📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Tác giả người Việt

(url) Nguyễn Khuyến

1 trả lời, 8.565 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-22 22:40:59TTL>
Nguyễn Khuyến





Nguyễn Khuyến lúc nhỏ tên là Thắng, sinh năm Ất Mùi (1835) ở quê mẹ, làng Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định; nhưng ông lớn lên và sống chủ yếu ở quê cha, làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Thủa nhỏ chăm học. Năm 17 tuổi, ông đi thi cùng một khóa với cha, nhưng bị hỏng. Sau đó cha mất, nhà nghèo, Nguyễn Khuyến phải đi dạy học để kiếm sống và nuôi mẹ. Ông nghè Vũ Văn Lí, học trò cũ của ông bác Nguyễn Khuyến thương tình cảnh của Nguyễn Khuyến, đem về nuôi cho ăn học tiếp.

Năm 1864, Nguyễn Khuyến thi hương đậu giải nguyên (đậu đầu); năm sau thi hội bị hỏng, ông vào kinh theo học trường Quốc Tử Giám. Năm 1871, ông thi lại lần nữa và đỗ liền cả Hội nguyên và Đình nguyên. Nguyễn Khuyến đậu đầu cả ba kỳ nên người ta thường gọi ông là ông Tam nguyên hay Tam nguyên Yên Đỗ.

Ông Tam nguyên Yên Đỗ đã từng làm ở nội các Huế, rồi làm Đốc học Thanh Hóa, Án sát Nghệ An, rồi Biện lí bộ Hộ,... Thời gian Nguyễn Khuyến ra làm quan, Pháp đánh chiếm sáu tỉnh Nam Kỳ và đang đánh ra miền Bắc.

Cuối năm 1883, Nguyễn Khuyến được cử làm quyền Tổng đốc Sơn Tây thay cho Tổng đốc Nguyễn Đình Nhuận đã bỏ Sơn Tây lên Hưng Hóa chống thực dân Pháp, nhưng Nguyễn Khuyến từ chốị Sau đó Hoàng Cao Khải Kinh lược sứ Bắc Kì mời ông đến nhà dạy học, rồi Lê Hoan - Tuần phủ Hưng Yên tổ chức thu vịnh Kiều cũng mời ông làm giám khảọ Hoàng Cao Khải, Lê Hoan là những kẻ cộng tác với thực dân Pháp. Từ chối lời mời của họ ông biết sẽ sinh chuyện lôi thôi nên đành miễn cưỡng nhận lờị

Nguyễn Khuyến làm quan tất cả hơn 10 năm, rồi từ quan về nhà. Phần lớn cuộc đời của Nguyễn Khuyến là ở thôn quệ Ông mất năm 1909, thọ 75 tuổị

SỰ NGHIỆP THƠ CA:

Sáng tác của Nguyễn Khuyến hầu hết được làm sau lúc từ quan, hiện còn khoảng hơn 400 bài, gồm thơ, văn, câu đối bằng chữ Hán và chữ Nôm. Có bài ông viết bằng chữ Hán rồi tự dịch ra chữ Nôm, cả hai đều rất điêu luyện. Sáng tác của ông chủ yếu xoay quanh ba nội dung:

- Bộc bạch tâm sự của mình;
- Viết về con người, cảnh vật và cuộc sống ở quê hương - một vùng đồng chiêm nghèo ở Bắc Bộ;
- Chế giễu, đả kích những kẻ tham lam, ích kỉ, tùy thời, cơ hội lúc bấy giờ.

Nguyễn Khuyến là một nhà thơ được đào tạo theo khuôn mẫu của đạo đức của Nho giáọ Đối với ông, con người sinh ra ở đời sau khi học hành, đỗ đạt thì phải ra làm quan để "thờ vua giúp nước", thực hiện nghĩa vụ "trí quân trạch dân" (vừa giúp vua, vừa làm cho dân được nhờ) mà đạo lý nhà nho đã quy định.

Trong một thời buổi bình thường chắc Nguyễn Khuyến sẽ trở thành một ông quan thanh liêm, mẫu mực. Nhưng thời Nguyễn Khuyến sống, Pháp đang đánh chiếm Việt Nam, triều đình vì bạc nhược nên đã lần lượt đầu hàng giặc. Trong một bối cảnh như thế nếu Nguyễn Khuyến cứ làm quan thì không khác nào tiếp tay cho giặc, đó là điều mà các nhà nho chân chính rất sợ. Nguyễn Khuyến lúng túng trong thái độ ứng xử. Cuối cùng ông quyết định từ quan.

Trong thơ ông có rất nhiều bài thể hiện cái tâm trạng ấỵ Lúc đầu ông do dự "mình bỏ nước về nhưng bạn bè đâu phải không có người ở lạị Và về như thế chắc gì con cháu đã khen".

Về sau ông mới dứt khoát cho rằng lui về là phải, và ông tiếc là một số bạn bè đã không hành động như ông. Có điều thời cuộc thì mỗi ngày một xấụ Thực dân Pháp ngày một lấn tới, bọn cơ hội, tùy thời lúc đầu còn rụt rè, về sau thì công khai ra cộng tác với giặc. Nguyễn Khuyến cảm thấy buồn vô hạn. Ông viết về tiếng con cuốc kêu và đó cũng là tiếng lòng của ông đối với non sông đất nước:

Năm canh máu chảy đêm hè vắng,
Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ.
Có phải tiếc xuân mà đứng gọi,
Hay là nhớ nước vẫn nằm mợ


Và cho đến lúc nghĩ là mình sắp từ giã cuộc đời, trong bài Di chúc, ông vẫn nói:

Ơn vua chưa chút báo đền
Cúi trông hổ đất, ngửa lên thẹo trời!


Phần lớn cuộc đời của Nguyễn Khuyến là ở nông thôn. Quê ông là một miền đồng chiêm nghèo trũng nước. Nguyễn Khuyến sống ở quê và quan hệ thân tình với mọi ngườị Ông làm thơ tặng bạn bè, tặng anh vợ, tặng ông hàng thịt,... làm câu đối viếng người làng, viếng người thợ rèn, mừng đám cưới, mừng nhà mới,... Nguyễn Khuyến viết nhiều về con người, về thiên nhiên, cảnh vật ở nông thôn. Trước Nguyễn Khuyến, trong văn chương Việt Nam thỉnh thoảng có những tác phẩm viết về nông thôn, nhưng hình ảnh nông thôn trong văn học nói chung còn mờ nhạt. Có thể nói, với Nguyễn Khuyến lần đầu tiên nông thôn Việt Nam mới thực sự đi vào văn học.

Nguyễn Khuyến xứng đáng được gọi là nhà thơ của nông thôn. Dưới ngòi bút của ông, cuộc sống ở nông thôn dường như lúc nào cũng khó khăn, túng thiếu:

Sớm trưa dưa muối cho qua bữa,
Chợ búa, trầu cau chẳng dám muạ
(Chốn quê)


Nỗi ám ảnh thường xuyên của người nông thôn là lo mất mùa, lụt lội:

Năm nay cày cấy vẫn chân thua,
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùạ
(Chốn quê)


Hay:
Quai Mễ Thanh Liêm đã vờ rồi,
Vùng ta thôi cũng lụt mà thôị
(Nước lụt Hà Nam)


Ngày tết đến, nếu là năm được mùa thì còn có chút vui:

Trong nhà rộn rịp gói bánh chưng,
Ngoài cửa bi bô rủ chung thịt.
(Cảnh tết)


nhưng chẳng may gặp năm mất mùa thì tết nhất lại càng thê thảm:

Dở trời mua bụi còn hơi rét,
Nếm rượu tường đền được mấy ông?
Hàng quán người về nghe xáo xác,
Nợ nần năm hết hỏi lung tung.
(Chợ Đồng)


Trong thơ Nguyễn Khuyến, thiên nhiên được miêu tả cũng là một thiên nhiên nông thôn rất rõ. Cảnh mùa thu trong thơ của ông không phải là mùa thu ở miền nào, thời nào, mà là mùa thu ở quê ông, vùng đông chiêm Bắc Bộc lúc bấy giờ. Ta có thể nhận thấy điều ấy qua cái màu "xanh ngắt" của bầu trời, đến cái nước "trong veo" của ao cá; hay từ cái "Lưng giậu phát phơ màu khói nhạt, Làn ao lóng lánh bóng trăng loe". Và cũng phải đến Nguyễn Khuyến, trong thơ Việt Nam mới có những bữa trưa đặc biệt nông thôn như:

Chuông trưa vẳng tiếng người không biết,
Trâu thả sườn non ngủ gốc câỵ
(Nhớ cảnh chùa Đọi)


Viết về nông thôn với những tình cảm đằm thắm như thế, không phải trước mà sau Nguyễn Khuyến cũng hiếm có người nào viết được như ông.

Một mảng sáng tác khác cũng rất có giá trị của Nguyễn Khuyến là mảng thơ trào phúng, đả kích. Nguyễn Khuyến thấy khá rõ cái xấu của xã hội đương thờị Là một nhà nho đã từng làm quan, ông chú ý trước hết đến cái xấu của đám nho sĩ, của bọn quan lạị Đi thi, làm quan trong thời buổi nước mất nhà tan thì có gì là thực chất, thì làm được việc gì? Ông gọi là "tiến sĩ giấy", là "phỗng đá", là anh hề chèọ Ông vạch trần bọn quan lại chỉ lo cho túi mình đầy ắp và bất chấp tất cả mọi sự khen che của dư luận. Ông đả kích thói rởm đời lố lăng, thứ con đẻ của cã hội thực dân. Ngòi bút đả kích của Nguyễn Khuyến trở nên chua xót, cay đắng khi ông thấy chính nhân dân bị bọn thực dân lừa gạt đã tham gia một cách vô ý thức vào những trò chơi làm hạ phẩm giá của mình. Ông tả cảnh ngày "Hội Tây" lúc bấy giờ và kết luận:

Khen ai khéo vẽ trò vui thế,
Vui thế bao nhiêu, nhục bấy nhiêụ


Thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến ngoài bộ phận hướng vào cái xấu của cã hội để đả kích, ông còn dành một số bài để tự chế giễu cái bất lực, cái bạc nhược của bản thân mình. Trong những bài thơ này, cái cười của ông thường trở nên chua chát, tội nghiệp.

Thơ Nguyễn Khuyến không những có nội dung thâm thúy mà nghệ thuật cũng rất đặc đắc. Ông là người đã đưa chất trào phúng vào thờ chữ Hán, và dùng cả "điển cố" lấy từ ca daọ

Trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến, ngôn ngữ dân tộc được nhà thơ sử dụng là thứ ngôn bgữ hằng ngày giải dị, nhưng rất sinh động, tinh tế, Nhà thơ khai thác được giá trị tạo hình của nhiều từ lấp láỵ Bút pháp của Nguyễn Khuyến trong thơ về cơ bản là hiện thực trữ tình, thỉnh thoảmg có điểm xuyết những yếu tố trào phúng. Cái cười trong thơ Nguyễn Khuyến không vang lên thành tiếng, mà thường là cái cười kín đáo, thâm trầm. Ông đã sử dụng hầu hết các thể loại thơ ca cổ mà thể loại nào cũng rất thành công.
📎 nguyenkhuyen
Đăng nhập để trả lời
0
Nguyễn Khuyến Một Con Người, Một Nhà Thơ Việt Nam Ưu Tú


Nguyễn Khuyến mất cách đây đã hơn 80 năm, nhưng tên tuổi ông, hình ảnh của ông đã đi vào lòng dân tộc sao mà đậm đà thân thương đến thế!

Trước hết vì nhà thơ là một con người, một tâm hồn thơ tiêu biểu cho bản sắc Việt Nam. Về phương diện này có thể so ông với Hồ Xuân Hương trước kia và Nguyễn Bính sau này.

Bản sắc tâm hồn Việt Nam! Cái đặc tính dịu dàng, kín đáo, không ồn ào nhưng hóm hỉnh, trong sáng và sâu sắc, tế nhị, có lẽ là sản phẩm tinh thần độc đáo của xứ sở đồng bằng trồng lúa nước, xứ sở của những làng quê xanh ngắt với những lũy tre bao bọc xung quanh! Những đặc tính ấy đã từng làm say mê bao nhiêu du khách đến từ những đất nước xa xôi.

Mặc dù đã dự phần "bảng vàng bia đá ngàn thu", nhưng Nguyễn Khuyến lúc nào cũng giữ nguyên vẹn phong cách một ông già của xứ làng quê ấy, sống chan hoà với những người "chân quê" giữa đồng đất quê hương. Cảnh "bạn đến chơi nhà" là một bức tranh sinh hoạt nông thôn tiêu biểu, đằm thắm tình người:

Đã bấy lâu nay bác tới nhà
Trẻ thời đi vắng chợ thời xa.

Ao sâu nước cả khôn chài cá
Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà...
Đầu trò tiếp khách, trầu không có
Bác đến chơi đây, ta với ta.

Hình ảnh những người dân quê được ngòi bút Nguyễn Khuyến miêu tả vừa sinh động, vừa như đượm niềm trìu mến sau nụ cười dí dỏm:

Hàng quán người về nghe xao xác
Nợ nần năm hết hỏi lung tung... !

Trong những cơn hoạn nạn: thiên tai địa ách, đói rét, ngoại xâm... giọng thơ của ông trở nên bi thiết trước số phận của cộng đồng mà ông là một thành viên không tách rời:

Quai Mễ Thanh liêm đã lở rồi
Vùng ta thôi cũng lụt mà thôi!
Gạo dăm ba bát cơ còn kém
Thuế một vài nguyên dáng vẫn đòi...
Đi đâu cũng thấy người ta nói
Mười chín năm nay lại cát bồi!

Cái bản sắc Việt Nam ấy hoà quyện trong một thiên nhiên Việt Nam đặc sắc và hữu tình. Cảnh nông thôn trong thơ Nguyễn Khuyến là những tác phẩm Thơ - Họa tuyệt tác, làm rung động mọi tâm hồn Việt Nam:

Cá vượt khóm rau lên mặt nước
Bướm len lá trúc lượn rèm thưa!

(Vịnh mùa hè)

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Là vàng trước gió sẽ đưa vèo...

Là bậc danh nho, từng đỗ đầu cả tam trường (Tam nguyên), Nguyễn Khuyến có nhiều trước tác uyên thâm bằng Hán văn - Nhưng khác với nhiều nhà Hán học, ông chủ tâm dùng chữ Hán để miêu tả sinh hoạt, phong cảnh và con người Việt Nam. Ông đã "Việt hoá" nội dung thơ chữ Hán. Thật kì thú khi đọc những câu thơ dịch từ chữ Hán mà mang phong vị Việt Nam đến thế:

Cóc vồ con kiến tha mồi
Chim rình bọ ngựa đang ngồi bắt ve.

Hoặc:
Hạt quất ngoài vườn chờ nứt vỏ
Giò tiên trong chậu chửa bung hoa.

Hoặc:
Ngang trời một tiếng chim ca
Nhà bên con trẻ nghê nga học bài.

Hoặc:
Vải chín, bà hàng bưng quả biếu
Cá tươi, lão giậm nhắc nơm chào!

Quả thật chẳng còn thấy cái chất "Hán học" ở đâu cả!
Có nhiều bài thơ chữ Hán của mình, chính ông lại dịch ra thơ nôm (chắc chắn vì sức hấp dẫn mãnh liệt của thơ nôm, của tiếng nói dân tộc), và trở thành những bài thơ hay, như bài "Khóc Dương Khuê".

Bác Dương, thôi đã thôi rồi
Nước mây man mác, ngậm ngùi lòng ta!
......
Làm sao bác vội về ngay
Thoạt nghe tôi đã chân tay rụng rời!

Không chỉ là một tâm hồn Việt Nam tiêu biểu, Nguyễn Khuyến còn là một nhân cách Việt Nam tiêu biểu ở thời đại bấy giờ. Đó là thời đại mất nước, dân tộc bị chà đạp. Rất nhiều kẻ xuất thân "sĩ phu" đã làm tay sai cho giặc như Hoàng Cao Khải. Bản thân Nguyễn Khuyến cũng đã trót dấn thân vào con đường hoạn lộ. Nhưng với nhỡn quan sắc bén, ông nhìn rõ chân tướng của thời đại ông. Giữ vũng phẩm cách của một người yêu nước chân chính, ông dứt khoát vứt bỏ mọi thứ vinh hoa phú qúi, "treo ấn từ quan", giả đui giả điếc, trở về nơi thôn dã sống với nhân dân:

Bôn ba vừa chục năm tròn
Trở về may mắn ta còn là ta!

Ông chấp nhận cảnh sống bần bách suốt đời:

Quản chi công nợ có là bao
Nay đã nên to đến thế nào?
Lãi mẹ lãi con sinh đẻ mãi
Chục năm chục bảy nhiều sao!

Thậm chí ông đã "nếm" mùi đói rét:

Thương ta đau ốm nghèo nàn
Phong trần lại quá ươn hèn hơn ai.
Tuổi già mình chẳng có tài
Lấy gì chống đỡ những ngày reo neo?
Không ăn, cái bụng đói meo
Ăn vào, cái nhục mang theo bên người!

(Có người cho thịt)

Thế nhưng nỗi buồn về "sự nghèo" vẫn không ác liệt day dứt bằng nỗi đau của một con người ưu thời mẫn thế, đau nước đau nòi:

Bạn già lớp trước nay còn mấy?
Chuyện cũ mười phần chín chẳng như!

Hay:
Rừng xanh núi đỏ hơn ngàn dặm
Nước độc ma thiêng mấy vạn người.
Khoét rỗng ruột gan trời đất cả
Phá tung phên giậu hạ đi rồi!

Hay:
Năm trăm năm cũ nơi văn vật
Còn sót hòn non một nắm trơ!

(Hồ Hoàn Kiếm)

Một nhân cách thực sự cao cả làm sao có thể chịu khoanh tay bó gối trước cuộc đời ngang trái? Vậy Nguyễn Khuyến đã "xử thế" cách nào cho xứng với tầm vóc của ông? Biết mình không có khả năng làm chính trị, ông quay ra làm văn hoá! Ông làm thơ, làm câu đối, ca trù... cho mọi người thưởng thức. Ông sáng tạo ra thứ Văn Thơ Trào Phúng sâu sắc, chua cay, chĩa mũi dùi đả kích vào cái cuộc đời đồi bại và lố bịch bấy giờ. Dưới ngòi bút của ông hiện ra một triều đình "hề":

Vua chèo còn chẳng ra gì
Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề!

một lũ quan lại tham nhũng:

Có tiền việc ấy mà xong nhỉ
Đời trước làm quan cũng thế a?

(Kiều bán mình)

một bà đầm thực dân:

Bà quan tênh nghếch xem bơi trải.

một ông quan ta bị tây đá đít bằng "giày móng lợn", một ông nghè rởm:

Cũng cờ cũng biển cũng cân đai
Cũng gọi ông nghè có kém ai!

một cô "me tây":

Cái gái đời này gái mới ngoan
Quyết lòng ẩu chiến với Tây quan
Ba vuông phất phới cờ bay dọc
Một bức tung hoành váy xắn ngang!

Ông cũng cảnh tỉnh cả đám "dân ngu" chưa nhận ra cái nhục mất nước:

Cậy sức, cây đu nhiều chị nhún
Tham tiền, cột mỡ lắm anh leo

Khen ai khéo vẽ trò vui thế
Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu!

(Hội Tây)

Thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến khác nào một ngọn đuốc soi đường cho lương tri của dân tộc trong một thời đêm tối, giúp mọi người thấy rõ phải quấy, chính tà.

Với cốt cách của một bậc "hiền tài quốc gia", Nguyễn Khuyến đã xoay chuyển được ván cờ sự nghiệp đời mình, biến bại thành thắng. Thay vì cái kết thúc đáng buồn của một sĩ phu bất phùng thời, bất đắc chí, chịu chấp nhận "thân bại danh liệt", Nguyễn Khuyến đã lập nên một sự nghiệp văn chương chói lọi ngàn thu, làm rạng danh cho cả dân tộc! Đồng thời ông nêu một gương sống vô cùng cao quí.

Mặc dù mang nỗi đau đời lớn lao trong lòng, nhưng ông đã vượt được ra ngoài tâm trạng u ám của một nhân vật bi kịch. Thực vậy, Nguyễn Khuyến là con người tuyệt vời đã biết tìm và biết hưởng thụ niềm vui chân chính của cuộc sống. Thơ ông, bên cạnh cái cười thâm thuý, còn là bài ca về cuộc sống tươi đẹp, cuộc sống tuy có những đau khổ không cùng nhưng vẫn "không đáng chán".
Ông đã sống với thiên nhiên, với non sông đất nước bằng tất cả tâm tình:

Mặt nước mênh mông nổi một hòn...
Dẫu già đã hẳn hơn ta chửa?
Chống gậy lên cao gối chẳng chồn.

(Vịnh núi An Lão)

Tựa gối buông cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

(Thu điếu)

Mảnh vườn cũng lắm thú ghê
Ghế bên ngồi nghỉ tỉ tê một mình.

(Vườn nhỏ)

Ông đã sống thắm thiết với tình bạn tri âm:

Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước
Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau
Kính yêu từ trước đến sau
Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời?

(Khóc Dương Khuê)

Ông cũng tìm được nguồn vui chan chứa trong mối qua hệ với xóm giềng, với nhân dân lao động xung quanh ông:

Cách giậu mời ông hàng xóm chén
Chuyện tràn thóc lúa với tằm tơ

(Giải buồn)

Nguyễn Khuyến cũng có một thứ bậc cao trong làng say Việt Nam Kim cổ:

Đời trước thánh hiền đều vắng vẻ
Có người say rượu tiếng còn nay.
Cho nên say, say khướt cả ngày
Say mà chẳng biết rằng say ngã đùng!

(Uống rượu ở vườn Bùi)

Có thể nói, ông đã tìm được nguồn an lạc trong cuộc sống hàng ngày, và có lẽ vì vậy ông đã được hưởng chữ thọ:

Phận thua suy tính càng thêm thiệt
Tuổi cả chơi bời hoạ sống lâu
Em cũng chẳng no mà chẳng đói
Thung thăng chiếc lá, rượu lưng bầu.

(Lụt hỏi thăm bạn)

Thơ lại chén, chén lại thơ
Thảnh thơi ta vẫn ưa nhà ta hơn.

(Tự thuật)

Chính vì mang một nhân cách lớn, một bản sắc Việt Nam độc đáo, một tâm hồn thắm thiết một văn tài kiệt xuất và một cách xử thế đúng đắn, Nguyễn Khuyến là một con người và một nhà thơ ưu tú vào bậc nhất ở thời đại ông. Và "cụ Yên Đổ" mãi mãi sống trong tâm hồn chúng ta thật là thân thương, thật là trìu mến!

Kiều Văn
Đăng nhập để trả lời
0