Quang Trung – Nguyễn Huệ Anh Hùng Dân Tộc

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 108 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Viii. Việc Học, Việc Thi
Viii. Việc Học, Việc Thi

❊ ❊ ❊

THEO như lời trong « Lập học chiếu » 448 thì sau khi đại định, vua Quang-trung cũng rất tỏ ý sùng đạo Nho, lưu tâm yêu kẻ sĩ, mong được những tay có thực tài ra giúp việc.

Tại các dân xã đều cho lập nhà xã học : chọn trong đám nho sĩ hàng xã lấy người có học, có hạnh, đặt làm xã giảng dụ để dạy những học trò trong hàng xã mình.

Các đền-từ ở các phủ vẫn để cho dân bản hạt nhận giữ, nhưng dùng chung làm trường học hàng phủ. Triều-đình sẽ bổ một viên phủ huấn-đạo đến dạy tại đó.

Gặp khoa thi hương thì lựa lấy những hương tú-tài : hạng ưu được thăng vào quốc học : hạng thứ, cho vào phủ học.

Đối với các ông cống triều Lê, phàm những người tại quán chưa nhậm chức gì, nhà vua cũng muốn dùng cả. Ngài có ban chiếu bảo họ đến cửa khuyết-đình để lựa bổ sung những chức như huấn-đạo, tri-huyện. Còn các cựu nho-sinh và các cựu sinh-đồ đều phải đợi có khoa thi thì thi : hạng ưu được đỗ ; hạng liệt phải bãi về xã học.

Đến hạng sinh đồ mua bằng ba quan 449 ở triều Lê trước thì đều bị loại về hạng « dân » hết thảy : cũng phải chịu lao dịch như dân thường.

Ngoài những việc dùng chữ nho, sùng đạo nho, trọng kẻ sĩ ấy ra, vua Quang-trung còn trọng dụng cả tiếng mẹ đẻ nữa.

Thấy Nguyễn Thiệp, danh sĩ Nghệ-an, học rộng, đạo cao đáng làm mực thước cho hậu học, nhà vua nhiều lần sai đem vàng lụa làm sính lễ, mời Thiệp ra giúp chính sự, song Thiệp không chịu xuất chính nên nhiều lần trả lại các sính-nghi của Triều-đình.

Dẫu vậy, không chịu bỏ phí nhân-tài, vua Quang-Trung có nhờ Nguyễn Thiệp dịch Kinh Truyện ra tiếng nôm để tiện việc truyền bá đạo lý Khổng, Mạnh trong dân chúng.

Vâng mạng vua Quang-Trung, Thiệp đã làm được một ít sách, nhưng chưa xong trọn thì vua Quang-Trung mất. Rồi những dịch phẩm bằng nôm ấy đều bị tịch thu, thiêu hủy, xóa nhòa theo dấu tích triều đại Tây sơn !

Cũng một ý trọng dụng tiếng nôm ấy, ngay từ khi làm Đại nguyên súy, tổng quốc-chính, Bình vương, ngài đã đem tiếng mẹ đẻ ứng dụng trong công văn như ở tờ chiếu gửi cho La sơn phu tử :

« Chiếu truyền La sơn phu tử Nguyển-Thiệp khâm trí :

« Ngày trước, ủy cho phu tử về Nghệ-an tướng địa, làm đô cho kịp kỳ này hồi ngự. Sao về tới đó chưa thấy đặng việc nhỉ ? Nên hãy giá hồi Phú-xuân kinh, hưu tức sĩ tốt.

« Vậy chiếu ban hạ, phu tử tảo nghi dữ trấn thủ Thận cộng sự, kinh chi, doanh chi : tướng địa tu đô tại Phù thạch hành cung sảo hậu cận sơn. Kỳ chính địa phỏng tại dân cư chi gian hay là đâu cát địa khả đô, duy phu tử đạo nhãn giám định, tảo tảo tốc thành. Ủy cho trấn thủ Thận tảo lập cung điện kỳ tam nguyệt nội hoàn thành, đắc tiện giá ngự. Duy phu tử vật dĩ nhàn hốt thị Khâm sai ! Đặc chiếu.

« Thái-đức thập nhất niên (1788), lục nguyệt, sơ nhất nhật ». 450

Hiện nay người ta còn truyền-tụng hai câu dưới đây do sự mỉa mai đặt ra mà gán là lời chiếu « Cầu hiền » của triều Tây-sơn :

« Hễ cha mô dù có chi giỏi giang,

Dù mẹ đứa chẳng suy tâm ủy dụng ».

Lại tục truyền một dật sự ở triều Quang-trung :

Nguyên bấy giờ có ông Mọc (?) và ông Đào (?) cùng đỗ tiến-sĩ nhưng ai cũng cậy mình hay chữ, không đằng nào chịu nhường đằng nào đi trước. Việc tranh giành cãi cọ ấy phải nhờ đến lệnh phán xử của nhà vua.

Vua Quang-trung bèn hạ chỉ phán bảo : « Sai lính đánh một hồi trống, mỗi người làm một bài phú, hễ dứt hồi trống mà ai xong trước thì là người hay chữ ».

Đào làm bài « Nghè Đào phú », Mọc làm bài « Nghè Mọc phú ».

Trong khi nghè Đào mới được một đôi câu (trong có câu : Kỳ lạc đào đào) thì nghè Mọc đã ứng khẩu làm xong bài phú theo cái đầu đề tên mình :

« Hữu nhất nhân hề : Dẳn đùi ếch, vểnh râu trê.

Giầu vỏ quạch, cái môi thâm xịt.

Rượu hằng dê, con mắt đỏ hoe.

Không rằng không, có cũng rằng không, nghề ngôn chuyện ai nào dám địch ?(Lược. Vì vế này nói nhả).Thử sở dĩ trước là thằng Mọc, này đỗ ông nghè giả dư ! »

Đó chắc là những chuyện chế giễu do mấy nhà trào phúng Bắc-hà ở đương thời hoặc đầu triều Nguyễn bịa đặt ra để mỉa mai vua Quang-trung không quí hán văn hoặc để công kích cái chính sách nhà vua bấy giờ dùng văn nôm trong chiếu biểu phú, thi… mà theo ý họ, là một lối « nôm na mách qué ».

Nhưng nhân hai câu chiếu văn và chuyện dật-sự trên đây, ta lại xét đến nhiều bài văn ở triều Cảnh-thịnh (1793-1800) Bảo-hưng (1801-1802), tuy là quân quốc trọng sự mà cũng dùng nôm, như : Canh-thân (1800) xuân, nghĩ Diệu-quận quân-thứ, quốc âm hiểu văn 451, Dụ nhi súy quốc âm chiếu văn 452 và Kỷ-mùi (1799) đông, nghĩ ngự điện Võ hoàng hậu tang 453vv… thì đủ biết sự dùng quốc âm trong văn đường bệ đã hầu thành « gia sáo » và thói quen của nhà Tây-sơn rồi. Vậy nay có thể quả quyết : vua Quang-trung đã mạnh bạo đánh đổ cái thành kiến, cái tập quán hàng ngót hai nghìn năm chỉ quí Hán văn, không dám trọng dụng tiếng Việt.

Ngoài những chứng cớ bằng bức chiếu văn gửi cho La-sơn phu-tử những mẫu dật sự như đã thấy rõ ở trên, các truyền văn và dã sử còn cho ta biết thêm :

- Mỗi khoa thi, cứ đệ tam trường (kỳ thứ ba) các sĩ tử phải làm thơ phú bằng quốc âm.

- Đời Tây-sơn, việc cai trị thường hay dùng chữ nôm… Khi thi cử, thường bắt quan (có lẽ sót chữ trường) ra bài bằng chữ nôm… 454

Vua Quang-trung lại muốn chấn hưng việc học toàn quốc, nên sau khi xem xét bài biểu của Nguyễn Thiệp nói về ba điều quân đức dân tâm và học pháp 455, ngài rất chú ý và muốn thực hành. Qua năm Quang trung thứ năm (1792), định thiên đô về Nghệ-an, dựng nhà Sùng chính thư viện, cử Nguyễn Thiệp làm viện trưởng, giữ việc giáo dục quốc dân. Nhưng, chưa kịp thực hiện thì vua Quang-trung đã mất.

1792) VIỆN HỌC THUẬT – HIÊN PHỔ THÔNG TÁI BẢN ebook©MotSAch TVE-4u© —★— Nhà xuất bản : BỐN PHƯƠNG 1958
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.