Tìm hiểu về Ấn khắc

Chiếc Bảo Ấn Cuối Cùng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 186 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2 Tìm Hiểu Về Ấn Khắc
2

❊ ❊ ❊

Trong công việc đúc (chú-tạo) ấn triện bằng kim loại, trọng tâm phần lớn nhằm vào vấn đề kỹ thuật, bàn tay nghệ thuật của nghệ nhân chỉ tác dụng vào giai đoạn viết mẫu chữ và gọt khuôn đúc cốt sáp.

Bây giờ chúng ta hãy đi vào công việc chế tạo ấn triện bằng công trình điêu khắc trên những vật liệu không phải là kim khí như gỗ, đá, đồ sành sứ, san hô, mã não, hổ phách, bảo thạch, ngà voi, sừng tê giác, sừng trâu… (có nhiều khi hột quả táo cũng dùng khắc những chiếc ấn tí hon). Chính trong sự điêu khắc, bàn tay nghệ nhân mới có dịp lưu danh thiên cổ qua nhiều trường phái.

a) Cương độ của loài khoáng thạch

Vật liệu thông thường nhất là gỗ để khắc thành những chiếc mộc triện, từ đó phát sinh ra danh từ đóng mộc. Mộc triện chính là môi trường thích hợp nhất để cho mũi dao khắc tung hoành thi thố tài năng của người thợ khéo hay của nghệ sĩ tài ba mà tôi sẽ trình bầy ở sau. Kế sau gỗ là những đá, ngọc… không còn mềm mà trở nên cứng.

Để ấn định độ cứng của loài khoáng chất, người ta đời nay dựa vào bản thang biểu cương độ Mohs (Mohs hardness scale), chia thành 10 H-độ (H= hardness) từ thấp lên cao, theo đó : H-1 là Thạch dảm thạch (soapstone), H-2 là những loại hạt trai, hổ phách, H-3 như san hô, khổng tước thạch, H-4 như bạch kim, H-5 như kiếng thường hay pha lê, lam bảo thạch, H-6 như quí cảm lãm thạch, các thứ ngọc thạch (nhuyễn thạch và ngạnh thạch), H-7 như lục trụ thạch, tử ngọc anh, H-8 như miêu nhãn ngọc, kim lục thạch, H-9 như hồng bảo và thanh bảo ngọc, H-10 như kim cương.

Thông thường một mũi dao thép có thể vạch khắc trên những vật liệu từ cương độ H-5 trở xuống. Kim cương hay toàn thạch (hột xoàn) với cương độ H-10 thường dùng làm những mũi khoan trong ngành khai mỏ.

b) Đá và ngọc dùng để khắc ấn triện

Đá để khắc triện do đó thường là loại dảm thạch hay đá vôi, nhứt là đá thạch nhũ. Người Tầu hay kén loại đá gọi là « Hoa thạch nhũ » sản xuất ở vùng Thiên thai sơn (Triết giang) và Bảo Hoa sơn (địa phận Jéhol). Loại hoa thạch nhũ có vân sắc như vảy, sáng óng ánh, sờ mịn tay, nhìn trong nhưng cứng, nên được quí chuộng chọn làm ấn triện. Vương Miện là thư pháp gia đầu tiên lấy hoa thạch nhũ để khắc triện vào cuối đời Nguyên (1340-1360). Trước Vương Miện, ấn của Tầu toàn bằng đồng. Vì đá này có đặc tính phát ánh sáng như đèn trong tối (nhờ chất lân tinh ?) nên còn được gọi là Minh đăng thạch hay Đăng quang thạch.

Người Tầu lại cầu kỳ ca tụng một thứ đá khác đủ loại mầu tìm thấy ở trong một thung lũng hẹp có tên Ngũ Hoa Khanh của vùng núi Thọ sơn thuộc huyện Hầu Quan tỉnh Phúc Kiến. Thọ sơn thạch có nhiều sắc đẹp để chế tạo ra những ấn và những nghệ phẩm trưng bày đắt giá, nhưng quí chuộng nhất là mầu « ngải lục » tức là mầu lục của lá ngải châm cứu. Vào đời Tống, sự khai thác đá này đã gây cho dân cư trong vùng nhiều chứng bịnh, nên thung lũng Ngũ hoa Khanh của Thọ sơn bị lấp đi (Bịnh do những khoáng chất độc như muối thủy ngân, hay thạch tín hay là do phóng xạ Radon chăng ?) Mãi về sau, vào đời Khang Hi nhà Thanh, dân Phúc kiến như ông Trần nhật Dục trở vô lại để khai thác loại đá này. Có lẽ đá này vừa hiếm vừa xưa cổ, nên đắt giá còn hơn vàng. Người Tầu còn cầu kỳ phân biệt nhiều cấp độ quí của Thọ sơn thạch tùy theo lấy ở đâu trong vùng, quí nhất là vùng ruộng đá (điền khanh), kế là dưới nước (thủy khanh), chót là trong lòng núi (sơn khanh). Trên phương diện màu đá, dân chơi ấn điệu nghệ lại thích kén loại đá trong trong ửng hồng như màu hồng trứng cá hay não cá mà họ gán cho những tên rất gợi ý và cầu kỳ thơ mộng như Ngư tử đống hay Ngư não đống.

Về chuyện khắc chạm trên đá, người Tầu thường nhắc đến một loại dao đặc biệt tên là Côn Ngô đao, dài cỡ một tấc, xén gọt đá cẩm thạch dễ dàng như gọt đất sét. Đá Côn ngô lần đầu được dâng lên cho vua Chu Mục vương (1001-946 trước TC) bởi dân Tây Hồ. Đá này rất nhiều ở quần đảo Lưu cầu, được luyện thành thép làm bảo kiếm chém sắt như chém bùn trong những chuyện kiếm hiệp Trung Hoa (theo Thập châu ký). Trong Cung oán ngâm khúc của Việt nam có nhắc đến loại thép Lưu cầu qua câu :

« Giết nhau chẳng phải dao Cầu,

Giết nhau bằng cái u sầu độc chưa ! »

Cứ theo sách Khảo Bàn Dư Sự, những chiếc ấn cổ bằng ngọc thạch (jade) khắc được những nét chữ triện điệp nét coi sắc sảo linh động như viết bằng bút lông phải được thực hiện bằng mũi chạm bằng Côn ngô đao chấm, đặc biệt, vào nước dãi của cóc. Ngoài Côn ngô đao, người Tầu xưa khi khắc trên ngọc thạch còn dùng mũi dao chạm bằng thép đặc biệt cứng là « Chân Cúc Hoa Cương ». Khắc chữ triện trên ngọc thạch cứng (ngạnh ngọc) cực kỳ khó vì mũi chạm thường trượt đi, người ta không dùng dùi chạm mà chỉ dùng sức của cườm cổ bàn tay. Bên cạnh chỗ ngồi, phải để đá mài để lâu lâu mài mũi dao cho sắc nhưng không quá mỏng. Nếu hiểu được sự tử công phu của người thợ ngọc, chúng ta mới thấy nét chữ khắc « Hoàng đế chi tỉ » trên chiếc ấn của vua Thiệu trị triều Nguyễn làm bằng ngạnh ngọc phỉ thúy thật quí giá biết chừng nào !

LÊ VĂN LÂN —★— CHIẾC BẢO ẤN CUỐI CÙNG ebook©MotSAch TVE-4u© —★—
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Lê Văn Lân

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.