Bạn Võ Hương An, có thân phụ là Nhất đẳng Thị Vệ trải hai triều Khải Định (1916-1925) và Bảo Đại (1925-1945), kể về lối công văn trong Cung Nội như sau :
« Thầy tôi thường gọi phòng làm việc của vua là « phòng phê » và bàn giấy của vua là « Bàn ngự phê ». Đời Khải Định, bộ phận văn phòng của vua được đặt ở một nơi khác, gọi là Nội các, thường gọi là « Các ». Đến đời Bảo Đại, sau khi ở Pháp về, vua cho cải tổ lại nhiều mặt, trong đó văn phòng của vua gọi là Ngự Tiền Văn Phòng, cầm đầu là một Đổng Lý. Các quan của Nội Các đều lấy từ các bậc đại khoa (xuất thân tiến sĩ hay phó bảng) được đặc cách mang « bài bạc » chứ không phải « bài ngà » như các quan khác. Các quan ở Các vừa có học vị cao, vừa được gần gũi với vua, nên cả triều đình đều nể vì kính trọng. Đời vua Khải định chữ Hán đang còn thịnh, vua thường phê giấy tờ bằng chữ Hán với bút son. Công việc của thị vệ trực tại phòng phê, không những lo hầu trà, hầu thuốc, hầu quạt, mà còn cả việc mài mực, mài son, sắp đặt giấy tờ, đóng ấn, truyền đạt mệnh lệnh của vua. Cái ấn « Đại Nam Hoàng đế chi bửu » bằng vàng ròng, nặng khoảng 10kg thường đóng trên các đạo sắc phong và các giấy tờ quan trọng khác. Thầy tôi nói : Đóng ấn gì cũng lấy sức mà đè để nó ăn cho đều chứ còn với cái ấn ni thì cứ cầm cho vững để nhè nhẹ trên hộp son, nhắm vị trí trên tờ giấy cho ngay ngắn, rồi để xuống nhè nhẹ là nó đều ngay ».
« Vua thường chỉ thị cho các Bộ, Viện hay Nội Các. Thị vệ là con thoi liên lạc giữa Vua và Nội các. Muốn truyền một chỉ thị gì, đại khái vua sẽ nói với thị vệ trực rằng : « Này, X (tên thị vệ) truyền cho Các rằng ta (nội dung chỉ thị) ». Sau khi nghe xong, người thị vệ vái, tâu : « Tuân mạng » rồi nhẹ nhàng lui ra, thi hành phận sự. Đến nơi làm việc của Nội Các (ngày đêm có quan túc trực gọi là « trực thần »). Thị vệ hô : « Hoàng đế truyền chỉ ». Trực thần vội sửa sang khăn áo chỉnh tề, đứng dậy với giấy bút cầm tay, sẵn sàng ghi chép, miệng nói : « Dạ, chúng tôi xin tiếp chỉ ». Người Thị vệ lặp lại lời vua dặn, quan Nội các nghe đến đâu ghi chép tới đó. Nội dung này sẽ được trang trọng chép trên tờ giấy khác, cho vào tráp sơn son thếp vàng, đệ ngược lại để vua xác nhận. Công việc này được gọi là « thỉnh huấn ». Vua đọc lại thấy nội dung do thị vệ truyền đạt phản ánh đúng ý, vua chỉ cần điểm một chấm son nơi đầu chữ « tấu » (tâu), có nghĩa là đúng như vậy, « đồng ý ». Động tác này gọi là « châu điểm », còn nếu không, vua sẽ thêm bớt cho rõ ý hơn. Tờ giấy mang bút tích xác nhận đó sẽ mang trả lại Các. Bấy giờ quan Nội các sẽ sao mệnh lệnh ấy ra, đóng ấn Nội các rồi gởi cho Bộ, Viện hay người liên hệ thi hành, còn bản chính sẽ được lưu vào văn khố, về sau sẽ trở thành sử liệu để Quốc sử quán chép sử… »
(Chuyện Cung đình nghe kể lại của Võ Hương An đăng trong Tiếng Sông Hương của Nguyễn Cúc. Dallas TX, USA).