KHI Việt, Thanh đã giảng hòa, tổng-đốc Lưỡng Quảng Phúc-Khang-An có đưa thư bảo vua Quang-trung rằng mỗi khi thay triều đổi họ, nhà nào bên Nam cũng cống người vàng để làm tạ lễ, thì nay Tây-sơn cũng nên sắm người vàng để đưa sang Thanh.
Nói đến lệ cống người vàng 463, ta nên xét kỹ lịch sử nó đã. Có rõ những nỗi khó khăn, trọng đại của việc này, bấy giờ mới biết cái công phá được lệ cống người vàng là vĩ-đại.
Nguyên xưa, Lê Lợi giận nhà Minh tàn ngược, nổi lên từ Lam-sơn. Ròng rã ngót mười năm trường (1418-1427) mới đuổi được giặc Minh về nước. Trong khi tấn công giặc Minh ấy, đại-tướng Lê Nhân-Chú bắt sống được An-viễn hầu Liễu-thăng ở Chi-lăng (thuộc Ôn-châu trấn Lạng-sơn) ngày 18 tháng 9 năm đinh mùi (1427). Rồi viên tướng Minh ấy phải đem thân đền trả cái nợ tàn khốc vô-nhân-đạo của đồng bào họ đã ngược đãi người Nam.
Tuy đã dẹp yên giặc Minh, nhưng nhân dân còn mang một vết thương rất nặng vì bao năm tranh chiến. Muốn chữa cho họ mau lành, vua Lê Thái-tổ (1428-1433) có làm mấy việc quyền-nghi trong lúc điều-đình ngoại giao, không nghe quốc-dân xui-giục về việc thẳng tay giết hết giặc Minh cho hả lòng bấy nay căm hận, nên khi đã ký hòa nghị rồi, ngài tha cho bọn quan, lại, quân, dân nhà Minh được về đến hơn 86.000 người, lại cấp cho bọn Vương Thông, tướng Minh, hơn 500 chiếc thuyền và vài ngàn cỗ ngựa để toàn hoạt về nước. Đó đúng như trong bài Bình ngô đại cáo đã nói : « Ta muốn cho được tuyền quân là hơn, và mong cho dân được yên nghỉ » (dịch). Vì ý ngài đã nghĩ như vậy, nên phàm các việc trang trải với người Minh, ngài phải buộc lòng làm theo quyền biến cho được việc một lúc. Chính ngài chẳng những tạm bợ trong việc lập Trần Cao, người giả danh là dòng dõi họ Trần, để cho mau êm chuyện ngoại hoạn, mà ngài lại còn phải quyền nghi làm việc cống người vàng cho khỏi kéo dài mãi nạn can qua.
Nguyên từ năm bính ngọ, niên hiệu Bình-định vương thứ 9 (1426) vua Lê chiến đấu với giặc Minh đã ngót mười năm ròng rã rồi, lòng ngài bấy giờ chỉ mong sao mau đuổi quân Ngô ra khỏi bờ cõi nước nhà sớm được ngày nào thì nhân dân sớm thoát cái nạn lầm than ngày ấy.
Đến tháng 11 năm đó (bính-ngọ, 1426), Vương Thông nhà Minh sau khi trải qua bao trận thất bại, có ý giảng hòa, rút quân kéo về, nhưng không vin vào danh nghĩa gì để bãi binh được. Thông dựa ngay vào lời chiếu ở đầu niên hiệu Vĩnh-lạc (1403-1424) bảo tìm lập con cháu họ Trần, bèn ngầm khuyên dỗ vua Lê làm việc ấy. Bất đắc dĩ ngài phải dằn lòng ưng thuận.
Trước đó, có Hồ-ông trốn ở nhà Cầm-Quý, thổ quan, ở Ngọc-ma (nay là phủ Trấn-định thuộc tỉnh Nghệ-an) mạo xưng là cháu ba đời vua Trần Nghệ-tông (1370-1372), vua Lê bèn sai đón lập Hồ-ông làm Trần-chúa, đổi tên là Trần Cao, kỷ nguyên là Thiên-khánh. Còn ngài thì xưng là Vệ-quốc công.
Sau khi được lập làm vị, Cao « ngự » ở núi Không-lộ (thuộc huyện Thạch-thất, phủ Quốc-oai, tỉnh Sơn-tây) dưới quyền giám-chế của Lê-quốc-Hưng do vua Lê sai phái. 464
Ngay hồi ấy, vua Lê đã thay Trần Cao, đưa tờ biểu sang nhà Minh xin phong cho Cao, nhưng nhà Minh cứ làm lơ, không nói sao cả. Qua năm đinh mùi, niên hiệu Bình định vương thứ 10 (1427), vua Lê lại sai sử-bộ Lê Thiếu-Dĩnh 465 đem biểu văn 466 đi với nhân viên do Vương Thông cắt cử cùng sang Yên kinh để giao thiệp về việc cầu phong này.
Kèm với biểu văn ấy có những phương vật này :
- 1 pho người vàng thế thân (trong Cương mục quyển 14. Tờ 24 chép là hai pho tượng người vàng thế thân).
- 1 cái lư hương bằng bạc
- 1 cái lọ bạc để cắm hoa
- 300 tấm lụa tiến (thổ quyên)
- 11 đôi ngà voi
- 20 bình đựng thứ hương ướp áo
- 30.000 nén hương vòng
- 24 khối trầm thơm 467
Sau, Lê mất, nhà Mạc (1527-1593) sợ Minh hỏi tội, có đúc người vàng sang cống để làm của lót. Vả, vì muốn « hối lộ » thật nhiều cho Minh họ Mạc chắc phải đúc người vàng to hơn và nặng hơn thuở nhà Lê trước.
Năm bính-thân, niên hiệu Quang-hưng thứ mười chín (1596) vua Lê Thế-tông (1573-1599) bấy giờ tuy đã khôi phục Thăng-long 468 nhưng còn bị người Minh vặn vẹo là không phải thực dòng dõi họ Lê, nên ngài phải thân lên ải Nam-quan để cùng người Minh dự việc hội khám.
Người Minh trùng trình không đến họp, yêu sách người vàng (Cương mục quyển 30, tờ 15).
Rồi vua Lê phải sai lũ Đỗ-Uông đem hai pho người vàng, người bạc và cống phẩm lên Lạng-sơn để chầu chực đưa cống, song lại bị người Minh thoái thác bằng lời văn hoa giả dối (Cương-mục quyển 30 tờ 18b-19b).
Qua năm Quang-hưng thứ 20 (1597) lại sai Phùng-khắc-Khoan 469 đi giao thiệp với người Minh về việc cầu phong. Cũng nhờ Phùng là người có tài ngoại giao, nên mới nói êm được việc người Minh hạch sách người vàng lớn, nhỏ, nặng, nhẹ.
Về việc này, trong truyện Phùng Khắc-Khoan ở loại Nhân vật chí sách Lịch-triều hiến chương có chép :
« …Đinh-dậu, năm thứ 20, (ông) vâng mạng đi sứ. Bấy giờ người Minh ăn của lót của mầm độc họ Mạc, không chịu dung nạp ông, Khắc-Khoan chầu chực, có đưa thư lên xoai-ty, hết sức nói họ Mạc là kẻ cướp ngôi, tội trạng đã rành rành. Nay con cháu nhà Lê gõ cửa quan, chờ mạng lịnh. Nếu Thiên-trào phò Mạc nén Lê thì là về hùa với kẻ gian, làm hại người ngay, sao tỏ nghĩa lớn với thiên hạ giữ danh giáo cho muôn đời được nữa ! Người Minh khen, để cho ông vào trong cửa ải. Ông bèn được trẩy tới kinh đô (nhà Minh).
« Khi đã tới Yên-kinh, Lễ-bộ-đường có trách ông về việc người vàng thế thân không làm đúng y mẫu cũ, họ bèn bắt ông ngừng lại chứ không để cho vào chầu, Khắc-Khoan cãi : Họ Mạc cướp lấn thì danh là nghịch, nhà Lê khôi phục thì danh là thuận. Họ Mạc được theo hình thức làm người vàng thế thân đã là hưởng ơn may mắn lắm rồi. Đến như họ Lê đời đời làm cống thần thì hình dáng người vàng đã có mẫu sẵn ở đó. Nay nếu vin lấn họ Mặc làm lệ thì sao nêu rõ được cái nghĩa răn dữ, khuyên lành ?
« Lời trạng của ông được thấu đến vua Minh, vua Minh rồi cũng thuận theo cái hình thức của Tiền Lê ». 470 (dịch)
Năm mậu-tuất, niên hiệu Vĩnh-thịnh thứ mười bốn (1718) đời vua Lê Dụ-tông (1705-1728), Binh-hộ hữu-thị-lang Nguyễn-công Hãng làm chánh sứ, sang Thanh, cầu phong cho vua Dụ-tông (Cương-mục quyển 35, tờ 21b-22b).
Về việc này, trong truyện Nguyễn công-Hãng 471 ở Tang thương ngẫu lục, quyển trên tờ 10b-11b có chép :
« …Trước kia, Thái-tổ hoàng-đế đánh người Minh ở núi Mã-yên (thuộc Ôn-châu, Lạng-sơn) chém được tướng Minh An-viễn hầu Liễu-thăng. Kịp khi nộp cống khoản, người Minh trách móc bắt đền, phải đúc người vàng để thay thế nó…
« …Họ Mạc cướp ngôi, người Minh sai Cửu-Loan, Mao Bá-Ôn sang đánh, Mạc sợ lấy người vàng đút lót xin hòa.
« Hồi mới Trung-hưng nhà Minh vặn hỏi về việc tự tiện giết chết cống thần của Minh là Mạc Mậu-Hợp, (nhà Lê) lại phải dùng người vàng để tạ.
« Nhân thế, thành lệ thường cho các triều đại. Ông (Nguyễn Hãng) xin bỏ đi. Bộ-viện (nhà Minh) lại đem việc cũ ấy ra hỏi. Ông nói : « Liễu thăng là tướng nhà Minh kia. Còn nhà Thanh ta rộng có muôn nước. thế mà lại bo-bo đòi của lót để báo thù cho người xưa thì lấy gì khuyên được người ta đến với mình ?… » (dịch)
Thế rồi bắt đầu từ Nguyễn Hãng, lệ cống người vàng và lệ cống nước rửa ngọc-trai 472 mới ngừng lại được.
Sau khi xét lại lịch-sử, ta nhận thấy việc cống người vàng là bắt đầu từ đời vua Lê Thái tổ, qua Mạc đến Lê Trung-hưng. Tựu trung ở đời Lê Dụ-tông tuy nhờ tài ngoại giao Nguyễn Hãng mà ta tạm thoát được cái « nợ Liễu thăng » trong một lúc 473 ; nhưng cái nợ này vẫn còn truyền tử nhược tôn mãi, nên bên ta mỗi một triều đại nào lên, cũng vẫn phải « trả nợ đây » vì yếu thế, lép vế !
Khác hẳn các triều xưa, vua Quang trung đối với Mãn-thanh, trước đã chiến thắng về quân sự, sau lại chiến thắng về ngoại giao, không khi nào chịu cong lưng gánh cái nợ vô lý và bất công ấy.
Ngài đưa thư phản kháng Phúc Khang-an khi viên này lên tiếng yêu sách về việc bắt cống người vàng.
Nguyên văn bức thư ấy là một kiện ngoại giao rất quí, trích lục ra dưới đây :
。。。昔陳莫歷代以得罪於中國,獻代身金人,本國國長起自布衣,乘時集事,與黎王本無有君臣之分。其去留在天數,向背在人心,非有意於黎之國如篡奪者比。
且前者孫部堂提兵而來,本國國長不得已而應之,從無侵犯邊境以得罪於上國。
今承概按陳黎莫貢金人之例,是本國國長明正得國反儕於偽莫之科,而一念恭順出於畏天事大之誠反與陳擒鳥馬兒,黎殺柳昇同律。本國國長於情有屈,不能無望於鈞衡也。
夫古者諸候朝見天子:或朝于方岳。或覲于京師,能來者自來。不能親下(者)遣其子弟入侍, 貴在奉琛執贄, 上來之情通。
至於金人替形入朝,唐虞三代以及漢唐宋未嘗有是。
大人宣佈教聲,亦惟以隆古治朝之良法美意令諸下國,元明二代之所爲,事不師古,何足效也。
伏望追繳鈞命,免鑄獻金人之事。
Dịch âm :
« …Tích Trần, Mạc lịch đại dĩ đắc tội ư Trung-quốc, hiến đại thân kim nhân. Bản quốc Quốc-trưởng khởi tự bố y, thừa thì tập sự, dữ Lê-vương bản vô hữu quân thần chi phận. Kỳ khứ tựu tại thiên số, hướng hội tại nhân tâm, phí hữu ý ư Lê chi quốc như soán đoạt giả tỉ.
« Thả, tiền giả, Tôn bộ đường (Tôn sĩ-Nghị) đề binh nhi lai bản quốc, Quốc-trưởng bất đắc dĩ nhi ứng chỉ, tòng vô xâm phạm biên cảnh dĩ đắc tội ư Thượng-quốc.
« Kim thừa khai án Trần, Lê, Mạc cống kim nhân chi lệ, thị bản quốc Quốc-trưởng minh chính đắc quốc, phản sài ư Ngụy Mạc chi khoa, nhi nhất niệm cung thuận ư ủy thiên sự đại chi thành, phản dữ Trần cầm Ô Mã-Nhi, Lê sát Liễu Thăng đồng luật, bản quốc Quốc-trưởng ư tình hữu khuất, bất năng vô vọng ư quân hành dã.
« Phù cổ giả chư hầu triều kiến thiên-tử : hoặc triều vu phương nhạc, hoặc cận vu kinh sư. Hữu năng lai giả tự lại bất năng thân lai (giả) khiển kỳ tử đệ nhập thị, qui tại phụng thám, chấp chí, thưởng hạ chi tình thông.
« Chí ư kim nhân thế hình nhập triều : Đường, Ngu, Tam-đại dĩ cập Hán, Đường, Tống vị thường hữu thị !
« Đại nhân (Phúc Khang-An) tuyên bố giáo thanh, diệc duy dĩ long cổ trị triều chi lương pháp mỹ ý lịnh chư hạ quốc. Nguyên, Minh nhị đại chi sở vi, sự bất sư cổ, hà túc hiệu dã ?
« Phục vọng truy hiệu quân mệnh, miễn chủ hiến kim nhân chi sự… » 474
Dịch nghĩa :
« …Xưa, các đời Trần, Mạc vì có tội với Trung quốc phải dâng người vàng để thế hình.
« Quốc-trưởng nước tôi từ bước là một người áo vải, nhân thời thế, vùng lên làm việc, đối với Lê vương vốn không có cái vai lứa ai là vua ai là tôi chi cả. Còn hay mất, là ở số trời ; theo hay là bỏ là ở lòng người. Quốc trưởng nước tôi có ý lấy nước của Lê đâu mà sánh với kẻ giành cướp được ?
« Vả trước đây, Tổng-đốc họ Tôn (Sĩ-Nghị) đem binh lính đến ; Quốc-trưởng nước tôi bất đắc dĩ phải ứng phó lại chứ không hề xâm phạm bờ cõi để có tội với Thượng quốc.
« Nay thấy ngài (Phúc Khang-An) theo lệ Trần, Lê, Mạc cũ mà bắt cống người vàng, thế thì Quốc trưởng nước tôi được nước một cách quang minh chính đại, té ra lại phải liệt vào hàng tiếm ngụy như nhà Mạc, mà chút lòng cung thuận ra từ tấc thành sợ Trời, thờ nước lớn lại phải chịu chung một luật như nhà Trần bắt Ô Mã-Nhi, nhà Lê giết Liễu Thăng ư ?
« Thế thì kể về tình, Quốc-trưởng nước tôi có điều bị ức, không thể không trông ở ngài cân nhắc cho vậy.
« Này, xưa kia, chư hầu triều kiến thiên-tử, hoặc chực ở phương-nhạc, hoặc chầu ở kinh sư. Ai đi được thì tự mình đến, ai không thân đi được thì sai con em vào hầu, chỉ cốt dâng ngọc thám, tỏ đồ tin, để cho cái tình trên dưới được thông suốt.
« Đến như bắt lấy người vàng thế hình vào chầu thì suốt từ Đường, Ngu, Tam đại (Hạ, Thương, Chu) đến Hán, Đường và Tống đều chưa làm thế bao giờ.
« Ngài đã rao truyền tiếng tâm giáo hóa của thượng-quốc cũng nên đem phép hay, ý tốt của triều đại thịnh-trị đời xưa mà sai bảo mọi nước dưới, chứ bắt chước làm gì việc làm của Nguyên, Minh không học theo cổ ấy ?
« Mong ngài soi xét, miễn cho sự đúc dâng người vàng… »
Bức thư phản kháng ấy quả có công hiệu, Vua Thanh phải nhượng bộ, rồi tỏ cái ý (bắt chẳng được, tha làm phúc) trong câu thơ này tặng Giả vương 475 do vua Quang-trung phái sang Thanh năm canh-tuất (1790) :
勝朝往事鄙金人 « Thắng triều vãng sự bỉ kim nhân ».
Dịch nghĩa : Nhà Thanh đây cho việc triều trước (thăng triều : triều đã bại) bắt cống người vàng là đáng khinh-bỉ !
Thế là vua Quang-trung đã làm được một việc ngoại giao thắng lợi cũng như về quân sự, đã hoàn toàn thắng lợi ở xuân-kỷ dậu (1789)