CHỈNH nói với Nguyễn Huệ : « Việc binh, cốt quí ở thần tốc. Tướng-quân mới đánh một trận đã lấy được Thuận-hóa, oai thần võ ấy làm cho mảnh đất Bắc-hà đã phải rung động ! Tình thế dễ-dàng như thẳng dao chẻ tre. Tướng-quân nên thừa thắng, cứ đánh dấn đi, thì lấy thiên-hạ chắc dễ như trở bàn tay. Vả, hành binh có ba điều : thời, thế và cơ. Nếu gặp dịp có đủ ba điều ấy thì đi đâu chẳng nắm được phần thắng ? Ngoài Bắc bây giờ : tướng biếng nhác, quân kiêu rông, triều-đình không có kỷ cương. Ta nhân dịp đại thắng này, kéo quân ra diệt kẻ loạn vong, có khó gì ? Xin tướng-quân đừng bỏ qua cơ, thời và thế ».
Huệ trầm ngâm : « Bắc-hà nhân tài còn nhiều. Coi khinh thế nào đặng ? »
Chỉnh đáp : « Nhân tài ngoài Bắc chỉ có một Chỉnh này thôi. Chỉnh đã đi rồi, thì nước rỗng không ! Xin tướng-quân đừng ngờ ».
Huệ cười : « Chẳng đáng ngờ người nào khác, có chăng chỉ đáng ngờ ông ! »
Chỉnh thất sắc, xin lỗi : « Ý tôi muốn nói quá đi như thế : Chỉnh đã là một tên ngu đần hèn mọn, vậy mà ngoài Bắc không ai hơn Chỉnh ; đủ biết trong nước vô tài đến thế là cùng ! »
Huệ lại ngọt ngào yên ủi : « Chốc lát đi dứt cái nước đã vài trăm năm kia (chỉ nhà Lê) người ta sẽ cho quân mình vin vào danh-nghĩa gì ?
Chỉnh quả quyết : « Nay, Bắc-hà đã có vua, lại có chúa ; thật là việc đại biến xưa nay chưa từng có. Họ Trịnh tiếng rằng phụ chính, nhưng kỳ thực hiếp đáp vua Lê ! Người trong nước, từ lâu, vẫn cho thế là quấy. Sở dĩ họ không dám cựa lên, chẳng qua vì sức không nổi. Tướng-quân nên hay vin vào danh-nghĩa phò Lê, diệt Trịnh mà hiệu triệu thiên-hạ thì ai người chẳng hưởng-ứng ? Nghìn năm mới có hội này ».
Huệ ngần ngại : « Ông nói phải lắm ! Song le mang tiếng là kiểu mạng thì sao ? » 99
Chỉnh giải thích : « Trong Xuân-thu truyện có nói : Kiểu là chuyện nhỏ, nhưng lập được công là việc lớn. Thế là có công, sao gọi là « kiểu » được ? Huống chi ngài không nghe nói ư : « Ông tướng cầm quân ở ngoài dù có mệnh-lệnh nhà vua truyền ra cũng mặc ? »
Bốn chữ« phò Lê, diệt Trịnh » này là một chương trình, một phương lược xoay lại thời-cuộc hồi cuối Lê Trung-hưng.
Nguyễn Huệ, sau khi được Chỉnh thúc đẩy, tức thì sắp đặt công việc Bắc-tiến : Chỉnh làm thủy quân tiên phong, sửa soạn chiến thuyền, đem thủy quân vượt biển đi trước. Huệ hẹn với Chỉnh : Khi đến Vị-hoàng (nay là Nam-định) thì chiếm lấy kho lương đó, rồi đốt lửa làm hiệu để báo tin cho Huệ biết.
Để Nguyễn Lữ đóng giữ Thuận-hóa, « đức Lệnh » 100 Nguyễn Huệ viết thư về Qui-nhơn báo cho « vua Giời » 101 Nguyễn Nhạc biết, rồi gươm sai, cờ lệnh Huệ đốc suất hai đạo quân thủy lục ầm-ầm rầm rộ kéo ra…
Chỉnh đem quân đi trước ra cửa Việt-hải 102, rồi vào bến Nghệ-an. Đến đâu cũng sai vài trăm du-binh lên bộ đánh phá ở đó, làm cho quân thanh thêm mạnh, chiến khí thêm hăng và khiến dân tình bên Trịnh càng thêm xao xuyến, khiếp sợ.
Trấn tướng ở Nghệ-an là bọn Bùi Thế-Tụy 103 bỏ thành chạy trốn sau khi đốt cháy quân doanh.
Trấn thủ Thanh-hóa là Thùy-trung hầu Tạ Danh-Thủy cũng bỏ chạy.
Chỉnh đến Vị-hoàng trước, lấy trăm vạn hộc thóc 104, dùng làm quân lương (ngày mồng 6, tháng 6 năm bính-ngọ, 1786).
Đồn-binh bên Trịnh đóng ở đấy cũng theo mấy tướng Thanh, Nghệ, chạy trốn nốt !
Trong khi thống suất một nghìn chiến thuyền, vượt biển ra Bắc, Nguyễn Huệ xa xa thấy lửa hiệu bốc lên từ khoảng sông Vị, non Côi, biết quân Chỉnh đã thâu được thắng lợi.
Cưỡi gió đông-nam, đại đội chiến thuyền cứ vùn vụt tiến…
Đến Nghệ, Nguyễn Huệ đặt Nguyễn Như-Thái làm trấn thủ Nghệ-an, rồi kéo quân ra Vị-hoàng, họp binh với Chỉnh : thanh thế càng thêm mạnh lắm.
Trước đó, « vấn đề Phú-xuân » là một việc rất quan trọng trong chương-trình nghị-sự của « chính phủ » 105 Bắc-hà.
Trong đám phủ liêu 106 nhiều người đề nghị : « Thuận-hóa xa-xôi vốn không phải là bờ cõi của Triều-đình, Tiên-triều vì không suy kỹ, nghĩ sâu, nên mới, nay đi chinh-phạt, mai đặt thú-binh (quân đóng canh giữ), rút cục chỉ hao công, tốn của, chẳng được ích gì ! Bây giờ, địch lấy mất Thuận-hóa cũng là một cái may cho ta, vì ta khỏi phải đặt thú-binh cho thêm nhọc nữa. Thiết tưởng nay ta chỉ nên định rõ cương-giới cũ, rồi cắt quân đóng giữ từ Nghệ-an ra Bắc là hơn. Vì Thanh-hóa có lăng-tẩm cần phải giữ và ở đó có địa-hiểm có thể giữ vững được. Ta cho mất Thuận-hóa là may, khi họ chắc cũng lấy sự xâm-lấn ta làm gương răn lại. Vả, « Quân mọi phản nghịch » khi ăn được miếng ấy đã no-nê rồi, nó đâu dám đột-nhiên xông ra nữa ? »
Luận-điệu ấy được cả Triều-đình tán đồng.
Từ đó, ai nấy yên tâm không nghĩ đến Tây-sơn nữa. Nay bỗng được tin Tây-sơn đã hạ Thanh-hóa, Nghệ-an, suốt cả đô-thành Thăng-long thảy đều kinh hoàng thất sắc !
Để đối phó với tình hình gắt gao, Trịnh-Khải sai Thái-định hầu Trịnh Tự Quyền làm thống-lĩnh, đem quan quân trong 27 cơ hiệu đi nghinh chiến.
Quyền chùng-chình hơn 10 ngày, mới gắng-gượng cất quân ra đi. Khi Quyền vừa kéo quân lìa khỏi hoàng-thành được 30 dặm, quân Tây-sơn đã thuận gió đông-nam kéo đến Vị-hoàng bằng chiến thuật chớp nhoáng (bính-ngọ, 1786)
Chúa Trịnh phải đổi lại mệnh-lệnh điều-khiển : Ra giữ Sơn-nam : Trịnh Tự-Quyền, đốc-suất thủy-đạo : Đinh-Tích-Nhưỡng. 107
Để gây thế ỷ giốc với lục quân của Quyền. Nhưỡng đem các đội thuyền Vệ-tả, Vệ-hữu, Ngũ-hầu, Ngũ-thiên và Ngũ-trung-trạch đến đóng ở cửa sông Lục-môn. 108
Hoàng Tự-Quyền đóng đại-đội ở Kim-động. 109
Chưởng Trung-Hầu Đỗ Thế-Dận 110, trấn-thủ Sơn-nam đem bộ binh dàn ở bờ sông Phù-sa. 111
Đinh Tích-Nhưỡng dàn chu-sư trong sông Lỗ-giang 112 bày thành thế trận chữ « nhất ».
Hơn một tháng, gió đông-nam thổi không ngừng.
Nước lụt mới rút cạn.
Đội tiền-phong Tây-sơn giương buồm thẳng tiến. Theo sau năm chiếc thuyền mông-xung, đại quân « đàng trong » cứ mạnh mẽ lướt sóng.
Thấy thuyền mông-xung Tây-sơn xững đến. Nhưỡng hô quân nạp đạn vào súng « bảo lân », ùa ạt bắn…
Để tránh trận mưa đạn, quân Tây-sơn tạm lui vào bên sông.
Tối đến, trên sông Lục-môn lừ-lừ vài mươi chiếc thuyền, nghênh ngang kẻ vác giáo, người cầm kích, thuận buồm cứ tiến, tiến bức đến tận tiền đội bên Trịnh.
Nhưỡng thúc quân hăng hái bắn. Xa xa, nhận thấy một chiếc thuyền Tây-sơn bị đắm chìm.
Nhưng còn các thuyền khác ? Càng bắn càng thấy im lặng, im lặng như tờ, không một ai bắn lại.
Trời đã sáng, Nhưỡng bấy giờ mới biết mấy chục chiếc thuyền kia toàn là thuyền không ! Bọn quân bơi chèo, cầm binh kia toàn là bồ nhìn !
Mắc mưu Nguyễn-Huệ rồi. Đinh Tích-Nhưỡng hết sạch cả thuốc đạn !
Quân Nhưỡng phải bỏ thuyền chạy lên cạn.
Đại đội binh thuyền Tây-sơn kế tiếp sấn đến.
Đạn súng đại bác vèo vèo bay. Nhiều cây cổ-thụ trên bờ răng-rắc gẫy.
Trước sức mạnh của súng đạn Tây-sơn, quân Nhưỡng hoảng sợ.
Nguyễn Huệ thúc toán quân lanh lẹ xông lên bờ, hăng hái đuổi đánh.
Quan quân Bắc-hà chết như rạ, người nọ gối lên người kia.
Đinh Tích-Nhưỡng chạy thoát lấy thân.
Quân Đỗ Thế-Dận bỏ trận, chạy trốn. Quân Trịnh Tự-Quyền chưa đánh đã tự tan vỡ trước !
Thuyền Tây-sơn cứ tiến và tiến mãi đến Hiến-doanh. 113
Thế là trấn Sơn-nam hoàn-toàn lọt vào tay quân Nam-hà (ngày 24 tháng 6, năm bính ngọ 1786).
Vấn-đề chiến thủ lại được Trịnh-phủ rối rít gấp rút bàn.
Nguyễn Lệ 114 cựu tham tụng, đến từ Nghệ-an, dâng kế cho Trịnh-khải :
« Nên cắt tướng giữ lấy kinh thành. Còn chúa thì hộ-giá Lê hoàng lánh đi Sơn-tây, nắm giữ lấy miền thượng du để tính nước đi về sau. Ở khúc sông bên bãi Tự-nhiên 115 nên thả chông chà để át thuyền bè địch. Bổ đồn đóng bộ binh ở hai bên bờ sông để giữ cho thêm vững. Lại dùng và ban quan tước cho bọn thủy-phỉ (giặc cướp trên mặt thủy) khiến chúng khuấy rối mặt sau thủy-quân của Tây-sơn. Tây-sơn mượn tiếng tôn phù, nếu không níu được vua Lê thì lui tới đều bất lợi. Quân mọi hết lương tất thế không ở lâu được. Ta nên truyền lịnh cho các hào mục ở miền Thanh, Nghệ dấy binh chẹn lối họ về. Như thế dù không bắt sống được Nguyễn Huệ cũng làm Tây-sơn phải bị trọng thương. Chứ giờ đánh với họ tất nhất bại đồ địa, vì tụi kiêu-binh của ta không thể dùng được ».
Kế hoạch của Nguyễn Lệ suýt được chúa Trịnh làm theo nhưng lại bị bọn kiêu binh phá.
Vu vạ cho Lệ dắt giặc về nhà, bọn kiêu binh tụ họp lại ồn ào, rầm-rĩ, làm cho tình hình càng thêm trầm trọng. Rồi chúng sùng sục chực bắt giết Lệ, Lệ phải chạy lên trấn Sơn-tây.