos Hermanos vì tình yêu đối với cô diễn viên múa Pepa Montanez có lẽ giờ đây đã trở thành một bà già móm mém mặt bự phấn.

Trong khung cảnh ấy, cộng với những kỷ niệm đang ùa về trong tôi hợp với nhà thơ lãng mạn này đến nỗi cái hồn của khung cảnh đã chinh phục tôi. Sự túng bấn thanh cao này cũng tôn vinh ông chẳng kém gì vinh quang thời trai trẻ của ông. Thời ấy ông cũng tràn đầy ý chí chinh phục và hoàn toàn là hợp lẽ khi ông sống những năm cuối của cuộc đời vinh quang tại ngôi nhà cổ đẹp tuyệt vời này. Một nhà thơ phải sống và chết như thế mới phải. Thay vào cảm giác miễn cưỡng ban đầu trước cuộc gặp mặt này, giờ đây tôi lại cảm thấy một chút hồi hộp. Tôi châm một điếu thuốc và tự hỏi sao lâu thế rồi mà Don Calisto vẫn chưa xuất hiện mặc dù tôi đã đến đúng giờ hẹn. Sự yên lặng làm cho tôi cảm thấy bối rối đến kỳ lạ. Những bóng ma quá khứ như đang chen chúc về trong khoảng sân tĩnh lặng này và dựng lên trước mắt tôi cảnh sống của người xưa. Những người thời đó có một trái tim cuồng nhiệt và không theo khuôn phép nào cả. Phong cách đó đã cùng họ biến mất khỏi thế giới mà chúng ta đang sống. Thời nay chúng ta không thể có được những chiến tích cũng như sự khoa trương của họ.

Một tiếng động bất thình lình làm tim tôi rộn lên. Giờ đây tôi cảm thấy xúc động mãnh mẽ và khi nhìn thấy chủ nhân chậm rãi đi xuống từng bậc thang, tôi nín thở hồi hộp. Ông cầm tấm danh thiếp của tôi trên tay. Đó là một ông già cao lớn, gầy gò có nước da màu ngà, với mái tóc trắng dầy, hai hàng lông mày rậm màu nâu làm rực lên ánh nhìn của đôi mắt to dữ dội. Ở tuổi ông, ánh mắt còn sáng như vậy thật là hiếm. Ông có cái mũi khoằm, khuôn mặt cương quyết, cái nhìn nghiêm nghị hướng thẳng vào tôi lạnh lùng khi ông bước đến làm tôi lúng túng. Ông mặc một bộ đồ đen, một tay cầm một chiếc mũ rộng vành. Dáng vẻ ông rất đàng hoàng và đầy tự tin. Những điều đó hoàn toàn thoả mãn sự mong đợi của tôi, ngay từ dáng vẻ bề ngoài ấy đã toát lên sức mạnh trí tuệ và khả năng thuyết phục của một nhà thơ vĩ đại.
Xuống đến sân, ông chậm rãi tiến lại gần tôi. Đôi mắt của ông quả là đôi mắt của một bậc kỳ tài. Tôi đang sống trong một khoảnh khắc kỳ diệu : trước mắt tôi là người thừa kế cuối cùng của những nhà thơ lớn Tây Ban Nha, của Herrera kiêu kỳ, của Luis de Leon buồn đến nao lòng, của Saint Jean de la Croix huyền thoại và của Gongora bí ẩn và kiểu cách. Ông ấy là người cuối cùng của thế hệ ấy và là người thừa kế xứng đáng. Chính tôi cũng không hiểu được tại sao nhưng trong tim tôi rộn lên bài ca tình yêu nổi tiếng nhất trong những bài thơ tình của Don Calisto.
Tôi cảm thấy rất lúng túng, nhưng cũng may là tôi đã chuẩn bị sẵn câu chào :
- Thưa Ngài, thật là một ân huệ đối với một người ngoại quốc như tôi được tiếp kiến một nhà thơ vĩ đại như ngài.
Một tia tinh quái loé lên trong đôi mắt sắc sảo và một nụ cười mỉm làm gương mặt của ông bớt đi vẻ nghiêm nghị:
- Thưa ngài, tôi không phải là nhà thơ, tôi làm nghề bán da lợn. Ông đã nhầm rồi, nhà Don Calisto ở bên cạnh.
Tôi đã nhầm nhà!



--------------
(1) Byron là là nhà thơ tiêu biểu trong trường phái thơ lãng mạn của Tây Ban Nha.
(2) Trong các ngôi nhà lớn kiểu Tây Ban Nha thường có một sân trong lộ thiên, (patio) bao quanh bởi các vòm cuốn và hiên có mái.

Toujours plus loin vers l'inconnu
Đăng nhập để trả lời
0
TIẾNG HÓT CHIM CU GÁY

William Sommerset MAUGHAM, “Complete Short Stories”, William Heinemann, London, 1951.
prusten dịch



Đã từ rất lâu rồi tôi vẫn không biết được đích xác là tôi thích hay không thích tay nhà văn Peter Melrose. Anh ta đã xuất bản một cuốn tiểu thuyết và đã gây được vài sự chú ý đối với vài kẻ nhàm chán, nhưng đáng kính, luôn rình rập những tài năng trẻ. Những ông già suốt ngày chỉ có việc đi dự những bữa tiệc của giới thượng lưu sính giao thiệp đã ca ngợi anh ta hết lời còn những bà quý tộc yểu điệu không hạnh phúc trong gia đình, lại thấy anh ta đầy triển vọng. Tôi đã từng đọc vài bài phê bình, tất cả đều mâu thuẫn nhau. Một vài bài quả quyết rằng tác phẩm đầu tay này đã đưa tác giả của nó lên hàng những nhà văn bậc nhất nước Anh; các bài khác lại chê bai nó thậm tệ. Tôi đã quyết định không đọc nó vội. Theo kinh nghiệm của tôi, khi một cuốn tiểu thuyết gây dư luận thì tốt nhất nên để qua một năm rồi hãy đọc. Và kết quả là số sách không được đọc nhiều một cách đáng ngạc nhiên.

Nhưng một sự tình cờ đã làm cho tôi gặp Peter Melrose trong một buổi sherry party mà tôi đã nhận lời mời sau một hồi cân nhắc. Cuộc gặp gỡ diễn ra tại tầng trên cùng một toà nhà mới xây lại tại khu Bloomsbury. Khi leo lên đến nơi, mệt gần đứt hơi, tôi được đón tiếp bởi hai người phụ nữ cao lớn quá mức bình thường. Đó là những phụ nữ có cá tính, mạnh mẽ nhưng lại vẫn đầy nữ tính. Phòng khách của họ, mà họ gọi là “xưởng” (mặc dù tài sản của họ có thể cho phép họ cả đời chẳng phải làm gì), rất rộng rãi nhưng chỉ có một vài cái ghế thép không gỉ, vài cái bàn mặt kính và một đi văng rộng phủ da ngựa vằn. Trên tường là các giá đầy sách và những bức tranh vẽ lại của các danh hoạ Cezanne, Braque và Picasso. Trên giá sách, ngoài một vài cuốn thuộc dòng “ý nhị” của văn học thế kỷ 18 (văn khiêu dâm quả là bất tử) còn thì toàn là những tác phẩm của tác giả đương thời, phần lớn là sách in lần thứ nhất, vả lại chính để ký một vài tiểu thuyết của mình mà tôi đã được mời đến cuộc chiêu đãi này.
Không khí rất thân mật. Chỉ có một người phụ nữ nữa, có vẻ là em út của hai chủ nhà vì mặc dù cũng khá to lớn và thân tình nhưng cô ta không cao bằng và không thân tình bằng hai người kia. Tôi không biết tên thật của cô ta nhưng cô ta tự xưng là Boofuls.
Ngoài tôi ra chỉ duy nhất còn một khách mời nữa là Peter Melrose. Đó là một chàng trai rất trẻ, khoảng ngoài hai mươi tuổi, vóc người trung bình nhưng sự lóng ngóng và thái độ của anh ta làm cho anh ta có vẻ nhỏ con. Anh ta có nước da hồng hào, căng, mũi to và có vẻ của một người Xê-mít (*) mặc dù anh ta không phải là người Do thái. Anh ta có cặp mắt màu xanh rất linh hoạt dưới hàng lông mày rập, mái tóc nâu cắt ngắn và đầy gầu. Anh ta mặc một áo khoác ngắn và quần vải mềm như những sinh viên trường Mỹ thuật mà người ta vẫn thường thấy đi thơ thẩn, đầu trần, dọc phố King’s Road ở Chelsea. Nói tóm lại là một anh chàng thô kệch và chẳng có gì là dễ mến cả. Anh ta rất tự tin, luôn sẵn sàng cãi vã và có vẻ cố chấp. Anh ta rất khinh thường các đồng nghiệp của mình và thể hiện điều đó rất mạnh mẽ. Tôi cảm thấy vui vui khi nghe anh ta công kích không kiêng dè thanh danh của một số người mà chính tôi cũng cho rằng đã được tâng bốc thái quá nhưng chưa bao giờ dám nói ra nhưng tôi cũng chắc chắn rằng nếu tôi không có mặt ở đó thì thanh danh của tôi cũng bị bài xích không kém phần găy gắt. Anh ta nói rất hay. Những ý nghĩ của anh ta rất lạ và đôi khi hóm hỉnh. Những lời lẽ khéo chọn của anh ta lẽ ra đã làm tôi cười thoải mái hơn nếu như ba người phụ nữ đã không cười bò ra một cách thái quá. Họ luôn phá lên cười sau mỗi lời anh ta nói, dù hài hước hay ngớ ngẩn. Anh ta nói liên mồm, hầu hết là những điều ngớ ngẩn nhưng cũng có một vài nhận xét khá sắc sảo. Những ý kiến của anh ta đơn giản và không độc đáo như anh ta tưởng, tuy nhiên lại rất chân thành. Điều nổi bật nhất ở anh ta là sự sôi nổi, thậm chí hung hăng. Nó như một ngọn lửa thiêu đốt anh ta từ bên trong và thậm chí còn có xu hướng lây lan sang những người xung quanh. Ít ra anh ta cũng có nét độc đáo đó và tôi đã vừa bắt tay từ biệt anh ta vừa tò mò tự hỏi “Anh ta sẽ trở thành người như thế nào sau này nhỉ?”. Tôi thực sự không biết anh ta có tài hay không, có biết bao người trẻ tuổi, có khả năng viết một truyện hay như anh ta nhưng điều đó chưa nói lên gì cả. Nhưng về góc độ con người, tôi nghĩ anh ta là một người đặc biệt. Khi anh ta 30 tuổi, khi mà thời gian đã gọt giũa những góc cạnh của cá tính và cuộc đời đã cho anh ta ý thức được rằng anh ta không thực sự thông minh như anh ta tưởng, con người này sẽ trở thành một người thú vị. Tuy vậy tôi không nghĩ sẽ gặp lại anh ta.

Hai, ba ngày sau tôi rất ngạc nhiên khi nhận được một bản cuốn tiểu thuyết của anh ta với một lời đề tặng rất hay. Tôi đã đọc và nhận ngay ra rằng đó là một tự truyện. Câu chuyện xảy ra tại một thành phố nhỏ ở Sussex , kể về cuộc sống của những nhân vật thuộc dòng dõi tư sản cố gắng giữ sĩ diện của mình mặc dù khả năng tài chính không cho phép. Lời văn thô lỗ, tục tĩu và tôi có cảm giác khó chịu khi đọc nó vì thực tế phần lớn câu chuyện dành cho việc nhạo báng những người già và người nghèo. Peter Melrose không biết sự chịu đựng nỗi bất hạnh là khó khăn như thế nào và càng không hiểu được rằng những cố gắng chiến thắng bất hạnh đáng được thông cảm hơn là nhạo báng. Tuy nhiên có những đoạn văn tả khung cảnh trong nhà hay cảnh đồng quê rất hay. Người đọc cảm thấy tình yêu và vẻ đẹp tinh thần của những vật dụng vật chất. Lời văn trôi chảy, không kiểu cách nhưng mỗi từ ngữ như là một nốt nhạc. Nhưng theo tôi, điều khiến cho tiểu thuyết này được công chúng đón nhận nhiệt tình đó là sự nồng cháy trong câu chuyện tình – nội dung chính của tiểu thuyết. Cũng như mọi chuyện tình thời nay, câu chuyện hơi tầm thường, kết thúc không rõ ràng và không có kết quả gì cụ thể thậm chí mọi chuyện gần như chẳng có gì khác so với lúc bắt đầu nhưng nó lại có cái đặc sắc của một tình yêu tuổi trẻ, lý tưởng hoá nhưng lại rất cuồng nhiệt. Câu chuyện tình được kể lại một cách sâu sắc và dữ dội tới kỳ lạ như đã thổi hồn cuộc sống vào những trang giấy. Sự đam mê tột cùng. Chẳng có gì cảm động hơn thế.
Tôi đã viết cho Peter Melrose để nói những gì tôi nghĩ về cuốn sách của anh ta và đề nghị ăn trưa với anh ta. Anh ta đã gọi cho tôi ngay ngày hôm sau để ấn định một cuộc hẹn.
Ngồi trước mặt tôi, trong quán ăn, anh ta tỏ vẻ rụt rè một cách đáng ngạc nhiên. Anh ta nói liên tục nhưng rõ ràng là không được thoải mái cho lắm. Tôi có cảm giác rằng sự tự tin của anh ta chỉ là một cách để che giấu, có thể là với chính mình, một nỗi lo sợ nào đó đang làm cho anh ta bứt rứt. Cung cách của anh ta rất thô bạo và vụng về. Anh ta văng một câu tục tĩu rồi cười lớn để giấu đi sự ngượng ngùng. Mặc dù tự nhận là người tự tin nhưng anh ta lại luôn cần được an ủi. Anh ta chọc tức người đối thoại bằng những lời mà anh ta biết là sẽ làm người ta phật ý nhưng thực ra đó là anh ta đang cố gắng làm cho người ta thừa nhận, dù chỉ là thừa nhận ngầm, hình ảnh tuyệt vời mà anh ta tự gán cho mình. Anh ta muốn tỏ ra khinh thường ý kiến của người khác và điều đó có vẻ rất quan trọng đối với anh ta. Đó là một gã trai trẻ hơi kiêu căng nhưng điều đó hoàn toàn không làm tôi bận tâm. Đó cũng là lẽ thường đối với những tài năng trẻ. Họ ý thức được rằng họ có một tài năng gì đó mà họ còn chưa biết khai thác. Họ nổi dậy chống lại cái thế giới xung quanh không chịu thừa nhận giá trị của họ. Họ có rất nhiều để cho nhưng chẳng có bàn tay nào chìa ra đón nhận. Họ rất nóng lòng có được sự nổi tiếng mà họ coi như là đương nhiên họ phải có. Thực sự là tôi không có ác cảm với những người trẻ tuổi kiêu căng, chỉ trừ khi họ làm trò quá.
Peter Melrose rất khiêm tốn khi nói tới tác phẩm đầu tay của mình. Mặt anh ta, vốn đã hơi đỏ nay đỏ ửng lên khi tôi nói với anh ta tất cả những gì mà tôi đánh giá cao trong tiểu thuyết của anh ta và cũng chấp nhận những lời phê bình của tôi với một sự kiêm tốn gần như hơi thái quá. Cuốn tiểu thuyết đã không mang lại cho anh ta nhiều lắm và nhà xuất bản trả cho anh ta một khoản trợ cấp nhỏ hàng tháng với danh nghĩa ứng trước cho cuốn sách thứ hai mà anh ta vừa mới bắt đầu viết.
Peter Melrose muốn rời London đến một nơi bình yên để viết và khi biết tôi sống ở Côte d’Azur, anh ta đã hỏi tôi có biết chỗ nào yên tĩnh và không quá đắt không. Tôi đã nói anh ta có thể đến ở tạm nhà tôi một vài ngày trong lúc chờ đợi kiếm được một chỗ hợp với khả năng. Vừa nghe câu đó mắt anh ta sáng bừng lên và đỏ mặt:
- Tôi sẽ không làm phiền ông chứ?
- Không đâu. Tôi sẽ rất bận với công việc của tôi. Tôi chỉ có thể cho anh chỗ ở và ăn ngày 3 bữa thôi. Sẽ không có gì vui lắm nhưng ít ra anh sẽ được hoàn toàn tự do.
- Tuyệt quá! Tôi sẽ viết cho ông sau khi tôi quyết định.
- Tất nhiên rồi.

Một hoặc hai tuần sau đó tôi trở về nhà, lúc đó đang là tháng năm. Đầu tháng sáu tôi nhận được một lá thư của Peter Melrose nhắc lại lời đề nghị của tôi và hỏi tôi liệu anh ta có thể đến ở nhờ nhà tôi vài ngày không và bao giờ thì có thể đến được. Khi đưa ra lời mời ấy tôi đã nói thật lòng nhưng giờ đây, một tháng sau, khi tôi nhớ lại hình ảnh một anh chàng kiêu căng, hỗn xược mà tôi mới chỉ gặp có hai lần và tôi cũng chẳng có cảm tình gì đặc biệt thì tôi lại chẳng còn muốn đón tiếp anh ta nữa. Tôi ưa cuộc sống yên tĩnh và rất ít khi tôi tiếp khách tại nhà. Tôi cũng e rằng anh ta sẽ làm tôi rất khó chịu nếu như anh ta vẫn tiếp tục ăn nói thô lỗ như mọi khi và như vậy có lẽ tôi sẽ chẳng chịu đựng anh ta được quá một nửa tiếng đồng hồ. Nhưng tôi đã trót hứa mất rồi và hơn nữa anh ta cần được giúp đỡ, vài ngày ở nhờ nhà tôi sẽ giúp anh ta tiết kiệm tiền ở và thay đổi không khí một chút, trong thư anh ta nói anh ta thực sự mệt mỏi và rất buồn. Tôi gửi một bức điện trả lời và vài ngày sau anh ta đến.
Khi mới đến bộ dạng anh ta rất luộm thuộm, quần thụng xám, áo vét nâu và có vẻ mệt mỏi nhưng sau khi tắm và diện bộ quần soóc trắng áo t-shirt thể thao thì anh ta lại có vẻ rất trẻ. Lần đầu tiên ra khỏi nước Anh, anh chàng không giấu được sự háo hức, niềm vui hiện rõ trên mặt. Trong hoàn cảnh đặc biệt ấy anh ta như đã quên mất hình ảnh của mình để trở nên giản dị, khiếm tốn và thậm chí trẻ con. Một bất ngờ thú vị!

Buổi tối, sau bữa ăn, ngồi trong khu vườn tĩnh lặng, chỉ nghe có tiếng ếch kêu, Peter Melrose bắt đầu nói với tôi về cuốn tiểu thuyết anh ta đang viết. Đó là một câu chuyện tình lãng mạng giữa một nhà văn và một ca sĩ Opera. Tôi thực sự không ngờ một người cứng rắn như anh chàng này lại viết một tiểu thuyết theo kiểu của Ouida và điều đó đã khơi dậy trí tò mò của tôi. Và cũng thật là lạ, với vòng quay thời gian những thế hệ sau lại lặp lại những chủ đề mà thế hệ trước đã viêt. Tôi chắc rằng Peter Melrose sẽ viết một cách rất hiện đại nhưng tôi cũng tin chắc rằng sẽ lại vẫn là kiểu tiểu thuyết dài lê thê đã từng làm say mê những độc giả uỷ mị hồi cuối thể kỷ trước. Anh ta đặt câu chuyện vào khoảng đầu thời kỳ các vua Edouard vì đối với giới trẻ thì đó là thời kỳ thơ mộng nhất của thời cổ xưa. Anh ta nói khá hay, nói liên tục và không nhận ra rằng anh ta đang đưa vào câu chuyện những mộng tưởng của chính anh ta – những mộng tưởng ngớ ngẩn của một gã trai trẻ tầm thường, không có gì quyết rũ lại tưởng tượng ra mình được một phụ nữ tuyệt vời, nổi tiếng và rất đẹp yêu, trước sự ngưỡng mộ của cả thế giới. Tôi vốn rất thích những tiểu thuyết của Ouida và tôi thấy ý của Peter cũng không đến nỗi tồi. Với tài miêu tả, khả năng quan sát sắc sảo những đồ vật như vải, đồ đạc, cây cối, hoa và cách anh ta gợi lên sự đam mê cuộc sống, tình yêu, tôi nghĩ rằng anh ta rất có khả năng cho ra đời một tác phẩm siêu thực đầy chất thơ. Tôi hỏi Peter Melrose:
- Anh đã gặp một nữ ca sĩ opera nào chưa?
- Chưa. Nhưng tôi đã đọc tất cả những tự truyện và hồi ký mà tôi kiếm được và tôi đã nghiên cứu chúng thật kỹ càng. Không chỉ những ý chính thôi đâu, tôi đã tìm hiểu cả những khía cạnh không ngờ nhất, những chi tiết hay giai thoại có ý nghĩa nhất.
- Vậy là anh đã có tất cả những gì anh cần rồi?
- Tôi nghĩ vậy.
Và anh ta bắt đầu tả cho tôi về nhân vật ca sĩ của mình. Đó là một phụ nữ đặc biệt, trẻ, đẹp, bướng bỉnh, tính tình nóng nảy nhưng hào hiệp và rất yêu âm nhạc. Âm nhạc hiện diện trong giọng nói, trong từng cử chỉ và ngay cả trong những ý nghĩ thầm kín nhất của cô. Cô không có khái niệm về ham muốn và tình yêu nghệ thuật của cô mãnh liệt tới mức cô đã tha thứ cho một ca sĩ khác đã xúc phạm đến cô chỉ vì cô đã hát rất hay. Và cô hào phóng đến mức cho tất cả những gì mình có khi nghe câu chuyện về một người bất hạnh làm cho cô cảm động. Một người phụ nữ si tình sẵn sàng hy sinh tất cả cho người mình yêu. Thông minh, hiểu biết, dịu dàng, rộng lượng và không vụ lợi, đó là một mẫu hình quá hoàn hảo không thể có trong thực tế.
- Tôi nghĩ rằng anh cần gặp một ca sĩ thực thụ – tôi nói sau một hồi suy nghĩ.
- Nhưng tôi phải làm sao đây?
- Anh có biết La Falterona không?
- Dĩ nhiên. Tôi đã đọc những hồi ký của bà ấy.
- Bà ấy sống gần đây. Tôi sẽ gọi điện mời bà ấy ăn tối.
- Thật vậy sao? Thật là tuyệt vời!
- Nhưng đừng có kêu ca nếu như bà ấy không giống như những gì anh mong đợi đấy nhé.
- Điều tôi muốn biết là sự thật.

Ai cũng biết La Falterona, thậm chí bà ấy còn nổi tiếng hơn cả Melba. Bà ấy đã ngưng hát opera nhưng giọng vẫn rất hay và có nhiều người hâm mộ ở khắp nơi trên thế giới. Mùa đông bà đi lưu diễn và mùa hè nghỉ tại villa của mình cạnh bờ biển. Ở đây, trong vòng 50 kilomét người ta có thể coi nhau như là hàng xóm, vì vậy trong mấy năm ở đây tôi đã khá gần gũi với La Falterona. Đó là một người có cá tính và các câu chuyện về bà ấy cũng nổi tiếng chẳng kém gì giọng hát của bà. Bà thường dành ra hàng giờ kể cho tôi nghe về những cuộc phiêu lưu huyễn hoặc của mình với những kẻ vương giả si tình hay những tỉ phú. Bà luôn kể lại các câu chuyện này một cách hài hước - điểm mà tôi thấy nổi bật nhất ở La Falterona; tôi biết trong đó chỉ có một phần nhỏ là thật nhưng với tôi thế cũng là đủ rồi. Bà ấy đã có ba hay bốn đời chồng rồi, chẳng bao giờ được lâu, và một trong số đó là một hoàng tử xứ Naples. Vì nghĩ rằng La Falterona có tiếng hơn mọi phẩm tước, bà ấy vẫn giữ họ của mình chứ không lấy họ của vị hoàng tử nọ (thực ra thì bà ấy cũng chẳng có quyền giữ họ ấy vì bà ấy đã lấy người khác sau khi ly dị với hoàng tử). Thế nhưng bộ đồ ăn của bà, đĩa bạc, dao dĩa,… đều được trang trí một cách cầu kỳ và có cả hình vương miện rất nổi nữa và người làm của bà thì luôn gọi bà bằng “Công Chúa”. Bà ấy tự giới thệu mình là người Hungari nhưng tiếng Anh của bà rất chuẩn, chỉ có một chút giọng của người nước ngoài - khi bà ấy nhớ ra - nhưng là giọng của người Kansas . La Falterona giải thích rằng cha bà là một tù chính trị lưu vong ở Châu Mỹ khi bà ấy còn nhỏ: thế nhưng bà ấy thường không còn nhớ rõ lắm nữa những chuyện đã xảy ra thời kỳ đó như một nhà bác học đã bị xử tử vì những tư tưởng tự do của mình hay một người Hungari thuộc dòng dõi quý tộc đã bị triều đình trừng phạt vì đã quan hệ với một quận công. Tất cả tuỳ thuộc bà nói chuyện với những nghệ sĩ hay với những quý tộc.
Với tôi thì La Falterona lại thật thà, thực ra điều đó với bà ấy là không thể có được, hay ít ra là thực thà hơn là đối với người khác. Bà ấy rất coi thường nghệ thuật vì coi đó là một trò lừa đảo khổng lồ và tỏ ra có chút cảm tình với những ai làm cho công chúng tin tưởng nghệ thuật. Tôi phải thừa nhận là tôi đã cười thầm trong lúc chờ đợi cuộc gặp gỡ giữa Peter Melrose và La Falerona.
Bà ấy rất thích ăn tối với tôi vì đồ ăn rất ngon. Bữa tối là bữa ăn duy nhất trong ngày của bà, La Falterona rất chú ý giữ gìn mình, thế nhưng lại thích ăn ngon và ăn nhiều.

Tôi đã mời bà ấy đến vào 9 giờ, vì biết rằng bà ấy ăn rất muộn, yêu cầu nhà bếp chuẩn bị bữa ăn cho 9 giờ 30. La Falterona đã đến lúc 10 giờ kém 15, bà mặc một chiếc váy dài màu xanh táo bằng vải sa tanh cổ sâu, lưng trần. Bà mang một vòng hạt cườm lớn, rất nhiều nhẫn quý, một hàng vòng kim cương và vòng ngọc trên cánh tay trái từ cổ đến tận khủy tay, ít ra cũng có vài ba chiếc là đồ thật, và trên mái tóc cánh quạ của bà gắn một mảnh kim cương. Có lẽ các quý bà ở cuộc khiêu vũ ở Stafford House ngày xưa cũng không lộng lẫy hơn thế! Phần chúng tôi, Peter Melrose và tôi diện bộ đồ trắng.
- Ô thật là lịch sự! Tôi nói, Tôi đã nói với bà rằng đây chỉ là một bữa tối thân mật thôi mà.
La Falterona liếc đôi mắt đen tuyệt đẹp sang phía Peter:
- Ồ không đâu. Chẳng phải là ông đã nói là bạn của ông là một nhà văn đại tài sao? Còn tôi chỉ là một diễn viên – bà lướt nhẹ tay trên dãy vòng lấp lánh - đây là cách của tôi thể hiện sự tôn trọng đối với tài năng sáng tạo.

Tôi đã phải kìm mình không bật ra một câu chửi thề và rót mời bà ta một ly cocktail mà bà vẫn thích. Tôi có được vinh dự được phép gọi bà ta bằng Maria nhưng bà ấy kiên quyết gọi tôi là Ngài vì hai lý do: một là điều đó làm cho tôi có vẻ rất ngớ ngẩn và hai là để chỉ rõ ra rằng bà ta và tôi thuộc hai thế hệ khác nhau, mặc dù rằng bà ấy chỉ kém tôi có hai hay ba tuổi. Tuy nhiên đôi khi bà ấy gọi tôi một cách thân mật là Lão già đểu cáng.
Buổi tối hôm đó người không biết sẽ nghĩ rằng bà ta chưa quá ba nhăm tuổi. Gương mặt của bà, với những đường nét rất nổi, vẫn giữ được tuổi thanh xuân. Trên sân khấu, cũng như là ngoài đời, đó là một phụ nữ tuyệt đẹp mặc dù cái mũi hơi nổi, cái miệng hơi rộng và khuân mặt hơi bầu bầu. Làn da nâu được tôn lên bởi màu son đỏ trên đôi môi rất tươi tắn. Bà ta để lộ am điệu của người tây ban nha: thoạt đầu đó chỉ là cảm giác của tôi nhưng rồi nó càng rõ nét hơn khi bà ta bắt đầu nói chuyện vào đầu bữa ăn, với một giọng đặc trưng của vùng Castella . Tôi đã cố ý làm cho bà ta thể hiện mình thật nhiều để Peter có dịp mục kích một ca sĩ opera thứ thiệt – tôi biết đó là điều duy nhất anh ta quan tâm.

Thực ra La Falterona là một phụ nữ ngớ ngẩn có những lời nói hoa mỹ nhưng hời hợt làm cho người ta thoạt đầu tưởng là bà ta rất thông minh nhưng đó chỉ là trò hề và bạn sẽ nhận ra rất nhanh chóng rằng bà ta chỉ nói lung tung và thậm chí chẳng để ý đến những gì mình nói. Tôi chắc rằng cả đời chưa bao giờ bà ta sờ đến một cuốn sách nào. Hiểu biết về thế giới của bà ta giới hạn ở những điều mà bà ta có thể đoán được qua những hình ảnh trong các tạp chí. Sự đam mê âm nhạc của bà ta chỉ là trò ba láp. Một hôm cùng đi nghe nhạc với tôi bà ấy đã ngủ từ khi bắt đầu cho đến lúc kết thúc Bản giao hưởng số 5 và sau đó, trong lúc nghỉ giải lao, bà ta suýt làm tôi phì cười khi nói rằng bà ta rất thích Beethoven và chắc rằng những âm hưởng tuyệt vời của bản nhạc sẽ làm cho bà ta không ngủ được tối nay. Ít ra tôi tin bà ta ở điểm này vì bà ta đã ngủ rất say trong buổi hoà nhạc rồi thì đêm nay còn ngủ ngon làm sao được nữa.
Có một chủ đề mà La Falterona có thể nói suốt đời không bao giờ biết mệt và một khi đã bắt đầu thì không gì có thể làm bà ta chuyển chủ đề được. Tất cả các chủ đề, ngay cả những chuyện lạ lùng nhất, đều được bà lợi dụng để dẫn đến chủ đề ưa thích của mình một cách khéo léo đến kinh ngạc. Khi nói về chủ đề này bất cứ lúc nào bà ta cũng có thể trở nên hóm hỉnh, sôi nổi, triết lý, lâm ly và phong phú. Đó là cơ hội để bà ta thể hiện những tài năng của mình. Chủ đề có khả năng phát triển và biến đổi vô hạn. Chủ đề đó chính là chuyện về La Faltarona! Tôi mớm lời đưa bà ta vào đề rồi sau đó chỉ cần một vài câu đưa đẩy. Bà ta cảm thấy rất vui vẻ tối hôm đó.
Chúng tôi ăn ngoài sân hiên, ánh trăng soi sáng mặt biển dưới mắt chúng tôi. Như thể là nó cũng biết điều gì cần thiết cho hoàn cảnh, Thiên Nhiên đã ban cho chúng tôi một khung cảnh lý tưởng. Hai cây bách làm viền cho sân khấu và xung quanh là những cây cam đang độ nở hoa toả mùi hương rất quyến rũ. Không một chút gió nào khuấy động ánh sáng mờ mờ của những ngọn nến trên bàn. Ánh sáng ấy rất phù hợp với La Falterona. Ngồi giữa hai chúng tôi, rất vui vẻ, bà ta ăn rất thoải mái và thưởng thức champagne một cách hào hứng. Bà ta đưa mắt ngắm nhìn trăng. Một dải sáng bạc trải trên mặt biển.
- Ôi thiên nhiên mới đẹp làm sao! La Faltarona kêu lên. Thật khủng khiếp những phối cảnh mà người ta áp đặt cho chúng tôi ở nhà hát. Làm sao mà có thể hát ở trong đó được. Những phối cảnh của nhà hát Covent Garden thì tôi xin cam đoan rằng tồi tệ không đâu bằng. Lần trước khi tôi diễn Julliette ở đó tôi đã phải cương quyết với họ, nếu không có trăng thì tôi sẽ không hát.
Peter im lặng nghe như uống từng lời bà ta nói. Và bà ấy đã thể hiện mình nhiều hơn tôi mong đợi. La Faltarona đã hơi say say, không phải chỉ vì uống quá nhiều champagne mà một phần là vì đã nói quá nhiều. Nghe bà ta nói thì người ta sẽ tưởng rằng đó là một phụ nữ tội nghiệp, dịu dàng và hiền lành bị cả thế giới chống lại, rằng cuộc đời bà ta là một cuộc đấu tranh dai dẳng và gian khổ để vượt qua những trở ngại khôn lường. Các giám đốc nhà hát đối xử với bà thật tồi tệ, các ông bầu lừa gạt bà, các đồng nghiệp kéo bè phái nhằm hãm hại bà, những nhà phê bình tay sai của các kẻ thù của bà dựng lên những chuyện thật khủng khiếp và những người tình thì phản bội bà một cách bẩn thỉu. Thế nhưng bằng phép lạ của vị thần hộ mệnh và bằng sự sắc sảo của chính bản thân, bà ta đã làm cho tất cả bọn chúng bị bẽ mặt. Với một sự khoái trá và một chút ma mãnh hiện trong đôi mắt, bà ta kể rằng đã làm thất bại âm mưu của những kẻ muốn hãm hại bà ta như thế nào và cả những thảm hoạ đã đến với họ nữa. Tôi thật sự không hiểu tại sao bà ta lại dám kể ra những chuyện tai tiếng như thế. Một cách vô thức, bà ta đã tỏ ra rất đố kỵ, hằn thù, nghiệt ngã, tự kiêu ghê gớm, độc ác, ích kỷ, mánh khoé và dễ bị mua chuộc. Thỉnh thoảng tôi kín đáo quan sát Peter và rất thích thú tưởng tượng ra sự thất vọng của anh ta khi đối chiếu hình ảnh lý tưởng của nhân vật ca sĩ của mình với thực tế phũ phàng. Đó là một người phụ nữ không có trái tim. Cuối cùng, khi La Falterona chào từ biệt tôi mỉm cười quay sang Peter:
- Vậy đấy. Dẫu sao thì tôi cũng hy vọng là đã giúp cho anh hoàn thiện tiểu thuyết của mình.
- Có đấy. Anh ta hào hứng trả lời , thật đúng như những gì tôi mong đợi, thật tuyệt vời!
- Thật vậy sao? Tôi thốt lên ngạc nhiên cực độ.
- Bà ấy hoàn toàn đúng như nhân vật của tôi. Hẳn là bà ấy sẽ không tin rằng tôi đã phác thảo những nét chính của nhân vật trước cuộc gặp gỡ ngày hôm nay.
Tôi nhìn anh ta, ngạc nhiên không nói nên lời.
- Đam mê nghệ thuật! Vô tư! Bà ấy cũng có tâm hồn cao thượng mà tôi đã từng tưởng ấy. Những kẻ xấu xa, tò mò và tầm thường đặt ra những cản trở trên con đường của bà ấy nhưng bà ấy vượt qua chúng dễ dàng bằng sự cao thượng, trong sáng của mình – Peter cười thoả mãn – Cuộc đời lại bắt chước nghệ thuật, thật ngạc nhiên đúng không? Tôi nói thật đấy, chúng giống nhau đến tuyệt vời.
Tôi định phản bác nhưng lại thôi, tôi thầm nhún vai, quả thực tôi rất ngạc nhiên. Peter chỉ nhìn thấy ở La Falterona những gì anh ta nghĩ từ trước. Nhưng cũng có tí chút đẹp trong cái sai của anh ta: chất thơ. Chúng tôi đi ngủ và hai hoặc ba ngày sau đó Peter đã thấy tìm thấy một nhà trọ phù hợp và dọn đi.

Một thời gian sau cuốn sách của anh ta xuất bản và, cũng như phần lớn các tiểu thuyết thứ hai của các tay viết trẻ, cuốn sách này không được thành công lắm. Những nhà phê bình đã từng đánh giá quá cao tác phẩm đầu tay của Peter Melrose giờ lại tỏ ra khó tính một cách thái quá. Tất nhiên là viết hồi ký về những người mà ta đã biết trong thời niên thiếu là một chuyện còn sáng tác ra một câu chuyện với những nhân vật tưởng tượng lại là chuyện khác. Tiểu thuyết của Peter dài quá. Anh ta đã thả mình quá trong việc miêu tả và sự hài hước của anh ta thì vẫn thô thiển như xưa. Tuy nhiên anh ta đã rất khéo léo tái tạo thời gian và trong cốt truyện thơ mộng vẫn có cái run rẩy của niềm đam mê thật sự mà tôi đã từng rất thích trong cuốn sách đầu.

Sau bữa ăn tối ấy tôi đã không gặp lại La Faltarona trong hơn một năm liền. Bà ấy đã có một cuộc lưu diễn dài ở Châu Mỹ la tinh và chỉ trở lại nhà nghỉ bờ biển vào cuối mùa hè. Một hôm bà ta mời tôi dùng bữa tối nhẹ. Chỉ có chúng tôi và thư ký của bà ta. Đó là một phụ nữ người Anh, tên là Glaser, La Falterona đối xử với cô ấy một cách thậm tệ, luôn miệng chửi thề nhưng lại rất cần cô ta. Cô Glaser là một người kì quặc, khoảng hơn 50 tuổi, mặt nhăn nheo vàng vọt như là bị bỏ đói. Cô ta biết tất cả mọi chuyện về La Falterona, vừa tôn thờ lại vừa căm ghét bà ấy. Sau lưng bà, cô thư ký luôn sẵng sàng nhạo báng và trò nhại La Falterona trước đám hâm mộ của bà ta thì là một trong những vở hài kịch hay nhất mà tôi chưa bao giờ được xem. Thế nhưng cô Glaser lại chăm sóc bà với sự ân cần của một người mẹ. Khi thì ngọt ngào khi thì gay gắt, chính cô ta là người giúp cho La Falterona vẫn còn cư xử như một con người. Và cũng chính cô ấy là người viết những hồi ký huyễn hoặc về bà ca sĩ opera này.
Tối hôm đó La Falterona vận một bộ pyjama xanh nhạt bằng vải sa tanh (bà ta rất thích chất liệu này) và dội một mũ trùm bằng nhung xanh – có lẽ là để bảo vệ mái tóc. Ngoài một vài cái nhẫn, một vòng cổ ngọc trai, một hai vòng đeo tay và một chiếc ghim kim cương cài ngang eo, bà ta không đeo nữ trang gì khác. Bà ta có rất nhiều điều để kể cho tôi nghe về chuyến lưu diễn thành công ở Châu Mỹ La tinh. Bà ta kể không ngớt rằng chưa bao giờ giọng bà lại hay đến thế, chưa bao giờ khán giả hoan hô nhiệt liệt đến thế, các nhà hát đã được đặt trước một thời gian dài, bà ta đã kiếm được rất nhiều tiền,…
- Đúng vậy không, Glaser? Maria hỏi lớn với một giọng Nam Mỹ rất nặng.
- Nhìn chung là đúng, cô Glaser trả lời.
La Falterona có thói quen khó chịu là gọi thư ký của mình bằng tên họ. Nhưng từ lâu rồi người phụ nữ đáng thương chẳng chú tâm đến điều ấy nữa.
- Người đàn ông mà chúng ta đã gặp ai ở Buenos Aires là ai ấy nhỉ?
- Ai cơ?
- Đừng làm ra vẻ ngốc nghếch thế, Glaser! Tôi biết là cô còn nhớ đấy. Cái ông mà tôi đã từng lấy làm chồng ấy.
- Pepé Zapata, - cô Glaser trả lời cụt lủn.
- Hắn ta chẳng có xu dính túi và còn bạo gan xin tôi trả lại cho hắn chiếc vòng nạm kim cương hắn đã tặng tôi. Hắn nói đó là của mẹ hắn.
- Trả lại hắn chiếc vòng đó thì bà cũng có chết đâu. Cô Glaser nói. Có bao giờ bà đeo nó đâu.
- Trả lại? La Falterona kêu lên, bà ta ngạc nhiên đến mức chuyển sang nói giọng Anh chuẩn. Trả nó lại cho hắn ta ư? Cô điên hay sao đấy?
La Falterona nhìn cô Glaser như thể muốn cô ấy lên cơn động kinh ngay tại chỗ. Bà ta đứng dậy và rời khỏi bàn – lúc đó chúng tôi đã ăn xong.
- Chúng ta hãy ra ngoài đi. Nếu như tôi không phải là người rất kiên nhẫn thì tôi đã cho cô ta thôi việc từ lâu rồi.
La Falterona và tôi đi ra ngoài còn cô Glaser thì ở lại trong nhà. Chúng tôi ra ngồi ngoài hiên nhà. Trong vườn có một cây thông tuyết rất đẹp, những cành cây đen nổi rõ trên bầu trời đầy sao. Biển ngay gần sát dưới chân chúng tôi yên ả tuyệt vời. Đột nhiên La Falterona giật mình:
- Tẹo nữa thì tôi quên. Glaser, thật là ngớ ngẩn, tại sao cô ta lại không nhắc tôi cơ chứ? Tôi rất giận ông đấy.
- Ồ thế thì tôi phải mừng vì bà đã chỉ nhớ ra chuyện ấy sau bữa ăn đấy.
- Anh bạn của ông và cuốn sách của anh ta!
- Anh bạn nào và cuốn sách nào? Tôi không hiểu La Faltarona muốn nói đến chuyện gì.
- Đừng có giả vờ như thế! Anh bạn trẻ láu cá, dáng vẻ dị dạng mặt láng bóng ấy. Anh ta đã viết một cuốn sách về tôi.
- A, tôi nhớ rồi. Peter Melrose. Nhưng người trong truyện của anh ta không phải là bà đâu.
- Này đừng có mà gạt tôi. Anh ta đã dám gửi sách cho tôi.
- Chắc là bà đã lịch sự trả lời anh ta.
- Ông tưởng rằng tôi có thời gian viết cho tất cả những người gửi cho tôi những cuốn sách vớ vẩn của họ hay sao? Có lẽ là Glaser đã trả lời anh ta. Ông không có quyền mời tôi đến ăn tối với anh ta như thế. Tôi đã đến chỉ vì tôi nghĩ ông muốn gặp tôi. Tôi thật không ngờ mình đã bị lợi dụng như vậy. Thật đáng buồn nếu như người ta không còn có thể tin vào phép lịch sự của ngay cả những người bạn thân nhất nữa. Tôi sẽ không bao giờ ăn tối cùng ông nữa đâu. Không bao giờ, không bao giờ!
Cảm thấy rằng La Falterona đang sắp sửa nổi giận ghê gớm tôi vội vàng ngắt lời bà ta trước khi quá muộn:
- Coi nào, bà bạn thân mến, bà hiểu sai rồi. Trước hết nhân vật ca sĩ opera, tôi đồ rằng bà muốn nói đến nhân vật ấy…
- Thế chẳng lẽ ông tưởng tôi nói đến nhân vật cô hầu hay sao?
- Được rồi. Nhân vật nữ ca sĩ đã được phác thảo trước cuộc gặp gỡ của chúng ta và hơn nữa cô ta cũng chẳng giống bà chút nào cả.
- Sao lại không? Tất cả bạn bè đều đã nhận ra tôi. Đó đúng là bức chân dung của tôi mà.
- Marie! Tôi phản đối.
- Tôi tên là Maria và ông biết rất rõ điều đó. Nếu gọi tôi như thế quá khó đối với ông thì hãy gọi tôi là Bà Falterona hay Công Chúa.
Tôi làm ra vẻ không nghe thấy gì.
- Thế bà đã đọc cuốn sách đó chưa?
- Tất nhiên là rồi chứ. Tất cả mọi người ai cũng bảo là cuốn sách đó nói về tôi.
- Nhưng nhân vật trong truyện mới chỉ hai mươi tuổi.
- Những phụ nữ như tôi không có tuổi.
- Cô ấy rất giỏi âm nhạc, hiền như chim bồ câu, tốt như bánh mì, thật thà trung thực, vô tư. Bà nghĩ rằng bà là như thế sao?
- Thế ông thấy tôi thế nào?
- Nghiệt ngã, tàn nhẫn, mưu mô và ích kỷ, thời nay chẳng còn ai như bà.
Bà ta ném cho tôi một câu chửi thề mà bình thường một người phụ nữ có giáo dục không bao giờ nói đối với một người đàn ông, mặc dù có nhiều tật xấu, nhưng cũng không bao giờ làm mất danh dự của mẹ mình. Tuy nhiên, mặc dù ánh mắt bà ta có loé lên một chút tôi không cảm thấy là bà ta nổi giận. Bà ta đã coi lời tôi vừa nói như là một lời khen.
- Thế còn chuyện chiếc vòng ngọc lục thì ông giải thích thế nào? Ông sẽ lại chối là không phải là ông nói cho anh ta biết ư?
Câu chuyện chiếc vòng ngọc lục là như thế này:
La Falterona đã từng có một mối tình say mê với một hoàng tử một nước lớn và vị hoàng tử đã tặng bà ta một chiếc vòng ngọc lục rất có giá trị. Một buổi tối họ cãi nhau, đã có những lời không hay và khi vị hoàng tử nói đến chiếc vòng La Falterona giật nó ra và ném ngay vào lửa. Thấy vậy, hoàng tử, vốn bản tình rất keo kiệt kêu lên hốt hoảng và vội vàng quỳ xuống bới than để tìm chiếc vòng. La Falterona kinh bỉ nhìn ông ta lăn bò dưới đất. Bà ta cũng rất keo kiệt nhưng lại rất coi thường tính tiết kiệm của người khác.
Rồi bà ta kết thúc câu chuyện bằng một câu khẳng định:
- Sau chuyện đó tôi không thể nào yêu ông ta được nữa.
Peter Melrose đã rất thích giai thoại đó và đã đưa vào tiểu thuyết của mình.
- Tôi đã gửi gắm cho ông bí chuyện của tôi và tôi chưa bao giờ kể nó cho ai khác. Không ngờ ông lại phụ sự tin tưỏng của tôi. Ông và cả anh bạn của ông nữa thật quá đáng, tôi không thể nào bỏ qua chuyện này được.
- Nhưng tôi đã từng thấy bà kể chuyện này ra cả hơn chục lần rồi. Hơn nữa, Florence Montgomerie đã kể chuyện tương tự giữa bà ấy và hoàng tử Rudolf. Đó là một trong những giai thoại mà bà ta thích nhất. Lola Montez cũng nói như thế về mình và Chúa vùng Baviere và tôi dám chắc rằng Nell Gwyn và vua Charles II cũng vậy. Câu chuyện này xưa như trái đất rồi.
La Falterona hơi sững lại nhưng lấy lại bình tĩnh rất nhanh chóng:
- Chyện xảy ra nhiều lần thì cũng có gì lạ đâu. Ai mà chả biết rằng phụ nữ thì đam mê còn đàn ông thì keo kiệt. Nếu ông không tin thì tôi có thể cho ông xem chiếc vòng ấy. Tất nhiên là tôi đã phai cho sửa lại nó.
- Trong chuyện của Lola Montez thì đó là một chuỗi ngọc trai - tôi châm biếm - chắc là nó đã bị hỏng nặng rồi.
- Ngọc trai ư? - Bà ta kêu lên với một nụ cười rất tươi như thường lệ - Tôi đã kể cho ông nghe về Benjy Reseinbaum và cái vòng ngọc trai chưa? Ông có thể lấy nó để viết một chuyện ngắn đấy.
Benjy Reisenbaum là một người vô cùng giàu có và tất cả mọi người đều biết rằng ông ta đã là người tình của La Falterona trong một thời gian dài. Ngôi nhà sang trọng mà bà ta đang ở cũng chính là do ông ta mua.
- Ông ta đã tặng tôi một chiếc vòng cổ rất đẹp, khi đó tôi đang diễn ở Metropolitan, New York. Sau đó đã cùng về Châu Âu với tôi. Ông không biết ông ấy phải không?
- Không.
- Nhìn chung ông ấy rất tử tế nhưng lại có máu ghen kinh khủng. Trên tàu đi về chúng tôi đã cãi nhau to chỉ vì có một sĩ quan trẻ người Ý đã đi cạnh tôi mà ông ấy thấy là gần gũi quá. Chúa cũng biết rằng tôi là người dễ tính nhất trên đời nhưng dẫu sao thì tôi cũng nhất định không thể để một gã đàn ông ngược đãi tôi được. Tôi phải giữ danh dự của tôi chứ. Tôi đã đuổi ông ta đi, ông hiểu ý tôi chứ, và ông ta đã dám tát tôi! Chẳng cần nói ông cũng biết được lúc đó tôi tức như thế nào. Tôi giật ngay chiếc vòng đeo trên cổ và ném xuống biển. "Cái vòng đó trị giá năm mươi nghìn đô la đấy" - ông ta lắp bắp. Tôi thực sự khinh thường ông ta. "Giá của nó là tình yêu của tôi dành cho ông đấy!" tôi nói rồi quay gót ngay.
- Bà đã hành động thật dại dột.
- Tôi đã không thèm nói chuyện với ông ta trong suốt hai tư giờ đồng hồ. Ông ta đã phải quỳ xuống nì nèo xin lỗi mãi. Về đến Paris, việc đầu tiên à ông ta đến cửa hàng Cartier mua cho tôi một chiếc vòng khác cũng đẹp không kém.
Quay sang tôi với một nụ cười tinh quái bà ta nói tiếp:
- Ông nói tôi ngốc nghếc đúng không? Thực ra tôi đã gửi chiếc vòng thật ở một ngân hàng New York bởi tôi biết rằng mùa sau tôi sẽ lại quay trở lại. Chiếc vòng mà tôi vứt xuống biển chỉ là đồ nhái thôi.
Bà ta phá lên cười vui như một đứa trẻ. Những trò đùa như vậy luôn làm cho bà ta rất thích thú.
- Đàn ông các ông thật khờ khạo - bà ta vừa lấy lại hơi vừa nói - ông cũng tưởng tôi đã vứt cái vòng thật ư?
La Falterona lại phá lên cười. Bà ta thực sự rất vui. Và khi thôi cười bà gọi vọng vào nhà:
- Tôi muốn hát, Glaser, hãy đệm đàn cho tôi đi.
Tiếng Glaser trả lời:
- Sao lại hát bây giờ? Bà vừa mới ăn no xong mà.
- Đồ phù thuỷ! Hãy im miệng đi, tôi nói cô chơi nhạc cơ mà.
Không có tiếng cô Glaser trả lời và một lát sau cô ta bắt đầu chơi mấy nhịp dạo đầu của một bản cantat của Schumann - một bài dễ hát và tôi nghĩ rằng cô Glaser đã cố ý chọn bài này. La Falterona bắt đầu hát, ban đầu chỉ hát nho nhỏ rồi, khi cảm thấy giọng mình vẫn ổn, bà ta bắt đầu hát thoải mái hơn. Bài hát kết thúc. Cô Glaser cảm thấy La Falterona rất vui và vẫn muốn hát tiếp. Luc đó bà ta đang đứng dựa vào cửa sổ quay lưng lại phía phòng khách, ngắm nhìn mặt biển lấp lánh và bóng cây thông tuyết in lên bầu trời. Buổi tối thật êm đềm và thơ mộng. Cô Glaser nhấn tiếp vài nốt nhạc. Tôi khẽ rùng mình và La Falterona cũng hơi giật mình và khi nhận ra nốt nhạc tôi cảm thấy như bà ta trầm lắng xuống:

“Nhẹ nhàng và êm dịu, anh ấy cười
Như đôi mắt anh ấy mở."

Đoạn nhạc viết về cái chết của Yseult. Chưa bao giờ La Falterona hát nhạc của Wagner, có lẽ do sợ phải gắng sức nhưng có lẽ bà ta đã hát đoạn này trong các buổi biểu diễn rồi. Mặc dù rằng lúc này bà chỉ có tiếng piano trong vắt làm nhạc đệm nhưng, trong khung cảnh thơ mộng của đêm nay, tiếng hát thật tuyệt vời. Âm hưởng tuyệt diệu của đoạn nhạc tràn vào không gian tĩnh lặng, giữa bầu trời đầy sao và lan ra trên mặt nước. Chất giọng của La Falterona thật tuyệt vời, mặn mà và trong vắt, bà đã hát với cảm xúc sâu lắng, với biết bao thiết tha và với một cái gì đó rất đẹp nhưng rất buồn làm cho trái tim tôi vỡ ra vì xúc động. Khi La Falterona ngưng hát tôi cảm thấy họng mình ứ nghẹn và nhận thấy dòng nước mắt đang chảy tràn trên mặt bà. Tôi không muốn nói gì và La Falterona cũng đứng im lặng lẽ ngắm nhìn mặt biển.

Thật là một phụ nữ đặc biệt! Lúc đó, ngay cả với tất cả những tính xấu kinh khủng của bà ấy, tôi cảm thấy bà ấy dễ mến hơn biết bao so với cái hình mẫu lý tưởng mà Peter Melrose đã xây dựng lên. Mọi người vẫn trách tôi thường dễ cảm thông với những người xấu trên mức có thể chấp nhận được. Đúng là bà ta có đáng ghét, nhưng thật quyến rũ biết bao!

--------------

(*) Một tộc người thuộc vùng cận đông.

Toujours plus loin vers l'inconnu
Đăng nhập để trả lời
0
TRỞ VỀ TỔ ẤM


William Sommerset MAUGHAM, “Complete Short Stories”, William Heinemann, London, 1951.
prusten dịch


Trang trại của gia đình Meadows nằm ẩn mình trong thung lũng giữa những ngọn đồi vùng Somerset. Đó là một ngôi nhà cũ kỹ bằng đá được bao bọc bởi các kho thóc, tường rào và đất trồng. Trên một miếng đá được khắc rất công phu gắn ngay phía trên cánh cửa người ta có thể đọc được năm xây dựng ngôi nhà: 1763. Mặc cho năm tháng đã làm cho căn nhà rêu cũ nhưng nó vẫn đẹp lạ kỳ trong khung cảnh thiên nhiên với các hàng cây bao xung quanh. Toà lâu đài rất tự hào có một lối đi có hàng cây trồng hai bên dẫn vào một khu vườn được chăm tỉa cẩn thận. Những con người sống ở đây cũng vững vàng, mạnh mẽ và giản dị như ngôi nhà vậy; điều tự hào duy nhất của họ là kể từ khi ngôi nhà được xây dựng, các thế hệ trong gia đình, đời này nối tiếp đời sau đều sinh ra và mất đi ngay trong chính ngôi nhà này mà không có một ngoại lệ nào cả. Trong vòng ba trăm năm họ đã khai phá và trồng trọt các vùng đất xung quanh. Ông George Meadows năm nay năm mươi tuổi và bà vợ kém ông chừng một, hai tuổi. Thời trai trẻ, cả hai đều là những con người dũng cảm và chân thật; và cả những đứa con của họ, hai trai hai gái cũng đều xinh đẹp và khỏe mạnh. Không giống như những người trẻ tuổi thời nay là đi đây đó đuổi tìm theo những bóng hồng hoặc những chàng hiệp sỹ, họ ở lại nông trang và lấy làm tự hào vì điều đó. Tôi chưa bao giờ gặp một gia đình nào lại gắn kết với nhau đến vậy. Vui vẻ, yêu lao động, chan hoà với mọi người, gia đình nhà Meadows có một cuộc sống hoà hợp trọn vẹn đến nỗi có thể ví với một bản giao hưởng của Beethoven hoặc một bức tranh của Titien. Họ sống hạnh phúc và họ xứng đáng được như vậy. Nhưng người chủ của cơ ngơi đó lại không phải là ông George Meadows (đúng ra là phải như vậy) mà là mẹ của ông. Và theo như mọi người nhận xét thì ông con trai chỉ bằng một nửa của bà. Đó là một người phụ nữ bảy mươi tuổi, to lớn, cứng rắn và trang nghiêm với mát tóc màu ghi và một đôi mắt ánh lên vẻ tinh quái cho dù gương mặt đã có nhiều nếp nhăn. Tiếng nói của bà rất có trọng lượng trong gia đình và ở trang trại; nhưng bà lại rất hài hước và quyền lực chuyên chế của bà lại chứa đựng trong đó lòng tốt. Bà luôn làm cho mọi người cười vì những câu chuyện tiếu lâm và rồi tất cả thường kể đi kể lại câu chuyện của bà. Đó là một người phụ nữ chín chắn trong công việc và không ai có thể lừa được bà. Đó là một bà chủ thực thụ.

Một ngày nọ, bà vợ ông George (với chúng tôi thì chỉ có một bà Meadows, đó là bà chủ trang trại còn con dâu của bà - vợ ông George chỉ được gọi là bà George) đã chặn tôi lại khi tôi đang trên đường trở về nhà, bà ta trông rất hốt hoảng.
- Ngài thử đoán xem có chuyện gì đã xảy ra ngày hôm nay?- Bà George hỏi tôi. Bác George Meadows đã trở về đấy. Ngài có nhớ không, cái ông mà đã từng ở Trung Quốc ấy.
- Nhưng tôi tưởng ông ấy chết rồi cơ mà.
- Thì chúng tôi cũng thế.

Tôi đã được nghe kể câu chuyện về ông bác George này đến cả chục lần và câu chuyện này rất thú vị vì nó mang âm hưởng của những bản ballade cổ điển: rất hiếm khi có thể gặp được một câu chuyện cảm động đến như vậy trong thực tế. Ông bác George và cậu em Tom cách đây năm mươi năm đã từng cùng say mê bà Meadows, thời mà bà còn mang cái tên Emily Green và khi bà và ông Tom lấy nhau thì ông George bỏ đi.
Ông đã tới bờ biển Trung Quốc và dừng chân ở đó. Cách đây chừng hai mươi năm, thỉnh thoảng ông lại gửi quà cho mọi người trong gia đình; sau đó thì không ai nhận được tin tức của ông nữa. Khi ông Tom chết, vợ ông đã gửi thư thông báo cho ông George nhưng không nhận được thư trả lời và tất cả mọi người đều đi đến kết luận là bác George đã chết. Nhưng cách đây hai, ba ngày gì đó cả gia đình đã rất bất ngờ khi nhận được bức thư của bà giám đốc Trung tâm điều dưỡng thuỷ thủ ở Portsmouth. Trong thư bà ta thông báo rằng từ mười năm trở lại đây, ông George Meadows do bị bệnh thấp khớp rất nặng nên đã được nuôi dưỡng tại trại và giờ đây khi linh cảm cái chết sắp đến gần ông có nguyện vọng muốn được trở về căn nhà nơi ông đã sinh ra.
Albert Meadows, con trai tôi đã đến Portsmouth để đón ông trên chiếc xe Ford, còn cả gia đình thì đang bồn chồn chờ đón ông trở về.
- Ngài hãy nghĩ mà xem, bà George nói, đã năm mươi năm kể từ ngày bác ấy ra đi, không biết thằng Albert có đón được bác ấy không.
- Thế mẹ chồng bà, bà Meadows thì nghĩ sao về tất cả chuyện này?
- Ôi, Ông biết bà ấy rồi đấy. Bà ấy cứ cười một mình trong phòng thôi. Tất cả những gì bà ấy nói đó là: "Khi ông ấy ra đi ông ấy là một chàng thanh niên đẹp trai nhưng không được nghiêm túc bằng em trai ông ấy". Chính vì lí do đó mà bà đã chọn bố chồng tôi. Bà còn nói thêm rằng: “Nhưng chắc chắn là ông ấy đã thay đổi và chín chắn hơn nhiều rồi".
Bà George đã đề nghị tôi nếu muốn hãy qua chơi nhà họ để gặp ông bác George. Với sự ngây thơ của một phụ nữ nông dân không bao giờ đi đâu xa hơn thủ đô Luân đôn bà nghĩ rằng chuyến phiêu lưu ở Trung Quốc có thể làm cho chúng tôi thân thiện với nhau hơn. Tất nhiên là tôi đã đồng ấy. Khi tôi đến thì cả gia đình đang quây quần trong căn bếp cũ, rộng và được lát bằng đá liếc hái. Bà Meadows ngồi thẳng thắn trong chiếc ghế quen thuộc của bà gần lò sưởi và tôi thấy rất thú vị khi nhận thấy rằng tối nay bà mặc chiếc váy lụa đẹp nhất của mình, còn con trai và con dâu của bà ngồi quanh chiếc bàn cùng với các con và ở phía bên kia của lò sưởi là một người đàn ông già nua ngồi trong chiếc ghế. Ông ta trông rất gày gò, cảm tưởng như chỉ còn da bọc xương giống như đang khoác một chiếc áo cũ kỹ và quá rộng lên người. Khuôn mặt của ông nhăn nheo vàng bủng và răng của ông đã rụng gần hết.
Tôi tiến đến bắt tay ông.
- Tôi rất mừng khi thấy ông đã trở về bình yên vô sự, ông Meadows - tôi nói với ông ta.
- Thuyền trưởng Meadows - ông đính chính lại.
- Ông đã cố gắng đi bộ vào đến nhà đấy, đứa cháu Albert nói. Khi xe đến lối vào nhà, ông đã bắt cháu dừng xe lại và ông muốn đi bộ vào nhà.
- Mọi người nên biết rằng đã từ hai năm nay tôi không bước chân khỏi giường! Họ đã chuyển tôi xuống một chiếc băng ca để đưa ra xe ô tô. Tôi đã nghĩ rằng mình sẽ không bao giờ còn có thể đi được, nhưng khi tôi nhìn thấy những hàng cây du này trên lối vào nhà thì tôi nghĩ đến người em của tôi đã từng rất rất tự hào vì hàng cây này và tôi bỗng cảm thấy muốn bước đi. Tôi rời căn nhà này đã năm mươi hai năm, ra đi trên đôi chân của mình trên lối đi này và giờ đây tôi cũng muốn quay trở về nhà trên chính đôi chân của mình.
- Theo tôi như thế là không tốt đâu, bà Meadows nói.
- Điều đó làm cho tôi thấy thoải mái. Đây là lần đầu tiên sau mườinăm tôi lại cảm thấy mình mạnh khỏe. Tôi sẽ chết sau bà đấy, Emily.
- Đừng có tin chắc quá như thế!-bà trả lời.
Tôi nghĩ rằng đã từ nhiều năm nay chưa có ai gọi bà Meadows bằng tên thời con gái của bà. Tôi cảm thấy hơi ngạc nhiên khi thấy người đàn ông này cho phép mình được tỏ ra suồng sã với bà Meadows. Bà nhìn ông với ánh mắt tươi cười và láu lỉnh còn ông George cũng nở một nụ cười tười để lộ hàm răng đã rụng gần hết ra khi nói chuyện với bà. Tất cả đã quan sát một cách tò mò cuộc gặp gỡ sau nửa thế kỷ này của hai con người già cả; và trong thời gian qua, ông đã từng yêu bà còn bà lại yêu một người khác! Tôi tự hỏi không biết họ có nhớ về những tình cảm của họ thời đó và về những gì họ đã từng nói với nhau không. Tôi không biết là ông George lúc này có cảm thấy lạ thường không khi ông đã bỏ lại gia sản, bỏ lại căn nhà của cha ông để đi sống lưu vong vì người phụ nữ này?
- Thế ông có lập gia đình không, thuyền trưởng Meadows?-tôi hỏi ông
- Chưa bao giờ, - ông trả lời với giọng hơi run và ông mỉm cười. Tôi đã biết quá rõ phụ nữ.
- Đấy là ông nói! - bà Meadows đáp lời. Nếu mà tất cả mọi người đều biết được sự thật thì tôi cũng sẽ không thấy ngạc nhiên khi biết rằng ông đã có đến nửa tá các cô da đen.
- Ở Trung quốc các cô gái có màu da vàng chứ không phải màu đen, Emily, nếu bà không biết điều đó thì tôi thực sự ngạc nhiên đấy.
- Chính vì thế mà họ đã làm ông đổi màu da đấy.! Khi vừa nhìn thấy ông, tôi đã tự bảo mình là ông đã bị bệnh vàng da!
- Tôi đã nói là tôi sẽ không lấy ai khác ngoài bà, Emily và tôi đã giữ lời hứa.
Khi nói những lời này ông hoàn toàn không thể hiện một chút gì căm hận hay yêu thương mà chỉ đơn giản là một sự ghi nhận cũng giống như khi ông tuyên bố:"Tôi đã nói là tôi sẽ đi bộ ba mươi cây số và tôi đã giữ lời hứa". Dường như có một chút thoả mãn trong giọng nói của ông.
- Vậy ra là ông sẽ hối hận nếu như ông lấy tôi– bà thêm vào.
Tôi ở lại nói một vài câu chuyện về đất nước Trung quốc với ông già.
- Tôi quen thuộc tất cả các cảng biển của Trung Quốc như trong lòng bàn tay mình vậy. Tôi đã đến tất cả các nơi mà tàu thuyền có thể vào được. Thậm chí nếu ngài có ngồi nghe tôi kể trong suốt sáu tháng thì tôi cũng không thể kể hết được một nửa những gì mà tôi đã trải qua và nhìn thấy trong suốt thời trai trẻ.
- Nhưng theo những gì mà tôi biết, thì ít nhất có một thứ mà ông đã để tuột mất - bà Meadows nói, cũng với nụ cười giễu cợt nhưng không còn vẻ tinh quái nơi khoé mắt - đó là cơ nghiệp của gia đình.
- Tôi không phải là loại người thích tích góp tiền bạc, khẩu hiệu của tôi là: kiếm được bao nhiêu thì tiêu bấy nhiêu. Nhưng có một điều mà tôi muốn nói ra để biện hộ cho mình đó là nếu được làm lại thì tôi sẽ làm lại đúng như thế. Và không phải ai cũng có thể nói được như vậy.
- Ồ đúng là như vậy đấy!- tôi nói.
Tôi nhìn ông già với sự kính trọng và lòng khâm phục. Đó là một người đàn ông già nua, móm mém, bại liệt và hoàn toàn kiệt sức nhưng ông lại đã rất thành công trong cuộc đời mình vì ông cảm thấy hoàn toàn thoả mãn với nó. Khi tôi chào tạm biệt ông để ra về, ông đã đề nghị tôi hãy đến chơi ngày mai và nếu đất nước Trung Quốc làm tôi quan tâm thì ông sẽ kể cho tôi nghe tất cả các câu chuyện mà tôi muốn.

Sáng hôm sau, tôi quyết định đến xem bà chủ trang trại có muốn tiếp đón tôi không. Tôi đi vào con đường có hai hàng cây du và bước vào vườn nơi tôi nhìn thấy bà Meadows đang hái hoa. Tôi chào bà và bà ngửng lên. Bà đang ôm trong tay một bó hoa trắng lớn. Tôi nhìn về hướng ngôi nhà và nhận thấy rằng tất cả các tấm rèm cửa đều được kéo lại. Tôi thấy ngạc nhiên vì bà Meadows rất thích ánh sáng mặt trời.
Bà đã từng hay nói rằng “Chúng ta sẽ có rất nhiều thời gian sống trong bóng tối đó là khi chúng ta chết”
- Thuyền trưởng Meadows thế nào rồi thưa bà? – tôi hỏi.
- Thì vẫn như đang ở trên mây ấy!- bà trả lời. Sáng nay khi Lizzie mang trà lên thì đã thấy ông ấy chết rồi.
- Chết rồi ư?
- Ông ấy chết khi đang ngủ. Tôi vừa mới hái hoa để đặt trong phòng của ông ấy. Tôi rất mừng vì ông ấy đã được chết ngay tại căn nhà của tổ tiên. Đối với những người nhà Meadows thì đó là điều đáng được coi trọng nhất trên đời.
Mọi người trong gia đình tối hôm trước đã rất vất vả mới thuyết phục được ông ấy đi nghỉ. Ông ấy đã kể về tất cả những gì đã xảy đến với ông trong quãng đời đã qua. Ông đã cảm thấy rất hạnh phúc khi được trở lại ngôi nhà yêu quý của mình. Ông cảm thấy thật tự hào khi đã tự mình đi bộ vào nhà mà không cần ai giúp đỡ và ông còn nói chắc rằng ông sẽ sống ở đây thêm hai mươi năm nữa. Nhưng Chúa trời đã sắp đặt mọi chuyện thật tuyệt vời bằng cách đặt dấu chấm hết vào đúng lúc.
Bà Meadows hít lấy hương thơm từ bó hoa trắng bà vẫn ôm trên tay.
- Tôi rất hạnh phúc vì ông ấy đã trở về, bà nói. Sau đám cưới với ông Tom và sau khi ông George bỏ đi, thật sự là tôi đã không bao giờ biết chắc được là sự lựa chọn của mình có đúng hay không.

Toujours plus loin vers l'inconnu
Đăng nhập để trả lời
0
Xin lỗi các bạn hôm trước gửi tác phẩm Cô gái mộng mơ mình đã gửi nhầm phiên bản còn mốt số chỗ còn phải chỉnh sửa. Mình mới sửa chữa lại lỗi này bằng phiên bản cuối cùng đã đăng lại rồi.

Rất mong sự thông cảm của các bạn đã lỡ đọc bản cũ.

PRUSTEN

Toujours plus loin vers l'inconnu
Đăng nhập để trả lời
0
LỜI THỀ


William Sommerset MAUGHAM, “Complete Short Stories”, William Heinemann, London, 1951.
prusten dịch


Vợ tôi hoàn toàn không có một chút khái niệm nào về sự chính xác. Một ngày nọ tôi hẹn nàng cùng đi ăn trưa ở nhà hàng Claridge và tôi cũng chẳng lấy làm ngạc nhiên khi tôi đến đã muộn 10 phút mà vẫn chẩng thấy nàng đâu. Tôi gọi một ly coktail. Đang là giữa mùa hè nên chỉ còn một hay hai bàn trống trong đại sảnh của khách sạn. Một vài người khách có mặt ở đó đến ăn trưa từ sớm, số khác cũng giống như tôi đành kiên nhẫn bằng cách nhấm nháp ly coktail. Những chiếc váy mùa hè của các bà các cô tạo cảm giác vui vẻ và làm tăng thêm vẻ duyên dáng của họ, còn những người đàn ông hình như đều có tâm trạng vui vẻ; nhưng tôi chẳng thấy ai có vẻ hay hay để có thể nói chuyện cho qua cái thời gian chờ đợi mà tôi đã nhìn thấy trước cả. Dáng vẻ thanh mảnh duyên dáng của họ, vẻ lịch sự của những bộ quần áo họ mặc, vẻ thư thái trong cử chỉ của họ cũng không cản trở việc hầu hết bọn họ trông giống hệt nhau và tôi đưa mắt nhìn họ độ lượng và không chút tò mò. Nhưng đã hai giờ chiều và tôi thấy đói. Vợ tôi nói với tôi rằng cô ta không thể đeo đồng hồ cũng chẳng đeo vòng ngọc lam vì đồng hồ thì không chạy còn ngọc lam lại làm xanh da; nàng biểu lộ sự trái ngược. Tôi không có ý kiến gì về vòng ngọc lam nhưng tôi nghĩ là đồng hồ sẽ chạy tốt hơn nếu nàng chịu lên dây cho nó. Tôi cứ nghĩ về chuyện đó cho đến khi một nhân viên phục vụ khách sạn tiến đến chỗ tôi và với một giọng điệu đầy bí mật nhưng tự tin như thể điều anh ta sắp nói ra chứa đựng tin dữ, anh ta cho tôi biết rằng có một phụ nữ gọi điện đến nhờ báo cho tôi biết là cô ta không thể đến ăn trưa cùng với tôi được.
Tôi hơi lưỡng lự vì ăn một mình trong khách sạn thì chẳng thích thú gì nhưng bây giờ cũng đã quá muộn để đi ăn ở chỗ khác và cuối cùng tôi đành quyết định ở lại ăn ở nhà hàng Claridge của khách sạn. Tôi bước uể oải vào phòng ăn. Khác với hầu hết những người đàn ông trên thế giới này việc được quen biết đích danh với ông chủ khách sạn không làm tôi thích thú gì, nhưng trong lúc này tôi thấy rất muốn được đón tiếp một cách hiệt tình. Người chủ khách sạn có khuôn mặt gườm gườm thông báo với tôi là không còn bàn nào trống cả. Tôi đưa mắt nhìn quanh phòng ăn lớn và bỗng nhiên thấy thích thú khi nhìn thấy một người quen. Đó là quý bà Elizbeth Vermont, một người bạn lâu năm. Bà ta nhìn tôi cười và khi thấy bà đang ngồi một mình, tôi tiến đến chỗ bà:
- Bà có thể vui lòng cho kẻ đang đói lả này được ngồi cùng bàn với bà không? – tôi hỏi bà.
- Ông cứ ngồi xuống đi. Tôi cũng sắp xong rôi.
Bà ta chọn một chiếc bàn nhỏ gần một cây cột lớn và khi ngồi xuống tôi có cảm giác như thể chúng tôi cách biệt với tất cả những khách hàng khác trong phòng.
- Thật may là tôi lại gặp bà, tôi cảm thấy đói lả rồi, - tôi nói.
Bà nở một nụ cười rất duyên dáng; nó làm rạng rỡ khuôn mặt của bà trong thoáng chốc nhưng vẻ duyên dáng của bà dường như xuất hiện từ từ. Nó phảng phất một thoáng trên môi của bà trước khi lên đến đôi mắt và dừng ở đó. Tôi chắc chắn rằng không ai có thể nói là Elizabeth Vermont được rập theo một khuân mẫu chung. Tôi không được biết bà khi còn trẻ nhưng tôi đã nghe nhiều người nói rằng hồi trẻ bà rất đẹp và tôi cũng tin chắc vào điều đó. Vì hiện nay khi bà đã năm mươi tuổi thân hình của bà vẫn rất tuyệt. Bên cạnh vẻ đẹp đã phôi pha của bà thì ngay cả sắc đẹp của nhưng cô gái xuân thì cũng trở nên vô vị. Tôi không thích những khuôn mặt được trang điểm giống hệt nhau; và tôi tin rằng những người phụ nữ thật dại dột khi cứ bôi trát để giữ lấy diện mạo và che đậy đi tính cách của bản thân. Nhưng cách trang điểm của Elizabeth Vermont không phải để bắt chước tự nhiên mà là làm cho nó đẹp hơn lên. Thay vì tranh cãi cái cách bà trang điểm, người ta tán thưởng kết quả nó mang lại. Sự táo bạo trong cách bà trang điểm không làm mờ đi cá tính của khuôn mặt bà mà còn tôn giá trị của nó lên. Tôi cho là bà ta đã nhuộm tóc vì nó có màu đen rất đẹp óng mượt và sáng. Bà ngồi hơi ưỡn người như thể không bao giờ có tư thế uể oải và bà có một dáng vẻ cao lớn. Bà mặc một bộ váy màu đen rất đẹp vì sự đơn giản về kiểu dáng và đeo một chuỗi ngọc trai. Một vật trang sức nữa mà bà đeo là chiếc nhẫn nạm ngọc lục bảo và ánh màu sẫm của nó càng làm nổi đôi bàn tay trắng trẻo. Dáng vẻ của đôi tay với các ngón được sơn màu lại là chỗ thể hiện tuổi của bà rõ nhất: chúng đã mất đi những đường cong mềm mại của bàn tay người con gái. Khi nhìn chúng người ta không thể ngăn được sự bối rối: các ngón tay của bà trông sắp giống với móng của con chim kền kền.

Elizabeth Vermont là một người phụ nữ đáng chú ý. Xuất thân từ một gia đình dòng dõi vì bà là con gái của vị công tước thứ bảy Saint-Erth, bà kết hôn với một người đàn ông rất giàu có khi mới mười tám tuổi và bước vào một cuộc sống xa hoa, truỵ lạc và đàng điếm. Bà đã quá kiêu căng để có thể nghĩ đến chuyện đề phòng bất trắc và quá liều lĩnh cũng chẳng để ý đến hậu quả của những hành động của mình. Kết quả là chưa đầy hai năm sau ông chồng đã ly dị bằng cách gây ra một vụ tai tiếng lớn. Bà ta kết hôn ngay sau đó với một trong ba người đã được nêu ra tại phiên toà như là người tình nhân của bà. Nhưng cũng chỉ kéo dài được mười tám tháng. Sự thay đôỉ liên tục người tình làm cho “phẩm hạnh” của bà ta trở nên nổi tiếng. Sắc đẹp lạ thường với những thói quen thiếu đạo đức của bà làm cho bà luôn luôn được người ta nhắc đến và thỉnh thoảng bà lại làm gì đó gây xôn xao giới thượng lưu. Với những người đứng đắn thì bà đáng bị khinh thường. Trong mắt họ thì đó là một phụ nữ vui vẻ, tiêu hoang, phóng đãng. Nhưng dù trong tình yêu bà luôn thay đổi nhưng bà lại là người rất trung thực trong tình bạn và dù có làm gì đi chăng nữa thì bà vẫn luôn có một nhóm người trung thành luôn chỉ thấy bà là một người tử tế. Bà luôn vui vẻ, thẳng thắn không đạo đức giả, dũng cảm và rộng lượng. Tôi đã làm quen với bà trong thời kỳ mà những người phụ nữ giới thượng lưu đang chuyển từ mốt tôn giáo sang mốt nghệ thuật và văn học. Khi bị những người cùng tầng lớp ruồng bỏ họ có thể hạ cố giao du với giới văn nghệ sỹ. Tiếp xúc với bà tôi thấy rất thú vị. Bà thuộc số những người may mắn chẳng phải ngại ngần khi nói ra những gì mình nghĩ (như vậy sẽ đỡ mất thời gian quý giá) và có tài đối đáp. Bà nói một cách rất dễ dàng và hài hước về quá khứ tai tiếng của bà. Cách nói chuyện của bà không có nhiều hiểu biết lắm nhưng lại hay vì dẫu sao thì bà cũng là một phụ nữ trung thực.
Sau đó bà đã làm một chuyện rất bất ngờ: bà đã cưới, vào độ tuổi bốn mươi, một chàng trai vừa mới qua tuổi vị thành niên. Bạn bè của bà nói rằng cả đời chưa bao giờ bà làm một điều gì ngông cuồng đến mức ấy và một vài người, cho đến thời điểm ấy vẫn chấp nhận được bà đã quyết định cắt đứt quan hệ với bàvì họ thấy thật đáng xấu hổ việc bà lợi dụng sự ngây thơ của cậu trai trẻ. Việc đó thực sự đã vượt quá mọi giới hạn. Và họ cho rằng sự việc sẽ lại kết thúc không đẹp đẽ gì, vì chưa bao giờ Elizabeth Vermont chung thuỷ với một người đàn ông nào quá sáu tháng. Họ còn hy vọng rằng bà lại tái phạm và kết thúc duy nhất có thể của câu chuyện là cậu trai trẻ thấy lối sống của vợ mình quá tai tiếng nên buộc phải bỏ bà. Tất cả bọn họ đã nhầm! Tôi không biết có phải là bà đã đổi tính theo thời gian hay là tình yêu và sự trong trắng của Peter Vermont đã cảm hoá bà nhưng đối với anh ta bà tỏ ra là một người vợ mẫu mực. Họ không giàu có và thế là bà đã trở nên rất quán xuyến và tiết kiệm, bà cũng chú ý đến danh tiếng của mình đến nỗi ngay cả những người cay độc nhất cũng không tìm thấy cớ gì để nói. Dường như việc làm cho Peter hạnh phúc là tất cả đối với bà. Chẳng ai có thể nghi ngờ gì tình yêu của bà đối với anh ta. Sau bao nhiêu thời gian là chủ đề của mọi đàm tiếu, nay Elizabeth Vermont chẳng còn làm gì để cho ai có thể nói về mình nữa. Có vẻ như là bà đã tới điểm dừng của mình. Bà không còn là người đàn bà ngày xưa nữa. Như thể là tất cả những năm tháng trong quá khứ tai tiếng kia không còn là của bà nữa mà là của một người đã chết từ lâu rồi. Quả thực là phụ nữ có khả năng quên rất dễ dàng khiến người khác phải ghen tị.
Nhưng ai có thể đoán trước được những gì mà số mệnh dành cho mình? Chỉ trong một nháy mắt, mọi việc thay đổi hoàn toàn. Sau mười năm sống vợ chồng lý tưởng, Peter Vermont phải lòng và yêu điên cuồng một cô gái trẻ mang tên Barbara Canton. Cô gái trẻ dễ mến ấy là con gái út của ngài Robert Canton, đã từng là thư ký nhà nước bộ ngoại giao. Cái đẹp nhí nhảnh của cô gái tóc vàng ấy dĩ nhiên là chẳng có gì để so sánh với cái đẹp của bà Elizabeth. Nhiều người đã biết chuyện nhưng không ai biết bà Elizabeth đã biết hay chưa và ai cũng tự hỏi không biết bà sẽ xử trí thế nào trong tình huống này - điều chưa từng xảy ra trong đời bà. Bình thường thì bà mới là người bỏ rơi người tình, bà chưa bao giờ bị ai bỏ cả. Phần tôi thì tôi nghĩ bà ta sẽ chiến thắng cô bé con Canton một cách dễ dàng, tôi rất biết tính táo bạo và khéo léo của bà. Và ngay lúc này, trong khi nói chuyện gẫu với bà tôi cũng nghĩ đến điều đó. Trông phong cách vui vẻ, duyên dáng và thẳng thắn như thường lệ của bà, chẳng có vẻ gì là đang có chuyện lo lắng cả. Bà vẫn nói chuyện như mọi khi, nói về bất kỳ chủ đề nào, thong dong, khôn khéo và khôi hài tinh tế. Tôi thấy rất thú vị khi nghe bà nói chuyện. Bởi vậy nên tôi kết luận rằng, bằng một phép lạ nào đó, bà hoàn toàn không biết gì vì sự thay lòng đổi dạ của Peter hoặc do bà đã quá yêu và không nhận ra rằng tình cảm anh ta dành cho bà đã có phần thay đổi.

Khi chúng tôi đã gọi đến tách cà fê thứ hai và hút hai hay ba điếu thuốc, bà hỏi tôi xem mấy giờ rồi:
- Ba giờ mười lăm.
- Tôi phải đi rồi.
- Bà cho phép tôi mời bà bữa cơm này chứ?
- Được thôi.
- Bà có vội không?
- Tôi có hẹn với Peter lúc ba giờ.
- Vậy à. Anh ta vẫn khoẻ chứ?
- Vẫn bình thường.
Bà mỉm cười, nụ cười rất tươi nhưng tôi có cảm giác nhận thấy một chút mỉa mai trong đó. Sau một khoảng khắc ngần ngại bà nhìn tôi và thong thả nói:
- Ông thường thích những chuyện lạ lùng, đúng không? Ông sẽ không thể nào đoán được điều tôi định làm bây giờ đâu. Sáng nay tôi đã gọi điện hẹn Peter ba giờ chiều nay để yêu cầu ly dị với anh ấy.
- Bà sẽ không làm thế thật chứ? Tôi buột miệng kêu lên và tôi cảm thấy mặt mình đỏ dừ, chẳng biết nói gì nữa. – Tôi cứ tưởng hai người hợp nhau lắm cơ mà?
- Thực sự ông nghĩ rằng tôi không biết điều mà tất cả mọi người đều đã biết hay sao? Tôi không ngốc đến mức ấy đâu.
Chẳng ai có thể dối được bà và tôi hiểu bà định ám chỉ điều gì. Sau một lát im lặng tôi hỏi:
- Tại sao bà lại quyết định ly hôn?
- Robert Canton là một lão già lắm điều. Tôi không nghĩ lão ta sẽ cho Barbara lấy Peter nếu như ly hôn có lợi cho tôi. Còn tôi thì ông biết đấy, một lần ly dị nữa, chẳng có gì quan trọng cả.
Bà nhún vai.
- Tại sao bà lại nghĩ rằng anh ta muốn cưới cô ấy?
- Anh ta yêu cô ả say đắm lắm.
- Anh ta đã nói với bà như vậy sao?
- Không. Thậm chí anh ấy không ngờ rằng tôi đã biết chuyện. Anh ấy thật tội nghiệp. Anh ấy làm tất cả để tránh cho tôi không bị đau khổ.
- Biết đâu đó chỉ là một mối tính bong bóng không có tương lai thôi.
- Tôi không nghĩ thế đâu. Barbara trẻ, đẹp, rất đáng yêu. Họ rất đẹp đôi. Vả lại tôi có lợi gì đây nếu như quan hệ của họ không không dài lâu? Họ yêu nhau và trong tình yêu thì chỉ có hiện tại là quan trọng thôi. Tôi hơn Peter mười chín tuổi. Một người đàn ông đã thoát khỏi một người đàn bà đáng tuổi mẹ mình, chẳng lẽ ông lại nghĩ rằng anh ta có thể quay lại ư? Ông là nhà văn, một người thông tường bản chất con người, chẳng lẽ ông lại ngây thơ đến thế sao?
- Tại sao bà lại phải hy sinh như thế?
- Khi anh ấy cầu hôn tôi cách đây mười năm, tôi đã thề sẽ trả lại tự do cho anh ấy khi anh ấy muốn. Ông thấy đấy, chênh lệch tuổi tác giữa chúng tôi quá lớn. Tôi thấy điều đó là cần thiết.
- Và bà đã giữ lời hứa trong khi chính anh ta không yêu cầu ư?
Một cái rùng mình thoáng qua trên cánh tay dài và gầy của bà và tôi thoáng như nhận thấy một điềm hung phản chiếu từ chiếc vòng ngọc bích màu sẫm bà đeo trên tay.
- Ồ, đó là điều phải làm, ông biết đấy. Tôi phải cư xử như một người đàn ông tử tể sẽ làm ở địa vị tương tự chứ. Thực ra, chính vì thế mà tôi có mặt ở đây hôm nay. Chính tại bàn này cậu ta anh ấy đã ngỏ lời cầu hôn với tôi. Chúng tôi đã ăn tối cùng nhau và tôi cũng ngồi ở đúng chỗ tôi đang ngồi đây. Điều phiền phức là đến giờ tôi vẫn còn yêu cậu ta như trước đây – bà ngừng lời một vài giây và tôi thấy bà bặm môi lại – Thế đấy. Thôi, tôi phải đi rồi. Peter không thích phải đợi.
Tôi nhận thấy một cái nhìn tuyệt vọng thoáng qua đôi mắt bà và tôi hiểu rằng bà không thể quyết định đứrời khỏi ghế. Thế nhưng bà mỉm cười rồi đứng dậy.
- Bà có muốn tôi tiễn bà không?
- Không xa quá cổng khách sạn đâu nhé. Bà mỉm cười.
Chúng tôi đi ngang qua phòng ăn, rồi đến sảnh và ra cửa, một người phục vụ mở cửa giúp chúng tôi, tôi hỏi bà có cần taxi không.
- Không, tôi thích đi bộ hơn, trời đẹp thế này cơ mà - bà đưa tay cho tôi – Tôi rất vui đã được gặp ông. Ngày mai tôi sẽ ra nước ngoài nhưng tôi dự định sẽ ở London suốt mùa thu và tôi hy vọng là ông sẽ gọi cho tôi đấy.
Bà mỉm cưởi khẽ gật đầu với tôi rồi đi. Tôi nhìn theo bà suốt dọc đường Davies Street. Vẫn còn không khí nhẹ nhàng của tiết mùa xuân và, phía trên những mái nhà, những đám mây trắng trôi lững lờ trên nền trời xanh. Bà đi rất thẳng, đầu ngửng cao. Cái dáng thanh mảnh và sắc đẹp của bà làm những người đi ngược chiều phải ngoái nhìn.
Tôi thấy bà nghiên mình một cách duyên dáng chào một người đàn ông quen biết đã ngả mũ chào bà và tôi nghĩ rằng ông ta không bao giờ đoán được rằng lúc đó trái tim bà đang tan nát.

Tôi nói lại một lần nữa, đó là một phụ nữ rất trung thực.

Toujours plus loin vers l'inconnu
Đăng nhập để trả lời
0
MỘT NGƯỜI ĐÀN ÔNG HẠNH PHÚC

William Sommerset MAUGHAM, “Complete Short Stories”, William Heinemann, London, 1951.
prusten dịch




Thật là một việc khó khăn khi quyết định cuộc sống của người khác và tôi luôn luôn ngạc nhiên trước sự tự tin của các chính trị gia, các nhà cải cách và những người đại loại như vậy, khi họ sẵn sàng áp đặt cho đồng loại những biện pháp làm thay đổi thói quen, chính kiến của người ta. Tôi luôn ngần ngại khi phải đưa ra những lời khuyên, làm sao ta có thể khuyên bảo người khác phải sống thế nào nếu như ta không biết họ như biết rõ chính bản thân? Có Chúa chứng giám tôi cũng còn chưa biết rõ về bản thân tôi, vậy nên tôi hoàn toàn không biết gì về người khác. Chúng ta chỉ có thể ước đoán suy nghĩ và tình cảm của người khác. Mỗi người chúng ta như là một tù nhân đơn độc trong một cái tháp và chúng ta trao đổi với những tù nhân khác của nhân loại qua những dấu hiệu được quy ước nhưng những dấu hiệu ấy không có ý nghĩa hoàn toàn giống nhau đối với tất cả mọi người. Và thật đáng tiếc, con người ta chỉ sống có một lần nên những sai lầm thường không thể sửa chữa được; vậy thì với tư cách nào tôi có thể nói ai đó phải sống như thế nào chứ? Cuộc sống thật khó khăn và tôi đã rất vất vả để làm cho cuộc sống của mình được hài hoà nên tôi thực sự không bao giờ muốn dạy cho người khác phải sống như thế nào. Thế nhưng có những người lưỡng lự trước con đường nhiều ngả không rõ ràng và nguy hiểm và đôi khi, mặc dù không muốn, tôi buộc phải khuyên một vài người nên chọn đường nào. Đôi khi có những người hỏi tôi: “Tôi phải làm gì với cuộc đời của tôi”? và trong một chốc lát tôi trốn vào bên trong cái áo choàng đen mang tên “Định mệnh”.

Đã có một lần tôi đã đưa ra một lời khuyên tốt.
Khi đó tôi còn trẻ và ở trong một căn hộ xoàng xĩnh gần ga Victoria ở London. Một hôm, cuối buổi chiều, đúng lúc tôi đang tự nói với mình “Hôm nay làm việc thế đủ rồi” thì tôi nghe thấy tiếng chuông cửa. Đứng trước cửa là một người đàn ông hoàn toàn xa lạ. Ông ta hỏi tên tôi, tôi trả lời rồi ông ta hỏi có thể vào nhà được không.
- Tất nhiên rồi.
Tôi mở cửa và mời ông ta vào ngồi. Ông ta có vẻ hơi lúng túng. Tôi mời ông ta một điếu thuốc và ông ta đã phải rất khó khăn mới châm được điếu thuốc mà không bỏ chiếc mũ ở tay ra. Khi ông ta châm thuốc xong, tôi đề nghị ông ta để tôi đặt chiếc mũ lên một chiếc ghế khác, ông ta làm ngay và đánh rơi chiếc ô.
- Hy vọng là anh không bị bất ngờ vì chuyến viếng thăm không báo trước này. Tôi tên là Stephens, tôi là bác sĩ. Anh cũng vậy đúng không?
- Đúng thế nhưng tôi không hành nghề.
- Tôi biết. Tôi vừa đọc một cuốn truyện của anh viết về Tây Ban Nha và tôi muốn hỏi ý kiến anh về chuyện này.
- Tôi e rằng cuốn sách đó không được hay lắm.
- Nhưng ít ra anh cũng là người hiểu biết về Tây Ban Nha, những người xung quanh tôi chẳng biết gì cả. Không biết anh có vui lòng chỉ dẫn cho tôi một số điều không?
- Rất vui lòng.
Ông ta im lặng một lát rồi với lấy chiếc mũ, một tay cầm nó còn tay kia vuốt nhẹ một cách lơ đãng, có lẽ điều đó làm cho ông ta cảm thấy tự tin hơn.
- Tôi hy vọng rằng anh không quá ngạc nhiên vì một người lạ mặt đến nói chuyện với anh như thế này.
Ông ta bật cười như để xin lỗi.
- Tôi không định kể cho ông nghe về cuộc đời tôi.
Khi người ta nói điều này tôi biết là người ta sẽ làm ngược lại. Nhưng điều đó không làm phiền tôi, ngược lại, tôi rất thích như vậy.
- Tôi đã được nuôi dạy bởi hai bà cô già. Tôi chưa bao giờ đi đâu xa cả. Tôi chẳng có kinh nghiệm gì cả. Tôi đã lập gia đình sáu năm nay rồi. Tôi không có con. Tôi làm phụ trách tại bệnh viện Camberwell và tôi đã chán ngấy điều đó rồi.
Có những điều là lạ trong những câu kể ngắn gọn và khô khan này. Chúng rất có sức mạnh. Cho đến lúc này tôi không nhìn kỹ ông ta lắm nhưng giờ đây tôi lại tò mò ngắm nghía vị khách của mình. Ông ta béo và lùn, khoảng ba mươi tuổi, đôi mắt đen nhỏ rất sáng, lấp lánh trên khuôn mặt đỏ bầu bầu. Mái tóc cắt rất ngắn làm nổi bật khuôn đầu hình bầu dục. Ông ta mặc một bộ vét màu xanh da trời rất cũ. Quần bị phùng ở đầu gối, hai miệng túi hoác ra một cách rất cẩu thả.
- Anh cũng biết công việc phụ trách ở bệnh viện đấy. Ngày nào cũng giống ngày nào. Và tôi chẳng có gì khác để mong đợi cho đến cuối đời. Anh thấy thế có đáng không?
- Đó là một cách kiếm sống. Tôi trả lời.
- Vâng tôi biết. Tôi kiếm cũng khá.
- Tôi không hiểu tại sao ông lại tìm đến gặp tôi.
- À là như thế này. Tôi muốn biết liệu một bác sỹ người Anh có cơ hội kiếm sống được ở Tây Ban Nha hay không?
- Tại sao lại là Tây Ban Nha?
- Tôi không biết. Đất nước đó thu hút tôi. Đơn giản vậy thôi.
- Thực tế không giốn như trong Carmen đâu, ông cũng biết đấy.
- Ở đó có mặt trời, có rượu vang ngon, có màu sắc và có không khí để hít thở. Hãy để tôi nói hết, đừng ngắt lời tôi. Tình cờ tôi được biết là không có bác sỹ người Anh nào ở Sevilla. Theo anh thì liệu tôi có cơ hội sinh sống ở đó không? Từ bỏ một cuộc sống ổn định đến với một kế hoạch bấp bênh như vậy liệu có quá điên rồ không?
- Vợ ông nghĩ sao về chuyện này?
- Bà ấy đồng ý.
- Kế hoạch hơi mạo hiểm đấy.
- Tôi biết. Nhưng nếu như anh nghĩ tôi có thể chấp nhận được mạo hiểm thì tôi sẽ đi. Nếu anh nói tôi nên ở lại thì tôi sẽ ở lại.
Ông ta nhìn tôi chăm chú với đôi mắt đen, sáng và tôi tin rằng ông ấy nói thật. Tôi suy nghĩ một lát.
- Chuyện này ảnh hưởng đến tương lai của chính ông. Ông phải tự mình quyết định. Tôi chỉ có thể nói với ông rằng nếu mục đích của ông không phải là tài chính, nếu ông có thể hài lòng với mức sống tối thiểu thì hãy đi đi. Vì như vậy ông sẽ có một cuộc sống tuyệt vời.
Ông ta tạm biệt tôi rồi đi, tôi có nghĩ đến ông ta một hai ngày sau đó nhưng rồi tôi cũng quên, chẳng còn dấu vết gì của câu chuyện ấy trong trí óc tôi nữa.


Nhiều năm sau, ít nhất là mười lăm năm sau, tôi lại đến Sevilla và không may bị ốm nên đã phải hỏi khách sạn xem có bác sỹ người Anh nào ở đây không. Và tôi bắt taxi đến địa chỉ mà người tiếp tân đưa cho. Một người đàn ông béo lùn ra tiếp tôi, ông ta hơi ngập ngừng khi nhìn thấy tôi.
- Ông đến gặp tôi ư? Tôi là bác sỹ người Anh.
Tôi giải thích cho ông ta vấn đề sức khoẻ của mình và ông ta mời tôi vào nhà. Ông ta sống trong một ngôi nhà kiểu Tây Ban Nha bình thường với phòng làm việc nhìn ra sân trong. Trên bàn chật cứng giấy tờ, sách, dụng cụ y tế và đủ các thứ hỗn tạp khác. Một người bệnh yếu bóng vía có lẽ sẽ sợ thót tim. Ông ta khám cho tôi và tôi hỏi hết bao nhiêu tiền, ông ta lắc đầu mỉm cười:
- Miễn phí.
- Sao lại thế?
- Ông không còn nhớ tôi sao? Tôi đã đến đây theo lời khuyên của ông đấy. Ông đã làm thay đổi cả đời tôi. Tôi tên là Stephens.
Tôi thực sự chẳng hiểu ông ấy nói đến chuyện gì. Ông ấy kể lại cho tôi về cuộc nói chuyện ngày nào, nhắc lại những gì chúng tôi đã nói và dần dần tôi đã lờ mờ nhớ ra.
- Tôi vẫn luôn mong được gặp lại ông để cám ơn ông về những gì ông đã làm cho tôi.
- Như vậy là ông đã thành công?
Tôi quan sát ông bác sỹ. Ông ta rất béo và bây giờ đã hói nhưng ánh sáng của hạnh phúc hoàn hảo hiện rõ trong đôi mắt và trên khuôn mặt đỏ bầu bầu của ông. Ông ta ăn mặc khá cẩu thả, một bộ quần áo chắc là đã được “cắt” bởi một thợ may Tây Ban Nha và mang một chiếc mũ rộng vành. Nhìn ông ta tôi liên tưởng đến một người rất sành rượu vang. Ông ta có vẻ ngoài nhả nhớt nhưng thực ra lại rất có thiện cảm. Có thể bạn sẽ e dè không dám trao ruột thừa của mình cho ông ta nhưng chắc hẳn rằng bạn sẽ không thể tìm đâu ra một bạn rượu tốt hơn ông ta được.
- Ông đã có vợ nếu tôi nhớ không nhầm.
- Đúng thế, nhưng bà ấy không thích Tây Ban Nha và đã trở lại Camberwell rồi.
- Tôi rất lấy làm tiếc.
Trong đôi mắt đen của ông loé lên một nụ cười ma mãnh. Ông ta thực sự giống với Silène* nhưng trẻ hơn.
- Cuộc đời luôn sắp sẵn những bù đắp. Ông ta khẽ nói.
Đúng lúc đó một phụ nữ người Tây Ban Nha xuất hiện ở cửa. Bà ấy không còn trẻ nữa nhưng vẫn rất đẹp, một vẻ đẹp lồ lộ. Bà ta nói với ông bác sĩ bằng tiếng Tây Ban Nha và tôi chẳng khó khăn gì cũng đoán ra được đó là bà chủ nhà.
Khi tiễn tôi ra cửa, ông ta nói:
- Ông đã nói với tôi rằng đến đây tôi sẽ có chỉ kiếm được đủ sống nhưng sẽ có một cuộc sống tuyệt vời. Quả đúng vậy. Ông có lý đấy. Tôi vẫn nghèo như xưa nhưng ơn trời, tôi đã được tận hưởng cuộc sống. Tôi sẽ chẳng đổi cuộc sống của tôi bây giờ lấy bất cứ thứ gì trên đời.


---------
* Một nhân vật thần thoại Hy lạp, con của thần Dớt và một nữ thần sông núi thường được miêu tả là một ông già hói, béo, mũi ngắn, tẹt và thường xuyên say khướt.
Đăng nhập để trả lời
0
PHIÊN TOÀ CỦA CHÚA


William Sommerset MAUGHAM, “Complete Short Stories”, William Heinemann, London, 1951.
prusten dịch



Họ bình tĩnh đứng đợi đến lượt mình, sự nhẫn nại đã là thói quen của cả ba người: họ đã tu luyện đức tính ấy trong suốt ba mươi năm qua với một ý chí không gì lay chuyển được. Cả cuộc đời họ thực chất chỉ là một sự chuẩn bị lâu dài cho giây phút này và giờ đây, họ đợi một kết cục, không tự tin - điều không thể được trong thời điểm long trọng này, nhưng ít ra là cũng tràn đầy hy vọng và không có vẻ gì là lo sợ cả. Họ đã chọn đi theo con đường hẹpnhưng là con đường chính đạo, trong khi những tội lỗi bày ra trước mắt họ sự quyến rũ ghê gớm của những cánh đồng đầy hoa: họ vẫn ngẩng cao đầu dù trái tim tan vỡ vượt qua mọi cám dỗ và giờ đây, sau cuộc trường chinh gian khổ, họ mong đợi nhận được phần đền bù cho mình. Không ai phải nói gì vì mỗi người trong họ đều biết được suy nghĩ của hai người còn lại, đoán được họ cũng có cùng một cảm giác của sự giải thoát đang thôi thúc tâm hồn của họ. Họ sẽ phải lo sợ biết bao nếu như họ đã mềm lòng trước sự đam mê mà trước đây họ đã từng xem như không thể nào cưỡng lại được. Sẽ thật là điên khùng nếu như họ đã đánh đổi Cuộc sống Vĩnh hằng đang toả ánh hào quang trước mắt họ lấy một vài năm hạnh phúc ngắn ngủi. Cảm giác của họ cũng giống như của những người vừa thoát khỏi cái chết khủng khiếp không tin được rằng mình còn sống, nhìn nhau sững sờ, chân tay run rẩy. Họ chưa từng làm một điều gì để phải ân hận và một lúc nữa thôi, khi những thiên thần hộ mệnh đến báo với họ là đã đến giờ của họ thì họ sẽ tiến lên, như họ đã từng đi qua thế giới giờ đây đã ở xa đằng sau họ, một cách thanh thản và tin tưởng rằng mình đã làm những gì cần phải làm.
Họ đứng dẹp sang một bên, chỗ này rất đông người. Một cuộc chiến tàn khốc đang diễn ra và, từ nhiều năm nay rồi, những người lính thuộc mọi quốc tịch, vẫn còn ở vào buổi đầu của tuổi trẻ dũng cảm kéo về Toà án thành một hàng dài vô tận. Và trong hàng người ấy cũng có những phụ nữ, trẻ em, nạn nhân của bạo lực hay đáng buồn hơn là nạn nhân của đau khổ, của bệnh tật và đói kém. Và đám đông hỗn loạn ấy gây ra sự lộn xộn vô cùng trong những buổi phán xử của Đức chúa trời.

Chiến tranh cũng là một phần nguyên nhân sự có mặt của ba bóng ma tái xanh đang run lập cập vì rét trong lúc chờ đợi lời phán xử cho số phận của mình này. Đúng vậy John và Mary đi trên một chiếc tàu bị trúng ngư lôi của tàu ngầm và thiệt mạng, còn Ruth thì đã kiệt sức bởi cống hiến cho công việc một cách cao thượng bấy lâu nay và cô đã không thể nào chịu được cú sốc khi biết tin người đàn ông mình yêu đã chết, thế là cô đã tự tử. Thực ra nếu như John không cố cứu vợ thì anh đã có thể thoát chết. Anh rất ghét cô ta, từ ba mươi năm nay rồi nhưng chưa bao giờ anh ta không làm tròn nghĩa vụ người chồng của mình, ngay cả vào giờ phút gay cấn ấy anh cũng không hề nghĩ đến việc mình có thể hành động khác.

Cuối cùng thì các thiên thần cũng dẫn họ vào gặp Chúa trời. Thoạt đầu Chúa trời không để ý gì tới họ. Thật ra Đức Chúa đang bực mình. Trước đó đã có một nhà triết học vào chầu, ông ta chết sau một cuộc sống khá dài với rất nhiều vinh sự và ông ta đã liều lĩnh nói thẳng với Đức Chúa rằng ông ta không tin rằng Đức chúa tồn tại. Thực ra nếu chỉ có thế thì Vua của mọi vị vua đã không nổi giận, cùng lắm cũng chỉ làm ông bật cười. Nhưng có lẽ là với một chút ác ý, nhà triết học đã viện ra những chuyện bất hạnh đã xảy ra trên trái đất để chất vấn Chúa Trời rằng liệu Chúa có thực sự toàn năng và có lòng nhân từ vô biên không.
- Không ai có thể phủ nhận cái xấu - Nhà triết gia nói thêm với vẻ trịnh trọng - Nhưng nếu như Chúa không thể ngăn cản cái xấu thì Chúa không phải là toàn năng còn nếu như Chúa có thể ngăn được nhưng không muốn làm thì Chúa không thực sự có lòng nhân từ vô biên.
Tất nhiên lý luận này chẳng có gì mới lạ với Đấng tối cao cả nhưng Đức ngài chưa bao giờ nghiên cứu nó, vì đúng là Đức ngài biết tất cả các câu trả lời, riêng câu hỏi này Ngài lại chưa biết. Ngay cả Thượng đế cũng không thể làm hai nhân hai bằng năm được. Nhà triết học lại được thể đẩy xa hơn nữa lợi thế của mình, các đồng nghiệp của ông ta hẳn cũng sẽ làm như vậy. Rồi ông ta kết luận bằng một câu thật là ngớ ngẩn trong hoàn cảnh ấy:
- Tôi không thể tin ở Chúa trời nếu sức mạnh và lòng nhân từ của ngài không phải là vô hạn.

Có lẽ bởi vậy nên Thượng đế đã thở phào nhẹ nhõm khi quay sang ba cái bóng khiêm tốn nhưng tràn trề hy vọng. Người sống với thời gian tồn tại chỉ rất ngắn ngủi, nói đã rất nhiều rồi nhất là khi nói về chính bản thân mình, còn người đã chết, vì có cả vĩnh hằng trước mắt, nên lại rất rườm ra đến nỗi người phải có sự kiên nhẫn của thiên thần mới có thể tỏ ra lịch sự chú ý nghe họ nói.
Câu chuyện ba người đó kể có thể được tóm lược lại như sau:
Cho đến trước ngày John gặp Ruth thì John và Mary đẫ lấy nhau được năm năm, họ yêu nhau như bao cặp vợ chồng hạnh phúc khác với tình yêu chân thành và sự tôn trọng lẫn nhau. Khi đó Ruth mới mười tám tuổi, kém John mười tuổi, cô có sự quyến rũ và vẻ yêu kiều của một con thú non kết hợp với một sắc đẹp lộng lẫy. Tâm hồn cô rất trong sáng cũng như thân thể cô vậy và trong sự háo hức được biết hạnh phúc tự nhiên của cuộc sống, lẽ ra cô đã đạt được đến mức sự cao thượng của tâm hồn hoà quện với sắc đẹp làm một. John và cô, phải lòng nhau, yêu nhau say đắm nhưng tình yêu của họ không phải là thứ tình yêu tầm thường. Nó đẹp đến mức họ nghĩ tất cả mọi chuyện trên đời này đều chỉ có một ý nghĩa là dẫn tới địa điểm, đến thời gian họ đã gặp nhau. Họ yêu nhau như Daphnis và Chloé, như Paolo và Francesca. Nhưng họ đã đau khổ đến rụng rời khi nhận ra rằng tình cảm của họ bị chia xẻ. Cả hai đều có ý thức của lẽ phải, họ tôn trọng nhau cũng như tôn trọng những giá trị mà người ta đã khắc vào não họ và họ tôn trọng xã hội xung quanh họ. Tại sao anh lại có thể đi quyến rũ một cô gái ngây thơ trong trắng cơ chứ? Và cô, tại sao cô lại có thể cho phép mình có quan hệ với một người đàn ông đã có gia đình? Rồi họ lại phát hiện ra rằng Mary đã phát hiện ra tình cảm giữa họ. Lòng tin mà Mary vẫn dành cho chồng nay đã bị lung lay, rồi trong cô xuất hiện những trạng thái tình cảm mà cô chẳng bao giờ lại nghĩ là mình sẽ có: ghen tuông, sợ bị bỏ rơi, tức giận vì quyền lực của mình đối với trái tim John bị đe doạ và một ý nghĩ lạ trong thâm tâm đau đớn hơn cả tình yêu. Cô có cảm giác nếu như John bỏ cô thì cô sẽ không thể nào sống nổi. Thế nhưng cô biết rằng tình yêu đã tự đến với John chứ không phải anh chủ tâm tìm kiếm nó. Cô không trách móc gì anh cả, chỉ cầu khấn Đức chúa trời cho mình sức mạnh để chịu đựng và khóc thầm cay đắng. John và Ruth chứng kiến cô tàn lụi héo hắt đi trước mắt họ. Cuộc đấu tranh lâu dài và đau đớn. Đôi khi, trong lúc quên đi ý thức, họ tưởng như không thể nào cưỡng lại được sự đam mê hừng hực trong họ. Thế nhưng họ lại đã cưỡng lại được. Họ đã chống lại cái xấu như là Jacob đã chống lại tiên nữ do Thượng đế cử xuống và cuối cùng họ đã chiến thắng. Trái tim tan nát nhưng tự hào vì đạo đức của mình, họ đã chia tay nhau. Họ hiến dâng cho Thượng đế hy vọng hạnh phúc, tình yêu cuộc sống và cái đẹp của đời.
Ruth đã quá yêu John và chẳng thể nào yêu ai được nữa. Trái tim hoá đá, cô quay về với Chúa và với những việc thiện. Cô làm việc không mệt mỏi: chăm sóc người ốm, giúp đỡ người nghèo, thành lập những trại trẻ mồ côi, điều hành những tổ chức từ thiện. Và dần dần, sắc đẹp mà cô chẳng còn bận tâm đến nữa cũng tàn phai và nét mặt cô cũng trở lên cứng rắn như trái tim cô vậy. Nguyên tắc sống của cô rất cứng rắn, ngay cả lòng tốt của cô cũng có nguyên tắc vì nó bắt nguồn từ lý trí chứ không phải là từ trái tim, cô trở thành độc đoán, cố chấp và hay thù oán.
Về phía John, cam chịu nhưng ủ ê và trở thành dễ cáu kỉnh, anh buồn chán chờ đợi cái chết đến giải thoát cho mình. Đối với anh, cuộc sống đã mất ý nghĩa, chính chiến thắng có được bằng bao cố gắng ấy đã huỷ diệt anh, anh chỉ còn có một tình cảm duy nhất đó là căm thù, âm thầm căm thù vợ mình. Rất ân cần, tử tế, anh luôn luôn cư xử với vợ như một người đàn ông tốt, một con chiên ngoan đạo. Nói tóm lại, anh làm đúng nghĩa vụ của mình.
Mary, người vợ chung thuỷ không chê vào đâu được, tỏ ra rất độ lượng - phải công nhận là điều hiếm có trên đời. Chẳng bao giờ cô nghĩ đến việc trách móc chồng về lỗi lầm của anh. Thế nhưng cô lại không thể chịu được ý nghĩ rằng chính anh đã hy sinh hạnh phúc của mình cho cô. Cô trở nên buồn rầu, quàu quạu. Mặc dù cô rất hối hận nhưng cô không thể nào ngăn mình nói với anh những điều mà cô biết sẽ làm anh bị tổn thương. Cô sẵn sàng hy sinh bản thân mình cho anh nhưng cô không thể cho phép anh có thể có một khoảnh khắc nào đó hạnh phúc trong khi chính cô đau khổ đến muốn chết đi. Giờ đây họ đã toại nguyện: cả cô và cả hai người kia nữa. Cuộc đời ảm đạm, nhàm chán của họ nay chỉ còn là dĩ vãng, họ đã không phạm tội gì và giờ đây giờ phút được bù đắp đang đến gần.

Khi họ kết thúc câu chuyện về đời họ, tất cả xung quanh đều lặng đi, sự yên lặng lan ra cả bầu trời.
“Cút ngay!” những lời ấy đã chực lên môi Đức chúa trời nhưng Ngài không nói ra vì sự dung tục không phù hợp với khung cảnh long trọng xung quanh. Vả lại, một sắc lệnh như vậy chưa nói được rõ cái bản chất của vấn đề. Vầng trán Đấng tối cao cau lại. Có phải là vì một kết cục như thế này mà Ngài đã cho mặt trời mọc lên từ mặt biển mỗi sáng và cho tuyết lấp lánh trên đỉnh những ngọn núi? Có phải vì một kết cục như thế này mà các dòng suối ca bài ca hân hoan khi chảy từ trên cao xuống và lúa mì đung đưa trong gió chiều? “Đôi khi ta cũng có cảm giác, Đức chúa trời thầm nghĩ, những ngôi sao tỏa sáng tuyệt vời nhất của mình khi chúng soi mình vào một cái rãnh đầy bùn.”
Nhưng ba cái bóng đang đứng trước Ngài và họ đã giãi bày câu chuyện của đời họ, với tí chút vẻ tự phụ. Cuộc đấu tranh đã rất vất vả nhưng họ đã hoàn thành sứ mệnh của mình. Đức Thánh thổi khẽ, như thể để thổi tắt một ngọn diêm, và xung quanh ba bóng hồn đáng thương chẳng còn gì cả. Đức Ngài đã chuyển họ đến chỗn hư không.
- Ta vẫn thường tự hỏi tại sao con người cứ nghĩ ta coi trọng những lầm lạc trong cuộc sống gia đình đến như vậy. Nếu như họ đọc kỹ những bài giảng của ta thì họ sẽ thấy rằng ta luôn luôn châm chước cho cái điểm yếu đặc biệt này của con người.
Rồi Ngài quay sang nhà triết học - ông ta vẫn đang đợi câu trả lời cho những lý luận của mình.
- Chắc nhà ngươi cũng phải công nhận rằng trong trường hợp này ta đã kết hợp một cách hoàn hảo sức mạnh toàn năng và lòng nhân ái vô biên của ta chứ?

Toujours plus loin vers l'inconnu
Đăng nhập để trả lời
0
Chào Prusten

Những truyện ngắn của William Sommerset MAUGHAM do Prusten dịch thuật

Đã được mang vào thư viện

Nếu còn thì Prusten cứ post vào nhé,
Còn truyện Cô Gái Mơ Mộng, CtLy xoá rồi, chừn,g nào prusten thấy..... hoàn tất thì kêu CtLy nhé

Cảm ơn Prusten góp sức với thư viện VNTQ

Chúc Prusten luôn vui và hạnh phúc trong an lành

Thân ái
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-24 11:40:26prusten>
Trích đoạn: ct.ly
Những truyện ngắn của William Sommerset MAUGHAM do Prusten dịch thuật, Đã được mang vào thư viện


ct.ly có thể đưa truyện vào thư viện? Trời đất vậy nếu mình hiểu đúng thì ra là mấy hôm rồi mình đã nói chuyện với một Admin mà không biết. Tự kiểm điểm lại có lẽ mình chưa lỡ mồm lỡ miệng lúc nào, thật là may! [:D]

Truyện Cô gái mộng mơ mình đã sửa lại rồi và bản đăng lại hôm qua là bản "đã qua tự kiểm duyệt vòng chót".

Mình tạm ngừng đăng tập truyện này tại đây để dành thời gian thưởng thức thành quả lao động của anh em khác [sm=18.gif] và có thể phụ giúp VangDanhThienHa một tay cho tiểu thuyết Kim Đồng "Trên sa mạc và trong rừng thẳm" mà ngẫu nhiên mình đang có hứng đọc lại. Biết đâu qua đó mình cũng được vang danh nhờ [:)]

Giờ biết bạn là Admin, hẳn online cả ngày, cả tháng, cả năm, mình xin chúc bạn "luôn vui vẻ mỗi khi online"

Prusten

Toujours plus loin vers l'inconnu
Đăng nhập để trả lời
0
ct.ly có thể đưa truyện vào thư viện? Trời đất vậy nếu mình hiểu đúng thì ra là mấy hôm rồi mình đã nói chuyện với một Admin mà không biết. Tự kiểm điểm lại có lẽ mình chưa lỡ mồm lỡ miệng lúc nào, thật là may


Chào bạn Prusten

CtLy hỏng phải là Admin đâu, Nhầm to đấy

CtLy chỉ là..... MOD của Truyện mà thôi, nên có cái bổn phận, đem truyện vào trang Thư Viện ,

Nói vậy Admin nghe được, kí đầu CtLy đó ah [&amp;:]

Thất nghiệp là mắc đền Prusten đó nhen
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-26 20:50:20prusten>
Vậy ra là mình lầm, thực ra nghe chức danh Mod hay hơn Admin. [;)]

Trích đoạn: ct.ly
Nói vậy Admin nghe được, kí đầu CtLy đó ah [&amp;:]


----&gt; Mình nghe anh em đồn quanh diễn đàn rằng Log in name của bạn thực ra là "ly huyền", vậy vụ này khỏi lo rồi [:D]

P.S.: Tiện đây xin hỏi Mod một câu: Truyện Kiều được xếp vào dạng nào ở diễn đàn này vậy? Truyện, Thơ hay Khoa học huyền bí?
Thực ra là mình có một câu hỏi về phiên bản Kiều có trên VNTQ không hiểu fải post vào mục nào đây?

Toujours plus loin vers l'inconnu
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-27 17:20:13ct.ly>
KIẾN VÀ VE SẦU



William Sommerset MAUGHAM, “Complete Short Stories”, William Heinemann, London, 1951.
prusten dịch




Khi còn nhỏ, tôi thường được nghe kể những câu chuyện ngu ngôn của La Fontaine và người ta không bao giờ quên giải thích cho tôi rất cẩn thận về ý nghĩa cảu câu chuyện. Trong số đó có chuyện Kiến và Ve sầu mà người lớn thường dùng để thuyết phục bọn trẻ rằng trong thế giới không hoàn hảo này người chăm chỉ luôn được đền bù và những kẻ lười biếng sẽ bị trừng trị. Trong câu chuyện ngụ ngôn đáng trân trọng này - tôi xin được kể lại một giai thoại rất phong nhã nhưng không chính xác mà hầu như ai cũng biết – Kiến làm việc cần cù suốt mùa hè để tích đồ dự trữ cho mùa đông trong khi Ve sầu suốt ngày chỉ ca hát dưới ánh nắng mặt trời. Khi mùa đông đến, Kiến có đầy đồ dự trữ còn Ve sầu thì chẳng còn gì để ăn nữa, nó phải đến nhà Kiến xin ăn. Và đây là câu trả lời của Kiến:

Chị đã làm gì trong suốt mùa hè?
Ngày đêm tôi ca hát,
cho mọi người cùng nghe
Chị hát à? Vậy giờ hãy nhảy múa đi.


Chưa bao giờ tôi thích coi trọng bài học của câu chuyện này, có lẽ không phải vì tính chống đối mà là bởi tính trẻ con hay coi nhẹ những lời giáo huấn. Lúc đó tôi đứng về phía Ve sầu và mỗi khi nhìn thấy một con kiến tôi không thể ngăn mình lấy chân di lên nó. Cái phản ứng đơn giản ấy – sau này tôi hiểu là hoàn toàn thuộc bản năng của con người - là để thể hiện sự phản đối với lẽ thường.

Một ngày nọ khi nhìn thấy George Ramsay ngồi ăn trưa một mình trong nhà hàng tự nhiên tôi lại nghĩ tới câu chuyện ngụ ngôn ấy. Chưa bao giờ tôi nhìn thấy một gương mặt buồn đến vậy. Đôi mắt vô hồn nhìn thẳng về phía trước. Như thể tất cả những bất hạnh trên thế giới này đều trút xuống đầu ông ta. Ông ta làm cho tôi cảm thấy thương hại và tôi đã đoán ngay được rằng ông em trai bất hạnh của ông ta đã lại gây chuyện rồi. Tôi đến tận bàn bắt tay ông ta hỏi thăm.
- Tôi đang rất buồn. - Ông ta nói.
- Lại là Tom ư?
- Đúng thế, lại là nó. – Ông ta nói và thở dài.
- Tôi không hiểu tại sao ông không bỏ mặc hắn đi. Ông đã làm tất cả cho hắn. Từ lâu rồi ông vẫn biết là vô phương cứu chữa với hắn rồi cơ mà.

Tôi nghĩ rằng không một gia đình nào mà không có chuyện. Đã hai mươi năm nay rồi Tom đã gây khó khăn cho gia đình mình. Mọi sự đã khởi đầu rất tốt đẹp: Tom làm nghề kinh doanh, đã có vợ và hai con. Gia đình Ramsay rất có tiếng tăm và người ta hoàn toàn có thể tin tưởng rằng Tom sẽ có một sự nghiệp đáng nể và sẽ là một người có ích cho xã hội. Thế nhưng một ngày anh ta tuyên bố một cách tự nhiên rằng mình không thích công việc và cuộc sống hôn nhân không phù hợp với mình. Rồi anh ta bỏ công việc, bỏ vợ ra đi, bỏ ngoài tai mọi lời khiển trách. Số tiền tiết kiệm đã cho phép anh ta sống hai năm hạnh phúc, du lịch khắp các thủ đô Châu Âu. Anh ta làm tất cả những gì mình thích. Thỉnh thoảng tin tức về anh ta đến tai gia đình và họ rất phẫn nộ. Họ lắc đầu và tự hỏi điều gì sẽ xảy ra khi anh ta hết tiền. Và họ đã nhanh chóng biết được điều đó: anh ta bắt đầu vay mượn tiền.
Đó là một người đàn ông quyến rũ và không biết ngại ngùng là gì. Chưa bao giờ tôi thấy một ai mượn tiền dễ đến thế. Anh ta thường xuyên mượn được tiền của bạn bè và chẳng khó khăn gì trong việc mở rộng tầm quan hệ của mình. Anh ta luôn nói rằng không thể chịu được mức sống tối thiểu, chi tiêu cho những việc xài sang mới làm cho anh ta thích thú. Để có thể sống được như vậy, anh ta tính dựa vào anh trai mình: George.
Thực ra lừa phỉnh George chẳng dễ dàng gì. Đó là một người đàn ông đạo mạo, khô khan và dửng dưng trước những lời lẽ nịnh bợ. Một hai lần George đã tin vào những lời hứa hối cải của Tom và đã cấp cho anh ta những khoản tiền đáng kể để giúp hắn làm lại từ đầu. Với những khoản tiền đó Tom đã mua xe ôtô và sắm một bộ sưu tập đồ trang sức rất đẹp. Khi George nhận ra rằng em trai mình sẽ chẳng bao giờ quy thuận và chẳng thèm quan tâm tới nữa thì Tom bắt đầu chuyển sang tống tiền anh trai mình một cách trơ trẽn. Đối với một người đáng kính như George thì quả thật là không hay chút nào khi thấy em trai mình đứng đằng sau quầy bar pha cocktail mỗi khi đến quán ăn mình ưa thích hay làm người lái taxi đỗ trước cửa câu lạc bộ của mình. Tom nói rằng những công việc này chẳng có gì là xấu nhưng nếu như George có thể cho anh ta vay hai trăm bảng thì anh ta sẽ sẵn sang hy sinh công việc của mình vì danh dự gia đình. Và George luôn phải chi tiền.
Thậm chí có một lần Tom đã suýt phải ngồi tù và George lại được gọi đến. George đã nghiên cứu rất kỹ càng hồ sơ, thực sự không xứng đáng với danh dự của em trai mình. Quả thực là Tom đã vượt quá giới hạn cho phép. Tom vẫn luôn sống lông bông, cẩu thả và ích kỷ nhưng cho đến lúc ấy anh ta vẫn chưa bao giờ làm gì bất lương – với George nghĩa là bất hợp pháp – nhưng lần này nếu bị kiện ra tòa thì chắc chắn là sẽ bị kết án. Khi chỉ có một người em trai duy nhất làm sao người ta có thể để cho em mình bị cầm tù được! Người đã bị Tom lừa, một gã Cronshaw nào đó, là một người hay thù oán. Hắn nhất quyết muốn kiện ra tòa, hắn nói Tom là một tên vô lại cần phải bị trừng trị. Để cho vụ việc trôi qua êm thấm George đã phải rất mềm mỏng và chi ra năm trăm bảng. Chưa bao giờ tôi thấy George giận giữ đến vậy khi ông ta biết được rằng Tom và Cronshaw đã cùng nhau đi Monte-Carlo ngay sau khi lấy được tiền và đã sống một tháng vương giả tại đó.
Hai mươi năm ròng Tom chơi cá cược đua ngựa, lui tới những sòng bạc, tán tỉnh và nhảy với những cô gái đẹp nhất, ăn trong những nhà hàng sang trọng nhất và ăn mặc sành điệu. Anh ta lúc nào cũng rất chải chuốt. Đã bốn mươi sáu tuổi rồi nhưng người không biết thì đoán anh ta không quá ba nhăm. Anh ta nói chuyện rất có duyên và ngay cả những người biết rõ những tính xấu của anh ta cũng phải cảm thấy thú vị. Anh ta tràn đầy sức sống, luôn vui vẻ và có sức quyến rũ không ai bằng. Chưa bao giờ tôi cảm thấy hối tiếc những khoản mà anh ta vẫn đều đặn vay tôi để trang trải cho nhu cầu cuộc sống. Khi tôi cho anh ta vay năm mươi bảng mỗi lần tôi có cảm giác như mình có nợ với anh ta. Tom Ramsay giao du với tất cả mọi người và tất cả mọi người giao du với anh ta. Người ta không thể tán thành lối sống của anh ta nhưng cũng không thể không thấy anh ta dễ mến.
George đáng thương, chỉ lớn hơn người em trai vô dụng của mình có một tuổi lại có vẻ của một ông già sáu mươi. Từ một phần tư thế kỷ nay ông ấy chưa bao giờ nghỉ ngơi quá hai tuần một năm. Ngày nào ông cũng có mặt ở văn phòng từ chín rưỡi sáng và không bao giờ về nhà trước sáu giờ tối. Đó là một người thanh liêm, chăm chỉ và đạo mạo. Ông ấy có một bà vợ đức hạnh, bốn cô con gái và ông luôn là người chồng chung thuỷ, người bố tốt nhất thế giới. Ông không bao giờ quên để dành một phần ba thu nhập của mình và dự định sẽ nghỉ hưu ở tuổi năm mươi năm về sống ở ngôi biệt thự nhỏ của mình ở nông thôn chơi golf và vui thú điền viên. Cuộc sống của ông chẳng có gì chê trách được. Ông rất vui khi thấy mình đã già vì nghĩ rằng Tom cũng già đi cùng lúc. Ông xoa tay nói:
- Mọi thứ còn được như thế chừng nào nó còn trẻ và còn sức quyến rũ. Nhưng ta chỉ hơn nó có một tuổi, bốn năm nữa là nó sẽ bước vào tuổi năm mươi rồi. Cuộc sống của nó sẽ chẳng còn dễ dàng nữa. Ta cũng sẽ ở vào cùng tuổi đó nhưng với ba mươi nghìn bảng tiết kiệm. Từ một phần tư thế kỷ nay ta vẫn luôn nói rằng cuối cùng nó sẽ trắng tay. Lúc đó để xem nó thấy thế nào. Để xem lao động hơn hay chơi bời hơn chứ.

George đáng thương! Lúc này đang ngồi cạnh ông ấy tôi thực sự thông cảm với nỗi khổ tâm của ông ấy. Tôi tự hỏi không biết Tom đã lại gây ra điều ô nhục gì nữa đây. Trông George thực sự rất đau khổ.
- Ông có biết điều gì vừa xảy ra không? George hỏi tôi.
Tôi nghĩ đến điều kinh khủng nhất: cuối cùng Tom đã bị cảnh sát bắt giữ chăng?
George tỏ ra rất uất hận.
- Ông cũng công nhận rằng tôi đã luôn chăm chỉ, đứng đắn, trung thực và đàng hoàng chứ? Tôi đã suốt một đời lao lực, tằn tiện để hy vọng có thể nghỉ ngơi với một chút đỉnh thu nhập từ các khoản đầu tư chắc chắn. Tôi đã luôn làm những gì mình phải làm, sống đúng như những gì Chúa dạy.
- Đúng thế.
Mặt George đỏ rực lên.
- Cách đây mấy tuần hắn ta đã cưới một bà đáng tuổi mẹ hắn. Bà ta vừa chết để lại cho hắn ta toàn bộ gia tài: năm trăm nghìn bảng, một chiếc du thuyền, một căn nhà ở London và một căn nhà ở nông thôn.
Và George đấm bàn thùm thụp với nắm tay siết chặt và nhắc đi nhắc lại:
- Không công bằng! Thật không công bằng một chút nào! Rất không công bằng!

Tôi đã không ngăn được mình phá lên cười khi tôi nhìn thấy cơn giận lôi đình trên mặt ông ấy. Tôi cười rũ rượi đến nỗi suýt ngã khỏi ghế. George chẳng bao giờ tha thứ cho tôi, nhưng Tom thường mời tôi dự những bữa tối thịnh soạn trong ngôi nhà sang trọng của ông ta trong khu phố Mayfair và đôi khi ông ta vẫn mượn tôi những khoản tiền nhỏ, nhưng đó chỉ là theo thói quen, chẳng bao giờ ông ta vay tôi quá một bảng.

Đã mang vào thư viện

Thân ái

Toujours plus loin vers l'inconnu
Đăng nhập để trả lời
0
Chào Prusten.

Theo Ct.Ly nghĩ là:
- Truyện Kiều tuy được viết bằng thơ, nhưng mọi người đều gọi là truyện Kiều, nên Prusten có thể post vào trong truyện, Nếu tự tay Prusten gõ, thì cứ post vào mục " Đánh máy cho thư viện " thì tốt lắm.

Chúc Prusten nội công càng thâm hậu, để đăng truyện cho mọi nggười cùng đọc nhé

Thân ái
Đăng nhập để trả lời
0