Quang Trung – Nguyễn Huệ Anh Hùng Dân Tộc

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 108 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Vii. Thuế Khóa Nông Chính
Vii. Thuế Khóa Nông Chính

❊ ❊ ❊

HỒI còn nhà Lê, nhân dân phải đóng một thứ thuế xâu dịch gọi là « điệu tiền ». Vì nhà Lê phỏng theo cái phép cố dịch đời Đường (618-906) có đánh thứ thuế ấy. Rồi hễ có những việc xâu dịch công tác thì lấy tiền « điệu » đã thu của dân mà thuê mộ người làm. 443

Đến triều Quang-trung, nhà vua thấy quốc gia mới khai sáng, muốn rút bới xâu thuế để nới nhẹ cho dân, bèn bãi bỏ phép đánh thuế « điệu tiền » đó. 444

Từ năm mậu thân (1788), trong nước gặp lúc loạn ly, lại bị quân Thanh kéo sang chà xát giày đạp, gia dĩ luôn năm mất mùa, nhân dân, phần vì cơ cận, phần vì dịch lệ, chết đến 7, 8 phần 10.

Trước tình hình ấy, nhà vua phải làm một việc quyền nghi : đánh thuế vào các tư điền để lấy gạo lúa.

Bấy giờ đinh ít, điền nhiều, ai còn sống sót lại thường phải đóng nặng thuế điền, vì thế nhiều nhà giàu đều phải bỏ ruộng không nhận.

Xem trong bài chiếu « Khuyến nông » như có chép trong tập Hàn các anh hoa của Ngô-Thì-Nhậm, đủ thấy vua Quang-trung bấy giờ chú trọng vào hai việc :

- Khuyến khích canh nông.

- Chăm lo nhân dân sinh tụ đông đảo.

Từ khi binh lửa luôn năm, lại thêm vào đấy những nỗi đói kém, nhân dân siêu giạt, đồng ruộng bỏ hoang, nên thực số đinh điền bấy giờ không bằng 4, 5 phần mười thuở trước.

Ngài bèn ra lệnh : Phàm những dân nào trước đó kiểu ngụ tha phương, trốn tránh lao dịch, hoặc vì có thê hương mẫu quán mà đến ở, hoặc vì đi buôn bán làm ăn mà ngụ cư, hễ đã vào làng ở sở tại được từ ba đời trở lên thì mới cho ở, còn ngoài ra bắt về bản quán hết thảy, chứ biệt xã không được chứa chấp. Những ruộng công, ruộng tư đã trót bỏ hoang, nay đều cho về nhận lấy cày cấy, chứ không được bỏ bê trễ, để đến nổi số ruộng thực khẩn phải chịu khống thuế mãi.

Các sắc mục, các xã trưởng và các thôn trưởng sở tại phải xét số đinh thực tại có bao nhiêu suất, rồi xem số thực điền đã thực khẩn được bao nhiêu mẫu, còn số hoang điền mới khai khẩn được bao nhiêu mẫu, đều phải đăng vào sổ bộ, nộp lên các viên phân-suất, phân tri ở huyện mình để họ chuyển đệ lên Triều-đình ; Triều đình sẽ phái quan khâm sai đi khám lại cho đúng sự thực, bấy giờ mới sẽ liệu định việc bổ thuế cho công bằng.

Nếu xã nào cứ chứa những người ngụ cư mà không bắt họ phải quay về nguyên quán, nếu những người trốn tránh ấy cứ lần lữa không chịu về, và nếu ai thấy biết chuyện mà cáo tỏ ra thì những sắc mục, xã trưởng sở tại và những kẻ trốn tránh ấy sẽ đều phải trị tội cả.

Xã nào ruộng hoang đã đến hạn mà vẫn chưa nhận lấy khai khẩn thì cứ do viên-sắc và hộ-hạng xã ấy phải chịu trách nhậm về việc đóng thuế ruộng công chiếu theo ngạch thuế điền cũ mà nộp gấp bội.

Ruộng tư một khi đã sáp nhập làm ruộng công thì thuế đóng cũng như ngạch thuế công điền.

Sở dĩ ban ra cái mạng lệnh ấy, là vì nhà vua muốn hạng lưu dân quay về làng cũ, chăm việc canh nông tăng gia sản xuất ngõ hầu nhà vua cùng trăm họ được hưởng cái vui đông đúc, giàu có, thịnh vượng.

Sau hồi chiến tranh, sổ điền không được minh bạch hoặc ruộng bỏ hoang mà vẫn phải chịu thuế ; hoặc ruộng xấu mà vẫn phải đóng thuế vào hạng thượng đẳng điền ; hoặc kẻ cường hào hay tụi Thanh kiều, nhân dịp hỗn quân hỗn quan trong lúc Tôn-Sĩ-Nghị tiến đóng Thăng-long, bá chiếm của hạng dân lép vế. Thành thử, về việc hộ, hay có lắm chuyện rắc rối về ruộng đất.

Để giải quyết vấn đề thổ địa rất phức tạp ấy, năm kỷ dậu (1789), vua Quang-trung hạ chiếu bảo trong nước làm lại sổ điền. Hai nhà văn thần là Ngô-Thì-Nhậm và Phan Huy-Ích đều tán thành việc này.

Ruộng tư cũng như ruộng công, chia làm ba hạng, hạng nào có thuế riêng hạng ấy :

RUỘNG CÔNG

- Hạng nhất : mỗi mẫu nộp thóc thuế 150 bát. 445

- Hạng nhì : mỗi mẫu nộp thóc thuế 80 bát.

- Hạng ba : mỗi mẫu nộp thóc thuế 50 bát.

Cả ba hạng, mỗi mẫu phải ra một tiền quý về thuế thập vật và 50 đồng kẽm về thuế khoán kho.

RUỘNG TƯ

- Hạng nhất : mỗi mẫu nộp thóc thuế 40 bát.

- Hạng nhì : mỗi mẫu nộp thóc thuế 30 bát.

- Hạng ba : mỗi mẫu nộp thóc thuế 20 bát.

Cả ba hạng đều phải ra mỗi mẫu là 30 đồng kẽm về tiền khoán kho. Còn tiền thập-vật cũng như lệ ruộng công kể trên.

Ngoài thuế ruộng ra, triều Quang-trung, theo lệ cũ, cũng đánh những thứ thuế như dung tiền 446, cước mễ, vv…

Vụ mùa tháng 10, năm Quang-trung thứ tư (1791), thóc lúa các nơi đều được phong đăng cả. Năm phần mười trong nước đã khôi phục được cảnh thái bình thuở xưa.

Sở dĩ xã hội bấy giờ chóng đi đến bước thịnh vượng là nhờ ở cách tổ chức lương thiện và chính sự hậu sinh (dân hậu với nhân sinh) : hễ năm nào gặp nạn đại hạn hay hồng thủy thì lại ra ơn đại xá ; hễ kẻ nào phạm tội nhẹ hoặc phụ khiếm mà trốn đi thì đều được bỏ qua, không xét hỏi nữa. 447

1792) VIỆN HỌC THUẬT – HIÊN PHỔ THÔNG TÁI BẢN ebook©MotSAch TVE-4u© —★— Nhà xuất bản : BỐN PHƯƠNG 1958
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.