NGUYỄN HỮU-CHỈNH, tức Cống Chỉnh, người Đông-hải, huyện Châu-phúc, trấn Nghệ-an, vốn thông mẫn và có tài-năng từ bé. Mới ít tuổi đã đỗ hương cống. Sau tập võ-nghệ, Chỉnh lên kinh sư, thi tạo-sĩ, nhưng không đỗ.
Chỉnh vào yết-kiến quận Việp Hoàng Ngũ-Phúc, kiếm một con đường tiến thân ngoài lề-lối thường.
Thấy Chỉnh là người kỳ-kiệt, Phúc dùng làm môn khách cho giắt nghiên cài bút, theo đi tòng quân.
Năm giáp-ngọ (1774), theo Phúc đi Nam chinh, Chỉnh có dịp từng trải về quân-sự và được quận Việp mến tài.
Năm ất-mùi (1775), nhân có việc Ngũ Phúc quyền phong Nguyễn Nhạc làm tráng-tiết tướng quân, Chỉnh được sai đem đến cho Tây-sơn : sắc, ấn, cờ, kiếm. Lần thứ nhất, Chỉnh tiếp xúc với anh em Tây-sơn. Khi về Chỉnh có nói với Ngũ-Phúc : « Anh em Tây-sơn là tay ngấp nghé khác thường, chắc không chịu ở lâu dưới ai đâu ».
Sau khi Ngũ-Phúc qua đời, Chỉnh nương tựa nơi con nuôi Phúc là quận Huy Hoàng Đình-Bảo. 82
Hồi Đình-Bảo đóng ở Nghệ-an, Chỉnh được sung chức võ, làm hữu tham quân. Giữ việc điều-khiển các thủy binh phòng thủ mặt biển, Chỉnh tỏ ra là một tay nhanh-nhẹn giỏi-giang về thủy-chiến.
« Hải-diên » ! Đó là cái tước-hiệu người ta kêu Chỉnh để khen tặng Chỉnh trong hồi bấy giờ. 83
Chẳng bao lâu, Chỉnh được cai quản Tiền-minh cơ Nghệ-an và được phong làm Bằng-lĩnh hầu.
Cuối đời Cảnh-hưng, Trịnh Sâm phế con trưởng là Trịnh-Khải (tức Tông), lập con nhỏ là Trịnh-Cán. Và, để giữ vững địa-vị cho con nhỏ, Trịnh Sâm giao quyền binh và việc gửi-gắm vào tay Hoàng Đình-Bảo.
Nhưng trước đã nói, sau khi Sâm mất, chư quân nổi cuộc « đảo chính » (tháng mười, năm nhâm-dần, 1782) : phế Trịnh-Cán, lập Trịnh Tông, giết hai phe đảng Đình-Bảo.
Tin biến đó do biền sinh, Hoàng Viết-Truyền, thủ hạ Chỉnh, từ kinh báo đến Nghệ-an, Cống Chỉnh sợ.
Chỉnh vội sang bàn với trấn thủ Vũ Tá-Dao : « Nguy đến nơi rồi ! Chi bằng ta kết-nạp với phó-tướng ở Thuận-hóa là Hoàng Đình-Thể và đồn-thủ ở Động-hải là Khôi Xuân, xui họ giết đại-tướng (chỉ Phạm Ngô-Cầu), chiếm giữ lấy thành, đứng làm một tay cứu-viện. Còn ông (chỉ Vũ Tá-Dao, cứ giữ lấy trấn Nghệ-an này, gây thế « thần xỉ » (môi và răng) với các tướng Thuận-hóa, rồi chẹn đường Hoàng-mai 84, đóng trọng binh ở Quỳnh-lưu. Như vậy có thể giữ vững được lâu dài. Còn việc phòng giữ mặt biển thì chính Chỉnh này xin cáng-đáng hết. Ông tính sao ? »
Tá-Dao lắc đầu : « Việc ấy tôi không làm nổi ! »
Thấy Tá-Dao không tán đồng mưu định ấy, Chỉnh bèn đem cả gia-quyến, chạy vào Qui-nhơn (1782), được anh em Tây-sơn hoan nghênh nhiệt liệt.
Nguyên vì từ ngày vâng mệnh Hoàng Ngũ-Phúc đem sắc, ấn, cờ, kiếm vào cho Tây-sơn hiệu-trưởng, Chỉnh đã được anh em Tây-sơn biết là con người thế nào rồi. Nay Chỉnh túng bước, cùng đường, phải dắt vợ con và Hoàng Viết-Tuyết vượt biển vào đây chính là dịp tốt cho Tây-sơn lợi dụng.
Sau khi về với Tây-sơn Chỉnh hết lòng làm việc : bầy mưu, vạch kế, diễn đồ-pháp để luyện binh-lính, lập phép thi để lựa nhân tài… Một việc này làm cho Tây-sơn càng thêm thân tín : Chỉnh thẳng tay giết luôn người em rể (lấy em gái Chỉnh) khi người này vâng lịnh chúa Trịnh vào Qui-nhơn chực dụ Chỉnh về.
Năm bính-ngọ (1586), Phạm Ngô-Cầu 85, tướng Trịnh đóng ở Thuận-hóa, muốn dòm nội tình hư thực của Tây-sơn, có sai bọn Nguyễn Phu-Như và Vũ Vĩnh-Thành đi « thuyết » anh em Nguyễn Nhạc. Nhưng, ngờ đâu Phu-Như lại là cố nhân của Chỉnh, đem bao nhiêu tình-hình Thuận-hóa mách bảo Cống Chỉnh hết cả, và không quên kết luận một câu : « Thực trạng Thuận-hóa như nay, có thể lấy được lắm ».
Ngoại tình bên Trịnh bấy giờ đã nguy ngập là thế, nội-tình lại càng nhiều nỗi gay go : Từ tháng ba, năm bính-ngọ (1786), giá gạo cao lên vùn-vụt, trong kinh-kỳ và bốn trấn đàng ngoài bị nạn cơ cận ; dân đói, chết như ngả rạ. Bấy giờ chỉ có bát gạo là đáng quí, chứ chẳng ai – dù là người giầu – thiết đến chức tước gì cả. Một chứng cớ : Chúa Trịnh-Khải ra lệnh cho dân hễ ai quyên tiền thì được ban chức, nhưng không ai đáp theo tiếng gọi của Triều-đình, đến nỗi chúa Trịnh phải đem sắc lệnh ép gán cho nhà giầu để lấy tiền mà phát chẩn.