« Chiếc Đại Nam Hoàng đế chi tỉ bằng ngọc thạch màu lục, chạm thành vào tháng 3 năm Thiệu trị thứ tư (Avril, 1844), khuôn hình vuông, cạnh 102mm, đế dầy 42mm. Nuốm ấn hình con rồng nằm. Chức năng sử dụng là để đóng vào những bằng sắc chiếu chỉ khi nhà vua đi tuần du ở các tỉnh và thư tín cho ngoại quốc ».
Chiếc ấn ngọc của vua Thiệu trị này có vài điều đáng lưu ý sau :
- Ấn được gọi là « tỉ », chứ không là « bửu » : Trên phương diện sử dụng, các thứ ấn đều giống nhau, nhưng danh từ để gọi lại tùy triều đại và người dùng mà thay đổi như « bửu » (hay bảo) và « tỉ » là chỉ ấn của vua chúa, còn « ấn » là chữ dùng thông thường ; ngoài ra còn có chữ « chương », ít dùng tuy rằng ngành nghiên cứu về ấn nói chung vẫn được gọi là « ấn chương học » (sigillographie). Riêng về cách gọi bằng chữ « tỉ » bắt đầu từ đời Tần thủy hoàng với chiếc « truyền quốc tỉ » tiếng tăm muôn thuở bằng ngọc quí vang danh trong sử Trung Hoa, làm chảy nhiều máu nhưng hiện nay hoàn toàn mất tích (có dịp, tôi xin trở lại chiếc ngọc tỉ này). Chữ « tỉ » viết với bộ Ngọc nói lên chất liệu của nó là bằng ngọc quí và nó rơi vào tay ai thì người đó có thể cho rằng mình có chân mạng đế vương. Chiếc « tỉ » đầu tiên được chạm từ khối ngọc quí do người thợ ngọc Biện Hòa khám phá ra từ lòng núi đá. Buồn cười là chữ « tỉ » đọc theo âm Tầu nghe giống như là « tử » là chết, nên về sau vài vị vua Tầu tránh mà gọi là « Bửu » và « Ấn ».
- Chiếc ngọc tỉ của vua Thiệu trị này không thấy sách nói nặng bao nhiêu, nhưng có lẽ vua Thiệu trị đã đeo theo bên mình lúc đi tuần du trong nước vì « ngọc tỉ có nuốm chạm hình rồng và có xỏ lỗ để luồn một sợi giây tơ có tua ngũ sắc để giắt vào thắt lưng ». Đây chính là loại « đái ấn » hay « đái tỉ ». Người Tàu ngày xưa có phong tục « đeo ngọc » để phân biệt chức tước và để lấy khước, bảo vệ sức khỏe. Chiếc ngọc tỉ của vua Thiệu trị có nét khắc rất sắc sảo, ta cũng nên nhớ rằng ngọc thường cứng nên giòn dễ mẻ, khiến cho sự chạm ngọc tỉ là một kỳ công.