Trong những thú về nghệ thuật cổ truyền của Trung Quốc như văn, thi, họa, thư pháp, cầm, kỳ, chơi cổ ngoạn… thì thú chơi ấn triện ít được người ta hiểu nhất, không những cho chúng ta, dân Việt đã chịu ảnh hưởng Hán học trót ngàn năm đã đành, mà ngay cả chính với đa số dân Tầu hiện đại nữa, nói gì các nước Tây phương…
Cái hay đẹp của ngành thư pháp và ấn triện bắt nguồn từ lòng tôn sùng chữ Nho, nhưng dân tộc chúng ta trong một khúc quẹo lịch sử vào cuối thế kỷ 19, đã ly khai với địa bàn văn hóa Trung Hoa, chấp nhận chuyển ngữ là chữ quốc ngữ ráp bằng mẫu tự la tinh, nên Hán tự không còn chút chân đứng trong ngành giáo dục. Nho tự đã trở thành một loại tử ngữ bên cạnh bao nhiêu sinh ngữ Anh, Pháp hiện đại. Do đó, một trong những điều khó nhất của ta là đã không có cái chìa khóa văn tự để tìm hiểu trực tiếp về văn chương, triết lý của ta và của Trung hoa trong quá khứ. Còn dân Tầu hiện ở Hoa Lục chỉ học Hoa ngữ giản thể thì cũng không hiểu cha ông của họ viết gì !
Do đó, trên phương diện khảo cổ, sự tìm hiểu sơ lược lịch sử và sự phát triển của ngành ấn triện của Trung Hoa thực là bổ ích, vì ấn triện ngoài cái công dụng cụ thể là những khuôn ấn in trên mặt giấy còn là sự biểu lộ về tư tưởng, triết lý, nghệ thuật của cổ nhân ở Cổ Á Đông.
Bên cạnh những ấn triện tư dụng như « danh ấn », « biểu tự ấn », bút hiệu ấn, cùng những ấn niên hiệu của vua chúa các triều đại quí giá về lịch sử, kho tàng ấn triện Trung quốc còn loại ấn gọi là « từ cú ấn », khắc luôn một câu, đã phản ảnh nhiều khía cạnh lý thú nói lên cái triết lý nhân sinh của tác giả nghệ nhân.
Xin mời quí bạn duyệt qua vài cái ấn ý nghĩa sau :
- Ấn 1 : « Đắc nhất nhật nhàn vi ngã phúc » (Được một ngày ngàn là tôi hạnh phúc) của Văn Bành.
- Ấn 2 : « Sài môn thâm khấu » (Cửa củi sơ sài đóng kín) của Hà Chấn.
- Ấn 3 : « Giang lưu hữu thanh đoạn ngạn thiên xích » (Giòng sông chảy rì rào dưới chân vách núi cao ngàn thước) của Đặng Diễm.
- Ấn 4 : « Khiêm khoái thị bảo thân đệ nhất pháp » (Giữ thân tốt hơn cả là biết khiêm nhường).
- Ấn 5 : « Vũ quá lạc hoa hồng bán khê » (Mưa tạnh, nửa mặt suối đỏ vì hoa rơi rụng).
- Ấn 6 : « Nhân nhàn trọng văn tình » (Người nhàn quí trọng buổi chiều êm)
- Ấn 7 : « Nhất nhật tam thu » (câu lấy từ Thi Kinh Quốc phong là : « Nhất nhật bất kiến như tam thu hề ». Một ngày không gặp tựa ba thu)
- Ấn 8 : « Thiên lý kiến thư như kiến diện, vạn sơn già mục bất già tâm » (Ngàn dặm đọc thư như thấy mặt, Vạn sơn che mắt chẳng che tim)
- Ấn 9 : « Hạnh hoa xuân vũ ». (Mưa xuân trên nhánh hạnh hoa)
- Ấn 10 : « Kiếm đảm cầm tâm ». (Hai vai, một kiếm một đàn ; Võ uy can đảm, hồn tràn nhạc âm)
- Ấn 11 : « Bằng quân truyền ngữ báo bình an » (dựa theo câu thơ của Sầm Tham : Mã thượng tương phùng vô chỉ bút. Bằng quân truyền ngữ báo bình an. Xin dịch là Lưng ngựa gặp nhau không giấy bút. Nhờ anh nhắn hộ vẫn bình an)
- Ấn 12 : « Tiểu lâu nhất dạ thính xuân vũ ». (dựa theo thơ của Lục du : Tiểu lâu nhất dạ thính xuân vũ. Thâm hạng minh triêu mại hạnh hoa ; Mưa xuân lều nhỏ lắng nằm, Tinh sương ngõ hẹp rao rằng : « Hạnh hoa ! »)
- Ấn 13 : « Minh Nguyệt tiền thân » (có thể dựa vào hai bài thơ của hai thi nhân :
Của Tư không đồ qua câu : « Tình phong kim nhật. Minh Nguyệt tiền thân ». (Kiếp này gió tạnh đời ta. Hẳn là kiếp trước ta là trăng suông).
Của Bạch cư dị qua câu : « Thủ bả dương chi lâm thủy tọa. Nhàn tư vãng sự tự tiền thân ». (Bờ suối ngồi cầm một nhánh dương. Vẩn vơ kiếp trước nhớ muôn đường).
- Ấn 14 : « Thị tửu kiến thiên chân » (dựa vào thơ Đỗ Phủ gởi Lý Bạch : « Kịch đàm lân dã dật. Thị tửu kiến thiên chân » – Kẻ thích ăn nói bộc trực không ưa người dân quê ăn nói ý tứ ; người nào ưa rượu thường bộc lộ cái thiên chân của mình)
- Ấn 15 : « Thủ chi vô cấm, dụng chi bất kiệt » (lấy trong Xích bích phú của Tô đông pha : Duy giang thượng chi thanh phong dữ sơn gian chi minh nguyệt. Nhĩ đắc chi vi thanh. Mục ngụ chi nhi thành sắc. Thủ chi vô cấm. Dụng chi bất kiệt. (Kìa gió mát thổi trên sông, kìa trăng sáng soi trên núi. Tai mình nghe tiếng gió. Mắt mình ngắm mầu trăng. Của này chẳng ai cấm. Dùng hoài không hề cạn).
- Ấn 16 : « Thiên hà ngôn tai » (Trời kia chẳng nói sao !) Dựa theo Luận ngữ qua mẩu đối thoại ngắn này : Khổng tử nói : « Ta không nói nữa đâu ! » Tử cống bèn hỏi : « Thầy không nói thì học trò làm sao thuật dậy lại cho đời sau ? » Khổng tử đáp : « Trời kia chẳng nói sao ? Bốn mùa luân phiên đến, vạn vật đều sinh sôi ! Trời kia chẳng nói sao ! »
Những chiếc ấn mà tôi đan cử ở trên thuộc về một loại ấn đặc biệt mà những nhà sưu tập rất thích mà họ gọi là « Nhàn Chương » (ấn khắc trong lúc tâm hồn nhàn tản) trong đó nghệ nhân mượn mặt đá, dao khắc để biểu lộ ý hướng sâu sắc tìm về lạc thú sống bằng cách sống giản dị, hồn nhiên, mai là bạn cũ, hạc là người thân, phú quí danh lợi chỉ là phù du ảo ảnh, lấy gió mát trăng thanh làm của trời cho vô tận… Cổ nhân Á đông, trong đó có Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn công Trứ, Cao bá Quát… của Việt nam đều là những tín đồ yêu thích một chữ Nhàn.