Quang Trung – Nguyễn Huệ Anh Hùng Dân Tộc

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 108 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Iv. Giặc Thanh Chiếm Thăng-long
Iv. Giặc Thanh Chiếm Thăng-long

❊ ❊ ❊

ĐỂ đón quân Thanh, Lê Chiêu-thống sai bình chương Phạm Đình-Dữ và tham-tri Vũ-Trịnh đem thư với 10 con bò, 100 vò rượu, lên tận Hoà-lạc 265 vấn an Tôn Sĩ-Nghị.

Ôm cái dã tâm xâm-lược, Tôn Sĩ-Nghị từ khi vượt qua cửa ải, xuống Lạng-sơn, rồi kéo đến Kinh-bắc, rất dễ dàng.

Khi Nghị đến trấn Kinh-bắc, Lê Chiêu-thống từ Phượng-nhãn, thân đem quần thần đến yết kiến và mời Nghị hãy vào đóng trong trấn doanh. Song Nghị nói : « Đây cách quốc thành (Thăng long) không xa, nên đi ngay, chứ không nên trùng trình ở lại ». Nghị bèn sai bắn 9 phát súng, rồi nghiêm chỉnh đội ngũ tiến đi.

Chiều hôm, Nghị mới kéo quân đến bắc ngạn sông Nhị, Chiêu-thống trước qua sông, vào thành Thăng-long sai sửa soạn màn tướng ở trước đền Kính-thiên để mời Nghị đóng.

Nghị không ưng, nói : « Chỗ ấy không phải là hành doanh của đại tướng, vì có nhiều điều không tiện cho việc hành binh ».

Nghị chia đồn đóng ở những bãi cát rộng rãi bên sông Nhị, lại sai làm cầu phao ở trong sông để tiện đi lại. 266

Ngày 21, tháng 11 (mậu thân, 1788), Nghị lùa quân vào thành Thăng-long trống rỗng, đặt tướng doanh tại Tây-long cung. 267

Khi Sĩ-Nghị ra quân, vua Thanh giao sẵn cho sách và ấn, dặn rằng hễ lấy được đô thành Thăng-long thì phong Tự-tôn Duy-Kỳ làm An-nam quốc-vương để ràng buộc lấy lòng người.

Vâng lĩnh ý chỉ của Thanh Kiền-long, Sĩ-Nghị thấy bấy giờ đã có thể thực hành được sứ mạng đó, bèn bảo Chiêu-thống chọn ngày để làm lễ sách phong ; song vua Lê giải bày rằng lăng tẩm ở Thanh-hoá, hãy còn sa vào trong tay Tây-sơn, chưa đến bái yết được, thì lẽ đâu lại vội làm cái thịnh điển này. Thế rồi Chiêu-thống khóc xin Sĩ-Nghị hãy tạm hoãn.

Nghị nói : « Những lời của Tự-quân thật ra từ chí-tình, nhưng Hoàng-đế (chỉ vua Thanh) đã có mạng lệnh bảo làm thì không thể chầy hoãn được. Tự quân há nên vì tình riêng mà xin hoãn lại cho nhàm ? »

Cổ nhiên, Nghị bảo sao, vua Lê phải nghe vậy.

Vì thế qua ngày 2 268, Sĩ-Nghị làm lễ ở điện Kính-thiên phong vua Lê làm « An-nam quốc vương ».

Trong bài văn sách phong có câu :

披十有一道之提封原非利夫土地

遡百五十年之職貢能不念其祖宗

« Phi thập hữu nhất đạo chi đề phong, nguyên phi lợi phù thổ địa ; Tố bách ngũ thập niên chi chức cống, năng bất niệm kỳ tổ tông ».

Dịch : Mở đề phong 269 mười một đạo, lợi đầu hám ở đất đai ? Trải chức cống trăm rưỡi năm, tình nghĩ cảm vì tông tổ.

Dẫu được người Thanh « ban » cho danh hão hiệu hờ, vua Lê vẫn khép nép e dè, không dám đường hoàng trên văn thư dùng niện hiệu Chiêu-thống, mà vẫn phải để hiệu Kiền-long nhà Thanh (bấy giờ là năm Kiền-long thứ 53, tức năm mậu-thân 1788).

Hằng ngày, Chiêu-thống cưỡi ngựa đi trước, Lê-Quýnh cưỡi ngựa theo sau, với vài chục lính hầu, cong cóc sang Tây-long cung, nơi Sĩ-Nghị đóng, chầu chực công việc quân quốc.

Có khi Chiêu-thống tiến yết, Nghị không tiếp, chỉ sai người đứng dưới gác chuông, truyền ra bảo vua Lê rằng : « Nay không có việc quân quốc gì, hãy cứ về cung mà nghỉ ! »

Luôn mấy năm mất mùa, đói kém, dân gian đương bị điêu linh. Nay giặc Thanh lại kéo sang, lùa nhân dân vào cảnh khổ càng thêm khổ… Những tấm thân tàn đang sống ngắc ngoải, lại phải chịu đựng thêm nạn khói lửa loạn ly ! Những tiếng kêu than ra từ lòng không dạ rỗng xen lẫn vào bao tiếng khóc lóc nghiến răng trước những thảm kịch cướp của, đánh người, luân giao, hãm hiếp do bọn quân Thanh gây nên !

Ở những nơi như Hà-khẩu phường trong thành Thăng-long, phố Cơ-sá bên Kinh-bắc và phố Hiến 270 thuộc trấn Sơn-nam, hàng vạn Thanh-kiều đã sống lâu năm bên ta, am hiểu phong tục, nói thạo tiếng Nam, nay bỗng cậy thần ỷ thế Tôn Sĩ-Nghị, giở ngay thủ đoạn nhờ gió bẻ măng : họ hoặc đến phụ theo quân đồn, hoặc lập riêng cái điểm « Liễu để » công nhiên cướp của, hiếp gái ở giữa chợ, ngoài đường, không còn kiêng nể e dè gì cả ! Rất đỗi họ tìm nhiều cách vụ hãm lương dân để tranh chiếm lấy đất, ruộng tài sản của đồng bào Nguyễn-Huệ !

Ta nên nhớ rằng năm đinh-mùi (1787), Bắc-hà đã trải biết bao tai trời, nạn nước :

« Gió to, bão lớn nước biển tràn ngập, mất mùa đói kém. Nhân dân ở vùng Bắc và vùng Nam đều phải phiêu lưu tan tác. Không có cơm, phải luộc cỏ mà ăn ; không có nhà ở, phải lộ thiên mà nằm. Người nào có thóc lại không có muối…

« Đến nay, quân Thanh kéo sang, dân đã khổ vì đói kém, khổ vì bị hiếp đáp, lại phải chịu thêm cái khổ nữa là trĩu vai oè cổ gánh vác việc cung đốn giặc ! Vắt từ bồ hôi nước mắt của hạng người kheo khư ốm đói, vua quan nhà Lê nặn lấy rượu, thịt, cơm gạo, cho quân Thanh và rơm, cỏ, lá tre, ngô, thóc cho lừa ngựa chúng. Chỉ thiếu một gánh cỏ, một đấu thóc, anh dân đen cũng đủ bị đánh nát thịt hay phải tù mọt gông rồi !

« Chẳng những vậy, sự dâng nộp lại là cái tai nạn ghê gớm đối với dân gian : đã mất của « đổ sông Ngô », lại mất công quị luỵ chầu chực ! Gia dĩ một tảng, hai ngoại, hạng người ngắn cổ bé miệng chỉ có cách gạt nước mắt, bấm bụng chịu, dầu trước những cái tàn ác của kẻ phù thu lạm bổ.

« Sống mặc bay, chết cũng mặc bay, quân Thanh cứ việc ăn chơi phưỡn phệ…

« Dùi đến đục, đục đến săng, vua tôi nhà Lê cũng sứt trán về việc liệu-lý binh lương ; nhưng nạo vét được bao nhiêu thì lại cung đốn khách binh hết cả.

« Còn hạng quân các nơi hưởng ứng việc phò Lê mà đương thời gọi là « nghĩa binh » thì riêng chịu bóp bụng làm việc quân dịch, chứ đâu có được triều đình phát cho gạo tiền ».271

1792) VIỆN HỌC THUẬT – HIÊN PHỔ THÔNG TÁI BẢN ebook©MotSAch TVE-4u© —★— Nhà xuất bản : BỐN PHƯƠNG 1958
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.