NGUYỄN HỮU-CHỈNH, từ khi vào kinh hộ-vệ, sống một mẩu đời « ông chúa » đầy oai quyền.
« Đường trời mở rộng thênh thênh,
Ta đây cũng một Triều-đình, kém ai ? »
Người ta cho hai câu đó là của Cống Chỉnh « trả lời » Bắc-bình vương sau khi bị bỏ ở Bắc.
Cuộc nội tranh của nhà Tây-sơn hé một kẽ hở cho Chỉnh ngấp nghé đất Nghệ.
Sứ bộ Bắc-hà, gồm có Trần Công-Sán 178 Ngô Nho 179 và hoàng-thân Lê Duy-Hiên 180, mạo hiểm vô Nam « đòi » Nghệ-an (đinh-mùi, 1787).
Khi sứ bộ đi, Chỉnh tiễn Công-Sán, ngũ một đêm ở chùa Thịnh-liệt (Sét).
Công-Sán bảo Hữu-Chỉnh : « Nguyễn-Huệ là người sâu hiểm và tráo trở, rất khó lường. Đi chuyến này, tôi dù cố nói cũng chưa chắc ông ta chịu nghe đâu. Nhưng tôi xin gắng tranh biện ráo riết, dù chết cũng cam. Sau khi tôi đi, ngài nên để ý càn hơn, chứ đừng coi thường. Những miền giáp núi ở vùng Thanh-hóa nên chia quân đóng đồn để át bộ binh, và các nơi cửa bể ở mạn Sơn-nam, nên đóng cọc cắm rào để chặn quân thủy bên địch. Nếu họ bội ước đến đánh thì ta đã có sẵn sàng để chế-trị rồi. Như vậy không đến nỗi lầm khi có việc, bấy giờ mới cuống quít, vội vàng ».
Chỉnh đáp : « Xin cứ đi, đừng lo ngại. Từ-lệnh của tiên-sinh nói ai mà chẳng chuyển ? Bằng việc chẳng xong thì cái ngón trị quân-lữ của tiểu-sinh đây tưởng chưa mấy kẻ đã ăn đứt. Muôn một có biến thì tiểu-sinh há lại không làm được một phen sấm vang, chớp bủa, biển lệch non nghiêng cho hả dư ? Nguyễn-Huệ dẫu kiệt-hiệt đến đâu cũng chưa dễ đã giở được thủ đoạn gì. Tiên-sinh chẳng cần phải căn dặn kỹ quá ».
Khi Sán đến huyện Quỳnh-lưu (Nghệ-an), Vũ văn-Nhậm bên Tây-sơn sai đồn tướng kiểm sát các phẩm vật của sứ bộ, chỉ cho đi 3 vị sứ thần 18 người hành giới ; còn vàng, đoạn, lụa, vải này khác đều bắt đem trở về cả.
Tại Vĩnh-doanh 181, Nhậm đặt tiệc thết sứ-bộ, rồi bảo Công-Sán : « Văn võ ở ngoài Bắc-hà có mấy người được như lão ông ? Lê Tự-quân giao nước cho loạn thần, Chỉnh chẳng hay ý nghĩ thế nào ? Bản chức cầm binh-phù, vác gươm ra Thăng-long, sẽ chém đầu Chỉnh, và hỏi Lê Tự-quân cớ sao lại bội đức, dung nạp kẻ loạn thần ? Rồi bảo rõ cho thân sĩ Bắc-hà biết cái bản ý phải dùng binh là thế. Tự-quân không giữ nổi quốc gia, thì đến cả Thanh-hóa trở ra Bắc, nếu ta không lấy chung quy cũng đến lọt vào họ khác mất thôi ! Nghệ-an là ấp cỏn-con, có cắt hay không, cũng chẳng quan hệ gì đến đại cục còn, mất. Các ông từ xa đến kêu xin chẳng qua chỉ chác lấy cái khổ lặn lội. Chỉ e chim đã lìa tổ, khi bay về, không còn cành nào để đậu nữa ! »
Ngô Nho cả sợ, bàn với Công-Sán : đổi quốc-thư đòi đất Nghệ-an làm bức thư cầu Tây-sơn cho vua Lê được tập phong : song Sán không nghe. 182
Khi đến Phú-xuân, sứ-bộ Bắc-hà vào yết-kiến Bắc-bình vương và dâng trình « quốc thư » một cách trịnh-trọng.
Với vẻ ghẻ lạnh, vương cầm xem lá thư của vua Lê Chiêu-thống do Chỉnh nấp sau xui làm. Đại ý :
« Nghệ-an, đất căn-bản trong đời Trung-hưng của bản triều, liền nối với Thanh-hóa như chân với tay. Tại đó nảy được nhiều tay văn võ. Cũng tại đó, lựa chọn và rèn luyện được quân túc vệ. Nếu dùng người, bỏ đất, để đến nỗi họ hàng phải chia lìa, quê hương phải xa cách thì thật không hợp với lòng người.
« Quí quốc vương 183 vốn giàu lòng tin thực, trọng tình mục lân 184. Suy bụng ta ra bụng người, dẫn việc nhỏ nhặt đến đâu cũng còn soi xét biết được, huống chi việc này rõ-rệt sờ sờ là thế.
« Lại nghĩ : Hồi mới ra Bắc, Quí quốc vẫn lấy việc « tôn phù » làm nghĩa cốt-nhất. Tiên-đế (chỉ vua Lê Hiển-tông), khi còn, đã từng mời Quí vương ngồi chơi ở sập, cầm tay nói chuyện ân cần. Tiếng ngọc hãy còn văng vẳng bên tai, đã quên sao được ? Kịp khi dựa ghế trối-trăn, Tiên đế áy náy chỉ lo quả-nhân trẻ người non dạ nên muốn nương tựa Quí quốc để nhờ chút phúc.
« Gần nay, nghe thấy Quí quốc sai tướng ra giữ Nghệ-an, nhiều người trong nước đem lòng ngờ vực. Có lẽ là do biên-thần gây sự, chứ không phải thật ra tự ý Quí vương.
« Quí quốc vin cớ mùa thu năm ngoái (bính-ngọ, 1786), tệ quốc muốn cắt đất khao quân, nên nay Quí quốc mới làm ra sự thật.
« Quả-nhân mới lên trị vì, không rõ nguyên-nhân ngày trước ra sao. Vậy đã sai đình-thần xét lại bản ước nhường đất, thì thấy chỉ là hai châu Bố-chính 185 và Ma-linh 186 thôi, chứ không dính dáng đến bờ cõi xứ Nghệ. Khi đó, Quí vương đã dạy : Đất đai, nếu của nhà Lê thì một tấc cũng không lấy,
« Nhưng, khao quân bằng đất sao bằng khao bằng tiền ? Vậy xin tính theo số đất, xem tổng số mỗi năm thu được bao nhiêu, bèn dùng làm lễ khao-lạo, rồi hằng năm cứ dâng nộp Quí quốc, giữ thành lệ lâu dài.
« Xin Đại-vương lượng xét, khiến cho tình nghĩa hai nước được vẹn tuyền… »
Bắc bình vương xem sơ một lượt, cả giận, ném thư xuống đất, quát ầm : « Đứa nào làm cái thư này thế ? Nói ròng những lời vô nghĩa, vô lý ! Có phải tự mưu thằng Chỉnh không ? Hắn là một tên cùng đinh lạc phách, nhờ ta tô mày vẽ mặt mới được ra người. Chừ (giờ) hắn bay nhảy ở Bắc-hà, hiệu lệnh một nước, nghiễm nhiên làm như chúa Trịnh xưa. Nay hắn lại dám chống nghịch cùng ta, muốn tranh lấy cả xứ Nghệ, không giết thằng này, còn trị đặng ai nữa ? Hắn chỉ quen múa mép lừa người ! Ta có phải là con nít đâu mà các ngươi chực phỉnh gạt đặng ? »
Công-Sán không biến nét mặt, ung-dung thưa : « Xin Đại-vương chớ vội nóng. Để tôi nói cạn một lời, rồi muốn giết tôi, tôi xin chịu chết ».
Bắc-bình vương nhớ lại, khi ở Thăng-long, vào yết-kiến vua Lê Hiển-tông, được nhà vua cho quần thần theo thứ tự đến ra mặt. Vương đã lấy làm lạ trước những cử chỉ ung-dung và tự-nhiên của Công-Sán. Lúc bấy giờ, Vương luôn hỏi Công-Sán về việc Bắc-hà : hễ hỏi đến đâu thì Sán tùy liệu mà đối-đáp đến đó bằng những giọng rào đón biện-luận, không hề chịu khuất chút nào.
Vốn trọng Công-Sán từ đó, nên nay Bắc-bình vương mới đấu dịu : « Xưa ta vượt biển ra Bắc : phá Thăng-long, diệt họ Trịnh, cả trào suốt nước, ai cũng sởn ốc, bó tay, có dám làm chi ta đặng. Khi đó nếu ta chiếm lấy cả nước, xưng đế, xưng vương, muốn chi chẳng được ? Song ta chỉ kính mến ân đức Tiên-đế, (chỉ vua Lê Hiển), nên mới trao lại hết cả bờ-cõi cho nhà Lê. Bản đồ nhất thống chính ta tái-tạo cho đó. Trào-đình nhà Lê hòng báo đáp ta bằng cái danh-hiệu hão : tước thượng-công « Thượng-công » là cái chi ? Được cái thượng-công, ta có hơn gì ? »
Vương cứ tiếp : « Rồi đến Tiên-đế (chỉ vua Lê Hiển) thăng hà, ta phải lo-liệu cho lễ ninh-lăng ; Tự-vương (chỉ vua Chiêu-Thống) nối ngôi, ta lại phải thu-xếp cho việc sách lập. Nay nhà Lê đã không biết đền ơn, trả nghĩa, lại còn thu dùng tên loạn thần (chỉ Cống-Chỉnh) hằn học, tranh giành, chực đòi lấy đất xứ Nghệ ! Các người làm vậy, có ai nhịn đặng không ? Ta đã phái hai vạn binh mã ra tuột Thăng-long để lấy đầu cha con thằng Chỉnh đó ! Thấy quân ta kéo tới, có lẽ Chỉnh đã bức bách Tự-tôn (Chiêu-thống) rồi. Trong chỗ tên bay, đạn lạc, ngọc đá xô-bồ, chẳng hay Tự-tôn có hề chi không. Người nước chẳng rõ, không khéo lại oán giận ta đấy ».
Với vẻ trấn-tĩnh, lý sự và khẳng-khải, Công-Sán phản đối lại từng khoản một : « Xưa, vua Thái-tổ đánh đuổi giặc Ngô, khôi phục nước cũ : công đức to như núi, cao như giời. Truyền đến Thánh-tông : giời Nam một dải, tô điểm thái bình, làm rạng công-nghiệp thủa trước, mở rộng đường lối cho đời sau. Từ Thạch-bi 187 lên Bắc, Đại-lĩnh 188 về Nam, thần dân một nước ai cũng một dạ yêu mến tôn kính ».
Sau đó hơn trăm năm, họ Mạc tiếm nghịch, người nước thảy đều đau lòng. Tiên vương (chỉ Nguyễn Kim) bèn liên hiệp đồng chí, lập lại nhà Lê, Về sau, họ Trịnh nổi lên, cũng lót miệng bằng tiếng phù Lê, nên mới hiệu-lệnh được bốn phương, khiến cho ai cũng hưởng ứng :
« Vài đời sau dẫu bị họ Trịnh hiếp đáp, song chính sóc vẫn chính-sóc Lê, non sông vẫn non sông cũ.
« Đại vương (chỉ Bắc-bình vương) một phen lên ngựa đến thẳng kinh-thành. Đó dẫu bởi Ngài có danh lớn, oai to, nhưng cũng vì Ngài vin vào nghĩa cả tôn phù, nên lòng người mới chịu tin phục. Bằng chẳng, bước chân vào đất nước người, sao được dễ thế ?
« Đức Tiên-đế tiếp đãi Đại-vương, lễ mạo rất long-trọng : trước phong công, sau phong vương, đó là điển-lễ vốn có của bản triều. Đền bồi như thế, không phải hậu. Xin Đại vương đừng coi rẻ.
« Một nước cũ hơn ba trăm năm đã được Trời tựa, người mến, Đại-vương lấy rồi trả lại đất-đai, chính là làm một việc thuận ý Trời, theo lòng người, chứ sao lại kể là ơn đức được ?
« Khi Tiên-đế sắp băng, Tự-hoàn lên trị vì, mọi việc đều bẩm bạch trước. Vậy Đại-vương không chủ trương, còn ai vào đấy ? Đã đến bước không sao dừng được thì cũng là lý thế tất phải như thế. Quả tôi không dám bợ đỡ nói khen Đại-vương đâu ».
Vẫn giọng trôi chảy và mạnh dạn ấy Công-Sán cãi lý : « Hồi đại quân về Nam, Nguyễn-hữu-Chỉnh đi theo, được Đại vương để cho ở lại Nghệ-an, sao gọi là phản loạn được ? Nghệ-an vốn là đất cũ của bản triều, sao gọi là tranh-giành được ? Đại vương phái binh mã ra Bắc để tiện thỉnh-an, thì bản triều vẫn có điển-lễ đón tiếp. Nếu không, người xưa đã nói : nước lớn có quân chinh-phạt, thì nước nhỏ cũng có cách chống giữ. Tôi đã ra khỏi bờ cõi, sự đó không dám biết đến. Tự-hoàng nước tôi đã có chân-mệnh đế-vương thì tên đạn tưởng cũng phải kiêng nể. Xin Đại vương đừng lo.
« Đại vương làm theo chiều thuận : cứu lúc nguy, giúp khúc gấp, phù-tá cho nhà Lê, thì thần dân trong nước ai chẳng kính mến ? Công-đức còn chẳng dám quên, dám đâu oán giận ? Nếu không thế, thì cuộc đời xoay chuyển, công việc đổi thay, rồi sau sẽ ra thế nào, ý chúng tôi thật không thể đoán trước được ».
Uốn lưỡi hùng biện, Công-Sán hết sức chống cãi, đón trước rào sau, không chịu lún một lời nào.
Bấy giờ đã gần tối, Bắc-bình vương bảo Sán : « Vậy thì ông hãy cứ vô quán khách nghỉ-ngơi, để ta nghĩ kỹ ba lần, rồi sẽ liệu định ».
Níu được câu ấy của vương, Công-Sán liền đáp : « Nghĩ một lần cũng đã đủ chán ; nghĩ đến ba lần, e lại lẫn chăng. Tôi đây xin liều một chết cho rồi ».
Vương cả giận, truyền nhốt Công-Sán vô khám.
Còn hai viên phó-sứ, Hiên và Nho, cũng chịu chung một số phận như chánh-sứ Công-Sán, song mỗi người bị giam một nơi.
Bề ngoài tuy ra oai nộ nạt, nhưng trong lòng vốn trọng Công-Sán là người trung trực, dũng cảm, vương vẫn muốn thu dùng, nên sau khi truyền giam Công-Sán, Ngài luôn cho người dò xét động tĩnh của viên chánh-sứ ấy.
Một câu đối của Công-Sán đề ở nhà giam đã tỏ được lòng son sắt, chí khảng-khái làm tiêu biểu cho sĩ-phu Bắc-hà :
達德有三, 縱未能之, 願學
小心無二, 行其素也何尤 ?
« Đạt đức hữu tam, túng vị năng chi, nguyện học ?
Tiểu tâm vô nhị, hành kỳ tố dã hà vưu ? »
Dịch :
Ba đức được tôn, dẫu chưa hay, xin thử học ?
Một lòng không đổi, cứ để mộc, dám trách ai ?
Tư-mã Ngô Văn-Sở xin giết Công-Sán, song vương còn ngần ngừ vì tiếc Sán là người có tài, muốn giữ lại để trọng dụng.
Sán đương nằm thừ trong cùm, nhưng vẻ mặt vẫn trấn tĩnh, tự nhiên, bỗng thấy trung-thư Trần văn Kỷ và lễ bộ Vũ Văn-Trụ vâng mật lệnh của vương đến thuyết Công-Sán. Họ nói khích : « Cụ ơi, sao cụ tự làm khổ mình thế ? »
Sán nghiêm-nghị : « Thôi, thế nào cũng là số-mệnh cả ».
Họ nói : « Đã là người quân-tử, tự mình phải liệu cơ xoay-xở, chứ sao lại chịu bó tay phó mặc số-mệnh ? Ví như đánh xóc-đĩa, có chẵn, có lẻ ; ta phải nghe chiều mà đánh « mặt dền », mới là tay « lỗi lạc ».
Sán đáp : « Thế là mánh lới con bạc, chứ không phải là đạo người quân tử. Sán này nghe người xưa có nói : « Làm tôi phải chết vì trung ».
Biết không thể dỗ nổi, Kỳ và Trụ trở ra, nói với nhau : « Trần Côn-Sán nhà Lê khác nào Tô Tử-Khanh nhà Hán : đáng ghét mà cũng đáng thương ! »
Nhà Tây-sơn bấy giờ đương có nội biến, Bắc-bình vương sợ sứ-bộ nhà Lê ở lâu, tai vách, mạch rừng, biết rõ nội tình, ngộ họ bày kế phản gián, gây chuyện rối ren thì cũng đáng ngại. Nếu thả cho về, họ sẽ làm lộ công chuyện đàng trong, chẳng cũng mang tiếng với đàng ngoài ? Chi bằng đưa họ ra biển, rồi liệu bài tính đi là hơn hết.
Cuối Xuân đinh-mùi (1787), Bắc-bình vương căn dặn sứ-bộ nhà Lê với vẻ niềm nở : « Các ông hãy cứ về trước đợi khi ra Bắc, ta sẽ liệu khu-xử việc này… Trăm lạng bạc đây là đồ lễ của Công-chúa (Ngọc-Hân) gửi tặng, xin chớ từ-chối ».
Vũ Văn-Nguyệt. đô-đốc Tây-sơn, dương buồm vài chiếc thuyền biển, bắt đầu vào hồi tháng ba, đi từ cửa biển Tư-dung 189 « tiễn đưa » sứ bộ về Bắc…
Đi được mươi ngày, thuyền đến cửa biển Đan-nhai thuộc Nghệ-an bỗng dưng cả đoàn sứ-bộ nhà Lê-Công-Sán và 20 người tùy tùng chìm lỉm xuống lòng biển.
Đã làm tròn phận sự ngầm đục thuyền, giết sứ-bộ rồi, Nguyệt quay chiếc thuyền giả đò sống sót vào bờ, nhưng không quên nói phao những lời đã soạn thành bài sẵn : « Sứ bộ đi biển, gặp bão, không may chết đuối mất cả ! »
Bấy giờ Cống-Chỉnh mới phục lời Công-Sán nói từ-giã Chỉnh khi cầm cờ tiết đi sứ : « Minh-công nên lưu tâm đến việc nước. Tôi chỉ có đi chớ không có về ! »