Những người đàn ông không có phụ nữ

Những Người Đàn Ông Không Có Phụ Nữ

Lượt đọc: 33 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1

❊ ❊ ❊

MEN WITHOUT WOMEN

BOOKS BY ERNEST HEMINGWAY

MEN WITHOUT WOMEN

THE SUN ALSO RISES

THE TORRENTS OF SPRING

IN OUR TIME

MEN

WITHOUT WOMEN

By

ERNEST HEMINGWAY

NEW YORK

CHARLES SCRIBNER’S SONS

1927

Copyright, 1927, by

CHARLES SCRIBNER’S SONS

Copyright, 1926, by The Little Review Publishing Company

Copyright, 1926, by Ernest Walsh and Ethel Moorhead

Copyright, 1927, by Republic Publishing Company

Copyright, 1927, by Doubleday, Page & Company

Copyright, 1927, by Atlantic Monthly Company

Copyright, 1927, by The Macaulay Company

Printed in the United States of America

TO

EVAN SHIPMAN

Some of these stories were first published

in the following periodicals: The American

Caravan, The Atlantic Monthly, The Little

Review, The New Republic, La Nouvelle

Revue Française, This Quarter, Der Querschnitt,

Scribner’s Magazine, Transition.

CONTENTS

The Undefeated

In Another Country

Hills Like White Elephants

The Killers

Che Ti Dice La Patria?

Fifty Grand

A Simple Enquiry

Ten Indians

A Canary for One

An Alpine Idyll

A Pursuit Race

To-day Is Friday

Banal Story

Now I Lay Me

MEN WITHOUT WOMEN

THE UNDEFEATED

Manuel Garcia bước lên những bậc cầu thang dẫn đến văn phòng của Don Miguel Retana. Anh đặt chiếc va-li xuống và gõ cửa. Không có tiếng đáp. Đứng ngoài hành lang, Manuel cảm nhận được có người ở trong phòng. Anh cảm nhận được điều đó qua cánh cửa.

– Retana, – anh gọi, vừa lắng nghe.

Vẫn không có tiếng đáp.

Chắc chắn lão ta ở trong đó, Manuel thầm nghĩ.

– Retana, – anh gọi và đấm mạnh vào cửa.

– Ai đấy? – một giọng nói vang lên từ trong phòng làm việc.

– Tôi đây, Manolo, – Manuel đáp.

– Cậu muốn gì? – giọng nói hỏi tiếp.

– Tôi muốn làm việc, – Manuel nói.

Cái gì đó trong ổ khóa kêu lách cách mấy tiếng rồi cửa tự động bật mở. Manuel bước vào, xách theo chiếc va-li.

Một người đàn ông thấp lùn ngồi sau chiếc bàn làm việc ở tận góc phòng. Ngay trên đầu lão là một cái đầu bò được nhồi bông bởi một nghệ nhân làm tiêu bản ở Madrid; trên tường treo những bức ảnh lồng khung và áp-phích đấu bò.

Người đàn ông thấp lùn ngồi nhìn Manuel.

– Tao cứ tưởng chúng nó giết mày rồi chứ, – lão nói.

Manuel gõ những khớp ngón tay lên mặt bàn. Người đàn ông thấp lùn ngồi nhìn anh qua chiếc bàn làm việc.

– Năm nay cậu đấu được mấy trận rồi? – Retana hỏi.

– Một, – anh đáp.

– Chỉ một trận thế thôi à? – lão lùn hỏi.

– Có thế thôi.

– Tôi đọc được chuyện đó trên báo, – Retana nói. Lão ngả người ra thành ghế và nhìn Manuel.

Manuel ngước nhìn cái đầu bò nhồi bông. Anh đã nhìn thấy nó rất nhiều lần trước đây. Anh cảm thấy có một mối dây liên hệ gia đình nào đó với nó. Nó đã giết anh trai anh, người anh tài hoa đầy hứa hẹn, khoảng chín năm về trước. Manuel còn nhớ như in ngày hôm đó. Có một tấm biển đồng gắn trên chiếc khiên bằng gỗ sồi đỡ cái đầu bò. Manuel không đọc được chữ trên đó, nhưng anh đoán nó được làm để tưởng nhớ anh trai mình. Chà, anh ấy từng là một cậu nhóc tốt.

Tấm biển đồng đề: "Con bò 'Mariposa' của Công tước Veragua, đã nhận 9 cú giáo dài [varas] cho 7 con ngựa [caballos], và gây ra cái chết cho Antonio Garcia, võ sĩ tập sự [Novillero], ngày 27 tháng 4 năm 1909."

Retana nhìn thấy anh đang ngước nhìn cái đầu bò nhồi bông.

– Đàn bò mà Công tước gửi cho tôi vào Chủ nhật này thể nào cũng gây ra điều tiếng cho xem, – lão nói. – Con nào con nấy chân cẳng đều có vấn đề. Ngoài quán cà phê chúng nó bàn tán thế nào về đám bò đó?

– Tôi không biết, – Manuel nói. – Tôi vừa mới đến nơi.

– Ừ, – Retana nói. – Cậu vẫn còn mang theo va-li cơ mà.

Lão nhìn Manuel, ngả người đằng sau chiếc bàn làm việc lớn.

– Ngồi xuống đi, – lão nói. – Cởi mũ ra.

Manuel ngồi xuống; khi bỏ mũ ra, khuôn mặt anh trông khác hẳn. Trông anh có vẻ nhợt nhạt, và búi tóc mai [coleta] được ghim quặt về phía trước trán để không bị lộ ra ngoài vành mũ, khiến anh trông thật kỳ lạ.

– Trông cậu không được khỏe lắm nhỉ, – Retana nói.

– Tôi vừa mới ở bệnh viện ra, – Manuel nói.

– Tôi nghe nói chúng nó đã cắtừ cái chân của cậu cơ mà, – Retana nói.

– Không, – Manuel đáp. – Nó lành lặn lại rồi.

Retana chồm người về phía trước qua chiếc bàn làm việc và đẩy một hộp thuốc lá bằng gỗ về phía Manuel.

– Hút đi, – lão nói.

– Cảm ơn.

Manuel châm điếu thuốc.

– Hút không? – anh hỏi, chìa que diêm về phía Retana.

– Không, – Retana xua tay, – tôi không bao giờ hút thuốc.

Retana nhìn Manuel hút thuốc.

– Sao cậu không kiếm một chân nào đó rồi đi làm việc đi? – lão nói.

– Tôi không muốn làm việc khác, – Manuel nói. – Tôi là một võ sĩ đấu bò.

– Làm gì còn võ sĩ đấu bò nào nữa đâu, – Retana nói.

– Tôi là võ sĩ đấu bò, – Manuel nói.

– Ừ, khi cậu còn đang đứng trong xới đấu, – Retana nói.

Manuel cười nhạt.

Retana ngồi im, không nói gì và nhìn Manuel.

– Tôi sẽ cho cậu tham gia một buổi đấu đêm nếu cậu muốn, – Retana đề nghị.

– Khi nào? – Manuel hỏi.

– Tối mai.

– Tôi không thích đóng thế cho ai hết, – Manuel nói. Đó là cách mà tất cả bọn họ bị giết chết. Đó là cách mà Salvador đã thiệt mạng. Anh gõ những khớp ngón tay lên mặt bàn.

– Tôi chỉ có mỗi suất đó thôi, – Retana nói.

– Sao ông không xếp tôi vào tuần tới? – Manuel gợi ý.

– Cậu sẽ chẳng hút khách nổi đâu, – Retana nói. – Bây giờ người ta chỉ muốn xem Litri, Rubito và La Torre thôi. Mấy cậu nhóc đó giỏi lắm.

– Bọn chúng sẽ đến để xem tôi bị húc cho mà xem, – Manuel nói với vẻ hy vọng.

– Không, chúng nó chẳng đến đâu. Bọn chúng chẳng còn biết cậu là ai nữa rồi.

– Tôi còn khối ngón nghề, – Manuel nói.

– Tôi đang đề nghị cho cậu lên sàn vào tối mai đấy, – Retana nói. – Cậu có thể đấu cặp với thằng nhóc Hernandez và hạ hai con bò tơ sau tiết mục Xe ngựa.

– Bò tơ của ai thế? – Manuel hỏi.

– Tôi chịu. Bất cứ con nào đang nhốt ở chuồng quây thôi. Loại mà ban thú y không chịu cho thông qua vào ban ngày ấy mà.

– Tôi không thích đóng thế, – Manuel nói.

– Cậu muốn nhận hay bỏ thì tùy, – Retana nói. Lão cúi người xuống đống giấy tờ. Lão không còn hứng thú nữa. Sự đồng cảm thoáng qua mà Manuel gợi lên trong lòng lão khi nghĩ về những ngày tháng cũ đã bay biến mất. Lão muốn nhận cậu để thay thế cho Larita vì lão có thể trả thê bèo. Lão cũng có thể thuê những người khác với giá rẻ. Dù sao thì lão cũng muốn giúp anh. Thế nhưng lão đã cho anh cơ hội rồi. Tùy anh quyết định thôi.

– Tôi được trả bao nhiêu? – Manuel hỏi. Anh vẫn đang đắn đo ý định từ chối. Nhưng anh biết mình không thể từ chối được.

– Hai trăm rưỡi peseta, – Retana nói. Lão đã định nói năm trăm, nhưng khi mở miệng ra thì con số lại thốt lên là hai trăm rưỡi.

– Ông trả Villalta tới bảy nghìn cơ mà, – Manuel nói.

– Cậu đâu phải là Villalta, – Retana nói.

– Tôi thừa biết điều đó, – Manuel nói.

– Cậu ta thu hút khán giả cơ mà, Manolo, – Retana lên tiếng giải thích.

– Chắc chắn rồi, – Manuel nói. Anh đứng bật dậy. – Trả tôi ba trăm đi, Retana.

– Được rồi, – Retana đồng ý. Lão với tay vào ngăn kéo lấy ra một tờ giấy.

– Tôi ứng trước năm mươi được không? – Manuel hỏi.

– Được chứ, – Retana nói. Lão rút một tờ năm mươi peseta từ trong ví ra và đặt phẳng phiu lên mặt bàn.

Manuel cầm lấy và đút vào túi.

– Thế còn đội trợ tế [cuadrilla] thì sao? – anh hỏi.

– Có mấy cậu vẫn hay làm việc cho tôi vào các buổi tối đấy thôi, – Retana nói. – Bọn chúng dùng được.

– Thế còn các võ sĩ đấu bò dùng giáo [picador] thì sao? – Manuel hỏi.

– Bọn chúng không khá khẩm lắm đâu, – Retana thừa nhận.

– Tôi buộc phải có ít nhất một gã phóng giáo cừ khôi, – Manuel nói.

– Thế thì đi tìm lấy một gã đi, – Retana nói. – Ra ngoài đó mà kiếm lấy một người.

– Không thể trích ra từ khoản tiền này được, – Manuel nói. – Tôi không đời nào bỏ tiền túi ra trả cho cả một đội trợ tế chỉ với sáu mươi duro đâu.

Retana không nói gì mà chỉ nhìn Manuel qua chiếc bàn làm việc lớn.

– Ông thừa biết là tôi phải có ít nhất một gã phóng giáo giỏi mà, – Manuel nói.

Retana vẫn không nói gì, chỉ nhìn Manuel từ một khoảng cách rất xa.

– Vẫn còn mấy tay phóng giáo thường trực đấy thôi, – lão gợi ý.

– Tôi biết chứ, – Manuel nói. – Tôi lạ gì mấy tay phóng giáo thường trực của ông nữa.

Retana không mỉm cười. Manuel biết là mọi chuyện đã chấm hết.

– Tất cả những gì tôi muốn chỉ là một cơ hội công bằng thôi mà, – Manuel giãi bày với vẻ lý lẽ. – Khi bước ra đấu trường, tôi muốn có thể làm chủ từng đường gươm mũi giáo đối với con bò. Chỉ cần đúng một gã phóng giáo giỏi là đủ.

Anh đang nói chuyện với một kẻ đã chẳng thèm lắng nghe nữa rồi.

– Nếu cậu muốn có thêm người ngoài, – Retana nói, – thì cứ đi mà tìm. Sẽ có một đội trợ tế thường trực ra sân. Cứ việc dẫn theo bao nhiêu tay phóng giáo của riêng cậu tùy ý. Tiết mục hề Charlot sẽ kết thúc trước mười giờ rưỡi.

– Được thôi, – Manuel nói. – Nếu ông đã nghĩ thế.

– Đúng thế đấy, – Retana nói.

– Tôi sẽ gặp lại ông vào tối mai, – Manuel nói.

– Tôi sẽ có mặt ở đó, – Retana nói.

Manuel xách va-li bước ra ngoài.

– Đóng cửa lại, – Retana gọi với theo.

Manuel quay lại nhìn. Retana đang ngồi chồm hỗm đọc đống giấy tờ. Manuel kéo mạnh cửa lại cho đến khi nghe tiếng lách cách.

Anh đi xuống cầu thang, bước qua cánh cửa ra cái nóng chói chang ngoài phố. Ngoài phố trời rất nóng và ánh nắng phản chiếu từ những bức nhà trắng đột ngột đập mạnh vào mắt anh. Anh đi dọc theo bên râm mát của con phố dốc hướng về phía Puerta del Sol. Bóng râm mang lại cảm giác đặc quánh và mát lạnh như dòng nước chảy. Hơi nóng ập đến đột ngột mỗi khi anh băng qua các ngã tư. Manuel chẳng thấy quen ai trong số bao nhiêu người qua lại.

Ngay trước Puerta del Sol, anh rẽ vào một quán cà phê.

Bên trong quán rất yên tĩnh. Có vài người đàn ông đang ngồi bên những chiếc bàn áp sát tường. Ở một góc bàn, bốn người đang đánh bài. Hầu hết những người đàn ông đều ngồi dựa lưng vào tường hút thuốc, trước mặt họ trên bàn là những tách cà phê cạn và ly rượu mùi. Manuel đi xuyên qua căn phòng dài vào một căn phòng nhỏ phía sau. Một người đàn ông đang ngồi ngủ gật bên chiếc bàn ở góc phòng. Manuel chọn một chiếc bàn và ngồi xuống.

Một người hầu bàn bước đến đứng bên bàn của Manuel.

– Anh có thấy Zurito đâu không? – Manuel hỏi hắn.

– Hắn có ghé qua trước bữa trưa, – người hầu bàn đáp. – Lão sẽ không quay lại trước năm giờ đâu.

– Mang cho tôi một ly cà phê sữa và một ly rượu mạnh loại thường, – Manuel nói.

Người hầu bàn quay lại phòng mang theo một chiếc khay đặt một ly cà phê lớn và một ly rượu mùi. Tay trái hắn cầm một chai rượu mạnh. Hắn đặt mạnh chúng xuống bàn và một cậu bồi bàn đi theo sau liền rót cà phê và sữa vào ly từ hai chiếc bình bằng kim loại sáng bóng có vòi và cán dài.

Manuel cởi mũ ra và người hầu bàn chú ý thấy búi tóc sam được ghim quặt về phía trước trên đỉnh đầu anh. Hắn nháy mắt với cậu bồi bàn trong lúc rót rượu mạnh vào chiếc ly nhỏ đặt bên cạnh ly cà phê của Manuel. Cậu bồi bàn tò mò nhìn khuôn mặt nhợt nhạt của Manuel.

– Anh định thi đấu ở đây à? – người hầu bàn hỏi, vừa đóng nắp chai lại.

– Ừ, – Manuel đáp. – Vào ngày mai.

Người hầu bàn đứng đó, tay chống chai rượu vào một bên hông.

– Anh tham gia đội Charlie Chaplin à? – hắn hỏi.

Cậu bồi bàn quay đi với vẻ ngượng ngùng.

– Không. Đấu trận chính thức.

– Tôi cứ tưởng họ xếp Chaves và Hernandez chứ, – người hầu bàn nói.

– Không. Tôi với một người nữa.

– Ai thế? Chaves hay Hernandez?

– Chắc là Hernandez.

– Thế còn Chaves bị sao à?

– Cậu ta bị thương rồi.

– Anh nghe tin ở đâu thế?

– Retana.

– Này, Looie, – người hầu bàn gọi vọng sang phòng bên, – thằng Chaves dính đòn rồi [cogida].

Manuel đã bóc lớp giấy bọc của những viên đường và thả chúng vào ly cà phê. Anh khuấy đều rồi uống cạn, vị ngọt, nóng và ấm áp lan tỏa trong cái bụng rỗng. Anh uống liền một hơi ly rượu mạnh.

– Cho tôi thêm một ly như thế nữa, – anh bảo người hầu bàn.

Người hầu bàn mở nắp chai rót đầy ly, tiện đà làm tràn một ngụm ra đĩa lót. Một người hầu bàn khác đã bước đến trước bàn. Cậu bồi bàn lúc nãy đã đi đâu mất.

– Chaves bị thương nặng lắm hả anh? – người hầu bàn thứ hai hỏi Manuel.

– Tôi không biết, – Manuel đáp. – Retana có nói gì đâu.

– Lão ta thèm quan tâm chắc, – gã hầu bàn cao kều lên tiếng. Manuel chưa thấy hắn bao giờ. Chắc hắn vừa mới ra đây.

– Ở cái đất này mà cậu thân với Retana thì coi như đời cậu nở hoa, – gã hầu bàn cao kều nói. – Còn nếu không được lòng lão, thì tốt nhất cậu cứ ra ngoài kia mà tự sát quách cho xong.

– Cậu nói chuẩn không cần chỉnh, – người hầu bàn lúc nãy vừa bước vào phụ họa. – Chuẩn thế chứ lị.

– Tôi nói có sai đâu nào, – gã hầu bàn cao nói. – Tôi biết mình đang nói gì khi nhắc đến cái lão đó.

– Nhìn xem lão đã làm gì cho Villalta kìa, – người hầu bàn đầu tiên nói.

– V với lại chưa hết đâu, – gã hầu bàn cao tiếp lời. – Nhìn xem lão đã lăng xê Marcial Lalanda ra sao. Nhìn xem lão đã làm gì cho Nacional kìa.

– Chuẩn đấy nhóc, – gã hầu bàn lùn tán thành.

Manuel nhìn bọn chúng đang đứng tán gẫu ngay trước bàn mình. Anh đã nốc cạn ly rượu mạnh thứ hai. Bọn chúng đã quên bẵng sự hiện diện của anh. Bọn chúng chẳng hề hứng thú gì với anh cả.

– Nhìn cái đám lạc đà ấy mà xem, – gã hầu bàn cao nói tiếp. – Cậu đã thấy thằng Nacional II này bao giờ chưa?

– Tao mới thấy nó Chủ nhật tuần trước chứ đâu? – người hầu bàn gốc nói.

– Trông nó chả khác gì con hươu cao cổ, – gã hầu bàn lùn nhận xét.

– Tao bảo mà lị, – gã hầu bàn cao nói. – Toàn là gà của Retana cả đấy.

– Này, cho tôi thêm một ly nữa đi, – Manuel nói. Anh đã đổ phần rượu mạnh bị tràn ra đĩa lót vào ly rồi nốc cạn trong lúc bọn chúng đang huyên náo.

Người hầu bàn cũ máy móc rót đầy ly, rồi cả ba gã cùng vừa nói chuyện vừa đi ra khỏi phòng.

Ở góc khuất đằng xa, người đàn ông vẫn đang ngủ say, tiếng ngáy khè khè phát ra mỗi lần hít vào, đầu ngả ra đằng sau dựa vào tường.

Manuel uống nốt ly rượu mạnh. Bản thân anh cũng bắt đầu thấy buồn ngủ. Trời quá nóng để có thể ra ngoài phố. Hơn nữa chẳng có việc gì để làm cả. Anh muốn gặp Zurito. Anh sẽ tranh thủ chợp mắt trong lúc chờ đợi. Anh đá chân đẩy chiếc va-li vào gầm bàn cho chắc chắn là nó vẫn ở đó. Có lẽ cất nó trở lại dưới ghế, sát vào tường thì tốt hơn. Anh cúi người đẩy nó lùi hẳn vào trong. Rồi anh gục đầu lên bàn và chìm vào giấc ngủ.

Khi thức giấc, có ai đó đang ngồi đối diện với anh ở bàn. Đó là một người đàn ông to lớn với khuôn mặt rám nắng sậm như người da đỏ. Hắn đã ngồi ở đó được một lúc lâu. Hắn đã xua người hầu bàn đi và ngồi đọc báo, thỉnh thoảng lại cúi xuống nhìn Manuel đang ngủ gục đầu trên mặt bàn. Hắn đọc báo một cách nhọc nhặt, mím chặt môi phát âm từng từ theo từng dòng chữ. Khi mỏi mắt, hắn lại ngước lên nhìn Manuel. Hắn ngồi nặng nề trên ghế, chiếc mũ Cordoba màu đen sụp xuống phía trước.

Manuel ngồi thẳng dậy và nhìn hắn.

– Chào anh, Zurito, – anh nói.

– Chào chú em, – gã to con cất giọng.

– Tôi thiếp đi lúc nào không hay. – Manuel dùng mu bàn tay xoa trán.

– Tao đoán chắc chú mày đang ngủ.

– Mọi chuyện thế nào rồi anh?

– Ổn cả. Thế còn chú mày ra sao?

– Không mấy khả quan cho lắm.

Cả hai trầm ngâm im lặng. Zurito, tay phóng giáo, nhìn khuôn mặt nhợt nhạt của Manuel. Manuel cúi nhìn đôi bàn tay khổng lồ của gã phóng giáo đang gấp tờ báo lại nhét vào túi.

– Tôi có việc này muốn nhờ anh, Manos, – Manuel nói.

Manosduros chính là biệt danh của Zurito. Gã chưa bao giờ nghe thấy cái tên ấy mà không nghĩ đến đôi bàn tay to lớn của mình. Gã ngượng ngùng đặt chúng lên mặt bàn.

– Làm ly nước đã nào, – gã nói.

– Được chứ, – Manuel đáp.

Người hầu bàn đến rồi đi và lại quay lại. Hắn rời khỏi phòng mà vẫn ngoái đầu nhìn lại hai người đàn ông ngồi bên bàn.

– Có chuyện gì thế, Manolo? – Zurito đặt ly xuống.

– Anh có chịu phóng giáo giúp tôi hai con bò vào tối mai không? – Manuel hỏi, ngước lên nhìn Zurito qua chiếc bàn.

– Không, – Zurito đáp. – Tao không nhận phóng giáo nữa đâu.

Manuel cúi nhìn ly nước của mình. Anh đã đoán trước được câu trả lời đó; giờ thì nó thành sự thật rồi. Thôi đành vậy.

– Tôi rất tiếc, Manolo, nhưng tao không phóng giáo nữa đâu. – Zurito nhìn đôi bàn tay mình.

– Không sao đâu, – Manuel nói.

– Tao già quá rồi, – Zurito nói.

– Tôi chỉ hỏi anh thế thôi, – Manuel nói.

– Trận đấu đêm mai à?

– Đúng thế. Tôi tính nếu có được một tay phóng giáo cừ khôi, tôi có thể qua được ải này.

– Chú mày được trả bao nhiêu?

– Ba trăm peseta.

– Tao kiếm được nhiều hơn thế khi đi phóng giáo.

– Tôi biết chứ, – Manuel nói. – Tôi không có quyền gì để đòi hỏi anh cả.

– Thế chú mày còn đâm đầu vào làm gì nữa? – Zurito hỏi. – Sao không cắt cái búi tóc sam [coleta] đi, Manolo?

– Tôi không biết nữa, – Manuel đáp.

– Chú mày cũng sêm sêm tuổi tao rồi còn gì, – Zurito nói.

– Tôi không biết, – Manuel nói. – Tôi buộc phải làm thế. Nếu tôi dàn xếp sao cho có được một thế trận công bằng, thì đó là tất cả những gì tôi muốn. Tôi phải bám trụ lấy nó thôi, Manos.

– Không, chú mày chẳng phải thế đâu.

– Có chứ. Tôi đã thử tìm cách rời xa nó rồi.

– Tao hiểu cảm giác của chú mày chứ. Nhưng thế là không đúng. Chú mày nên rút lui và đừng bao giờ bén mảng lại nữa.

– Tôi không làm được. Hơn nữa, dạo này tôi đang bắt nhịp rất tốt.

Zurito nhìn vào mặt anh.

– Chú mày vừa ở bệnh viện ra cơ mà.

– Nhưng lúc bị thương là lúc tôi đang sung sức nhất.

Zurito im lặng. Gã trút chỗ rượu cognac thừa trong đĩa lót vào ly.

– Báo chí viết rằng chưa từng thấy màn biểu diễn [faena] nào tuyệt hơn thế, – Manuel nói.

Zurito nhìn anh.

– Anh thừa biết là khi đã vào guồng thì tôi đánh rất hay mà, – Manuel nói.

– Chú mày già quá rồi, – tay phóng giáo nói.

– Không, – Manuel cãi. – Anh lớn hơn tôi có mười tuổi chứ mấy.

– Tao lại khác.

– Tôi chưa có già, – Manuel nói.

Họ ngồi lặng im, Manuel đăm đăm nhìn nét mặt gã phóng giáo.

– Tôi đang đánh rất ngon lành cho đến lúc bị thương, – Manuel phân trần với vẻ trách móc.

– Tao không muốn nhìn thấy chú mày thi đấu đâu, – Zurito nói. – Nó làm tao phát thần kinh lên được.

– Dạo này anh có đi xem tôi đấu đâu.

– Tao xem chú mày chán chê rồi.

Zurito nhìn Manuel, tránh né ánh mắt anh.

– Chú mày nên giải nghệ đi, Manolo ạ.

– Tôi không thể, – Manuel nói. – Đã bảo là dạo này tôi đang bắt nhịp rất tốt cơ mà.

Zurito chồm người về phía trước, hai tay đặt lên bàn.

– Nghe này. Tao sẽ phóng giáo cho chú mày, và nếu tối mai chú mày không làm nên trò trống gì thì phải giải nghệ đấy. Hiểu chưa? Chịu thế chứ?

– Chắc chắn rồi.

Zurito ngả người ra sau với vẻ nhẹ nhõm.

– Chú mày phải giải nghệ đấy, – gã nói. – Không chơi trò lươn lẹo gì hết. Chú mày phải cắt cái búi tóc sam đi đấy.

– Tôi sẽ chẳng phải giải nghệ đâu, – Manuel nói. – Cứ chờ mà xem. Tôi vẫn còn đầy ngón nghề.

Zurito đứng dậy. Gã thấy mệt mỏi vì phải đôi co.

– Chú mày phải giải nghệ thôi, – gã nói. – Chính tay tao sẽ cắt búi tóc sam của chú mày cho xem.

– Không, anh không làm thế được đâu, – Manuel nói. – Anh chẳng có cơ hội ấy đâu.

Zurito gọi người hầu bàn.

– Thôi đi nào, – Zurito nói. – Về nhà thôi.

Manuel với tay xuống dưới ghế lấy chiếc va-li. Anh cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Anh biết Zurito sẽ chịu phóng giáo cho mình. Gã là tay phóng giáo cừ khôi nhất còn sống. Mọi chuyện giờ đây đã trở nên đơn giản.

– Về nhà tao rồi ăn gì đó đã, – Zurito nói.

Manuel đứng trong sân ngựa [patio de caballos] chờ cho buổi biểu diễn của đoàn Charlie Chaplin kết thúc. Zurito đứng bên cạnh anh. Nơi họ đứng rất tối. Cánh cửa cao dẫn vào đấu trường đang đóng kín. Phía trên đầu, họ nghe thấy tiếng hô vang, rồi lại một tiếng cười vang dội. Sau đó là sự tĩnh lặng. Manuel thích mùi chuồng trại phảng phất quanh sân ngựa. Ngửi thật dễ chịu trong bóng tối. Lại một tiếng gầm vang lên từ đấu trường rồi đến tiếng vỗ tay vang dội, kéo dài mãi không dứt.

– Mấy gã này chú mày đã thấy bao giờ chưa? – Zurito hỏi, bóng dáng cao lớn lừng lững đứng cạnh Manuel trong bóng tối.

– Chưa, – Manuel đáp.

– Bọn chúng buồn cười phết đấy, – Zurito nói. Gã mỉm cười một mình trong bóng tối.

Cánh cửa kép cao và khít rịt dẫn vào đấu trường bật mở và Manuel nhìn thấy sân đấu hiện ra dưới ánh đèn hồ quang chói lọi, quảng trường tối sầm lại ở các phía, vươn cao lên; quanh mép đấu trường có hai kẻ ăn mày đang chạy và cúi chào, theo sau là một tên thứ ba mặc đồng phục nhân viên trực khách sạn cúi xuống nhặt những chiếc mũ và gậy ném xuống bãi cát rồi tung ngược chúng trở lại vào bóng tối.

Đèn điện trong sân bật sáng.

– Tao sẽ leo lên lưng một trong mấy con ngựa đó trong lúc chú mày đi tập hợp bọn nhóc, – Zurito nói.

Phía sau họ vang lên tiếng lục lạc của bầy la đang đi ra đấu trường để buộc vào xác con bò vừa bị hạ.

Các thành viên trong đội trợ tế, những người nãy giờ vẫn đứng xem màn hề trên lối đi giữa hàng rào chắn [barrera] và khán đài, lũ lượt quay lại và đứng thành một nhóm trò chuyện dưới ánh đèn điện trong sân. Một cậu nhóc khôi ngô mặc bộ đồ màu bạc và cam bước đến chỗ Manuel và mỉm cười.

– Em là Hernandez, – cậu ta nói và chìa tay ra.

Manuel bắt tay cậu.

– Tối nay chúng ta vớ phải mấy con voi thực thụ rồi đấy anh ạ, – cậu nhóc vui vẻ nói.

– To con và có cặp sừng sỏ đấy, – Manuel đồng tình.

– Cậu bốc phải lá thăm xương nhất đấy, – cậu nhóc nói.

– Không sao đâu, – Manuel nói. – Càng to con thì dân nghèo càng có nhiều thịt để ăn.

– Anh kiếm đâu ra câu đấy thế? – Hernandez cười toe toét.

– Câu cửa miệng ấy mà, – Manuel nói. – Xếp đội trợ tế của cậu vào hàng ngũ đi xem nào, để tôi còn xem mình đang có trong tay những ai.

– Toàn mấy tay cừ khôi cả đấy anh, – Hernandez nói. Cậu ta đang rất phấn chấn. Cậu ta đã tham gia hai buổi đấu đêm trước đó và bắt đầu thu hút được một lượng fan hâm mộ ở Madrid. Cậu ta rất háo hức chờ trận đấu bắt đầu sau vài phút nữa.

– Bọn phóng giáo đâu rồi? – Manuel hỏi.

– Bọn chúng đang ở tít trong chuồng cãi nhau xem đứa nào được nhận mấy con ngựa đẹp kìa, – Hernandez cười toe toét.

Bầy la ùa qua cổng trong tiếng roi quất đét đét, tiếng lục lạc kêu inh ỏi và con bò tơ cày một đường rãnh trên cát.

Họ chỉnh tề đội hình cho nghi thức diễu hành [paseo] ngay khi con bò đi qua.

Manuel và Hernandez đứng ở hàng đầu. Các thiếu niên trong đội trợ tế đứng phía sau, áo choàng dày vắt trên tay. Phía sau cùng là bốn tay phóng giáo cưỡi ngựa, tay giương cao những chiếc sào đầu nhọn bằng thép trong ánh sáng mập mờ của khu chuồng.

– Lạ thật, sao Retana không thèm bật đủ đèn lên để bọn mình thấy rõ mặt mấy con ngựa nhỉ, – một tay phóng giáo lên tiếng.

– Lão thừa biết chúng ta sẽ thấy thoải mái hơn nếu không nhìn quá kỹ bộ da của chúng, – một tay phóng giáo khác đáp.

– Con mẻ tao đang cưỡi đây suýt chút nữa là sụm chân xuống đất rồi này, – tay phóng giáo đầu tiên nói.

– Thôi nào, dẫu sao chúng nó cũng là ngựa mà.

– Ừ thì ngựa.

Họ vừa trò chuyện vừa ngồi trên lưng những con ngựa gầy guộc trong bóng tối.

Zurito không nói gì. Gã cưỡi con ngựa duy nhất vững chãi trong số đó. Gã đã thử nghiệm qua, cho nó quay vòng trong chuồng và nó đáp ứng rất tốt với dây cương cùng cựa ngựa. Gã đã tháo dải băng bịt mắt bên phải của nó và cắt những sợi dây buộc chặt tai nó lại ở phần gốc. Đó là một con ngựa tốt, vững chãi, chắc chân. Chỉ cần thế là đủ. Gã dự định sẽ cưỡi nó trong suốt trận đấu. Ngay từ lúc trèo lên lưng ngựa, ngồi trong chiếc yên chần bông lờ mờ bóng tối chờ lễ diễu hành, gã đã nhẩm đi nhẩm lại trong đầu toàn bộ các lượt phóng giáo cho cả trận đấu. Những tay phóng giáo khác vẫn tiếp tục huyên náo ở cả hai bên. Gã chẳng thèm bận tâm.

Hai võ sĩ chính [matador] đứng cùng nhau phía trước ba trợ lý [peon] của họ, áo choàng vắt trên tay trái theo cùng một kiểu. Manuel đang nghĩ về ba cậu nhóc ở phía sau. Cả ba đều là người Madrid gốc giống như Hernandez, tuổi chừng mười chín. Có một cậu gypsies trông nghiêm nghị, lầm lì và da ngăm đen, anh rất có cảm thiện. Anh quay người lại.

– Tên chú là gì thế, nhóc? – anh hỏi cậu gypsies.

– Fuentes ạ, – cậu gypsies đáp.

– Một cái tên hay đấy, – Manuel nói.

Cậu gypsies mỉm cười, để lộ hàm răng trắng.

– Lát nữa khi con bò vừa xuất chuồng, chú cứ ra đón lấy nó và lừa cho nó chạy vài vòng nhé, – Manuel dặn.

– Vâng ạ, – cậu gypsies đáp. Khuôn mặt cậu ta vô cùng nghiêm túc. Cậu ta bắt đầu hình dung trong đầu những việc mình sẽ làm.

– Sắp ra rồi kìa, – Manuel nói với Hernandez.

– Được rồi. Vào trận thôi.

Ngẩng cao đầu, nhún nhảy theo nhịp nhạc, tay phải đánh đu tự do, họ bước ra, băng qua đấu trường rải cát dưới ánh đèn hồ quang, đội trợ tế tản ra phía sau, các tay phóng giáo cưỡi ngựa theo sát, phía sau cùng là đám nhân viên đấu trường và bầy la đeo lục lạc. Đám đông hò reo cổ vũ Hernandez khi họ diễu hành qua đấu trường. Kiêu hãnh, uyển chuyển, họ nhìn thẳng về phía trước trong suốt cuộc diễu hành.

Họ cúi chào chủ tịch trận đấu, rồi đoàn diễu hành tản ra theo từng phần việc. Các võ sĩ đấu bò tiến về phía hàng rào chắn, đổi những chiếc áo choàng nặng nề lấy áo choàng đấu mỏng nhẹ. Bầy la được dẫn ra ngoài. Các tay phóng giáo phi nước đại giật cục quanh đấu trường, và hai người cưỡi ngựa đi ra theo cánh cửa họ vừa bước vào. Đám nhân viên quét dọn lại bãi cát cho phẳng phu.

Manuel uống một ly nước do một trong những trợ lý của Retana, người đóng vai trò quản lý kiêm người xách kiếm cho anh, rót sẵn. Hernandez từ chỗ người quản lý của mình đi sang.

– Cậu ra quân cừ lắm, nhóc ạ, – Manuel khen ngợi.

– Khán giả thích em lắm, – Hernandez vui vẻ nói.

– Lễ diễu hành vừa rồi thế nào hả? – Manuel hỏi người của Retana.

– Trông như đám cưới ấy chứ, – gã quản lý đáp. – Tuyệt cú mèo. Cậu bước ra chẳng khác nào Joselito với Belmonte ấy.

Zurito cưỡi ngựa đi qua, trông sừng sững như một bức tượng kỵ sĩ đồ sộ. Gã cho ngựa quay đầu và hướng mặt về phía chuồng nhốt bò [toril] ở đầu bên kia đấu trường, nơi con bò sẽ lao ra. Dưới ánh đèn hồ quang trông thật kỳ lạ. Gã thường phóng giáo dưới cái nắng oi ả ban trưa để kiếm những khoản tiền lớn. Gã không thích kiểu đánh đèn hồ quang này chút nào. Gã chỉ mong chúng mau chóng bắt đầu.

Manuel tiến lại gần gã.

– Phóng giáo nó đi, Manos, – anh nói. – Gọt giũa nó vừa vặn cho tôi nhé.

– Tao sẽ phóng giáo nó cho chú em, – Zurito nhổ bãi nước bọt xuống cát. – Tao sẽ khiến nó nhảy chồm lên khỏi đấu trường cho mà xem.

– Tì mạnh người vào nó nhé, Manos, – Manuel nói.

– Tao khắc biết tì, – Zurito nói. – Còn lằng nhằng gì nữa thế?

– Nó đang ra kìa, – Manuel nói.

Zurito ngồi yên trên lưng ngựa, đôi chân xỏ vào chiếc bàn đạp hình hộp, đôi chân lực lưỡng bọc bộ giáp da hươu kẹp chặt lấy mình ngựa, dây cương cầm tay trái, cây giáo dài cầm tay phải, chiếc vành mũ rộngụp xuống che khuất tầm mắt để tránh ánh đèn chói lọi, đăm đăm nhìn cánh cửa từ đằng xa của chuồng nhốt. Đôi tai con ngựa khẽ động đậy. Zurito vỗ vỗ vào cổ nó bằng tay trái.

Cánh cửa màu đỏ của chuồng nhốt bật mở và trong giây lát, Zurito nhìn vào khoảng hành lang trống trải ở tít bên kia đấu trường. Rồi con bò lao vút ra, trượt bốn chân trên mặt cát khi xông ra dưới ánh đèn rực rỡ, rồi lao đi với nước đại mềm mại, phóng nhanh, im phăng phắc ngoại trừ tiếng hậm hực phát ra qua hai cánh mũi rộng khi nó lao đi, vui sướng vì được tự do sau chuồng nhốt tối tăm.

Ở hàng ghế đầu tiên, có phần chán chường, người chồm lên để viết gì đó lên bức tường xi-măng trước đầu gối, nhà phê bình đấu bò dự khuyết của tờ El Heraldo cặm cụi nguệch ngoạc: "Campagnero, con bò đen, số hiệu 42, xuất chuồng với tốc độ chín mươi dặm một giờ cùng khí thế ngút trời——"

Manuel, tựa người vào hàng rào chắn, đăm đăm quan sát con bò, vẫy tay ra hiệu và cậu gypsies lao ra, kéo lê chiếc áo choàng. Con bò đang phóng hết tốc lực liền xoay người ngoặt lại lao vào chiếc áo choàng, đầu cúi gằm, đuôi chổng ngược. Cậu gypsies di chuyển theo hình zic-zag, và khi cậu lao qua, con bò chợt thấy bóng người liền bỏ mặc chiếc áo choàng để tấn công người. Cậu gypsies chạy nước rút và tung người nhảy qua hàng rào chắn màu đỏ đúng lúc con bò húc sầm cặp sừng vào đó. Nó húc bồi hai nhát vào hàng rào, đâm sầm vào vách gỗ một cách mù quáng.

Nhà phê bình của tờ El Heraldo châm điếu thuốc rồi búng que diêm về phía con bò, sau đó viết vào sổ tay: "To con và sở hữu cặp sừng đủ sức làm hài lòng những khách hàng trả tiền, Campagnero cho thấy xu hướng lấn sân sang lãnh địa của các võ sĩ đấu bò."

Manuel bước ra bãi cát cứng khi con bò đâm sầm vào hàng rào. Liếc qua khóe mắt, anh thấy Zurito đang ngồi trên con ngựa trắng sát hàng rào chắn, cách đó chừng một phần tư vòng đấu về phía bên trái. Manuel giữ chặt chiếc áo choàng trước mặt, mỗi tay túm một mép gấp, rồi gào lên với con bò. "Hừ! Hừ!" Con bò quay ngoắt lại, dường như lấy đà tì vào hàng rào rồi lao tới với những bước chạy lồng lộn, đâm thẳng vào chiếc áo choàng khi Manuel lách người bước sang một bên, xoay người trên gót chân theo đà lao của con bò, và văng chiếc áo choàng sượt qua ngay trước cặp sừng. Ngay khi kết thúc cú văng, anh lại đối mặt với con bò, giữ nguyên tư thế áo choàng sát trước ngực, và lại xoay người khi con bò lao tới lần nữa. Mỗi lần anh văng áo, đám đông lại hò reo vang dội.

Bốn lần anh văng người theo con bò, tung cao chiếc áo choàng cho phồng lớn, và mỗi lần đều dụ con bò quay lại lao vào tấn công. Rồi đến cuối cú văng thứ năm, anh ép sát áo choàng vào hông và xoay người, khiến chiếc áo choàng bung ra trông như chiếc váy của vũ công ba-lê và quấn con bò quanh người mình như một chiếc đai, rồi bước chéo chân sang một bên, để mặc con bò đối mặt với Zurito đang cưỡi con ngựa trắng đứng thẫn thờ và chôn chân vững chãi, con ngựa hướng mặt về phía con bò, đôi tai dựng đứng, đôi môi run rẩy, còn Zurito, với chiếc sụp vành mũ che khuất đôi mắt, chồm người về phía trước, cây sào dài chĩa ra trước và sau tạo thành một góc nhọn dưới nách phải, cầm ở quãng giữa, mũi nhọn bằng thép hình tam giác chĩa thẳng về phía con bò.

Nhà phê bình dự khuyết của tờ El Heraldo, vừa rít thuốc vừa dán mắt vào con bò, viết: "lão cự binh Manolo đã thực hiện một loạt đường veronica chấp nhận được, kết thúc bằng một cú recorte mang phong cách đậm chất Belmonte khiến khán giả lâu năm phải vỗ tay tán thưởng, và chúng ta bước vào hiệp kỵ binh [tercio of the cavalry].—"

Zurito ngồi yên trên lưng ngựa, ước lượng khoảng cách giữa con bò và đầu mũi giáo. Vừa lúc gã nhìn, con bò thu mình lại rồi lao tới, mắt dán chặt vào ngực ngựa. Khi nó hạ thấp đầu để húc, Zurito bồi mũi giáo ngập sâu vào khối bắp thịt u lên trên bả vai con bò, dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể lên thân cán giáo, đồng thời dùng tay trái giật bổng con ngựa trắng lên không trung, hai chân trước khua khoắng, rồi xoay người nó sang phải trong lúc đẩy con bò trượt xuống và lách qua để cặp sừng sượt qua an toàn ngay dưới bụng ngựa, và con ngựa đáp xuống trong cơn run rẩy, chiếc đuôi bò khẽ lướt qua ngực nó khi nó lao vào chiếc áo choàng mà Hernandez đang chìa ra.

Hernandez chạy chéo sang một bên, lừa con bò ra xa về phía tay phóng giáo còn lại. Cậu cố định nó bằng một cú văng áo choàng, đối diện trực diện với ngựa và kỵ mã, rồi lùi lại. Vừa trông thấy ngựa, con bò liền lao tới. Ngọn giáo của tay phóng giáo trượt dọc theo lưng nó, và khi sức nặng của cú tông hất tung con ngựa lên, tay phóng giáo đã kịp chồm nửa người ra khỏi yên, nhấc bổng chân phải lên để tránh mũi giáo trong lúc hụt đà và ngã nhào sang bên trái nhằm giữ cho con ngựa chắn giữa mình và con bò. Con ngựa bị hất bổng và húc thủng bụng, đổ sụp xuống cùng con bò đang đâm lút cán vào nó, tay phóng giáo bèn dùng đôi bốt đạp mạnh vào thân ngựa rồi nằm dài nép hẳn ra ngoài, chờ người đến khiêng ra và dựng đứng dậy.

Manuel để mặc con bò điên cuồng dằn vặt con ngựa ngã quỵ; anh chẳng việc gì phải vội, tay phóng giáo hoàn toàn an toàn; hơn nữa, hành hạ một gã phóng giáo kiểu đó cũng có cái hay của nó. Lần sau lão ta sẽ chịu khó bám trụ lâu hơn cho mà xem. Mấy gã phóng giáo tồi tệ! Anh đảo mắt nhìn qua bãi cát về phía Zurito đang đứng cách hàng rào chắn một khoảng ngắn, con ngựa đứng cứng đờ, chờ đợi.

– Hừ! – anh gọi với theo con bò, – Tomar! – đồng thời giương cao chiếc áo choàng bằng cả hai tay để thu hút sự chú ý của nó. Con bò dứt khỏi con ngựa rồi lao thẳng vào chiếc áo choàng, còn Manuel vừa chạy chéo vừa dang rộng áo choàng, rồi khựng lại, xoay ngoắt người trên gót chân, lừa con bò quay ngoắt lại đối diện với Zurito.

– Campagnero đã chịu hai đường giáo dài để đổi lấy mạng sống của một con chiến mã gầy mòn [rosinante], với sự hỗ trợ từ các cú tr든 [quites] của Hernandez và Manolo, – nhà phê bình của tờ El Heraldo viết. – Nó lao vào mũi giáo và cho thấy rõ mình không phải là kẻ yêu quý loài ngựa. Cự binh Zurito đã khơi lại một số ngón nghề cũ với cây sào phóng giáo, đáng chú ý nhất là đòn suerte——"

– Olé! Olé! – gã đàn ông ngồi cạnh hắn hò reo. Tiếng hô chìm nghỉm trong tiếng la ó vang dội của đám đông, và hắn đét mạnh một cái vào lưng nhà phê bình. Nhà phê bình ngước lên và nhìn thấy Zurito, ngay phía bên dưới mình, chồm hẳn người ra ngoài lưng ngựa, chiều dài cây sào vươn lên tạo thành một góc nhọn dưới nách gã, giữ cây giáo gần sát ngay mũi nhọn, tì dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể đè xuống, chống cự lại con bò đang húc đẩy điên cuồng để tấn công con ngựa, còn Zurito, với tư thế chồm hẳn ra ngoài, đè bẹp lên nó, ghìm chặt nó lại, rồi từ từ xoay con ngựa ngược lại với sức ép đó, cho đến khi cuối cùng gã thoát ra được. Zurito cảm nhận được khoảnh khắc con ngựa đã lách qua an toàn và con bò có thể lao vút qua, bèn nới lỏng cái kìm thép kiên cố của mình, và mũi thép hình tam giác của cây giáo rạch rách phần cơ vai u lên của con bò khi nó vùng vẫy bứt ra để bắt lấy chiếc áo choàng của Hernandez trước mõm. Nó mù quáng lao vào chiếc áo choàng và cậu nhóc lừa nó ra khu vực trung tâm đấu trường.

Zurito ngồi vỗ về con ngựa và ngắm nhìn con bò đang lao vào chiếc áo choàng mà Hernandez đang văng múa dưới ánh đèn rực rỡ trong tiếng hò reo của đám đông.

– Chú mày thấy cú vừa rồi thế nào? – gã hỏi Manuel.

– Quá tuyệt, – Manuel đáp.

– Tao đã tóm được nó cú đó đấy, – Zurito nói. – Nhìn nó bây giờ mà xem.

Sau kết quả của một đường áo choàng ngoặt gấp, con bò trượt chân quỵ xuống. Nó vùng đứng lên ngay lập tức, nhưng ở tít ngoài bãi cát, Manuel và Zurito nhìn thấy dòng máu đỏ sẫm đang tuôn xối xả, chảy mượt mà dọc theo tấm thân đen tuyền bên bả vai con bò.

– Tao đã găm được nó cú đó đấy, – Zurito nói.

– Nó là một con bò tốt, – Manuel nói.

– Nếu chúng cho tao thêm một cơ hội nữa với nó, tao sẽ kết liễu đời nó cho coi, – Zurito nói.

– Sắp đến lúc đổi hiệp đấu rồi đấy anh, – Manuel nói.

– Nhìn nó kìa, – Zurito nói.

– Tôi phải qua đó thôi, – Manuel nói, rồi bắt đầu cắm cổ chạy về phía bên kia đấu trường, nơi đám nhân viên đang lùa một con ngựa bằng dây cương tiến về phía con bò, vừa dùng gậy quất tới tấp vào chân nó vừa hò hét, cố lùa nó về phía con bò đang đứng cúi gằm đầu, khua chân múa cào, chưa quyết định có nên lao vào tấn công hay không.

Zurito ngồi trên lưng ngựa, thong thả tiến lại gần hiện trường, không bỏ sót bất kỳ chi tiết nào, chau mày khó chịu.

Cuối cùng con bò cũng lao tới, đám dắt ngựa cắm cổ chạy thục mạng về phía hàng rào chắn, tay phóng giáo vung giáo quá đà ra phía sau, và con bò luồn được xuống dưới bụng ngựa, hất bổng nó lên, vật lăn ngửa ra đất.

Zurito lặng lẽ quan sát. Đám nhân viên mặc áo đỏ đang hộc tốc chạy ra kéo tay phóng giáo ra xa. Tay phóng giáo giờ đã đứng dậy được, vừa chửi rủa vừa quơ quơ đôi tay. Manuel và Hernandez đứng thủ sẵn áo choàng. Và con bò, con bò đen tuyền vạm vỡ, trên lưng vắt vẻo một con ngựa, bốn móng khua khoắng lủng lẳng, dây cương vướng vào cặp sừng. Con bò đen với con ngựa trên lưng, lảo đảo lê những bước chân ngắn ngủn, rồi cong cổ ngẩng cao đầu, dùng sức húc, chồm lên để hất con ngựa văng xuống, con ngựa trượt dài xuống đất. Rồi con bò lao vào một cú chồm tới tấp hướng về chiếc áo choàng mà Manuel đang dang rộng đón lấy nó.

Manuel cảm thấy con bò lúc này đã chậm chạp hơn trước. Nó đang chảy rất nhiều máu. Một lớp màng máu nhuộm đỏ khắp mạn sườn.

Manuel lại dang rộng chiếc áo choàng mời gọi nó. Nó lao tới đây rồi, mắt trợn trừng, hung hãn, dán chặt vào chiếc áo choàng. Manuel lách người sang một bên và giương cao tay, thu gọn chiếc áo choàng ngay trước đầu con bò để chuẩn bị thực hiện đường veronica.

Giờ thì anh đang đối mặt với con bò. Đúng vậy, đầu nó đang hạ thấp xuống một chút. Nó đang cúi thấp hơn trước. Đó là nhờ công của Zurito.

Manuel phất áo choàng; nó lao tới kìa; anh lách người bước sang một bên và văng người thực hiện thêm một đường veronica nữa. Nó lao chuẩn xác phát sợ, anh thầm nghĩ. Nó đã thấm đòn nên bây giờ đã biết quan sát rồi đấy. Nó đang lùng sục mục tiêu. Đang dán mắt vào mình. Nhưng lúc nào mình cũng dâng áo choàng cho nó mà.

Anh phất mạnh chiếc áo choàng về phía con bò; nó lao đến kìa; anh lách người. Cú vừa rồi suýt thì dính đòn. Mình không muốn mạo hiểm đứng quá sát nó thế này.

Mép chiếc áo choàng đẫm máu ở chỗ nó vừa quét sượt qua lưng con bò lúc con vật lao vút qua.

Được rồi, cú cuối cùng đây.

Manuel, đối mặt với con bò, xoay người theo từng cú lao của nó, dang rộng chiếc áo choàng bằng cả hai tay. Con bò nhìn anh. Đôi mắt sắc lẹm, cặp sừng chĩa thẳng về phía trước, con bò đăm đăm nhìn anh.

– Hừ! – Manuel thét lên, – Toro! – rồi ngả người ra sau, văng mạnh chiếc áo choàng về phía trước. Nó lao đến rồi. Anh lách người, văng ngược chiếc áo choàng ra sau lưng, rồi xoay ngoắt người, khiến con bò lao theo vòng xoáy của chiếc áo choàng rồi hụt hẫng chưng hửng chẳng bám vào đâu được, bị khuất phục và chi phối hoàn toàn bởi chiếc áo choàng. Manuel văng chiếc áo choàng sượt qua ngay dưới mõm nó bằng một tay để chứng tỏ con bò đã bị khống chế hoàn toàn, rồi thản nhiên bước đi.

Không một tiếng vỗ tay.

Manuel thong thả bước qua bãi cát hướng về phía hàng rào chắn, trong khi Zurito cưỡi ngựa rời khỏi đấu trường. Tiếng kèn hiệu vang lên ra hiệu chuyển sang hiệp cắm lao [banderillos] trong lúc Manuel đang quần thảo với con bò. Anh không hề hay biết điều đó một cách ý thức. Đám nhân viên đang trải những tấm bạt che lên xác hai con ngựa chết và rắc mùn cưa xung quanh.

Manuel tiến đến hàng rào chắn để uống nước. Người của Retana trao cho anh chiếc bình đất nung nặng trịch.

Fuentes, gã gypsies cao kều, đang đứng cầm một cặp lao, cầm chụm vào nhau, những chiếc cán màu đỏ thon thả, mũi lao hình lưỡi câu chĩa ra ngoài. Hắn nhìn Manuel.

– Ra sân đi, – Manuel nói.

Cậu gypsies phi nhanh ra ngoài. Manuel đặt bình nước xuống và dõi theo. Anh dùng khăn tay lau mặt.

Nhà phê bình của tờ El Heraldo với tay lấy chai sâm-banh ấm đặt giữa hai chân, làm một ngụm, rồi cặm cụi viết nốt đoạn văn của mình.

—cự binh Manolo đã không thu hút nổi một tràng pháo tay nào cho một loạt đường gươm thô kệch với chiếc áo choàng và chúng ta bước vào hiệp rào chắn."

Đứng trơ trọi một mình giữa đấu trường, con bò vẫn đứng im phăng phắc, hoàn toàn bị khuất phục. Fuentes, cao gầy, lưng thẳng tắp, kiêu hãnh bước về phía nó, hai tay dang rộng, cầm hai chiếc lao mảnh mai màu đỏ trên mấy ngón tay, mũi lao chĩa thẳng về phía trước. Fuentes bước tới. Phía sau và lệch sang một bên là một trợ lý cầm áo choàng. Con bò nhìn hắn và không còn đứng im nữa.

Đôi mắt nó dán chặt vào Fuentes đang đứng bất động. Giờ thì hắn ngả người ra sau, cất tiếng gọi nó. Fuentes khẽ nguầy nguậy hai cây lao và ánh sáng phản chiếu từ mũi thép lóe lên trong mắt con bò.

Đuôi nó chổng ngược lên và lao tới.

Nó lao thẳng, mắt dán chặt vào người. Fuentes đứng im, ngả người ra sau, mũi lao chĩa thẳng về phía trước. Ngay khi con bò hạ thấp đầu để húc, Fuentes ngả rạp người ra sau, hai tay chụm lại rồi vươn cao lên, hai bàn tay chạm vào nhau, tạo thành hai vạch đỏ cắm chúc xuống, và chồm người lao tới cắm ngập mũi lao vào bả vai con bò, ngả người rướn sâu qua cặp sừng con bò rồi xoay người trên hai cây cán lao dựng đứng, hai chân khép chặt, uốn cong người sang một bên để mặc con bò lao vút qua.

– Olé! – tiếng hò reo vang lên từ đám đông.

Con bò điên cuồng húc bừa, nhảy chồm lên như một con cá hồi, cả bốn chân nhấc bổng khỏi mặt đất. Cán lao đỏ rực chao đảo theo nhịp nhảy chồm của nó.

Manuel, đứng bên hàng rào chắn, nhận thấy nó luôn húc lệch về bên phải.

– Bảo cậu ta cắm cặp lao tiếp theo lệch sang bên phải nhé, – anh dặn cậu nhóc đang chuẩn bị chạy ra chỗ Fuentes mang theo cặp lao mới.

Một bàn nặng nề giáng xuống vai anh. Đó là Zurito.

– Chú mày thấy thế nào rồi, nhóc? – gã hỏi.

Manuel vẫn đang dán mắt theo con bò.

Zurito chồm người tì lên hàng rào chắn, dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể lên đôi tay. Manuel quay sang nhìn gã.

– Chú mày đang đánh tốt đấy chứ, – Zurito nói.

Manuel lắc đầu. Anh chẳng còn việc gì phải làm cho đến hiệp đấu tiếp theo. Cậu gypsies tỏ ra rất cừ khôi với món lao. Con bò sẽ bước vào hiệp tới với thể trạng tốt. Nó là một con bò tốt. Mọi chuyện từ đầu đến giờ đều suôn sẻ. Tiết mục kết liễu bằng kiếm ở khúc cuối mới là điều duy nhất khiến anh lo lắng. Thực ra anh chẳng lo lắng gì sất. Anh thậm chí còn chẳng buồn nghĩ đến nó. Thế nhưng đứng ở đó, anh lại mang một nỗi hoang mang nặng nề trĩu nặng trong lòng. Anh phóng mắt nhìn ra con bò, lên kế hoạch cho màn biểu diễn faena sắp tới, công đoạn dùng tấm vải đỏ để thuần hóa con bò, khuất phục nó trở nên ngoan ngoãn.

Cậu gypsies đang tiến về phía con bò với những bước đi gót chạm mũi, đầy ngạo mạn như một vũ công khiêu vũ, cán lao đỏ rung rinh theo nhịp bước chân. Con bò đăm đăm nhìn hắn, không còn đứng im nữa mà lùng sục tìm kiếm, chờ cho đến khi khoảng cách đủ gần để chắc chắn vung sừng kết liễu hắn.

Khi Fuentes tiến lại gần, con bò liền lao tới. Fuentes chạy chéo một góc phần tư vòng tròn đúng lúc con bò lao đến và khi lướt qua trong tư thế chạy lùi, hắn khựng lại, rướn người tới trước, nhón gót chân, hai tay thẳng đuột, và cắm phập những cây lao thẳng đứng vào phần cơ bắp vai cuồn cuộn trong lúc con bò lao hụt.

Đám đông phát cuồng vì màn biểu diễn đó.

– Cậu nhóc này chắc không trụ lại nổi lâu trong mấy trận đấu đêm kiểu này đâu, – người của Retana nói với Zurito.

– Nó giỏi đấy chứ, – Zurito nói.

– Cứ xem nó biểu diễn tiếp đi.

Họ tiếp tục dõi theo.

Fuentes đang đứng tự lưng vào hàng rào chắn. Hai trợ lý đứng phía sau hắn, thủ sẵn áo choàng để vắt qua hàng rào nhằm đánh lạc hướng con bò.

Con bò lè lưỡi thở hồng hộc, lồng ngực phập phồng, đang dán mắt vào cậu gypsies. Nó nghĩ lần này đã tóm được hắn. Tấm ván đỏ đang ở ngay sau lưng. Chỉ cách một cú lao ngắn ngủi. Con bò đăm đăm nhìn hắn.

Cậu gypsies uốn cong người ra sau, dang rộng hai tay, mũi lao chĩa thẳng về phía con bò. Hắn cất tiếng gọi con bò, nện mạnh một chân xuống đất. Con bò tỏ ra hoài nghi. Nó muốn tóm lấy con người này. Không muốn dính thêm cây lao nào vào vai nữa.

Fuentes tiến lại gần con bò thêm một chút. Uốn cong người ra sau. Lại cất tiếng gọi. Ai đó trong đám đông thét lên cảnh báo.

– Nó đứng quá gần rồi đấy, – Zurito nói.

– Cứ xem đi khắc biết, – người của Retana nói.

Ngả người ra sau, khiêu khích con bò bằng cặp lao, Fuentes tung người nhảy bổng lên, cả hai chân rời khỏi mặt đất. Đúng lúc hắn nhảy lên, đuôi con bò chổng ngược và nó lao tới. Fuentes đáp xuống bằng mũi chân, hai tay thẳng đuột, toàn thân uốn cong về phía trước, và cắm phập thân lao thẳng đứng trong lúc văng người né khỏi chiếc sừng bên phải.

Con bò đâm sầm vào hàng rào chắn đúng chỗ những chiếc áo choàng đang phất phơ thu hút sự chú ý của nó khi bị mất dấu người.

Cậu gypsies chạy dọc theo hàng rào về phía Manuel, đón nhận những tràng pháo tay tán thưởng của đám đông. Chiếc áo gile của cậu ta bị rách một vạt ở chỗ suýt không tránh kịp mũi sừng. Cậu ta tỏ ra vô cùng phấn khích, giơ nó ra cho khán giả xem. Cậu ta thực hiện một vòng quanh đấu trường. Zurito nhìn thấy cậu ta đi qua, mỉm cười và chỉ vào chiếc áo gile bị rách. Gã mỉm cười.

Ai đó đang cắm cặp lao cuối cùng. Chẳng ai buồn thèm chú ý nữa.

Người của Retana nhét một thanh gỗ nhỏ vào bên trong tấm vải đỏ của chiếc áo choàng muleta, gấp tấm vải lại và trao nó qua hàng rào cho Manuel. Lão với tay vào bao kiếm bằng da, rút ra một thanh kiếm, và cầm lấy phần vỏ da, trao nó qua hàng rào cho Manuel. Manuel rút lưỡi kiếm ra bằng chuôi đỏ khiến vỏ kiếm mềm oặt rơi xuống.

Anh nhìn Zurito. Gã to con nhận thấy anh đang đầm đìa mồ hôi.

– Giờ là lúc hạ nó đấy, nhóc, – Zurito nói.

Manuel gật đầu.

– Nó đang ở thể trạng tốt đấy, – Zurito nói.

– Đúng như những gì cậu muốn nhé, – người của Retana quả quyết với anh.

Manuel gật đầu.

Viên kèn lệnh trên mái nhà thổi hiệu lệnh bắt đầu hiệp đấu cuối cùng, và Manuel bước ngang qua đấu trường về phía vị trí của chủ tịch được cho là đang ngồi trong những chiếc lô ghế tối tăm ở phía trên.

Ở hàng ghế đầu, nhà phê bình đấu bò dự khuyết của tờ El Heraldo làm một ngụm dài chai sâm-banh ấm. Hắn quyết định không viết bài tường thuật trực tiếp nữa mà sẽ viết bù bài về trận đấu này ngay tại tòa soạn. Suy cho cùng thì đây là cái thá gì chứ? Chỉ là một trận đấu đêm. Nếu bỏ lỡ chi tiết nào hắn sẽ tóm tắt lại từ các tờ báo sáng hôm sau. Hắn lại làm một ngụm sâm-banh nữa. Hắn có một cuộc hẹn lúc mười hai giờ ở Maxim's. Mấy tên võ sĩ đấu bò này rốt cuộc là thể loại gì chứ? Toàn lũ nhóc con với đám vô gia cư. Một nhúm vô lại. Hắn nhét cuộn giấy ghi chép vào túi và ngước nhìn Manuel đang đứng trơ trọi một mình giữa đấu trường, tay giơ mũ chào hướng về phía chiếc lô ghế nào đó trong bóng tối trên cao mà anh chẳng thể nhìn thấy rõ. Ngoài đấu trường, con bò đang đứng lặng im, chẳng nhìn ngó gì.

“Tôi xin dâng con bò này lên ngài Chủ tịch, và tới công chúng Madrid, những người thông minh và hào phóng nhất trên thế giới,” đó là những gì Manuel đang lẩm bẩm. Đó là một công thức có sẵn. Anh đọc tuốt tuồn tuột. Nó hơi dài dòng so với một trận đấu đêm.

Anh cúi đầu chào hướng về vùng tối, đứng thẳng người, tung chiếc mũ qua vai, và tay trái cầm muleta, tay phải tuốt kiếm, tiến thẳng về phía con bò.

Manuel bước về phía con bò. Con bò nhìn anh; đôi mắt nó đảo rất nhanh. Manuel nhận ra cách những chiếc lao cắm thõng xuống bờ vai trái của anh và dòng máu rỉ ra đều đặn từ cú phóng giáo của Zurito. Anh chú ý đến tư thế đặt chân của con bò. Khi bước tới, tay trái cầm muleta, tay phải cầm kiếm, anh dán mắt vào đôi chân con bò. Con bò không thể lao tới nếu chưa khụm chân lại với nhau. Giờ thì nó đang đứng chụm bốn chân vững chãi, với vẻ đờ đẫn.

Manuel tiến về phía nó, dán mắt vào đôi chân. Mọi chuyện vẫn ổn cả. Anh có thể làm được việc này. Anh phải tìm cách hạ đầu con bò xuống, để có thể lách qua cặp sừng mà kết liễu nó. Anh không nghĩ đến thanh kiếm, cũng chẳng nghĩ đến việc giết con bò. Anh chỉ nghĩ đến từng việc một lúc. Dù vậy, những diễn biến sắp tới vẫn đè nặng lên tâm trí anh. Vừa bước tới, vừa dán mắt vào đôi chân con bò, anh lần lượt nhìn thấy đôi mắt, chiếc mõm ướt sũng, và cặp sừng chĩa rộng về phía trước của nó. Con bò có những vòng tròn sáng nhạt quanh mắt. Đôi mắt nó dán chặt vào Manuel. Anh có cảm giác mình sắp tóm được chú nhóc mặt nhợt nhạt này rồi đây.

Giờ thì đứng im bất động và dang rộng tấm vải đỏ của muleta bằng lưỡi kiếm, tì mũi kiếm vào vạt vải để thanh kiếm cầm ở tay trái căng tấm nỉ đỏ như cánh buồm thuyền, Manuel để ý đến mấy đầu sừng của con bò. Một bên đã bị mẻ do húc vào hàng rào chắn. Bên còn lại nhọn hoắt như gai nhím. Manuel vừa dang muleta vừa nhận thấy phần gốc sừng màu trắng đã bị nhuộm đỏ. Dù chú ý đến những chi tiết đó, anh vẫn không rời mắt khỏi đôi chân con bò. Con bò đăm đăm nhìn Manuel không chớp mắt.

Nó đang ở thế thủ rồi, Manuel thầm nghĩ. Nó đang thủ thế bảo toàn lực lượng. Mình phải lừa nó phá vỡ thế trận đó và hạ thấp đầu nó xuống. Phải luôn tìm cách hạ đầu nó xuống. Đã có lần Zurito làm cho đầu nó hạ xuống, nhưng rồi nó lại ngẩng lên. Nó sẽ chảy máu khi mình bắt đầu lừa nó di chuyển và điều đó sẽ khiến đầu nó cúi xuống.

Tay trái cầm muleta có gác thanh kiếm để giương rộng nó trước mặt, anh cất tiếng gọi con bò.

Con bò nhìn anh.

Anh ngả người ra sau đầy ngạo mạn và phất mạnh tấm nỉ đang dang rộng.

Con bò nhìn thấy muleta. Nó đỏ rực dưới ánh đèn hồ quang. Chân con bò khụm lại.

Nó lao tới kìa. Vù! Manuel xoay người khi con bò lao tới và nhấc bổng muleta lên để nó lướt qua cặp sừng con bò rồi quét dọc sống lưng từ đầu đến đuôi. Con bò lao vút lên không trung theo đà chồm tới. Manuel đứng im như tượng.

Cuối đường lướt, con bò xoay ngoắt lại như con mèo quẹo góc rồi đối mặt với Manuel.

Nó lại chuyển sang thế công. Vẻ nặng nề đã biến mất. Manuel nhận thấy dòng máu tươi đang ròng ròng chảy dọc theo bả vai đen và nhỏ giọt xuống chân con bò. Anh rút thanh kiếm ra khỏi muleta và cầm chắc trong tay phải. Tay trái hạ thấp muleta xuống thấp, ngả người sang bên trái, anh cất tiếng gọi con bò. Chân con bò khụm lại, mắt dán chặt vào muleta. Nó lao đến kìa, Manuel thầm nghĩ. Hừ!

Anh xoay người theo đà lao, văng muleta đi trước đầu con bò, chân trụ vững chắc, đường kiếm lượn theo vòng cung, lấp lánh như một đốm sáng dưới ánh đèn hồ quang.

Con bò bồi thêm cú lao nữa khi đường pase natural kết thúc và Manuel nâng muleta lên để thực hiện cú pase de pecho. Chân trụ vững chãi, con bò lướt qua ngực anh ngay dưới chiếc muleta được nâng cao. Manuel ngả người ra sau để tránh mấy cán lao tua tủa. Thân hình đen bóng nóng hổi của con bò sượt qua ngực anh.

Suýt thì dính đòn, Manuel thầm nghĩ. Zurito, đang tựa người vào hàng rào chắn, nói nhanh gì đó với cậu gypsies, và cậu này lập tức cầm áo choàng chạy hộc tốc về phía Manuel. Zurito sụp vành mũ xuống thấp và đăm đăm nhìn Manuel qua đấu trường.

Manuel lại đối mặt với con bò, muleta hạ thấp xuống góc bên trái. Đầu con bò cúi gằm khi nó dán mắt vào muleta.

– Nếu mà là Belmonte đang diễn trò đó, khối kẻ phát cuồng lên cho xem, – người của Retana nói.

Zurito không nói gì. Gã đang dán mắt theo Manuel ở giữa đấu trường.

– Sếp kiếm đâu ra cái tay này thế nhở? – người của Retana hỏi.

– Trong bệnh viện ra chứ đâu, – Zurito đáp.

– Thế nào cũng có ngày nó tống cổ về đấy sớm cho xem, – người của Retana nói.

Zurito quay phắt lại lườm hắn.

– Gõ vào đấy xem nào, – gã nói, chỉ tay vào hàng rào chắn.

– Tôi đùa tí thôi mà, bác sĩ, – người của Retana chữa cháy.

– Gõ vào gỗ đi.

Người của Retana chồm người về phía trước gõ ba cái lên hàng rào chắn.

– Tập trung xem màn biểu diễn đi, – Zurito nói.

Giữa đấu trường, dưới ánh đèn rực rỡ, Manuel đang quỳ một chân, đối mặt với con bò, và khi anh giương cao muleta bằng cả hai tay, con bò liền chồm người lao tới, đuôi chổng ngược.

Manuel lách người né tránh và khi con bò bổ nhào tới lần nữa, anh văng muleta tạo thành một nửa vòng tròn ép con bò phải quỵ xuống.

– Ồ, gã này đúng là một võ sĩ đấu bò cừ khôi đấy chứ, – người của Retana thốt lên.

– Không, không phải đâu, – Zurito đáp gọn lỏn.

Manuel đứng dậy, tay trái cầm muleta, tay phải cầm kiếm, cúi đầu đáp lại tràng pháo tay từ khán đài tối sầm.

Con bò gượng mình chồm lên từ tư thế quỵ gối và đứng chờ, đầu cúi gằm.

Zurito cất tiếng gọi hai cậu nhóc khác trong đội trợ tế và chúng chạy hộc tốc ra đứng sau lưng Manuel với những chiếc áo choàng. Lúc này có bốn gã đứng sau lưng anh. Hernandez đã đi theo anh kể từ lúc anh bước ra với tấm muleta. Fuentes đứng ngắm nghía, tay ôm khư khư chiếc áo choàng sát người, cao kều, điềm tĩnh, nheo mắt quan sát. Giờ thì hai cậu kia đã tiến đến. Hernandez ra hiệu cho mỗi người đứng một bên. Manuel đứng đơn độc một mình, đối mặt với con bò.

Manuel xua tay ra hiệu cho đám cầm áo choàng lùi lại. Thận trọng lùi bước, chúng nhận ra mặt anh tái xanh và đầm đìa mồ hôi.

Bọn chúng không biết điều là phải đứng lùi lại sao? Bộ chúng muốn thu hút ánh nhìn của con bò vào mấy chiếc áo choàng sau khi nó đã bị khuất phục và sẵn sàng rồi chắc? Anh đã đủ thứ phải lo lắng lắm rồi, cần gì thêm mấy chuyện vớ vẩn ấy nữa.

Con bò vẫn đứng chụm bốn chân, đăm đăm nhìn muleta. Manuel cuộn tròn muleta lại bằng tay trái. Đôi mắt con bò dán chặt vào nó. Thân hình nó trĩu nặng trên đôi chân. Nó cúi gằm đầu xuống, nhưng chưa hẳn là quá thấp.

Manuel giơ muleta khua về phía nó. Con bò không nhúc nhích. Chỉ có đôi mắt là đảo theo.

Nó toàn là chì, Manuel thالب nghĩ. Nó đứng vững chãi quá. Thế trận đã vào guồng rồi. Nó sẽ nhận đòn thôi.

Anh suy nghĩ bằng ngôn ngữ chuyên ngành đấu bò. Đôi khi anh có ý tưởng nhưng thuật ngữ lóng cụ thể lại không bật ra trong đầu và anh không thể diễn giải được suy nghĩ đó. Bản năng và kiến thức hoạt động hoàn toàn tự động, còn bộ não vận hành chậm chạp bằng ngôn từ. Anh rành rõi mọi thứ về loài bò. Anh chẳng cần phải bận tâm suy nghĩ về chúng. Anh cứ thế hành động chuẩn xác. Đôi mắt anh quan sát mọi thứ và cơ thể tự động thực hiện các động tác cần thiết mà chẳng cần suy nghĩ. Nếu cứ mải suy nghĩ, anh sẽ tiêu đời ngay lập tức.

Giờ đây, đối mặt với con bò, anh nhận thức rõ rất nhiều thứ cùng một lúc. Nào là cặp sừng, bên mẻ bên nhọn hoắt mượt mà, nhu cầu phải lấy đà ép sát người về phía chiếc sừng bên trái, lao người thẳng và nhanh, hạ thấp muleta để con bò đuổi theo nó, và lao người chồm qua cặp sừng, đâm ngập lưỡi kiếm vào một điểm nhỏ bằng đồng tiền xu năm peseta ngay sau gáy, giữa khoảng bắp vai u lên của con bò. Anh phải làm tất cả những việc đó rồi lách người thoát ra khỏi khoảng giữa cặp sừng. Anh nhận thức được mình phải làm ngần ấy thứ, nhưng suy nghĩ duy nhất hiện lên trong đầu chỉ đọng lại thành lời: "Corto y derecho."

– Corto y derecho, – anh thầm nhủ, cuộn tròn muleta lại. Ngắn và thẳng. Corto y derecho, anh rút kiếm ra khỏi muleta, lấy đà nhắm vào chiếc sừng trái bị mẻ, vắt tấm muleta chéo qua người, để bàn tay phải cầm kiếm ngang tầm mắt tạo thành hình dấu thánh, rồi nhón gót chân, nheo mắt ngắm dọc theo lưỡi kiếm đang chúi xuống nhắm vào điểm hiểm hóc nằm cao trên bả vai con bò.

Corto y derecho, anh lao người chồm vào con bò.

Một cú va chạm trời giáng, và anh cảm thấy người mình bị hất bổng lên không trung. Anh bồi thêm lực tì vào thanh kiếm trong lúc lao người vút qua, và nó tuột khỏi tay anh văng đi đâu mất. Anh đập xuống đất và con bò đã chồm lên người. Manuel, nằm dài trên bãi cát, dùng đôi giày đè bẹp mõm con bò. Vừa đạp giãy giụa, vừa tung cước, con bò đuổi theo anh, húc hụt trong sự cuồng nộ, dùng đầu húc bồi, cắm cặp sừng xuống cát. Giãy giụa như một gã đang tung hứng trái bóng trên không, Manuel ngăn không cho con bò tung ra một cú húc chí mạng nào vào người mình.

Manuel cảm thấy luồng gió thốc vào lưng từ những chiếc áo choàng đang phất phơ đánh lạc hướng con bò, rồi con bò đã lao vút qua người. Tối sầm lại khi phần bụng nó lướt qua trên đầu. Thậm chí còn chẳng bị dẫm phải.

Manuel đứng phắt dậy và nhặt chiếc muleta lên. Fuentes trao lại thanh kiếm cho anh. Nó đã bị cong quẹo ở chỗ đập vào bả vai con bò. Manuel nắn thẳng nó bằng đầu gối rồi cắm cổ chạy về phía con bò đang đứng cạnh một trong những con ngựa chết. Vừa chạy, chiếc áo khoác của anh vừa phần phật bay ở chỗ bị rách dưới nách.

– Lùa nó ra chỗ khác đi, – Manuel hét lên với cậu gypsies. Con bò ngửi thấy mùi máu của con ngựa chết và dùng cặp sừng xé toạc tấm bạt che. Nó lao vào chiếc áo choàng của Fuentes với mảnh bạt còn vướng trên chiếc sừng mẻ, khiến đám đông được một trận cười bể bụng. Giữa đấu trường, nó hất đầu cố văng mảnh bạt ra. Hernandez từ đằng sau lao tới túm lấy mép mảnh bạt và khéo léo giật phăng nó ra khỏi sừng.

Con bò lủi theo nó trong một cú lao nửa vời rồi khựng lại. Nó lại quay về thế thủ. Manuel cầm kiếm và muleta tiến về phía nó. Manuel vung vẩy muleta trước mặt. Con bò không chịu lao tới.

Manuel lấy đà nhắm về phía con bò, nheo mắt ngắm dọc theo lưỡi kiếm đang chúi xuống. Con bò đứng bất động, dường như đã chết đứng chân, chẳng còn khả năng thực hiện thêm cú lao nào nữa.

Manuel nhón gót chân, nheo mắt ngắm dọc theo lưỡi thép, và lao tới.

Lại một cú va chạm nữa và anh cảm thấy mình bị hất ngược ngã nhào xuống bãi cát cứng ngắc. Lần này chẳng còn cơ hội mà giãy giụa đạp chân nữa. Con bò đã đè bẹp lên người anh. Manuel nằm im bất động như đã chết, vùi đầu vào cánh tay, và con bò húc bồi vào người anh. Húc vào lưng, húc vào mặt anh vùi xuống cát. Anh cảm thấy chiếc sừng đâm phập xuống cát giữa hai cánh tay đang khép chặt. Con bò húc mạnh vào phần thắt lưng anh. Khuôn mặt anh cắm phập xuống cát. Chiếc sừng xé rách một bên ống tay áo và con bò giật phăng nó đi. Manuel bị hất văng ra xa và con bò đuổi theo những chiếc áo choàng.

Manuel gượng đứng dậy, tìm lại kiếm và muleta, dùng ngón cái kiểm tra độ sắc của mũi kiếm, rồi chạy thục mạng về phía hàng rào chắn để đổi thanh kiếm khác.

Người của Retana trao cho anh thanh kiếm mới qua mép hàng rào.

– Lau mặt đi kìa, – lão nói.

Manuel vừa cắm cổ chạy về phía con bò vừa dùng khăn tay lau khuôn mặt đẫm máu. Anh chẳng thấy Zurito đâu cả. Zurito đâu mất tiêu rồi?

Đội trợ tế đã tản ra xa con bò và thủ sẵn áo choàng chờ đợi. Con bò lại đứng lù lù, nặng nề và đờ đẫn sau màn giao chiến.

Manuel cầm muleta tiến về phía nó. Anh khựng lại và phất phơ tấm vải. Con bò hoàn toàn phớt lờ. Anh phất qua phất lại tấm vải sang phải rồi sang trái ngay trước mõm nó. Đôi mắt con bò đảo theo nhịp phất của tấm vải, nhưng nhất quyết không chịu lao tới. Nó đang chờ Manuel.

Manuel cảm thấy lo lắng. Chẳng còn cách nào khác ngoài việc lao vào. Corto y derecho. Anh lấy đà áp sát con bò, vắt chéo muleta trước người và lao tới. Vừa đâm ngập kiếm, anh vừa giật xóc người sang trái để tránh sừng. Con bò lướt qua người anh và lưỡi kiếm vút bay lên không trung, lấp lánh dưới ánh đèn hồ quang, rồi rơi phịch xuống cát với phần chuôi đỏ au.

Manuel chạy bổ tới nhặt lên. Nó đã bị cong và anh lại nắn thẳng nó bằng đầu gối.

Khi anh đang hộc tốc chạy về phía con bò đã đứng im lìm trở lại, anh lướt qua Hernandez đang đứng thủ sẵn áo choàng.

– Nó toàn xương là xương rồi anh ạ, – cậu nhóc lên tiếng động viên.

Manuel gật đầu, vừa lau mặt vừa nhét chiếc khăn tay đẫm máu vào túi.

Kìa con bò. Nó đang đứng sát rịt hàng rào chắn. Đồ khốn kiếp. Biết đâu nó toàn xương thật. Biết đâu chẳng còn chỗ nào trên cơ thể để mũi kiếm có thể đâm vào nổi. Cóc có chuyện đó! Anh sẽ cho bọn chúng thấy tay mình.

Anh thử vung muleta nhưng con bò chẳng thèm nhúc nhích. Manuel khua muleta qua lại liên tục trước mặt con bò. Vô tích sự.

Anh cuộn tròn muleta lại, tuốt kiếm ra, lấy đà rồi lao sầm vào con bò. Anh cảm thấy thanh kiếm oằn cong xuống khi dồn toàn lực tì người đè lên nó, rồi lưỡi kiếm vút bay cao lên không trung, lộn nhào rơi tõm vào đám đông khán giả. Manuel đã kịp giật mình lách người né tránh khi thanh kiếm vọt lên.

Những chiếc đệm đầu tiên được ném xuống từ vùng tối trượt khỏi người anh. Rồi một chiếc đập thẳng vào mặt anh, khi khuôn mặt đẫm máu của anh đang hướng về phía đám đông. Chúng đang ném xuống ngày một dồn dập. Lấm tấm cả bãi cát. Ai đó ném một chai sâm-banh rỗng từ cự ly gần. Nó đập trúng chân Manuel. Anh đứng đó đăm đăm nhìn vùng tối, nơi những món đồ được ném ra. Rồi có cái gì đó xé gió bay qua và rơi xuống cạnh anh. Manuel cúi người nhặt lên. Đó là thanh kiếm của anh. Anh nắn thẳng nó trên đầu gối rồi giơ lên ra hiệu với đám đông.

– Cảm ơn nhé, – anh nói. – Cảm ơn nhiều nha.

Ồ, lũ khốn nạn bỉ ổ! Lũ khốn nạn! Ồ, lũ khốn bỉ ổ khốn kiếp! Anh đá văng một chiếc đệm trong lúc chạy.

Kìa con bò. Vẫn y như cũ. Được lắm, đồ khốn kiếp bỉ ổ!

Manuel phất muleta trước mõm đen sì của con bò.

Vô ích.

Mày không chịu à! Được thôi. Anh tiến sát lại gần và cắm phập chóp nhọn của muleta vào cái mõm ướt sũng của con bò.

Con bò chồm ngay lên người anh khi anh vừa nhảy lùi lại và lúc vấp phải chiếc đệm, anh cảm thấy chiếc sừng đâm phập vào người, vào mạn sườn. Anh tóm chặt lấy sừng bằng cả hai tay và bám chặt vào vị trí đó ngả người ra sau. Con bò hất tung anh lên và anh văng ra ngoài, nằm im bất động. Mọi chuyện vẫn ổn. Con bò đã bỏ đi.

Anh lồm cồm bò dậy, ho sù sụ với cảm giác tan nát rã rời. Lũ khốn bỉ ổ!

– Đưa kiếm đây tao, – anh thét lên. – Đưa vũ khí đây.

Fuentes lao tới mang theo muleta và kiếm.

Hernandez vòng tay ôm lấy anh.

– Vào phòng y tế đi anh, – cậu ta nói. – Đừng làm trò khùng điên nữa.

– Tránh ra, – Manuel gạt phắt đi. – Xéo ngay khỏi tao.

Anh giật mình vùng thoát ra. Hernandez nhún vai. Manuel cắm cổ chạy về phía con bò.

Kìa con bò đang đứng lù lù, nặng nề, cắm chân vững chãi xuống đất.

Được lắm, đồ khốn! Manuel rút kiếm ra khỏi muleta, lấy đà cùng lúc rồi lao người sầm vào con bò. Anh cảm nhận rõ thanh kiếm ngập sâu hoàn toàn. Ngập đến tận chuộc cán. Bốn ngón tay và ngón cái ngập sâu vào thân bò. Dòng máu nóng hổi bám đầy các khớp ngón tay, và anh đang chồm lên người con bò.

Con bò lảo đảo lật nhào cùng anh khi anh đang đè lên nó, và dường như chìm xuống; rồi anh đứng thẳng người dậy. Anh nhìn con bò từ từ ngã nghiêng sang một bên, rồi bốn chân chổng ngược lên không trung.

Rồi anh giơ tay chào đám đông, bàn tay vẫn còn ấm nóng máu bò.

Được rồi đấy, lũ khốn! Anh muốn nói gì đó nhưng cơn ho sặc sụa bỗng trào lên. Nóng bỏng và nghẹn đắng. Anh cúi xuống tìm muleta. Mình phải qua chào chủ tịch chứ. Chủ tịch cái quái gì! Anh đang ngồi bệt xuống đất nhìn cái gì đó. Đó là con bò. Bốn chân chổng ngược lên trời. Cái lưỡi dày lè ra ngoài. Bầy côn trùng đang lúc nhúc bò quanh bụng và dưới chân nó. Lúc nhúc ở những vùng da lông thưa thớt. Con bò chết tiệt. Mặc thây con bò! Mặc thây tất cả bọn chúng! Anh chồm dậy định đứng lên thì cơn ho lại dội tới. Anh lại ngồi sụp xuống, ho sù sụ. Ai đó chạy đến xốc người anh dậy.

Họ khiêng anh băng qua đấu trường về phòng y tế, hộc tốc chạy qua bãi cát, bị kẹt lại ở cổng khi bầy la đi vào, rồi vòng qua lối hành lang tối tăm, đám đàn ông vừa thở hồng hộc vừa khiêng anh lên cầu thang rồi đặt nằm xuống.

Bác sĩ cùng hai người mặc áo trắng đang đợi sẵn. Họ đặt anh nằm dài lên bàn. Họ đang cắt rách chiếc áo sơ mi của anh. Manuel cảm thấy kiệt sức. Cả lồng ngực nóng rát như lửa đốt. Anh bắt đầu ho và họ áp thứ gì đó vào miệng anh. Mọi người đều tất bật bận rộn.

Có thứ ánh sáng điện chói lòa chiếu thẳng vào mắt. Anh nhắm nghiền mắt lại.

Anh nghe thấy tiếng ai đó đang nặng nề bước lên cầu thang. Rồi anh chẳng nghe thấy gì nữa. Sau đó anh nghe thấy tiếng động vang lên từ tít đằng xa. Đó là tiếng hò reo của đám đông. Chà, thể nào cũng có kẻ phải giết nốt con bò còn lại của anh cho mà xem. Bọn họ đã cắt rách tươm chiếc áo sơ mi của anh rồi. Bác sĩ mỉm cười với anh. Kìa Retana.

– Chào Retana! – Manuel cất tiếng. Anh chẳng nghe thấy nổi giọng mình.

Retana mỉm cười với anh và nói gì đó. Manuel không nghe thấy.

Zurito đứng cạnh chiếc bàn, chồm người nhìn xuống chỗ bác sĩ đang làm việc. Gã vẫn mặc nguyên bộ đồ phóng giáo, đầu không đội mũ.

Zurito nói gì đó với anh. Manuel không nghe thấy.

Zurito đang nói chuyện với Retana. Một người mặc áo trắng mỉm cười trao cho Retana một chiếc kéo. Retana đưa nó cho Zurito. Zurito nói gì đó với Manuel. Anh vẫn không nghe nổi.

Mặc thây cái bàn mổ này đi! Anh từng nằm trên khối cái bàn mổ rồi. Anh không đời nào chết được đâu. Sẽ có linh mục đến nếu anh sắp chết.

Zurito đang nói gì đó với anh. Giơ chiếc kéo lên.

Ra thế. Bọn họ định cắt búi tóc sam của anh. Bọn họ định cắt búi tóc sam của anh.

Manuel ngồi bật dậy trên bàn mổ. Vị bác sĩ hằm hằm lùi lại. Ai đó chồm tới giữ chặt lấy anh.

– Anh không thể làm thế được đâu, Manos, – anh thét lên.

Bỗng nhiên anh nghe rõ mồn một giọng nói của Zurito.

– Không sao đâu, – Zurito nói. – Tao không làm thế đâu. Tao đùa đấy.

– Tôi đang đánh rất tốt mà, – Manuel nói. – Tôi chỉ vô vận thôi. Có thế thôi mà.

Manuel ngả người nằm xuống. Họ đã áp thứ gì đó lên mặt anh. Quá quen thuộc rồi. Anh hít một hơi thật sâu. Cảm giác mệt mỏi dâng ngập tràn. Anh mệt mỏi lắm, mệt mỏi rã rời. Họ nhấc vật đó khỏi mặt anh.

– Tôi đang đánh rất tốt cơ mà, – Manuel thều thào nói. – Tôi đang đánh rất sung mà.

Retana nhìn Zurito rồi quay người bước ra cửa.

– Tao ở lại đây với chú ấy, – Zurito nói.

Retana nhún vai.

Manuel mở mắt nhìn Zurito.

– Tớ đánh tốt lắm phải không, Manos? – anh hỏi để tìm kiếm sự xác nhận.

– Chắc chắn rồi, – Zurito đáp. – Chú mày đang đánh rất tuyệt.

Trợ lý bác sĩ áp chiếc phễu vào mặt Manuel và anh hít một hơi thật sâu. Zurito đứng ngượng ngập, đăm đăm quan sát.

IN ANOTHER COUNTRY

Vào mùa thu, chiến tranh vẫn hiển hiện ở đó, nhưng chúng tôi không ra trận nữa rồi. Milan vào mùa thu trời rất lạnh và màn đêm buông xuống từ rất sớm. Rồi những ngọn đèn điện bật sáng, và thật dễ chịu khi đi dọc các con đường nhìn vào tủ kính các cửa hàng. Rất nhiều thịt thú rừng được treo lủng lẳng bên ngoài cửa hàng, tuyết phủ trắng lớp lông của những con cáo và gió thổi làm bay phần đuôi của chúng. Những con hươu treo cứng đờ, nặng nề và rỗng tuếch, còn những chú chim nhỏ bị gió thổi tung và gió làm lật cả bộ lông vũ của chúng. Đó là một mùa thu lạnh giá và những cơn gió thốc xuống từ dãy núi.

Tất cả chúng tôi đều có mặt ở bệnh viện vào mỗi buổi chiều, và có nhiều cách khác nhau để đi bộ băng qua thị trấn qua lớp chập choạng tối để đến bệnh viện. Hai trong số những con đường đi dọc theo các kênh đào, nhưng chúng rất dài. Tuy nhiên, lúc nào bạn cũng phải băng qua một cây cầu bắc qua kênh để vào bệnh viện. Có ba cây cầu để lựa chọn. Trên một trong số đó có một người phụ nữ bán hạt dẻ nướng. Thật ấm áp khi đứng trước lò than của bà ấy, và những hạt dẻ sau đó thật ấm áp trong túi áo bạn. Bệnh viện rất cổ kính và vô cùng đẹp, và bạn bước vào qua một cổng chính rồi đi băng qua một khoảng sân và ra bằng một cánh cổng ở phía bên kia. Thường thì có những đám tang xuất phát từ khoảng sân đó. Phía bên kia bệnh viện cổ là những tòa nhà gạch mới, và ở đó chúng tôi gặp nhau vào mỗi buổi chiều, tất cả đều vô cùng lịch sự và tỏ ra quan tâm đến tình trạng của nhau, rồi ngồi vào những cỗ máy được cho là sẽ mang lại sự khác biệt lớn lao.

Viên bác sĩ tiến đến cỗ máy nơi tôi đang ngồi và nói: "Anh thích làm gì nhất trước chiến tranh? Anh có tập môn thể thao nào không?"

Tôi đáp: "Vâng, bóng đá."

– Tốt, – ông nói. – Anh sẽ có thể chơi bóng đá trở lại còn cừ hơn trước ấy chứ.

Đầu gối của tôi không thể gập lại được và cẳng chân chõ thẳng từ đầu gối xuống mắt cá chân mà chẳng có bắp chân, và cỗ máy có nhiệm vụ uốn cong đầu gối và làm cho nó chuyển động như khi đạp xe ba bánh. Nhưng nó vẫn chưa chịu gập lại, thay vào đó cỗ máy cứ khựng lại khi đến khúc uốn cong. Viên bác sĩ nói: "Rồi tất cả sẽ qua đi thôi. Anh là một thanh niên may mắn. Anh sẽ lại chơi bóng đá cừ khôi như một nhà vô địch."

Ở cỗ máy bên cạnh là một viên thiếu tá có bàn tay nhỏ xíu như tay em bé. Lão nháy mắt với tôi khi viên bác sĩ khám bàn tay lão – vốn nằm giữa hai chiếc dây da cứ nhẩy chồm lên xuống và đập phần ngón cứng đờ – rồi nói: "Và liệu tôi có được chơi bóng đá nữa không, thưa đại úy bác sĩ?" Lão từng là một kiếm thủ cừ khôi, và trước chiến tranh là kiếm thủ vĩ đại nhất ở Ý.

Viên bác sĩ bước vào phòng làm việc ở gian sau và mang ra một bức ảnh chụp bàn tay bị teo tóp nhỏ gần bằng tay thiếu tá trước khi tham gia liệu trình máy tập, và sau đó thì to hơn một chút. Viên thiếu tá cầm bức ảnh bằng bàn tay lành lặn và ngắm nghía rất kỹ. "Một vết thương à?" lão hỏi.

– Tai nạn lao động, – viên bác sĩ đáp.

– Thật thú vị, vô cùng thú vị, – thiếu tá nói, rồi trả lại bức ảnh cho bác sĩ.

– Anh có lòng tin chứ?

– Không, – thiếu tá đáp.

Có ba cậu thanh niên ngày nào cũng đến có độ tuổi xấp xỉ tôi. Cả ba đều đến từ Milan, một người định làm luật sư, một người định làm họa sĩ, và một người từng có ý định làm sĩ quan quân đội, và sau khi chúng tôi tập xong với mấy cỗ máy, thỉnh thoảng chúng tôi lại cùng nhau đi bộ đến quán Cova, nằm sát cạnh nhà hát Scala. Chúng tôi đi đường tắt qua khu vực của những người cộng sản vì chúng tôi đi chung bốn người. Người dân căm ghét chúng tôi vì chúng tôi là sĩ quan, và từ một quán rượu nào đó thỉnh thoảng lại có tiếng ai đó hét lên "A basso gli ufficiali!" khi chúng tôi đi qua. Một cậu nhóc khác thỉnh thoảng đi cùng nhóm khiến chúng tôi thành năm người, đeo một chiếc khăn lụa đen che kín mặt vì cậu không còn mũi nữa và khuôn mặt phải tái tạo lại. Cậu đã ra trận từ học viện quân sự và bị thương chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ sau khi đặt chân lên tuyến đầu tiên lần đầu tiên trong đời. Họ tái tạo lại khuôn mặt cho cậu, nhưng cậu xuất thân từ một dòng dõi vô cùng quyền quý và họ chẳng bao giờ có thể làm lại chiếc mũi cho giống hệt được. Cậu đã sang Nam Mỹ và làm việc trong một ngân hàng. Nhưng chuyện này đã từ rất lâu rồi, và khi đó chẳng ai trong số chúng tôi biết mọi chuyện sau này sẽ ra sao. Lúc đó chúng tôi chỉ biết rằng chiến tranh vẫn luôn tồn tại, nhưng chúng tôi sẽ không phải ra trận nữa.

Tất cả chúng tôi đều đeo những tấm huy chương giống nhau, ngoại trừ cậu thiếu niên với dải băng lụa đen che mặt, vì cậu ra trận chưa đủ lâu để nhận huy chương nào. Cậu thanh niên cao gầy có khuôn mặt tái nhợt dự định làm luật sư từng là trung úy thuộc lực lượng Arditi và có tới ba chiếc huy chương loại mà mỗi chúng tôi chỉ có vỏn vẹn một chiếc. Cậu đã sống chung với tử thần trong một thời gian rất dài và có phần dửng dưng. Tất cả chúng tôi đều hơi dửng dưng một chút, và chẳng có gì gắn kết chúng tôi lại với nhau ngoại trừ việc chúng tôi gặp nhau mỗi buổi chiều tại bệnh viện. Mặc dù vậy, khi chúng tôi đi bộ đến quán Cova qua khu vực bặm trợn của thị trấn, đi bộ trong bóng tối, với ánh đèn và tiếng ca hát phát ra từ các quán rượu, và thỉnh thoảng phải bước xuống lòng đường khi đám đông đàn ông và phụ nữ chen chúc trên vỉa hè khiến chúng tôi buộc phải xô đẩy họ mới đi qua được, chúng tôi cảm thấy được gắn kết với nhau bởi một biến cố nào đó mà họ – những con người không ưa chúng tôi – không thể hiểu nổi.

Bản thân chúng tôi đều hiểu rõ quán Cova, nơi sang trọng, ấm cúng và không quá chói sáng, ồn ào và khói thuốc vào những giờ nhất định, luôn có các cô gái ngồi quanh các bàn và những tờ báo minh họa treo trên giá gắn tường. Các cô gái ở quán Cova rất yêu nước, và tôi nhận ra rằng những người yêu nước nhất ở Ý chính là các cô gái làm quán cà phê – và tôi tin rằng họ vẫn còn yêu nước cho đến tận bây giờ.

Ban đầu các cậu ấy tỏ ra rất lịch sự về những tấm huy chương của tôi và hỏi tôi đã lập chiến công gì để giành được chúng. Tôi cho họ xem các giấy tờ được viết bằng thứ ngôn ngữ vô cùng hoa mỹ và tràn ngập những từ fratellanza [tình huynh đệ] cùng abnegazione [sự hy sinh quên mình], nhưng thực chất khi lược bỏ các tính từ đi thì nói rằng tôi được trao huy chương đơn giản vì tôi là người Mỹ. Sau đó thái độ của họ đối với tôi thay đổi đi một chút, mặc dù tôi vẫn là bạn của họ khi đối đầu với những kẻ ngoài cuộc. Tôi là bạn, nhưng chưa bao giờ thực sự là một thành viên trong số họ sau khi họ đọc xong các văn bản tuyên dương, bởi vì trải nghiệm của họ hoàn toàn khác và họ đã làm những việc rất khác để đổi lấy huy chương. Quả thực tôi đã bị thương; nhưng tất cả chúng tôi đều thừa nhận rằng bị thương suy cho cùng cũng chỉ là một tai nạn mà thôi. Dù vậy, tôi chưa bao giờ cảm thấy xấu hổ vì những dải ruy-bông trên ngực, và thỉnh thoảng, sau giờ uống cocktail, tôi lại tưởng tượng ra cảnh mình đã làm tất cả những việc mà họ từng làm để giành huy chương; thế nhưng khi đi bộ về nhà vào ban đêm qua những con đường trống trải với cơn gió lạnh căm và các cửa hàng đều đóng cửa, cố gắng bám sát những ngọn đèn đường, tôi biết rằng mình sẽ không bao giờ làm được những chuyện như thế, và tôi vô cùng sợ chết, để rồi thường nằm một mình trên giường vào ban đêm, sợ chết và tự hỏi bản thân sẽ ra sao khi quay trở lại chiến trường.

Ba người có huy chương trông giống như những con diều hâu săn mồi; còn tôi không phải là diều hâu, dù có thể tôi trông giống diều hâu đối với những kẻ chưa từng đi săn; ba người bọn họ hiểu rõ điều đó hơn nên chúng tôi cứ thế xa cách dần. Nhưng tôi vẫn giữ mối quan hệ bạn bè tốt đẹp với cậu thiếu niên bị thương ngay ngày đầu tiên ra trận, bởi vì giờ đây cậu sẽ chẳng bao giờ biết được mình sẽ trở thành người thế nào; thế nên cậu cũng chẳng bao giờ được thừa nhận, và tôi mến cậu vì nghĩ rằng có lẽ cậu cũng sẽ chẳng trở thành diều hâu.

Viên thiếu tá, người từng là một kiếm thủ cừ khôi, không tin vào lòng dũng cảm, và dành phần lớn thời gian khi chúng tôi ngồi trong mấy cỗ máy để sửa lỗi ngữ pháp cho tôi. Lão từng ca ngợi cách tôi nói tiếng Ý, và chúng tôi trò chuyện với nhau vô cùng thoải mái. Một hôm tôi nói rằng tiếng Ý có vẻ là một ngôn ngữ quá dễ đối với tôi khiến tôi không thể dành nhiều hứng thú cho nó; nói cái gì cũng dễ dàng. "À, phải rồi," thiếu tá nói. "Vậy thì, sao anh không bắt đầu học ngữ pháp đi?" Thế là chúng tôi bắt đầu học ngữ pháp, và chẳng mấy chốc tiếng Ý trở thành một ngôn ngữ khó đến mức tôi sợ phải nói chuyện với lão cho đến khi nắm vững ngữ pháp trong đầu.

Viên thiếu tá đến bệnh viện vô cùng đều đặn. Tôi nghĩ lão chưa từng bỏ một ngày nào, dù tôi chắc chắn rằng lão chẳng tin vào mấy cỗ máy tẹo nào. Đã có lúc tất cả chúng tôi đều không tin vào những cỗ máy, và có lần thiếu tá nói rằng tất cả chỉ là nhảm nhí. Những cỗ máy khi đó còn rất mới và chính chúng tôi là những kẻ phải kiểm chứng chúng. Lão nói đó là một ý tưởng ngớ ngẩn, "một lý thuyết giống như bao lý thuyết khác." Tôi đã không học ngữ pháp, và lão bảo tôi là một nỗi ô nhục ngốc nghếch không thể cứu chữa được, và lão thật ngu ngốc khi phải bận tâm đến tôi. Lão là một người đàn ông nhỏ con, ngồi thẳng cứng trên ghế với bàn tay phải thọc sâu vào cỗ máy và đăm đăm nhìn vào bức tường phía trước trong lúc những chiếc dây da cứ đập lên đập xuống cùng các ngón tay nằm bên trong.

– Anh sẽ làm gì khi chiến tranh kết thúc, nếu nó kết thúc? – lão hỏi tôi. – Nói cho đúng ngữ pháp vào đấy!

– Tôi sẽ sang Mỹ.

– Anh có vợ chưa?

– Chưa, nhưng tôi hy vọng là sẽ có.

– Càng ngớ ngẩn hơn, – lão nói. Lão trông có vẻ rất giận dữ. – Đàn ông không được kết hôn.

– Tại sao vậy, thưa ngài Thiếu tá [Signor Maggiore]?

– Đừng có gọi tôi là 'Signor Maggiore'.

– Tại sao đàn ông không được kết hôn hả ngài?

– Cậu ta không thể kết hôn. Cậu ta không thể kết hôn, – lão nói trong cơn giận dữ. – Nếu một người sắp mất đi mọi thứ, anh ta không nên tự đẩy mình vào hoàn cảnh sẽ mất nốt thứ đó. Anh ta không nên tự đặt mình vào hoàn cảnh mất mát. Anh ta phải tìm kiếm những thứ mà mình không thể đánh mất.

Lão nói với giọng vô cùng giận dữ và cay đắng, mắt đăm đăm nhìn thẳng về phía trước trong lúc nói.

– Nhưng tại sao nhất thiết anh ta phải đánh mất nó chứ?

– Cậu ta sẽ mất thôi, – thiếu tá nói. Lão đang nhìn bức tường. Rồi lão cúi nhìn cỗ máy, giật phăng bàn tay nhỏ bé của mình ra khỏi mấy sợi dây da và đập mạnh nó xuống đùi. "Cậu ta sẽ mất nó," lão gần như hét lên. "Đừng có cãi với tôi!" Rồi lão gọi gã nhân viên vận hành cỗ máy. "Đến tắt cái cỗ máy khỉ gió này đi mau."

Lão bước trở lại căn phòng bên trong để trị liệu bằng đèn và mát-xa. Sau đó tôi nghe thấy lão hỏi bác sĩ xem mình có thể dùng điện thoại được không và lão khép cửa lại. Khi lão bước trở lại phòng, tôi đang ngồi ở một cỗ máy khác. Lão đang mặc áo choàng và đội mũ, tiến thẳng về phía cỗ máy của tôi và đặt tay lên vai tôi.

– Tôi rất xin lỗi, – lão nói, và vỗ nhẹ lên vai tôi bằng bàn tay lành lặn. – Lẽ ra tôi không nên thô lỗ như vậy. Vợ tôi vừa mới qua đời. Anh phải tha lỗi cho tôi.

– Ồ— – tôi thốt lên, cảm thấy nhói lòng thay cho lão. – Tôi vô cùng tiếc.

Lão đứng đó cắn chặt môi dưới. "Mọi chuyện thật quá khó khăn," lão nói. "Tôi không thể nào chấp nhận nổi sự thật này."

Lão nhìn thẫn thờ qua vai tôi ra ngoài cửa sổ. Rồi lão bắt đầu khóc. "Tôi hoàn toàn không sao nuốt trôi nổi," lão nói và nghẹn ngào. Rồi vừa khóc, vừa ngẩng cao đầu nhìn khoảng không vô định, giữ tư thế thẳng thắn chuẩn mực của một người lính, với những giọt nước mắt lăn dài trên cả hai má và đôi môi cắn chặt, lão lê bước qua những cỗ máy rồi đi ra ngoài cửa.

Viên bác sĩ kể cho tôi nghe rằng vợ của thiếu tá, một phụ nữ rất trẻ mà mãi khi lão được chẩn đoán chính thức xuất ngũ vì thương tật lão mới cưới, đã chết vì bệnh viêm phổi. Cô ấy bị ốm chỉ vỏn vẹn vài ngày. Chẳng ai ngờ cô ấy lại qua đời. Thiếu tá đã không đến bệnh viện trong ba ngày liền. Sau đó lão xuất hiện vào giờ giấc thường lệ, trên tay áo quân phục đeo một dải băng đen. Khi lão quay trở lại, xung quanh bức tường là những bức ảnh lớn được lồng khung chụp lại đủ loại vết thương trước và sau khi được chữa khỏi nhờ những cỗ máy. Ngay trước cỗ máy mà thiếu tá hay dùng là ba bức ảnh chụp những bàn tay giống hệt tay lão đã hồi phục hoàn toàn. Tôi không rõ bác sĩ kiếm đâu ra những bức ảnh đó. Từ trước tới nay tôi vẫn luôn hiểu rằng chúng tôi là những người đầu tiên sử dụng cỗ máy. Những bức ảnh chẳng mang lại sự thay đổi nào đối với thiếu tá bởi vì lão chỉ đăm đăm nhìn ra ngoài cửa sổ.

HILLS LIKE WHITE ELEPHANTS

Những ngọn đồi băng qua thung lũng Ebro dài và trắng xóa. Phía bên này không có bóng râm cũng chẳng có cây cối, còn nhà ga nằm lọt thỏm giữa hai đường ray dưới ánh nắng chói chang. Áp sát vào một bên nhà ga là bóng râm ấm áp của tòa nhà và một tấm rèm làm bằng những chuỗi hạt tre được treo buông thõng qua cánh cửa mở vào quán bar, để ngăn ruồi nháy. Người đàn ông Mỹ và cô gái đi cùng ngồi vào một chiếc bàn nằm trong bóng râm, bên ngoài tòa nhà. Trời rất nóng và chuyến tàu tốc hành từ Barcelona sẽ đến trong vòng bốn mươi phút nữa. Nó dừng lại ở ga trung chuyển này trong hai phút rồi tiếp tục hành trình đi Madrid.

– Chúng ta nên uống gì nhỉ? – cô gái hỏi. Cô đã cởi mũ ra và đặt lên bàn.

– Trời khá nóng đấy, – người đàn ông nói.

– Uống bia đi.

– Hai cốc bia [Dos cervezas], – người đàn ông nói vọng vào tấm rèm.

– Cốc to à? – một người phụ nữ cất tiếng hỏi từ khung cửa.

– Vâng. Hai cốc to.

Người phụ nữ mang ra hai cốc bia và hai tấm lót ly bằng nỉ. Bà đặt những tấm lót ly và cốc bia lên bàn rồi nhìn người đàn ông và cô gái. Cô gái đang đăm đăm nhìn ra dãy đồi phía xa. Chúng trắng xóa dưới ánh nắng còn vùng đất xung quanh thì khô cằn và ngả màu nâu.

– Trông chúng giống như những con voi trắng vậy, – cô nói.

– Anh chưa từng thấy con nào cả, – người đàn ông vừa nói vừa uống ngụm bia.

– Đương nhiên là anh chưa bao giờ thấy rồi.

– Anh hoàn toàn có thể thấy chứ, – người đàn ông nói. – Chỉ vì em bảo là anh chưa thấy thì chẳng chứng minh được điều gì sất.

Cô gái nhìn tấm rèm chuỗi hạt.

– Họ có vẽ gì lên đó kìa, – cô nói. – Đề chữ gì thế anh?

– Anis del Toro. Một loại đồ uống.

– Chúng ta thử gọi một ly nhé?

Người đàn ông gọi vọng qua tấm rèm: "Này cô." Người phụ nữ từ trong quán bar bước ra.

– Bốn reale.

– Cho hai ly Anis del Toro.

– Có pha nước không?

– Em có muốn uống pha nước không?

– Em không biết nữa, – cô gái nói. – Uống với nước có ngon không anh?

– Cũng tạm được.

– Các cô chú có muốn pha nước không? – người phụ nữ hỏi.

– Vâng, pha nước.

– Uống vị cứ như cam thảo ấy, – cô gái nói và đặt ly xuống.

– Mọi thứ đều thế cả thôi em.

– Vâng, – cô gái nói. – Mọi thứ đều có vị cam thảo. Nhất là những thứ mà anh đã phải mòn mỏi chờ đợi rất lâu, chẳng hạn như rượu absinthe.

– Thôi ngay cái giọng điệu ấy đi.

– Anh khơi mào trước mà, – cô gái nói. – Em đang thấy vui cơ mà. Em đang có khoảng thời gian tuyệt vời đấy chứ.

– Thôi nào, cố gắng tận hưởng khoảng thời gian tuyệt vời đi em.

– Được thôi. Em đang cố đây chứ. Em bảo những ngọn đồi trông giống voi trắng. Chẳng phải thú vị lắm sao?

– Thú vị lắm.

– Em muốn thử loại đồ uống mới này. Chúng ta lúc nào cũng chỉ làm thế này thôi phải không anh—ngắm nghía mọi thứ và thử những món đồ uống mới?

– Chắc là vậy rồi.

Cô gái ngước nhìn sang những dãy đồi.

– Đẹp thật đấy, – cô nói. – Trông chúng chẳng giống voi trắng chút nào đâu. Ý em chỉ là màu sắc của lớp da chúng hắt qua những rặng cây thôi.

– Chúng ta gọi thêm ly nữa nhé?

– Thôi được.

Cơn gió ấm áp thổi tấm rèm chuỗi hạt va đập vào chiếc bàn.

– Bia mát lạnh uống thích thật đấy, – người đàn ông nói.

– Thích lắm anh ạ, – cô gái nói.

– Thực ra đó chỉ là một ca tiểu phẫu cực kỳ đơn giản thôi mà, Jig, – người đàn ông nói. – Hoàn toàn chẳng phải phẫu thuật gì sất.

Cô gái đăm đăm nhìn xuống mặt đất nơi bốn chân bàn đang đứng.

– Anh biết em sẽ không bận tâm đâu, Jig. Thật sự chẳng có gì đáng ngại cả. Chỉ là để cho không khí lọt vào thôi mà.

Cô gái không nói gì.

– Anh sẽ đi cùng và ở bên em suốt thời gian đó. Bọn họ chỉ cho không khí lọt vào rồi mọi chuyện sẽ hoàn toàn tự nhiên.

– Thế sau đó chúng ta sẽ làm gì?

– Mọi chuyện sẽ ổn thỏa cả thôi em. Giống hệt như trước đây vậy.

– Điều gì khiến anh nghĩ thế?

– Đó là điều duy nhất làm phiền chúng ta. Đó là thứ duy nhất khiến chúng ta không hạnh phúc.

Cô gái nhìn tấm rèm chuỗi hạt, đưa tay ra túm lấy hai sợi dây chuỗi hạt.

– Và anh nghĩ khi đó mọi chuyện sẽ ổn thỏa và chúng ta sẽ hạnh phúc.

– Anh biết chắc chắn là thế. Em không cần phải sợ. Anh quen khối người từng làm thế rồi.

– Em cũng thế, – cô gái nói. – Và sau đó ai nấy đều hạnh phúc vô cùng.

– Thôi nào, – người đàn ông nói, – nếu em không muốn thì không cần làm. Anh không bắt em làm nếu em thực sự không muốn. Nhưng anh biết nó hoàn toàn đơn giản mà.

– Và anh thực sự muốn làm thế à?

– Anh nghĩ đó là cách tốt nhất. Nhưng anh không muốn em làm nếu em không thực sự muốn.

– Và nếu em làm thì anh sẽ hạnh phúc, mọi thứ sẽ lại như trước và anh sẽ yêu em chứ?

– Anh vẫn đang yêu em mà. Em thừa biết anh yêu em cơ mà.

– Em biết chứ. Nhưng nếu em làm, thì mọi chuyện sẽ lại tốt đẹp nếu em nói mọi thứ giống như những con voi trắng, và anh sẽ thích chứ?

– Anh sẽ thích mê. Bây giờ anh vẫn thích nhưng chỉ là không nghĩ ngợi gì được thôi. Em biết tính anh mỗi khi lo lắng rồi đấy.

– Nếu em làm thì anh sẽ không bao giờ lo lắng nữa chứ?

– Anh sẽ chẳng lo lắng gì sất vì nó vô cùng đơn giản.

– Vậy thì em sẽ làm. Bởi vì em chẳng quan tâm đến bản thân mình nữa.

– Ý em là gì?

– Em chẳng quan tâm đến bản thân em.

– Này, anh quan tâm đến em cơ mà.

– Ồ, vâng. Nhưng em không quan tâm đến em. Và em sẽ làm để mọi thứ lại tốt đẹp.

– Anh không muốn em làm nếu em cứ cảm thấy như thế.

Cô gái đứng dậy và bước ra tận đầu sân ga. Phía bên kia là những cánh đồng lúa mạch và hàng cây mọc dọc bờ sông Ebro. Tít đằng xa, bên kia sông, là những dãy núi. Bóng mây trôi lướt qua cánh đồng lúa và cô nhìn thấy dòng sông lấp ló qua kẽ lá.

– Và chúng ta có thể có tất cả những thứ này, – cô nói. – Và chúng ta có thể có mọi thứ và mỗi ngày trôi qua chúng ta lại tự tay bóp méo nó thành bất khả thi.

– Em vừa nói gì cơ?

– Em bảo chúng ta có thể có mọi thứ.

– Chúng ta có thể có mọi thứ mà.

– Không, chúng ta không thể.

– Chúng ta có thể có cả thế giới này.

– Không, chúng ta không thể.

– Chúng ta có thể đi đến bất cứ đâu.

– Không, chúng ta không thể. Nó chẳng còn thuộc về chúng ta nữa rồi.

– Nó là của chúng ta mà.

– Không, không phải thế. Và một khi họ đã tước nó đi, anh sẽ không bao giờ lấy lại được nữa.

– Nhưng họ có tước đi đâu nào.

– Cứ chờ xem rồi khắc biết.

– Quay lại chỗ có bóng râm đi em, – hắn nói. – Em không được phép cảm thấy như thế.

– Em chẳng cảm thấy thế quái nào cả, – cô gái nói. – Em chỉ biết rõ mọi chuyện thôi.

– Anh không muốn em làm bất cứ điều gì mà em không muốn——

– Cả những thứ không tốt cho em nữa chứ gì, – cô nói. – Em biết chứ. Chúng ta gọi thêm cốc bia nữa được không anh?

– Được thôi. Nhưng em phải nhận thức rõ——

– Em nhận thức rõ rồi, – cô gái nói. – Hay là chúng ta thôi đừng nói nữa được không anh?

Họ ngồi xuống bàn và cô gái đăm đăm nhìn sang những ngọn đồi ở phía khô cằn của thung lũng còn người đàn ông nhìn cô và nhìn chiếc bàn.

– Em phải nhận thức rõ rằng, – hắn nói, – anh không muốn em làm nếu em không muốn. Anh hoàn toàn sẵn sàng chịu đựng nếu nó có ý nghĩa gì với em.

– Nó chẳng có ý nghĩa gì với anh à? Chúng ta có thể tự xoay xở được cơ mà.

– Dĩ nhiên là có chứ. Nhưng anh chẳng muốn ai khác ngoài em. Anh không muốn bất kỳ ai khác. Và anh biết nó hoàn toàn đơn giản.

– Phải, anh biết nó hoàn toàn đơn giản.

– Em nói thế thì dễ rồi, nhưng anh biết chắc là thế.

– Anh có thể làm vì em một việc lúc này được không?

– Anh có thể làm bất cứ điều gì cho em.

– Anh làm ơn làm ơn làm ơn làm ơn làm ơn làm ơn làm ơn làm ơn thôi đừng nói nữa được không?

Hắn không nói gì mà chỉ nhìn đống va-li dựa vào tường nhà ga. Trên đó dán đầy nhãn mác của tất cả những khách sạn nơi họ từng qua đêm.

– Nhưng anh không muốn em làm, – hắn nói, – anh chẳng bận tâm gì đến nó nữa đâu.

– Em sẽ hét lên đấy, – cô gái nói.

Người phụ nữ bước ra qua lớp rèm cửa mang theo hai cốc bia đặt lên những tấm lót bằng nỉ còn ẩm ướt. "Tàu đến trong năm phút nữa," bà nói.

– Bà ấy nói gì thế anh? – cô gái hỏi.

– Rằng tàu sẽ đến trong năm phút nữa.

Cô gái mỉm cười rạng rỡ với người phụ nữ để bày tỏ lòng biết ơn.

– Chắc anh phải mang đống va-li sang phía bên kia nhà ga thôi, – người đàn ông nói. Cô mỉm cười với hắn.

– Vâng. Rồi anh quay lại đây chúng ta uống nốt chỗ bia nhé.

Hắn xách hai chiếc va-li nặng trĩu đi vòng qua nhà ga sang đường ray bên kia. Hắn ngước nhìn dọc đường ray nhưng chẳng thấy bóng dáng con tàu đâu. Khi quay trở lại, hắn đi xuyên qua quán bar, nơi những hành khách chờ tàu đang ngồi uống nước. Hắn uống một ly Anis tại quầy bar và quan sát mọi người. Tất cả đều đang kiên nhẫn chờ tàu đến. Hắn bước ra qua tấm rèm chuỗi hạt. Cô đang ngồi bên bàn và mỉm cười với hắn.

– Em thấy đỡ hơn chưa? – hắn hỏi.

– Em thấy khỏe lắm, – cô nói. – Chẳng có gì bất ổn với em cả. Em thấy khỏe lắm.

THE KILLERS

Cánh cửa quán ăn trưa của Henry mở ra và hai người đàn ông bước vào. Họ ngồi xuống quầy bar.

– Các anh dùng gì? – George hỏi.

– Tao chưa biết, – một trong hai gã lên tiếng. – Mày muốn ăn gì nào, Al?

– Tao chịu, – Al đáp. – Tao chả biết mình muốn ăn gì nữa.

Bên ngoài trời đang tối dần. Đèn đường bừng sáng ngoài khung cửa sổ. Hai gã đàn ông ngồi ở quầy bar đọc thực đơn. Từ đầu bên kia quầy, Nick Adams đang quan sát họ. Cậu đang nói chuyện với George lúc hai gã bước vào.

– Cho tôi một suất thăn heo quay kèm sốt táo và khoai tây nghiền, – gã đầu tiên gọi món.

– Vẫn chưa xong đâu ạ.

– Thế quái nào mày lại ghi nó lên thực đơn làm gì?

– Đó là suất ăn tối, – George giải thích. – Các anh có thể gọi món đó vào lúc sáu giờ.

George liếc nhìn chiếc đồng hồ treo tường phía sau quầy.

– Bây giờ mới có năm giờ.

– Đồng hồ chỉ năm giờ hai mươi mà, – gã thứ hai nói.

– Đồng hồ chạy nhanh hơn hai mươi phút.

– Ồ, mặc kệ cái đồng hồ đi, – gã đầu tiên cáu kỉnh nói. – Mày có những món gì ăn được nào?

– Tôi có thể làm bất kỳ loại bánh mì kẹp nào, – George nói. – Các anh có thể gọi trứng ốp la kẹp thịt xông khói, gan xào thịt xông khói, hoặc bít-tết.

– Cho tao bánh croquette gà ăn kèm đậu Hà Lan xanh, sốt kem và khoai tây nghiền.

– Món đó cũng là suất ăn tối.

– Món nào tụi tao muốn cũng là suất ăn tối hết hả? Mày làm ăn kiểu gì thế?

– Tôi có thể làm trứng với thịt xông khói, gan——

– Tao lấy trứng với thịt xông khói, – gã tên là Al nói. Hắn đội chiếc mũ phớt [derby] và mặc chiếc áo khoác dạ màu đen cài kín ngực. Khuôn mặt hắn nhỏ và trắng bệch với đôi môi mím chặt. Hắn quàng khăn lụa và đeo găng tay.

– Cho tao trứng với thịt xông khói, – gã còn lại nói. Hắn có vóc dáng sêm sêm Al. Giao diện hai gã khác nhau nhưng ăn mặc giống hệt nhau như sinh đôi. Cả hai đều mặc áo khoác quá chật so với người. Họ ngồi chúi người về phía trước, tì khủy tay lên quầy.

– Có đồ uống gì không? – Al hỏi.

– Bia Silver, bevo, nước gừng, – George đáp.

– Ý tao là mày có đồ uống nào có cồn không?

– Chỉ có mấy loại tôi vừa kể thôi.

– Cái thị trấn này nóng nực thật đấy, – gã kia lên tiếng. – Nó tên là gì thế?

– Summit.

– Mày có nghe thấy bao giờ chưa? – Al hỏi bạn.

– Chưa, – bạn hắn đáp.

– Đêm đến chúng mày làm gì ở đây? – Al hỏi.

– Chúng nó ăn tối, – bạn hắn đáp. – Tất cả đều lũ lượt kéo đến đây để ăn bữa tối thị soạn.

– Chuẩn đấy, – George nói.

– Thế mày nghĩ thế là đúng à? – Al hỏi George.

– Chắc chắn rồi.

– Mày thông minh phết nhỉ, nhóc? – Chắc chắn rồi, – George đáp.

– Ờ, mày chẳng thông minh tẹo nào đâu, – gã lùn kia nói. – Phải không Al?

– Nó đần thối ra ấy chứ, – Al nói. Hắn quay sang Nick. – Tên mày là gì?

– Adams.

– Lại một chú nhóc thông minh nữa, – Al nói. – Phải không Max?

– Cả cái thị trấn này toàn lũ nhóc thông minh, – Max nói.

George đặt hai chiếc đĩa lớn, một đĩa trứng với thịt xông khói, đĩa kia cũng vậy, lên quầy. Hắn đặt thêm hai đĩa khoai tây chiên nhỏ bên cạnh rồi khép cánh cửa sổ thông ra bếp lại.

– Đĩa nào của anh? – hắn hỏi Al.

– Mày không nhớ à?

– Trứng với thịt xông khói.

– Đúng là một chú nhóc thông minh, – Max nói. Hắn chồm người lấy đĩa trứng. Cả hai gã vừa đeo găng tay vừa ăn. George đứng quan sát chúng ăn.

– Mày nhìn cái gì đấy? – Max trừng mắt nhìn George.

– Có nhìn gì đâu.

– Đừng có xạo. Mày vừa liếc tao đấy thôi.

– Biết đâu cậu nhóc này chỉ đùa cho vui thôi thì sao, Max, – Al nói.

George cười trừ.

– Mày không phải cười, – Max bảo hắn. – Mày chẳng việc gì phải cười cả, hiểu chưa?

– Được rồi, – George đáp.

– Thế là nó nghĩ mọi chuyện đều ổn. – Max quay sang Al. – Nó nghĩ thế là ổn. Hay phết nhỉ.

– Ờ, nó là một nhà tư tưởng cơ mà, – Al nói. Bọn chúng cắm cúi ăn tiếp.

– Thằng nhóc thông minh đứng đầu quầy tên gì thế hả Max? – Al hỏi.

– Này chú nhóc thông minh, – Max nói với Nick. – Ra đứng vòng qua bên kia quầy với bạn của chú đi.

– Có chuyện gì thế? – Nick hỏi.

– Chẳng có chuyện gì cả.

– Tốt hơn là chú mày nên ra đằng kia đi, nhóc thông minh, – Al nói. Nick vòng ra sau quầy.

– Ý các anh là gì thế? – George hỏi.

– Không phải việc của mày, – Al nói. – Ai đang ở trong bếp thế?

– Thằng da đen.

– Ý mày là thằng da đen nào?

– Thằng da đen nấu ăn chứ ai.

– Bảo nó ra đây.

– Có chuyện gì thế?

– Bảo nó ra đây.

– Các anh nghĩ mình đang ở đâu thế hả?

– Bọn tao thừa biết mình đang ở đâu, – gã tên là Max nói. – Trông bọn tao có giống kẻ ngốc không?

– Mày nói năng nghe ngốc nghếch thật đấy, – Al bảo hắn. – Việc gì mày phải đôi co với thằng nhóc này làm gì? Nghe này, – hắn bảo George, – bảo thằng da đen ra đây.

– Các anh định làm gì anh ta hả?

– Chẳng làm gì cả. Dùng cái đầu mà suy nghĩ đi chứ, nhóc thông minh. Bọn tao làm gì được một thằng da đen cơ chứ?

George đẩy khe cửa thông ra gian bếp. "Sam," hắn gọi. "Vào đây một phút."

Cánh cửa bếp mở ra và người da đen bước vào. "Có chuyện gì thế?" anh ta hỏi. Hai gã đàn ông ngồi ở quầy ngước nhìn anh ta.

– Được rồi, anh bạn da đen. Đứng nguyên một chỗ đấy, – Al nói.

Sam, gã đầu bếp da đen, trong bộ tạp dề, đăm đăm nhìn hai gã đang ngồi ở quầy. "Vâng," anh ta nói. Al trượt khỏi ghế đẩu.

– Tao vào bếp với thằng da đen và nhóc thông minh đây, – hắn nói. – Vào bếp đi, đồ da đen. Mày vào cùng với nó luôn đi, nhóc thông minh. Gã lùn bước theo sau Nick và Sam vào bếp. Cánh cửa khép lại sau lưng họ. Gã tên là Max ngồi ở quầy đối diện với George. Hắn không nhìn George mà dán mắt vào tấm gương chạy dọc phía sau quầy. Quán của Henry vốn được cải tạo lại từ một quán rượu thành quán ăn nhanh.

– Nào chú nhóc thông minh, – Max nói, mắt nhìn vào gương, – sao mày không nói gì đi?

– Mấy chuyện này là thế nào vậy?

– Này Al, – Max gọi vọng vào, – nhóc thông minh muốn biết mọi chuyện là thế nào kìa.

– Sao mày không kể cho nó nghe? – Giọng Al vọng ra từ trong bếp.

– Mày nghĩ mọi chuyện là thế nào nào?

– Tôi chịu.

– Mày nghĩ thế nào?

Max vẫn đăm đăm nhìn vào gương trong suốt lúc nói chuyện.

– Tôi không nói đâu.

– Này Al, nhóc thông minh bảo nó không thèm nói nó nghĩ mọi chuyện là thế nào kìa.

– Tao nghe rõ hết rồi, – Al từ trong bếp vọng ra. Hắn dùng một chai tương cà để chêm mở hé khe cửa đưa đồ ăn ra bếp. – Nghe này nhóc thông minh, – hắn nói với George từ trong gian bếp. – Xích ra thêm đoạn nữa đi. Mày dịch sang trái một tí đi Max. Trông hắn chẳng khác nào một tay thợ ảnh đang sắp xếp đội hình chụp ảnh tập thể.

– Nói chuyện với tao đi nhóc thông minh, – Max nói. – Mày nghĩ chuyện gì sắp xảy ra nào?

George không nói gì.

– Tao nói cho mày biết nhé, – Max nói. – Bọn tao sắp giết một gã Thụy Điển. Mày có biết một gã Thụy Điển to con tên là Ole Andreson không?

– Có.

– Hắn vẫn hay đến đây ăn tối mỗi ngày phải không?

– Thỉnh thoảng.

– Hắn đến đây lúc sáu giờ phải không?

– Nếu hắn đến.

– Bọn tao biết thừa chuyện đó rồi, nhóc thông minh, – Max nói. – Nói chuyện khác đi. Có hay đi xem phim không?

– Thỉnh thoảng.

– Mày nên đi xem phim nhiều vào. Phim ảnh rất bổ ích cho một đứa nhóc thông minh như mày đấy.

– Các anh định giết Ole Andreson vì chuyện gì? Hắn đã làm gì các anh chứ?

– Hắn chưa kịp làm gì bọn tao cả. Hắn thậm chí còn chưa gặp mặt bọn tao bao giờ.

– Và hắn sẽ chỉ gặp bọn tao đúng một lần duy nhất thôi, – Al từ trong bếp vọng ra.

– Thế sao các anh lại muốn giết hắn? – George hỏi.

– Bọn tao giết hắn vì một người bạn. Chỉ để làm ơn cho một người bạn thôi, nhóc thông minh ạ.

– Câm mồm đi, – Al từ trong bếp quát vọng ra. – Mày nói nhảm quá nhiều rồi đấy.

– Thì tao phải làm cho nhóc thông minh giải trí chứ. Phải không nhóc?

– Mày nói nhảm nhiều quá rồi đấy, – Al nói. – Thằng da đen và nhóc thông minh của tao đang tự giải trí với nhau kìa. Tao trói tụi nó lại như một đôi bạn thân trong tu viện rồi đây này.

– Chắc mày từng ở tu viện rồi nhỉ.

– Ai mà biết được.

– Mày ở tu viện Do Thái chứ gì. Chỗ của mày là ở đó đấy.

George ngước nhìn chiếc đồng hồ.

– Nếu có ai bước vào thì mày cứ bảo đầu bếp bận việc rồi, còn nếu họ cứ lèo nhèo thì bảo mày sẽ tự vào bếp nấu. Hiểu chưa, nhóc thông minh?

– Được rồi, – George đáp. – Thế sau đó các anh định xử trí tụi tôi thế nào?

– Tùy cơ ứng biến thôi, – Max nói. – Đó là một trong những thứ mà mày chẳng thể nào đoán trước được vào thời điểm đó đâu.

George ngước nhìn đồng hồ. Đã sáu giờ rưỡi. Cánh cửa hướng ra đường bật mở. Một gã lái xe điện bước vào.

– Chào George, – hắn nói. – Tôi ăn tối được không?

– Sam ra ngoài rồi, – George đáp. – Anh ấy sẽ quay lại trong khoảng nửa tiếng nữa.

– Chắc tôi phải đi lên phố quá, – gã lái xe điện nói. George nhìn đồng hồ. Đã sáu giờ hai mươi.

– Đẹp đấy chứ, nhóc thông minh, – Max nói. – Mày đúng là một cậu quý tử đích thực.

– Nó thừa biết tao sẽ cho bay sọ mà, – Al từ trong bếp vọng ra.

– Không, – Max nói. – Không phải thế. Nhóc thông minh rất ngoan. Nó là một đứa trẻ ngoan. Tao thích nó.

Đến sáu giờ năm mươi lăm phút, George nói: "Hắn không đến đâu."

Hai vị khách khác đã ghé vào quán ăn nhanh. Có lần George phải vào bếp làm một suất bánh mì kẹp trứng và thịt xông khói "mang đi" theo yêu cầu của một vị khách. Bên trong bếp, hắn thấy Al, chiếc mũ phớt lệch sang một bên, đang ngồi trên ghế đẩu cạnh khe cửa với nòng khẩu sمط ghém cưa nòng tì lên bệ. Nick và gã đầu bếp bị trói lưng áp lưng vào nhau ở góc phòng, mỗi người bị nhét giẻ vào miệng. George đã làm xong chiếc bánh, bọc trong giấy dầu, nhét vào túi rồi mang ra ngoài, vị khách trả tiền rồi đi mất.

– Nhóc thông minh làm được mọi thứ nhỉ, – Max nói. – Mày biết nấu nướng và đủ thứ. Mày làm vợ của khối đứa đấy, nhóc thông minh ạ.

– Thế á? – George đáp. – Bạn của anh, Ole Andreson, sẽ không đến đâu.

– Bọn tao cho hắn thêm mười phút nữa, – Max nói.

Max đăm đăm nhìn vào gương và chiếc đồng hồ. Kim đồng hồ chỉ bảy giờ đúng, rồi bảy giờ năm phút.

– Đi thôi Al, – Max nói. – Tốt hơn là nên đi thôi. Hắn không đến đâu.

– Cứ cho hắn thêm năm phút đi, – Al từ trong bếp vọng ra.

Trong vòng năm phút đó, một vị khách bước vào, và George giải thích rằng đầu bếp đang bị ốm.

– Sao quái quỷ nào mày không tuyển đầu bếp khác đi? – vị khách cáu kỉnh hỏi. – Mày đang kinh doanh quán ăn nhanh cơ mà? Hắn bỏ đi.

– Đi thôi, Al, – Max nói.

– Thế còn hai chú nhóc thông minh và thằng da đen thì sao?

– Bọn chúng ổn cả.

– Mày nghĩ thế thật à?

– Chắc chắn rồi. Xong việc rồi.

– Tao không thích thế này chút nào, – Al nói. – Lôi thôi lếch thếch lắm. Mày nói nhiều quá đấy.

– Ồ, lôi thôi cái nỗi gì, – Max nói. – Tụi mình phải giải trí chứ, phải không nào?

– Dù sao thì mày cũng nói quá nhiều rồi đấy, – Al nói. Hắn bước ra từ trong gian bếp. Nòng khẩu súng ghém cưa ngắn tạo thành một vết cộm nhỏ ngay dưới vạt áo khoác quá chật. Hắn chỉnh lại áo bằng đôi găng tay.

– Chào nhé, nhóc thông minh, – hắn bảo George. – Mày may mắn chán đấy.

– Chuẩn đấy, – Max nói. – Mày nên đi mua vé số đi đấy, nhóc thông minh ạ.

Cả hai gã bước ra cửa. George nhìn theo bọn chúng qua khung cửa sổ, băng qua dưới ánh đèn hồ quang và sang đường. Trong những chiếc áo khoác chật chội và mũ phớt, trông chúng chẳng khác nào một đoàn biểu diễn tạp kỹ. George bước qua cánh cửa lùa vào bếp và cởi trói cho Nick cùng gã đầu bếp.

– Tôi không muốn dính dáng gì đến mấy thứ này nữa đâu, – gã đầu bếp Sam nói. – Đủ lắm rồi.

Nick đứng dậy. Cậu chưa bao giờ bị nhét giẻ vào miệng thế này bao giờ.

– Này, – cậu cất tiếng. – Cái quái gì thế này? Cậu đang cố ra vẻ ta đây bất cần.

– Bọn chúng định giết Ole Andreson, – George nói. – Bọn chúng định bắn hắn khi hắn bước vào ăn tối.

– Ole Andreson á?

– Chắc chắn rồi.

Gã đầu bếp dùng ngón cái săm soi khóe miệng.

– Bọn chúng đi hết chưa? – anh ta hỏi.

– Rồi, – George đáp. – Đi rồi.

– Tôi không thích thế này chút nào, – gã đầu bếp nói. – Chẳng thích tẹo nào hết.

– Nghe này, Nick, – George bảo Nick. – Cậu nên đi tìm Ole Andreson đi.

– Được rồi.

– Cậu tốt nhất đừng dính líu gì đến chuyện này nữa thì hơn, – gã đầu bếp Sam can ngăn. – Cậu nên đứng ngoài vụ này đi.

– Đừng đi nếu cậu không muốn, – George nói.

– Nhúng tay vào mấy chuyện này chẳng mang lại lợi lộc gì đâu, – gã đầu bếp nói. – Cứ đứng ngoài đi.

– Tôi sẽ đi gặp anh ấy, – Nick nói với George. – Anh ấy ở đâu vậy?

Gã đầu bếp quay mặt đi.

– Mấy cậu nhóc luôn biết mình muốn làm gì mà, – anh ta lẩm bẩm.

– Anh ấy trọ ở nhà trọ của Hirsch, – George nói với Nick.

– Tôi sẽ lên đó.

Bên ngoài, ánh đèn hồ quang chiếu xuyên qua những cành cây trơ trụi. Nick đi dọc con phố sát đường ray xe điện và rẽ vào một con hẻm dưới cột đèn hồ quang tiếp theo. Cách đó ba căn nhà là nhà trọ của Hirsch. Nick bước lên hai bậc thềm và ấn chuông. Một người phụ nữ ra mở cửa.

– Ole Andreson có ở đây không ạ?

– Cậu muốn gặp anh ấy à?

– Vâng, nếu anh ấy có nhà.

Nick đi theo người phụ nữ lên một chuyến cầu thang rồi đi sâu vào cuối hành lang. Bà gõ cửa.

– Ai đấy?

– Có người muốn gặp anh này, anh Andreson, – người phụ nữ nói.

– Là Nick Adams đây.

– Vào đi.

Nick đẩy cửa bước vào phòng. Ole Andreson đang nằm trên giường với đầy đủ quần áo trên người. Hắn từng là một võ sĩ quyền anh hạng nặng và chiếc giường quá ngắn so với chiều cao của hắn. Hắn nằm gối đầu lên hai chiếc gối. Hắn không nhìn Nick.

– Có chuyện gì thế? – hắn hỏi.

– Em vừa ở quán của Henry lên, – Nick nói, – và có hai gã bước vào trói tụi em lại, bọn chúng bảo sẽ tìm anh để giết.

Nghe sao mà ngớ ngẩn khi thốt lên câu đó. Ole Andreson không nói gì.

– Bọn chúng nhốt tụi em trong bếp, – Nick nói tiếp. – Bọn chúng định bắn anh khi anh vào ăn tối.

Ole Andreson nhìn bức tường và im lặng.

– Anh George nghĩ em nên đến báo cho anh biết.

– Tôi chẳng thể làm gì được với chuyện này đâu, – Ole Andreson nói.

– Em sẽ kể cho anh nghe ngoại hình bọn chúng nhé.

– Tôi không muốn biết bọn chúng trông ra sao đâu, – Ole Andreson nói. Hắn đăm đăm nhìn bức tường. – Cảm ơn vì đã đến báo cho tôi biết nhé.

– Không có gì đâu ạ.

Nick nhìn gã đàn ông to lớn đang nằm trên giường.

– Anh không muốn em đi báo cảnh sát à?

– Không, – Ole Andreson nói. – Chẳng ích gì đâu.

– Không còn cách nào khác sao anh?

– Không. Chẳng có cách nào cả.

– Biết đâu bọn chúng chỉ hù dọa thôi thì sao.

– Không. Không phải hù dọa đâu.

Ole Andreson trở mình hướng mặt vào tường.

– Vấn đề duy nhất là, – hắn vừa nói vừa hướng mặt vào tường, – tôi chẳng thể nào quyết định bước chân ra ngoài được. Tôi cứ ì ra trong phòng này cả ngày nay rồi.

– Sao anh không rời khỏi thị trấn này đi?

– Không, – Ole Andreson nói. – Tôi chán ngấy cái cảnh chạy trốn đấy rồi.

Hắn nhìn bức tường.

– Giờ chẳng còn làm gì được nữa.

– Hay là anh tìm cách dàn xếp thế nào đi?

– Không. Tôi lỡ dính chàm rồi. – Hắn vẫn dùng cái giọng đều đều ấy. – Chẳng còn đường lui đâu. Lát nữa tôi sẽ quyết định bước ra ngoài.

– Em nên quay lại quán với anh George đây, – Nick nói.

– Chào nhé, – Ole Andreson nói. Hắn không thèm nhìn Nick. – Cảm ơn vì đã ghé qua.

Nick bước ra ngoài. Khi khép cửa lại, cậu vẫn thấy Ole Andreson mặc nguyên quần áo, nằm trên giường đăm đăm nhìn vào bức tường.

– Nó cứ ru rú trong phòng cả ngày nay rồi, – bà chủ nhà trọ lên tiếng từ tầng dưới. – Chắc nó không được khỏe. Tôi đã bảo nó rằng: "Này anh Andreson, anh nên ra ngoài đi dạo một vòng vào cái ngày mùa thu đẹp trời thế này chứ," nhưng hình như nó không có tâm trạng.

– Anh ấy không muốn ra ngoài đâu ạ.

– Tiếc thật đấy, nó không được khỏe, – người phụ nữ nói. – Nó là một gã đàn ông cực kỳ tử tế. Từng là võ sĩ đấy, cậu biết không.

– Em biết chứ.

– Cậu sẽ chẳng bao giờ nhận ra điều đó nếu không nhìn vào mặt nó, – người phụ nữ nói. Họ đứng nói chuyện ngay phía trong cửa chính. – Nó hiền lành lắm.

– Chúc bà ngủ ngon nhé, thưa bà Hirsch, – Nick nói.

– Tôi không phải bà Hirsch, – người phụ nữ đính chính. –Bà ấy là chủ nhà. Tôi chỉ trông nom hộ thôi. Tôi là bà Bell.

– Vâng, chúc bà Bell ngủ ngon, – Nick nói.

– Chúc ngủ ngon, – người phụ nữ đáp.

Nick bước đi trên con đường tối tăm ra góc phố dưới ánh đèn hồ quang, rồi dọc theo đường ray xe điện về quán ăn của Henry. George đang đứng bên trong quầy.

– Cậu gặp Ole chưa?

– Rồi, – Nick nói. – Anh ấy ở trong phòng và nhất quyết không chịu ra ngoài đâu.

Gã đầu bếp mở hé cửa bếp khi nghe thấy giọng Nick.

– Tôi chẳng thèm nghe mấy chuyện đó nữa đâu, – hắn nói rồi đóng sầm cửa lại.

– Cậu đã kể cho anh ấy nghe chưa? – George hỏi.

– Rồi chứ. Em kể rồi nhưng anh ấy thừa biết cơ sự thế nào rồi.

– Anh ấy định làm gì thế?

– Chẳng làm gì cả.

– Bọn chúng sẽ giết anh ấy mất.

– Chắc là vậy rồi.

– Chắc hắn dính líu vào rắc rối gì ở Chicago rồi đây.

– Chắc thế, – Nick nói.

– Chuyện tồi tệ thật đấy.

– Quá khủng khiếp ấy chứ, – Nick nói.

Cả hai im lặng không nói gì. George với tay lấy chiếc khăn lau quầy.

– Không biết anh ta đã làm gì nhỉ? – Nick thắc mắc.

– Chắc lật lọng phản bội ai đó rồi. Bọn chúng mới thanh trừng vì mấy chuyện đó thôi.

– Tớ sẽ rời khỏi cái thị trấn này, – Nick nói.

– Ừ, – George đáp. – Nên làm thế.

– Tớ không tài nào chịu nổi khi nghĩ đến cảnh anh ta cứ ngóng chờ trong căn phòng đó và biết chắc mình sắp tiêu đời. Quá ư khủng khiếp.

– Thôi, – George nói, – cậu tốt nhất đừng nghĩ đến nó nữa thì hơn.

CHE TI DICE LA PATRIA?

Con đường qua đèo cứng ngắc, nhẵn thín và vẫn chưa bị bụi bặm vào buổi sáng sớm. Bên dưới là những ngọn đồi mọc đầy sồi và dẻ, và tít đằng xa phía dưới là biển cả. Phía bên kia là những ngọn núi phủ đầy tuyết trắng.

Chúng tôi đi xuống từ đèo qua vùng đất nhiều rừng cây. Có những bao than củi chất đống bên vệ đường, và xuyên qua kẽ lá, chúng tôi nhìn thấy những chiếc lều của thợ đốt than. Hôm nay là Chủ nhật và con đường lúc lên lúc xuống, nhưng luôn đổ dốc khỏi độ cao của đèo, xuyên qua những khu rừng còi cọc và những ngôi làng.

Bên ngoài các ngôi làng là những cánh đồng nho. Đất màu nâu và các gốc nho thô ráp, dày dặn. Những ngôi nhà sơn màu trắng, và trên đường phố, những người đàn ông trong trang phục Chủ nhật đang chơi bóng lăn [bowls]. Áp vào tường của một số ngôi nhà là những gốc cây lê, các cành của chúng được uốn tỉa hình chân nến áp sát vào bức tường trắng. Những cây lê đã được phun thuốc trừ sâu, và những bức tường nhà bị nhuộm thành một màu xanh lam-xanh lá kim loại bởi hơi thuốc phun. Xung quanh các ngôi làng có những khoảng đất trống nhỏ trồng nho, bao quanh bởi rừng cây.

Trong một ngôi làng cách Spezia khoảng hai mươi cây số, có một đám đông tụ tập ở quảng trường, và một thanh niên xách va-li bước đến chiếc xe hơi nhờ chúng tôi cho đi nhờ về Spezia.

– Chỉ còn đúng hai chỗ ngồi, và đều có người rồi, – tôi nói. Chúng tôi đi chiếc xe mui kín Ford đời cũ.

– Tôi sẽ bám ngoài xe.

– Anh sẽ thấy không thoải mái đâu.

– Không sao cả. Tôi buộc phải đến Spezia.

– Chúng ta có nên cho cậu ta đi nhờ không? – tôi hỏi Guy.

– Cậu ta đằng nào cũng phải đi mà, – Guy nói. Cậu thanh niên chuyền một bưu phẩm qua cửa sổ.

– Trông hộ cái này nhé, – cậu ta nói. Hai người đàn ông giúp buộc chiếc va-li của cậu ta lên nóc xe, phía trên những chiếc va-li của chúng tôi. Cậu ta bắt tay mọi người, giải thích rằng đối với một người theo chủ nghĩa phát xít và quen đi đây đi lại như cậu ta thì chẳng có gì là bất tiện cả, rồi trèo lên bệ bước chân ở bên trái xe, tay bám vào khung cửa bên trong, cánh tay phải luồn qua cửa kính hạ xuống.

– Các anh xuất phát được rồi đấy, – cậu ta nói. Đám đông vẫy tay chào. Cậu ta vẫy tay bằng bàn tay rảnh rỗi.

– Cậu ta vừa nói gì thế? – Guy hỏi tôi.

– Rằng chúng ta xuất phát được rồi.

– Cậu ta dễ mến phết nhỉ? – Guy nói.

Con đường chạy dọc theo một con sông. Bên kia sông là những dãy núi. Ánh mặt trời đang xua tan lớp sương muối trên thảm cỏ. Trời sáng sủa và lạnh giá, và những luồng không khí lạnh buốt ùa qua tấm chắn gió mở toang.

– Anh nghĩ cậu ta thấy thế nào khi bám ở ngoài kia? – Guy ngước nhìn lên con đường phía trước. Tầm nhìn phía bên ghế của Guy bị che khuất hoàn toàn bởi vị khách của chúng ta. Cậu thanh niên nhô hẳn ra khỏi sườn xe trông giống như bức tượng trang trí ở mũi tàu. Cậu ta đã bẻ cổ áo khoác lên cao, sụp vành mũ xuống và chiếc mũi đỏ ửng vì gió lạnh.

– Biết đâu cậu ta sẽ thấy chán ngấy cho xem, – Guy nói. – Ấy là chỗ lắp chiếc lốp dự phòng bị thủng của chúng ta đấy.

– Ồ, cậu ta thể nào chẳng nhảy xuống nếu chúng ta bị xịt lốp, – tôi nói. – Cậu ta đời nào chịu làm bẩn bộ quần áo du lịch của mình chứ.

– Thôi được, tôi chẳng bận tâm gì đến cậu ta đâu, – Guy nói – ngoại trừ cách cậu ta nhoài người ra mỗi khi vào cua.

Rừng cây đã thưa dần; con đường rời khỏi con sông để leo dốc; nước trong két làm mát đang sôi sùng sục; cậu thanh niên nhìn với vẻ khó chịu và nghi ngờ vào làn hơi nước và dòng nước rỉ sét; động cơ gầm rú, cả hai chân Guy đè nặng lên bàn đạp số một, cứ thế bò lên cao mãi, ngoằn ngoèo tiến lên, rồi cuối cùng cũng lên tới đoạn đường bằng phẳng. Tiếng gầm rú ngớt hẳn, và trong không gian tĩnh lặng trở lại là tiếng nước sôi sùng sục trào bọt trong két làm mát. Chúng tôi đã lên đến đỉnh ngọn đèo cuối cùng nhìn xuống Spezia và biển cả. Con đường đổ dốc với những khúc cua gấp, hầu như chẳng được mài giòn. Vị khách của chúng tôi cứ nhoài người ra ngoài mỗi khi vào khúc cua và suýt làm chiếc xe tròng trành lật nhào.

– Cậu không thể bảo cậu ta thôi ngay đi được à? – tôi nói với Guy. – Đó là bản năng sinh tồn của cậu ta đấy.

– Bản năng vĩ đại của người Ý.

– Bản năng vĩ đại nhất của người Ý.

Chúng tôi lượn qua những khúc cua, xuyên qua lớp bụi dày đặc phủ trắng những rặng ô liu. Thành phố Spezia trải dài bên dưới dọc theo bờ biển. Con đường phẳng phiu khi ra tới ngoại ô. Cậu thanh niên thò đầu vào cửa sổ.

– Tôi muốn xuống xe.

– Dừng xe lại đi, – tôi bảo Guy.

Chúng tôi giảm tốc độ, tấp xe vào lề đường. Cậu thanh niên trèo xuống, đi ra sau xe và cởi dây buộc va-li.

– Tôi xuống ở đây để các anh không gặp rắc rối vì chở khách, – cậu ta nói. – Gói đồ của tôi đây.

Tôi đưa cho cậu ta gói bưu phẩm. Cậu ta thò tay vào túi.

– Tôi nợ các anh bao nhiêu?

– Không đồng nào.

– Sao lại thế?

– Tôi chịu, – tôi đáp.

– Vậy thì cảm ơn nhé, – cậu thanh niên nói, không phải là "cảm ơn anh", hay "cảm ơn anh rất nhiều", hay "cảm ơn anh ngàn lần", những câu mà trước đây bạn thường thốt lên ở Ý khi ai đó đưa cho bạn tờ lịch trình tàu chạy hoặc chỉ đường giúp bạn. Cậu thanh niên thốt ra từ "cảm ơn" với sắc thái cụt lủn nhất rồi nhìn chúng tôi với vẻ nghi ngờ khi Guy khởi động xe. Tôi giơ tay vẫy chào cậu ta. Cậu ta quá ư đường bệ để thèm đáp lại. Chúng tôi tiếp tục lái xe vào Spezia.

– Đó là một thanh niên sẽ tiến xa ở Ý đấy, – tôi nói với Guy.

– Thôi nào, – Guy nói, – cậu ta đi nhờ chúng ta tận hai mươi cây số cơ mà.

A MEAL IN SPEZIA

Chúng tôi tiến vào Spezia để tìm chỗ ăn trưa. Con đường rộng rãi với những ngôi nhà cao tầng sơn màu vàng. Chúng tôi đi theo đường ray xe điện vào tận trung tâm thị trấn. Trên tường những ngôi nhà dán đầy những bức chân dung in stencil trợn tròng mắt của Mussolini, kèm theo những khẩu hiệu "vivas" vẽ tay, chữ V kép bằng sơn đen với những giọt sơn chảy tòng tòng xuống tường. Những con hẻm nhỏ đâm thẳng xuống bến cảng. Trời nắng chói chang và mọi người đều đổ ra đường nhân dịp Chủ nhật. Lớp đá lát đường vừa được tưới nước và có những vệt ẩm ướt giữa lớp bụi mù. Chúng tôi đi sát mép vỉa hè để tránh một chiếc xe điện.

– Ăn tạm cái gì đơn giản thôi nhỉ, – Guy nói.

Chúng tôi dừng xe đối diện hai tấm biển hiệu nhà hàng. Chúng tôi đứng ở bên kia đường trong lúc tôi đang mua báo. Hai nhà hàng nằm sát cạnh nhau. Một người phụ nữ đứng ở cửa mỉm cười với chúng tôi, thế là chúng tôi băng qua đường rồi bước vào trong.

Bên trong khá tối và ở tận góc phòng phía sau, ba cô gái đang ngồi quanh chiếc bàn cùng một bà cụ. Đối diện với chúng tôi, ở một bàn khác, là một gã thủy thủ. Hắn ngồi lì ở đó chẳng ăn uống gì cả. Xa hơn một chút, một thanh niên mặc âu phục xanh đang cặm cụi viết lách bên chiếc bàn. Tóc hắn chải bôi pomade bóng mượt, ăn mặc vô cùng lịch sự và trông rất bảnh bao.

Ánh sáng chiếu qua khung cửa chính, và qua ô cửa sổ nơi rau củ, hoa quả, bít-tết và sườn cừu được bày biện trong tủ trưng bày. Một cô gái bước đến nhận gọi món trong khi một cô khác đứng ở cửa ra vào. Chúng tôi nhận thấy cô ta chẳng mặc gì bên dưới chiếc váy ở nhà. Cô gái ghi gọi món vòng tay ôm lấy cổ Guy trong lúc chúng tôi đang xem thực đơn. Tổng cộng có ba cô gái, và cả ba lần lượt luân phiên ra đứng ở khung cửa. Bà cụ ngồi ở chiếc bàn tít góc phòng cất tiếng gọi và thế là họ lại lủi thủi quay về ngồi cùng bà.

Không có ô cửa nào khác dẫn khỏi căn phòng ngoại trừ lối vào gian bếp. Một tấm rèm treo buông thõng che khuất nó. Cô gái lúc nãy nhận gọi món từ trong bếp bưng ra đĩa mì Ý spaghetti. Cô ta đặt nó lên bàn, mang ra một chai rượu vang đỏ và ngồi xuống bàn.

– Này Guy, – tôi nói với anh ấy. – Cậu muốn ăn chỗ nào đơn giản cơ mà.

– Đây đâu có đơn giản. Phức tạp thế này cơ mà.

– Hai anh nói gì thế? – cô gái hỏi. – Người Đức à?

– Người Đức miền Nam, – tôi đáp. – Người Đức miền Nam là một dân tộc hiền hòa, đáng yêu.

– Không hiểu gì cả, – cô ta nói.

– Cơ chế hoạt động của quán này thế nào thế? – Guy hỏi. – Bộ tôi buộc phải để cô ta quàng tay ôm cổ thế này à?

– Dĩ nhiên rồi, – tôi nói. – Mussolini đã ra lệnh dẹp bỏ các nhà thổ rồi. Đây là nhà hàng mà.

Cô gái mặc chiếc váy liền thân. Cô ta chồm người tì sát vào bàn, đặt hai tay lên bộ ngực rồi mỉm cười. Nụ cười bên má phải đẹp hơn bên trái nên cô ta quay hẳn bên đẹp về phía chúng tôi. Sự quyến rũ của bên má đẹp dường như được tôn lên nhờ một sự cố nào đó đã làm bẹp dúm phần bên trái chiếc mũi của cô ta, giống như sáp ấm bị bóp méo vậy. Tuy nhiên, chiếc mũi của cô ta trông chẳng giống sáp ấm tẹo nào. Nó rất lạnh và cứng cáp, chỉ bị bóp dẹt một bên. "Anh thích em chứ?" cô ta hỏi Guy.

– Cậu ấy ngưỡng mộ cô lắm đấy, – tôi nói. – Nhưng ngặt một nỗi cậu ấy không nói được tiếng Ý.

– Ich spreche Deutsch, – cô ta nói, rồi đưa tay vuốt tóc Guy.

– Nói chuyện với người đẹp bằng thứ tiếng mẹ đẻ của cậu đi, Guy.

– Cô em quê ở đâu thế? – người đẹp hỏi.

– Potsdam.

– Thế anh sẽ ở lại đây chơi một thời gian chứ?

– Ở thành phố Spezia đáng yêu này á? – tôi hỏi.

– Bảo cô ta là chúng ta phải đi đi, – Guy nói. – Bảo cô ta là chúng ta đang ốm nặng và chẳng có xu dính túi.

– Bạn tôi là một kẻ căm ghét phụ nữ [misogynist], – tôi nói, – một gã già người Đức bài trừ phụ nữ.

– Bảo anh ấy là em yêu anh ấy đi.

Tôi dịch lại cho Guy nghe.

– Cậu chịu câm cái mồm lại rồi kéo tụi mình ra khỏi cái chỗ quỷ quái này được chưa? – Guy nói. Người đẹp vừa quàng thêm cánh tay nữa vào cổ cậu ấy. "Bảo anh ấy là của em," cô ta nói. Tôi dịch lại.

– Cậu có chịu lôi tụi mình ra khỏi đây không hả?

– Hai người đang cãi nhau à, – người đẹp nói. – Hai người chẳng yêu thương gì nhau cả.

– Chúng tôi là người Đức, – tôi tự hào tuyên bố, – những người Đức miền Nam chính gốc.

– Bảo anh ấy là một chàng trai khôi ngô đi, – người đẹp nói. Guy năm nay đã thirty-eight [ba mươi tám] tuổi và rất tự hào về việc người ta hay nhầm cậu ấy là nhân viên bán hàng đi du lịch ở Pháp. "Cậu là một chàng trai khôi ngô," tôi nói.

– Ai bảo thế? – Guy hỏi. – Cậu hay cô ta nói?

– Cô ta nói chứ ai. Tôi chỉ là thông dịch viên của cậu thôi mà. Chẳng phải vì thế mà cậu lôi tôi theo chuyến đi này à?

– May mà là cô ta đấy, – Guy nói. – Tớ không muốn phải bỏ rơi cậu lại đây đâu.

– Biết thế nào được. Spezia là một nơi tuyệt vời mà.

– Spezia, – người đẹp lên tiếng. – Hai người đang nhắc đến Spezia cơ mà.

– Nơi tuyệt vời, – tôi nói.

– Đó là quê hương tôi, – cô ta nói. – Spezia là nhà tôi và nước Ý là tổ quốc tôi.

– Cô ta bảo Ý là tổ quốc của cô ta kìa.

– Bảo cô ta là trông nó y hệt như cái quái gì thuộc về cô ta vậy, – Guy nói.

– Tráng miệng có món gì thế? – tôi hỏi.

– Trái cây, – cô ta đáp. – Bọn tôi có chuối.

– Chuối thì được đấy, – Guy nói. – Có vỏ bọc đàng hoàng.

– Ôi, anh ấy thích ăn chuối cơ đấy, – người đẹp thốt lên và ôm chầm lấy Guy.

– Cô ta nói gì thế? – cậu ấy hỏi, né tránh không cho mặt chạm vào người cô ta.

– Cô ta phấn khích vì cậu thích ăn chuối đấy.

– Bảo cô ta là tôi đéo thèm ăn chuối.

– Ngài đây không ăn chuối đâu.

– À, – người đẹp nói với vẻ chưng hửng, – anh ấy không ăn chuối à.

– Bảo cô ta là sáng nào tôi cũng tắm nước lạnh, – Guy nói.

– Ngài đây sáng nào cũng tắm nước lạnh.

– Không hiểu, – người đẹp nói.

Ngồi đối diện chúng tôi, gã thủy thủ bất động từ nãy đến giờ vẫn chẳng mảy may nhúc nhích. Chẳng ai trong quán thèm đếm xỉa gì đến hắn.

– Tính tiền đi, – tôi nói.

– Ồ, không. Các anh phải ở lại chứ.

– Này, – gã thanh niên bảnh bao ngồi bàn bên cạnh lên tiếng. – Để cho họ đi đi. Hai thằng này chẳng có tích sự gì đâu.

Người đẹp nắm lấy tay tôi. – Anh không ở lại à? Anh không bảo anh ấy ở lại sao?

– Chúng tôi phải đi thôi, – tôi nói. – Chúng tôi phải đến Pisa, hoặc nếu được thì tới Firenze tối nay. Chúng tôi có thể tự giải trí ở những thành phố đó khi ngày tàn. Giờ thì vẫn đang ban ngày. Ban ngày là phải tranh thủ di chuyển quãng đường dài.

– Ở lại chơi một lát thì thích mà.

– Đi du lịch thì bắt buộc phải tranh thủ lúc trời quang mây tạnh.

– Này, – gã thanh niên bảnh bao nói với vẻ chán ngán. – Đừng thèm đôi co với hai thằng này làm gì. Tôi bảo đảm bọn chúng chẳng có tí giá trị nào đâu, tôi lạ gì nữa.

Chúng tôi thanh toán tiền và đứng dậy. Tất cả các cô gái, bà cụ và gã thanh niên bảnh bao cùng ngồi sụp xuống bàn. Gã thủy thủ ngồi gục đầu vào hai tay. Chẳng ai thèm nói câu nào với hắn suốt bữa trưa. Cô gái mang lại tiền thừa do bà cụ đếm hộ rồi quay lại chỗ ngồi ở bàn. Chúng tôi để lại một ít tiền boa trên bàn rồi bước ra ngoài. Khi chúng tôi đã ngồi vào xe sẵn sàng xuất phát, cô gái bước ra đứng ở cửa. Xe khởi động và tôi giơ tay vẫy chào cô ta. Cô ta không vẫy lại mà cứ đứng đăm đăm nhìn theo chúng tôi.

AFTER THE RAIN

Trời đang đổ mưa rất to khi chúng tôi đi qua các vùng ngoại ô Genoa, và dù chạy rất chậm sau những chiếc xe điện và xe tải lớn, bùn lỏng vẫn bắn tung tóe lên vỉa hè khiến người đi bộ phải nép cả vào hiên nhà khi thấy chúng tôi tiến đến. Tại San Pier d'Arena, khu ngoại ô công nghiệp bên ngoài Genoa, có một con đường rộng với hai tuyến đường ray xe điện và chúng tôi lái xe vào giữa đường để tránh làm bắn bùn lên những công nhân đang đi bộ về nhà. Bên trái chúng tôi là Địa Trung Hải. Biển động dữ dội và những con sóng bạc đầu vỗ ầm ầm, gió thổi bạt bọt nước tung tóe lên xe. Một lòng sông vốn dĩ rộng thênh thang, đầy đá sỏi và khô khốc lúc chúng tôi đi vào nước Ý, nay đang ào ạt dòng nước nâu đục ngầu dâng lên sát mép bờ. Dòng nước nâu làm đục ngầu cả mặt biển và khi những con sóng vỡ òa vơi đi và trong trẻo trở lại, ánh sáng chiếu xuyên qua dòng nước vàng óng và những ngọn sóng cuồn cuộn bị gió thổi bạt tung bay cắt ngang qua con đường.

Một chiếc xe hơi lớn phóng vút qua chúng tôi với tốc độ cao, hất lên một màn nước bùn đục ngầu trùm qua tấm chắn gió và két làm mát. Cần gạt nước tự động lao đi lao lại, làm nhòe nhoẹt lớp màng bùn trên mặt kính. Chúng tôi dừng lại ăn trưa ở Sestri. Quán ăn không có lò sưởi nên chúng tôi vẫn giữ nguyên mũ và áo khoác trên người. Chúng tôi có thể nhìn thấy chiếc xe đỗ bên ngoài qua ô cửa sổ. Nó phủ đầy bùn và đậu sát bên những chiếc thuyền được kéo lên bờ tránh sóng. Ngay trong quán ăn, bạn có thể nhìn thấy hơi thở phả ra hóa thành sương mù.

Món mì ống pasta asciuta rất ngon; rượu vang có vị phèn chua nên chúng tôi phải chế thêm nước vào. Sau đó người phục vụ mang ra món bít-tết bò và khoai tây chiên. Một người đàn ông và một phụ nữ ngồi ở tận góc trong cùng của quán. Lão đã ở tuổi trung niên còn cô ta còn rất trẻ và mặc đồ đen. Suốt bữa ăn, cô ta cứ thở phì phò làn hơi nước vào không khí lạnh ngấu nước. Người đàn ông nhìn cô ta rồi lắc đầu. Họ ăn uống mà chẳng nói năng gì và người đàn ông giấu tay cô ta dưới gầm bàn. Cô ta trông khá ưa nhìn và cả hai có vẻ rất buồn bã. Họ mang theo một chiếc va-li du lịch.

Chúng tôi mang báo ra đọc và tôi đọc to bài tường thuật về cuộc giao chiến ở Thượng Hải cho Guy nghe. Sau bữa ăn, cậu ấy đi cùng người phục vụ đi tìm một thứ vốn chẳng hề tồn tại trong quán ăn, còn tôi dùng giẻ lau sạch tấm chắn gió, đèn xe và biển số. Guy quay lại, chúng tôi lùi xe ra rồi khởi động. Người phục vụ đã dẫn cậu ấy băng qua đường vào một ngôi nhà cổ. Người dân trong nhà tỏ ra nghi ngờ và người phục vụ phải đứng kè kè cạnh Guy để đảm bảo không có thứ gì bị trộm mất.

– Dù tôi cũng chẳng hiểu nổi, mình có phải thợ ống nước quái đâu mà họ lại cứ sợ mình thốt tay ăn trộm cơ chứ, – Guy nói.

Khi chúng tôi leo lên một mõm đất nhô ra ngoài thị trấn, cơn gió quật mạnh vào xe và suýt làm nó lật nhào.

– May mà gió thổi dạt chúng ta ra xa biển, – Guy nói.

– Ồ, – tôi nói, – họ từng làm chìm xác Shelley ở đâu đó quanh đây mà.

– Chỗ đó ở tận dưới Viareggio cơ, – Guy nói. – Cậu có nhớ chúng ta đến đất nước này để làm gì không?

– Có chứ, – tôi nói, – nhưng chúng ta có đạt được đâu.

– Tối nay chúng ta sẽ chuồn khỏi đây thôi.

– Nếu chúng ta qua nổi Ventimiglia.

– Cứ chờ xem. Tớ không thích lái xe dọc bờ biển này vào ban đêm chút nào.

Trời đã về đầu chiều và nắng đã hửng lên. Phía bên dưới, mặt biển xanh thẳm với những con sóng bạc đầu đang cuồn cuộn hướng về phía Savona. Phía bên kia mũi đất, dòng nước nâu và nước xanh hòa quyện vào nhau. Ngay phía trước chúng tôi, một chiếc tàu chở hàng đang lầm lũi ngược dòng bờ biển.

– Cậu còn thấy Genoa không? – Guy hỏi.

– Ồ, có chứ.

– Cái mũi đất lớn tiếp theo chắc chắn sẽ che khuất tầm nhìn thôi.

– Chúng ta còn nhìn thấy nó một lúc lâu nữa cơ. Tớ vẫn thấy mũi đất Portofino ở phía sau kìa.

Cuối cùng thì chúng tôi cũng không thể nhìn thấy Genoa nữa. Tôi ngoái nhìn lại khi xe vòng qua và trước mắt chỉ còn lại biển cả, và phía dưới vịnh là dải bờ biển với những chiếc thuyền đánh cá, phía trên triền sườn đồi là một thị trấn rồi đến những mõm đất tít mãi tận cuối bờ biển.

– Mất hút rồi đấy, – tôi bảo Guy.

– Ồ, nó mất hút từ đời nào rồi ấy chứ.

– Nhưng phải ra tận ngoài này mới chắc ăn được chứ.

Có một biển báo vẽ hình khúc cua chữ S kèm dòng chữ Svolta Pericolosa [Nguy hiểm khúc cua]. Con đường uốn lượn quanh mõm đất và gió lùa qua khe nứt trên tấm chắn gió. Phía dưới mũi đất là một đoạn đường bằng phẳng trải dài ven biển. Gió đã thổi khô lớp bùn và những bánh xe bắt đầu cuộn lên những đám bụi mù. Trên đoạn đường bằng phẳng, chúng tôi vượt qua một gã phát xít đang đạp xe, mang theo một khẩu súng lục ổ quay lớn giắt trong bao da sau lưng. Hắn nghênh ngang chiếm trọn giữa đường trên chiếc xe đạp và chúng tôi đành phải đánh lái nhường đường cho hắn. Hắn ngước nhìn chúng tôi khi xe vượt qua. Phía trước có một gat-xê chắn tàu, và khi chúng tôi tiến đến, những thanh chắn hạ xuống.

Trong lúc chờ đợi, gã đi xe đạp đuổi kịp chúng tôi. Đoàn tàu vút qua và Guy khởi động máy.

– Đợi đã, – gã đi xe đạp hét vọng lên từ phía sau xe. – Biển số xe của anh bẩn quá đấy.

Tôi xách giẻ bước xuống. Biển số vừa được lau sạch lúc ăn trưa cơ mà.

– Anh đọc được rõ ràng cơ mà, – tôi nói.

– Anh nghĩ thế à?

– Đọc đi.

– Tôi không đọc nổi. Nó bẩn thế này cơ mà.

Tôi dùng giẻ lau qua một lượt.

– Thế này thì sao?

– Hai mươi lăm lire.

– Gì cơ? – tôi nói. – Anh hoàn toàn đọc được mà. Nó chỉ bị bẩn do tình trạng đường xá thôi chứ bộ.

– Anh không thích đường sá nước Ý à?

– Chúng bẩn thỉu.

– Năm mươi lire. – Hắn khạc nhổ xuống đường. – Xe của anh bẩn và bản thân anh cũng bẩn nốt.

– Được thôi. Đưa biên lai có ghi rõ tên anh đây.

Hắn rút ra một cuốn biên lai, được in thành hai liên và có đường rãnh xé răng cưa, để một liên giao cho khách, liên còn lại ghi chép và giữ làm cuống. Chẳng có giấy than nào để lưu lại những gì ghi trên vé của khách cả.

– Đưa đây năm mươi lire.

Hắn dùng bút chì hóa học viết vào, xé tờ biên lai đưa cho tôi. Tôi đọc lướt qua.

– Cái này chỉ ghi hai mươi lăm lire mà.

– Lỗi nhầm lẫn ấy mà, – hắn nói, rồi sửa con số hai mươi lăm thành năm mươi.

– Giờ thì đến phần cuống bên dưới. Sửa thành năm mươi nốt vào phần anh giữ đi.

Hắn nhe một nụ cười đậm chất Ý rồi viết gì đó vào phần cuống biên lai, tay che kín để tôi không nhìn thấy.

– Đi đi, – hắn nói, – trước khi biển số của anh lại bẩn thêm lần nữa.

Chúng tôi lái xe suốt hai tiếng đồng hồ trong đêm tối và nghỉ qua đêm tại Mentone. Nơi đó trông vô cùng vui tươi, sạch sẽ, tỉnh táo và đáng yêu. Chúng tôi đã lái xe từ Ventimiglia đến Pisa và Florence, cắt ngang vùng Romagna đến Rimini, vòng ngược qua Forli, Imola, Bologna, Parma, Piacenza và Genoa, rồi lại trở về Ventimiglia. Toàn bộ chuyến đi chỉ vỏn vẹn trong mười ngày. Dĩ nhiên, trong một chuyến đi ngắn ngủi như vậy, chúng tôi chẳng có cơ hội nào để tìm hiểu xem tình hình đất nước hay người dân ra sao.

FIFTY GRAND

– Cậu tự lo liệu thế nào đây, Jack? – tôi hỏi lão.

– Cậu thấy vụ này chưa, Walcott? – lão đáp.

– Mới thấy ở phòng tập thôi.

– Phải đấy, – Jack nói, – tao sắp sửa phải cầu Chúa ban cho thật nhiều may mắn khi đối đầu với thằng nhóc đó đây.

– Nó làm sao đánh trúng anh được cơ chứ, Jack, – Soldier nói.

– Tao chỉ ước sao đúng là như thế.

– Nó còn chẳng thể dùng một vốc đạn chùm mà bắn trúng anh nổi.

– Đạn chùm thì còn đỡ, – Jack nói. – Tao chẳng ngán đạn chùm tẹo nào đâu.

– Trông nó dễ hạ gục mà, – tôi nói.

– Chắc chắn rồi, – Jack nói, – nó trụ không lâu đâu. Nó không thể bám trụ lâu dài như chú mày với tao đâu, Jerry. Nhưng ngay lúc này nó đang có trong tay mọi thứ.

– Anh sẽ dùng tay trái đấm cho nó nhừ tử.

– Biết đâu đấy, – Jack nói. – Chắc chắn rồi. Tao có cơ hội mà.

– Xử lý nó y như cách anh từng trị Kid Lewis ấy.

– Kid Lewis hả, – Jack nói. – Cái thằng Do Thái bẩn thỉu đó á!

Ba chúng tôi, Jack Brennan, Soldier Bartlett và tôi đang có mặt ở quán Handley's. Có vài ả đào đang ngồi ở chiếc bàn bên cạnh chúng tôi. Bọn chúng đã ngà ngà say.

– Ý mày là sao hả cái thằng Do Thái bẩn thỉu? – một ả lên tiếng hỏi.

– Ý mày là sao, cái thằng hoang mạc Ireland to xác này?

– Chuẩn đấy, – Jack nói. – Đúng thế đấy.

– Đồ Do Thái bẩn thỉu, – ả này tiếp tục lải nhải. – Lúc nào cũng mở miệng ra là Do Thái, mấy thằng Ireland to xác này. Ý mày là gì hả?

– Thôi nào. Cút khỏi đây thôi.

– Bọn Do Thái, – ả ta lại lèm bèm. – Đứa nào từng thấy mày mời ai ly nước bao giờ chưa? Vợ mày sáng nào cũng khâu chặt túi quần lại cơ mà. Mấy thằng Ireland với cái đám Do Thái của chúng mày! Ted Lewis cũng thừa sức nện cho mày một trận nhừ tử đấy.

– Chắc rồi, – Jack nói. – Thế còn mày thì chắc là cho không người ta khối thứ lắm nhỉ?

Chúng tôi bỏ đi. Tính cách Jack là thế đấy. Hắn muốn nói gì thì nói bất cứ khi nào hắn thích.

Jack bắt đầu tập huấn tại trang trại chăm sóc sức khỏe của Danny Hogan ở New Jersey. Ở đó thì thích thật đấy nhưng Jack chẳng ưng lắm. Hắn không thích xa vợ con, và lúc nào cũng cáu kỉnh, gắt gỏng suốt ngày. Hắn quý tôi và chúng tôi hợp nhau vô cùng; hắn cũng thích Hogan, nhưng chỉ một thời gian ngắn sau thì Soldier Bartlett bắt đầu làm hắn phát bực. Một kẻ chuyên trêu chọc sẽ trở thành một sự tồn tại kinh khủng ở khu tập huấn nếu những trò đùa của hắn trở nên nhạt nhẽo, vô vị. Soldier lúc nào cũng trêu chọc Jack, cứ trêu cợt mãi không thôi. Chẳng buồn cười tẹo nào và cũng chẳng ra làm sao cả, và nó bắt đầu chọc tức Jack. Toàn mấy thứ trò mèo kiểu như thế. Jack vừa tập tạ và đấm bao cát xong liền xỏ găng vào.

– Cậu có muốn đấu tập không? – hắn hỏi Soldier.

– Có chứ. Anh muốn tôi đấu kiểu gì nào? – Soldier hỏi. – Muốn tôi đối xử thô bạo với anh như Walcott không? Muốn tôi đấm cho ngã lăn quay mấy bận không?

– Thế đi, – Jack nói. Dù vậy trong lòng hắn chẳng thích tẹo nào.

Có một buổi sáng tất cả chúng tôi đều ra đường tập chạy. Chúng tôi chạy một đoạn khác xa và giờ thì đang trên đường quay về. Cứ chạy nước rút ba phút rồi đi bộ một phút, rồi lại chạy nước rút ba phút tiếp theo. Jack chưa bao giờ là một vận động viên chạy nước rút thực thụ cả. Hắn di chuyển khá nhanh trên sàn đấu nếu bắt buộc phải thế, nhưng chạy đường trường thì chẳng nhanh nhẹn cho lắm. Suốt dọc đường đi bộ, Soldier cứ trêu chọc hắn mãi. Chúng tôi leo dốc lên khu trang trại.

– Này, – Jack nói, – tốt hơn là cậu nên quay về thành phố đi, Soldier.

– Ý anh là gì?

– Cậu tốt nên quay về thành phố và ở lì trỏng luôn đi.

– Có chuyện gì thế?

– Tao ngấy cái giọng lè nhè của mày lắm rồi.

– Thế à? – Soldier đáp.

– Ừ, – Jack nói.

– Anh sẽ còn thấy phát tởm hơn nữa khi Walcott tẩn cho một trận đấy.

– Chắc chắn rồi, – Jack nói, – biết đâu thế thật. Nhưng tao biết chắc là tao ngấy mày lắm rồi đấy.

Thế là ngay sáng hôm đó Soldier bắt tàu về thành phố. Tôi ra ga tiễn hắn. Trông hắn vô cùng hằm hằm tức giận.

– Tao chỉ đùa hắn chút thôi mà, – hắn nói khi đang đứng đợi trên sân ga. – Hắn không thể chơi trò đó với tao được đâu, Jerry ạ.

– Hắn đang căng thẳng và cáu bẳn thôi, – tôi nói. – Soldier này, hắn là một gã tốt tính mà.

– Tốt cái con khỉ. Từ trước tới nay hắn có bao giờ là gã tốt tính đâu.

– Thôi được, – tôi nói, – chào nhé, Soldier.

Tàu đã vào ga. Hắn xách va-li trèo lên toa.

– Chào nhé, Jerry, – hắn nói. – Cậu có ra thành phố trước trận đấu không?

– Chắc là không.

– Thế thì gặp nhau ở trỏng nhé.

Hắn bước vào trong và nhân viên gác xê vung tay ra hiệu cho tàu chạy. Tôi cưỡi xe ngựa quay lại trang trại. Jack đang ngồi ngoài hiên viết thư cho vợ. Thư từ vừa được đưa tới, tôi lấy phần báo chí rồi sang góc bên kia hiên ngồi đọc. Hogan từ trong nhà bước ra tiến về phía tôi.

– Nó vừa cãi nhau to với Soldier à?

– Đâu có cãi nhau to, – tôi nói. – Hắn chỉ bảo thằng bé quay về thành phố thôi.

– Tao biết thừa thế nào cũng có chuyện mà, – Hogan nói. – Nó có ưa gì Soldier từ trước đâu.

– Ừ. Nó chẳng ưa nổi mấy ai.

– Hắn là một kẻ lạnh lùng, – Hogan nói.

– Dù sao thì đối với tôi hắn vẫn luôn rất tử tế.

– Tao cũng thế, – Hogan nói. – Tao chẳng có gì phàn nàn về hắn cả. Chỉ là hắn lạnh lùng quá thôi.

Hogan đẩy cửa lưới bước vào trong nhà còn tôi ngồi trên hiên đọc báo. Tiết trời bắt đầu chuyển sang mùa thu và phong cảnh ở vùng New Jersey này đẹp thật đấy, tít trên những ngọn đồi, và sau khi đọc xong tờ báo, tôi ngồi ngắm cảnh vùng quê cùng con đường bên dưới bám sát theo rặng rừng với những chiếc xe ô tô chạy qua cuộn lên những đám bụi mù. Thời tiết đẹp và phong cảnh quá đỗi nên thơ. Hogan bước ra cửa và tôi cất giọng hỏi: "Này Hogan, ở đây không có gì để bắn giải trí à?"

– Không, – Hogan đáp. – Chỉ có chim sẻ thôi.

– Đọc báo chưa? – tôi hỏi Hogan.

– Có gì trong đó à?

– Sande vừa thắng ba trận hôm qua đấy.

– Tao biết tin đó qua điện thoại tối qua rồi.

– Cậu có hay theo dõi bọn chúng không, Hogan? – tôi hỏi.

– Ồ, tao vẫn cập nhật thường xuyên chứ, – Hogan nói.

– Thế còn Jack thì sao? – tôi hỏi. – Hắn còn chơi cá cược không?

– Hắn á? – Hogan nói. – Mày nghĩ hắn làm nổi chuyện đó chắc?

Đúng lúc đó Jack vòng ra sau nhà trên tay cầm lá thư. Hắn mặc chiếc áo len và chiếc quần dài cũ kỹ cùng giày đấu quyền anh.

– Có tem thư không, Hogan? – hắn hỏi.

– Đưa thư đây, – Hogan nói. – Tao gửi hộ cho.

– Này Jack, – tôi lên tiếng. – Dạo trước chẳng phải anh hay cá cược đua ngựa cơ mà?

– Chắc chắn rồi.

– Tôi biết ngay mà. Tôi nhớ từng thấy anh ngoài Sheepshead cơ mà.

– Sao lại bỏ không chơi nữa thế? – Hogan hỏi.

– Thua sạch tiền chứ sao.

Jack ngồi xuống hiên cạnh tôi. Hắn ngả người dựa vào cột trụ. Đôi mắt nhắm nghiền dưới ánh nắng.

– Có muốn lấy ghế ngồi không? – Hogan hỏi.

– Không, – Jack đáp. – Thế này là tuyệt lắm rồi.

– Ngày đẹp trời thật đấy, – tôi nói. – Cảnh sắc ngoài vùng quê này thích thật.

– Tao thà được ở thành phố với vợ con còn hơn.

– Chà, anh chỉ còn đúng một tuần nữa thôi mà.

– Ừ, – Jack nói. – Đúng thế thật.

Chúng tôi ngồi đó ngoài hiên. Hogan đang ở văn phòng bên trong.

– Cậu nghĩ thể trạng hiện tại của tôi thế nào? – Jack hỏi tôi.

– Ồ, khó nói lắm, – tôi nói. – Anh vẫn còn một tuần để lấy lại phong độ cơ mà.

– Đừng có mà bao biện hộ tao.

– Thôi được, – tôi nói, – anh chưa đạt phong độ tốt nhất đâu.

– Tao chẳng ngủ được tí nào, – Jack nói.

– Vài ngày nữa là ổn thôi.

– Không, – Jack nói, – tao bị chứng mất ngủ rồi.

– Anh đang bận tâm chuyện gì à?

– Tao nhớ vợ.

– Bảo cô ấy ra đây chơi đi.

– Không. Tao già quá cho mấy trò đó rồi.

– Chúng ta sẽ đi bộ một quãng thật dài trước khi đi ngủ để anh mệt nhoài ra xem nào.

– Mệt nhoài á! – Jack nói. – Lúc nào tao cũng mệt mỏi rã rời hết cả người đây này.

Hắn cứ như thế suốt cả tuần lễ. Ban đêm không tài nào chợp mắt nổi và sáng hôm sau thức dậy lại trong cái trạng thái tồi tệ đó đấy, bạn biết đấy, cái cảm giác mà đến việc nắm chặt tay lại cũng không nổi.

– Hắn ủ rũ xìu xơ như chiếc bánh ngọt ở trại tế bần ấy, – Hogan nói. – Chẳng ra cái thể thống gì nữa cả.

– Tôi chưa từng thấy Walcott thi đấu bao giờ, – tôi nói.

– Hắn sẽ bóp nát Jack cho xem, – Hogan nói. – Hắn sẽ xé xác Jack ra làm đôi.

– Thôi nào, – tôi nói, – ai rồi cũng phải đến lúc gục ngã thôi.

– Nhưng không phải theo cách này, – Hogan nói. – Người ta sẽ tưởng hắn chẳng thèm tập tủng gì sất. Làm mất hết cả uy tín của khu tập huấn.

– Cậu có nghe bọn phóng viên nói gì về hắn không?

– Không nghe sao được! Bọn chúng bảo hắn tệ hại hết chỗ nói. Bọn chúng bảo lẽ ra không nên cho hắn thượng đài mới phải.

– Thôi nào, – tôi nói, – tụi nó lúc nào chẳng phán đoán sai bét nhè, phải không nào?

– Đúng vậy, – Hogan nói. – Nhưng lần này thì tụi nó nói chuẩn không cần chỉnh.

– Bọn chúng thì biết cái quái gì về việc một võ sĩ có đang ở phong độ tốt hay không cơ chứ?

– Thôi đi, – Hogan nói, – tụi nó đâu phải lũ ngốc.

– Bọn chúng chỉ giỏi mỗi việc chọn Willard ở Toledo. Lão Lardner này này, dạo này lão ta tỏ ra nguy hiểm lắm, thử hỏi lão về vụ chọn Willard ở Toledo xem.

– Ồ, lão ấy có đến đâu, – Hogan nói. – Lão ấy chỉ viết bài về mấy trận đấu lớn thôi.

– Tôi chẳng quan tâm tụi nó là ai, – tôi nói. – Bọn chúng biết cái quái gì chứ? Tụi nó có thể viết lách đấy, nhưng biết cái quái gì cơ chứ?

– Cậu không nghĩ Jack đang ở phong độ tốt chứ gì? – Hogan hỏi.

– Không. Hắn tiêu đời rồi. Tất cả những gì hắn cần lúc này là để Corbett chọn hắn thắng trận là coi như xong phim.

– Chắc chắn Corbett sẽ chọn hắn rồi, – Hogan nói.

– Chuẩn luôn. Lão ta sẽ chọn hắn.

Đêm đó Jack tiếp tục thức trắng đêm chẳng chợp mắt được chút nào. Sáng hôm sau là ngày cuối cùng trước trận đấu. Sau bữa sáng, chúng tôi lại ra hiên ngồi.

– Anh nghĩ về điều gì, Jack, những lúc không tài nào chợp mắt được? – tôi hỏi.

– Ồ, tao lo lắng chứ, – Jack nói. – Tao lo về khu đất tao mua ở Bronx, lo về khu đất tao sở hữu ở Florida. Tao lo cho mấy đứa nhỏ. Lo cho vợ. Thỉnh thoảng tao nghĩ về các trận đấu. Tao nghĩ về cái thằng Do Thái bẩn thỉu Ted Lewis và thế là tao lại nổi khùng lên. Tao có mua ít cổ phiếu và tao lại lo lắng về chúng. Có cái quái gì mà tao không lo nghĩ cơ chứ?

– Thôi nào, – tôi nói, – ngày mai là mọi chuyện sẽ kết thúc thôi.

– Chắc chắn rồi, – Jack nói. – Lúc nào cũng an ủi chán thế nhỉ? Chắc là nó sẽ giải quyết ổn thỏa mọi thứ luôn phải không? Chuẩn luôn.

Hắn cáu kỉnh suốt cả ngày. Chúng tôi chẳng tập tủng gì cả. Jack chỉ di chuyển đôi chút để thả lỏng cơ thể. Hắn đấm gió vài hiệp. Trông hắn chẳng mấy khá khẩm khi làm việc đó. Hắn nhảy dây một lúc lâu. Hắn chẳng thể tiết ra được giọt mồ hôi nào.

– Tốt nhất là hắn đừng tập tủng gì nữa thì hơn, – Hogan nói. Chúng tôi đang đứng quan sát hắn nhảy dây. – Hắn chẳng thèm đổ giọt mồ hôi nào nữa cơ à?

– Hắn không thể ra mồ hôi nổi.

– Cậu có nghĩ hắn mắc bệnh lao phổi không nhỉ? Hắn chưa từng gặp rắc rối gì trong chuyện ép cân cơ mà?

– Không, hắn chẳng mắc bệnh lao phổi gì đâu. Chỉ là bên trong hắn chẳng còn chút sức sống nào nữa rồi.

– Lẽ ra hắn phải đổ mồ hôi mới đúng chứ, – Hogan nói.

Jack bước tới, vừa nhảy dây vừa tiến lại gần. Hắn nhảy cẫng lên xuống ngay trước mặt chúng tôi, tiến rồi lùi, đan chéo tay ở mỗi nhịp nhảy thứ ba.

– Này, – hắn nói. – Hai tên kền kền đang bàn tán chuyện gì thế?

– Tao nghĩ cậu không nên tập tủng gì nữa đâu, – Hogan nói. – Cậu sẽ bị ì đấy.

– Chẳng lẽ thế thì tệ lắm sao? – Jack nói rồi nhảy tót đi mất dạng dọc sàn nhà, quất dây thừng đánh bôm bốp xuống sàn.

Chiều hôm đó John Collins xuất hiện ở trang trại. Jack đang ở trên phòng. John đi xe ô tô từ thành phố ra. Hắn đi cùng vài người bạn. Xe dừng lại và tất cả bước xuống.

– Jack đâu rồi? – John hỏi tôi.

– Trên phòng đang nằm nghỉ.

– Đang nằm nghỉ á?

– Ừ, – tôi nói.

– Thể trạng thế nào rồi?

Tôi liếc nhìn hai gã đi cùng John.

– Bạn của anh ấy cả mà, – John nói.

– Trông khá tệ đấy, – tôi nói.

– Bị làm sao thế?

– Hắn không ngủ được.

– Chết tiệt, – John nói. – Thằng người Ireland đó có bao giờ chịu ngủ yên giấc đâu.

– Hắn không ổn đâu.

– Chết tiệt, – John nói. – Hắn có bao giờ ổn đâu cơ chứ. Tao quản lý hắn mười năm nay rồi và có bao giờ hắn ra hồn đâu cơ chứ.

Mấy tên đi cùng hắn cười phá lên.

– Tôi muốn cậu bắt tay với ông Morgan và ông Steinfelt, – John nói. – Đây là anh Doyle. Người đang huấn luyện cho Jack.

– Rất vui được gặp các anh, – tôi nói.

– Lên phòng thăm cậu ta đi, – gã tên là Morgan nói.

– Xem mặt mũi thế nào nào, – Steinfelt nói.

Tất cả chúng tôi cùng đi lên lầu.

– Hogan đâu rồi? – John hỏi.

– Ra ngoài barn với vài vị khách chăm sóc sức khỏe rồi, – tôi đáp.

– Lão ta có nhiều khách ở đây không vậy? – John hỏi.

– Chỉ có hai người thôi.

– Yên tĩnh phết nhỉ? – Morgan nói.

– Ừ, – tôi nói. – Khá là yên tĩnh.

Chúng tôi đang đứng ngoài phòng Jack. John gõ cửa. Không có tiếng đáp lại.

– Biết đâu hắn đang ngủ thì sao, – tôi nói.

– Cái quái gì mà giờ này còn ngáy ngủ giữa ban ngày thế này?

John vặn tay nắm cửa và tất cả chúng tôi bước vào. Jack đang nằm ngủ trên giường. Hắn nằm sấp và vùi mặt vào gối. Cả hai tay ôm chầm lấy chiếc gối.

– Này Jack! – John gọi hắn.

Đầu Jack khẽ động đậy trên gối. "Jack!" John gọi lớn. Jack càng vùi sâu đầu hơn vào gối. John chạm tay vào vai hắn. Jack ngồi bật dậy nhìn chúng tôi. Hắn chưa cạo râu và vẫn mặc chiếc áo len cũ kỹ.

– Chúa ơi! Sao tụi mày không để tao ngủ hả? – hắn càu nhàu với John.

– Đừng cáu chứ, – John nói. – Tao có cố ý đánh thức mày đâu.

– Ồ không, – Jack nói. – Dĩ nhiên là không rồi.

– Mày biết Morgan và Steinfelt chứ, – John nói.

– Rất vui được gặp các anh, – Jack nói.

– Cậu thấy thế nào rồi, Jack? – Morgan hỏi.

– Tuyệt vời, – Jack nói. – Tao phải cảm thấy thế nào mới đúng đây?

– Trông cậu phong độ phết đấy chứ, – Steinfelt nói.

– Ừ, tuyệt ghê nhỉ, – Jack nói. – Này, – hắn quay sang John. – Mày là quản lý của tao cơ mà. Mày vơ vét cũng đẫm phí lắm chứ bộ. Sao lúc bọn phóng viên mò đến đây đéo thấy mặt mày đâu hả? Mấy việc đó tụi tao phải tự lo liệu chắc?

– Tao bận quản lý thằng Lew thi đấu ở Philadelphia mà, – John nói.

– Thì liên quan mẹ gì đến tao? – Jack nói. – Mày là quản lý của tao cơ mà. Mày vơ vét đủ rồi còn gì nữa? Mày có kiếm ra xu nào cho tao ở Philadelphia đâu cơ chứ? Sao lúc tao cần mày kè kè ở đây thì đéo thấy đảnh mặt ra hả?

– Hogan ở đây còn gì.

– Hogan á, – Jack nói. – Hogan đần độn chẳng kém gì tao đâu.

– Hồi nãy thấy Soldier Bartlett ở đây tập cùng cậu một thời gian cơ mà, đúng không? – Steinfelt hỏi để chuyển chủ đề.

– Ừ, hắn ở đây, – Jack nói. – Đúng là hắn từng ở đây.

– Này Jerry, – John quay sang tôi. – Cậu ra tìm Hogan bảo là bọn tôi muốn gặp hắn trong khoảng nửa tiếng nữa nhé?

– Được chứ, – tôi nói.

– Việc gì tụi nó phải chuồn đi chỗ khác cơ chứ? – Jack nói. – Ở lại đây đi, Jerry.

Morgan và Steinfelt nhìn nhau.

– Bình tĩnh nào, Jack, – John bảo hắn.

– Tôi đi tìm Hogan đây, – tôi nói.

– Thôi được, nếu cậu muốn đi, – Jack nói. – Dù sao thì chẳng đứa nào trong bọn chúng dám tống cổ cậu đi đâu.

– Tôi đi tìm Hogan đây, – tôi nói.

Hogan đang ở trong phòng tập ở chuồng ngựa. Hắn đang cho hai vị khách đeo găng đấu tập với nhau. Cả hai đều chẳng dám đánh người kia vì sợ đối phương sẽ phản đòn.

– Thôi được rồi, – Hogan nói khi thấy tôi bước vào. – Dừng màn tàn sát lại đi. Hai ông đi tắm hơi đi rồi Bruce sẽ mát-xa lại cho.

Họ chui qua dây đài bước ra và Hogan tiến về phía tôi.

– John Collins dẫn theo vài người bạn đến thăm Jack đấy, – tôi nói.

– Tao thấy họ lái xe tới rồi.

– Hai gã đi cùng John là ai thế?

– Bọn chúng là loại được gọi là dân anh chị sừng sỏ, – Hogan nói. – Mày không biết hai gã đó à?

– Không, – tôi nói.

– Đó là Happy Steinfelt với Lew Morgan chứ ai. Tụi nó mở sòng bạc đấy.

– Tôi đi vắng lâu quá rồi mà, – tôi nói.

– Chuẩn rồi, – Hogan nói. – Cái gã Happy Steinfelt đó là một tay trùm sỏ cỡ bự đấy.

– Tôi có nghe danh hắn rồi, – tôi nói.

– Hắn là một tay cự phách, – Hogan nói. – Cặp bài trùng chuyên lừa đảo.

– Thôi được, – tôi nói. – Bọn họ hẹn gặp chúng ta trong nửa tiếng nữa.

– Ý mày là bọn chúng muốn nửa tiếng nữa mới gặp hả?

– Đúng thế.

– Vào phòng làm việc ngồi đi, – Hogan nói. – Mặc kệ mẹ mấy gã lừa đảo đó đi.

Khoảng ba mươi phút sau, tôi và Hogan đi lên lầu. Chúng tôi gõ cửa phòng Jack. Bên trong đang nói chuyện rôm rả.

– Đợi một phút, – ai đó cất tiếng.

– Cần quái gì phải đợi, – Hogan nói. – Khi nào tụi mày muốn gặp tao thì tao ở dưới văn phòng ấy.

Chúng tôi nghe tiếng mở khóa. Steinfelt mở cửa.

– Vào đi Hogan, – hắn nói. – Tụi mình chuẩn bị làm ly đây.

– Thế mới khá chứ, – Hogan nói.

Chúng tôi bước vào. Jack đang ngồi trên giường. John và Morgan ngồi trên mấy chiếc ghế. Steinfelt đang đứng.

– Bọn mày ra điều bí hiểm gớm nhỉ, – Hogan lên tiếng.

– Chào Danny, – John nói.

– Chào Danny, – Morgan nói rồi bắt tay.

Jack chẳng nói năng gì. Hắn cứ ngồi im thin thít trên giường. Hắn tách biệt hẳn với đám đông. Hắn ngồi độc lập một mình. Hắn mặc chiếc áo len xanh cũ kỹ, quần dài và giày quyền anh. Trông hắn có vẻ rất cần cạo râu. Steinfelt và Morgan ăn bận vô cùng bảnh bao. John cũng là một tay diện đồ không kém. Jack ngồi đó trông vừa ra chất Ireland vừa bặm trợn.

Steinfelt lôi ra một chai rượu còn Hogan mang vào vài chiếc ly và thế là ai nấy đều cạn ly. Tôi với Jack uống một ly còn bọn kia làm liền tù tì hai ba ly.

– Nhớ chừa lại ít mà uống lúc về nhé, – Hogan nói.

– Đừng có lo. Tụi tao đầy đủ cả, – Morgan nói.

Jack không uống thêm giọt nào kể từ ly đầu tiên. Hắn đứng dậy nhìn bọn chúng. Morgan đang ngồi trên chiếc giường lúc nãy Jack ngồi.

– Làm ly đi Jack, – John nói và chìa ly cùng chai rượu về phía hắn.

– Không, – Jack nói, – tao chưa bao giờ thích tham gia mấy đám tang thế này cả.

Tất cả cùng cười phá lên. Riêng Jack thì không.

Bọn chúng đều đang hưng phấn tột độ khi rời đi. Jack đứng ngoài hiên nhìn theo khi chúng lên xe. Bọn chúng giơ tay vẫy chào hắn.

– Chào nhé, – Jack nói.

Chúng tôi ăn tối. Jack chẳng nói năng gì suốt bữa ăn ngoại trừ mấy câu "Đưa hộ tôi cái này" hay "Chuyền hộ tôi cái kia". Hai vị khách chăm sóc sức khỏe ăn chung bàn với chúng tôi. Họ là những gã rất lịch sự. Ăn xong chúng tôi ra hiên ngồi hóng mát. Trời sập tối rất nhanh.

– Muốn đi dạo một vòng không, Jerry? – Jack hỏi.

– Đi chứ, – tôi nói.

Chúng tôi mặc áo khoác vào rồi xuất phát. Phải đi một đoạn khá xa mới ra được đường lớn rồi chúng tôi cứ thế đi dọc đường lớn khoảng một dặm rưỡi. Xe cộ cứ phóng vút qua và chúng tôi phải nép sát vào lề đường chờ chúng đi qua hết. Jack không nói gì cả. Sau khi bước tránh vào bụi cây để nhường đường cho một chiếc xe hơi lớn phóng qua, Jack cất giọng: "Đi bộ cái quái gì nữa. Quay về nhà Hogan thôi."

Chúng tôi rẽ vào một con đường nhỏ cắt ngang qua sườn đồi băng qua các cánh đồng để về lại nhà Hogan. Chúng tôi có thể nhìn thấy ánh đèn từ ngôi nhà hắt lên trên đồi. Chúng tôi đi vòng ra phía trước nhà và thấy Hogan đang đứng ngay cửa.

– Đi dạo thích chứ? – Hogan hỏi.

– Ồ, tuyệt cú mèo, – Jack đáp. – Này Hogan. Cậu có chút rượu nào không?

– Có chứ, – Hogan nói. – Có ý đồ gì à?

– Mang lên phòng đi, – Jack nói. – Đêm nay tao quyết ngủ một giấc cho đã đời.

– Tùy cậu thôi, – Hogan nói.

– Lên phòng đi, Jerry, – Jack nói.

Trên lầu, Jack ngồi xuống giường, hai tay ôm ghì lấy đầu.

– Cuộc đời đúng là khốn nạn thật, phải không mày? – Jack nói.

Hogan mang lên một lít rượu và hai chiếc ly.

– Có muốn dùng thêm nước gừng không?

– Mày nghĩ tao muốn làm gì, tự chuốc họa vào thân à?

– Tao hỏi thế thôi mà, – Hogan nói.

– Làm ly chứ? – Jack hỏi.

– Thôi, cảm ơn, – Hogan đáp. Rồi hắn đi ra ngoài.

– Còn cậu thì sao, Jerry?

– Tôi làm một ly với anh, – tôi nói.

Jack rót ra hai ly. "Nào," hắn nói, "tao muốn uống từ tốn thôi."

– Cho thêm ít nước vào đi, – tôi nói.

– Ừ, – Jack nói. – Tao đoán thế sẽ ngon hơn.

Chúng tôi uống liền mấy ly mà chẳng nói câu nào. Jack với tay định rót thêm cho tôi.

– Thôi, – tôi nói, – thế là đủ rồi.

– Tùy cậu, – Jack nói. Hắn tự rót cho mình một ly đầy ụ rồi chế thêm nước vào. Hắn bắt đầu hưng phấn lên đôi chút.

– Chiều nay có đám khách khứa thượng hạng đến ghé thăm đấy, – hắn nói. – Bọn chúng chẳng bao giờ chịu mạo hiểm tẹo nào đâu, hai gã đó ấy.

Rồi một lúc sau, hắn nói: "Thôi thì, tụi nó khôn đấy chứ. Mạo hiểm để làm cái quái gì cơ chứ?"

– Cậu không làm ly nữa à, Jerry? – hắn nói. – Nào, uống cùng tao đi.

– Tôi không cần đâu, Jack, – tôi nói. – Tôi vẫn thấy bình thường.

– Làm ly nữa đi, – Jack nài nỉ. Hắn đang mềm mỏng dần.

– Được rồi, – tôi nói.

Jack rót cho tôi một ly và tự rót thêm một ly chà bá nữa cho mình.

– Cậu biết không, – hắn nói, – tao khoái rượu chè phết đấy. Nếu không theo nghiệp quyền anh thì có lẽ tao đã nốc khá nhiều rồi đấy.

– Chắc rồi, – tôi nói.

– Cậu biết đấy, – hắn nói, – tao bỏ lỡ nhiều thứ lắm khi theo nghiệp quyền anh.

– Anh kiếm được khối tiền cơ mà.

– Chuẩn luôn, tao theo đuổi cái đó mà. Cậu biết đấy tao bỏ lỡ nhiều thứ lắm, Jerry ạ.

– Ý anh là gì?

– Thì, – hắn nói, – kiểu như chuyện vợ con ấy. Rồi cảnh vắng nhà biền biệt. Chẳng tốt đẹp gì cho mấy đứa con gái của tao cả. 'Bố tụi mày là ai thế?' mấy đứa nhóc nhà giàu kia sẽ hỏi chúng nó. 'Bố tao là Jack Brennan.' Chẳng hay ho gì cái danh đó cả.

– Xời, – tôi nói, – tất cả những gì tạo nên sự khác biệt chỉ là việc chúng có tiền hay không thôi.

– Thôi được, – Jack nói, – tao kiếm đủ tiền cho tụi nó rồi còn gì.

Hắn lại rót thêm một ly nữa. Chai rượu đã vơi gần hết.

– Cho thêm ít nước vào đi, – tôi nói. Jack chế thêm ít nước.

– Cậu biết không, – hắn nói, – cậu chẳng thể tưởng tượng nổi tao nhớ vợ thế nào đâu.

– Chắc chắn rồi.

– Cậu chẳng thể tưởng tượng nổi đâu. Cậu không thể hình dung nổi cảm giác đó thế nào đâu.

– Ở vùng quê này chắc chắn phải dễ chịu hơn ở thành phố chứ.

– Riêng với tao lúc này, – Jack nói, – ở đâu cũng thế thôi. Cậu không tài nào hiểu nổi cảm giác đó đâu.

– Làm ly nữa đi.

– Tao say quắc mắt rồi à? Tao nói năng luyên thuyên lắm hả?

– Cậu vẫn bình thường mà.

– Cậu không thể hiểu nổi cảm giác đó đâu. Chẳng có ai tưởng tượng nổi nó thế nào đâu.

– Ngoại trừ vợ anh, – tôi nói.

– Cô ấy hiểu chứ, – Jack nói. – Cô ấy hiểu rõ chứ lị. Cô ấy hiểu. Cậu cứ tin là cô ấy hiểu đi.

– Chế thêm nước vào đi, – tôi nói.

– Jerry à, – Jack nói, – cậu không thể hình dung nổi nó khủng khiếp thế nào đâu.

Hắn đã say mèm. Hắn đăm đăm nhìn thẳng vào tôi. Ánh mắt có vẻ đờ đẫn quá mức.

– Cậu sẽ ngủ ngon thôi, – tôi nói.

– Nghe này, Jerry, – Jack nói. – Cậu muốn kiếm tiền không? Đặt cược tiền vào cửa Walcott đi.

– Thế á?

– Nghe này, Jerry, – Jack đặt ly xuống. – Tao không say đâu, hiểu chưa? Cậu biết tao đặt cược bao nhiêu vào hắn không? Năm mươi ngàn.

– Số tiền lớn phết đấy.

– Năm mươi ngàn, – Jack nói, – tỉ lệ hai ăn một. Tao sẽ kiếm được hai mươi lăm ngàn đô la. Đặt tiền vào hắn đi, Jerry.

– Nghe hấp dẫn phết nhỉ, – tôi nói.

– Tao đánh bại hắn kiểu gì cơ chứ? – Jack nói. – Có gian lận gì đâu nào. Sao tao thắng được cơ chứ? Sao không tranh thủ kiếm tiền từ vụ này cơ chứ?

– Chế thêm nước vào đi, – tôi nói.

– Tao giải nghệ sau trận này, – Jack nói. – Tao xong đời với nó rồi. Tao buộc phải chịu thua trận này. Sao tao lại không kiếm tiền từ nó chứ?

– Chuẩn rồi.

– Tao thức trắng cả tuần nay rồi, – Jack nói. – Cả đêm tao trằn trọc lo lắng muốn rớt cả ruột gan. Tao không ngủ được, Jerry ạ. Cậu chẳng thể tưởng tượng nổi cảm giác mất ngủ nó hành hạ ra sao đâu.

– Khổ thân thật.

– Cậu không thể hình dung nổi cảm giác đó đâu, Jerry, khi mà cậu không thể nào chợp mắt được.

– Cho thêm nước vào đi, – tôi nói.

Thế rồi, tầm mười một giờ đêm thì Jack lăn quay ra ngất lịm và tôi xốc hắn lên giường. Cuối cùng thì hắn cũng chịu chợp mắt. Tôi giúp hắn cởi quần áo và đưa lên giường.

– Cậu sẽ ngủ ngon thôi, Jack, – tôi nói.

– Chắc chắn rồi, – Jack nói, – giờ thì tao ngủ được rồi.

– Chúc ngủ ngon, Jack, – tôi nói.

– Chúc ngủ ngon, Jerry, – Jack nói. – Cậu là người bạn duy nhất tao có.

– Xời, – tôi nói.

– Cậu là người bạn duy nhất tao có, – Jack lặp lại, – người bạn duy nhất tao có.

– Ngủ đi thôi, – tôi nói.

– Tao ngủ đây, – Jack nói.

Dưới nhà, Hogan đang ngồi bên bàn làm việc đọc báo. Hắn ngước lên. "Thế nào, lo cho bạn hiền ngủ ngon rồi chứ?" hắn hỏi.

– Hắn ngủ li bì rồi.

– Thế còn hơn là thức trắng đêm, – Hogan nói.

– Chuẩn rồi.

– Mày mà giải thích mấy chuyện đó cho đám nhà báo thể thao thì tha hồ mà mệt xác, – Hogan nói.

– Thôi, tôi đi ngủ đây, – tôi nói.

– Chúc ngủ ngon, – Hogan nói.

Sáng hôm sau tôi xuống lầu tầm tám giờ và gọi chút bữa sáng. Hogan đang cho hai vị khách tập thể dục ngoài chuồng ngựa. Tôi bước ra đứng quan sát.

– Một! Hai! Ba! Bốn! – Hogan hô nhịp cho họ. – Chào Jerry, – hắn nói. – Jack dậy chưa thế?

– Chưa. Hắn vẫn đang ngủ.

Tôi quay về phòng thu dọn hành lý để về thành phố. Tầm chín giờ rưỡi tôi nghe thấy tiếng Jack lục đục dậy ở phòng bên cạnh. Khi nghe thấy hắn đi xuống lầu, tôi cũng lẽo đẽo bước theo. Jack đang ngồi bên bàn ăn. Hogan đã vào và đang đứng cạnh bàn.

– Cậu thấy thế nào rồi, Jack? – tôi hỏi hắn.

– Cũng tạm ổn.

– Ngủ ngon chứ? – Hogan hỏi.

– Tao ngủ được phết, – Jack nói. – Lưỡi hơi cứng tí nhưng đầu óc thì tỉnh táo.

– Tốt, – Hogan nói. – Loại rượu đó ngon phết đấy.

– Cứ ghi vào hóa đơn đi, – Jack nói.

– Mấy giờ cậu muốn ra thành phố? – Hogan hỏi.

– Trước bữa trưa, – Jack nói. – Chuyến tàu mười một giờ.

– Ngồi xuống đi, Jerry, – Jack nói. Hogan bước ra ngoài.

Tôi ngồi xuống bàn. Jack đang ăn bưởi. Cứ nhặt được hạt nào là hắn nhả thẳng vào thìa rồi hất lên đĩa.

– Chắc tối qua tao say quắc mắt rồi nhỉ, – hắn mở lời.

– Cậu có nốc vài ly.

– Chắc tao lỡ nói đống chuyện ngu ngốc lắm.

– Cậu vẫn bình thường mà.

– Hogan đâu rồi? – hắn hỏi. Đã ăn xong đĩa bưởi.

– Đang ở ngoài văn phòng phía trước ấy.

– Hồi nãy tao lỡ nói gì về chuyện cá cược trận đấu nhỉ? – Jack hỏi. Hắn đang cầm thìa chọc chọc vào quả bưởi.

Cô hầu bàn bước vào mang theo món trứng với thịt xông khói và dọn đĩa bưởi đi.

– Mang cho tao thêm ly sữa nữa, – Jack bảo cô ta. Cô ta liền đi ra.

– Cậu bảo cậu đặt cược năm mươi ngàn vào Walcott, – tôi nói.

– Chuẩn rồi, – Jack nói.

– Số tiền lớn phết đấy.

– Tao thấy không ổn lắm đâu.

– Biết đâu có chuyện gì xảy ra thì sao.

– Không, – Jack nói. – Hắn khát khao chiếc đai vô địch lắm rồi. Bọn chúng sẽ yểm trợ hắn tới bến cho mà xem.

– Ai mà đoán trước được.

– Không. Hắn thèm khát chiếc đai vô địch lắm. Nó đáng giá khối tiền đối với hắn đấy.

– Năm mươi ngàn là số tiền lớn đấy, – tôi nói.

– Đó là làm ăn kinh doanh, – Jack nói. – Tao không thể thắng nổi. Cậu thừa biết kiểu gì tao cũng thua mà.

– Cứ bước lên sàn là cậu còn có cơ hội.

– Không, – Jack nói. – Tao xong đời thật rồi. Chỉ là chuyện làm ăn kinh doanh thôi mà.

– Cậu thấy thế nào rồi?

– Khá khẩm hơn rồi, – Jack nói. – Giấc ngủ chính là thứ tao đang cần.

– Biết đâu cậu lại thi đấu xuất thần thì sao.

– Tao sẽ cống hiến cho họ một trận đấu mãn nhãn, – Jack nói.

Ăn sáng xong, Jack gọi điện đường dài cho vợ. Hắn gọi từ trong bốt điện thoại.

– Đó là lần đầu tiên hắn gọi cho vợ kể từ khi lên đây đấy, – Hogan nói.

– Hắn viết thư cho cô ấy mỗi ngày cơ mà.

– Chuẩn, – Hogan nói, – viết thư thì chỉ tốn hai xu.

Hogan chào tạm biệt chúng tôi và Bruce, gã trợ lý mát-xa da đen, lái xe ngựa đưa chúng tôi ra ga.

– Chào ngài Brennan, – Bruce nói khi ra đến ga, – em rất hy vọng ngài sẽ đấm cho nó nhừ tử.

– Chào nhé, – Jack nói. Hắn dúi cho Bruce hai đô-la. Bruce đã đấm bóp phục vụ hắn rất nhiều. Trông gã có vẻ hơi thất vọng. Jack thấy tôi đang nhìn Bruce cầm hai đồng đô-la.

– Tính tất cả vào hóa đơn rồi, – hắn nói. – Hogan tính tiền đấm bóp tao rồi còn gì.

Trên chuyến tàu về thành phố, Jack chẳng nói câu nào. Hắn ngồi ở góc ghế, kẹp vé trên vành mũ và đăm đăm nhìn ra ngoài cửa sổ. Có lúc hắn quay sang nói với tôi.

– Tao bảo vợ là tối nay tao sẽ thuê một phòng ở khách sạn Shelby, – hắn nói. – Nó nằm ngay sát góc đường Đấu trường [Garden]. Sáng mai tao có thể tạt về nhà.

– Ý kiến hay đấy, – tôi nói. – Vợ anh chưa từng đi xem anh thi đấu bao giờ à, Jack?

– Chưa, – Jack nói. – Cô ấy chưa từng thấy tao thượng đài bao giờ.

Tôi thầm nghĩ chắc chắn hắn đang mường tượng ra viễn cảnh sẽ ăn đòn nhừ tử nên mới không muốn về nhà ngay sau trận đấu. Về đến thành phố, chúng tôi bắt taxi đến khách sạn Shelby. Một cậu bồi phòng ra xách va-li và chúng tôi tiến vào quầy lễ tân.

– Phòng giá bao nhiêu vậy? – Jack hỏi.

– Chúng tôi chỉ còn phòng đôi thôi, – nhân viên lễ tân nói. – Tôi có thể xếp cho anh một phòng đôi đẹp giá mười đô-la.

– Đắt quá.

– Tôi có thể xếp phòng đôi giá bảy đô-la.

– Có phòng tắm riêng chứ?

– Dĩ nhiên rồi.

– Thôi cậu ở chung phòng với tôi cho đỡ phí, Jerry, – Jack nói.

– Ồ, – tôi nói, – tôi về ngủ nhờ nhà anh rể tôi cũng được.

– Ý tao không phải bắt cậu trả tiền, – Jack nói. – Tao chỉ muốn xài cho bõ đồng tiền bát gạo thôi.

– Xin vui lòng ký tên vào đây ạ, – nhân viên lễ tân nói. Hắn nhìn lướt qua mấy cái tên. – Phòng 238, thưa ông Brennan.

Chúng tôi đi thang máy lên lầu. Đó là một căn phòng rộng rãi, khang trang với hai chiếc giường đơn và một cánh cửa mở thông sang phòng tắm.

– Phòng này được phết nhỉ, – Jack nói.

Cậu bồi phòng kéo rèm cửa lên và xách va-li vào. Jack chẳng thèm nhúc nhích gì nên tôi bo cho cậu ta hai mươi lăm xu. Chúng tôi rửa mặt qua loa và Jack bảo hay là ra ngoài kiếm gì ăn lót dạ.

Chúng tôi ăn trưa tại quán của Jimmey Handley. Khá đông các võ sĩ tụ tập ở đó. Khi chúng tôi ăn được nửa bữa thì John bước vào ngồi cùng bàn. Jack chẳng nói mấy.

– Cân nặng ổn chứ, Jack? – John hỏi hắn. Jack đang ngấu nghiến suất ăn khá thị soạn.

– Mặc nguyên quần áo lên cân cũng được, – Jack nói. Hắn chưa bao giờ phải lo lắng về chuyện ép cân cả. Hắn vốn dĩ là võ sĩ hạng bán trung [welterweight] tự nhiên và chưa bao giờ bị béo phì cả. Hắn thậm chí còn sụt cân lúc ở chỗ Hogan.

– Thôi được, đó là thứ duy nhất cậu không bao giờ phải bận tâm, – John nói.

– Đúng thế thật, – Jack nói.

Sau bữa trưa, chúng tôi vòng ra đấu trường để kiểm tra cân nặng. Trận đấu được ấn định ở mức một trăm bốn mươi bảy pa-ao vào lúc ba giờ. Jack bước lên cân, người quấn chiếc khăn tắm. Cây đòn cân không nhúc nhích. Walcott vừa cân xong và đang đứng xung quanh là đám đông vây kín.

– Xem cậu nặng bao nhiêu nào, Jack, – Freedman, quản lý của Walcott lên tiếng.

– Được rồi, cân đi, – Jack hất hàm về phía Walcott.

– Cởi khăn tắm ra đi, – Freedman nói.

– Cậu thấy thế nào? – Jack hỏi mấy gã đang đứng cân.

– Một trăm bốn mươi ba pa-ao, – gã đàn ông béo làm nhiệm vụ cân đáp.

– Phong độ của cậu tốt chán, Jack, – Freedman nói.

– Cân hắn đi, – Jack nói.

Walcott bước tới. Hắn là một gã tóc vàng với bờ vai rộng và đôi tay to bè như võ sĩ hạng nặng. Đôi chân hắn hơi ngắn. Jack đứng cao hơn hắn chừng nửa cái đầu.

– Chào Jack, – hắn nói. Giao diện chằng chịt vết thương tích.

– Chào, – Jack nói. – Cậu thấy thế nào?

– Tốt, – Walcott đáp. Hắn cởi chiếc khăn tắm quấn quanh hông rồi bước lên cân. Hắn sở hữu bờ vai và tấm lưng rộng nhất mà bạn từng thấy trong đời.

– Một trăm bốn mươi sáu pa-ao mười hai ô-xơ.

Walcott bước xuống và cười toe toét nhìn Jack.

– Này, – John nói với hắn, – Jack nhường cậu khoảng bốn pa-ao đấy.

– Lúc thượng đài còn hơn thế nữa cơ, nhóc ạ, – Walcott nói. – Giờ tôi đi ăn đây.

Chúng tôi quay về và Jack thay đồ. – Trông hắn bặm trợn phết đấy, – Jack nói với tôi.

– Trông cứ như thể ăn đòn không biết bao nhiêu lần rồi ấy.

– Ồ, đúng thế, – Jack nói. – Hắn đâu có khó đánh trúng.

– Cậu định đi đâu thế? – John hỏi khi Jack thay xong đồ.

– Về khách sạn, – Jack nói. – Mọi việc lo liệu xong xuôi hết cả chưa?

– Rồi, – John nói. – Xong xuôi hết rồi.

– Tao nằm nghỉ chốc lát đã, – Jack nói.

– Tớ vòng lại đón cậu tầm bảy giờ kém mười lăm rồi chúng ta đi ăn nhé.

– Được thôi.

Về đến khách sạn, Jack cởi giày và áo khoác ra rồi nằm nghỉ một lát. Tôi ngồi viết thư. Thi thoảng tôi liếc nhìn sang và thấy Jack không hề chợp mắt. Hắn nằm im bất động nhưng chốc chốc đôi mắt lại mở trân trân. Cuối cùng hắn ngồi bật dậy.

– Làm ván bài cào cribbage không, Jerry? – hắn nói.

– Chơi chứ, – tôi đáp.

Hắn đến chỗ va-li lấy ra bộ bài và bảng tính điểm cào cribbage. Chúng tôi chơi và hắn thắng của tôi ba đô-la. John gõ cửa bước vào.

– Làm ván bài cào không, John? – Jack hỏi hắn.

John đặt chiếc mũ phớt lên bàn. Nó ướt sũng nước. Áo khoác của hắn cũng ướt nhẹp.

– Trời vẫn mưa à? – Jack hỏi.

– Mưa như trút nước, – John nói. – Taxi tao đi bị kẹt cứng giữa đường nên tao đành xuống đi bộ.

– Nào, làm ván bài cào đi, – Jack nói.

– Cậu nên đi ăn đi chứ.

– Không, – Jack nói. – Tao chưa muốn ăn vội.

Thế là họ đánh bài cào khoảng nửa tiếng và Jack thắng của hắn một đô-la rưỡi.

– Thôi được, chắc chúng ta phải đi ăn thôi, – Jack nói. Hắn bước ra cửa sổ nhìn ngó ra ngoài.

– Trời còn mưa không?

– Còn.

– Hay ăn ngay trong khách sạn đi, – John đề nghị.

– Được thôi, – Jack nói, – tao đấu với mày ván cuối xem ai phải trả tiền bữa ăn nhé.

Chốc lát sau Jack đứng dậy bảo: "Cậu bao bữa này nhé, John," rồi chúng tôi cùng xuống lầu ăn tối ở phòng ăn lớn.

Ăn xong chúng tôi lên phòng và Jack lại chơi bài cào với John và thắng tiếp hai đô-la rưỡi nữa. Jack đang cảm thấy khá hưng phấn. John mang theo một chiếc túi đựng đầy đồ đạc của hắn. Jack cởi áo sơ mi và cổ áo ra, mặc chiếc áo len chui đầu vào để không bị nhiễm lạnh khi ra ngoài, đồng thời xếp bộ đồ thi đấu cùng áo choàng tắm vào túi.

– Cậu sẵn sàng chưa? – John hỏi. – Để tao gọi xe taxi nhé.

Chẳng mấy chốc chuông điện thoại reo và họ báo xe taxi đã đợi sẵn.

Chúng tôi xuống thang máy, đi qua sảnh, lên xe taxi vòng ra Đấu trường. Trời mưa tầm tã nhưng bên ngoài đường rất đông người qua lại. Đấu trường đã bán sạch vé. Khi chúng tôi bước vào trên đường đến phòng thay đồ, tôi nhận ra bên trong đông nghịt khách thế nào. Trông khoảng cách đến sàn đấu xa đến nửa dặm. Tất cả đều tối mịt. Chỉ có những ngọn đèn chiếu rọi thẳng xuống sàn đấu.

– May mà trời mưa thế này chứ không họ lại tổ chức trận đấu ngoài sân vận động thì chết, – John nói.

– Khán giả đông đúc phết đấy chứ, – Jack nói.

– Trận này chắc chắn thu hút lượng khán giả vượt xa sức chứa của Đấu trường.

– Thời tiết thì ai mà đoán trước được, – Jack nói.

John bước đến cửa phòng thay đồ và thò đầu vào. Jack đang ngồi đó mặc áo choàng tắm, khoanh tay trước ngực và đăm đăm nhìn xuống sàn nhà. John đi cùng vài trợ lý. Họ nhìn qua vai hắn. Jack ngước lên.

– Hắn vào trong chưa? – hắn hỏi.

– Vừa mới xuống xong, – John đáp.

Chúng tôi bắt đầu đi xuống. Walcott vừa bước lên sàn đấu. Đám đông hò reo vang dội cổ vũ hắn. Hắn chui qua dây đài, chụm hai nắm đấm vào nhau mỉm cười rồi giơ lên ra hiệu với khán giả, bên này rồi bên kia sàn đấu, rồi ngồi xuống. Jack cũng nhận được tràng pháo tay cổ vũ nồng nhiệt khi bước qua đám đông. Jack mang dòng máu Ireland và người Ireland lúc nào cũng nhận được sự cổ vũ khá nồng nhiệt. Một võ sĩ người Ireland không hút khách ở New York như người Do Thái hay người Ý nhưng họ luôn nhận được sự ủng hộ nhiệt tình. Jack trèo lên, khom người chui qua dây đài và Walcott từ góc đài bước sang giữ dây cho Jack chui qua. Khán giả thấy thế liền trầm trồ thán phục. Walcott đặt tay lên vai Jack và cả hai đứng đó trong giây lát.

– Thế là mày sắp trở thành một trong những nhà vô địch được ái mộ rồi đấy nhỉ, – Jack nói với hắn. – Bỏ cái tay thối tha của mày ra khỏi vai tao mau.

– Bớt làm hàng đi, – Walcott nói.

Mấy màn này quá tuyệt vời đối với khán giả. Mấy cậu nhóc mới lịch thiệp làm sao trước trận đấu! Họ chúc nhau may mắn nồng nhiệt biết bao!

Solly Freedman bước sang góc đài của chúng tôi trong lúc Jack đang quấn băng tay còn John đang đứng ở góc đài của Walcott. Jack luồn ngón cái qua khe hở trên dải băng rồi quấn tay thật phẳng phiu, êm ái. Tôi dán băng dính quanh cổ tay hắn và quấn chéo qua các khớp ngón tay hai lần.

– Này, – Freedman lên tiếng. – Kiếm đâu ra lắm băng dính thế hả?

– Sờ vào mà xem, – Jack nói. – Mềm mại cả chứ bộ? Đừng có mà tỏ ra nhà quê thế chứ.

Freedman đứng chết trân ở đó trong suốt thời gian Jack quấn bên tay còn lại, và một trong những trợ lý mang găng tay đến, tôi xỏ vào tay hắn rồi bóp bóp xung quanh.

– Này Freedman, – Jack hỏi, – Walcott này mang quốc tịch gì thế?

– Tao chịu, – Solly đáp. – Hắn là người Đan Mạch nào đấy.

– Hắn là người Bohemia, – gã mang găng tay đính chính.

Trọng tài gọi họ ra giữa sàn đấu và Jack bước ra. Walcott mỉm cười tiến đến. Họ chạm mặt nhau và trọng tài đặt tay lên vai mỗi người.

– Chào thần tượng của công chúng, – Jack nói với Walcott.

– Bớt làm hàng đi.

– Mày tự nhận mình là 'Walcott' làm cái quái gì cơ chứ? – Jack nói. – Không biết hắn là người da đen à?

– Nghe này—— – trọng tài can thiệp, rồi đọc bài diễn văn quen thuộc như mọi khi. Có lúc Walcott ngắt lời ông. Hắn tóm lấy tay Jack rồi hỏi: "Tôi có thể ra đòn khi hắn giữ tôi thế này không?"

– Bỏ tay ra khỏi người tao mau, – Jack nói. – Chẳng có máy quay phim nào quay lại cảnh này đâu.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 5 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.