Như vậy, song song với sự cải tổ về hành chánh, mới lên ngôi 2 năm (1822), vua Minh Mạng cho phát các ấn triện bằng đồng cho các chức phủ huyện gọi là đồng triện. Do đó, số lượng về ấn triện rất lớn với con số 31 tỉnh trong nước với vô số phủ huyện tổng thôn xã. Tại sao sự cải tổ lại không làm vào đời vua cha Gia long (1802-1820) khi ngài mới thống nhất giang sơn Bắc Nam ? Diện tích nước Việt nam vào thời Gia long, so với thời Chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào trấn nhậm vùng Thuận Quảng (1558-1613) đã gia tăng gấp đôi, chưa kể chuyện bảo hộ Cao miên và một phần đất Ai lao. Chuyện dân tình lại rất phức tạp giữa Nam và Bắc, giữa đất ngàn năm văn vật cố cựu còn giữ lòng tưởng nhớ nhà Lê và vùng đất mới khai phá cực nam, dân tình còn chất phác ít học. Sau những năm bôn tẩu phục quốc, nhà vua đã mệt mỏi lắm nên việc cải tổ vẫn còn dở dang, phải đợi vua Minh Mạng kế vị mới làm nổi.
Trước thời Minh Mạng, chỉ có các chức khâm sai nhà vua mới được dùng đồng triện, còn các chức phủ huyện chỉ được dùng triện gỗ hay mộc triện mà người dân quen gọi là « mộc ». Hằng năm, các công sở từ tri huyện trở lên, vào buổi tất niên thường có lệ định ngày « hạp ấn » (đóng hộp ấn cất ấn đi) gọi là để các quan nghỉ ăn Tết, chờ sang năm mới chọn ngày tốt mới trịnh trọng mở ra gọi là lễ « khai ấn ». Thông thường khai ấn cũng giống như khai bút đầu năm, vị quan dùng giấy hồng điều trịnh trọng nghiêm trang viết giòng chữ : « Xuân vương chính nguyệt, sơ… nhật, khai ấn đại cát » (Vào mồng… tháng của Chúa Xuân, khai ấn tốt lành). Ngày khai ấn thường sớm sủa, mồng hai, mồng ba Tết, dù là chưa phải là ngày làm việc, cốt chọn ngày giờ đại cát mà thôi, mà tránh về sau khi cần việc khẩn cấp đóng triện lại rơi vào ngày hung kỵ, xúi quẩy cả năm. Điều này thật đã phản ánh một khía cạnh duy tâm trong phong tục cổ truyền của dân Việt đối với nhiệm vụ thiêng liêng của những bậc cầm cân nảy mực cho người dân. Tục này nay không còn nữa, có nên tiếc chăng ? Chiếc ấn ngày xưa không những biểu trưng cho quyền uy mà lại còn cho danh dự của người có chức vị như cây cờ hay cây kiếm hiệu lệnh của vị tướng cầm quân, chẳng hạn như chuyện Tôn sĩ Nghị lúc bị vua Quang trung đánh vào thành Thăng Long phải chạy thoát thân quên cả ấn tín bị coi là nhục nhã vô cùng.
Về mực dùng đóng ấn, thì nhà vua Minh Mạng ấn định là các quan cấp tỉnh dùng son màu đỏ chói, quan phủ bớt đỏ một chút, còn các chức huyện chỉ được dùng màu đỏ lẫn đen. Riêng về các quan huyện, thì được cấp một đồng triện gồm 4 chữ và một mộc triện duy nhất có chữ « Tín », một hộp tampon mực đỏ lẫn đen, 12 bộ Hình luật, và một xấp « án lệ » tùy địa phương mà áp dụng để xử cho dân trong bản hạt. Việt nam ta thường có câu « phép vua thua lệ làng » nên các tri phủ, tri huyện trấn nhậm phải học về « án lệ » kẻo mất lòng dân sở tại. Và đáng chú ý thêm là họ được lãnh 50 quan tiền gọi là tiền « dưỡng liêm » ngoài tiền lương bổng và số lương gạo thường xuyên, và một số y phục gọi là « xuân phục ». Lương tiền của các quan viên thời trước so với nay thì quá ít ỏi, nên nhà vua sợ những phủ huyện thiếu thốn mà nhũng lạm của dân, cho nên mỗi năm lại phát thêm tiền « dưỡng liêm » (nuôi đức tính thanh liêm). Còn áo quần thì được tính ra bằng giá cả quan tiền, chỉ cấp phát mỗi năm vào mùa xuân nên gọi là tiền xuân phục. Nhưng trên thực tế, các bậc phụ mẫu chi dân vào cuối đời Nguyễn, ngay cả hiện nay, khó giữ tính thanh liêm nên Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến (1835-1909), từng làm quan đến Tổng đốc, khi vịnh chuyện Thúy Kiều đã mỉa mai rằng :
« Có tiền việc ấy mà xong nhỉ ?
Đời trước làm quan cũng thế a ! »