Quang Trung – Nguyễn Huệ Anh Hùng Dân Tộc

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Xiv. Việt Thanh Giao Thiệp
Xiv. Việt Thanh Giao Thiệp

❊ ❊ ❊

SAU khi quân Thanh đại bại, Kiền long nghiến răng căm hận, đòi Tôn Sĩ-Nghị về kinh hậu cứu, cử Phúc Khang An 349 làm tổng đốc lưỡng Quảng (Quảng-đông, Quảng-tây), đốc suất binh mã chín tỉnh, đem 50 vạn quân, định ngày kéo đến ải Nam quan, chực quyết một phen sống mái với ta để rửa cái nhục thua trận trước.

Nhưng còn đang trù trừ trước mưu định ấy, Khang-An đã được ngay một bài học trước mắt : 20 vạn quân, nào đâu cả, bây giờ chỉ thấy Sĩ-Nghị chiếc thân lếch thếch, tiều tụy trong bộ áo một viên tướng bại trận, chết hụt trốn về ! Khang An lại phong văn oai võ của vua Quang-trung và khí diệm của quân ta, nên không ngần ngại bỏ « chiến » mà chủ « hòa » nhưng khéo lót miệng bằng câu : « Nam Bắc tắt được binh lửa, thật là phúc lớn cho sinh linh và cũng là cái may to cho kẻ biên thần ».

Vua Quang trung định tạm gác binh đao, muốn giải quyết việc giao thiệp với nhà Thanh bằng cách hòa bình.

Dân Thanh bấy giờ vì tin lời đồn đại, tưởng Tây sơn thật kéo sang nội địa Trung-quốc, nên họ mới nôn nao kéo nhau chạy trốn. Thực ra, bản tâm vua Quang-trung khi đó vẫn chủ hòa bình. Chính ngài đả tỏ ý ấy trong thư viết cho Thang Hùng-Nghiệp, binh bị đạo ở Quảng-tây : « Bộc tòng vô xâm biên phạm cảnh dĩ đắc tội vu Thượng quốc ». (Tôi không hề có ý xâm phạm biên cảnh để được tội với Thượng quốc).

Ý ngài nghĩ : nước nhà sau cơn nguy biến, nguyên khí đã kiệt, cần phải bổ dưỡng ít lâu mới khôi phục được nguyên trạng. Thế thì chính sách khôn khéo bấy giờ là hãy phải làm hòa với Thanh để mình có đủ thì giờ mà mài nanh rũa vuốt.

Kế hoạch ấy đã định, nhà từ-lệnh Ngô Thì Nhậm cứ việc đi theo con đường do vua Quang-trung đã vạch sẵn mà tiến hành công việc ngoại giao.

Bấy giờ nhà Thanh đã gờm, có ý muốn hòa, nên Tả giang binh-bị đạo Thang Hùng-Nghiệp gửi mật thư cho Tây-sơn gợi ý bảo vua Quang-trung nên nhân dịp này, vận động lên thế vì họ Lê. Nghiệp sẽ đứng trong, ngầm giúp cho chóng nên việc.

Bằng giọng « con trời » tờ mật thư ấy của Nghiệp như dưới đây :

« …Xét ra họ Lê bên An-nam thần phục Thiên triều đã lâu, một sớm bị họ Nguyễn Tây sơn nhà ngươi chiếm đoạt mất đô thành, nên Hoàng đế (chỉ vua Thanh) phải sai tướng đem binh ra khỏi cửa ải, khôi phục đất nước cho họ Lê và cứ cho vẫn được nối chức chịu phong như trước. Chẳng dè Lê Duy-Kỳ đơn kém, vô tài, không thế dấy-nhức làm được trò trống gì cả, cứ dắt mẹ chạy trốn hoài, đến nỗi làm cho nhà Lê không ngóc lên được ! Từ đây về sau Thiên triều quyết không thể đem nước An-nam mà giao cho Lê Duy-Kỳ nữa !

« Họ Nguyễn Tây-sơn nhà ngươi nên nhân trước khi chưa có chỉ dụ, mau mau làm biểu đem sang đây, gõ cửa kêu với Đại Hoàng-đế (vua Thanh) rằng Lê Duy-Kỳ không được dân vọng, nhân dân bơ vơ tan đi bốn ngã : bất đắc dĩ, tôi 350 phải đem binh ra thay nhà Lê mà vỗ về dân chúng. Nào ngờ dọc đường, thình lình gặp phải quân nhà vua, đụng ai họ giết nấy. Tình thế dữ-dội. Nếu chúng tôi bó tay chịu trói, thì thế nào cũng đến bị giết hết sạch.

« Vì vậy, đám di binh, di-mục theo tôi phải hết sức chống cự lại. Chúng tôi tự biết như thế là có tội nặng lắm. Hiện nay tôi đã tra xét hai người chống cự thiên binh (quân Thanh) ấy, đem ra trị tội cho chính pháp cả rồi.

« Rồi nên nhờ người tâu xin với Đại Hoàng đế (vua Thanh) cúi thương mọi rợ (!) không biết gì, uốn theo lời xin mà tha thứ. Nên chăng cứ để Lê Duy-Cận đứng giám quốc : kính xin nhà vua ban chiếu chỉ phán bảo cho.

« Đặt lời cung phụng như vậy, chắc được Đại Hoàng đế soi xét lòng thành, sẽ cho nhà ngươi chủ trì việc nước. Bấy giờ sẽ có thể lại sai người sang kêu cầu Thiên triều ban cho ân điển (chỉ việc cầu phong).

« Bản đạo (Thang Hùng Nghiệp tự xưng) nhân vì giữ chức ở biên giới, tương lai có rất nhiều việc giao thiệp với An-nam nhà ngươi (!), nên phải viết thư kín này mà ngỏ cho biết.

« Thuận theo thì được phúc, trái nghịch thì phải vạ, tùy nhà ngươi tự chủ đấy… » (Dịch theo nguyên văn chữ Hán). 351

Nhận được mật thư ấy của Nghiệp, vua Quang trung biết người Thanh ra mặt làm hòa, chứ chẳng dám giở trò gì nữa, nên mới chịu cho người đứng lên dàn xếp như vậy. Vì thế, nhà vua lại càng coi khinh « Thiên-triều ».

Chứng cớ ấy tỏ rõ ở trong tờ biểu của Ngài 352 gửi cho vua Thanh Kiền-long do phó đô-đốc Hô-hổ hầu thân đem sang Thanh 353 :

« …(lược)… Tôi là Nguyễn Quang-Bình, ở khuất nẻo nên An-nam, bấy lâu vẫn được tắm gội trong thanh giáo.

« Nguyên từ hai trăm năm tới nay, Quốc vương họ Lê tôi mất quyền, việc nước vẫn do bầy tôi là họ Trịnh cầm nắm. Kịp đến tiên vương Lê Duy Chuyên (tức vua Hiển tông nhà Lê) tuổi già, tiền phụ chính Trịnh Đống mờ tối, biếng nhác : binh kiêu, dân oán, trong nước rã rời !

« Tôi vốn là kẻ mặc áo vải ở Tây-sơn, nhân thời thế, nổi lên làm việc. Mùa hạ năm bính-ngọ (1786), cất quân ra diệt họ Trịnh, trả lại nước cho nhà Lê.

« Năm ấy (bính-ngọ 1786) tiền Lê vương tạ thế 354, tôi lại phò lập Tự-tôn Duy-Kỳ (Chiêu-thống) lên nối ngôi. Duy-Kỳ là người dâm bạo, không lo chính sự nước nhà : trong thì kỷ cương rối bét ở Triều-đình, ngoài thì gây hiềm khích với biên giới. Lại còn hãm hại kẻ trung lương, giết chết người đồng tông là khác nữa ! Thần dân trong nước chạy đến kể lể với tôi, nài xin đem binh ra trừ kẻ loạn.

« Tôi nghĩ : nước này là nước đã được Thiên-triều phong cho, tôi đâu dám tự tiện làm việc phế truất ?

« Mùa đông năm đinh-mùi (1787), tôi sai một tên tiểu tướng đem quân ra hỏi tội những kẻ ở bên tả hữu giúp Kiệt làm xằng thì Duy-Kỳ lại sợ bóng sợ gió, đương đêm chạy trốn, tự chác lấy cái lo vào mình !

« Mùa hạ năm mậu-thân (1788), tôi tiến đến đô thành nhà Lê, lại giao cho Duy-Cận, con tiền Lê vương giữ lấy nước, coi việc thờ tự. Tôi từng sai sứ giả sang gõ cửa ải, hòng đem hết nội tình trong nước mà trình bày.

« Nhưng mẹ Duy-Kỳ đã trước sang Đẩu-áo-ải, có sách viết là « Khả-lưu-ải » kể lể xót xa với Tôn Sĩ-Nghị, tổng đốc Lưỡng Quảng, rồi lăn lưng cầu cứu.

« Sĩ-Nghị là kẻ đại thần ở biên cương, đáng lẽ phải xét kỹ căn do, dò tìm cái cớ tại sao Duy-Kỳ lại trốn bỏ nước và tại sao tôi phải vào nước, rồi tâu cùng Đại Hoàng đế, đợi ngài phân xử để dẹp mối loạn.

« Trái lại, vì ham tài sắc, chỉ nghe lời đàn bà (chỉ mẹ vua Chiêu thống). Nghị xé biểu chương của tôi, ném xuống đất, làm nhục sứ giả, xua đuổi về. Ý hắn muốn khua dân dấy binh, tâng công gây chuyện !

« Mùa đông năm ngoái (mậu thân 1789) Nghị điều bát, huy động nhiều quân, kéo ra khỏi cửa ải mượn tiếng khôi phục nhà Lê, truyền hịch đi khắp trong nước, đổ tội cho tôi ! Hắn chực đánh rốc đến Quảng-nam, đào cây đánh rễ, để trừ mối lo sau cho Duy-Kỳ.

« Tôi ở hẻo lánh tận tít chân trời, đường sá xa xôi, núi sông cách trở, chẳng hay việc đó có hẳn do ý Đại Hoàng đế sai làm hay do Tôn Sĩ-Nghị vì một người đàn bà (mẹ vua Chiêu thống) xui khiến, rồi mong kiêu hãnh lập công ở biên thùy để hòng kiếm lợi lớn ?

« Hay tin có binh mã Thượng quốc ra khỏi cửa ải, tôi nghĩ : tấc lòng « sợ mạng Trời, phục nước lớn » của mình bấy nay đã bị kẻ khổn thần ngăn trở mà cái cớ Duy Kỳ trốn bỏ nước kia lại bi che lấp không thông đạt lên được, sau này mối binh tranh bùng ra thì tai vạ không phải là ít !

« Ngô Hồng Chấn, viên tiểu tướng của tôi, bấy giờ đang đóng ở Lê-thành. Tôi sai nhóm hỏi ý kiến họ hàng Lê vương, văn võ thần liêu và kỳ lão cùng hào mục trong nước, thì muôn miệng một lời, ai cũng theo về với tôi.

« …Bản tâm tôi không phải tham đất đai và nhân dân của nhà Lê đâu, song vì lòng dân ép buộc, tôi muốn từ chối cũng không sao được.

« Vì thế, tôi phải sai viên gia tướng là Trần Danh-Bính cùng tám người sứ thần đem ba đạo bẩm văn của Duy Cận, con Lê vương, và của quần thần cùng dân chúng đến gõ cửa tướng doanh, khẩn khoản nài xin Tôn Sĩ-Nghị hãy cứ đóng quân ở nơi quan ải, tra rõ nội tình trước đây đã.

« Cùng một lúc ấy, tôi lại sai thả trả bọn tuần-dương binh Hắc Thiệu Tông bốn mươi người mà Ngô Hồng-Chấn (tướng Tây-sơn) đã bắt được. Thế là tôi vẫn chăm chăm tỏ ý cung thuận, chứ có dám công nhiên chống cự đâu.

« Vậy mà Tôn Sĩ-Nghị riêng nghe lời ton hót đặt để của mẹ Duy-Kỳ, xoay hại Trần Danh Bính, giết bọn tuần-dương binh 355 giam cầm sứ giả, lùa quân vượt sông Nhị hà 356 thẳng đến Lê thành (Thăng long). Tướng ta của tôi phải rút quân về Nam.

« Tôn Sĩ-Nghị được thể, tàn sát dữ quá ! Hắn lại phí sức cho các quan nhà Lê lùng những tướng sĩ của tôi ẩn náu ở các thôn trại để bắt đem nộp. Ngày nào hắn cũng giết đến ba bốn chục người ! Chứa dồn lại có tới hơn hàng nghìn mạng !

« Duy-Kỳ nhân dịp tốt ấy, tha hồ chém giết những chức viên sắc mục 357 đã theo tôi. Rất đổi và phanh mổ cả những đàn bà có mang, không để sót giống lại ! Cái ngón thảm độc ấy còn gì quá quắt hơn nữa !

« Ôi, kể ra, nhân dân ở nơi góc biển này, ai chẳng là con đỏ của triều-đình ? Đại Hoàng-đế là bực « cửu quá hóa thành », há lại ưa viễn vông, ham công lợi, trước gây sự với ngoài biên cương, khiến hạng dân vô tội phải sa vào vòng tên đạn ?

« Thế mà Sĩ-Nghị không biết lựa theo đức ý bề trên, lại đi giết người như ngóe, chẳng những riêng muốn cam tâm một mạng tôi, lại còn chực bắt giết cho kỳ tuyệt vây cánh của tôi nữa ! Hắn rao toạc lên tờ hịch, cốt dồn người ta vào chỗ chết mới nghe.

« Ôi, cứ kể nhân, sĩ, giáp binh ở một dải bờ biển này sánh với Trung-quốc, không được một phần muôn. Nhưng lạch nước sâu trước, cọp dữ ở sau, lòng người sợ chết, tất ai cũng phải cố gắng hăng hái.

« Tôi không tránh cái tiếng « ném chuột vỡ đồ », bèn đem dăm ba tên trai tráng trong làng trẩy ra.

« Mồng năm tháng giêng năm nay (kỷ-dậu 1789) tôi tiến đến Lê thành, những mong Tôn Sĩ-Nghị nghĩ lại, họa may có thể đem ngọc lụa thay đồ can qua, xoay binh xa làm hội xiêm áo ? Tôi nhũn-nhặn xin yết-kiến, nhưng Nghị không hề trả lời.

« Qua bữa sau, quân Sĩ-Nghị xông vào đánh trước ; vừa mới giao phong đã đổ vỡ, chạy tan bốn ngả, xô đè lẫn nhau mà chết. Thây xác đầy nội, nghẽn sông ! Còn những quân chạy trốn ra các thôn trang ngoài thành lại bị dân gian đánh giết hầu hết. Ấy vì trước đây Nghị đóng đồn ở quanh thành, hắn không biết ngăn cấm quân gia để chúng hiếp gái, cướp chợ, làm cho nhân dân căm giận đến tận xương tủy !

« Ngay bữa vào thành, tôi lập tức ngăn cấm trong xứ : hễ thấy bại binh chạy trốn, nhân dân không được phép giết. Bọn tàn binh ấy được đưa đến đô thành còn hơn 800 người tất cả. Tôi đã sai lấy lương thực trong kho mà ban phát cho.

« Trộm nghĩ : Binh đao vẫn là việc bất đắc dĩ của thánh nhân. Đại Hoàng đế thâm nghiêm ngự nơi cửu trùng. Những chuyện cương trường, Tôn Sĩ Nghị không hề tâu rõ từng việc một ! Hắn che lấp tai mắt nhà vua đến nỗi làm cho sự thế rối ren đến thế.

« Châu chấu đá xe, tôi thật không dám. Song, cửa vua xa cách muôn dặm, hễ tôi nhúc nhích làm gì liền bị kẻ khổn thần hiếp đáp. Không sao chịu nổi, nên hình tích mới dường như chống cự.

« Thiết nghĩ : nước tôi từ Đinh, Lê, Lý, Trần trở đi thế đại đổi thay, chẳng phải chỉ là một họ. Hễ ai có thể làm rào-giậu ở phương Nam thì Thiên-triều, lượng rộng như biển, thường vẫn làm ngơ lỗi nhỏ, lựa theo đạo trời, cốt giữ lòng rất công bình, rất nhân từ, mà vun xới cho cái cây đã mọc, mặc dầu có những chuyện như bọn Ô mã Nhi và Hoàng Ngũ Phúc đã làm bất lợi cho nước nhỏ này !

« Nay lòng trời đã chán nhà Lê, con cháu họ Lê đốn kém, hèn yếu, không được lòng dân theo về.

« Tôn Sĩ-Nghị, vì cớ nông nổi, không thấu suốt sự tình và lý do, nên mới chực hùa giúp gây dựng lại cho họ Lê ấy. Hắn gây mối binh tranh, khiến cho bọn sinh linh phải cay đắng khốn khổ ! Hắn lừa dối bề trên, tàn ngược kẻ dưới đến thế là cùng !

« Tôi đóng quân ở thành Long-biên (Thăng-long), nghển cổ ngóng trông về cửa trời… Gọi có tờ biểu tạ tội và trần tình này nhờ quan Quảng-tây phân tuần Tả giang binh-bị đạo (chỉ Thang Hùng Nghiệp) chuyển tâu bày giúp.

« Nép nghĩ : Đại Hoàng đế là bậc theo ý Trời, ban trị hóa, làm cho cành khô lại xanh tươi, cây kiệt lại nảy nở. Xin Ngài tựa theo tự nhiên, thứ cho cái tội đón đánh Sĩ-Nghị và xét cho tấc thành mấy phen đã gõ cửa ải, dâng lời tâu bày. Xin Ngài lập kẻ tư-mục để chăn dân, dựng nước phên giậu để vững thế, ban ơn mệnh mới cho tôi làm An-nam quốc vương, đứng làm phiên binh một phương, kính giữ cái chức phiên mục, khiến cho bản quốc có người cầm đầu cai quản.

« Tôi xin kính cẩn sai sứ sang cửa cung khuyết, xưng phiên, sửa lễ cống 358. Lại sẽ xin đem số người (tù binh) hiện còn của nhà vua mà dâng nộp để tỏ tấc dạ rất thật này ».

Kèm theo tờ biểu trên, vua Quang-trung còn có bức thư gửi cho Thang Hùng-Nghiệp, cuối thư có những lời khinh miệt và đe dọa « Thiên-triều » nữa :

« …Ôi, quân lính cốt hòa thuận không cốt đông, cốt tinh nhuệ, không cốt nhiều. Người khéo thắng là thắng ở chỗ rất mềm dẻo, chứ không phải lấy mạnh đè yếu, nhiều hiếp ít. Ví bằng chút tình trước đây không được bày tỏ, Thiên triều không chịu khoan dung một chút, cứ muốn động binh để tranh chiến, thế là làm cho nước nhỏ không được phục sự nước lớn thì bấy giờ Đại quốc (chỉ nhà Thanh) có dạy bảo gì, tôi cũng chỉ xin theo thôi (ý nói có muốn đánh nhau thì ta sẽ đánh cho mà coi).

« Nay có một tờ hịch của Tôn Sĩ-Nghị trong nói toàn là những lời lăng loàn, chọc tức gây hấn, xin đính trình một thể… »

*

Những lời giả đò cung thuận, nhưng đầy vẻ ngạo nghễ ấy của vua Quang-trung làm cho Thang Hùng-Nghiệp rụng rời kinh hãi !

Nhất là xem hết tờ biểu trên, Nghiệp tưởng chừng như nó có tính cách khiêu khích để cuốn nhà Thanh vào vòng khói đạn lần nữa !

Nghiệp nói với sứ giả ta là Hô hổ hầu : « Bây giờ không phải là lúc quân hai bên đương đánh nhau, vậy sao lại thả tuyền giọng tức giận ? Muốn cầu phong tước, hay muốn gây binh tranh, mà nói những lời như thế ? »

Vì giữ thể diện cho « Thiên-triều », Nghiệp phải dìm bức thư ấy, không dám để lọt đến mắt vua Kiền-long.

1792) VIỆN HỌC THUẬT – HIÊN PHỔ THÔNG TÁI BẢN ebook©MotSAch TVE-4u© —★— Nhà xuất bản : BỐN PHƯƠNG 1958
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.