Cuối bài này, tôi thiết tưởng tuy rằng chủ ý chỉ biên khảo đặc biệt riêng về những chiếc ấn của triều Nguyễn mà ấn của vua Bảo Đại là chiếc cuối cùng, nhưng chúng ta cũng nên tìm hiểu vài sự kiện liên quan đến cây kiếm đã đi đôi với ấn. Người ta vẫn lầm tưởng rằng chiếc kiếm được truyền từ vua Gia Long, kỳ thực căn cứ vào giòng chữ khắc trên vỏ kiếm : « Khải định niên chế » thì nó được đúc rèn vào thời vị vua này ở ngôi 1916-1925, nghĩa là kiếm chỉ có số tuổi khoảng 70-80, thua xa số tuổi của ấn đúc vào ngày mồng tư tháng 2 năm Minh Mạng thứ tư hay 1823, nghĩa là 174 tuổi ! Vỏ kiếm có ghi : « Trọng kim tứ lạng thất ngũ phân » nghĩa là trọng lượng vàng là 4 lạng 7 chỉ 5 phân, tức là khoảng 178gr vàng, so với chiếc ấn cũng thua xa vì chiếc ấn làm toàn bằng vàng mười tuổi, nặng 280 lượng 9 chỉ 2 phân (thập thành hoàng kim thập nhị bách bát thập lạng cửu tiền nhị phân). Chuôi kiếm được nạm ngọc. Hình dáng chung của kiếm rất đẹp. Lưỡi kiếm hình như không phải bằng vàng mà theo ông Cù Huy Cận, dự buổi trao ấn kiếm thoái vị năm 1945, thì lưỡi bằng thép. Điều này có lẽ đúng vì sau này 1952 kiếm được tìm thấy do lính Pháp giao cho ông Lê thanh Cảnh tiếp nhận sơ khởi thì ấn kiếm được chôn trong thùng thiếc dầu hỏa nên lưỡi kiếm rỉ sét bể làm đôi, phải hàn vá lại để không thấy vết gãy.
Cũng xin nói thêm cho đầy đủ là theo ông Thái văn Kiểm, thanh kiếm này cùng với Kim sách được Cựu Hoàng giao cho Thái tử Bảo Long cất tại một ngân hàng ở Paris. Vào tháng tư 1995, Thái tử có cho một cơ quan mượn trưng bày ở Au Bon Marché. Kim sách là cuốn sách vàng của Hoàng tộc trong đó có khắc chạm 11 bài thơ Ngự Chế về Phiên hệ và Đế hệ thi của vua Minh Mạng vào ngày 1 tháng giêng Minh mạng năm thứ tư (11-2-1923)