Lối viết chữ triện để khắc đã thay đổi tùy theo thời kỳ hay triều đại.
Chữ triện xưa nhất có vào khoảng 800 năm trước Thiên chúa ở đời Chu Tuyên vương do một vị Sử quan tên là Trứu gom lại bao nhiêu thứ cổ tự đời trước mà biến chế ra, nên đời sau gọi là Trứu văn hay Đại triện. Về sau, khoảng 213 năm trước Thiên Chúa, vua Tần thủy hoàng giao cho Thừa tướng Lý Tư soạn lại chữ Đại triện mà đặt ra chữ Tiểu triện. Chữ khắc trên chiếc ngọc tỉ truyền quốc của Tần thủy Hoàng là chữ « tiểu triện » của thừa tướng Lý Tư viết xong lại giao cho người thọ ngọc danh tiếng đương thời khắc. Vì chữ Triện là loại chữ tối cổ của văn tự Trung Hoa nên rất khó đọc ngay dù đối những vị thâm nho thông thái. Chữ Triện thường được dùng để khắc trên những chiếc ấn hay để trang hoàng như ta thường thấy như chữ Song Hỉ, chữ Thọ viết hay chạm khắc trên cửa hay bàn ghế.
Nét chữ Triện khắc lại vẽ theo những lối riêng như kiểu « Cửu điệp » nghĩa là một nét được vẽ uốn éo thành nhiều bậc. Triện theo lối Việt nam thường có hình chữ « vạn » nhà Phật có râu ! Lối phân bố nhiều chữ triện trong một ô vuông cũng phải có qui tắc đồng thanh đồng thủ, ví dụ chữ « nhất » chỉ có một gạch ngang thì chữ « diêm » là muối có đến 24 nét. Về lối khắc thì chữ khắc chìm là âm triện, chữ có màu trắng (bạch văn) hiện trên nền đỏ, trong khi khắc chữ nổi là dương triện, chữ có màu đỏ (chu văn) trên nền trắng. Tờ hôn thư thường được in hai dấu Âm và Dương triện.