Tìm hiểu nguồn gốc vài danh từ về ấn triện

Chiếc Bảo Ấn Cuối Cùng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 82 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2 Tìm Hiểu Nguồn Gốc Vài Danh Từ Về Ấn Triện
2

❊ ❊ ❊

Dùng ngón tay in trên giấy chính là sự « điểm chỉ » mà người mình ngày xưa không biết chữ vẫn quen làm thay chữ ký trên những tờ văn khế, giấy nợ vậy. « Chỉ » không có nghĩa là giấy, mà là « ngón tay » (mẫu chỉ là ngón cái, thực chỉ là ngón trỏ để chỉ trỏ, nhưng gốc là để chấm mút).

Về vấn đề dùng đất sét, thì ngày xưa trước thế kỷ thứ hai lúc giấy chưa được sáng chế, người ta dùng thẻ tre hay tấm ván để viết, xong rồi bó lại xỏ xâu bằng giây, cuối cùng đắp đất sét khằn lại rồi đóng dấu vào để gởi đi, điều này gọi là : « phong nê » (phong kín bằng đất bùn sét), mãi về sau mới dùng sáp ong (phong lạp) hay trám xi. Chuyện đóng kín công văn thư tín nói chung là « hộ phong » (phong là đóng lại, hộ là che chở cẩn thận ; cấp « hộ chiếu » là đóng dấu chiếu khán vi bằng khi nhập cảnh một nước).

Tục viết thư xong rồi ký tên bên dưới, theo sử Tầu, bắt đầu từ đời Lục Triều. Chữ ký thường gọi là « Hoa tự » (Chữ hoa), hay « áp tự » (Chữ in đè), nên các tờ khế ước, giao kèo được ký gọi là « Hoa Áp » (hai chữ trên rút lại) với tên gọi (danh) và tên chữ (tự). (Tên « tự » thường là tên nói rõ cái ý của tên gọi, hay còn gọi là « biểu tự » ví dụ, con của đức Khổng tử có danh là Lý (cá chép) nên tự là Bá Ngư).

Trên một tờ đơn xin, hay một tờ biểu tấu, mà cấp trên ừ thuận cho thì được phê chữ « hành » (làm đi) hoặc dùng bút chấm một cái dấu giống hình đuôi chim gọi là « Phượng vĩ nặc » (Nặc là chấp thuận, còn « nặc » là dấu tên như thư nặc danh thì chữ nặc này viết giống nặc (ừ) nhưng bị viết với cái khuôn che đi.

Về danh từ cho các thứ ấn Tầu thường được dùng như sau :

Bửu (Bảo) dùng cho khuôn dấu của hàng thân vương. Ấn dùng cho cấp quận vương. Ấn cũng được gọi là Chương, hay Phù. Kiềm ký Đồ ký cho các cấp quan dưới. Những thường dân thì ấn dùng được gọi là tư ấn hay tiểu ấn. Ấn thường dùng có nhiều cỡ gộp chung thành một bộ gọi bộ ấn mẹ con (tử mẫu sáo ấn). Chữ « tỉ » thì thời thượng cổ chỉ ấn chung cho mọi cấp, kể từ đời Tần và Hán về sau, tỉ chỉ dùng cho hoàng đế thôi. Một điều đặc biệt là ấn của các vị khâm sai, đại diện cho vua lúc thi hành sứ mệnh, thì Ấn được gọi là « Quan phòng », như ở Việt nam triều Nguyễn cũng dùng như « Biên Hòa tuần phủ quan phòng » hay các quan chánh chủ khảo thay mặt vua để chấm các kỳ thi.

Ấn Quan phòng có hình vuông, ngày xưa vua chúa sợ giả mạo thì cho đóng chồng lên hai mép giấy, nửa trên sổ cái, nửa trên giấy con, tựa như dấu « giáp phùng ».

Về hình thức của chữ, chữ khắc nổi (in relief) dùng cho « dương triện » ; chữ khắc chìm (in intaglio) dùng cho « âm triện ». Dương triện và âm triện từ xưa đến nay đều được mọi giới, nhất là giới văn nghệ sĩ, ưa chuộng. Một họa sĩ có hai triện âm và dương thường dùng luôn cả hai để đóng vào tác phẩm, trông rất nổi bật vì tương phản, rất bắt mắt. Còn trên hôn thư giá thú, tân nương dùng âm triện, tân lang dùng dương triện để nói lên cái hòa hợp của vũ trụ. Nhưng qui luật lại bắt buộc rằng ấn của vua, quan, và của công quyền nha bộ phải dùng dương triện.

LÊ VĂN LÂN —★— CHIẾC BẢO ẤN CUỐI CÙNG ebook©MotSAch TVE-4u© —★—
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Lê Văn Lân

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.