Chiếc Bảo Ấn Cuối Cùng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 108 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Vài Suy Tưởng Thay Lời Kết

❊ ❊ ❊

Sự băng hà của Cựu Hoàng Bảo Đại tại Paris vào ngày 31 tháng 7 năm 1997, trong khung cảnh lưu vong âm thầm cô đơn gần bốn thập niên, đã vang vọng như một nốt nhạc buồn nhẹ nhàng nhưng thâm trầm ray rứt khôn nguôi trong lòng của hầu như mọi người tỵ nạn Việt nam ở khắp năm châu.

Ở đời thông thường sự gì đi vào chung cuộc để rồi tắt ngúm đều mang ít nhiều tính chất bi muộn và gợi nên nhiều suy tưởng bi quan, nhất là đối với những gì đã từng có một quá khứ huy hoàng…

Vua Bảo-Đại là một vị Hoàng đế cuối của triều đại nhà Nguyễn – một thể chế quân chủ sau cùng trên đất nước Việt nam. Nhà Nguyễn – một triều đại phát khởi vào chính giữa thế kỷ 16 với công nghiệp vẻ vang mở rộng biên cương Nam tiến của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng và các chúa kế vị từ vùng Thuận Quảng cho đến vùng đất Hà tiên cực tây, đã khởi sự suy tàn thê thảm với Hiệp ước Bảo hộ Pháp Patenôtre ký vào năm Giáp thân (1885). Vua Bảo Đại là vị vua nhận lãnh cái thời điểm cuối cùng của hồi chung cuộc kéo dài lây lất trong hư vị, từ lúc tức vị năm 1932 đến lúc thoái vị năm 1945… Rồi hoàn cảnh lịch sử đất nước lại biến chuyển, nhà vua lại một phen ngắn ngủi làm Quốc trưởng vài năm để cuối cùng tự chọn cho mình một cuộc sống lưu vong âm thầm trong gần 40 năm cho đến ngày tạ thế…

Cái chung cuộc của đời ông như là một vì vua đã không bi thảm với máu chẩy đầu rơi như Sa-Hoàng Nga hay Pháp Hoàng Lu-Y 16, và không quá cực tủi như vua Lê Chiêu thống, vua Phổ Nghi… Có người trách rằng nhà vua đã thiếu nghị lực nhưng đã ai thông cảm cho cái thế chẳng đặng đừng của vai trò của ông trong cơn lốc của cục diện tranh chấp chính trị toàn cầu vào cuối thế kỷ 20. Điểm mặt trên chính trường trong thời gian qua người ta vẫn chưa gọi ai là người có thể đóng vai trò anh hùng cái thế có khả năng phi thường dàn dựng hoặc nhào nặn lịch sử quốc gia. Vua Bảo Đại sanh ra với tướng mạo hiền từ, bản tính nhu hòa điềm đạm bao dung ngay cả với những người lật lọng ông. Tính sổ lại công nghiệp của ông làm cho đất nước tuy không lớn lao lắm nhưng cũng xứng đáng kể để người dân Việt nam ghi nhớ khi ông làm Quốc trưởng mà ông cũng không phải là người nuôi tham vọng chính trị nhiều hay thao túng quyền năng để gây tác hại hoặc để tiếng xấu cho nhà cho nước. Khi Cựu Hoàng Bảo Đại rút lui sống ẩn dật âm thầm trong cảnh lưu vong, ông cũng đã sáng suốt hiểu ý nghĩa của chữ « thời » trong vai trò của một đấng quân vương thời Mạt Nguyễn.

Nhà Nguyễn tính từ năm 1558 là thời điểm Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Quảng dựng nghiệp cho đến năm 1945 kéo dài 387 năm đã tạo đúc ra nhiều ấn tín để sử dụng trong những vấn đề điều hành của guồng máy cai trị… Nhìn lại quá trình lịch sử, người ta đã ghi nhận có hai đỉnh cao thịnh trị rạng rỡ đánh dấu bằng sự tạo đúc ấn triện là :

- Thời Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu với công nghiệp phát triển lãnh thổ mạnh mẽ trên địa bàn đồng bằng Thủy Chân lạp qua niềm tự hào đúc bảo ấn « Đại Việt-Quốc Nguyễn Chủ vĩnh trấn chi bửu » để làm ấn truyền quốc cho hậu duệ.

- Thời Vua Minh Mạng với sự cải tổ đại qui mô về nội trị qua sự tạo đúc nhiều loại ấn triện : ấn ngự dụng trong triều đình, ấn của quan nha trong khắp nước.

Nhưng than ôi ! trong tinh thần triết lý vũ trụ quan của Cổ Á-Đông, mọi sự đều phải bị chi phối bởi qui luật Dịch lý tuần hoàn diễn tả qua Ý niệm Thiên Mệnh bằng những từ ngữ đi cặp đôi nhưng tương phản mâu thuẫn như sinh-diệt, thành-bại, tồn-vong, đắc-thất, tụ-tán, thịnh-suy, hưng-mạt.

Con người sống phải nương theo cái mệnh-lý mà thi hành. Của cải không thể nào tụ mãi trong tay một người, một thế tộc mà phải có lúc tán ra. Quyền hành không thể nào hưng phấn vĩnh viễn trong tay một người chủ súy, một triều đại mà có lúc theo qui luật phải suy đồi…

Khi Nhà Nguyễn đang hồi cao điểm thịnh phát hưng phấn trong những điều kiện thuận lợi thì mọi điều đều được các vua chúa quan niệm với cái nhìn tuyệt đối, trường cửu ví dụ như :

- Tên lót cho toàn giòng dõi là « Phúc ».

- Ấn tín truyền quốc thì khắc là « vĩnh trấn chi bửu » ; Chúc tụng sinh nhật cho vua thì hô to : « Vạn thọ vô cương » ; chúc thọ cho Hoàng hậu là « Trường hỉ ».

- Tên hiệu của lăng tẩm các đời Chúa thì được gọi bắt đầu với chữ « Trường » phối hợp theo thế hệ với những chữ của hai câu thơ : « Cơ DiễnDiên Hưng Mậu, Thanh Phong Thái Thiệu Cơ ». Câu thơ mang ý nghĩa đại khái là Thịnh vượng oai hùng triều đại vững, Thanh bình phong phú nghiệp cơ hưng ! (Ví dụ như lăng chúa Nguyễn Hoàng gọi là Trường-Cơ ; lăng chúa Nguyễn Phúc Nguyên gọi là Trường-Diễn…)

- Tên lót của các vua kế vị vua Minh Mạng toàn theo bộ « Nhật » (mặt trời).

- Tên gọi của Kinh đô Huế là tỉnh « Thừa Thiên » (đón nhận từ Trời).

Nhưng bánh xe lịch sử đã lăn không chiều theo ý con người. Vua Bảo Đại tuy là được lót với chữ « Vĩnh » (tức là muôn đời) với tên húy là « Thụy » lại là vị vua sau chót của triều Nguyễn ! Bài « Đế-Hệ thi » hai mươi chữ của vua Minh Mạng rốt cuộc chỉ mới hoàn tất được qua một câu 5 chữ mà thôi !

« Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh

Bảo Quí Định Long Trường

Hiền Năng Kham Kế Thuật

Thế Thoại Quốc Gia Xương »

Tuy nhiên, Cựu Hoàng Bảo Đại là vị vua ý thức sắc nhất chữ « Thời » của Thiên Mệnh qua vai trò của mình như là một điểm cáo chung tất yếu, nên ngài đã sống an phận như một người thường trong nhiều năm trước khi tạ thế. Thế sự thăng trầm quân mạc vấn !

Trên phương diện về di tích lịch sử phản ảnh qua những chiếc ấn triện có thể giúp hậu sinh đời sau hiểu được việc làm của người xưa thì chúng ta hiện nay chỉ còn nghe nói đến chiếc bảo ấn « Hoàng Đế chi bửu » của Cựu Hoàng Bảo Đại. Phải chăng nó là chiếc cổ-ấn cuối cùng còn lưu lại trên thực tại từ đời Minh Mạng, trong khi còn rất nhiều cổ triện khác thuộc triều Nguyễn kể như là đã biến mất hẳn sao ? Nếu quả đúng như thế, thì chúng ta đành thở dài tự cho rằng mình thực là những người dân thường tự hào có mấy ngàn năm văn hiến, nhưng lại bất hạnh vì không còn giữ lại những di sản của tiền nhân hay sao ?

Bài học nhìn lại chuyện ấn tín của người xưa chỉ là một bài học về biểu tượng để con dân Việt nam suy ngẫm mà biết chọn cho mình một sứ mệnh để tự tồn, tự lực, tự cường vì hết hồi bĩ cực rồi sẽ đến tuần thới lai. Hưng vong, thịnh suy, đắc thất… là hiện tượng nhưng điều quan trọng là bản thể của dân tộc phải tự tồn để thích ứng cho mọi tình huống của chu kỳ vận hóa của vũ trụ.

Riêng đối với việc chiếc bảo ấn « Hoàng Đế chi Bửu », cho đến giờ phút này, những người ngoài thân thuộc gia quyến của Cự Hoàng Bảo-Đại vẫn chưa biết nó đã được trao cho ai, và không biết người nhận nó có biết trân trọng bảo tồn nó cho xứng đáng với giá trị lịch sử đặc biệt của nó hay không ?

Còn đối với ba chiếc bảo ấn mà vào năm 1937 vẫn còn hiện hữu trong kho báu vật của Triều Đình Huế là : Sắc mạng chi Bửu, Đại Nam Hoàng đế chi tỉ, Đại Nam Hiệp kỷ lịch chi Bửu thì nay đã thất lạc đi đâu ? Chúng hiện đang ở trong tay một cá nhân nào ? hay chúng đã được nhà cầm quyền Việt Nam đương cuộc, vốn tiếp thu chúng vào năm 1945 khi vua Bảo Đại thoái vị, hiện đang cất dấu bảo quản ? Hoặc chúng đã lưu lạc tản mát ra nước ngoài và đang nằm trong tủ kính trưng bày của một bảo tàng viện của Pháp hay của một quốc gia nào đó ? Những câu hỏi thắc mắc trên tôi nghĩ rằng những vị hậu duệ của Hoàng tộc Nguyễn Phước – hải ngoại cũng quốc nội – nên có nhiệm vụ thiêng liêng tìm hiểu hơn là ai cả !

LÊ VĂN LÂN —★— CHIẾC BẢO ẤN CUỐI CÙNG ebook©MotSAch TVE-4u© —★—
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Lê Văn Lân

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.