Chị Tư đanh đá

Chị Tư Đanh Đá

Lượt đọc: 18 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »

❊ ❊ ❊

I.

Thật dễ chịu khi chạy xe dưới hàng cây xanh biếc trong nắng sớm còn đượm chút hơi sương. Ven đường, vài người đứng xung quanh xe bán hủ tiếu dạo. Thấy nồi súp nghi ngút khói, tôi chợt thèm một tô hủ tiếu nóng hổi. Đi thêm một đoạn, tấm bảng “Hủ tiếu Cô Tư” hiện ra trước mắt.

Quán kê vài cái bàn mủ đơn sơ, trên bàn để sẵn ống đựng đũa muỗng, nước tương, nước mắm và chanh ớt. Tuy quán bình dân nhưng khách cũng khá đông. Tôi chọn một cái bàn nhìn ra mặt lộ. Khá thú vị khi đối diện có một Spa mang một cái tên rất kêu “Hoàn Mỹ”.

Nhà văn Huyền Văn ở Cần Thơ

Tôi vừa ngồi xuống thì chủ quán đã niềm nở hỏi: “Cậu hai ăn gì để Tư mần?”. Tôi đáp: “Chị cho một tô hủ tiếu xương!”. Chủ quán là một người phụ nữ tuổi trạc bốn mươi, dáng người thô kệch, gương mặt múp míp. Chị đáp: “Có ngay!”.

Trái ngược với chị chủ ú nu, một người đàn ông gầy nhom ân cần hỏi tôi: “Trà đá không chú em? “. Tôi gật đầu, rồi lấy điện thoại ra lướt facebook. Bỗng nghe tiếng cãi vã om sòm từ quầy bếp:

“Tiền bốn tô hủ tiếu bên sì pa đâu, đưa đây!”

“Nãy đưa bà rồi còn gì!”

“Nãy là của tiệm uốn tóc! Của thẩm mỹ viện chưa đưa!”

Tôi đang khó chịu thì mấy người khách bàn kế bên thản nhiên cười “Hai vợ chồng này cãi nhau suốt ngày”.

Ông chồng đùng đùng bỏ đi. Bà vợ rượt theo, tay đang cầm cái vá múc nước súp. Tôi ngăn lại: “Từ từ nói chị ơi!”. Bà chủ quay ngoắt lại, trút hết cơn giận lên đầu tôi: “Cậu biết gì nói!”. Rồi chị xoay người nói với theo ông chồng: “Qua sì pa dọn hết tô về cho tui”.

Vài phút sau, chị Tư bưng tô hủ tiếu ra để xuống bàn hơi mạnh tay. Tôi lấy làm khó chịu nhưng tô hủ tiếu nhìn rất hấp dẫn. Thôi thì lỡ kêu rồi ăn cho lẹ rồi vọt. Nghĩ vậy, tôi miễng cưỡng cầm đũa.

Trái ngược với vẻ đanh đá của chị, tô hủ tiếu lại ngon cực kỳ. Hương vị nước súp rất đậm đà. Hủ tiếu vừa dai vừa mềm. Xương ống mềm rịu, cắn nhẹ một cái thịt đã rớt ra. Tôi ăn một loáng đã sạch tô. Tôi thốt lên: “Ngon quá bà chủ!”. Tôi vừa dứt lời thì bà chủ cầm ly trà đá để xuống bàn hơi mạnh tay, tôi giựt mình. Chị cười: “Trà đá này tặng!”. Tôi chưa kịp cầm ly trà chị đã kéo ghế một cái “rột” ngồi phịch xuống, bắt chuyện:

– Cái ông chồng của tôi á!

Tôi hớp một ngụm trà đá nghe mát lạnh. Bà chủ tiếp:

– Ổng á, cứ hở ra một chút là giếm tiền cho gái ăn!

Tôi lơ đểnh nhìn về phía Spa, chị tiếp tục ca cẩm:

– Ổng không làm được tích sự gì hết, cái nhà này là một tay tôi…

Chị Tư đang nói dở dang thì có tiếng thắng xe đạp nghe cái “két” thật lớn ngay trước quán. Chị ngưng lại, đứng lên. Người đàn ông mặc đồ công nhân dắt tay một cô bé mặc đồng phục tiểu học áo trắng, váy xanh đi vào. Đến gần chị Tư, anh lí nhí hỏi:

– Tô hủ tiếu bao nhiêu vậy chị?

– Tô người lớn ba chục, đặc biệt bốn chục, con nít hai chục! – Bà chủ nói một hơi.

– Cho tôi một tô người lớn đi! – Anh công nhân xoay qua cô bé – Con ngồi đây ăn, cha ra ngoài xe đợi.

Cô bé phụng phịu, níu tay cha:

– Hông chịu! Cha ăn với con, con mới chịu!

– Cha no rồi! Cái này là cha thưởng cho con vì con làm toán được 10 điểm đó.

– Hay là con ăn tô con nít thôi, tô người lớn để cha ăn đi.

– Không được cãi cha! – Giọng người đàn ông nghiêm nghị.

Cô bé sị mặt, đôi mắt long lanh muốn khóc:

– Cha hổng ăn con cũng hổng ăn luôn.

Tôi thấy thương con bé quá định gọi bà chủ làm thêm một tô nữa đãi cha con họ. Chưa kịp lên tiếng thì chị Tư đã oang oang cái miệng:

– Ông không ăn sao con nhỏ nó chịu ăn!

Anh công nhân ngập ngừng:

– Tại tui hổng đủ…

– Ngồi xuống đi! Tui đãi!

Người cha do dự. Đứa con gái ngước nhìn cha chờ đợi. Bà chủ tức mình, đập tay lên bàn một cái “chát”:

– Ông có bị lãng tai hông mà không nghe tui nói vậy hả? Ngồi xuống lẹ lên, con nhỏ đói rả ruột rồi kìa.

Chị trở vô rồi bưng ra hai tô hủ tiếu để lên bàn còn nghi ngút khói:

– Nè, hai cha con ăn lẹ lên đi!

Anh công nhân rụt rè ngồi xuống cạnh con gái. Bà chủ hất hàm:

– Vô tiệm của tôi là ăn cho sạch sẻ mới được về nghen!

Chỉ một loáng sau hai tô hủ tiếu đã hết sạch. Người cha rối rít cảm ơn bà chủ, rồi dọn tô dơ ra sau bếp. Trở ra, anh cầm vài tờ giấy bạc cẩn thận vuốt lại cho phẳng rồi đưa chị Tư:

– Tôi gửi chị ba chục ngàn tiền một tô, còn một tô… ngày mơi tôi quay lại trả đủ cho chị.

Người đàn ông nói chưa hết câu, bà chủ đã nạt lớn:

– Nè! Ông có bị điếc hông? Nãy tui nói tui đãi con nhỏ… nhưng mà ông khách bàn đó trả rồi!

Chị Tư chỉ qua bàn của tôi, nhưng tôi đã dời qua bàn khác, hai cha con nhìn qua không thấy tôi ở đó. Vừa lúc đó, anh Tư bưng một chồng tô đi ào. Anh công nhân lẹ làng đỡ lấy đem vào trong. Anh Tư ngơ ngác hỏi: “Ủa! Bà mới mướn thêm người chạy bàn hả?”. Chị Tư hấy anh chồng một cái: “Người ta là khách đó ông già!”. Rồi chị quay sang anh công nhân: “Ai mượn anh xớ rớ! Lo đưa con nhỏ đi học kìa!”. Chị vuốt lại mái tóc cho cô bé, giọng trở nên dịu dàng:

– Con gái, con mấy tuổi rồi?

– Dạ con được sáu tuổi rồi! – Cô bé lễ phép thưa.

– Ờ! Bữa nào thèm ăn hủ tiếu cứ ghé đây dì đãi. Nhớ kêu má con tới luôn nghen!

Bé gái ngước đôi mắt trong veo nhìn chị Tư. Đôi mắt của nó khiến anh Tư ngờ ngợ, như đã gặp ở đâu đó mà không nhớ ra. Bé gái chưa kịp trả lời thì người cha thúc giục: “Đi lẹ lên, sắp tới giờ rồi!”. Anh quay sang cảm ơn bà chủ lần nữa rồi dẫn con gái đi thật nhanh. Chị Tư nhìn theo bóng lưng hai cha con, lẩm bẩm: “Đôi mắt nó đẹp mà buồn quá!”.

 

II

Tôi chở bà xã vào con hẻm ở đường Thời Trang. Đường hẻm tráng bê tông bị xuống cấp, nhiều ổ gà đọng nước đen ngòm. Chạy được vài trăm mét tới nhà trọ có treo cờ rủ màu trắng. Quan tài đặt giữa gian phòng chật hẹp. Đám tang lưa thưa người, không trống kèn, chỉ có tiếng niệm Phật đều đều phát ra từ chiếc máy thu âm nghe chạnh lòng.

Một cô gái trẻ chưa đến ba mươi ra đón chúng tôi. Cô mặc chiếc áo sơ mi trắng dài tay, mái tóc dài buộc gọn sau lưng. Bà xã tôi giới thiệu đó là cô giáo ở Trường Mẫu giáo Tây Đô, cũng là cô giáo của bé Na, con gái tôi. Chào hỏi xong tôi với bà xã thắp nhang. Nhìn lên di ảnh người mất, tôi sững sờ khi nhận ra đó là người công nhân từng dẫn con gái ăn hủ tiếu quán chị Tư hôm nọ. Thì ra, anh ấy là người anh kết nghĩa của cô giáo, làm nghề phụ hồ và mất vì ung thư phổi.

Tôi ngạc nhiên khi thấy anh Tư dắt tay cô bé đi vào. Cô bé khoanh tay thưa mọi người rồi đứng nép bên cô giáo, hai mắt nó đỏ hoe. Tôi đứng bật dậy: “Anh Tư!”. Anh Tư thấy tôi thì khựng lại: “Sao chú em ở đây?”. Cô giáo đỡ lời: “Anh chị là phụ huynh của học trò em”. Bà xã tôi chào anh Tư rồi quay sang nói chuyện với cô giáo. Anh Tư kéo tôi ra ngoài nói nhỏ: “Anh đừng nói với bà xã tui là gặp tui ở đây nghen”. Tôi nói bóng gió: “Bộ anh sợ tôi khai chuyện anh với cô giáo hả”. Anh Tư giật mình: “Nói gì vậy cha nội?”. Tôi thản nhiên: “Thì bữa kia, tôi thấy anh chở cô giáo. Lúc đó cổ mặc áo màu vàng chớ còn ai nữa!”. Anh Tư liền kéo tôi ra xa hơn:

– Đừng nghĩ bậy nghen! Cổ là mối đi xe ôm cũ, tuy tôi giải nghệ rồi nhưng lâu lâu cổ nhờ, tui chở giùm thôi.

Ánh mắt tôi hướng về cô giáo :

– Coi bộ nhiệt tình với cổ dữ hen!

Anh Tư nhăn mặt:

– Bậy nữa! Cổ có một mình hà, nhờ tui tới phụ một tay, đâu dè ổng cũng khách ăn hủ tiếu của tui.

Tôi ờ ờ cho qua chuyện. Mắt tôi hướng về cô bé đang nép mình bên cô giáo, hỏi:

– Cha nó chết rồi nó ở với ai?

Anh Tư nhìn vào trong rồi nói:

– Ở với cô giáo chớ còn ai nữa.

– Tôi nghe chị Tư nói trước đây anh cũng có đứa con gái phải không?

Anh Tư gật đầu, nét mặt sa sầm:

– Sao chuyện này chú cũng biết vậy?

– Thì… chị Tư nói.

Anh Tư chùn giọng:

– Cũng tại tui!

Tôi im lặng chờ đợi. Giọng anh Tư chùn xuống:

– Lúc đó… nó mới lên ba. Tui dẫn nó vô công viên chơi. Con bồ tui nó gọi điện, lo nói chuyện với nó, một lúc sau quay lại thì không thấy nó nữa. Tui đi kiếm nát công viên không gặp rồi báo công an. Bả khóc mấy ngày mấy đêm rồi sinh bệnh. Từ đó bả chửi tui ra rả suốt ngày. Tui bực quá bỏ nhà theo con bồ luôn. Sống với nó mấy tháng mới biết nó ham tiền, tui hối hận quay về với bả. Từ đó về sau bả chửi kiểu gì tui cũng nín, vì mình có lỗi mà.

– Có lẽ chị Tư thấy con bé đó mà nhớ tới con mình.

– Ờ anh nói tui mới để ý! Thôi phải về mua giá hẹ cho bả rồi. Bữa nào cà phê nói chuyện tiếp nhe!

Anh Tư lật đật ra về. Nhìn theo dáng người gầy nhom của anh Tư mà xót xa cho đứa con gái anh bị thất lạc.

 

III

Hai tuần sau.

Tôi trở lại quán hủ tiếu “Cô Tư”. Vừa ngồi xuống bàn ở góc trong cùng, chị Tư đã bưng tô hủ tiếu nghi ngút khói để xuống bàn tôi. Tôi ngạc nhiên: “Sao lẹ vậy?”. Chị cười xởi lởi: “Cậu vừa tắp xe vô lề là tui mần rồi”.

Tôi nhìn quanh không thấy anh Tư, bèn hỏi:

– Anh Tư đâu rồi chị?

Nét mặt chị trở nên hầm hầm, hai tay chống nạnh:

– Tui đuổi đi rồi!

Tôi đang trộn tô hủ tíu, liền khựng lại:

– Có chuyện gì vậy chị?

– Cái thói mê gái không bỏ được!

Tôi sực nhớ lại chuyện anh Tư với cô giáo An hôm nọ, nhưng lặng thinh.

– Ăn ở với người ta có con luôn rồi!

– Có hiểu lầm gì không chị?

– Con đàn bà đó đem con tới đây giao cho ổng luôn rồi hiểu lầm gì nữa!

Tôi bán tín bán nghi. Chị lại nghiến răng:

– Cay cú nhất là con riêng của ổng lại chính là con bé đó!

– Ý chị nói con bé hôm bữa lại đây với cha nó hả?

Mặt chị đỏ bừng:

– Nó đó!

“Tính tiền chị Tư ơi?” – Tiếng khách gọi. Nghe chị Tư nói lòng tôi tràn đầy nghi hoặc: “Lẽ nào là cô giáo An?!”. Tôi để tiền trên bàn, ra dấu chào chị rồi phóng xe như bay đến khu nhà trọ.

Vừa gặp anh Tư đứng lóng ngóng trước cửa, tôi nói thẳng mặt:

– Anh Tư! Tôi thiệt không ngờ anh với cô giáo lại có quan hệ bất chính như vậy!

Anh Tư ngơ ngác, mặt đờ ra:

– Chú mày nói gì tui hông hiểu gì hết trơn vậy?

– Chị Tư nói cho tôi biết hết rồi, không ngờ con bé đó là con của anh với cô giáo An. Nếu biết vậy tôi không cho con gái tôi học cổ.

Anh Tư sững sờ đến mức líu cả lưỡi:

– Cái… cái gì mà kỳ cục vậy trời?

Tôi ném cho anh Tư cái nhìn khinh bỉ định quay lưng đi. Đúng lúc cô giáo dẫn con bé về tới. Cô lịch sự chào tôi rồi quay sang nói với anh Tư:

– Anh Tư cũng nên về nhà giải thích với chị Tư một tiếng đi!

Xoay qua tôi cô nói:

– Phụ huynh của bé Na ngồi chơi nhe! Tôi vào trong lấy nước cho anh uống!

Tôi nói xẳng:

– Khỏi cô!

Anh Tư nhìn tôi rồi đáp lời cô giáo:

– Ờ thì… để vài bữa cho bả nguội bớt rồi về.

Cô giáo dẫn bé Vy vào trong. Tôi cũng định bỏ đi thì vừa quay ra đã chạm mặt chị Tư đứng sừng sững ngay trước cửa, hai tay chống nạnh hét lên:

“Bắt tại trận rồi nghen!”.

Thấy tôi, chị Tư ngờ vực:

– Cậu tới đây báo tin cho ổng hả?

Tôi vội vàng xua tay. Anh Tư hốt hoảng bước tới, xuống nước năn nỉ:

– Bà ơi, ở nhà muốn chửi tui sao cũng được, nhưng ở đây là nhà cô giáo, bà tém tém cái miệng chút đi.

– Đi giựt chồng người ta mà cũng xứng làm cô giáo nữa hả? – Chị Tư chanh chua nói.

– Trời đất ơi! Bà hiểu lầm dữ lắm rồi! Cổ không phải…

Anh Tư nói chưa hết câu thì chị gạt ngang:

– Khỏi chối! Kêu con đàn bà trắc nết đó ra đây ba mặt một lời!

“Chị Tư!”

Cô giáo kêu lên vô cùng kinh ngạc, ly nước đá trong tay run run. Mắt cô đỏ hoe, giọng tức tưởi:

– Chị hỏi kỹ chưa mà nói vậy?

Chị Tư nổi cơn tam bành, xông tới tát cho cô giáo một bạt tai như trời giáng:

– Ăn ở với nhau có con rồi còn gì hỏi nữa!

Cô giáo loạng choạng muốn té, ly nước dăng xuống đất nghe cái “xoảng”, nước văng tung tóe. Anh Tư lẹ tay đỡ cô giáo rồi cúi xuống lượm miểng chai. Chị Tư định xông tới, tôi can ngăn:

– Từ từ nói chị Tư, trong nhà có con nít mà.

Cô giáo ôm mặt khóc tức tưởi, gằn từng tiếng một:

– Bé Vy, là con của anh Hai kết nghĩa của em. Em với anh Tư thiệt tình không có gì hết trơn á!

Anh Tư nhịn hết nổi bước tới chắn trước mặt chị Tư, nghiêm nét mặt nói:

– Chuyện lúc trước là tôi sai, nhưng lần này là bà sai hoàn toàn rồi nhe.

Chị Tư “hứ” một tiếng, mặt hầm hầm. Anh Tư nói rành mạch:

– Thật sự tui với cô giáo không có gì hết. Bữa đó cổ dẫn bé Vy lại quán nhờ tui giữ vài ngày để cổ về Cà Mau thăm má cổ bệnh. Bà xớn xác không hỏi đầu đuôi mà đuổi tui đi. Ngay cả chú em này cũng hiểu lầm tui, kết tội tui, không ai nghe tui nói hết.

Tôi nhìn anh Tư đầy áy náy rồi kéo ghế mời chị Tư ngồi. Tôi vả lả cho bớt căng thẳng:

– Mà sao chị Tư biết chỗ này hay vậy?

– Thì tui… chạy theo cậu! – Nói xong chị Tư kéo ghế cái rột, ngồi phịch xuống, cơn giận vẫn còn âm ỉ:

– Ông có nói gì đâu mà biểu tui nghe!

– Bà… bà làm rùm beng lên có cho tui nói cái gì đâu. Con bé sợ quá khóc rùm trời rùm đất, tui phải dắt nó đi cho lẹ, chớ ở đó cho bà đánh nó à.

– Ông nói kiểu đó mà nghe được hả? Tui có giận cỡ nào cũng làm sao đánh đứa con nít cho được!

Anh Tư dịu giọng:

– Cho là tui chưa nói đi, nhưng bà cũng không nên ghen tuông bậy bạ như vậy. Vừa nãy cổ còn nhắc tui về giải thích với bà, chưa kịp về thì bà nhảy vô đánh người ta rồi.

Chị Tư không ầm ỉ nữa nhưng vẫn còn nghi hoặc, rồi đảo mắt quanh nhà:

– Con nhỏ đâu rồi?

– Nó mới đi học về, đang ở đằng sau á chị! – Cô giáo buồn buồn nói.

– Má nó đâu?

Cô giáo bùi ngùi:

– Mẹ nó bỏ nó trước nhà anh Hai, ảnh thấy nó tội nghiệp một mình nuôi nó tới giờ.

– Mẹ gì bất nhơn vậy! Rồi… cha ruột nó đâu?

– Dạ, em không biết, hồi chỉ tới khu nhà trọ này thì không thấy chồng chị.

– Tui ghét nhất cái loại đàn bà bỏ con!

Chị Tư tức giận vỗ mạnh tay lên bàn một cái “bốp”:

– Nói đi, mẹ nó là ai để tui đập nó một trận cho hả dạ!

– Dạ, chị đó tên Lan!

– Lan! Là Lan nào?

Chị như sực nhớ ra điều gì rồi nhìn trân trân về phía anh Tư:

– Có phải con Lan… mà hồi xưa ông…

Anh Tư nghe nhắc tới “Lan” gương mặt trở nên trắng bệch, xua tay lia lịa:

– Không phải đâu. Con Lan đó… nó không có con cái gì đâu…

Bỗng cô giáo nhớ ra điều gì, bước lại ngăn bàn lấy ra một cái hộp gỗ, giọng run run: “Đây là cái hộp anh Hai để lại! Mấy bữa nay lo đám tang lu bu quá em quên chưa mở ra coi”. Chị Tư giục: “Mở ra coi cái gì ở trỏng”.

 

IV

Cô giáo để cái hộp lên bàn. Không khí trong nhà trở nên ngột ngạt. Mùi nhang từ bàn thờ thoang thoảng. Mọi ánh mắt đổ dồn về cái hộp.

Cô giáo lòng ngóng mở nắp, lấy ra thẻ căn cước của anh Hai cô, tên thật là Trần Vĩnh Phước. Tiếp theo là giấy khai sinh của bé Lê Lan Vy, phần tên mẹ ghi Lê Thị Lan, phần tên cha thì để trống.

Chị Tư thốt lên: “Vậy ổng là cha nuôi nó thiệt à?”. Cô giáo gật đầu: “Dạ, hồi nãy em có nói với chị rồi, lúc anh Hai lượm nó, nó mới được mấy tháng hà”. Chị Tư đập tay xuống bàn cái “chát”, giọng đầy tức giận: “Đồ đàn bà độc ác!”. Rồi chị liếc xéo sang anh Tư: “Tôi nhớ con ghệ cũ của ông hồi xưa cũng tên Lan phải hông?” Anh Tư chột dạ không dám lên tiếng.

Cô giáo run run lấy ra cuốn sổ tay nhỏ, bìa cong vênh, sờn cũ, giọng cô xúc động: “Chắc là nhật ký của anh Hai”. Chị Tư sốt ruột hối thúc: “Đọc lẹ lên coi ở trỏng viết cái gì!”. Cô lật từng trang, bắt đầu đọc:

– Ngày…, sáng ra mở cửa đã thấy một bé gái quấn khăn choàng tắm nằm dưới đất. Con nhỏ mới mấy tháng mà đem bỏ đành đạn.

Cô gíao không nén được cơn xúc động, giọng muốn khóc:

– Ngày…, theo giấy khai sinh người ta để lại thì hôm nay là ngày thôi nôi bé Vy, mình chỉ mua được một hộp sữa bò cho con nhỏ.

– Ngày…, bé Vy được ba tuổi. Nhờ có cô giáo An giúp đỡ mà bé Vy được nhận vào trường mẫu giáo Tây Đô. Mừng muốn rớt nước mắt!

Cô ngừng đọc, lấy khăn hỉ mũi rồi tiếp tục:

– Ngày…, bé Vy vào lớp một. Nó mặc đồng phục vô thấy cưng quá. Thầm cảm ơn ông trời đã ban cho mình một đứa con gái hủ hỉ. Nhưng nghĩ cũng tội nó, không đầy đủ như con người ta.

– Ngày …, bệnh của mình ngày càng nặng. Mình đã tới quán bar XO, tới bến xe và một vài chỗ khác để hỏi thăm tin tức cha ruột bé Vy, nhưng không ai. Không có hình ảnh khác nào mò kim đáy biển.

– Ngày…, bé Vy học giỏi quá, lần đầu làm toán được 10 điểm. Mình dắt nó đi ăn hủ tiếu để thưởng. Trong túi không đủ tiền, mình chỉ kêu một tô cho nó, nhưng nó thấy mình không ăn nó cũng không ăn. May gặp cô chủ quán tốt bụng đãi thêm một tô. Lần đâu tiên nó được ăn ngon nên ăn sạch sẻ không chừa miếng nước. Ăn xong thì cô chủ quán nói đã có ông khách nào đó trả tiền luôn hai tô rồi.

Nghe tới đây, chị Tư hỉ mũi cái “rột”, quay mặt chỗ khác âm thầm quẹt nước mắt. Cô giáo đọc tiếp:

– Ngày…, lần nào đi ngang quán hủ tiếu đó bé Vy cũng ngó vô, chắc nó thèm ăn lắm. Vy con ơi, ba sẽ ráng làm có tiền để dắt con lại đó ăn lần nữa. Mà dạo này trong người mệt mỏi quá, phải ráng dữ lắm mới trộn hồ kịp cho thợ xây.

– Ngày…, sức khoẻ ngày càng yếu đi. Mình giấu bé Vy. Nếu chẳng may ra đi đột ngột, chỉ còn trông cậy vào cô giáo An lo cho nó. Vái trời Phật xui khiến cho con gái mình sau này tìm được cha mẹ ruột của nó. Đừng giống mình tới lúc nhắm mắt xuôi tay cũng không biết cha mẹ là ai.

Cô giáo đọc đến đây thì ôm mặt khóc nức nở. Cuốn sổ rớt xuống đất văng ra một miếng giấy nhỏ xếp làm tư. Anh Tư cúi xuống lượm lên đưa cho tôi, giọng run run: “Chú mày đọc đi!”. Tôi mở ra, trên đó viết chữ nguệch ngoạc:

“Anh Hai. Em tên Lan. Em không đủ sức nuôi con nên gửi lại cho anh. Nếu sau này anh cũng không muốn nuôi nó nữa thì tới bar XO, tìm người tên Kiệt là cha ruột của nó. Anh cứ nói mẹ của nó là Lan Tím thì ổng sẽ biết”.

Bức thư chỉ mấy dòng ngắn ngủi khiến tôi bần thần. Anh Tư đứng như trời chồng. Chị Tư đưa đôi mắt rực lửa về phía anh, gằn giọng:

– Ông còn chối nữa không?

Anh Tư mặt mày xám ngoét, miệng há hốc muốn nói nhưng không thốt ra được.

Tôi vừa thấy bóng dáng bé Vy thấp thoáng ở cửa buồng, vội xếp bức thư lại để vào túi áo. Chị Tư nghiến răng: “Con nhỏ thật vô phước mà”.

Bé Vy lặng lẽ bước ra, gương mặt đầm đìa nước mắt. Nó nhìn trân trối vào di ảnh cha trên bàn thờ, bờ vai mỏng manh run lên bần bật. Bỗng nó gào lên thảm thiết: “Cha ơi, cha…” rồi chạy ào ra ngoài như con chim sổ lồng. Tôi hét lớn: “Giữ con bé lại!”. Mọi người bừng tỉnh, vội chạy ào ra đầu hẻm, nhưng nó đã mất dạng.

Cô giáo hốt hoảng: “Chắc nó lại công viên rồi! Lúc trước anh Hai hay dắt nó lại công viên chơi lắm”. Tất cả chạy thục mạng tới công viên cách đó không xa.

Mọi người chia nhau tìm kiếm. Tiếng gọi “Bé Vy ơi…” vang vọng như tiếng chim lạc đàn. Tôi hỏi thăm những người đi dạo nhưng họ đều lắc đầu. Trời ngả về chiều. Hàng ghế đá thưa người. Xe cộ phóng qua vùn vụt, người ta hối hả về nhà.

Chị Tư lo lắng nắm chặt tay tôi hỏi dồn: “Cậu biết bé Vy thường ra chỗ nào chơi hông?”. Tôi lắc đầu: “Tôi cũng mới gặp nó hai lần, nên không biết nhiều”. Vẻ mặt chị thất thần: “Trời sắp tối rồi, lỡ nó đi lạc thì sao”. Lời nói đó làm tôi nhớ chuyện con gái chị từng mất tích ở công viên. Tôi lựa lời trấn an: “Chắc không sao đâu chị, biết đâu nó ngồi chỗ nào khóc vì nhớ tới cha nó”. Mắt chị Tư bỗng sáng lên: “Cha nó nói nó khoái ăn hủ tiếu của tui lắm phải hông? Có khi nào nó lại đó hông?”. Chị vội chạy đi. Tôi cũng chạy theo, trong lòng không mấy hy vọng .

Bốn người chúng tôi chạy bộ khoảng một cây số thì quán chị Tư hiện ra. Vừa tới cửa, đang thở hào hển thì cậu thanh niên mặc áo Grab màu xanh từ trong quán bước ra cằn nhằn:

– Chị nói đi chút xíu mà lâu quá, làm lỡ hết mấy cuốc xe của em rồi!

Chị Tư nạt:

– Nhiêu tiền lát trả! Nãy giờ có ai kiếm tui hông?

– Nãy giờ vắng hoe hà! À mà có con nhỏ đang ở trỏng, có phải con gái chị hông mà nó khóc hoài, hỏi gì cũng không…

Cậu ta chưa kịp nói hết, chị Tư đã xô cậu ta qua một bên, lao thẳng vào trong. Chị bủn rủn tay chân, gần như khuỵ xuống khi thấy bé Vy đang ngồi sụp ở một góc khuất sát vách tường ẩm ướt. Hai tay nó ôm chặt đầu gối, đầu gục xuống, bờ vai nhỏ bé run lên theo từng tiếng nấc. Tôi đứng khựng lại. Cô giáo thảng thốt kêu lên: “Bé Vy!”.

Không hẹn mà anh Tư và chị Tư cùng bước tới, ngồi xuống ôm choàng lấy thân hình bé nhỏ của nó, đồng thanh kêu lên: “Bé Vy ơi!”. Bé Vy ngước lên, khuôn mặt đầm đìa nước mắt. Nó hoảng loạn ngã vào lòng chị Tư.  Một tay ôm cổ chị, tay kia nắm chặt vạt áo anh Tư kéo sát vào mình, tiếng khóc ỡ oà trong nỗi đau đớn tột cùng:

– Cha ơi… má ơi… đừng bỏ con nữa nhe….

Tiếng kêu xé lòng khiến cho cho lồng ngực tôi thắt lại.

Ngay lúc đó, một tiếng khóc dữ dội bật ra như tiếng thác lũ tuôn tràn. Âm thanh ấy lấn át cả tiếng khóc nức nở của bé Vy. Tiếng khóc của chị Tư. Chị ghì chặt đứa trẻ vào lòng, giọng nghẹn ngào:

Không đâu… má Tư sẽ không bao giờ bỏ con nữa đâu… Con ơi…

Nguồn: Việt Nam Thư Quan
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 10 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.