Nhưng rồi người Việt lại khôi phục nền độc lập với công ơn của vua Lê Lợi, đời vua Thịnh Đức Lê Thần Tông (1653), tẩy bỏ dấu tích nô lệ trên bằng sự qui định lại trang phục cho quan dân. Đến vua Lê Huyền Tông (1665) thì nhà vua cấm đàn bà con gái không được mặc áo có thắt lưng và mặc quần có ống chân (đương nhiên là phải mặc váy). Điều lệnh này ra năm Ất tị hay năm Cảnh trị thứ ba (1665) ghi chép lại trong Lê triều chính lệnh thiện chính, nói rằng ai trái lệnh phạt 5 quan cổ tiền, tương đương giá cả một con trâu. Về cái quần xuất ở nước ta thuở nào thì chưa thấy ai tìm hiểu. Nhưng theo Pierre Huard và Maurice Durand trong cuốn Connaissance du Viêtnam (1954) :
« …cái quần được biết từ dân Ấn-Âu (Gaulois, Ba Tư cổ), dân Thổ-Tatars (tức là dân cổ Nga gốc Thổ nhĩ kỳ), dân Mông cổ ở vùng Trung-Á đã du nhập vào Trung Quốc cũng chiếc hia vào một thời tương đối mới đây (thế kỷ thứ 3)… »
Tôi không thấy điều trên đã xuất xứ tham khảo từ đâu, nhưng cái quần ở Việt nam có thể lại bắt chước từ Tầu chăng, nên nhà Minh mới áp đặt cho phụ nữ ta phải mặc thay váy, đồng thời bắt mặc áo ngắn kiểu Tàu mà người ta gọi tên là « áo khách ». Và theo giòng lịch sử, một lớp dân Đàng Ngoài từ đời này dần dà di cư vào vùng địa đầu Thuận Hóa – Quảng nam theo chúa Nguyễn Hoàng mỗi ngày mỗi nhiều còn tuân giữ điều cấm này mà vẫn mặc quần và áo khách. Đến đời Chúa Nguyễn Phúc Khoát ở Đàng Trong (hay Nam Hà) xưng vương để đối kháng với Đàng Ngoài (Bắc Hà) và đổi thể chế về áo mũ và phong tục. Sự thay đổi này đều dựa vào sách Tam tài Đồ Hội của Tầu mà định ra, nên cùng là Việt nam mà Bắc mặc váy và Trung Nam mặc quần (Le changement de costume sous Võ-Vương, RP. Cadière, BAVH,1915 ; Đất lề quê thói, Nhất thanh Vũ văn Khiếu ; Việt nam phong tục sử, Lê Dư, Khai trí tiến đức, số 4 tháng 7, 1941). Điều này cũng được Lê quí Đôn ghi nhật khi viết cuốn Phủ Biên tạp lục khi ông từ Bắc hà vô tiếp thu Nam Hà.