Thiên biến vạn hóa của văn tự

Chiếc Bảo Ấn Cuối Cùng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 8 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
7 Thiên Biến Vạn Hóa Của Văn Tự
7

❊ ❊ ❊

Ngoài những kiểu chữ triện trong những bài minh trên, chúng ta còn ghi nhận nhiều kiểu chữ khác tùy theo trường hợp sử dụng hay tùy theo hình dáng của chữ. Đại khái, ta có thể kể ra khá dài giòng nhưng theo tôi cũng nói lên cái óc tưởng tượng phong phú của dân Tầu.

Kiểu theo dụng cụ :

- Thù thư : chữ khắc trên khí giới

- Phần thư : chữ viết trên mộ chí

- Đào văn : chữ viết trên đồ sứ

- Chung Đỉnh văn : chữ viết trên đỉnh vạc, chuông

- Bi văn : chữ viết trên bia

- Khắc phù triện : chữ viết trên thẻ tre làm phù lệnh

- Cổ chuyên ngõa văn : chữ viết trên gạch ngói

Kiểu theo hình dáng loài vật :

- Long thư : chữ viết do Phục hi lúc bắt được rồng

- Hạc đầu thư : chữ giống đầu chi hạc của người trên viết cho người dưới

- Hổ thư : theo hình cọp của Sử Dật

- Thử vĩ văn : chữ giống đuôi chuột

Kiểu theo hình dáng sắc thái của chữ hay liên quan đến tích lịch sử :

- Đỉnh thiên lập địa văn : do Từ Khải (tự Sở Kim), chữ cao đồ sộ, đầu đụng trời chân chạm đất.

- Phản văn : chữ viết ngược

- Phương điền văn : loại chữ vuông nhưng đặc nét của Lý Tư

- Phù ty văn : chữ viết giống như trên mạng lưới của Tô Hào

- Hán lệ văn : chữ của Lâu nhan phát, dựa vào chữ Triện vào đời Hán

- Hán ấn văn : chữ khắc ấn đời Hán

- Hồi văn : chữ viết theo thứ tự lộn lại

- Cửu triết văn : chữ gập lại 9 tầng

- Cửu trù văn : chữ chế theo 9 điều luật của vua Vũ

- Cửu điệp văn : chữ có nét uốn 9 tầng

- Mãn bạch văn : chữ có nét rỗng thẳng và hẹp

- Mãn chu văn : do Lữ đại Lâm có nét đặc đỏ

- Âm dương văn : chữ khi khắc chìm, khi khắc nổi

- Thanh trọc văn : chữ do Đỗ Bá đời Tấn, nét dầy nét mỏng chen nhau

- Tào toàn bi văn : lối chữ nhại từ cái bia danh tiếng Tào Toàn đời Hán, hiện còn lưu lại.

- Ngọc trợ văn : chữ của Lý dương Băng giống hình đũa ngọc

- Viên chu văn : chữ son tròn do Triệu Tùng Tuyết đời Nguyên

Kiểu theo hiện tượng thiên nhiên :

- Vân thư : chữ giống mây bay

- Yển ba văn : giữ giống sóng nước đổ nghiêng

- Lôi văn : chữ giống sấm chớp

Qua danh sách khá dài về nhiều kiểu chữ kể trên, chúng ta thấy dân Tầu rất yêu thiên nhiên mà họ cố mô tả bằng những đường nét sơ gợi ý… và tạo ra những dịp dùng văn tự khác nhau.

Dân Tầu lại là một dân thích huyền thoại hóa hay thi vị hóa những sự kiện xảy ra trong thực tế ; ví dụ như những chữ sau :

- Mai hoa văn : do một ông ẩn sĩ tên Lâm Hòa Tĩnh, mặc dù vua ba lần nài nỉ trọng dụng, vẫn thích ẩn dật trên núi, trồng cả thẩy 360 gốc mai để ngắm và sáng chế ra loại chữ Hoa Mai, chữ to chữ nhỏ chen nhau rất đẹp.

- Kim ty khảm thiết lạc văn : chữ do Lỗ Ban (Công du tử người nước Lỗ), ông tổ nghề mộc, nhân lấy chỉ vàng mà khảm vào gổ, thấy đẹp quá bèn sáng chế ra.

- Phong Vân Tề hội văn : do Phục Hi lúc nghiên cứu về quẻ Kiền trong Kinh Dịch bèn phán rằng : Vân tòng long, Vũ tòng hổ (mây theo rồng, gió theo cọp) mà sáng chế ra chữ này.

- Trảm đinh văn : chữ giống như những cây đinh chặt cụt đầu do sự tích Hạng Vũ có lần dẫn quân đi đánh giặc, đã biểu lộ ý chí quyết chiến bèn tuốt kiếm mà chém vào thành đá, chỗ chém hiện thành chữ « Thắng », quân lính thấy vậy chép lại và lưu truyền thành loại chữ « Trảm đinh văn ».

- Điêu trùng triện : chữ giống như sâu bò, do bà vợ của Thu Hồ nuôi tằm thấy tằm lúc nhúc bò mà nghĩ ra.

Nói tóm lại, kể hoài không hết chuyện của mấy ông « con trời » vẽ vời với giấy mực, nên dân Việt vẫn có câu là : « Đừng kể chuyện bên Tầu ».

LÊ VĂN LÂN —★— CHIẾC BẢO ẤN CUỐI CÙNG ebook©MotSAch TVE-4u© —★—
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Lê Văn Lân

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.