Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Những cái dở của Truyện Kiều

20 trả lời, 1.215 lượt xem — Trang 1 / 1
Lời dẫn: Xưa nay ở Vn ta, khen cái gì thì khen cho hết lời, chớ dám chê... Thói tục đó chỉ có hại mà không có lợi.
Nhân 240 ngày sinh Nguyễn Du, talawas đã cho đăng 1 bài dài của tác giả Trung Quốc chê Nguyễn Du. Tất nhiên sẽ còn vô số cái cần bàn lại, nhưng trên cơ sở trao đổi đa chiều, tôi thấy đây là việc tốt. Xin trích lại đây ít dòng để các bạn tham khảo. Tôi cũng để sẵn link để ai cần đọc hết thì vào. Tôi trích phần này vì thấy có thể phần này là đúng nhất vì hiểu văn hóa TQ sẽ không ai bằng người TQ. Chỉ ra những cái hiểu văn hóa TQ còn hạn chế của Nguyễn Du là cần thiết.

Zhang


----------------------------------

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=5966&rb=0102

C. Truyện thơ của Nguyễn Du còn thêm chân cho rắn khiến chúng mâu thuẫn với hoàn cảnh và tình tiết trong toàn bộ nguyên tác.

Ví dụ:

- Trong nguyên tác, Thúy Kiều và Kim Trọng gặp nhau trong tiết Thanh minh, không bao lâu đã yêu nhau say đắm, cả lịch trình tình yêu đó xảy ra không quá nửa năm. Còn ở Nguyễn Du lại có thêm cảnh mùa đông xuất hiện trong lúc họ yêu nhau: “Đầu tường sương đậm tuyết dày “ (câu 367). Những câu thơ cho thấy đặc trưng của thời tiết còn có “Phất phơ tơ liễu phẩy mành” (câu 269), “Đầy sân hoa rụng” (câu 272); “Hồng thưa xanh nõn” (câu 370) v.v… Nhưng thời tiết được mô tả đó tự mâu thuẫn với nhau, phá hoại tính thống nhất và cảm giác chân thực về hoàn cảnh được miêu tả trong nguyên tác.

- Viết về Mã Giám Sinh, kẻ đến lừa mua Thúy Kiều, Nguyễn Du thoạt đầu nói ý là “viễn khách”, tiếp ngay sau lại nói: “Quê quán ở thị trấn Lâm Thanh không xa”. Vậy rốt cuộc y là người ở xa hay ở gần, thật là khó hiểu.

- Trong nguyên tác, Thúy Kiều phải trốn khỏi nhà Hoạn Thư vì Hoạn Thư bức bách từng bước một. Thúc Sinh tuy có tình với Thúy Kiều song không dám để cho Hoạn Thư thấy được, bất đắc dĩ đành khuyên Kiều đi trốn. Còn Nguyễn Du, ông lại để cho Thúc Sinh nói ra những lời tuyệt tình, hủy bỏ lời hứa trước. Câu 1554:

Duy bởi trung niên mà chưa có con trai
Lẽ đáng cùng nàng ly hôn.
Lời thề vàng đã thành chuyện cũ,
Trăm thân không chuộc chung quy lời hữa cũ khó theo.

Như thế là từ một thư sinh sợ vợ, Thúc Sinh đã trở thành anh chàng phụ tình. Nếu Thúc Sinh đã tuyệt tình phụ nghĩa mà sau này Thúy Kiều còn báo đáp anh ta như một vị ân nhân số một, chẳng hóa ra vô lý lắm sao? Những nét bút thêm chân cho rắn này chẳng những làm méo mó hình tượng nhân vật và mối quan hệ giữa nhân vật với nhau mà còn phá hoại sự hoàn chỉnh và thống nhất của tình tiết, do vậy rõ ràng là những nét bút thất bại.

Nguyên tác kể Thúc Sinh chuộc Kiều ra khỏi thanh lâu để làm thiếp chủ yếu dựa vào sự ủng hộ của Vệ Hoa Dương, một bạn chưa có vợ và rất có thế lực ở ngay tại địa phương ấy. Còn Nguyễn Du cho Thúc Sinh tự lo liệu lấy một mình chuyện đó.

Câu 1371:

Mượn điều trúc viện thừa lương,
Dẫn Thúy Kiều về lén giấu đi.
Chàng chuẩn bị lý lẽ với kỹ viện,
Cử người được việc đến dò la đối phương.
Cuối cùng thuyết phục được Tú Bà,
Cờ thua một nước, đành cho nàng tòng lương.

Nguyễn Du sửa như thế là làm biến dạng Thúc Sinh, một anh chàng yếu đuối, tầm thường, chẳng có tài cán gì dường như trong phút chốc biến thành một người thạo việc lại có khí phách, ngoài ra dưới tay còn có một người giúp việc. Điều này chẳng những mâu thuẫn với tính cách của Thúc Sinh mà còn mâu thuẫn với cả mặt phát triển của truyện.

Tóm lại, tuy những chi tiết Nguyễn Du đổi khác so với nguyên tác không nhiều song tuyệt đại đa số đều không được như mức độ tư tưởng và mức độ nghệ thuật của nguyên tác.


II. Nguyên nhân của sự dị đồng

Qua so sánh như thế có thể thấy Truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam có khác nhau. Nguyên nhân của sự dị đồng đó là gì?

Nhìn chung, những chỗ tương đồng là do Nguyễn Du tán thưởng và thích thú với nguyên tác, nhất là nhân vật chính Vương Thúy Kiều. Nhân vật tài sắc hơn người nhưng lại trải qua cảnh ngộ đau thương ít có trong những khổ đau của con người, gợi lên cảm xúc sâu sắc nơi ông về thân thế của bản thân mình. Ông cất tiếng trách “chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”, tỏ niềm đồng tình sâu sắc với những bất hạnh của nàng và tán thưởng thái độ thanh cao, trong trắng, kiên trì của nàng. Do vậy, Nguyễn Du hầu như hoàn toàn bám sát nhân vật và cốt truyện của nguyên tác, về đại bản thể bảo tồn được hệ thống hoàn chỉnh của hình tượng và cốt truyện của nguyên tác. Còn nguyên nhân của những chỗ sai dị chủ yếu có ba điểm như sau:

1. Lập trường của một người dòng dõi cao sang như Nguyễn Du đã để lại dấu ấn giai cấp trong tác phẩm của mình, khác lạ với nguyên tác.

Tác giả nguyên tác tuy không để lại họ tên thật nhưng từ khuynh hướng để lộ trong tác phẩm và sự ăn ý về tình cảm, hứng thú với Thiên Hoa Tàng chủ nhân là người cùng sáng tác tiểu thuyết thông tục mà xét thì Thanh Tâm Tài Nhan là văn sĩ tầng lớp dưới, có tài mà không gặp thời, vì vậy thái độ cơ bản của ông khi thuật chuyện, tả người là đồng tình sâu sắc với những người hèn kém, bất mãn, căm ghét kẻ thống trị. Còn Nguyễn Du xuất thân trong một gia đình quý tộc nổi tiếng hiển hách nhiều đời ở Việt Nam, gia đình ông là một trong những cột trụ chống đỡ cho vương triều phong kiến họ Lê đang suy vi, thi lễ truyền gia, đầy nhà khoa giáp. Năm mười chín tuổi, Nguyễn Du đỗ tú tài, hai mươi bốn tuổi thừa hưởng phúc ấm của cha, giữ chức Hùng hậu quân hiệu Chánh Thủ hiệu tỉnh Thái Nguyên. Ông sinh vào thời loạn hồi cuối Lê, hai tập đoàn phong kiến thống trị hai miền Nam Bắc đánh nhau đến nửa thế kỷ, gây cho nhân dân biết bao tai nạn nặng nề, cuối cùng dẫn đến khởi nghĩa vũ trang của nông dân Tây Sơn. Quân khởi nghĩa lật đổ nhà Lê và cũng giáng những đòn nặng nề cho gia tộc họ Nguyễn. Nguyễn Du cùng hai người anh tích cực mưu đồ cần vương, ngoan cố chống lại khởi nghĩa nông dân song đều thất bại. Nguyễn Du còn là tù binh của họ trong một thời gian. Thất bại đó khiến Nguyễn Du trở thành di dân nước mất nhà tan của triều Lê trong 13 năm từ 1789 đến 1802, nếm đủ mọi khổ cực, nghèo túng, ốm đau, loạn ly, thất vọng, cô đơn. Sau đó vương triều Gia Long được thế lực thực dân Pháp vực dậy đã thay thế chính quyền nông dân, vời Nguyễn Du vào làm Đông các học sĩ, phong tước Du Đức hầu. Tuy quan cao bổng hậu nhưng ông luôn bị gièm pha, đả kích khiến ông chất chứa nhiều mâu thuẫn và đau khổ trong lòng. Ông rất tự hào vì được xuất thân trong gia tộc “trọng trung nghĩa, giỏi văn chương”’; trong tình hình bất đắc chí về chính trị, ông say mê với thơ, tự cho là có tài, đặc biệt là yêu thích thơ từ cổ điển của Trung Quốc và tác phẩm văn học thông tục [1] . Sự từng trải và địa vị đặc thù ấy để lại dấu ấn về bốn phương diện sau đây trong truyện thơ của ông: một là tô vẽ cho quý tộc dòng dõi thư hương danh tiếng; hai là, che đậy mâu thuẫn giai cấp; ba là, ác cảm với khởi nghĩa nông dân; bốn là, đặc biệt nhấn mạnh sự mê tín đối với thuyết nhân quả.

2. Ảnh hưởng tư tưởng văn học của Nguyễn Du đối với hình thức nghệ thuật của tác phẩm

Ảnh hưởng này biểu hiện ở bốn phương diện như sau:

a. Chú trọng học tập hình thức nghệ thuật dân ca của nước mình, vận dụng ca dao thể lục bát riêng có ở Việt Nam. Thể thơ này bắt nguồn từ ca dao dân ca Việt Nam, sau đó được văn nhân vận dụng, trở thành hình thức phổ biến của thơ tự sự trường thiên Việt Nam và cũng là hình thức thơ ca độc đáo ở Việt Nam. Hình thức này còn được gọi là “điền từ Việt Nam” [2] . Truyện Kim Vân Kiều của Nguyễn Du đạt tới thành tựu cao nhất của những sáng tác văn học vận dụng đề tài này, từng được khen là: “Hữu Minh nhất đại vô song kỹ - Đại Việt thiên thu tuyệt diệu từ” [3] . Cấu trúc thể thơ của hình thức này là: mỗi hàng thơ gồm hai câu, câu trên sáu chữ, câu thứ sáu của câu trên hiệp vần với chữ thứ sáu của câu dưới; chữ thứ tám của câu dưới hiệp vần với chữ thứ sáu của câu trên hàng tiếp theo, cứ theo thứ tự như thế mà tuần hoàn đến hết thì thôi. Hình thức này có thể phối hợp với nhạc diễn xướng, cũng có thể ngâm ca, rất được nhân dân Việt Nam hoan nghênh. Truyện Kim Vân Kiều của Nguyễn Du cả thảy 3254 hàng thơ, đầu cuối quán xuyến thông suốt, một hơi có thể làm thành, là tác phẩm mẫu mực hoàn chỉnh lớn lao nhất, trau chuốt nhất và làm cảm động người đọc nhất trong thơ ca thể lục bát của Việt Nam. Việc sử dụng hình thức này khiến cho truyện thơ ấy có đặc sắc dân tộc Việt Nam. Đồng thời về ngôn ngữ, Nguyễn Du còn sử dụng xen kẽ tục ngữ, ngạn ngữ, khẩu ngữ dân gian Việt Nam làm cho ngôn ngữ sinh động, hoạt bát. Chẳng hạn, “Đào tiên giống quý không ai biết – Chẳng chuộng đào tiên chuộng cam quýt” (câu 833). Câu ngạn ngữ Việt Nam này hình dung con người ta không phân biệt được thật giả, lầm tưởng thật là giả. Nguyễn Du mượn câu này để miêu tả tâm lý của tên buôn người Mã Giám Sinh bịp bợm cho rằng dễ lừa được người đời.

b. Khuynh hướng trữ tình chủ quan của nhà thơ biểu hiện mạnh mẽ. Trữ tình là khí chất nghệ thuật của Nguyễn Du vì ông là một nhà thơ chứ không phải là nhà tiểu thuyết. Truyện Kiều của ông không có nhân vật và câu chuyện sáng tạo thêm mà chỉ mượn nhân vật và cốt truyện có sẵn để trữ tình, khiến cho câu chuyện tăng thêm một tầng thái trữ tình nồng đậm nữa, làm cho truyện được thi hóa. Về phương diện này, ông đạt được thành công rất lớn. Điều đó biểu hiện trước hết ở tính cách của nhân vật chính Vương Thúy Kiều được tăng thêm khí chất một nhà thơ trữ tình. Ông thường dùng ngôn ngữ trữ tình rất đẹp đẽ để tô đậm hoạt động tư tưởng nội tâm và tình cảm phức tạp phong phú của nàng. Chẳng hạn lần đầu tiên Thúy Kiều sa vào nhà chứa, sau khi nàng tự tử và được cứu sống, có một đoạn khắc họa tâm lý đậm tính trữ tình tinh tế và cảm động.

Câu 1033:

Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân.
Trăng gần, núi xa cùng trong sáng.
Trông bốn bề chân trời xa tắp,
Cồn đất vàng, dặm bụi hồng, cảnh hoang lương.
Mây sớm đèn khuya thẹn thùng vô hạn,
Lòng tan nát, nửa vì cảnh vật, nửa vì đa tình.
Nhớ năm xưa chung chén dưới trăng,
Tin sương hoán cải, tin tức vô bằng.
Chân trời góc biển một mình bơ vơ,
Ngày nào mới rửa sạch được ô danh.
Phụ người tựa cổng,
Hỏi ai là người thay thăm hỏi ấm lạnh?
Mặc áo lão là múa, biết đến năm nao,
Cây du tử trước cửa hẳn đã lớn vừa một ôm.

Đoạn thơ này đã gộp đoạn miêu tả tâm lý ngắn gọn cùng nội dung than thở cho thân thế trong tổ khúc “Thập bất hài” và trong bài thơ luật của Thúy Kiều ở nguyên tác vào làm một nên tình cảm biểu lộ ra thật là cảm động, là mẫu mực điển hình cho thành công về cải biên của Nguyễn Du. Những đoạn trữ tình viết rất hay tương tự như trên còn có nữa, như đoạn khắc họa tâm lý Thúy Kiều tiễn chồng là Thúc Sinh về quê và đoạn miêu tả tình cảm của nàng lần đầu yêu Kim Trọng v.v… Đây là tâm trạng của Kiều sau khi gặp và yêu Kim Trọng.

Câu 169:

Nước suối trong núi chảy ra trong veo.
Bên cầu, bóng tơ liễu phân minh.
Nàng trở về nơi gác thêu rèm vẽ.
Mặt trời lặn khuất núi, lầu thành vừa báo sơ canh.
Trăng sáng nhòm người,
Nước gợn sóng vàng, sân lồng bóng cây.
Hải đường phất nhẹ lâu dài,
Trong sương gió nhè nhẹ đu đưa.
Tĩnh mịch đêm khuya trăng sáng,
Nghĩ xa nghĩ gần, mối sầu khó gạt bỏ.

Trong lúc trữ tình, nhà thơ gửi gắm vào đó cả thể nghiệm cuộc đời của mình nên những đoạn đó chân thực tha thiết, làm cảm động lòng người. Nhưng đồng thời, có lúc nhà thơ mải mê gửi gắm tình cảm chủ quan của mình nên đã làm tổn hại đến sự hoàn chỉnh và thống nhất của hình tượng nhân vật. Chẳng hạn, tình cảm khi chia tay của Thúy Kiều thì bất kể là Kim Trọng, Thúc Sinh hay Từ Hải, đều nặng lòng như nhau. Nhìn riêng rẽ, mỗi lần trữ tình là một lần làm người đọc cảm động, nhưng nếu liên hệ lại mà xét thì người đọc sẽ thấy Thúy Kiều lấy người nào thì yêu người đó và như thế thì mâu thuẫn với số phận bất hạnh của nàng về mặt hôn nhân. Xét những đoạn miêu tả trong nguyên tác, Thúy Kiều chỉ thực sự yêu có một mình Kim Trọng, còn đối với Thúc Sinh và Từ Hải thì chủ yếu chỉ cảm ơn chuộc mình ra khỏi lầu xanh của họ; tuy cũng có tình nhưng tính chất và mức độ có khác. Có như thế mới đúng là bản sắc của “nòi tình”.

c. Nguyễn Du rất yêu mến văn học Trung Quốc, lại có tu dưỡng cao về văn học Hán ngữ, tự mình đã viết ba tập thơ chữ Hán. Trong Truyện Kim Vân Kiều cải biên, ông đã vay mượn hoặc vận dụng biến hóa rất nhiều câu nổi tiếng trong thơ và từ của Trung Quốc. Cách viết đó làm giàu rất nhiều cho ngữ vựng Nôm của tiếng Việt, tăng cường sức biểu hiện của nó, có cống hiến quan trọng cho sự phát triển ngữ văn dân tộc của Việt Nam. Vì vậy, Phó Viện trưởng Viện Văn học Việt Nam là Hoài Thanh [4] cho rằng Nguyễn Du “về lời, về chữ thì chưa có một nhà văn, nhà thơ nào khác sánh kịp trong lịch sử văn học Việt Nam”. Sáng tạo đặc sắc đó khiến mối quan hệ giữa văn học Việt Nam và Trung Quốc càng thêm mật thiết.

d. Nguyễn Du cũng chịu ảnh hưởng của phong cách thơ ca hình thức chủ nghĩa và phỏng cổ chủ nghĩa phổ biến ở Trung Quốc thời bấy giờ nên trong thơ của ông bắt gặp những chỗ khoe khoang kiến thức văn hóa và thơ từ Trung Quốc của mình, vay mượn một số lượng lớn những câu có sẵn trong thơ Đường và từ Tống, sử dụng rất nhiều điển cố Trung Quốc. Mặt thành công của ông như trên đã nói. Có điều, do mải mê theo đuổi quá mức về mặt này nên cũng thường mắc sai lầm là chồng chất, gượng ép, thậm chí vận dụng không đúng, gây tổn hại cho nội dung. Có thể nói những dẫn chứng về mặt này nhặt đâu cũng có. Chẳng hạn:

Ở quyển số 3, Nguyễn Du dùng “mây lầu Tần khóa kín rèm khuê rủ” để miêu tả nỗi tương tư của chàng Kim Trọng mới yêu đối với cô thiếu nữ Vương Thúy Kiều trong khuê các. Nguyễn Du đã dùng lầm lầu Tần chỉ nhà chứa để chỉ khuê phòng của Thúy Kiều; dùng “mai sau mận chịu tội thay đào, kết thành vợ chồng” trong lời Kiều nhờ em gái thay mình lấy Kim Trọng thì rõ ràng thành ngữ “mận chịu vạ thay đào” đã mâu thuẫn với tình cảm của Kiều đối với Kim Trọng. Bởi theo Thúy Kiều, lấy được Kim Trọng là mối nhân duyên hạnh phúc lý tưởng chứ tuyệt nhiên không phải là chịu vạ thay cho người khác.

Nguyễn Du thường vay mượn những khuôn sáo quen thuộc đã được khái niệm hóa, loại hình hóa vẻ mặt trong tiểu thuyết thông tục của Trung Quốc để miêu tả nhận vật khiến cho nhân vật đã được bản sắc văn hóa trong nguyên tác của Thanh Tâm Tài Nhân trở thành người nào cũng cùng một vẻ mặt. Chẳng hạn khi miêu tả Thúy Vân, Thanh Tâm Tài Nhân dùng “thiên kiều tuyệt thuyến, tính cam ninh đạm” (vẻ kiều diễm trời cho xinh đẹp tuyệt vời, tính ôn hòa, điềm đạm), “tinh thần tĩnh chính, dung mạo đoan chính, biệt hữu phong thái” (tinh thần điềm tĩnh ngay thẳng, dung mạo đoan trang, riêng một phong thái). Bằng ngọn bút truyền thần ông đã vẽ nên tính cách hướng nội, vẻ đẹp tự nhiên mộc mạc thanh tân của một thiếu nữ nhàn tĩnh văn nhã. Nguyễn Du thì lại mượn “ngọa tàm mi” (mày tằm nằm) mà Tam quốc diễn nghĩa dùng để miêu tả Quan Vũ trang nam nhi cao lớn, uy vũ, khoáng đạt, lắp vào khuôn mặt cô thiếu nữ mười phần xinh đẹp đó. Nếu khuôn mặt thiếu nữ xinh tươi mơn mởn lại mọc ra một đôi lông mày võ sĩ vừa đen rậm, vừa thẳng cứng thì cái điều kệch cỡm nghiêm trọng ấy há chẳng phải phá hoại cả vẻ đẹp của cô thiếu nữ đó sao? Cũng như vậy, khi miêu tả thiếu nữ Thúy Kiều con nhà trung lưu, Nguyễn Du lại mượn những khuôn sáo mà tiểu thuyết thông tục Trung Quốc dùng để tả những cậu ấm quý tộc có bộ mặt đầy đặn núc ních, nên mới tả nàng có khuôn mặt như trăng tròn. Còn tả tướng mạo của tướng giặc biển Từ Hải thì Nguyễn Du lại mượn cả lông mày của Quan Vũ lẫn cằm và râu của Trương Phi để gắn lên mặt Từ Hải, đó là “râu hùm, hàm én, mày ngài”. Về phương diện này, không thấy những từ vựng do chính tác giả sáng tạo nên, do vậy cảm thấy cũ kĩ, cứng nhắc không có chút sinh khí nào.

Về việc mượn những danh cú trong thi từ cổ, ở Nguyễn Du cũng có nhiều chỗ vận dụng không được thỏa đáng. Chẳng hạn để khen một câu thơ hết sức bình thường của Thúy Kiều đề trên bức tranh phong cảnh của Kim Trọng, Nguyễn Du đã mượn câu thơ có sẵn của Đỗ Phủ tự khen tài thơ của mình khi ông đã về già là câu “Bút lạc kinh phong vũ” (Tay tiên gió táp mưa sa – N.D.); khen nét chữ Thúy Kiều thì viết “Tinh khéo như thiếp tựa Lan Đình” (So vào với thiếp Lan Đình nào thua – N.D.), khen tài thơ Thúy Kiều thì viết: “Quán quân trên thi đàn đâu nhường cho ai” (Thì treo giải nhất chi nhường cho ai, N.D.), “Ban Siêu, nàng Tạ, chẳng nhường cho ai” (Nàng Ban ả Tạ cũng đâu thế này – N.D.). Khen ngợi quá mức ngược lại đã làm mất tính chân thực.

Khi miêu tả Thúy Kiều lần đầu tiên gảy Hồ cầm cho người yêu Kim Trọng nghe, Thanh Tâm Tài Nhân dùng thủ pháp phỏng thanh tả ý, ý cảnh hàm súc, để lại một khoảng cách cho bạn đọc đủ tưởng tượng, khiến người ta cảm thấy tiếng đàn như tình yêu của nàng, nồng đượm như rượu ngon, làm ý trung nhân của nàng say đắm. Nguyễn Du không hiểu được điều tuyệt diệu của việc tả ý đó, lại kể tên bốn khúc nhạc cổ điển là Sở Hán tương tranh, Phụng cầu hoàng, Quảng Lăng tán, Chiêu Quân oán mà trong số đó không một khúc nào có nội dung biểu hiện được nỗi lòng người thiếu nữ đang yêu say đắm. Khúc thì tiếng sát phạt vật lộn trên chiến trường thời cổ, khúc thì tả hiệp sĩ thời xưa giết kẻ thù trừ bạo ngược, hoặc nếu không là niềm u oán bị buộc phải gả cho người ngoại tộc thì cũng là lòng hâm mộ của tài tử đối với giai nhân. Lối tả thực này tuy về hình thức ngợi khen tài đàn tinh diệu của Thúy Kiều nhưng về thực chất thì sự việc ngược với ý định, người ta chỉ cảm thấy chẳng qua Thúy Kiều biết gảy thành thạo một số ca khúc xưa mà thường ngày từng luyện tập, chứ không thể dùng đàn để kí thác tư tưởng tình cảm một cách tùy ý. Cái ngón đàn vừa nhập môn ấy thật không tương xứng chút nào với lời khen đi khen lại trong truyện, đủ thấy đó chỉ là kết quả của việc Nguyễn Du khoe khoang kiến thức về âm nhạc của mình.

Trong thời gian Nguyễn Du đi sứ nhà Thanh, ngoài trường phái phỏng cổ chủ nghĩa ra, văn đàn Trung Quốc còn có phái tính linh và các nhà thơ chủ trương phong cách thơ hiện thực chủ nghĩa chống lại những tác phong đáng ngán nói trên. Nguyễn Du không chịu học những phái tiến bộ đó mà lại chọn con đường đỡ mất công sức là phỏng cổ, phục cổ, chẳng những bê nguyên xi nhân vật và cốt truyện có sẵn mà về mặt ngôn ngữ cũng viện dẫn hầu khắp, lắp ghép tùy tiện nên rất ít có sáng tạo mới độc đáo về nghệ thuật. Điều này là có liên quan với địa vị chính trị và thế giới quan của ông.

Ngoài ra, những chỗ hổng về kiến thức cũng dẫn Nguyễn Du tới những sai lầm về ngôn ngữ và chi tiết. Đó là:

Mặc dù Nguyễn Du là một nhà thơ của Việt Nam tinh thông văn học Hán nhưng rốt cuộc không thể sánh với bậc thông nho của Trung Quốc được. Là một người thông hiểu Trung Quốc ở nước ngoài, làm thơ bằng phương pháp vay mượn của thi phái khảo cứu, nhặt nhạnh tài liệu ngôn ngữ trong biển tư liệu văn hóa Trung Quốc mênh mông quả là không tránh khỏi có chút quá khó đối với Nguyễn Du. Vì thế, trong khi vận dụng cụ thể câu chữ trong thi, từ và thành ngữ, điển cố Trung Quốc, ông khó tránh khỏi bộc lộ những nhược điểm, những chỗ sửa lầm, vận dụng lầm, chứng tỏ ông chưa thông hiểu hoàn toàn. Chẳng hạn, dùng lầm “lầu Tần” (kỹ viện) để chỉ buồng the, “đồng môn” thay cho “đồng song” trong nguyên tác; sửa lầm cách gọi mẹ dởm Mã Tú Ma trong nhà chứa thành “Mã Tú Bà”, thậm chí còn gọi là mụ mối. Đó đều là những hiểu lầm do không nắm được cách dùng một số từ ngữ có liên quan của Trung Quốc mà ra.

Còn như những lầm lẫn về mặt vay mượn thơ, từ cổ điển của Trung Quốc lại càng nhiều, chẳng hạn:

Để tỏ ra ngôn ngữ của Kim Trọng cao nhã, Nguyễn Du đã cho chàng ăn nói sặc mùi sách vở, để cho chàng ví hai chị em Thúy Kiều, Thúy Vân với “hai Kiều khóa xuân đài Đồng Tước”. Rõ ràng Nguyễn Du vay mượn câu tuyệt cú “Đồng Tước xuân thâm tỏa nhị Kiều” trong bài “Xích Bích” của Đỗ Mục nhằm khoe khoang học vấn của mình. Nhưng sự khoe khoang chỉ làm lộ tẩy sự bất thông – câu này trong thơ Đỗ Mục là một câu giả định. “Đông phong bất chữ Chu Lang tiện – Đồng Tước xuân thâm tỏa nhị Kiều” có nghĩa là nếu như trong trận Xích Bích, Chu Du không gặp được điều kiện có lợi cho hỏa công là gió đông nam nổi lên thì Đông Ngô ắt bị mất về tay Tào Tháo. Dùng một ý thơ như thế để ví hai thiếu nữ chốn phòng the mà mình yêu mến, chẳng hóa ra râu ông nọ cắm cằm bà kia hay sao?

Tả Kim Trọng tỏ nỗi tương tư của mình với Thúy Kiều, Nguyễn Du đã cho nhân vật này nói câu thành ngữ: “Lòng này chăm chăm, đâu dám từ bỏ ý nghĩ ngây dại là ôm cây đợi thỏ” (câu 328 – N.D.). Mượn truyện ngụ ngôn về một anh chàng ngốc ôm cây chờ đợi thỏ đâm đâu vào cây chết cho mình bắt, để ví với tình cảm nhớ thương chờ đợi người thiếu nữ mình yêu, thật là đường đột quá mức.

Thơ, từ Trung Quốc thường dùng tóc mai bạc trắng để tả nỗi sầu nhưng Nguyễn Du lại dùng cách viết này để tả nỗi sầu vì tình cảm của chàng trai cô gái nên đã để cho thư sinh trẻ tuổi Kim Trọng bộc bạch tình yêu với Thúy Kiều như sau: “Vì nàng, thêm sầu chất hận – Đến nỗi tóc mai như sương” (câu 383 – 384, N.D.). Nói như thế thật là làm bộ mặt giả mạo hết mức, chẳng khác gì một công tử trăng hoa gặp dịp vui, làm tổn hại đến tính cách đa tình nhưng trung hậu của Kim Trọng.

Do còn xa lạ với đề tài tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân, xa lạ với hoàn cảnh địa lý, tập tục sinh hoạt được miêu tả trong sách nên Nguyễn Du thường nhầm lẫn, thậm chí gây tức cười. Tuy tác phẩm văn học là nghệ thuật được phép hư cấu nhưng khi miêu tả hoàn cảnh địa lý chân thực, có thực thì không nên miêu tả quá xa sự thực khách quan, nếu không sẽ gây ấn tượng giả dối trong bạn đọc, làm hỏng hiệu quả nghệ thuật của tác phẩm. Sau đây là một vài dẫn chứng như thế về hoàn cảnh địa lý:

Dưới bút Nguyễn Du, Lâm Truy của Sơn Đông và Vô Tích của Giang Tây là hai thành phố duyên hải đều cách biển 150 dặm, lại được ông chuyển ngay đến cạnh biển. Miêu tả như thế là do không nắm vững hoàn cảnh địa lý vùng duyên hải của Trung Quốc, phá hoại tính chân thực của chi tiết.

Đặc biệt là khi miêu tả chi tiết Thúy Kiều nhảy xuống sông tự tử, những vi phạm về thường thức địa lý của Nguyễn Du càng điển hình. Ông viết:

Câu 2619:

Bỗng nghe thủy triều ào dâng.
Biết thân đã đến Tiền Đường…

Câu 2636:

Xa trông biển không giới hạn.
Buông mình nhảy xuống Trường Giang
Thổ quan hay tin vội đến cứu.
Sớm đã châu tìm đáy sông, một dải mênh mang.

Như thế là lẫn lộn Tiền Đường với Trường Giang [5] . Một loạt những mâu thuẫn như trên đã làm hỏng hầu hết tính chân thực của chi tiết, còn gì để nói đến tính chân thực nghệ thuật nữa?



--------------------------------------------------------------------------------
[1]Tên gọi chung cho tiểu thuyết Minh – Thanh, kể cả Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử…
[2]Có nghĩa là lối lắp từ ngữ của Việt Nam. Có lẽ là “vần điệu” (P.T.C).
[3]Có nghĩa: Một đời nhà Minh không có nàng ca kỹ thứ hai – Nghìn năm Đại Việt là bài thơ tuyệt diệu nhất.
[4]Tác giả bài viết nhầm là Hoài Tố. Ở đây chữa lại cho đúng.
[5]Người phê bình hiểu lầm “trường giang” (con sông dài rộng) danh từ chung thành “Trường Giang” danh từ riêng.

Nguồn: Nguyên văn tiếng Trung đăng trên Minh Thanh tiểu thuyết luận tùng, số 4 (tháng 6.1986) và số 5 (tháng 9.1987). Bản dịch tiếng Việt của Phạm Tú Châu in trong 200 năm nghiên cứu bàn luận “Truyện Kiều”, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội 2005
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-12-09 16:49:13Triky>
NHẦM RỒI

Cái tài tình của Nguyễn Du còn thể hiện ngay ở đó, không phải là Ông thêm chân cho rắn như cái nhìn con rắn không quá 80 phân; Mà từ cốt chuyện như con rắn về mình Nguyễn Du đã làm nên một con rồng đó là Truyện Kiều.

Tri Kỷ
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-12-09 18:30:48Huyền Băng>
Sự từng trải và địa vị đặc thù ấy để lại dấu ấn về bốn phương diện sau đây trong truyện thơ của ông: một là tô vẽ cho quý tộc dòng dõi thư hương danh tiếng; hai là, che đậy mâu thuẫn giai cấp; ba là, ác cảm với khởi nghĩa nông dân; bốn là, đặc biệt nhấn mạnh sự mê tín đối với thuyết nhân quả.


Đọc qua lời bình mà zhang diễn dẫn ở trên HB nhận thấy đây không phải là một bài phê bình có tính cách xây dựng mà chỉ là "vạch lá tìm sâu" của một nhóm người vì lý do gì không biết. Cây nào mà không có Lá sâu? Trong truyện, nếu là chuyện gắn liền với sử học với địa lý thì người viết phải theo sát những chi tiết thời gian và nơi chốn. Còn với thơ HB nghĩ chuyện không hẳn là như vậy. Truyện Kiều của Nguyễn Du chỉ là phóng tác theo truyện Kim Vân kiều của Thanh Tâm Tài nhân thôi chớ đâu phải là dịch từ Kim Vân Kiều mà đòi hỏi phải chính xác 100%. Khi Nguyễn du cao hứng làm bài thơ này, Nguyễn Du chỉ muốn đưa tâm sự của mình vào đó và kể thành một câu chuyện gian nan của Kiều dựa trên ý tưởng đọc qua Kim Vân Kiều , chớ Nguyễn Du đâu nghĩ rằng Kim Vân Kiều là một câu chuyện xuất xắc và mình làm thơ dựa vào nó để nổi tiếng, để lưu danh thiên cổ đâu?
Ở thời Nguyễn Du, nho gia không học chữ Hán chớ học chữ gì? Và nếu học chữ Hán cùng những điền cố, điển tích trong Hán học thì việc áp dụng nó là một lẻ đương nhiên chớ không phải là vấn đề khoe khoang, còn việc áp dụng hay dở như thế nào thì tùy cảm nghĩ của mỗi người. Từ vay mượn dùng cho Nguyễn Du là không đúng, vì việc học thuở xưa của chúng ta là như vậy và đó là quá trình hình thành ngôn ngữ của nước ta trải qua nhiều giai đoạn.
Chúng ta không thể đem Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân ghép vào Truyện Kiều của Nguyễn Du rồi lên án ông bằng những lời lẻ mang nhiều tính miệt thị hơn là tôn trọng. Dầu muốn dầu không, Nguyễn Du vẫn là một thi nhân, một văn sĩ của Việt Nam được nhiều người trên thế giới biết đến.

Riêng phần được quote ở trên, HB có những suy nghĩ như sau: thời của Nguyễn Du mà bảo ông có tư tưởng Cách Mạng mới là lạ, sống trong chế độ quân chủ, lớn lên trong phong kiến, thì tư tưởng đương nhiên là phải nằm trong qui luật xã hội lúc đó thôi. Thậm chí có những người sống trong chế độ xã hội chủ nghĩa đương đại được học tập tư tưởng vô sản, không giai cấp hàng ngày, hàng giờ mà vẫn không thóat khỏi cái quan liêu, cái tự mãn tự hào về bản thân mình thì trách làm sao được Nguyễn Du.

"đặc biệt nhấn mạnh sự mê tín đối với thuyết nhân quả."

Riêng câu này, người phê bình nói mà không biết mình nói gì?

Mỗi người có một niềm tin, niềm tin của Nguyễn Du được thể hiện trong tác phẩm qua thuyết nhân quả không thể gọi là mê tín" Mà nó là "đạo", "đạo" của Nguyễn Du. Anh - tôi có thể không chấp nhận nhưng không thể bài bác. Mọi sự trên đời này không gì qua khỏi thuyết nhân quả. Nó là một nguyên lý bất bíến trường tồn. Gieo thì sẽ gặt, phá thì sẽ hỏng. Có những việc chúng ta làm từ 30 - 40 năm trước tưởng chừng như nó đã vào lãng quên, nhưng không nó vẫn tồn tại với hệ quả và chúng ta sẽ gặt hái được nó đắng hay ngọt là tùy việc chúng ta làm. Một công chức ăn cắp của công một viên gạch, tưởng là không có gì? 100 ngàn công chức ăn cắp 100 ngàn viên gạch, cầu sẽ sụp, nhà sẽ đổ. Một người làm ác tưởng không có gì, 100 ngàn người làm ác cái mầm ác đó sẽ được nhơn trăm và hậu quả chắc chắn là có thôi. Một người làm ác tưởng rằng chết đi cái mầm ác đó sẽ chết theo, không! Cái mầm ác đó vẫn còn và còn sanh xôi nảy nở nhân lên, tội nghiệt do người đó gieo được nhân lên gây khổ sở cho những người chung quanh...Khi quá ác thì cái thiện không chịu được phải chống lại cái ác để trường tồn vậy thì tất cả đều nằm trong nhân quả không lọt ra ngòai.

"Khuông trăng đầy đặn, nét ngài nở nang"
Thi Văn xưa nay đều chọn vầng trăng làm đề tài mơ mộng. Nhất là đối với ngày xưa, không có điện, ánh trăng là một cái gì vô cùng quí giá vào ban đêm, và nhất là trăng rằm, người ta thường ví mặt người con gái đẹp tựa trăng rằm đó là ý nói cái sáng cái rực rỡ của nó chớ không phải nói cái tròn như cái mâm của nó. Vậy mà tác giả bài phê bình lại phê bình Nguyễn Du trên câu này thì thật là thiếu sự sâu sắc.
Nếu là nhà phê bình, thì phải đứng vào thời đại của thi sĩ mà phê bình thì mới chính xác. Đem cái hiểu cái khoa học hiện tại mà chê bai cái thời xa xưa cách đây mấy trăm năm là không đúng. Không thể đem cái văn chương hiện đại ra so sánh với văn chương của Tự Lực Văn Đoàn vào cái thời sơ khai của chữ quốc ngữ mà chê bai văn chương của Tự Lực Văn Đoàn.

Nói về địa lý, chúng ta sống trong thời kỳ khoa học hiện đại, cả thế giới trong tầm mắt chúng ta. chúng ta chỉ bậc tivi lên hay mở một trang web ra là có thể biết đích xác mọi chỗ mọi nơi. Nếu chúng ta không có tivi, không có phương tiện hiện đại và không có điều kiện đi thực tế đến một nơi nào đó, chúng ta có thể hình dung chính xác được nơi chốn nào đó không hay là chỉ mơ mơ hồ hồ. Nguyễn Du là người Việt Nam, không phải là người Trung Quốc, việc Nguyễn Du có hình dung sai về một nơi chốn nào đó ở cái thời mà đèn vẫn là đèn dầu thì HB nghĩ không có gì là quan trọng cả. Vì ngày xưa có ai biết chính xác mặt trăng như thế nào không? Nếu biết chắc chẳng ai mơ trăng đến nỗi nhảy xuống sông ôm trăng mà chết.

Tóm lại, Truyện Kiều của Nguyễn Du đã được nhiều người trên thế giới biết đến, và nó lại có một cái nguồn gốc ý tứ lấy từ truyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân, nên bị đưa lên bàn mổ một cách chẳng thương tiếc, để làm gì?

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-12-10 09:59:25vvn>
Chỉ là 1 cái nhìn của 1 "học giả" từ Đại Bắc kinh đánh giá 1 tác phẩm TQ được Nam man dịch ra tiếng Nam, và Đông di diễn lại ở xứ bà hỏa (Thái Dương thần nữ).
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-12-12 11:08:35Ngọc Lý>
'

Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như


Chào Zhang,


Lời dẫn: Xưa nay ở Vn ta, khen cái gì thì khen cho hết lời, chớ dám chê...
Thói tục đó chỉ có hại mà không có lợi.


Tôi đồng ý với phát biểu trên của bạn chỉ ở câu này.

Tuy nhiên, khi so sánh hay chê khen, chúng ta phải nhớ một nguyên tắc quan trọng: phải so sánh trên cùng một mức chuẩn nào đó.

Không thể so sánh cánh bướm rực rỡ với một con sâu róm.



Nhân 240 ngày sinh Nguyễn Du, talawas đã cho đăng 1 bài dài của tác giả Trung Quốc chê Nguyễn Du. Tất nhiên sẽ còn vô số cái cần bàn lại, nhưng trên cơ sở trao đổi đa chiều, tôi thấy đây là việc tốt. Xin trích lại đây ít dòng để các bạn tham khảo. Tôi cũng để sẵn link để ai cần đọc hết thì vào. Tôi trích phần này vì thấy có thể phần này là đúng nhất vì hiểu văn hóa TQ sẽ không ai bằng người TQ. Chỉ ra những cái hiểu văn hóa TQ còn hạn chế của Nguyễn Du là cần thiết.

Zhang



Tôi hoàn toàn bất đồng ý kiến với bạn trong nhận xét này.

Tôi cũng hơi thất vọng khi người quản trị phần Bình Luận Văn Học của Việt Nam Thư Quán lại có thể đưa vào sự so sánh khập khiễng như thế.

Không ai so sánh một thi phẩm với một truyện viết bằng văn xuôi.

Không ai so sánh tác phẩm bằng bản dịch rất tồi của nó.

Và tôi ngạc nhiên là chúng ta còn chịu khó bỏ thời giờ đọc bài so sánh của một tác giả không biết tiếng Việt, thì còn nói gì tới cảm thụ được cái hay, cái đẹp của thơ lục bát và tâm tình Việt trong truyện Kiều.

Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du là một thiên trường thi Việt, tuy có dựa vào cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, nhưng đã thoát thai hoàn toàn để trở thành nhân vật Việt, tâm tư Việt. Chính những điểm khác biệt mà ông Đổng Văn Thành không thể phủ nhận, đã làm cho Kim Vân Kiều của Nguyễn Du hoàn toàn Việt.

Như vậy, nếu coi "cái dở " của truyện Kiều là không lập lại nguyên bản rất tồi của chữ Hán, thì đó chính là cái nét đẹp bất khuất của Việt mà thiên tài Nguyễn Du đã để lại cho dân tộc: 3254 câu thơ Nôm, thể lục bát, theo lối diễn tả tâm tình của người dân Việt bình thưiờng trong các lời ca dao, lời ru, chan hòa tình cảm và cách sống rất Việt.

Thì ra, dưới mắt một nhà phê bình văn học Trung Quốc, cái dở của truyện Kiều là không bắt chước cái tồi của họ.

Một người Việt như tôi thật kiêu hãnh mà chia với Trương Thái Du đoạn này:

"Hàng trăm năm qua, Truyện Kiều đã sống chan hoà trong đời sống của toàn dân tộc. Không riêng gì Văn học Việt Nam, mà trong Văn học thế giới cũng hiếm có tác phẩm nào chinh phục được rộng rãi tình cảm của đông đảo người đọc, từ già đến trẻ, từ người có học đến quần chúng bình dân trước đây phần lớn bị thất học, như Truyện Kiều.

Sở dĩ như thế là vì ngoài nội dung phong phú và sâu sắc của nó, Truyện Kiều còn là một tác phẩm chứa đựng tinh hoa của ngôn ngữ dân tộc.

Ở TRUYỆN KIỀU, NGÔN NGỮ BÁC HỌC VÀ NGÔN NGỮ BÌNH DÂN đã kết hợp với nhau, bổ sung cho nhau và phát huy cao độ những mặt tích cực của nó. " *


Và đó, chính là sức sống của Việt, thoát thai lên từ áp lực rất lớn sau 1000 năm phương Bắc ráo riết muốn đồng hóa mà không thành công.

Chỉ tiếc, là có những trí thức Việt đã bỏ ra rất nhiều thời giờ, tiền bạc, công sức, để dịch và bàn luận một bài so sánh thiếu kiến thức và khả năng văn học, với chủ ý hoàn toàn thiếu căn bản dân tộc.

Kính

Ngọc Lý

_________

* http://vietsciences.free.fr/vietnam/danhnhan/tacgia/nguyendu_kieu.htm
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-12-14 18:16:53ct.ly>
Khóc Nguyễn Du

Phương Du Nguyễn Bá Hậu

Thi hào Nguyễn Du để lại cho hậu thế hai câu thơ ;

Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như ?
Ngày nay, chúng ta, những người sống gần hai trăm năm sau khi Cụ Nguyễn Du qua đời, ta có cảm nghĩ gì về hai câu thơ trên ?
Vì lời thơ quá cô đọng, có nhiều ẩn ý cho nên tìm hiểu tác giả thật là khó.Với ba chữ ‘khấp Tố Như’, tác giả hỏi ta sau nầy khóc Cụ về những điều gì ? Muốn tìm lời giải đáp, ta cần tìm hiểu tác giả qua các khía cạnh sau đây : tiểu sử cuộc đời, sự nghiệp văn chương và những tư tưởng trình bày trong tác phẫm.


HB vừa đọc bài trên "Khóc Nguyễn Du" của Phương Du Nguyễn Bá Hậu do Ct.Ly vừa mang về nhưng lại để ở topic khác. HB nghĩ rằng bài này cần phải được nằm ở topic này để trả lời những thắc mắc, chỉ trích của học giả Trung quốc nào đó. Bài này là một câu trả lời rất đầy đủ và xác đáng. Các bạn có thể tìm đọc trong topic "Những bài thơ của Truyện Kiều trong cùng diễn đàn Bình Luận Văn Học này.

HB

Khóc Nguyễn Du

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
Đăng nhập để trả lời
0
Khóc Nguyễn Du

Phương Du Nguyễn Bá Hậu

Thi hào Nguyễn Du để lại cho hậu thế hai câu thơ ;

Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như ?
Ngày nay, chúng ta, những người sống gần hai trăm năm sau khi Cụ Nguyễn Du qua đời, ta có cảm nghĩ gì về hai câu thơ trên ?
Vì lời thơ quá cô đọng, có nhiều ẩn ý cho nên tìm hiểu tác giả thật là khó.Với ba chữ ‘khấp Tố Như’, tác giả hỏi ta sau nầy khóc Cụ về những điều gì ? Muốn tìm lời giải đáp, ta cần tìm hiểu tác giả qua các khía cạnh sau đây : tiểu sử cuộc đời, sự nghiệp văn chương và những tư tưởng trình bày trong tác phẫm.


Theo tôi, bất cứ người cầm bút nào ở Á Đông này cũng đặt cho mình một mục tiêu, và đa số là muốn làm gì đó cho đời, qua đó khẳng định sự bất tử của tác giả.

Trường hợp ND cũng vậy. ND tự ví như mình như Kiều, tài hoa nhưng bạc mệnh. Hai câu thơ trên là nỗi lòng ND, mong đời sau nhìn nhận đúng tài năng và thông cảm với số fận bạc bẽo của ông.

Do đó ở góc độ nào đó, nó cũng biểu hiện sự thiếu tự tin của ND. Hơn nữa là 1 đại quan trải qua triều Lê mạt và Nguyễn (không kể thái độ bất hợp tác với Tây Sơn)... thật ra cuộc đời ND không quá bi đát như ông nghĩ. Cho nên ngày nay chẳng ai khóc ông cả, mà chỉ tôn vinh thôi. Cuộc đời này còn khối kẻ vô danh và chịu cảnh cơ cực bi đát hơn ND nhiều...
Đăng nhập để trả lời
0
[:D]Thực sự sống vào giai đoạn loạn lạc như thời cuối Lê và Tây Sơn thì cuộc đời của Nguyễn Du khó gọi là đoạn trường cho nổi. Thuở nhỏ thì ông là cậu ấm được nâng như nâng trứng hứng như hứng hoa trong một gia đình nổi tiếng giàu sang phú quý. Đến khi Tây Sơn lật đổ nhà Lê thì Nguyễn Du đóng cửa ngồi nhà ngâm vịnh, chẳng làm gì ai mà cũng chẳng ai làm gì ông. Đúng là quan điểm của các vị nhà nho "thời loạn về ở ẩn" có nghĩa là lúc loạn lạc dễ dính mũi tên hòn đạn thì xuống hầm trú ẩn để bảo toàn tấm thân quân tử đợi đến lúc thái bình lại trồi lên mặt đất kiếm chút công danh. Ông trải qua giai đoạn biến loạn này hoàn toàn chẳng sứt mẻ gì trong lúc không biết bao người tan cửa nát nhà, tính mạng cũng không giữ được. Đến lúc nhà Nguyễn thống nhất đất nước thì đường hoạn lộ của Nguyễn Du nói thẳng thắn ra là quá thuận lợi với một người đội mũ ni che tai chẳng đóng góp gì vào việc phù trợ triều đại này.

Về truyện Kiều, đúng là lời lời châu ngọc. Đóng góp về nghệ thuật ngôn ngữ của câu truyện thơ này quả là ấn tượng. Song thực sự Nguyễn Du có tinh thần phê phán xã hội như các học sinh VN vẫn được (hay phải) học ở nhà trường hay không thì e là còn cần xem xét lại. Bản thân cốt truyện của truyện Kiều không khác bao nhiêu với các cuốn tiểu thuyết từ đông chí tây lấy một cuộc đời chìm nổi của một phụ nữ trong chốn phong lưu làm đề tài. Hơn nữa Nguyễn Du cũng chẳng bận tâm đến việc sáng tạo ra một cốt truyện mới, một nhân vật mới cho mình mà "lấy cảm hứng" luôn từ một pho tiểu thuyết bình dân sướt mướt của Trung Quốc mà có lẽ đã tình cờ ông đã đọc giải khuây khi còn là cậu ấm hay trong lúc đóng cửa ở ẩn đợi thời. Như tôi cũng đã một lần bạo phổi nói bừa, tôi thực sự nghi ngờ tinh thần dân tộc của Nguyễn Du. Nếu bây giờ nghe "nghệ danh" các ca sĩ trẻ ở VN tôi có cảm tưởng ở VN chỉ toàn ca sĩ TQ, thì có lẽ "gene" này chúng ta đã được hân hạnh hưởng lại từ các bậc cha ông. Suốt cả truyện Kiều tên địa danh, tên nhân vật...tịnh toàn "chất lượng ngoại nhập", không dính một tí tạp "hàng nội" nào. Có lẽ Nguyễn Du cũng gặp phải trường hợp như anh chàng nhà văn trong một chuyện ngắn của Aziz Nexin. Anh này viết tiểu thuyết toàn tên Thổ chẳng được ai đoái hoài đến, đành đi kiếm cái bản đồ New York về thay tên địa danh, đổi tên nhân vật ra tên Mỹ, thế là bán chạy. Không muốn nghi ngờ tinh thần dân tộc của Nguyễn DU, tôi đành mường tượng ra ông đã bắt đầu bằng một câu truyện với cô Cam cô Quýt nào đó ở phố hàng Lờ thành Thăng Long. Nhưng truyện viết ra lao tâm khổ tứ mà kết quả là chẳng ai ngó đến. Thế là ông đành chữa cháy cho hợp khẩu vị thời trang. Nhưng chẳng có được một tấm bản đồ New York chi tiết cẩn thận như anh bạn nhà văn nọ của Aziz Nexin, ND đành liều vớ lấy cuốn truyện phiêu lưu kỳ tình lăn lóc trong xó thư phòng để "Trung Quốc hóa" đứa con tinh thần của mình cho chạy khách hơn. Thế là từ cô Cam cô Quýt thưở ban đầu chúng ta đã có cô Kiều cô Vân hiện tại. Ước mong sao có ngày nào đó một nhà khảo cổ tài ba đào được đâu đó bản thảo gốc này (nếu có) của Nguyễn Du, chúng ta sẽ có một tuyệt phẩm 100% Việt Nam từ ngôn ngữ thể hiện đến bối cảnh nhân vật. Đến lúc đó chẳng cần quan tâm đến những Vô Tích Lâm Tri giời ơi đất hỡi nào nữa, và các xếnh xáng cũng sẽ chẳng còn cơ hội vặn vẹo cụ Nguyễn Du. Còn trong lúc chờ đợi cụ cũng đừng lo, học sinh VN nào cũng phải học cụ ít nhất một lượt thuở phổ thông, nên quên được cụ cũng khó lắm.

Tôi nhớ hình như là Phạm Quỳnh (không phải thì mong các bạn đính chính giúp) có nói:" Truyện Kiều còn thì tiếng Việt còn." Thế thì tuyệt rồi, chỉ cần để nguyên truyện Kiều trong chương trình phổ thông là được, cũng như người Anh cố gắng nuôi quạ ở tháp London để đế quốc được trường tồn vậy. Nhưng dù sao bản thân tôi vẫn luôn giữ ý kiến rằng có lẽ truyện Kiều đã được đề cao hơi thái quá, một ý kiến hoàn toàn cá nhân phiến diện xuất phát một phần có lẽ từ thiếu hiểu biết, vì tôi vốn là dân khối A suốt cả những năm phổ thông chỉ luyện công thức phương trình để cố vào đại học nên phần văn chương trong nhà trường hoàn toàn bị xao nhãng cho qua[:D].
Trop de schtroumpfs schtroumpfent le schtroumpf
(Schtroumpf-lunette)
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-12-15 12:47:50Ngọc Lý>
.

Tôi đồng ý với Zhang và Seahawk1 ở khá nhiều điều.

Tôi chỉ không đồng ý với thái độ so sánh Đoạn Trường Tân Thanh, tập thơ Nôm thể lục bát của Nguyễn Du với nguyên bản văn xuôi của Thanh Tâm Tài Nhân, rồi tìm cách chê bai hời hợt, chỉ cốt nói rằng Nguyễn Du không hoàn toàn hiểu và sống nổi như người Trung Quốc, với ngụ ý miệt thị người Việt trong ấy. Theo tôi, cách phê bình này rất đáng bỏ ra ngoài phạm trù văn học.

Tôi từng được đọc một bài phê bình văn học của Trương Thái Du đăng trên evăn , phê bình về Cao Hành Kiện và tác phẩm Linh Sơn, tác phẩm đã đoạt giải Nobel năm 2000. Trương Thái Du đã cho rằng tất cả các vai nữ của LinhShan là "những người đàn bà đổi chỗ xoành xoạch, rất giống các cô bồ hay bạn gái qua đường sẻ chia nhiệm vụ cao cả của Jame Bond trong loạt phim thị trường “Điệp viên 007”. [1]

Hỡi ôi, Trương Thái Du không nhận ra rằng tất cả các vai nữ bị đàn áp trong văn hóa Trung Quốc, chính là cái nền văn minh nông nghiệp phía Nam sông Dương Tử đã bị tham vọng cuồng bạo của gót giày du mục dày vò tan nát. Và chuyến đi "Về Nguồn", hay tìm lại đỉnh núi tâm hồn của Gao, chính là chuyến đi dọc bờ sông Dương Tử, tìm lại cái nền văn minh đích thực đã sắp bị xóa mất của trăm họ Việt dưới tham vọng đồng hóa từ phương Bắc.

Đọc một bài phê bình như vậy, người đọc sẽ tự hỏi: "Có thực đây là một phê bình văn học nghiêm túc, hay chỉ là cách lập lờ đánh lận con đen, để tìm cách bôi xấu các nhà văn không đi cùng hướng "rập khuôn" của người cầm quyền Trung Quốc?"

Nếu chúng ta chỉ nói chuyện nghiêm túc, về một sáng tác của văn học Việt, và địa vị của sáng tác ấy trong xã hội Việt, cũng như so sánh với các đại tác phẩm của mọi dân tộc khác, thì lại là một cách đặt vấn đề khác hẳn.

Tôi sẽ nói, cái điều đáng tiếc nhất của Truyện Kiều, là phải dựa vào một cốt truyện của nhà văn Trung Quốc.

Cái điều đáng tiếc nhất của địa vị Truyện Kiều trong văn học Việt, là cho đến bây giờ, vẫn chưa có một đại thi phẩm nào vượt qua được.

Bể dâu thì còn gì tang thương hơn 30 năm vừa qua trước mặt chúng ta?

Tôi thực lòng mong mỏi, bao giòng lệ máu của dân Việt sẽ biến thành một chuỗi ngọc, hoàn toàn Việt, và thành một tập thơ muôn đời xứng đáng với bao đau khổ mà chúng ta đang trải qua.

Để có hy vọng một tập thơ vượt qua "thiên bạc mệnh" của Thúy Kiều, tôi nghĩ mở ra một cuộc bàn luận nghiêm túc về thơ, văn, tinh thần sáng tạo thực sự, với tâm tình văn hóa nguyên vẹn Việt mặc bao thách đố bên ngoài, là một điều rất nên làm.


[;)]

Ngọc Lý

[1] Đọc Linh Sơn của Cao Hành Kiện.
http://dactrung.net/phorum/tm.aspx?m=125602&mpage=1
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-12-15 12:13:15vvn>
"Nhìn xa cứ tưởng Chí Phèo,
Lại gần mới biết người yêu Thúy Kiều."


..........

Tôi yêu truyện Kiều từ những năm trên ghế nhà trường, và năm tháng trôi qua, tình cảm của tôi đối với truyện Kiều vẫn không suy giảm mà ngày càng thắm thiết hơn (bà xã có đọc thì xin thông cảm, đây chỉ là vấn đề cảm xúc văn học). Người ta thường nói, tình yêu làm mù quáng, kể cả yêu một nhân vật văn học. Vì thế tôi dễ bị dị ứng với những quan điểm chê bai, hoặc phỉ báng nàng Kiều. Cho dù đôi khi tôi cảm nhận được cái logic của người phê phán, như trường hợp Hoàng Hải Thủy viết "Tại Ngục Vịnh Kiều", tôi vẫn giận ông nhà văn này, và không thèm đọc mấy truyện "007" phóng tác của HHT. [;)]

Hai điều đáng tiếc mà bạn Ngọc Lý nêu lên, tôi không cảm thấy đáng tiếc chút nào. Nếu đừng kỳ thị TQ, và nhận diện sự khác nhau của những "học giả" TQ so với các nhà văn lỗi lạc của họ, các nhà văn dù là Tàu, là Tây, hay gì gì đi nữa vẫn ca tụng và kính trọng văn tài của nhau. Nghệ thuật chân chính không phân biệt biên giới. Trong thời đại mà người ta không thể "nói thẳng, nói thật" thì chuyện Ngô Thừa Ân mượn chuyện quỷ thần viết nên Tây Du Ký, hay Nguyễn Du mượn Phong Tình Cổ Lục để viết nên Đoạn Trường Tân Thanh là một văn phong, hay cách viết trong 1 giai đoạn lịch sử văn chương. Người Nhật không sáng tạo ra xe hơi, nhưng họ vẫn tự hào xe hơi Nhật rẻ, đẹp và bền hơn nhiều so với xe hơi tại các nước đã sản sinh ra động cơ nổ. Họ có lý do chính đáng để tự hào, và ta cũng có lý do thật chính đáng để tự hào về truyện Kiều. Có hề gì nếu vay mượn một ý hay, trong một thời đại mà tất cả đều dựa vào Tứ Thư với Ngũ Kinh? Nếu Thanh Tâm Tài Nhân có dịp đọc và hiểu truyện Kiều như người Việt, chắc hẳn ông sẽ nghiêng mình cảm phục Nguyễn Du. Và Nguyễn Du là người rất tôn trọng tác quyền khi mở đầu câu

"Cảo thơm lần giở trước đèn,
Phong Tình Cổ Lục còn truyền sử xanh."

Nếu bạn có dịp đọc nguyên tác truyện Phong Tình Cổ Lục của Thanh Tâm Tài Nhân (nguyên bản Hán văn xem tại đây), hay bản dịch của Mộng Bình Sơn (Tình Sử Vương Thúy Kiều). Bạn sẽ thấy rõ văn tài và thi tài của Nguyễn Du hơn hẳn như thế nào.

Bạn cho rằng "cái điều đáng tiếc nhất của địa vị Truyện Kiều trong văn học Việt, là cho đến bây giờ, vẫn chưa có một đại thi phẩm nào vượt qua được" tôi nghĩ chỉ là một cách nói cường điệu một chút của bạn mà thôi. Nỗi oan khuất của thân phận con người thấp cổ bé họng, đặc biệt là phụ nữ, thì có nhiều văn thi sĩ đề cập. Nhưng tình ý dạt dào đến nỗi tuôn ra đầu ngọn bút 2.354 câu thơ như vậy thì duy chỉ có Nguyễn Tố Như tiên sinh. Có lẽ nào một người tìm được 1 viên ngọc quý vô giá lại đi tiếc rằng vẫn chưa tìm ra viên ngọc nào quý hơn? Hơn nữa, thời hoàng kim của thi ca đã qua rồi và từ lâu đã nhường chỗ cho văn mới và văn vần (nói đến đây lại nhớ lan man đến Lãng Nhân). Vì vậy, có thể nói sẽ không còn một thi phẩm trường thiên nào nữa có thể sánh ngang hàng với truyện Kiều vì hai lẽ: một là loại hình thi ca trường thiên này đã không còn tồn tại và phát triển; hai là những bất công trong xã hội hiện tại không còn đủ sức mạnh thôi thúc nhà thơ như những ngày "cái dưa thì khú, cái cà thì thâm". (Tản Đà)

vvn rất hoan nghênh ý định lập một topic về truyện Kiều. Hiện tại, rãi rác trong thư quán cũng có nhiều bài viết, bình luận do các thành viên viết hoặc sưu tầm từ các nơi. Có lẽ MOD nên gom về một chỗ để tiện cho mọi người tham khảo, và cùng nhau luận bàn.

Thân ái.
Đăng nhập để trả lời
0
Khóc Nguyễn Du

Phương Du Nguyễn Bá Hậu

Thi hào Nguyễn Du để lại cho hậu thế hai câu thơ ;

Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như ?

Ngày nay, chúng ta, những người sống gần hai trăm năm sau khi Cụ Nguyễn Du qua đời, ta có cảm nghĩ gì về hai câu thơ trên ?
Vì lời thơ quá cô đọng, có nhiều ẩn ý cho nên tìm hiểu tác giả thật là khó.Với ba chữ ‘khấp Tố Như’, tác giả hỏi ta sau nầy khóc Cụ về những điều gì ? Muốn tìm lời giải đáp, ta cần tìm hiểu tác giả qua các khía cạnh sau đây : tiểu sử cuộc đời, sự nghiệp văn chương và những tư tưởng trình bày trong tác phẫm.

Về tiểu sử Nguyễn Du, ta được biết như sau :
Nguyễn Du tên chữ là Tố Như, ý nói con người thanh bạch ; hiệu Thanh Hiên, sinh năm Ất Dậu (1765) trong một gia đình quí tộc, có truyền thống về văn học, tại làng Tiên Ðiền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Về khoa cử, gia tộc có sáu tiến sĩ và một trạng nguyên. Cha là Hoàng Giáp Xuân quận công Nguyễn Nghiễm làm Tể tướng ; anh cả là Tiến sĩ Nguyễn Khản làm Tham tụng. Mồ côi cha năm mười tuổi, mẹ năm mười hai tuổi, Nguyễn Du trong thời niên thiếu sống với anh là Nguyễn Khản, vào thời đại khủng hoảng trầm trọng của chế độ phong kiến Vua Lê Chúa Trịnh. Vua thì làm vì, quyền hành trong tay Chúạ Vì bất đồng ý kiến trong việc tranh nhau quyền hành giữa hai anh em Trịnh Khải và Trịnh Cán, nên quan quân chia bè kết phái đánh nhaụ Trịnh Khải chiêu mộ binh lính vùng Thanh Nghệ gọi là lính Tam phủ ra giúp. Sau khi thắng quân của Trịnh Cán, đoàn quân Tam Phủ khinh thường Trịnh Khải, nổi lên cướp phá đốt nhà của dân chúng và của các quan đại thần, gây ra cảnh loạn lạc gọi là loạn kiêu binh ; nhà của Nguyễn Khản, anh của Nguyễn Du cũng bị đốt phá. Nguyễn Du rời bỏ kinh thành, về quê mẹ ở Sơn Nam, sống cuộc đời ẩn náu nhưng cũng có thời giờ để dùi mài kinh sử. Năm 19 tuổi, Cụ thi đậu Tam trường. Sau đó Cụ giữ chức chánh thủ hiệu một đội quân ở Thái Nguyên cho tới khi vua Lê Chiêu Thống theo Nguyễn Hữu Chỉnh bỏ kinh đô chống nhà Tây Sơn chạy sang Tàu cầu viện. Dưới thời Tây Sơn, Nguyễn Du về sống ẩn dật ở quê nhà, hằng ngày lấy việc săn bắn và câu cá làm thú tiêu khiển nên tự đặt biệt hiệu là Hồng Sơn Liệp Hộ và Nam Hải Ðiếu Ðồ. Ðến năm 1802, vua Gia Long thống nhất sơn hà, đất nước thoát nạn nội tranh, trật tự được vãn hồi, Nguyễn Du được nhà vua mời ra làm quan, nhậm chức Tri Huyện Phụ Dực rồi Tri Phủ Thường Tín. Năm 1806, Cụ được thăng Ðông Các Học Sĩ. Năm 1809, làm Cai Bạ Quảng Bình. Năm 1813, Cụ được thăng chức Cần Chánh Ðiện Học Sĩ rồi sung chức Chánh Sứ sang triều cống nhà Thanh. Lúc trở về được thăng Lễ Bộ Hữu Tham Trị Năm 1820, tiên sinh được cử đi sứ Tàu lần nữa nhưng chưa kịp đi, Cụ thụ bệnh mất ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn (1820).

Nói tóm lại, cuộc đời Nguyễn Du không có gì để cho hậu thế phải than khóc. Lúc còn thơ ấu, Cụ sống trong nhung lụạ Từ khi mồ côi cha mẹ, Cụ sống với anh cả vào thời kỳ đất nước có loạn kiêu binh. Dưới thời Tây Sơn, Cụ sống ẩn dật ở quê nhà. Rồi Cụ ra làm quan dưới thời nhà Nguyễn cho đến chết. Cái chết của Cụ là cái chết tự nhiên chứ không phải do ai ám hạị Cụ không bị kết tội oan ức chu di tam tộc như Nguyễn Trãị

Về phương diện văn chương, tuy mới đậu tam trường, Nguyễn Du đã sáng tác nhiều bài thơ bằng hán văn. Trong Thanh Hiên thi tập, tập thơ chữ Hán đầu tiên, hiện còn 78 bàị Cụ tả tâm tình trong những năm tháng long đong dưới thời tao loạn trong quyển thứ hai Nam Trung tạp ngâm, hiện còn 40 bàị Cụ than thở cuộc đời nghèo túng, ốm đau, mỉa mai bóng gió bọn quan lại hay chèn ép và đôi khi Cụ tự coi mình vì ra làm quan nên bị mất hết tự do của cuộc đời phóng khoáng. Trong tập Bắc Hành tạp lục, tác giả viết về những đề tài lịch sử và những điều mắt thấy tai nghe trên đường đi sứ ở Trung Quốc.

Ngoài những bài thơ viết bằng chữ Hán kể trên, Nguyễn Du cũng sáng tác hai quyển thơ bằng chữ Nôm, quyển Văn Chiêu Hồn và truyện Kim Vân Kiềụ Trong quyển Văn Chiêu Hồn, tác giả dành nhiều cảm tình với những kẻ thuộc tầng lóp nghèo khổ, làm ăn vất vả và bị oan ức bóc lột nhất là các phụ nữ bị sa vào cảnh mãi dâm :

‘’ Ðau đớn thay phận đàn bà
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu ?’’


Kim Vân Kiều Tân Truyện gồm 3254 câu thơ lục bát có thể coi là tác phẫm chính của Nguyễn Du về cả hai phương diện văn chương và tư tưởng. Quyển nầy rất được phổ biến trong dân gian và được nhiều người thuộc khắp mọi giới thích đọc. Về phương diện văn chương trong truyện Kiều tác giả đã đạt đến mức tuyệt diệụ Từ xưa tới nay, ai cũng khen tài nghệ và kỹ thuật miêu tả, tự sự và diễn đạt tình cảm của tác giả. Nhiều nước trên thế giới đã cho dịch truyện Kiều sang tiếng bản xứ như Pháp, Anh, Ðức, Ý, Ba Lan, Nga, Tiệp, Nhật Bản, Trung Hoa vv…Cơ quan văn hóa quốc tế (UNESCO) đã liệt Nguyễn Du vào hàng các danh nhân thế giớị

Tư tưởng Nguyễn Du trong truyện Kiều :
Giá trị một tác phẫm thường được chú ý về hai phương diện văn chương và tư tưởng. Từ trước đến nay, người ta quá chú trọng đến sự khen ngợi tài nghệ văn chương của Nguyễn Du trong truyện Kiều nhưng về phương diện tư tưởng, sự đánh giá chưa được đúng mức. Nguyễn Du trong Kim Vân Kiều đã tỏ ra là một nhà thơ có nhiều tư tưởng cao đẹp rất bổ ích cho nền luân lý và đạo lý tâm linh. Nhiều độc giả lại ngộ nhận chê bai tư tưởng của tác giả, nhất là về khía cạnh luân lý. Người ta chê Thúy Kiều không giữ công dung ngôn hạnh, có những hành vi đáng trách sau đây :
-Không đoan trang nết na, có tính cách lãng mạn, lợi dụng lúc cả nhà đi vắng lén lút sang nhà trai trò chuyện :
‘’Nàng rằng quãng vắng đêm trường
Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa’’
-Rượu say túy lúy :
‘’Chén hà sánh giọng quỳnh tương…
Lòng xuân phơi phới, chén xuân tàng tàng..’’
-Ðàn hát thuộc loại xướng ca vô loại :
‘’Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm’’
-Trao tặng nhau những kỷ vật bất chấp tục lệ ‘nam nữ thọ thọ bất thân’ :
‘’ Ðược lời như cởi tấc lòng
Giở kim thoa với khăn hồng trao tay’’
-Có tính dâm đãng quen sống trong cảnh mãi dâm :
‘’Dập dìu lá gió cành chim
Sáng đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh’’
Vì những cử chỉ trên của Kiều, cụ nghè Ngô Ðức Kế trên tờ báo Hữu Thanh tháng chín năm một nghìn chín trăm hai mươi bốn lên án truyện Kiều là một truyện phong tình không đường nào tránh khỏi cái án của tám chữ : Ai, Dâm, Sầu, Não, Ðạo, Dục, Tăng, Bị Người ta kết tội Kiều tới mức khuyên phụ nữ đừng đọc Kiều :
‘Làm trai chớ kể Phan Trần
Làm gái chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều’
Cụ cử Huỳnh Thúc Kháng trên báo Tiếng Dân số 63 ngày 01-11-1933 phụ họa với cụ Ngô Ðức Kế cho đăng bài Ðường thi sau đây :
‘’ Á cũ qua rồi mới chữa Âu
Học Kiều xúm xít bọn mày râu
Ðã mang thân thế nương nhà thổ
Còn trách cha ông vụng kiếp tu
Một khúc đoạn trường khêu lửa dục
Mấy giây bạc mệnh chác hơi sầu
Biết chăng hỡi cụ Tiên Ðiền vậy
Muôn ác là dâm ấy sự đầu…’’
Vô tư mà xét những lời buộc tội Thúy Kiều tỏ ra quá khắc nghiệt và đôi khi không đúng. Thật ra Thúy Kiều mà tác giả mô tả trong truyện là một phụ nữ đáng làm gương về phương diện hiếu nghĩa và nhân áị Nàng không ngần ngại hy sinh mối tình đằm thắm với Kim Trọng, chấp nhận bán mình cho một ông già xa lạ (Quá niên trạc ngoại tứ tuần). Trong thời gian xa cách gia đình, lúc nào nàng cũng thương nhớ cha mẹ và tình quân :
-Lúc ở lầu Ngưng Bích :
‘’Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sương luống hãy rày mong mai chờ…
Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ…’’
-Lúc ở lầu xanh :
‘’Nhớ lời nguyện ước ba sinh
Xa xôi ai có thấu tình chăng ai ?
Nhớ ơn chín chữ cao sâu
Một ngày một ngả bóng dâu tà tà…’’
-Lúc ở Châu Thai :
‘’Tiếc thay chút nghĩa cũ càng
Dẫu lìa ngõ ý còn vương tơ lòng…
Xót thay duyên cỗi, xuân già
Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi…’’
Giữa lúc vui hưởng cuộc đời êm đẹp với Từ Hải, Thúy Kiều động lòng nhân ái nghĩ đến bao người lâm cảnh tang tóc vì chiến tranh, khuyên Từ Hải nên ngưng việc binh đao nhân cơ hội triều đình cử Hồ Tôn Hiến đến chiêu phủ và ban thưởng. Nàng viện cớ rằng tài giỏi như Hoàng Sào mà cũng chẳng để lại tiếng thơm cho hậu thế :
‘’Ngẫm từ khởi việc binh đao
Ðống xương vô định đã cao bắng đầu
Làm chi để tiếng về sau
Ngàn năm ai có khen đâu Hoàng Sào…’’
Ngộ nhận sự hy sinh cao cả của Kiều cho tình hiếu nghĩa, cho tình thương nhân loại và lại kết tội nàng quả thật là điều oan hại cho Nguyễn Dụ May thay phong trào hủ Nho nầy không tồn tại được bao lâụ Từ đầu thế kỷ hai mươi, người ta đã cho ghi Truyện Kiều vào chương trình giáo khoa ở bậc Trung học.
Kết tội Thúy Kiều là con người đa dâm, thích làm gái mãi dâm thật là một điều oan ức cho nàng. Thật thế, Thúy Kiều bị vào lầu xanh hai lần vì bị mắc lừạ Nàng đã cố cưỡng lại bằng cầm dao tự sát và chạy trốn nhưng sự việc không thành :
‘’Liều mình thế ấy phải lừa thế kia’’
Vả lại nàng đã nguyền rủa nghề nầy :
‘’Chém cha cái số hoa đào
Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi’’
Chẳng khác gì nữ sĩ Hồ Xuân Hương thóa mạ cái thân phận làm vợ lẻ :
‘’Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung’’
Về đường luân lý, Thúy Kiều tuy đa tình đa cảm nhưng không đi xa ngoài vòng lễ giáọ Tuy giao du thân mật với Kim Trọng, nàng vẫn luôn luôn giữ chữ trinh. Khi Kim Trọng tỏ vẻ xàm xỡ :
‘’Sóng tình dường dã xiêu xiêu
Xem trong âu yếm có chiều lả lơi ‘’
Nàng liền phản ứng ngay :
‘’ Ðã cho vào bậc bố kinh
Ðạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu
Ra tuồng trên bộc trong dâu
Thì con người ấy ai cầu làm chi ‘’
Về tục lệ cưới xin, Kiều vẫn tôn trọng ý kiến cha mẹ và sự mối lái :
‘’Dù khi lá thắm chỉ hồng
Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha
Chút chi gắn bó một hai
Cho đành rồi sẽ liệu bài mối manh ‘’
Về tục lệ nam nữ thụ thụ bất thân, sự xé rào của Kiều nếu phái hủ Nho kết tội thì trái lại phái cấp tiến lại hoan nghênh. Qua hành vi Thúy Kiều, Nguyễn Du đã tỏ ra có tư tưởng cấp tiến nên xóa bỏ những tục lệ cổ hủ xưa không thích hợp với trào lưu tiến hóa của nhân loạị Như vậy cụ đã đi tiên phong trong trào lưu canh tân xứ sở do nhóm Tự Lực Văn Ðoàn cổ súỵ

TƯ TƯỞNG CHÍNH CỦA NGUYỄN DU TRONG KIM VÂN KIỀU
Căn cứ vào hai câu thơ :
‘’ Âu đành quả kiếp nhân duyên
Cùng người một hội một thuyền đâu xa ‘’


Có độc giả cảm thấy rằng Nguyễn Du nghĩ cuộc đời mình giống cuộc đời Thúy Kiều, một phụ nữ đa tài đa sắc, hiếu thảo mà phải chịu nhiều cảnh đoạn trường. Vì thế tác giả viết truyện Kiều để giải bày những tâm tình và ẩn ý về đời mình có nhiều nghịch cảnh éo le giống như cuộc đời nàng Kiều, hợp với thuyết ‘tài mệnh tương đố’ và ‘hồng nhan bạc mệnh’. Thuyết nầy đã được chứng minh trong quyển truyện Phong Tình Cổ Lục của Trung Hoa nhan đề là Vương Thúy Kiều do Thanh Tâm Tài Nhân viết. Nguyễn Du đã phỏng theo cốt truyện nầy với ít nhiều thay đổi để viết tác phẫm Ðoạn Trường Tân Thanh tức Kim Vân Kiều tân truyện.

Trong quyển Việt Nam Văn Học Sử Yếu, cụ Dương Quảng Hàm viết như sau : Truyện Kiều có thể coi là một câu chuyện tâm sự của Nguyễn Du tiên sinh, một bầy tôi có lòng trung mà vì cảnh ngộ không giữ được trung với cưụ chủ. Tác giả vốn tự coi mình như một cựu thần nhà Lê mà gặp lúc quốc biến không trọn chữ trung với Lê triều lại phải ra thờ nhà Nguyễn. Tâm sự thật không khác gì tâm sự nàng Kiều đã đính ước với Kim Trọng mà vì gia biến phải bán mình cho người khác không giữ được chữ trung với tình quân. Bỡi vậy tác giả mới mượn truyện nàng Kiều để ký thác tâm sự của mình. Muốn biết giả thuyết nầy đúng hay không, ta cần biết lịch sử Việt Nam vào cuối thế kỷ thứ 18, thời vua Lê Chiêu Thống, vị vua cuối cùng của dòng nhà Lệ Trong lịch sử VN, ta chưa từng thấy có một vị vua nào đồi bại như vua Lê Chiêu Thống, một vị vua ngồi làm vì để cho chúa Trịnh tiếm quyền gây nội chiến rồi sau đó chạy theo Nguyễn Hữu Chỉnh bỏ kinh thành sang Tàu cầu cứu vua Càn Long đưa quân Tàu về đóng ở Bắc Ninh và Thăng Long, nhận sự đô hộ của nhà Thanh. May thay vua Quang Trung đã đuổi quân Tàu về nước, sau chiến thắng Ðống Ða đầu năm Kỷ Dậu âl. 1789. Theo Khổng Tử, tình nghĩa vua tôi chỉ nên giữ khi nào vua phải ra vuạ (quân quân thần thần), trị nước có nhân có nghĩa, có tài có đức thì bày tôi mới giữ lòng trung thành. Nguyễn Du là một vị tố nho, không làm ngược lại lời dạy của Khổng Tử nên không nghĩ phải giữ lòng trung với vua Lê Chiêu Thống, một vị đã vô tài lại còn vô đức, cõng rắn cắn gà nhà hòng lấy lại ngôi vị. Vả lại nếu muốn giữ chữ trung (trung với nhà Lê), Nguyễn Du có thể hoặc đi theo vua Lê sang Tàu, hoặc bắt chước Nguyễn Thiếp La Sơn Phu Tử hay Phạm Quý Thích trùm chăn ngồi nhà dạy học hay tiếp tục câu cá và săn bắn. Gán cho Nguyễn Du những mục đích trên đây xem ra không đúng với ý đồ của tác giả khi viết Kim Vân Kiềụ Nguyễn Du không có mục đích hạn hẹp ký thác hay giải bày tâm sự mình. Trái lại cụ muốn truyền đạt những ý nghĩa sâu xa của sự đau khổ qua cuộc đời Thúy Kiềụ Những ý nghĩa đó cụ gọi là Ðoạn Trường Tân Thanh. Cụ cho nó là mới vì ở vào thời đại của cụ ít người nghĩ tớị Phải là một nhà hiền triết có nhiều suy tư, có nhiều kinh nghiệm mới dám đề cập tới vấn đề đau khổ thuộc về tâm linh rất khó giải thích. Thật vậy, chỉ riêng về căn nguyên của sự đau khổ mà những nhà hiền triết đã giải thích không giống nhaụ Lão Tử tin vào số mệnh do trời định ; Khổng Tử coi đau khổ là lẽ tự nhiên của mọi sự xảy ra trong vũ trụ theo luật nhị nguyên như là có âm có dương, có nóng có lạnh, có mưa có nắng, thì tất nhiên nếu có hạnh phúc thì có đau khổ cho nên ta phải hòa mình mà sống trong những trạng thái đó. Ðức Thích Ca coi đau khổ là nghiệp chướng theo thuyết nhân quả. Chúa KITÔ không giải thích căn nguyên của đau khổ, không xóa bỏ đau khổ, sẵn sàng chịu đựng đau khổ bất cứ từ đâu đến.

Như vậy rất có nhiều tiếng nói hay âm thanh về sự đau khổ. Sau đây là những ‘’âm thanh mới’’ được Nguyễn Du trình bày trong tác phẫm Ðoạn Trường Tân Thanh :
Ðoạn Trường Tân Thanh thứ nhất :
Thời xưa người ta quan niệm số mệnh con người, đau khổ hay hạnh phúc đều do tiền định. Vì thế có câu Nhất ẩm nhất trác giai do tiền định.
Nguyễn Gia Thiều trong Cung Oán Ngâm Khúc có viết :
Vẻ chi ăn uống sự thường
Cũng còn tiền định khá thương lọ là
Cụ Nguyễn Du tin có thiên mệnh :
Ngẫm hay muôn sự tại trời
Trời kia đã bắt làm người có thân
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao

Nhưng thiên mệnh theo Nguyễn Du không có nghĩa là tiền định cho con ngườị Tuy số phận con người do Trời định đoạt nhưng sự quyết định nầy không áp đặt cho con người trước khi con người hành động. Trái lại, Trời định đoạt sau khi xét xem hành động của con người để nếu tốt thì ban phúc và nếu xấu thì giáng họa .

Sư rằng : Phúc họa đạo Trời
Cỗi nguồn cũng ở lòng người mà ra

Thật vậy, người ta ai cũng được hưởng sự tự do hành động, có quyền làm điều thiện hay điều ác và Trời không ép buộc ta trong công việc lựa chọn.

Theo luật nhân quả, ai làm điều tốt thì được hưởng ơn lành ; ai làm điều xấu thì phải gánh những tai họạ Ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ cũng như gieo gió gặt bãọ Ðó là một quy luật rất công bằng. Trong truyện Kiều, Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh và Bạc Hạnh có tài làm điều ác nên gặp phải sự dữ : họ bị kết án tử hình. Kim Trọng, Thúy Kiều là những người chỉ làm điều lành thì được hưởng cuộc đời đầy hạnh phúc sau một thời gian cam chịu sự đau khổ do kẻ ác tâm gây ra .

Như vậy, tân thanh thứ nhất của đoạn trường, theo Nguyễn Du là : sự đau khổ phần nhiều do con người gây ra chứ không phải do Tiền định.

Ðoạn Trường Tân Thanh thứ hai :
Thuyết Tài Mệnh tương đố không hoàn toàn đúng. Người xưa tin vào thuyết tài mệnh tương đố và hồng nhan bạc mệnh.
Mỹ nhân tự cổ như danh tướng
Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu
Cụ Nguyễn Du cũng có nhắc đến niềm tin nầy bằng mây câu thơ sau đây :
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau …
……………. Rằng hồng nhan tự thủa xưa
Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu ?

Nhưng trong truyện Kiều, tác giả lại chứng minh điều trái ngược là tài mệnh tương trợ và hồng nhan không có bạc mệnh. Thật vậy, Thúy Kiều nhờ tài văn chương mà hai lần hưởng phúc tránh họạ Lần đầu ở phủ đường, Thúc Sinh thấy Kiều bị đánh đòn, than rằng văn thơ tài giỏi như nàng mà bị đánh đập.Quan phủ nghe thấy lời than, muốn xem coi có đúng không, hạ lệnh khoan đánh nàng và bảo nàng vịnh bài thơ với một đề tài rất hóc búa : Mộc già, ý nói cái gông bằng gỗ già mà Kiều đang đeo trên cổ. Xét thấy bài thơ quá hay, hay hơn cả những bài thơ thời Thịnh Ðường, quan phủ truyền lệnh tha đánh Kiều và cho phép tổ chức lễ cưới một cách trọng thể.
Khen rằng : giá lợt Thịnh Ðường
Tài này sắc ấy nghìn vàng chưa cân..
Kíp truyền sắm sửa lễ công
Kiệu hoa lướt gió, đuốc hồng điểm sao .
Lần thứ hai,Kiều được giải thoát cảnh nô tỳ trở thành vãi Trạc Tuyền Quan Âm Các cũng nhờ tài văn chương. Sau khi đọc xong tờ thân cung của Kiều, Hoạn Thư đổi nét mặt, từ kiêu hãnh ra ngẩn ngơ :
Liền tay trao lại Thúc Sinh
Rằng tài nên trọng mà tình nên thương….
Sẵn Quan Âm Các vườn ta
Cho nàng ra đó giữ chùa chép kinh
Về số phận Thúy Vân, nàng có nhan sắc :
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc, liễu hờn màu da…
Thế mà không bị bạc mệnh :
Thừa gia chẳng hết nàng Vân,
Một cây cù mộc, một sân quế hòe…
Phong lưu phú quí ai bì
Vườn xuân một cửa, để bia muôn đời…

Theo Nguyễn Du, thuyết tài mệnh tương đố không hoàn toàn đúng. Nó chỉ đúng khi đem áp dụng vào trường hợp những kẻ có tài mà tâm ác. Trái lại, những kẻ có tài mà tâm tốt thì tài mệnh lại tương giúp nhaụ Nguyễn Du nhấn mạnh đến chữ tâm, coi chữ tâm rất ảnh hưởng đến số mệnh con người :
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài
Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài liền với chữ tai một vần.


Ðoạn Trường Tân Thanh thứ ba :
Ðau khổ không phải là một điều hoàn toàn vô ích, nhiều khi đau khổ là một điều có ích , nó giúp ta thành công và làm tăng giá trị tâm hồn tạ Dĩ nhiên, ai cũng muốn tránh đau khổ và muốn hưởng hạnh phúc, nhưng trong nhiều trường hợp, ta phải trải qua nhiều khó nhọc gian truân mới đạt tới thành công, mang lại hạnh phúc. Có làm thì mới có ăn, không dưng ai dễ mang phần đến chọ Có công mài sắt có ngày nên kim ; đó lá quy luật thiên nhiên. Về phương diện đạo lý, đau khổ là cơ hội tốt để ta đạt được hai điều sau đây : đền tội và lập công. Ở đời nầy, ai cũng có tội, tội ít hay tội nhiều, nhẹ hay trọng, bằng lời nói việc làm hay trong tư tưởng ; nhất là vì lười biếng, thờ ơ không làm những việc thuộc tầm tay ta để cứu tha nhân. Kẻ nào nói mình không có tội, theo Thánh Pierre, là kẻ nói dốị Hiền lành như Thúy Kiều mà cũng có nhiều tiểu tội như chạy trốn khỏi lầu Ngưng Bích, không tham khảo ý kiến của Thúc Ông và Hoạn Thư ; lấy cắp chuông vàng khánh ngọc của Hoạn Thư, nói dối sư Giác Duyên là đã qui y, quy Phật :
Tiểu thiền quê ở Bắc Kinh
Qui y qui Phật tu hành bấy lâu
Ba trận đòn là cơ hội giúp Kiều đền tội :
Túc khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi


Về khía cạnh lập công, đau khổ ta gặp là những thử thách để đo lường giá trị hồn ta vì nếu không có gian nan nguy hiểm thì bằng điều gì mà biết được giá trị công việc ta làm ? Ðau khổ càng nhiều, giá trị hồn ta càng lớn. Thi hào Pierre Corneille đã viết : À vaincre sans péril, on triomphe sans gloire (chiến thắng mà không trải qua nguy hiểm thì chẳng có gì là vinh quang).

Các bậc vĩ nhân, các đấng anh hùng là những người đã lập chiến công sau khi nhiều lần vào sinh ra tử, nằm gai nếm mật. Các vị Thánh cũng vậy, vị nào cũng phải khắc phục cuộc sống vị tha đầy kham khổ. Chúa Kitô xuống trần chấp nhận đau khổ, chịu bị đóng đanh, chết trên thập giá, không một lời ta thán tuy bị vu oan, để đạt tới mục đích cứu chuộc tội lỗi loài người theo ý định của Chúa Cha .
Thúy Kiều cũng vậy, nàng chấp nhận chịu đựng một cách âm thầm những đoạn trường để đạt tới mục đích tối thượng là cứu chạ Ðó là cơ hội để nàng lập công :
Hiếu tâm đã động đến Trời …
Thửa công đức ấy ai bằng…

Ðoạn Trường Tân Thanh thứ bốn :
Nên có thái độ bình tĩnh khi gặp phải đau khổ. Người ta trong lúc bình an mạnh khỏe, sống trong hạnh phúc, thường không biết là mình đang được hưởng ân huệ của Trời, không cám ơn Trời, coi hạnh phúc đó là điều tự nhiên nó đến. Nhưng khi gặp đau khổ thì họ lại quy tội cho Trời, oán trách Trời là bất công hay ghen tỵ :
Phũ phàng chi bấy Hóa Công….
Lạ gì bỉ sắc tư phong
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen..
Trẻ Tạo Hóa đành hanh quá ngán
Dắt díu người lên cạn mà chơi…


Oán trách Trời như vậy, không những phạm tội kiêu ngạo, xét đoán hồ đồ mà lại còn làm tăng sự đau khổ thêm. Nguyễn Du khuyên ta nên có thái độ bình tĩnh để kiểm thảo và suy ngẫm về sự việc đã xảy ra :
Ðã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lãn Trời gần Trời xa
Alfred de Vigny, nhà thi hào nổi tiếng của Pháp đã viết :
L’homme est un apprenti, la douleur est son, maitre
Et nul ne se connaît tant qũon n’a pas souffert
(Ta là thợ học nghề, khổ đau cho biết thêm về thân ta)
Thúy Kiều tuy bị đau khổ vì vu oan và lường gạt nhưng lúc nào cũng âm thầm chịu đựng :
Oan kia theo mãi với tình,
Một mình mình biết, một mình mình hay…
Khi tỉnh rượu lúc tàn canh
Giật mình mình lại thương mình xót xa…

Buồng riêng riêng những sụt sùi
Nghĩ thân mà lại ngậm ngùi cho thân

Thái độ bình tĩnh của Kiều trong cơn đau khổ giống hệt thái độ của Chúa Kitô trong cuộc khổ nạn vác thánh giá lên đồi Golgotha, chịu để đóng đinh và chết trên thập giá để đền tội cho loài ngườị Dọc đường không bao giờ Chúa kêu ca oan ức dù bị đánh đập rất tàn nhẫn.

Ðoạn Trường Tân Thanh thứ năm :
Thái độ chúng ta khi chứng kiến sự đau khổ của tha nhân :
Nguyễn Du cũng không quên nhắc đến trường hợp nầỵ Cụ chia ra làm hai loại người có thái độ khác nhau trước sự đau khổ của người khác. Loại thứ nhất gồm những người như Sở Khanh và Bạc Bà là những kẻ làm tăng sự đau khổ của nạn nhân để trục lợị Sở Khanh lừa gạt Kiều đi trốn để lấy 30 lạng vàng của Tú Bà ; Bạc Bà lừa gạt Kiều lấy cháu là Bạc Hạnh. Ngày nay hạng người nầy là những kẻ tổ chức đường giây vượt biển. Sau đó họ lại đi báo công an. Loại người thứ hai là những người như Sư Giác Duyên, giàu lòng từ thiện, thuê hai ngư phủ « đóng thuyền, trực bến, kết chài » cứu vớt Thúy Kiềụ Ngày nay họ là những đoàn y sĩ tổ chức những con tàu cứu khổ, tuần hành ở vùng Biển Ðông để cứu vớt nạn nhân vượt biển.

Ðoạn Trương Tân Thanh thứ sáu :
Trong lúc đau khổ ta cần phải có hy vọng vào sự xét xử công bằng của Trờị Ở đời nầy không có gì là vĩnh viễn. Sau cơn mưa Trời lại sáng cũng như
Sau cơn Bỉ cực tới tuần Thái lai
Thật vậy, người ta chỉ sống bằng hy vọng về ngày mai tươi đẹp. Hy vọng là động cơ thúc đẩy lòng kiên trì giúp ta khắc phục mọi gian truân. Không có hy vọng ta sẽ chán nản trước những khó khăn, dễ trở thành buồn rầu, không còn nghị lực để đạt tới mục đích. Trong Kim Vân Kiều, ở đoạn kết, tác giả đã cho độc giả biết sự thưởng phạt công minh của Tạo Hóạ Nàng Kiều, một người đầy thiện tâm đã phải chịu nhiều đau khổ do kẻ ác tâm hãm hại, được Trời ban cho phần thưởng rất lớn ;: Tái sinh, sống đoàn tụ với gia đình.
Một nhà phúc lộc gồm hai
Ngàn năm dằng dặc quan giai lần lần
Một điều rất lạ với người phương đông là sau khi tái sinh, Kiều chỉ chấp nhận sống với Kim Trọng một cuộc sống tinh thầnmà thôi .
Chàng dù nghĩ đến tình xa
Ðem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ
Khi Kim Trọng cho gia đình biết về ý định nầy của Kiều
Hai tình vẹn vẽ hòa hai
Chẳng trong chăn gối cũng ngoài cầm thơ
Ai cũng cho làm lạ
Một nhà ai cũng lạ lùng khen lao

Ðối với dân chúng phương tây, cuộc sống tinh thần nầy không có gì là lạ. Vì họ đã được Chúa Kitô cho biết rằng ở đời sống mai sau không có cuộc sống vật chất, mọi người chung sống với nhau trong cuộc sống tinh thần như các thiên thần vậỵ

Ý nghĩa hai câu thơ của Nguyễn Du :
Căn cứ vào những dữ kiện về cuộc đời và tư tưởng của Nguyễn Du, ta có thể đưa ra lời giải đáp như sau về hai câu thơ :
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như
Trong hai câu nầy, Nguyễn Du hỏi ta ai sẽ khóc Cụ và nếu có khóc Cụ thì phải đợi 300 năm nữa .

Thiên hạ khóc Nguyễn Du về điều gì ? Sau khi thấu hiểu tư tưởng Cụ trình bày trong tác phẫm Ðoạn Trương Tân Thanh, ta thấy người xưa đã hiểu lầm Cụ cả về mặt luân lý lẫn về mặt đạo lý. Về mặt luân lý, người ta coi truyện Kim Vân Kiều là một truyện đầy tính cách dâm ô, xúc phạm đến thuần phong mỹ tục nên khuyên phụ nữ không nên đọc. Về mặt đạo lý, người xưa không biết đến giá trị tuyệt vời của những tư tưởng cao siêu mà tác giả trình bày trong Ðoạn Trường Tân Thanh. Họ gán cho Cụ đã trình bày một đề tài mà Cụ không hoàn toàn đồng ý : đó là thuyết Tài Mệnh tương đố và Hồng Nhan đa truân.

Như vậy, ngày nay độc giả khóc Nguyễn Du vì Cụ là nạn nhân của sự ngộ nhận những tư tưởng cao siêu mà Cụ đã dày công trình bày trong tác phẫm Ðoạn Trường Tân Thanh.

Ngoài sự ngộ nhận kể trên, độc giả còn khóc Nguyễn Du về điểm người đương thời không hiểu ý định của Cụ muốn mượn truyện phong tình để chỉ trích cái chế độ phong kiến cuối thế kỷ 18, một chế độ đầy bất công, tham nhũng gây đau khổ cho người dân mà kẻ tượng trưng là nàng Kiềụ Vì không hiểu tầm quan trọng của vấn đề nầy nên nếp sống sa đọa của kẻ cầm quyền không bị phản đối mà vẫn được duy trì cho nên tác giả nghĩ rằng phải đợi ít lâu sau người đời mới thông cảm niềm lo âu của Cụ.

Ngay trong phần mở đầu của truyện Kiều, Nguyễn Du đã viết :
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng


Sau đó tác giả lần lượt mô tả những cảnh đoạn trường mà nàng Kiều phải gánh chịu do sự bất công của một chế độ phong kiến độc tài tàn bạọ Nàng Kiều tượng trưng cho người dân hiền lành, chất phác, có chút tiền hay chút nhan saắc để kẻ có quyền thế bóc lột hay trục lợị Kẻ có quyền thế là giới thống trị ham mê tiền bạc, tìm mọi cách để moi tiền kẻ bị trị :
Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê…
Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.
Thấy Vương Ông có hai ả tố nga, chàng bán tơ liền vu oan giá họa cho ông. Phủ đường được dịp chẳng cần xét xử, sai người đến tịch thu tài sản, tra tấn phũ phàng, trói hai cha con, treo ngược lên sà nhà làm đau lòng Thúy Kiềụ Muốn êm câu chuyện, họ bảo nạn nhân phải có tiền để đút lót :
Tính bài lót đó luồn đây
Có ba trăm lạng việc nầy mới xuôi .
Thế là Kiều phải hy sinh bán mình chuộc cha, một thảm cảnh từ xưa tới nay vẫn thường xảy ra .

Những đoạn trường của Kiều lần lượt xảy đến bỡi sự đàn áp và lường gạt của những kẻ ác tâm. Nguyễn Du khóc về những bất công của xã hội và cũng khóc về sự lãnh đạm của giới sĩ phu đương thờị Giới nầy vẫn còn bị ru ngủ bỡi những thuyết Tài Mệnh tương đố, Hồng nhan bạc mệnh, nhất trác nhất ẩm giai do tiền định, cho nên coi những đau khổ của con người là do số mệnh. Ngay như cụ tiến sĩ Phạm Quý Thích, bạn của Nguyễn Du, người phụ trách việc ấn loát và phổ biến quyển truyện, mà cũng vô tình đổi nhan đề Ðoạn Trường Tân Thanh sang Kim Vân Kiều tân truyện và đã làm một bài thơ đường vịnh Kiều với ý nghĩa Tài Mệnh tương đố :

Tài tình hai chữ muôn đời lụy
Ai đọc Tân Thanh chẳng mũi lòng


Tại sao Nguyễn Du lại nghĩ đến sự kiện phải ba trăm năm sau, độc giả mới khóc Cụ ? Bỡi người đương thời không hiểu rõ những căn nguyên sự đau khổ của người dân nên Nguyễn Du đã tự hỏi liệu 300 năm sau người ta có thấu hiểu được chăng những tư tưởng Cụ trình bày trong Ðoạn Trường Tân Thanh để rồi sẽ khóc Cụ. Thật vậy, chẳng cần phải đợi 300 năm mà ngày nay chưa được 200 năm, hầu hết dân Việt Nam chúng ta đều chịu đau khổ, khóc về những thảm cảnh có tầm mức quan trọng gấp trăm gấp ngàn lần những đoạn trường của Kiều .

Ngày xưa, giới thống trị mê tiền, nhưng cách làm tiền còn kín đáo Ngày nay, họ làm tiền một cách công khai, trơ trẽn. Nạn tham nhũng xảy đến cho tất cả cơ quan chính quyền đến nỗi danh từ kép ‘đầu tiên’ (nói lái là ‘tiền đâu’) là cửa miệng của các cán bộ khi tiếp cận với người dân. Ngày xưa có một nàng Kiều bị lừa gạt vào lầu xanh ; ngày nay hàng trăm ngàn phụ nữ bị như vậỵ Các thành phố lớn như thành phố Hồ CíMinh đầy dẫy gái mãi dâm đứng đường dưới quyền kiểm soát của ma cộ Các phụ nữ xấu số và nghèo đói phải ký hợp đồng hôn phối với người Ðài Loan, thì bị sa vào cảnh ngày làm việc hầu hạ các ông chồng tàn tật, bất lực, tối thì làm đồ giải trí cho mọi ngườị Các phụ nữ ký hợp đồng lao công ở các xí nghiệp tại Ðài Loan thường bị bọn chủ cưỡng hiếp. Trường hợp đau thương nầy đã được Linh mục Nguyễn Văn Hùng nói lên trên đài truyền thanh RFỊ Ngày xưa chàng bán tơ vu oan cho Vương Ông để đòi ít tiền ; ngày nay ngườ ta vu oan, chụp mũ để sát hại nhaụ Hàng ngàn thanh niên vì bất đồng ý kiến với Cộng sản, bị chụp mũ là Việt gian rồi bị giết chết. Thưở xưa, Mã Giám Sinh, Tú Bà, Bạc Hạnh lừa Kiều ; ngày nay lường gạt là chính sách của các lãnh tụ Cộng sản. Dân chúng Việt Nam là nạn nhân của các sự lường gạt đó. Những hiệp ước do Cộng sản ký với người quốc gia không được tôn trọng. Kết quả là hàng ngàn thanh niên yêu nước của các phong trào, đảng phái quốc gia đã bị Cộng sản giết sau khi ký Hiệp ước Chính Phủ hòa hiệp năm 1946 giữa Hồ Chí Minh, Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh. Hòa ước Genève năm 1954 và Hiệp ước Ba Lê năm 1973 không được Việt Cộng tôn trọng. Ngày xưa một Từ Hải bị Hồ Tôn Hiến lừa phải chịu chết đứng ; ngày nay hàng ngàn binh sĩ quốc gia bị Cộng sản lừa nên họ bị bức tử và dân chúng thì hàng vạn người bị chết dưới biển sâu trên đường vượt tuyến. Trước những thảm cảnh đó, ai mà không khóc như Nguyễn Du ?

Nói tóm lại, trong tác phẫm Kim Vân Kiều, Nguyễn Du đã tỏ ra là một đại thi hào không những về phương diện văn chương mà còn cả về phương diện tư tưởng nữạ Tác phẫm nầy có thể coi như là bộ Kinh điển gồm những nét tinh hoa của các tôn giáo lớn như Tam giáo và Thiên Chúa giáọ Thật thế, đức năng thắng số của đạo Lão đã được tác giả nhắc tới nhiều lần :
« Thửa công đức ấy ai bằng
Túc khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi »….
« Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều »…
Những điều nhân, hiếu, nghĩa mà Khổng Tử răn dạy đã được Thúy Kiều thực thi trọn vẹn. Tư tưởng của Ðức Thích Ca về đời là bể khổ, về nghiệp chướng với định luật nhân quả cũng đã được nhắc đến qua các câu thơ sau đây :

« Kiếp xưa đã vụng đường tu
Kiếp nầy chẳng kẻo đền bù mới xuôi…..
« Tu là cõi phúc, tình là giây oan….
« Sư rằng song chẳng hề chi
Nghiệp duyên cân lại, nhắc đi còn nhiều ….
« Ðã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa ….

Tuy Nguyễn Du không được đọc những lời Chúa KITÔ dạy trong Kinh Thánh, nhiều tư tưởng của cụ rất trùng hợp với những cao điểm của đạo Công giáọ Sau đây là một vài dẫn chứng :
1- Về tình thương yêu : Chúa KITÔ nói : tình yêu đẹp nhất là sự hy sinh mạng sống cho người mình yêụ Thúy Kiều đã hai lần thực thi điều nầỵ Trước khi cầm dao tự sát để tỏ lòng thương yêu cha mẹ và Kim Trọng, nàng nói :
Lỡ làng nước đục bụi trong
Trăm năm để lại tấm lòng từ đây
Trước khi gieo mình xuống sông Tiền đường, để tỏ lòng đáp lại ơn nghĩa của Từ Hải, nàng cũng đã nói :
Rằng : Từ công hậu đãi ta
Chút vì việc nước mà ra phụ lòng….
Thôi thì một thác cho rồi
Tấm lòng phó mặc trên trời dười sông

Theo nhà học giả Nguyễn Thùy, tấm lòng của Kiều nói đây là tấm lòng yêu thương không những với cha mẹ, Kim Trọng và Từ Hải mà còn là tấm lòng yêu thương tha nhân.

2- Về lòng nhân ái, yêu chuộng hòa bình : Chúa Kitô trong một bài giảng về tám ơn phúc, đã nói : Kẻ nào làm cho người hòa thuận, kiến tạo hòa bình, kẻ đó được gọi là con Ðức Chúa Trờị Thúy Kiều cũng đã thực thi điều nầỵ Giữa lúc đời sống đang trong vòng hạnh phúc với Từ Hải, nàng động lòng thương những kẻ bị đau thương vì chiến tranh. Nàng cố thuyết phục Từ Hải nên bãi bỏ việc binh đao nhân cơ hội triều đình cử Hồ Tôn Hiến đến chiêu phủ .

3- Thánh sử Mathieu đã ghi lời Chúa Kitô nói như sau : Kẻ nào muốn giữ mạng sống cho mình, kẻ đó sẽ mất sự sống. Kẻ nào mất sự sống vì Ta (ý nói tình thương, vì Chúa là tình thương) kẻ đó sẽ giữ được sự sống (Qui veut garder sa vie pour soi, la perdra ; qui perdra sa vie à cause de moi, la gardera). Ðọc lời nói nầy của Chúa Kitô, ta thấy nó hơi nghịch lý khó hiểụ Nhưng nếu ta đọc Ðoạn Trương Tân Thanh, ta thấy nó hợp lý và dễ hiểụ Thúy Kiều đã hai lần hy sinh tánh mạng về tình thương nhưng Trời không để nàng chết và nàng vẫn giữ được sự sống một cách viên mãn.

4-Về cuộc sống sau khi được tái sinh : Thúy Kiều sống đời sống tinh thần trùng hợp với lời Chúa nói : đời sau ta sống đời sống tinh thần như các thiên thần.

Thi phẫm ÐTTT của Nguyễn Du chứng tỏ tác giả là một đại thi hào, văn chương lỗi lạc và là một nhà hiền triết có những tư tưởng cao sâu về đạo lý. Tác giả cho ta biết những nỗi đau khổ của người dân dưới chế độ phong kiến thối nát độc tài tàn bạo, không có tình thương. Không những thế, Nguyễn Du còn là một nhà tiên tri sáng suốt, biết trước trong tương lai sẽ còn có nhiểu người bị đau khổ giống Thúy Kiều cho nên cụ đã để lại hai câu thơ trên đầy tâm huyết. Thật thế, ngày nay chín phần mười dân chúng Việt Nam đang phải sống dưới mức một dollar một ngày, tinh thần bị kềm chế, nhân quyền bị chà đạp bỡi một tập đoàn thống trị vô thần, vô lương, kiêu căng, ích kỷ. Ngày nào mà giới lãnh đạo thôi áp dụng những chính sách vô nhân đạo của loài quỷ, ngày đó dân chúng mới thoát cảnh lầm than. Ngày nay, trong khi chờ đợi, hàng triệu con dân Việt Nam đang phải khóc giống thi hào Nguyễn Dụ

KHÓC NGUYỄN DU
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như ?
Nguyễn Du
Hai thế kỷ qua Cụ Nguyễn Du
Ðã than đã khóc bước trần du
Của Kiều bị gạt bao đau khổ
Phong kiến thuở xưa tệ thế ru ?

Lãnh tụ thời nay cũng vậy ru ?
Phỉnh lừa dân chúng cảnh tiên du
Trước nền thống trị dân cơ cực
Họ cứ điềm nhiên tựa ngủ ru .

Nhớ ngày rước tượng Mẹ luân du *
Thầm ước theo chân Mẹ viễn du
Xin lửa tình thương bừng khắp chốn
Cho dòng đời chảy nhẹ êm ru
Lê gót đó đây sống lãng du
Nhìn đời dâu bể cảnh phù du
Vọng về quê Mẹ dân cơ cực
Ta khóc, khóc nhiều với Nguyễn Du


(* luân du : Tượng Ðức Mẹ Nữ Vương Hòa Bình chu du thế giới để các con chiên luân phiên chào đón).

Ngày 02-10-2005
1 Allee des Sycomores
78350 Jouy-en-Josas
France



Phương Du Nguyễn Bá Hậu
Đăng nhập để trả lời
0

.

Mang thêm vào đề tài này
bài tham luận của tác giả Hoàng Văn Lâu



Hoàng Văn Lâu
Cũng là một kiểu so sánh văn học

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=6059&rb=0102




Xưa nay, hễ nhắc tới Truyện Kiều, người ta thường liên hệ với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Cũng dễ hiểu, bởi lẽ chính Kim Vân Kiều truyện đã tạo nguồn cảm hứng để Nguyễn Du sáng tạo nên thi phẩm ưu tú nhất của nền văn học cổ điển Việt Nam. Nghiên cứu Truyện Kiều theo phương pháp so sánh văn học hiển nhiên là cần thiết và có hiệu quả thiết thực. Ở Việt Nam, hơn 50 năm trước, Đào Duy Anh có lẽ là học giả sớm nhất vận dụng phương pháp đối chiếu, so sánh một cách có hệ thống trong khi “khảo luận về Truyện Kiều” để khẳng định những thành công của tác phẩm [1] . Ở Trung Quốc, gần đây có học giả đã để công nghiên cứu Kim Vân Kiều truyện, so sánh nó với Truyện Kiều của Việt Nam và văn học hậu kỳ Giang Hộ của Nhật Bản [2] . Tôi chưa muốn làm chuyện “so sánh văn học” giữa sự “so sánh” của cụ Đào Duy Anh cách đây 50 năm với sự “so sánh” của ông Đổng gần đây đối với Truyện Kiều và Kim Vân Kiều truyện. Ở đây tôi muốn chỉ rõ ông Đổng đã dựa vào đâu để so sánh, dẫn tới hiểu sai lệch Nguyễn Du.

Trong công trình nghiên cứu của mình, Đổng Văn Thành đặt câu hỏi “có phải tác giả Trung Quốc Thanh Tâm Tài Nhân, “một kẻ dung tục”, “hết cách cứu chữa” đã chà đạp lên đề tài Vương Thúy Kiều đến nỗi chẳng còn chút giá trị nào, mà phải hoàn toàn dựa vào sự gia công của vị “thiên tài” Nguyễn Du mới biến được cục sắt cứng thành vàng ròng lấp lánh” [3] .

Sau khi tiến hành so sánh nhân vật, cốt truyện, chủ đề tư tưởng của hai tác phẩm, tác giả rút ra kết luận rằng: “Trên tổng thể… Truyện Kiều của Nguyễn Du bất kể về nội dung hay nghệ thuật đều không vượt qua được mức độ của bản nền mà nó mô phỏng, tức Truyện Kiều của Trung Quốc”, rằng: “Hiện tượng lạ lùng của Truyện Kiều Trung Quốc bị mai một lâu dài, thậm chí bị dè bỉu, nói lên nhận thức chưa đầy đủ của chúng ta (người Trung Quốc) đối với kho tàng văn học nghệ thuật phong phú do tổ tiên để lại…”.

Ông Đổng còn viết tiếp phần hạ, “xét sự khác nhau từ chi tiết” rồi rút ra “nguyên nhân của sự dị đồng”. Ở phần này, từ những “chi tiết” cụ thể, tác giả phê phán Nguyễn Du. Cũng chính từ những chi tiết ấy, chúng ta thấy rõ tác giả đã căn cứ vào đâu để phê phán Truyện Kiều, để “so sánh” hai tác phẩm.

Việc so sánh, phân tích tác phẩm văn học đi đến những đánh giá, kết luận khác nhau, thậm chí hoàn toàn trái ngược nhau cũng là điều thường thấy. Nhưng muốn có sự đánh giá, kết luận có giá trị thì phải có những điều kiện kiên quyết. Đó là phải nắm vững đối tượng so sánh, phân tích. Khi so sánh Kim Vân Kiều truyện của Trung Quốc với Truyện Kiều của Việt Nam, theo tôi, cần có hiểu biết nhất định về văn hóa văn học Trung Quốc, đặc biệt về tiếng Hán, về tiểu thuyết Trung Quốc, về thị hiếu văn chương của người Trung Quốc… Đồng thời, cũng phải có hiểu biết về văn hóa Việt Nam, về văn học Việt Nam, đặc biệt về tiếng Việt, về thể truyện thơ Nôm Việt Nam cùng thị hiếu văn chương của người Việt Nam.

Tác giả của Thanh đại văn học luận cảo, ông Đổng Văn Thành, có một thuận lợi khi phân tích, lý giải Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân vì ông là người Trung Quốc [4] , nhưng ông lại chưa có những hiểu biết cần thiết về văn hóa, văn học Việt Nam, về thể truyện thơ Nôm Việt Nam, nhất là chưa biết tiếng Việt. Khi so sánh phân tích Truyện Kiều, ông hoàn toàn dựa vào bản dịch của nhà nghiên cứu Hoàng Dật Cầu.

Chúng tôi không có ý định tranh luận với Đổng Văn Thành về từng luận điểm. Ở đây, chúng tôi chỉ nêu một vài “dẫn chứng” mà ông dùng để phê phán Truyện Kiều, những dẫn chứng này, như dưới đây chúng tôi phân tích, hoàn toàn không phải từ Truyện Kiều của Nguyễn Du, mà là từ một bản dịch của người Trung Quốc. Cũng xin nói thêm, khi “dẫn chứng” bản dịch, tác giả cũng không ghi rõ xuất xứ, số trang, số câu. Chúng tôi phải tự đi tìm. Nhiều khi tác giả đưa ra một chữ, một câu mà không thấy chữ ấy ở nguyên tác Truyện Kiều.

Khi “so sánh” việc Thúc Sinh chuộc Kiều về làm thiếp, tác giả cho rằng trong Kim Vân Kiều truyện, Thúc Sinh chủ yếu dựa vào người bạn có thế lực phi phàm là Vệ Hoa Dương giúp đỡ, còn Nguyễn Du lại miêu tả Thúc Sinh tự mình lo liệu. Rồi ông dẫn bản dịch:

“Ông ta (Thúc Sinh) thác lời là nghỉ mát ở trúc viện, đem Thúy Kiều đi giấu một nơi. Ông ta chuẩn bị kiện kỹ viện, sai người đi do thám đối phương. Cuối cùng đã thuyết phục được Tú Bà, cờ thua một nước, (Tú Bà) cũng đành để nàng hoàn lương” [5] để đi đến “kết luận”: “Như vậy chẳng những mâu thuẫn với tính cách của Thúc Sinh, cũng mâu thuẫn với sự phát triển của cả cốt truyện”. Đoạn này nguyên văn Truyện Kiều là:

Mượn điều trúc viện thừa lương,
Rước về hãy tạm giấu nàng một nơi.
Chiến hòa sắp sẵn hai bài,
Cậy tay thầy thợ, mượn người dò la.
Bắn tin đến mụ Tú Bà,
Thua cơ mụ cũng cầu hòa dám sao.

Đâu phải Thúc Sinh “tự mình lo liệu”, Thúc Sinh đã phải “cậy tay thầy thợ, mượn người dò la”, nghĩa là nhờ cả người bày mưu tính kế (thầy) đến người thực hiện (thợ). Ở đây, ông Đổng đáng lẽ nên phê bản dịch chứ không nên phê Truyện Kiều.

Tác giả phê phán Nguyễn Du “vẽ rắn thêm chân” làm cho nhiều chỗ “mâu thuẫn với hoàn cảnh và tình tiết” của toàn bộ tác phẩm, dẫn chứng đoạn Thúy Kiều, Kim Trọng quen biết nhau và yêu nhau từ tiết Thanh minh. Quá trình ấy không quá nửa năm, thế mà xuất hiện cảnh mùa đông “Tường đầu sương nồng tuyết hậu” (“Đầu tường sương nặng tuyết dày”), lại còn các câu “tơ liễu phất phơ trước mành”, “hoa rụng đầy sân”, “thưa hồng rậm lục” rõ ràng là mâu thuẫn nhau, phá hoại tính thống nhất và cảm giác chân thực của việc tả cảnh [6] . Câu “Tường đầu sương nồng tuyết hậu” là dịch từ câu:

Một tường tuyết trở sương che

Câu nguyên văn ở Truyện Kiều nói sự ngăn cách, “tuyết trở”, “sương che” không được mấy người yêu, chứ đâu phải cảnh, càng không phải là cảnh mùa đông. Cả đoạn yêu đương này Nguyễn Du miêu tả rất ý nhị, cảm giác thời gian cũng được nhận rõ từ tiết Thanh minh đến mùa hè “thưa hồng rậm lục”, chứ đâu có cảnh mùa đông, đâu có mâu thuẫn?

Khi phân tích nguyên nhân có sự dị đồng giữa Kim Vân Kiều truyện với Truyện Kiều, tác giả cho rằng Nguyễn Du chịu ảnh hưởng của chữ nghĩa, nệ cổ, chủ nghĩa hình thức trong thơ hồi đó. Trong tác phẩm của mình, Nguyễn Du luôn luôn “khoe khoang tri thức của mình về thơ từ, văn hóa Trung Quốc”, “sử dụng hàng loạt các câu chữ có sẵn trong thơ Đường, trong từ Tống và điển cố Trung Quốc”… “dẫn tới sự chồng chất, sống sượng, thậm chí gây nên sai lầm trong khi dẫn, tổn hại đến nội dung. Những sai lầm này chỗ nào cũng thấy” [7] . Rồi tác giả dẫn chứng câu: “Tần lâu vân tỏa tú liêm thùy” (Lầu Tần mây khóa, rèm thêu buông), xưng xưng rằng Nguyễn Du lầm lẫn khi dùng “lầu Tần” vốn để chỉ nhà thổ, để thay cho khuê phòng của Thúy Kiều. Nguyên văn câu ấy trong Truyện Kiều là:

Mây Tần khóa kín song the [8]

“Mây Tần” chứ đâu phải “lầu Tần” (Tần lâu). Theo Nguyễn Quảng Tuân, “mây Tần” là lấy ý từ câu “Tần vân như mỹ nhân” (Mây Tần như người đẹp) của Tấn thư [9] . Câu này có nghĩa là “người đẹp ở sâu trong buồng the”, đâu phải là “nhà thổ” (Tần lâu) của ông Đổng Văn Thành!

Ông Đổng phê phán cụ Nguyễn Du dùng những khuôn sáo quen thuộc để tả ngoại hình con người làm cho “ngàn người một khuôn mặt”, nói Nguyễn Du “mượn bộ lông mày như con tằm nằm ngang (ngọa tàm mi) của Quan Vũ ở Quan Tây đầy uy dũng đặt lên khuôn mặt người thiếu nữ “rất xinh đẹp, rất diễm lệ”… “lại mượn sáo ngữ miêu tả khuôn mặt tròn béo núc của cậu ấm quý tộc trong tiểu thuyết thông tục của Trung Quốc để miêu tả thiếu nữ Vương Thúy Kiều là “mãn nguyệt kiểm” (khuôn mặt như trăng trong) [10] . Ở đây, ông Đổng vừa lầm lẫn (Nguyễn Du khi tả Kiều, chỉ tả con mắt (“làn thu thủy”) và lông mày (“nét xuân sơn”), lại vừa không hiểu ý nghĩa của mấy từ Việt, chỉ nói lấy được. Nguyên văn câu thơ tả Thúy Vân (chứ không phải tả Thúy Kiều như lời ông Đổng) là “Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang”. “Khuôn trăng” là khuôn mặt, là “kiểm”, “diện bàng” chứ không phải là “mãn nguyệt kiểm”. “Nét ngài”, có sách phiên là “nét người”, là chỉ vẻ đẹp đầy đặn, chứ không phải là “ngọa tàm mi”. “Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang” là miêu tả vẻ đẹp thùy mị, phúc hậu của Thúy Vân.

Ông Đổng cho rằng những khiếm khuyết về mặt tri thức (của Nguyễn Du) tạo nên những sai lầm về ngôn ngữ và chi tiết. Ông nêu 3 dẫn chứng:


Lầm lẫn dùng “lầu Tần” để thay khuê phòng. Kỳ thực “lầu Tần” là của bản dịch chứ không phải là của Truyện Kiều như tôi đã phân tích ở trên.


Lầm lẫn đem chữ “đồng môn” để thay cho chữ “đồng song” ở trong nguyên tác [11] .

Nhưng Truyện Kiều của Nguyễn Du không có chữ “đồng môn”, chỉ có chữ “đồng thân” trong câu “Với Vương Quan trước vẫn là đồng thân”, “đồng môn” là bản dịch “Dã Thị Vương Quan cựu nhật đích đồng môn”, “huynh đệ”. Đâu phải của Truyện Kiều.


Lầm lẫn đem “Mã tú mạ” để chỉ trùm lầu xanh sửa thành “Tú Bà”.
Ở đây, Nguyễn Du đã chuyển một từ 3 âm tiết (“Mã tú mạ”) hàm sắc thái châm biếm, thành một từ trung tính 2 âm tiết, cho thuận với luật câu thơ lục bát. Có một điều rất lý thú là “Tú Bà” của Truyện Kiều, ngày nay trở thành một đại từ trong tiếng Việt, dùng để chỉ bọn trùm nhà thổ, đây là điều khác với “Tú Bà” trong tiếng Hán của bản dịch.

Ông Đổng còn nhận xét là Nguyễn Du rất lạ lẫm với đề tài tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân, có khoảng cách với hoàn cảnh địa lý và tập quán sinh hoạt được miêu tả trong Kim Vân Kiều truyện, nên luôn luôn xảy ra sai lầm, thậm chí thành trò cười. Dưới ngòi bút của Nguyễn Du, Lâm Truy của Sơn Đông và Vô Tích của Giang Tô cách đến 150 dặm Tầu, đều bị xê dịch đến cạnh biển [12] .

Có thực tế không? Lâm Truy là nơi Mã Giám Sinh mua Kiều về cho Tú Bà. Trước khi lập mưu bắt Thúy Kiều tiếp khách, Tú Bà cho Kiều ra ở lầu Ngưng Bích. Bị giam hãm lẻ loi trên lầu, Thúy Kiều buồn ngắm cảnh chung quanh:

Buồn trông cửa bể chiều hôm…
Chân mây mặt nước một màu xanh…

Hai câu này, ở bản dịch là:

Thê nhiên vọng hoàng hôn hải cảng…
Liên thiên bích vân hải mang mang….

“Cửa biển” đã chuyển thành “hải cảng”. “Cửa biển” của Truyện Kiều là một từ ước lệ, chỉ “cửa sông” nói chung. Đến câu “Chân mây mặt nước một màu xanh xanh” mà dịch là “Liên thiên bích vân hải mang mang” thì rõ là tả cảnh biển. Mây biếc liền trời, biển mênh mông, trái hẳn với câu thơ trong Truyện Kiều chỉ nói mây nước. Ông Đổng nắm ngay lấy hai chữ “hải cảng” và nhóm từ “hải mang mang” của bản dịch để phê phán Nguyễn Du là không công bằng. Người không hiểu địa lý Trung Quốc ở đây không phải là Nguyễn Du mà chính là người dịch.

Vô Tích là nơi Thúy Kiều bị mẹ con Hoạn Thư bắt về. Hoạn Thư ở Vô Tích, định bắt Thúy Kiều lúc ấy đang ở Lâm Truy, mới tính toán:

Lâm Truy đường bộ tháng chầy,
Mà đường hải đạo sang ngay thì gần.

“Đường hải đạo” trong vế 8 chữ là đối lập với “đường bộ” của vế 6, chỉ “đường thủy” nói chung. Nhưng bản dịch đã chuyển thành: “Tối khoái tiệp thị hải vận nhất đồ” (Nhanh nhất là con đường đi biển). Từ ý cân nhắc xem đi đường bộ, đường thủy, đường nào gần hơn ở Truyện Kiều, bản dịch đã chuyển thành sự khẳng định: đi “đem huyện Vô Tích xê dịch ra sát biển” là không đúng.

Ông Đổng đặc biệt chú ý một chi tiết: Thúy Kiều nhảy sông tự tử, cho rằng đó là “điển hình” của việc vi phạm thường thức địa lí [13] vì Nguyễn Du bên trên đã tả:

Triều đâu nổi sóng đùng đùng,
Hỏi ra mới biết là sông Tiền Đường.

Rồi:

Trông vời con nước mênh mông,
Đem mình gieo xuống giữa dòng trường giang.

Như thế là đem sông Tiền Đường với dòng Trường Giang hổ lốn làm một.

Mấy câu thơ trên, bản dịch là “Hốt thính triều thanh hung dũng, Dĩ tri thân đáo Tiền Đường… Viễn vọng hải thiên vô tế, Túng thân dược nhập trường giang”.

Trong tiếng Việt, “trường giang” (hay tràng giang), có khi chỉ sông Trường Giang của Trung Quốc. Nhưng trong nhiều trường hợp từ này lại là một tổ hợp từ chỉ chung “dòng sông lớn”. Thí dụ: thơ Huy Cận: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp” là đúng theo nghĩa này. Tất cả các bản Truyện Kiều tiếng Việt xưa nay khi phiên âm “trường giang” đều không viết hoa (để chứng tỏ đó không phải là danh từ riêng). Từ sự không hiểu biết tiếng Việt, ông Đổng đã vội vã quy kết Nguyễn Du “vi phạm thường thức địa lý” là sai, lại còn “khái quát” xa hơn: “Hàng loạt những mâu thuẫn như thế đã phá hỏng gần như toàn bộ tính chân thực của chi tiết, làm sao còn nói được tới sức hấp dẫn nghệ thuật” [14] .

Cũng như nhiều thi nhân nổi tiếng khác, Nguyễn Du không phải là hoàn thiện, hoàn mỹ. Trong Truyện Kiều, vẫn có những hạt sạn mà xưa nay nhiều người đã nhắc tới. Điều rất lạ là tất cả các dẫn chứng được ông Đổng dùng làm căn cứ để phê phán Nguyễn Du, phê phán Truyện Kiều, nếu không phải là do bản dịch đưa vào, trong Truyện Kiều vốn không có, như kiều “lầu Tần”, “đồng môn”, “tường đầu sương nồng tuyết hậu”, thì dùng do ông Đổng hiểu sai lạc ý tức của nguyên tác Truyện Kiều, như kiểu “trường giang”, “nét ngài nở nang”, “khuôn trăng đầy đặn”…

Vì thế, những nhận định của ông không thuyết phục. Nên chăng, khi tiến hành “so sánh văn học” giữa tác phẩm Truyện Kiều và Kim Vân Kiều truyện, phải có chút vốn liếng nhất định về cả tiếng Việt, cả văn hóa, văn học Hán và văn hóa, văn học Việt.



--------------------------------------------------------------------------------
[1]Đào Duy Anh, Khảo luận về Truyện Kiều, in lần thứ 2, NXB Văn hóa, Hà Nội, 1958. Xem “Lời tái bản”.
[2]Đổng Văn Thành, Thanh đại văn học luận cảo, Xuân Phong văn nghệ xuất bản xã, Thẩm Dương, 1994. Phần I: Kim Vân Kiều truyện dữ Trung Quốc
[3]Đổng Văn Thành, sđd, tr.76.
[4]Đổng Văn Thành, sđd, tr.96.
[5]Đổng Văn Thành, sđd, tr. 112.
[6]Đổng Văn Thành, sđd, tr. 111.
[7]Đổng Văn Thành, sđd, tr. 116.
[8]Truyện Kiều, Nguyễn Quảng Tuân khảo đính và chú giải, NXB Khoa học Xã hội, 1995, tr.73.
[9]Truyện Kiều, sđd, tr. 73, chú thích 2.
[10]Đổng Văn Thành, sđd, tr. 117.
[11]Đổng Văn Thành, sđd, tr. 118.
[12]Đổng Văn Thành, sđd, tr. 119.
[13]Đổng Văn Thành, sđd, tr. 120.
[14]Đổng Văn Thành, sđd, tr. 120.


Nguồn: Tạp chí Hán Nôm, số 3, 1998, in lại trong: Hai trăm năm nghiên cứu, bàn luận Truyện Kiều, Nxb Giáo dục, Hà Nội 2005, tr. 1594 – 1599.

.
Đăng nhập để trả lời
0
Rất cảm ơn ông Hoàng Văn Lâu đã nói hộ những điều mình ấm ức trong khi đọc đoạn trích phê phán truyện Kiều của một "học giả" Trung Quốc nào đó. TRUYỆN Kiều Vẫn có những hạn chế, nhân vật của Truyện Kiều vẫn là những con người chân thực nhất... nhưng mình vẫn yêu Truyện Kiều, Vẫn bói Kiều và vẫn ngẫm những nét tâm lý rất đời rất người của Truyện Kiều.
Nhưng mình có một đóng góp nhỏ: Chữ "ngài" trong câu "Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang" đúng là chỉ người, vóc người, của người vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, quê hương của Nguyễn Du. Chứ không phải một số sách biên dẫn đâu.
Mình cũng là dân khối A, hiện nay công việc chỉ ở trong phòng thí nghiệm nhưng mình vẫn cho rằng Truyện Kiều đã được nhận định đúng tầm vóc của nó không chỉ từ thời điểm nó ra đời mà còn tới mai sau. Nhà mình rất nhiều người thuộc lòng mấy ngàn câu Kiều đấy. Mặc dù tất cả đều là dân khoa học tự nhiên.
Đăng nhập để trả lời
0
cyclo không phải là người say mê Truyện Kiều nhưng không thể "liều mạng" chê Nguyễn Du và Truyện Kiều như bài đã dẫn. Tất cả những điều mà tác giả chê Truyện Kiều và Nguyễn Du đều dựa vào "nguyên tác" - như vậy không thể có một góc nhìn khách quan đối với Truyện Kiều được. Nói như Triky :

Trích đoạn: Triky
NHẦM RỒI

Cái tài tình của Nguyễn Du còn thể hiện ngay ở đó, không phải là Ông thêm chân cho rắn như cái nhìn con rắn không quá 80 phân; Mà từ cốt chuyện như con rắn về mình Nguyễn Du đã làm nên một con rồng đó là Truyện Kiều.

Tri Kỷ


Trong lời dẫn, zhang đã viết :
Trích dẫn : zhang
Tôi trích phần này vì thấy có thể phần này là đúng nhất vì hiểu văn hóa TQ sẽ không ai bằng người TQ

Đúng là không ai hiểu Văn hóa Trung quốc hơn người TQ, và ngược lại, tôi cũng nghĩ rằng không ai hiểu Văn hóa Việt nam hơn người Việt nam. Ở đây, đa phần đều không đồng tình với cách "chê" Nguyễn Du và Truyện Kiều như bài dẫn, do đó vế sau còn đúng hơn chứ nhỉ?
Đọc cách chê của tác giả, dường như ông ta chưa hiểu hết tiếng Việt, hoặc chưa đọc kỹ Truyện Kiều thì phải. Tất cả lập luận ở đó đều rất buồn cười mà tôi không có thời gian chỉ ra hết, chỉ đưa ra vài điều ở trên đã ghi :
- Trong nguyên tác, Thúy Kiều và Kim Trọng gặp nhau trong tiết Thanh minh, không bao lâu đã yêu nhau say đắm, cả lịch trình tình yêu đó xảy ra không quá nửa năm. Còn ở Nguyễn Du lại có thêm cảnh mùa đông xuất hiện trong lúc họ yêu nhau: “Đầu tường sương đậm tuyết dày “ (câu 367). Những câu thơ cho thấy đặc trưng của thời tiết còn có “Phất phơ tơ liễu phẩy mành” (câu 269), “Đầy sân hoa rụng” (câu 272); “Hồng thưa xanh nõn” (câu 370) v.v… Nhưng thời tiết được mô tả đó tự mâu thuẫn với nhau, phá hoại tính thống nhất và cảm giác chân thực về hoàn cảnh được miêu tả trong nguyên tác.

Thưa rằng trong truyện Kiều có câu:
Thanh minh trong tiết tháng ba

Tháng ba ở TQ còn lạnh lắm, ngay cả ở miền Bắc VN cũng có câu : "Rét tháng ba bà già chết cóng" hay " Tháng một rét đài, tháng hai rét lộc,tháng ba rét nàng Bân" ( CD TN).Cho đến bây giờ quy luật của thời tiết vẫn chưa thay đổi bao nhiêu so với vài trăm năm trước. (Xin xem thêm bản tin dự báo thời tiết của tháng ba cả ở Ta và Tàu để biết thêm ạ!)
- Viết về Mã Giám Sinh, kẻ đến lừa mua Thúy Kiều, Nguyễn Du thoạt đầu nói ý là “viễn khách”, tiếp ngay sau lại nói: “Quê quán ở thị trấn Lâm Thanh không xa”. Vậy rốt cuộc y là người ở xa hay ở gần, thật là khó hiểu.

[:D] Xin trích dẫn bản Kiều của Nguyễn Du :
Gần miền có một mụ nào
Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh
Hỏi tên "Rằng Mã Giám Sinh"
Hỏi quê" Rằng huyện Lâm Thanh cũng gần"
(Câu 623 đến 626)
Quê quán là do Mã Giám Sinh nói ra, nếu đọc kỹ hơn đoạn sau sẽ biết là Mã Giám Sinh nói dối. Có lẽ chỗ này người bình bị họ Mã...lừa luôn rồi chăng? [:D]
v.v...
Thà rằng chê như cụ Cao Bá Quát, chứ chê như bài đã dẫn ở trên thì... không dám bàn nhiều! [8D]


[url=http//www.tiachopxanh.com]Someone dreams about hapiness while others work hard for that.[/url]
Đăng nhập để trả lời
0
Than ơi!
Hai tiếng mơ màng!
Là em với mụ còn bàn cãi chi?
Là em lỡ mộng xuân thì.
Là hai bờ cỏ tại vì tuyền lam.

Huyền Nguyên.


HN chưa đọc hết cái chê dở. Cũng chưa đọc hết cái khen. Chỉ xin có mấy ý kiến:
Thứ 1.
Truyện Kiều chuyển thế tác phẩm Trung Quốc, tiếc thay và oái oăm thay, lại vượt nguyên tác về mọi phương diện.
Thứ 2.
Nguyễn Du nói cái gì trong TK cho đến nay vẫn chưa ai có thể nói cho được cho rộng phóng nhãn quan. Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Thúc Sinh, Kim Trọng, nàng Kiều là ai? Là gì? Nói cho trắng trợn ra, e rằng mấy ông giáo sư của Trung Quốc xách dép chạy dài, bởi ù tai nhức óc, điếc đặc không chừng...
Thứ 3.
Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Du, bốn mùa luân phiên chênh vênh trong từng trường đoạn nhập nhằng đôi khi không thể giải thích bằng ba cái khí tượng học, địa lí học nhà trường.
Thứ 4.
Bước chân vào cõi Truyện Kiều thi dựng thuần nhiên hùn hạp, mà lặng im sẽ nghe được nhiều hơn nói rất nhiều, hãy bước nhè nhẹ mà nghe vang âm một Thuần Khiết xa xôi trong vần lục bát đã đến tầm lô hỏa thuần thanh của Tố Như, miên vọng thì thầm.
Thứ 5.
Tri thức chỉ tổ làm hại những mênh mang hiển hiện gần gũi trong lời thơ tuyệt trần phóng dật, như Đạo, như Lão, như Phật, như trời đất khôn cùng trường viễn vĩnh hằng tinh sương...của Nguyễn Du mà thôi. Trung Quốc với Việt Nam, hai Đất, hai Trời? Hay một Trời, một Đất? Mà lại có cái kiểu "hiểu" thơ quái đản kinh dị như thế? Cái kiểu "phân tích thơ" kì ôn (nói theo tiếng nông dân thuần phác quê mùa miền Nam) nảy nòi ở đâu ra mà "phê" đến vậy?
Thứ 6.

Thưa rằng nói nữa là sai.
Mùa xuân đang đợi bước ai đi vào.

Thứ 7.
E rằng, Nguyên cũng chỉ là một người điên chăng, khi đem Nguyễn Du, rồi Bùi Giáng, rồi Trung Quốc, rồi Việt Nam, rồi giáo sư, rồi nông dân... mà đem ra nói miên man chi tử như thế này?
....
Chủ nhật...
Nằm khoèo ở nhà, ngẫm cái sự lòng, khóc khô nước mắt, tênh hênh lại cười...
Hahahahahah......
http://www.gio-o.com/NgoNhanDuoc.html
http://tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&authorId=1475
http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacgia.asp?TGID=2038&LOAIID=1&LOAIFID=1
http://damau.org/archives/author/ngonhanduoc
Đăng nhập để trả lời
0

Nói về Đoạn Trường Tân Thanh của cụ Nguyễn tức là ta đã muốn chạm vào "muôn trùng bất khả tư nghì".
Tuy nhiên vì là con cháu của nòi (Âu Lạc) Việt nên có khi được hưởng "tập ấm giảm khinh" (có thể bỏ qua vì là con ông cháu cha của giòng máu Việt) khi lạm bàn về thế giới Kiều nầy.
Ở đây chỉ xin nêu vài câu hỏi:
1- Tại sao cụ Tiên Điền tâm tư :.......,....KHÓC.. chứ không phải là KÍNH, PHỤC, QUÍ, TRÁCH, CHÊ....?
2- Tại sao mà cả thiên hạ, cả 300 năm khó tìm ra người BIẾT khóc cho (nổi niềm gì) của Tố Như ???
2- Kiều, Kim, Sinh, Hoạn, Từ, Hồ, Tú Bà, Sở Khanh,... Các nhân vật, cảnh vật, các tính / tình cách, các cảnh ngộ ấy...ngày xưa có, rồi bây giờ có không? ( Theo miền thời gian )
- Ở Tàu có, ở Nhật, ở Việt, ở Tây, ở Mỹ... có không? ( Theo miền không gian)
- Dưới/trong (xã hội/chế độ ) phong kiến có, rồi quân phiệt, phát xít, tư bản, dân chủ, cộng hòa, tòa thánh, XHCN,..có không? (Theo miền cấu trúc tổ chức xã hội lòai người )
- và có thể theo các miền khác nữa...có có không?
3- Nếu câu trả lời là có thì....?

Cẩn bút.
Di như lưu thủy...hề... thệ như phong
bất tri hà xứ lai...hề...hà sở chung
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-01-18 16:31:29tulipdenus>
Đúng như lão bạn LTN đã viết
TL hoàn toàn đồng ý, một tác phẩm tuyệt vời phải hội tụ 2 điều: "vượt qua không gian" tức là ở quốc gia nào lãnh thổ nào cũng có thể cảm nhận và hiểu được dù đông hay tây,
"Và vượt qua thời gian": là ở ở thời điểm nào, trước kia, bây giờ và sau này đều có giá trị và hợp được với thời điểm đó.
ND đã làm được điều đó, có những tác phẩm hay nhưng lại tùy thuộc vào văn hóa cũng như cảm nhận, và có những tác phẩm tạo được tiếng vang rất lớn khi ra đời những thời gian qua nó giảm dần cái hay, hoắc mọi người sẽ hiểu không được như khi ở thời điểm nó ra đời, ví dụ như truyện " cuốn theo chiều gió" giờ vẫn hay nhưng liệu cảm nhận của 2 thế hệ trước và sau ra sao?
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
( Nguyễn Đình Chiểu)
Đăng nhập để trả lời
0

Trích đoạn: Lê Thường Nhiên


Nói về Đoạn Trường Tân Thanh của cụ Nguyễn tức là ta đã muốn chạm vào "muôn trùng bất khả tư nghì".
Tuy nhiên vì là con cháu của nòi (Âu Lạc) Việt nên có khi được hưởng "tập ấm giảm khinh" (có thể bỏ qua vì là con ông cháu cha của giòng máu Việt) khi lạm bàn về thế giới Kiều nầy.
Ở đây chỉ xin nêu vài câu hỏi:
1- Tại sao cụ Tiên Điền tâm tư :.......,....KHÓC.. chứ không phải là KÍNH, PHỤC, QUÍ, TRÁCH, CHÊ....?
2- Tại sao mà cả thiên hạ, cả 300 năm khó tìm ra người BIẾT khóc cho (nổi niềm gì) của Tố Như ???
2- Kiều, Kim, Sinh, Hoạn, Từ, Hồ, Tú Bà, Sở Khanh,... Các nhân vật, cảnh vật, các tính / tình cách, các cảnh ngộ ấy...ngày xưa có, rồi bây giờ có không? ( Theo miền thời gian )
- Ở Tàu có, ở Nhật, ở Việt, ở Tây, ở Mỹ... có không? ( Theo miền không gian)
- Dưới/trong (xã hội/chế độ ) phong kiến có, rồi quân phiệt, phát xít, tư bản, dân chủ, cộng hòa, tòa thánh, XHCN,..có không? (Theo miền cấu trúc tổ chức xã hội lòai người )
- và có thể theo các miền khác nữa...có có không?
3- Nếu câu trả lời là có thì....?

Cẩn bút.



Ca ca!
Hảo ca ca!
HN xin được nói hóng hớt thêm đôi điều hú họa, may chăng yên hơn chút nào chăng cho TK?

Vì sao mà muôn trùng bất khả tư nghì? Hay muôn trùng bất khả tư nghị, tư nghi, tư nghĩ...?
Dằng dặc suốt đoạn trường khúc, lơ đãng đôi khi chen chân đứng bên bờ vực thẳm. Cụ Nguyễn nhà ta muốn nói gì ở những câu:

Thanh Minh trong tiết Tháng Ba
Lễ là Tảo Mộ, hội là đạp thanh...

Vầng trăng ai xẻ làm đôi,
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường...

Dưới trăng quyên đã gọi hè
Đầu tường lửa lựu lập loè đơm bông...

Trải qua một cuộc biển dâu(?)
Những điều (?) trông thấy (?) mà đau đớn lòng...?

Khi tỉnh rượu lúc tàn canh
Giật mình (?) mình lại thương mình (?) xót xa?

Sen vàng lãng đãng như gần như xa?

Sư đà hái thuốc phương xa
Rêu phong kẽ gạch, cỏ lên mái nhà...?

Cảo thơm lần giở trước đèn,
Phong Tình Cổ Lục còn truyền sử xanh?

Nhớ lời nguyện ước ba sinh
Xa xôi ai có thấu tình chăng ai ?

Tiếc thay chút nghĩa cũ càng
Dẫu lìa ngõ ý còn vương tơ lòng…

Thiện Căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài

Kiếp xưa đã vụng đường tu
Kiếp này chẳng kẻo đền bù mới xuôi…

Còn nhiều nhiều câu, nhiễu loạn nhì nhằng dọc chiều dài Kim Kiều Vân Thúy Trọng... Chỉ là trích dẫn bồng bột ngang xương...

Nào là mênh mang? Đâu là cố quận trăng vàng gieo nghiêng?
Tại đâu đơm bông trên đầu tường lửa lựu?
Sao Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh? Đạp thanh? sao không phải là giẫm ố?
Sao vầng trăng nguyên thủy, lại chia tách làm đôi để đôi lứa cách xa biền biệt cho nhớ nhung ướm lệ môi khô?
Trải qua, là kinh lịch? Bể dâu là dâu bể đổi dời, tang thương nghi ngẫu? Những điều trông thấy làm đau đớn lòng, hay là vì những điều trông thấy, liến quan đến cái nghiệm thấy suốt một đời kinh lịch?
Cớ đâu, chính mình quyết định bán mình chuộc cha, lại ngẫm thấy thương mình, lại nhè lúc tàn canh, khi tỉnh rượu?
Sen vàng, hay thoa vàng bắt được giữa hư không dội về vang nẻo im thinh, mà lãng đãng, vừa gần vừa xa, vừa dễ vừa khó nắm đến thế?
Vị sư nào đã hái thuốc cứu người ở phương xa mù tăm cánh nhạn, mà chẳng ở lại đây cùng tâm sự đoạn đày? Để rêu phong bụi bẩn cứ vấy lên mái nhà, kẽ gạch? Mái nhà là tổ ấm con người? Kẽ gạch là lỗ hổng đáng ghét?
Vì đâu mà Cảo Thơm lại được ví với câu chuyện về một nường lầu xanh hai lượt, thanh y hai lần? Có gì hay ho ở câu chuyện về một người đàn bà tuyệt sắc tuyệt tài lưu lạc hồng trần? Mà Phong Tình Cổ Lục muôn đời còn truyền sử xanh? Sử xanh? Sử đỏ? Hay trang vàng? Hoặc ngấn tích vi vút thương cung tạo tác?
Lời nguyện ước ba sinh là cái lời nào thế? Là hứa hẹn sơ đầu về duyên nợ phỉ nguyền sánh phượng? Đẹp duyên cỡi rồng? Mà kẻ hứa, người hẹn, đã vĩnh quyết nhau từ dạo viên ngọc quý nào đã lỡ chìm sâu trong bể trùng dương lận đận luân lạc xa xôi?
Nghĩa cũ, tại sao mà cứ đăm đăm trông hoài về cổ độ? Mà lìa ngó ý, lìa trần, khuất núi, chết, tử tận... vẫn còn vương tơ như con tằm đến thác?
Thiện Căn? Ở tại Lòng Ta? Chữ Tâm? kia mới bằng Ba chữ Tài? Thiện Căn là căn duyên nguyên khởi tề vật luận? là gốc hạnh ban đầu nơi cô thôn liễu tịnh? Tâm là cái chi chi, để chữ Tài đành cúi đầu cảm phục quỵ lụy lê gối bái lạy chẳng cùng?
Kiếp xưa? Kiếp nào thế nhỉ? Kiếp đầu? Kiếp nhị, kiếp tam, kiếp tứ...? Thập nhị nhân duyên xui đẩy thân gái mười hai bến nước lênh đênh trong vần xoay ngẫu nhĩ tình cờ...? Mà kiếp xưa vụng đường tu, đền bù vào kiếp này, kiếp kế, kiếp kế nữa, đến kiếp chót, (giả dĩ có kiếp chót), Hết chăng? Hay là Còn mang mang trăm điều ngổn ngang siêu thực phênh vênh?
......

Bớ trời! Lạy Đất! Và thập phương quốc độ cúng dường có ong tai nhức óc?
THIỆT TÌNH LÀ HỎI HOÀI, MÀ KHÔNG LỜI ĐÁP. Phiền muộn cứ luân phiên qua tháng qua ngày mà chỉ niệm phương hà nào đã bặt tích âm u... Để chiều nay, có một "Nghi Vấn Truyện Kiều" vấy vào vùng cãi vã phi thị tang bồng?...

Chiều cuối năm. Phố đã thưa người. Bóng chiều cười. Bên dậu lưa thưa. Bình Dương đất rộng. Trên trời một đám mây bông. Dưới thế một đứa ngông ngông dại khùng. Học đòi giảng giải lung tung. Trời kia ngó thấy rối tung... sự tình...

Vượt đêm là tới Bình Minh.
Vượt tôi để mất cái mình tênh hênh...

Một hơi dài, dài quá, dài đến mấy, cũng không dài hoài hoài, hết hơi, ngưng nói!
Cũng đành hết hơi!
Nguyên.






http://www.gio-o.com/NgoNhanDuoc.html
http://tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&authorId=1475
http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacgia.asp?TGID=2038&LOAIID=1&LOAIFID=1
http://damau.org/archives/author/ngonhanduoc
Đăng nhập để trả lời
0
Mình không thích kiểu hành văn như thế này cuả HuyenNguyen, Cảm giác rẳng HuyenNguyen đã mang vào trong lời văn rất nhiều tình cảm (như là tâm huyết) nhưng vì đôi chỗ sử dụng từ không chính xác (giống như là lạc đề, xa đề) làm mình có cảm giác giả tạo.
Mình ước gì có khả năng biểu đạt tốt như HuyenNguyen.
Truyện Kiều là một tiểu thuyết bằng thơ (không biết nói như thế có dúng phân loại không), nên nó chỉ thành công khi kể, mô tả nhân vật, khung cảnh, sự kiện hợp lý, mang tính nhân văn... Truyện Kiếu đã mô tả tâm lý nhân vật rất thật và tinh tế (điều này có thể thấy khi so sánh với đa số kịch bản phim Việt Nam về mặt mô tả thể hiện tâm lý nhân vật rất kiên cưỡng và không sâu sắc).
Mình thích nhất là hai câu này:
Tiếc thay chút nghĩa cũ càng
Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng
"vương tơ như con tằm đến thác" có một chút khác biệt về nghĩa và khả năng biểu cảm.
Và thật sự mình không hiểu những dấu chấm hỏi và các từ gạch dưới trong câu sau là hàm ý gì?
"Lời nguyện ước ba sinh là cái lời nào thế? Là hứa hẹn sơ đầu về duyên nợ phỉ nguyền sánh phượng? Đẹp duyên cỡi rồng? Mà kẻ hứa, người hẹn, đã vĩnh quyết nhau từ dạo viên ngọc quý nào đã lỡ chìm sâu trong bể trùng dương lận đận luân lạc xa xôi? "
Có lẽ vì không hiểu nên mình cảm thất rất mệt khi đọc cách hành văn như vậy. Và dĩ nhiên nó làm mình không thích.
Tái bút:
HuyenNguyen rất sâu sắc nhưng đừng nên "thâm nho" khi trả lời cho mình nhé, vì mình sẽ khó tiếp thu lắm, tư duy cuả mình có hạn. (lời nói thể hiện rõ nghiã)
Đăng nhập để trả lời
0

Trích đoạn: honam

"Lời nguyện ước ba sinh là cái lời nào thế? Là hứa hẹn sơ đầu về duyên nợ phỉ nguyền sánh phượng? Đẹp duyên cỡi rồng? Mà kẻ hứa, người hẹn, đã vĩnh quyết nhau từ dạo viên ngọc quý nào đã lỡ chìm sâu trong bể trùng dương lận đận luân lạc xa xôi? "


Ba sinh: 1- Kiếp sống trước 2- Kiếp nầy 3- Kiếp sau. Như lời một bài hát:
" Kiếp nào có yêu nhau, thì xin hẹn đến mai sau, hoa xuân kia chưa nở, tình xuân chưa dang dỡ...bao giờ có yêu nhau, thì xin đừng nói thương đau...em ơi em đâu rồi? anh ơi anh đâu rồi ?..."
sơ đầu
tình đầu như nước giếng khơi
mõi mòn quang gánh chưa vơi tình đầu
nhiều đêm tiếng vạc xuyên thâu
mơ hồ ta tưởng tiếng gầu em rơi (*)

_________
(*) ý thơ Đinh Trầm Ca

Nhân đây xin kể tặng bạn honam một câu chuyện:
Từ khi xuất hiện Đoạn Trường Tân Thanh cũng đã nhận nhiều lời bình không xứng tầm ( giống như có người... tả voi là như cái chổi quét nhà...). Khi đề cập đến những lời bình lọai nầy, cụ Đào Duy Anh, trong một buổi lên lớp đã nói (đại ý ) :" Bấy lâu nay, ta đã đem cả tâm huyết bình sinh của mình để truyền đạt cho các con về Truyện Kiều. Mặc dù vậy...chỉ khi nào các con có dịp đi khắp đông tây, học được tinh hoa của thi ca, triết học của nhân lọai, và sau bao nhiêu phong ba dâu bể...khi ấy, lúc quay về, khi mà mái đầu đã bạc mầu sương gió...thì...họa chăng các con mới hiểu được cái đẹp của Truyện Kiều..."
.......
" Nước Việt ta là một nước văn hiến..." các cụ ta để lại cũng kha khá sách (mặc dù qua các thời ngọai thuộc, nhất là thời Minh,... đã bị thu, hủy rất nhiều). Chúc bạn có thời gian để đọc và khi viên thành thì đừng bị "tẩu hỏa nhập ma" như HN nhé.
Trân trọng.

Di như lưu thủy...hề... thệ như phong
bất tri hà xứ lai...hề...hà sở chung
Đăng nhập để trả lời
0
Mình thấy anh chàng Huyền Nguyên này là một kẻ sĩ điên khùng. Liệu đem cái điều mà anh ta thâu lượm được, trong cả một đời có xóa hết được những điều mà anh thật nghĩ không Nguyên?
Điều thật nghĩ, đôi khi đã có nghe anh nói trong một số lần hiếm hoi chat cùng anh trên mạng, nhưng là kẻ sĩ điên khùng ( anh có điên không Nguyên? ). Xin lỗi anh vì quá lời, nhưng quả thật anh đã bị tẩu hỏa nhập ma như cụ Lê Thường Nhiên nói chăng anh?
Có điều, nghe honam hỏi huyennguyen mình cũng thấy hơi kì lạ, nhất thiết mọi điều đều phải nói vào chánh đề mới rõ nghĩa và phải biểu đạt không tâm huyết, hay còn gọi là công bằng theo cách nhìn khoa học, nghiên cứu khoa học mới là thấu ý?
Như Lai đã một đời tạo bao nhiêu thiện nghiệp, mà đi ra khỏi hồng trần, lại nói một câu: " Ta chưa thuyết pháp một câu nào cả!" Đánh trống lảng đấy ư? Hay là giả vờ điên khùng? Hoặc điên khùng thật sự.
Dĩ nhiên, chàng Nguyên nhà ta mà thành Như Lai thì thật tức cười! Nhưng Tuyền xin mạo muội hỏi anh một câu:" Anh có điên thật không Nguyên?" Có tẩu hỏa nhập ma thật không đó, nói cho em biết để em còn đề phòng mỗi lúc nói chuyện với anh... Hihihihi...
Còn về Truyện Kiều, Tuyền cũng mê Kiều lắm, nhưng điều anh Nguyên nói Tuyền thấy mênh mang quá, lại có nhiều điều như nói cho đến tận cùng, giữa đường lại tắc tịt, thành ra anh chàng lảng đi thì phải... Có nhiều điều như giễu cợt, lại có những điều như buồn đau quá cỡ, mà Truyện Kiều còn sâu thẳm cho muôn đời nghiệm ra cái lẽ như cụ Nhiên nói: " nước Việt ta có nền văn hiến..."
Chúc mọi người vui vẻ, hihihih, Tuyền vào quậy phá nghịch ngợm một chút, mong các anh các chị, các bác, các chú đừng tha lỗi, í quên, tha lỗi cho Tuyền tội ham vui...
"Tạ ân" mọi người!
Đăng nhập để trả lời
0