GIẢ vương và sứ bộ nước Nam được nhà Thanh ứng tiếp cực long trọng. Từ châu Ninh-minh tỉnh Quảng-tây ra đi, phàm các thứ gạo, bột, rau thịt hằng ngày đều do các nhà chuyên trách Mãn-thanh tiếp tế cung ứng, hoặc đi đường thủy, hoặc đi đường cạn. Từ đường sá trên bộ đến đò bến mặt thủy, thảy đều chỉnh tề nghiêm túc để đón rước vị thượng khách của triều đình. Dọc đường, yến tiệc khao thiết Giả vương và sứ-bộ nước Nam rất ưu hậu. Hễ có của ngon, vật lạ gì, vua Thanh lại sai chạy ngựa trạm đưa đến thết khách.
Khi Giả-vương cùng Phúc Khang-An mới khởi trình từ tỉnh Việt, vua Kiền-long sai đưa tặng Giả-vương bánh sữa, quạt và đồ hương khí…
Vua Thanh lại dặn Phúc Khang-An : trong khi đi đường bạn tống Quốc-vương nước Nam, hễ được vua Thanh phê phán gì vào những tờ tấu của An thì An cũng nên đưa cả cho Quốc-vương cùng xem khiến cho trong lòng Quốc-vương khỏi ngờ vực. Ấy là chưa kể những quà vua Thanh đã đưa tặng Quốc vương như một đôi ngự dụng hà-bao lớn, ba đôi hà-bao nhỏ, sáu hộp hương khí và những lời khen lao phê vào biểu văn, nào « tình từ chân chí », nào « truân thiết thành khẩn ».
*
Quốc-vương, khi ở nước, thường đeo cái đai da sắc đỏ (hồng thinh). Vua Thanh muốn tỏ ý ưu đãi khách chiến thắng một cách khác thường, sai chế sẵn áo mão đúng kiểu để thưởng cấp cho Giả vương sau khi tới kinh. Ngoài đó ra, vua Kiền-long lại định thưởng thêm cho chiếc « hoàng kinh thinh đới » nữa.
« Hoàng kim thinh đới » là một thứ đai bằng da có cẩn hoặc nạm vàng. Theo thư lời dụ của vua Thanh, thì thể chế Mãn-triều bấy giờ chỉ những bực tông phiên (phiên thần họ đồng tông với nhà vua) mới được dùng thứ đai ấy. Thế mà nay ban nó cho Giả-vương nước Nam thật là một thứ « sủng vinh khó gặp ! »
Vua Thanh lại dặn : trong khi đi đường, Quốc-vương nên cứ thắt cái đai đỏ (hồng đới), đợi khi tiến kinh, vào diện cận, bấy giờ sẽ thưởng chiếc đai vàng mà « Thiên-triều » đã sắm sẵn cho kia. 387
Bấy giờ vua Thanh Kiền-long mới in xong cuốn Ngự chế tập, Thạch cổ thi tự, mặc khắc 388, liền gửi tặng Giả vương một tập.
Trong khi bạn tống Giả-vương, Phúc Khang-An không quên làm công việc như một nhà trinh-thám : Phàm tình hình đi đường với Giả vương thế nào, An đều tâu hết với vua Thanh.
Chẩng những vậy, ba bức thư của Giả vương gửi về Thăng-long và các chỗ khác cũng đều bị An sao lục rồi tiến trình lên vua Mãn-thanh. Giả vương cũng đã liệu trước tất có sự « kiểm duyệt thư-tín » ấy, nên các thư tín gửi về nước đều không niêm cả.
Khi vua Kiền-long xem lời tâu và bản sao lục của An, có khen Quốc vương cẩn thận và biết việc. Lại khen trong thư Quốc vương phân xử việc nước thật là rạch ròi có thứ tự, có đầu mối.
Nhân việc này, ta thấy thêm cái vi ý nhà Thanh rất ân cần trọng đãi nhà Tây-sơn bấy giờ :
Sau khi nhận thấy việc « kiểm duyệt thư tín » ấy chẳng những khiếm nhã đối với vị thượng tân, mà lại làm bất tiện và ngăn trở đến việc riêng của khách nữa ; nên vua Thanh có dụ Phúc Khang-An : « Quốc-vương vào triều chúc thọ, đi lại phải mất độ 8, 9 tháng, tất phải có thư đi tin về để bàn bạc việc nước. Nếu hết thảy thư tín đều không niêm, chẳng hóa ra không phải là đạo tỏ tín nghĩa với người ngoài ! »
Tức thì vua Thanh ra lệnh : « Từ rầy trở đi, các thư tín đi lại, Quốc-vương không câu nệ theo cái thành lệ mà hết thảy phải không niêm nữa ».
Đó là một cách ưu-đãi khác thường, vì theo thể chế nhà Thanh bấy giờ, phàm các ngoại phiên đệ trình văn báo đều không được niêm phong.
*
Tháng 5, Giả vương bước vào địa phận tỉnh Giang-tây. Vua Thanh được tin do lời truyền đơn 389 của tỉnh Trực-lệ đứng khắc khai rõ : Để cung ứng Quốc vương An-nam, mỗi ngày tiêu về « túc điếm » 390 hết 2.000 lạng bạc, « tiêm điếm » 391 hết 1.000 lạng. Từ châu phải góp thêm 500 lạng Thanh-uyển phải góp thêm 1000 lạng. Số bạc hơn 4000 lạng ấy chỉ để cung ứng ở dọc đường. Ấy còn chưa kể tiền chi phí về yến tiệc, thuyền bè, xe, ngựa, phu, hầu, vv…
Vua Thanh giựt mình, phát gắt, dụ bọn quan lại có trách nhậm về việc tiếp khách ấy rằng : « Ngay như nhà vua thết đãi các bậc vương công đại-thần Mông cổ và các sứ thần các nước, mỗi lần dùng đến một trăm mâm cỗ yến, thế mà cũng chỉ tiêu hết đến một nghìn lạng bạc là cùng… »
Về việc này, tóm lại, là do Phúc Khang-An ban đầu làm việc chưa biết tính toán châm chước. An lại có ý cao hứng, cho việc ngoại phiên thân đi triều cận là việc hiếm thấy trong sử sách, nên mới sinh phô-phang để đến nỗi các viên đốc phủ ở các tỉnh như Giang-tây đón ý lướt theo, rồi cứ lần lượt tăng dần lên mãi ! Họ lại muốn sửa lại cả đường sá, cầu cống và trang hoàng cả những nhà cửa dọc đường. Rất đỗi người ta lại định đốn bỏ hết những cây cối khô chết ở vệ đường nữa…
Rồi vua Kiền-long đoán : « Số bạc cung ứng nếu không phải do bọn tổng-biện tạ sự chấm mút, tất do những viên đi hộ-tống Quốc vương bày vẽ xoay xỏa ở dọc đường. Nếu việc ấy khởi đầu từ Quảng-tây thì lỗi tại Phúc Khang-An ; nếu từ Giang-tây thì lỗi tại Hà Giụ-Thành ».
Chỉ vì một việc cung-ứng Giả vương này, vua Thanh phải một phen nhọc lòng, mệt trí để tra xét việc « mỗi ngày tiêu hết 4000 lạng bạc » ấy. Sau té ra tờ truyền-đơn in chương-trình kê các khoản cung-ứng Giả vương đó là do Lượng Khẳng-Đường ở Trực-lệ định ra. Nhưng kỳ thực phí tổn về « tiêm điếm » và « túc điếm » suốt dọc đường ở những nơi Giả vương trẩy qua, mỗi ngày hết hơn hai trăm lạng bạc !
*
Mồng 8 tháng sáu, Giả vương rời khỏi Nam-xương (thuộc tỉnh Giang-tây). Qua ngày 15 tháng ấy, Giả vương được thưởng cái thú trăng rằm ở Hoàng-cương thuộc tỉnh Hồ-bắc.
Vũ-xương, một địa-điểm sẽ ghi bằng chữ vàng trên trang lịch-sử Trung-hoa sau này. Vì chính tại đó, Hoàng Hưng kéo cờ nghĩa, thực hành công cuộc quang phục giữa năm tân-hợi (1911). Chẳng dè trước đấy hơn một trăm năm, Giả vương Việt-nam đã được hưởng cái thù phụng sung sướng ở đất ấy (ngày 16, tháng 6, năm canh-tuất, 1790).
Ngày 24 tháng sáu, hoa cỏ Hứa-châu (cách Nhiệt-hà hơn 2.100 dặm) đón chào Giả vương và sứ-bộ Việt.
Để tỏ tình thân mật và ý trọng đãi khách quí, vua Thanh sai chạy ngựa trạm đưa đến 5 quả vải (lệ chi ngũ cá) tươi mới : tặng Giả vương hai, Ngô Văn-Sở một, còn hai quả thì phần Phúc Khang-An. Cái ý ân cần trịnh trọng của vua Thanh tỏ rõ trong lời dặn Phúc Khang-An nói với Giả vương :
« Vải sản ở phương Nam, chắc An-nam cũng có của này, tưởng không quí mấy. Nhưng ở kinh-đô bên này (Thanh) không hề có vải ; mỗi năm phải do Mân-nam dâng tiến, nên rất quí. Trừ phi bậc vương công đại thần thì không được hưởng cái ơn khác thường ấy. Nay đặc cách cho chạy trạm đem đến ban thưởng (bưu thưởng) thật là một thứ ơn ban ngoài lệ thường. Lại nghĩ Ngô Văn-Sở là bầy tôi thân tín và đắc lực của Quốc-vương, chuyến này Sở lại nài xin mấy lần để cùng đi chiêm cận : đáng khen tấm lòng thành đó ! Vậy nên Sở cũng được hưởng cái ân thưởng này ».
*
Phái-bộ Việt ngày mồng một tháng bẩy, đặt chân trên đất Từ-châu thuộc tỉnh Trực-lệ. Giả vương cùng các nhân viên tùy-tòng, khi sắp tới kinh-đô nhà Thanh, đã thấy Đức-Minh, thị-lang bộ Lễ, thân đón tiếp ở tận Lương-hương.
Rồi Giả-vương dùng trà do vua Thanh từ trước đã sai Kim-Giản cắt trà phòng thị-vệ theo Đức-Minh đến chực sẵn để dâng tiến.
Để tỏ ý ưu đãi khác thường, vua Kiền-long, khi tiếp Giả vương ở hành cung Nhiệt-hà, cho làm lễ « bão kiến, thỉnh an » trong một bầu không khí cực êm đềm thân mật. Lễ đó, theo như lời dụ của vua Thanh, chỉ những ai trong bọn đại thần có nhiều huân lớn, công to mới được dùng.
Đến Nhiệt-hà, Giả vương được vua Thanh ân cần tiếp đãi và ban tặng bài thơ, đại ý nói : Năm trước phải đem binh sang Nam, là cốt khôi phục cho nhà Lê. Nhưng nhà Lê đã đến lúc không được trời tựa, nên phải phong cho họ Nguyễn (Tây-sơn), vì Nguyễn đã quy phục thật tình. Rồi tác giả bài thơ ấy trịnh trọng khuyên : « Phải nên giữ gìn lấy đất nước, đừng để họ khác nổi lên. Dặn con cháu phải nên dốc một lòng thần phục Đại-Thanh. Lúc nào cũng nên kính cẩn nơm bớp như cầm bát nước đầy. Như vậy mới được tắm gội ơn trời và hưởng phúc lâu dài ».392
Ngày 20, tháng 8 năm canh-tuất (1790), sứ bộ ta được vua Thanh ban chỉ khiến về nước. Giữa ngày ấy, sứ bộ ăn tiệc ở đền Chính-đại Quang-minh với bao vẽ huy hoàng lộng lẫy. Rồi hai sứ thần ta, Phan Huy-Ích và Vũ huy-Tấn được đặc cách vời đến bên ngự tọa vua Thanh, được ban thứ rượu « đề hồ » đựng trong chén bích ngọc do chính tay vua Kiền-long rót mời.
Để ghi việc vui mừng mà cảm động ấy Phan Huy-Ích có viết một bài trường thiên này :
聖壽啟昌時
Thánh thọ khải xương thì ;
梯航同祝嘏
Thê hàng đồng chúc hồ.
指南早錫軿
Chỉ Nam tảo tích biền,
宴筵隆寵數
Yến diên long sủng số.
班列肅明堂
Ban liệt túc Minh-đường.
曉雲擁鸞輅
Hiếu vân ủng loan lộ.
烟裊寶爐香
Yên niểu bảo lô hương.
丹庭奏韶濩
Đan đình tấu Thiều-hộ
恩旨自天來
Ân chỉ tự thiên lai :
禮官呼潘武
Lễ quan hô Phan, Vũ,
應召起出班
Ứng triệu, khởi xuất ban,
五中喜且懼
Ngũ trung hỉ thả cụ !
傴僂登殿堦
Khu lũ đăng điện giai,
閣老前引步
Các lão tiền dẫn bộ :
趨向龍座旁
Xu hướng long tọa bàng,
曲跽聆温諭
Khúc kỷ linh ôn dụ.
案頭玉酒壼
Án đầu ngọc tửu hồ
斟酌出御手
Châm chước xuất ngự thủ :
親賜碧玉巵
Thân tứ bích ngọc chi.
加額恭領受
Gia ngạch, cung lĩnh thụ.
傾飲不敢餘
Khuynh ẩm bất cảm dư,
醍醐潤肺腑
Đề hồ nhuận phế phủ.
反爵交侍臣
Phản tước giao thị thần,
叩謝連稽首
Khấu-tạ liên khể thủ.
降堦還就班
Giáng giai hoàn tựu ban :
足蹈而手舞
Túc đạo nhi thủ vũ !
聖人子庶邦
Thánh nhân tử thứ bang,
恩育曠前古
Ân dục kháng tiền cổ.
海南翰墨臣
Hải nam hãn mặc thần
僥倖叨簡顧
Kiêu hãnh thao giản cố !
表詞嘉肫虔
Biểu từ, gia truân kiền.
珍品賞詩句
Trân phẩm, thưởng thi cú.
禁內賜遊觀
Cấm nội tứ du quan,
特召凡三度
Đặc triệu phàm tam độ.
趨蹌殿陞間
Xu xương điện bệ gian :
奎文幸親睹
Khuê văn hạnh thân đổ.
重奉御前杯
Trùng phụng ngự tiền bôi,
天尊洒甘露
Thiên tôn sái cam lộ.
旌獎荷鴻施
Tinh tưởng hạ hồng thi.
韶鈞長戀慕
Thiều quân trường luyến mộ.
藩國奉琛頻
Phiên quốc phụng thám tần.
幾得奇遭遇
Kỷ đắc kỳ tao ngộ ?
飛箋報國人
Phi tiên báo quốc nhân :
皇華第一部
Hoàng hoa 393 đệ nhất bộ 394
Dịch :
Thánh mở vận xương-minh,
Lặn lội đi chúc thọ.
Xe chỉ-nam sớm ban,
Tiệc linh-đình được dư.
Ban cò 395 tắp Minh-đường 396
Xe loan mây sớm phủ,
Đỉnh trầm tỏa khói thơm.
Sân rồng hòa nhạc Hộ. 397
Ân chỉ xuống từ trời :
Lễ quan gọi Phan 398, Vũ. 399
Được vời, ra khỏi ban :
Hồi hộp mừng lẫn sợ…
Khúm núm bước lên thềm,
Theo Các thần400 dẫn bộ.
Rảo đến bên ngai rồng.
Khom quỳ, nghe ngọt dụ.
Chính tay vua nghiêng bầu
Rót rượu trên án ngự,
Chén bích ngọc thân ban
Ngang trán, giơ lĩnh thụ,
Cạn chén, dám để thừa,
Rượu ngon nhuần tạng phủ.
Trao chén lại thị thần,
Tạ ơn liền khể thủ.
Xuống thềm, trở về ban :
Chân khoa, tay lại múa !
Coi các bang như con :
Ơn ấy hiếm từ cổ,
Văn thần góc biển Nam
Ưa-may được quyến cố.
Khen : lời biểu truân kiền 401
Thưởng thơ : ban của lạ
Cung-cấm cho đi xem,
Riêng với những ba độ,
May được ngó khuê văn, 402
Khi rảo nơi đường-bệ.
Lại được chén ngự tiền :
Rượu trời rảy cam lộ.
Khen, thưởng : ơn rộng to !
Tiếng Thiều 403, lòng tríu mộ.
Phiên quốc tuy năng sang,
Kỳ thay, nay gặp gỡ !
Báo tin người nước hay :
Thứ nhất đây Sứ-bộ !