Trên thế giới, dân Trung Hoa có thể nói là dân tộc « hiếu cổ » nhất thiên hạ. Bằng chứng hùng hồn nhất là văn tự mà tổ tiên họ sáng chế cách đây mấy ngàn năm nay vẫn được dùng qua hình thức chữ « Triện ». Ta có thể nghĩ rằng nếu không có chữ « Triện », thì dân Tàu không bày ra cái thú chơi những khuôn ấn mà họ vẫn gọi là « ấn triện ». Thành thử ra, muốn tìm hiểu về ấn triện đương nhiên phải hiểu chữ triện là gì, và nhất là, như đã nói ở trên, một khuôn ấn đúng với danh nghĩa của nó là phải đạt đến cái tiêu chuẩn « cổ » với những nét khắc về triện tự.
Chữ triện là gì ? Đó là một thứ chữ tối cổ của Trung Hoa đến nay vẫn được dùng. Nó không còn được dùng để làm một thứ văn tự truyền thông để đọc, để in cho người ta đọc như những thứ chữ Tầu khác. Nhưng Chữ Triện trở thành loại văn tự biểu tượng nếu không nói là một thứ « linh tự » như chữ bùa.
Chữ Triện được viết thành những bức họa phù qua như « Bách phúc toàn đồ », « Bách thọ toàn đồ »… mà cho đến cuối thế kỷ 20, dân Tầu khắp nơi trên hoàn cầu vẫn còn thích treo để lấy hên. Những dân tộc láng giềng chịu ảnh hưởng Hoa văn như Nhật, Triều tiên, Việt nam… cho đến giờ phút này vẫn thích dùng vài chữ triện trong nhiều dịp như chữ « Phúc » trên bao tiền lì xì đầu năm, chữ « song hỉ » trên thiệp cưới, chữ « Thọ » trên… quan tài.
Xin mời quí bạn đi ngược giòng thời gian với tôi để tìm về gốc gác của thứ văn tự cổ kính này :
Theo truyền thuyết, con người thái cổ đã ghi chép sự việc bằng cách lấy dây thắt nút hay lấy dao chém vào thân cây. Từ đó có loại chữ kết thằng (thắt giây thừng) và loại chữ văn đầu tiên gồm những nét ngoằn ngoèo phác họa hình thể sự vật một cách thô sơ. Vua Phục Hi (2953 trước TC), Hoàng Đế (2698 trước TC) cùng vị quan Thương Hiệt (2700 trước TC) là những người được hậu thế tin là thủy tổ của văn tự Trung Hoa với những « khoa đẩu tự » (giống như nòng nọc) hay « điểu tích tự » (giống vết chân chim). Qua thời gian, những văn tự thô sơ trên biến dạng dần. Khoảng 800 năm trước TC, vào đời Chu Tuyên vương, có vị Sử quan tên là Trứu gom bao nhiêu thứ cổ văn đời trước mà hệ thống hóa lại thành một thứ chữ dùng cho qui củ : Chữ này gọi là Trứu văn hay là Đại triện.
Thành ra, chữ Đại triện đã thực sự xuất hiện từ đời nhà Chu. Cách cấu tạo của Đại triện gồm sáu cách viết gọi là « lục thư » như : tượng hình, chỉ sự, hội ý, hài thanh, chuyển chú, giả tá.
Ngành khảo cổ đã khai quật được nhiều di chỉ về những thứ cổ tự trên những khúc xương và mai rùa. Tại miếu Khổng tử ở Bắc Kinh, người ta có trưng bầy mười cái trống đá khắc chữ Đại triện ghi chép lại một buổi đi săn của một ông vua đời Chu (sống vào năm 827 trước TC).
Về sau, khoảng năm 213 trước TC, Tần thủy Hoàng giao cho thừa tướng Lý Tư san định lại chữ Đại triện mà bày ra lối chữ mới là Tiểu Triện.
Kể từ sau Lý Tư, văn tự Trung Hoa lại dần dần biến dạng với sự sáng chế của bút lông và giấy để trở thành các chữ khác của đời sau như Lệ tự (của Trình Mạo 200 năm trước TC), Khải tự, Thảo tự (đời Tấn), Hành tự (đời Đường, vào 616 trước TC)… Văn tự Trung hoa đến đời Tống gần như hết biến thái và được tiêu chuẩn hóa để ấn loát gọi là chữ Tống.
Hiện nay, dù là trải qua nhiều thời gian, chữ Triện vẫn được duy trì với sự xuất hiện một cách trịnh trọng trên những khí vật bằng đá và đồng như bia, chuông, đỉnh, khánh và nhất là phổ biến trên những khuôn ấn triện.