Thế là phát ra lời tán tụng nhất trí, hoàn toàn quên là mới trước đó năm phút ba người họ còn đang cùng nhau rủa sả chủ nhân của con dấu bằng những lời lẽ độc ác nhất mà loài người có thể nghĩ ra. Sau đó Tịnh Nghi dọn về nhà phía bắc, con cái cũng được đưa về một gian ở nhà phía bắc đó. Tất cả đều xảy ra những biến đổi rất tự nhiên, tất cả đều là thành thật tự đáy lòng cả. Thế là chồng lại trở thành chồng, vợ thì lại trở thành vợ, con cũng đã trở thành con. Cuộc "trở về" vĩ đại đã thực hiện như vậy đó. Thực ra Tịnh Nghi chính là thật thà ngây thơ như vậy đó, yêu cầu của chô chỉ đáng thương như vậy thôi. Hăng hái lên rồi, vui vẻ lên rồi, cũng chỉ vui vẻ được một lúc thôi, cô cũng chẳng biết vui như thế nào nữa cả. Hơn nữa, niềm vui sướng của cô không có được phản ứng của Nghê Ngô Thành - Biết đâu anh ta đưa con dấu ra rồi lại thấy đau lòng chăng, biết đâu anh ta lại hối hận rồi, tiếc xót rồi nhỉ, cô nghĩ thế. Nhưng cô vẫn cảm thấy thỏa mãn, đưa tiền, trông nom nhà cửa, không cãi cọ, sống, nuôi dạy con cái, đó chính là cuộc sống, đó chính là tất cả những yêu cầu của cô đối với Nghê Ngô Thành. Rồi sau đó, hứng thú của cô là âm ư hát điệu sênh Hà Bắc. Chủ yếu là nhịp phách, giống trút giận, bất kỳ vở nào cũng đều hát thật kích động hớp hồn đoạt phách người ta mới được. Có thân già, ở nhị đường Dùng mắt mà ngó xem Trong nhị đường, người quì Đó là gái thuyền - quyên! Cô hát mấy câu đó một cách ề à dài dặc, hát đi hát lại, thường thường lạc mất giọng, lại cố hát cho đúng điệu đúng giọng - phục qui hồi lai, vẫn là mấy câu hát đó. Kỳ thực xưa nay cô chẳng bao giờ nghĩ xem mấy câu hát đó ý nghĩa là gì. Nghê Ngô Thành trước nay không hát cũng không xem ca kịch bao giờ, bài hát duy nhất mà anh ta biết hát là một nữa bài "Mãn giang hồng" của Nhạc Phi, từ "Giận mà tóc dựng trong mũ" cho đến "Đừng đợi nhàn mà bạc tóc thiếu niên, bi thiết rỗng không", rồi sau đó là gì không biết nữa. Việc mà anh ta thích làm là dùng giọng phát âm trật trẹo nhất để giảng Anh văn, Pháp văn và Latinh văn. Mỗi khi anh ta giảng ngoại văn, Tịnh Nghi bao giờ cũng cảm thấy còn đáng chán và xúi quẩy hơn cả nghe tiếng mèo kêu. Ngoại văn của anh ta khiến cô cảm thấy buồn nôn. Mà mỗi khi Tịnh Nghi hát tuồng tích, miệng Nghê Ngô Thành cũng bĩu ra đến khinh người. Sau khi cầm được con dấu, Tịnh Nghi cao hứng đến nỗi từ sáng đến tối đều ê a hát kịch, điều đó khiến Nghê Ngô Thành cảm thấy như mình bị đẩy xuống một cái ao bùn. Cuối cùng Nghê Ngô Thành đã phát cáu lên một lần, nghiêm giọng thỉnh cầu Tịnh Nghi đừng có hát Thuyền quyên xinh đẹp phải quỳ nữa. Ngày trước, Tịnh Nghi tuyệt đối không chịu bị quản thúc như thế, tuyệt đối phải phản kích lại đấy. Nhưng cũng vì có uy lực của "con dấu", lần này Tịnh Nghi chỉ đảo mặt một cái mà không ra lời. Cuối cùng đã đợi được đến ngày lĩnh lương, ngày thứ nhất, ban đêm Nghê Ngô Thành không về nhà, nói phải đi dự cuộc gặp gỡ xã giao gì đó ở đại học Yên Kinh. Đối với việc ông chồng không về nhà ban đêm. Tịnh Nghi vốn vẫn nghi ngờ nhất, chán ghét nhất, đau hận nhất, nhưng lần này, hôm sau là lĩnh lương rồi, lại là ngày tốt mà cô đã nắm được quyền lĩnh lương nên phải cố nhẫn nại. Ngày hôm sau mới sáng sớm Tịnh Nghi đã trở dậy, rửa mặt chải đầu trang điểm xong liền thay quần áo, thay đi thay lại mấy lần vẫn chưa thấy thật lý tưởng. Cô hi vọng đã đến trường đại học thì phải gây được ấn tượng về cô là không hổ danh phu nhân giảng sư Nghê Ngô Thành. Ấn tượng về cô càng tốt thì mọi người sẽ thông cảm với cô mà khiển trách thói phóng đãng của Nghê Ngô Thành. Chứ nếu bộ dạng của cô mà chẳng khác gì những cái củ cải muối đã ba năm trong vại dưa ở nhà quê, thì mọi người sẽ ngấm ngầm ủng hộ Nghê Ngô Thành đi tìm "người ngoài" ngay. Thay mấy lần áo dài kiểu Thượng Hải chẳng vừa người tí nào. Sau đó cô lại đau cả đầu về vấn đề giày dép. Mỗi lần đi giày là một là một lần động tới chổ đau của cô - chân cô đã bị bó, bó được bốn tháng thì thôi không bó nữa. Cô đã hoàn toàn không còn nhớ gì tới cái việc bó chân ấy nó thế nào nữa. Thật là lạ, tất cả những việc xảy ra hồi nhỏ trước khi bó chân và sau khi bó cô đều nhớ hết, chỉ mỗi việc cái chân bị bó ra làm sao thì lại không nhớ. Trước mắt cô chỉ có đôi bàn chân mà xương mu chân cong vồng lên và bốn ngón chân hai bên bị tổn thương tận trong xương. Mấy ngón chân đó tuy chưa bị bẻ cong gập hẳn vào dưới lòng bàn chân như những cái chân nhỏ đã bó xong hoàn toàn, nhưng chúng đã co rút lại như bốn cái cúc áo, tựa như chỉ có cái nắp ngón chân mà không có bản thân ngón chân đó. Cái chân như vậy thì đi giày là khó rồi. Nhưng cô vẫn mua một đôi giày nhỏ mũi bằng đoạn thêu rất lộng lẫy. Kể cả đi loại giày đó mà cô vẫn độn rất nhiều bông vào chổ ngón chân. Đi xong giày, cô lại đeo lên một cặp kính không có số, không có viền quanh mắt kính, gọng kính thì mạ vàng. Soi vào gương hết bên phải đến bên trái, càng soi càng cảm thấy cọc cạch chẳng giống ai, nhưng cũng đành phải thế vậy, giơ mặt ra mà đi xông pha thôi. Cô gọi một chiếc xe tay, đi đến đại học sư phạm. Trong tâm trạng nữa phập phồng run sợ nữa hưng phấn, dưới sự giục giã của động lực thực hiện quyền lĩnh tiền, cô cũng thể hiện ra sự lên gân mạnh mẽ của kẻ không đạt mục đích quyết không ngừng nghỉ, đã ra đi không ngoái đầu trở lại. Cô đi vào phòng kế toán của văn phòng nhà trường. Ở cửa có một tiểu thư õng ẹo đang soi gương tô son lên môi. Đây là một chiếc "lọ hoa" - Tịnh Nghi nghĩ vậy. Trên tờ họa báo "369" cô đã nhìn thấy cái từ đó. Cô biết có một số công ty lớn, phủ quan, trường đại học, ngân hàng đều nuôi một số ít người loại đó, để bày làm cảnh giống như lọ hoa vậy. Đồng thời từ bản năng cô cảm thấy một sự nguy hiểm, một sự phản cảm, hóa ra trong cái trường học mà ông chồng nhận dạy đã có cái lọ hoa như vậy đấy! Thảo nào mà đàn ông cứ phải đi theo đường xấu, đường không ngay ngắn. Cũng giống như bọn tinh nhền nhện trong "Tây du ký" ấy, chổ nào cũng có bao nhiêu là tơ của chúng nhả ra và những cái lưới độc chúng dệt để làm bẫy cuốn chân. Cô nhìn "lọ hoa" một cái, cái thứ phấn son và dáng vẽ xinh đẹp kia khiến cô phải mắt hoa tim đập, trong sự bối rối dường như lại có đôi phần hâm mộ. Tịnh Nghi ngó quanh căn phòng đó một lúc, rồi đi thẳng tới chổ một người đàn ông trung niên đang cắm cúi gảy bàn tính trên bàn, cô phán đoán bằng trực giác rằng đây mới là nhân viên làm việc vất vả thực sự. Cô đi tới, người đàn ông nọ ngẩng đầu lên, giờ cô mới trông thấy người đó đang lên lẹo ở mắt, dưới mi trái có một mụn bọc to, trong đỏ ngoài tím, cái mụn làm húp híp cả mắt, trông thật đáng thương. "Tôi là phu nhân giảng sư Nghê Ngô Thành khoa Trung văn, tôi đến lĩnh tiền lương... Ông ấy đã nói, từ đây trở đi sẽ do tôi đi lĩnh... Ông ấy đã đưa con dấu cho tôi rồi..." Nói xong, cô mới cảm thấy lời nói của mình hoàn toàn thừa. Nhưng cô vẫn cứ muốn nói, cái người đàn ông mặt như tro than với con mắt có mụn khiến cô cảm thấy trân thiết và có thể tin tưởng. Con người có mắt lẹo uể oải đưa tay chỉ một cái. Cô nhìn theo hướng tay chỉ, lại cái "lọ hoa" vừa đứng ở cửa kia. "Mắt lẹo" cúi đầu xuống tiếp tục gảy bàn tính, gảy được mấy cái, lại ngẫng đầu lên, thấy Tịnh Nghi vẫn đứng chần chừ nghi ngại trước bàn của mình. Anh ta đưa tay chỉ về phía "lọ hoa", đồng thời nói nhỏ: "Xin mời đến chổ tiểu thư Lưu để làm việc". Nói xong, cơ thịt trên mặt anh ta đau khổ co rúm lại. Mắt lên lẹo là rất đau rất nhức đấy. Tịnh Nghi cũng hay bị lên lẹo ở mắt, từ khi biết nhớ việc đến giờ, gần như năm nào đến mùa xuân là đều bị một lần. Cái năm cô mười ba tuổi bị lên lẹo một lần kinh khủng nhất. Trên mí mắt phải của cô cố một cái ve nho nhỏ, không nhìn kỹ thì không nhận ra, đó chính là vết tích của lần lên lẹo đó. Hai đứa con của cô cũng thường hay bị lẹo mắt. Bây giờ trong nhà chỉ có Nghê Ngô Thành là chưa bao giờ bị lên lẹo. "Bẩn thỉu, mất vệ sinh!" Trước nay Nghê Ngô Thành đều dùng cái giọng vừa ngạo mạn vừa thương xót để bình luận về chuyện lẹo mắt của cô và con cái, đó cũng là một trong những việc khiến Tịnh Nghi đau hận nhất. Cô không thể nào chịu đựng được cái kiểu cách quí tộc bàn tán về tiện dân như vậy của Nghê Ngô Thành. Tịnh Nghi đi tới bên cạnh tiểu thư "lọ hoa", trình bày một cách lúng túng, lắp bắp về thân phận và mục đích của mình. Không để cô nói hết, "lọ hoa" đã cắt ngang lời cô: " Lương tháng của tiên sinh Nghê đã lĩnh xong từ lâu rồi". "Lọ hoa" nói năng có một vẻ cay cú, lời nói của cô ả như lọt từ kẽ răng mà ra, khiến cô một số phụ âm chẳng hề là phụ âm môi răng gì cả cũng biến thành âm của môi và răng. "Cô nói răng?" một cơn hỏa bốc lên mặt, Tịnh Nghi buột nói ra một tiếng địa phương, cả buổi sáng sớm công phu sửa soạn những mong làm ra dáng phụ nữ hiện đại tỉnh thành, thế là hỏng tuột cả. "Lọ hoa" không ngại phiền kéo một ngăn kéo ra, xịch môt tiếng lại đóng vào. Rồi mở thêm một ngăn kéo khác, lại xịch đóng lại. Lần thứ ba mở một ngăn kéo nữa, lấy ra một cuốn sổ ghi. Tịnh Nghi như ngồi trên bàn chông. Tiếng kéo ngăn kéo kích thích thần kinh của cô. Cô muốn "chiến đấu" với cái "lọ hoa" này, bao nhiêu lời lẽ nộ khí xung quang đang từ trong đáy tim trào lên cổ họng cô. Ngực cô nghẹn lại, cổ họng cô thít chặt vào. "Lọ hoa" tìm ra được một trang giấy, cố gượng mà giải thích rằng. "Ngày phát lương của chúng tôi đã thay đổi rồi, sớm hơn trước một tuần lễ. Xin mời xem, tiên sinh Nghê đã lĩnh lương rồi đây". Tịnh Nghi lơ mơ láng máng nhìn thấy một con dấu vuông to, chữ triện, chữ chìm, cong cong uốn uốn, chẳng biết là viết cái gì. "Nhưng mà con dấu của ông ấy đã đưa cho tôi rồi, tôi là vợ ông ấy, tôi kết hôn với ông ấy năm tôi mười tám tuổi, ông ấy chỉ có tôi là vợ thôi chứ..." Vừa nói cô vừa lấy con dấu hình bầu dục đã bảo quản mười mấy ngày coi như của quí, đưa ra. "Tiên sinh Nghê đã không dùng con dấu đó từ lâu rồi. Ông ấy dùng con dấu này để biên nhận xuất nhập tiền với chúng tôi..." Giọng của "Lọ hoa" dường như có dịu đi một ít, bớt vị chanh chua đi một ít, nhiều thêm một chút cảm thông. Cô ta thuận tay mở một chiếc ngăn kéo khác, nó phát ra tiếng rít còn chói tay hơn, cô ta tìm ra một cuốn sổ đóng chi chít những dấu tên người, tìm được dấu tên của Nghê Ngô Thành lưu lại. Quả nhiên, hình vuông, khác triện chữ chìm, đúng với con dấu đóng ở sổ lương kia. "Như vậy thì... Cái đồ lòng lang dạ sói là ông ta đã lừa tôi!" Tịnh Nghi lập tức vừa nói vừa rơi nước mắt. "Lọ hoa" cười một cái rất xinh, mắt chớp chớp. "Mắt lẹo" quay đầu lại, buồn bã ngó cô một cái. Có vẻ như anh ta thường thường vẫn thấy cảnh bất hạnh tương tự thế này. Một vị tóc bạc hoa râm, đeo cặp kính lão tròn xoe ho khan hai tiếng. "Các vị không biết đâu, ông Nghê Ngô Thành không quan tâm gì nhà cửa, không quan tâm con cái, tôi với ông ta kết hôn mười năm rồi... đến tiền ra nước ngoài ăn học chi cho ông ấy cũng là của mẹ đẻ tôi đấy chứ..." Tịnh Nghi khóc òa lên. Tố cáo với người ngoài, với xã hội sự vô đạo đức của Nghê Ngô Thành, đây không phải là lần đầu tiên, Tịnh Nghi đưa ra phản ứng của mình chẳng hàm hồ một chút nào cả. "Thưa bà Nghê, bà bớt giận... chỗ chúng tôi đây..." ông già ho khan nọ tỏ vẻ thông cảm thương xót mà không biết giúp gì được, ra ý muốn nhắc rằng, ở đây không phải chổ nói việc trong nhà của họ ra. Từ khi kết hôn, đặc biệt là hơn một năm lại đây, Tịnh Nghi với Nghê Ngô Thành từ chỗ cãi cọ to tiếng đến chỗ động chân tay với nhau đã không biết đến lần thứ mấy rồi. Mỗi lần như vậy Tịnh Nghi đều có cảm giác như tức hơi muốn nổ. Cô phẫn nộ, cô oan khuất, cô nhục nhã, toàn thân chỗ nào cũng như sắp nổ bùng ra vậy. Làm sao cô lại phải lấy cái người chồng như vậy chứ? Một việc cho ra người cũng không làm, một chút tính người cũng không có! Vậy mà Nghê Ngô Thành lúc nào cũng dùng ánh mắt khinh miệt, thương hại, ngạo mạn đến cực kỳ để nhìn cô. Hễ nhìn thấy ánh mắt đó, cô thật chỉ muốn cho hắn ra cửa tông xe ngay thôi! Nghê Ngô Thành đang đi trên đường, thì trước mặt lao tới một chiếc xe hỏng tay lái, "sầm" một tiếng, Nghê Ngô Thành ngã xuống đất, ngã ngay dưới bánh xe, bốn bánh xe cán lên đầu, ngực, bụng, tứ chi của Nghê Ngô Thành. Lại một tiếng "bốp", rồi óc não của Nghê Ngô Thành vỡ toan ra, xì xì bánh xe cán lên ngực, cán đứt ruột, cán rách tay, máu đỏ xương trắng, tất cả bày hết ra ngoài. ...Vậy thì sẽ là một cảnh tráng lệ biết bao, khoái trá lâm ly biết bao, thật là trời xanh có mắt! Trời xanh không có mắt! Cô lại để cho cái thằng lưu manh, cái thằng ác ôn Nghê Ngô Thành kia nó lừa rồi. Bị lừa một cách khốn khổ! Sao cô lại nhẹ dạ cả tin đến vậy, lại đi tin vào lời nói của cái đồ không phải người đó, sao lại nghĩ đó là lời nói của con người chứ?! Sao mình lại lập tức dâng lên cái mặt nói cười vui vẻ, dâng lên tất cả, thật đáng tự vả vào mồm mình. Bốp! Bốp bốp! Bốp bốp bốp! Bị lừa, mắc hợm, mất mặt, hoa mắt, vác mặt đến trước bọn "lọ hoa" và "mắt lẹo" ở đại học sư phạm mà bêu xấu, thật là khuyết đức tám đời, mất mặt mười kiếp... Cô những muốn đánh mình thật đau, lăn mình xuống đất mà la làng ăn vạ, đập ngay đầu mà chết tại văn phòng đại học sư phạm cho xong! Về nhà vừa nói một cái, ba mẹ con liền nổ bùng như nồi xúp de. Tịnh Nghi thì vừa kể vừa khóc. Tịnh Trân thì lấy tay xương xẩu lủng củng của mình đập bàn chan chát, đập đến nỗi chỗ móng tay của ngón giữa và ngón vô danh bên tay phải rớm cả máu ra. Tịnh Trân nỏ mồm chửi lớn, và còn ngỏ ý rằng tối nay hễ "thằng cha chết tiệt kia" trở về, "bà sẽ ăn thua với nó", "đao trắng vào đao đỏ ra" "ai bắt nạt em gái bà, bà sẽ cắn một miếng đứt cổ nó ngay" "một mạng đổi lấy một mạng bà dám liều đấy", lời lẽ khẳng khái như lửa như than của Tịnh Trân ngày càng kích động đến mức làm cho Tịnh Nghi đang tối khổ cũng phải lập cập run người lên. Tịnh Trân là nói đâu làm đấy, cái gì cũng dám làm hết. Bà mẹ già Khương Triệu Thị nhỏ bé, uy nghiêm mà vẫn chưa mất vẻ lanh lợi hoạt bát thì nói không to lắm, nhưng đã lôi cả bộ bài bản những câu rủa độc. Cầu cho cái thằng Nghê không được chết hẳn hoi, năm ngựa phanh thây, băm làm tám mảnh, đả huyết vô lôi... "đả huyết vô lô" là một câu tiếng địa phương, ý tứ hình dung một người rúm ró co quắp lại khi sắp chết, chửi rủa người khác mà hình tượng sinh động, máu huyết lâm ly như vậy, có thể thấy độ sâu của hận thù oán ghét. Rồi sau đó bà ta chửi từ đầu xuống đến chân, từ tâm địa đến tư thế, chửi từ ngoài da vào đến cốt tủy. Ngoài ra thì "mọc ghẻ, mọc định, mộc cổ trâu", sau thì "tám tầng mụn cơm, tám tầng lở loét, tám tần máu, tám tầng mủ, bong bóng da tám tầng", chửi rất tinh, rất cay, rất sâu độc như khoan tới ba phân gỗ, mà cũng không phải chửi vô căn cớ. Bởi vì sau gáy Nghê Ngô Thành có một đám lở cổ trâu, điều đó Khương Triệu Thị biết, vì vậy bà ta xoáy trọng điểm cuộc chửi vào khu vực da. Cái kiểu chửi đó ở quê Khương Triệu Thị gọi là "chửi thề", không phải là chửi mắng hay chửi cho nhục. Trong câu chửi, bà ta luôn luôn ghép vào một câu rằng: "Cái thằng bị trúng thề đó là họ Nghê đấy", "trúng thề" cũng vốn là một câu nói ở quê, ý nói một người bị người khác rủa sả phải chịu những điều xấu đó thật trong cuộc sống. Bất kỳ người nào nghe thấy tiếng ba mẹ con họ vừa chửi vừa khóc, nghe thấy nội dung những câu rủa độc của họ đều có thể sợ phát ngất đi được. Nhưng bởi vì ba mẹ con đó cùng nhau rủa sả Nghê Ngô Thành không phải là lần đầu tiên, cho nên những lời lẽ sắc bén vô cùng đó (mà chính họ lại nghe với nhau) cũng giảm đi phần lớn sức kích thích. Cho đến khi Nghê Tảo và Nghê Bình đi học về, nghe thấy phần vĩ thanh của cuộc chửi đồng thanh moi gan móc ruột kia, thì chúng vừa căng thẳng lại vừa "quen quá hóa thường", chẳng lấy làm lạ nữa. "Tôi đã nói từ lâu rồi cái thằng cha này không phải là người, không tin được nó đâu, một câu cũng không thể tin được!" Cuối cùng Khương Triệu Thị dùng một giọng đã vặn nhỏ xuống một nấc nói như tổng kết rằng "cái chính là phải "bại họa" nó, tổn (làm cho nó đen đủi, ác tâm ác ý với nó) nó đi! Đừng có tưởng mẹ con ta dễ bắt nạt! Mi chôn sống chúng ta, chúng ta cũng sẽ chôn sống mi. Mi không để cho chúng ta được tốt, chúng ta cũng không để cho mi được tốt! Mi không để chúng ta được dễ chịu, chúng ta cũng không cho mi dễ chịu!"