Quang Trung – Nguyễn Huệ Anh Hùng Dân Tộc

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Xv. Đòi Đất Bảy Châu Thuộc Hưng-hóa Xưa
Xv. Đòi Đất Bảy Châu Thuộc Hưng-hóa Xưa

❊ ❊ ❊

T hồi cuối Lê, sáu châu thuộc Hưng-hóa và ba động thuộc Tuyên-Quang đều bị tụi thổ-tư nhà Thanh « xẻo xén ». Những đất bị sáp nhập bản đồ Lưỡng Quảng (Quảng-đông, Quảng-tây) ấy không được may mắn về chủ cũ, mặc dầu ta đã đòi hỏi nhiều lần.

Nay, vua Quang-trung không nỡ để một tấc đất phải luân vong, bèn mạnh bạo đưa tờ biểu nhờ viên tổng-đốc Lưỡng Quảng chuyển đạt lên vua Thanh, yêu cầu chia bờ cõi cho minh bạch.

Nguyên văn tờ biểu đòi đất ấy như sau đây :

臣仰荷天恩,賜履南服。欽未御詩訓以保守疆界,世傳子孫之道,夙夜祗懼,奉以守邦。

令惟:臣起自布衣, 幸有國邑 ; 尺土,寸民,皆大皇帝之賜,豈敢以彼疆此界塵瀆至尊?祗以交南分土,叨忝作屏,四封所抵具在寶書。

臣國一帶沿邊西北接內地臨安,廣南,開化三府。自前莫敬寬以牛羊,蝴蝶,普園三峒內投,欽奉聖祖仁皇帝賜蕊俘于前黎,復還其地。乃在康熙二十八年事。其後,土目韋福廉又以其地內屬,事己經久,斷以本國賭祝河爲界。乃在興化,宣光邊地經前任雲,貴督部鄂爾泰遵旨竪碑,自賭祝河以西至車里國嵩陵,醴泉黃炭綏阜,合淝,萊州,談州等七州並屬本國興化之地。

迨前黎庚申,本國逆臣黃公瓚之父,黃公舒,阻兵,據守,垂三十年,前黎姑息不辨,七州之民以地遼遠,本國不能控制,緣內附。自此以來,內地沿邊,內官勒令邊民改裝,插牌,征稅。

臣自受命啟邦,綢繆鳩集,內事正殷, 邊情委曲未及辦理。迺茲本國鎮日報稱:七州民久經內地征繕,本國行移調徵,一切勒肯阻當。源委情由藍由前黎不能恪遵封守有以馴致!

欽惟:大皇帝陛下:聖量洪慈,安勸庶邦。年前,北番合楞隨土爾扈特投順,旋賞給遊牧之地。矧此邊隅蕞爾,豈是列於職方?是必封疆之吏不以其事上聞:邊民便其游移,所在官員從而驅勒!臣不敢委分土爲閒土,而曲隱情由不一聲明於光輝之下也。輒敢冒昧繕表,憑兩廣總督公福康安轉奏。臣謹於南關界首,耑員等候,並遣文武員目咸就興化界首,節次查清質當七州土界賜歸本國屬籍。

臣仰籍寵靈,虔修保守,遙望闕庭,候奉聖訓,不勝瞻仰惶懼之至。。。

Dịch âm :

« Thần ngưỡng hạ thiên ân, tứ lý Nam Phục. Khâm phụng ngự thị huấn dĩ « bảo thủ cương giới, thế truyền tử tôn » chi đạo, túc dạ chi cụ, dụng dĩ thủ bang.

« Kim duy : thần khởi tự bố y, hạnh hữu quốc ấp ; xích thổ, thôn dân, giai Đại Hoàng-đế chi tứ, khởi cam dĩ bỉ cương thử giới trần độc chí tôn ? Chỉ dĩ Giao-nam phân thổ, thao thiểm tác bình, tứ phong sở để cụ tại bảo thư.

« Thần quốc nhất đới duyên biên : tây bắc tiếp nội địa Lâm an, Quảng-nam ; Khai hóa-tam phủ. Tự tiền Mạc Kính-Khoan dĩ Ngưu-dương, Hồ-điệp, Phổ-viên tam động nội đầu, khâm phụng Thánh tổ Nhân hoàng đế tứ Mạc phu vu tiền Lê, phục hoàn kỳ địa. Nãi tại Khang-hi nhị thập bát niên sự.

« Kỳ hậu, thổ mục Vi Phúc-Liêm hựu dĩ kỳ địa nội thuộc, sử dĩ kinh cửu, đoán dĩ bản quốc Đổ-chúc-hà vi giới. Nãi tại Hưng hóa, Tuyên Quang biên địa kinh tiền nhậm Vân, Quý đốc-bộ Ngạc Nhĩ-Thái tuân chỉ thụ bi, tự Đổ-chúc-hà dĩ tây chí Xa-lý quốc Tung-lăng, Lễ-toàn, Hoàng nham, Tuy-phụ, Hợp-phì, Lai-Châu, Khiêm-châu đẳng thất châu tịnh thuộc bản quốc Hưng-hóa chi địa.

« Đại tiền Lê canh-thân, bản quốc nghịch thần Hoàng công-Toản chi phụ, Hoàng Công-Thư, trở binh, cứ thủ, thùy tam thập niên, tiền Lê cô tức bất biện, thất châu chi dân dĩ địa thế liêu viễn, bản quốc bất năng khống chế, di duyên nội phụ.

« Tự thử dĩ lai, nội địa duyên biên, nội quan lặc linh biên dân cải trang, sáp bài, chinh thuế.

« Thần tự thụ mệnh khải bang, chù mâu cưu tập, nội sự chính ân, biên tình ủy khúc vị cập biện lý.

« Nãi tư bản quốc trấn mục báo xưng : thất châu dân cửu kinh nội địa chinh thiện, bản quốc hành di điều trưng, nhất thiết lặc chỉ trở đáng. Nguyên ủy tình do cái do tiền Lê bất nặng hác tuân phong thủ hữu dĩ tuần tri !

« Khâm duy : Đại Hoàng-đế bệ hạ ; Thánh lượng hồng từ, an khuyến tứ bang. Niên tiền, Bắc-phiên Hợp-lăng tùy Thổ-nhĩ-hỗ-đặc dần thuận, tuyền thưởng cấp du mục chỉ địa. Thần thử biên ngung loát nhĩ, khởi thị liệt ư chức phương ? Thị tất phong cương chi lại bất dĩ kỳ sự thượng văn ; biên dân tiện kỳ du-di ; sở tại quan viên tòng nhi khu lặc !

« Thần bất cảm ủy phân thổ vi nhàn thổ, nhi khúc ẩn tình do bất nhất thanh minh ư quang huy chi hạ hạ dã.

« Chiếp cảm mạo muội thiện biểu, bằng Lưỡng Quảng tổng-đốc công Phúc Khang-An chuyển tấu. Thần cẩn ư Nam-quan giới thủ, chuyên viên đẳng hậu, tịnh khiển văn võ viên mục hàm tựu Hưng-hóa giới thủ, tiết thứ tra thanh chất đáng thất châu thổ giới tứ qui bản quốc thuộc tịch.

« Thần ngưỡng tạ sủng linh, kiều tu bảo thủ, dao vọng khuyết đình, hậu phụng thánh huấn, bất thăng chiêm ngưỡng hoàng cụ chi chi… »

Dịch nghĩa :

« Thần được nhờ ơn trời, cho ở cõi Nam, vâng lời ngự thị dạy đạo gìn giữ bờ cõi, đời truyền con cháu, thần vẫn sớm tối kính sợ theo để giữ nước.

« Nay nghĩ : Thần từ kẻ áo vải dấy lên, may có đất nước. Một thước đất, một người dân đều là ơn của Đại Hoàng-đế ban cho cả, há dám phân biệt bờ này, cõi khác làm nhàm đến bậc chí tôn ? Chỉ vì phần đất cõi Nam lạm đứng làm phên rậu, bốn bề giáp ranh những đâu, đã có sách bảo chép rõ.

« Một dải biên-thùy nước thần, mặt tây-bắc tiếp giáp ba phủ Lâm-an, Quảng-nam, Khai-hóa bên thượng quốc. Trước kia, từ Mạc Kính-Khoan đem ba động Ngưu-dương Hồ điệp và Phổ viên phụ vào thượng quốc, đã kính được đức Thánh-tổ Nhân hoàng-đế ban tên tù họ Mạc cho nhà Lê và trả lại đất ấy rồi. Đó là việc năm Khang-hi thứ hai mươi tám (1689). Về sau, thổ mục là Vi Phúc-Liêm lại đem đất ấy mà phụ vào thượng quốc. Việc xảy đã lâu, rồi cứ lấy sông Đổ-chúc bên nước thần làm giới hạn. Ở chỗ đất Hưng-hóa và Tuyên-quang trước kia đã do viên tổng-đốc Vân, Quý, Ngạc Nhĩ-Thái, vâng chỉ dụ, đứng dựng mộc : Từ sông Đổ-chúc trở về phía tây cho đến bảy châu : Tung-lăng, Lễ-toàn, Hoàng-nham, Tuy-phụ, Hợp-phì, Lai-châu, Khiêm-châu nước Xa-lý (?) đều thuộc về đất Hưng-hóa của nước thần.

« Đến năm canh-thân, nhà Lê trước, Hoàng Công-Thư, cha của tên nghịch thần Hoàng Công-Toản, dấy binh giữ đất đến 30 năm ! Nhà Lê nhù-nhờ không trang trải xong. Dân bảy châu ấy, vì thấy địa thế xa xôi, nước thần không khống-chế được, bèn dần dà phụ thuộc vào thượng-quốc.

« Từ đó trở đi, các quan chức nơi biên giới của thượng quốc bắt ép nhân dân vùng biên viễn đổi lối ăn mặc, đeo thẻ, chịu sưu thuế. Thần từ ngày chịu mệnh mở nước đến nay, ràng rịt tổ ở, còn bận nhiều về việc nội trị, nên tình hình ngoài biên giới hãy còn nấn ná chưa kịp khuôn xếp.

« Hiện nay, viên trãn mục của bản quốc báo cáo rằng : thổ dân bảy châu ấy từng chịu thượng quốc đánh thuế và cai quản đã lâu, nên bản quốc hễ ra lệnh đánh thuế hoặc điền bút binh lính thì nhất nhất lại bị chống mệnh, ngăn trở. Cơn cớ đầu đuôi chỉ vì nhà Lê trước không biết kính giữ lấy đất, lâu dần thành quen, nên mới đến thế !

« Kính nghĩ : Đại Hoàng đế bệ hạ, lượng thánh hiền từ rộng rãi, vỗ yên khuyên bảo mọi bang. Năm ngoái, tên Hợp-Lãng rợ Bắc-phiên theo Thổ nhĩ hổ đặc đầu hàng cung thuận, liền được thưởng cấp cho đất du-mục huống chi đối với chỗ biên ngung nhỏ xíu ấy há lại liệt vào chức phương ! Đó chắc là bởi kẻ quan lại ở biên cương không chịu tâu trình việc này lên nhà vua, dân vùng ấy lấy sự được nấn ná qua quít làm tiện việc và quan viên sở tại đứng bên trong xui giục bắt ép.

« Thần không dám bỏ một phân đất làm đất hoang, nên không thể không đem tình do và khúc nói mà giãi bày ở dưới ánh sáng.

« Vậy xin đánh liều, mạo muội làm biểu, nhờ quan tổng đốc Lưỡng Quảng Phúc Khang-An chuyển tâu lên cho.

« Thần kính sai các viên chức chuyên trách chờ đợi ở cửa Nam quan, lại sai văn võ viên mục đến tận cõi Hưng hóa lần lượt tra xét cho rõ ràng ổn thỏa để đất bảy châu ấy lại được ban về thuộc trong bản đồ bản quốc.

« Thần ngước nhờ oai linh ân sủng của Bệ-hạ, kính xin gìn giữ lấy đất đai. Xa trông cửa khuyết, vâng theo lời dạy của đấng thánh, khôn xiết sợ hãi ngóng trông… »

Sau thấy các nhà đương đạo bên Thanh làm lơ, không chịu trang trải việc đất đai ấy vì lấy cớ rằng bấy lâu bờ cõi đã định, không thể thay đổi được nữa, vua Quang trung bao xiết bất bình, quyết chí làm đến cùng cho đạt được mục đích.

Ngài thường nói cùng các tướng tá : « Cứ thả cho ta vài năm nữa, ta nuôi vững oai lực, gây đủ nhuệ khí, thì có sợ gì chúng (chỉ Mãn Thanh) đâu ! » 477

Từ đó ngài rất chú trọng việc binh bị, rèn quân lính, đóng chiến thuyền, định làm một cuộc phi thường chưa từng có trong lịch sử Việt-nam : khôi phục đất hai tỉnh Quảng.

Cái chí muốn xẻ mảnh địa đồ Mãn Thanh đó của Vua Quang-trung đã tỏ rõ trong câu chuyện giữa ngài và một vị cận thần.

Vua Quang-trung hỏi : « Này, muốn biết việc làm của các vị đế vương nước ta thì coi ở sách nào ? »

Vị cận thần tâu : « Ở Nam sử »

Nhà vua lại hỏi : « Trước ta đây có ai dám đánh quân Bắc không ? »

Vị cận thần tâu : « Có, nào đức Trấn Hưng Đạo đánh giặc Nguyên, nào vua Lê Thái-tổ đánh giặc Minh, chuyện xưa hãy còn nhiều lắm ».

Vua Quang-trung thêm : « Song le, có ai dám sang tận Bắc mà đánh, rồi chiếm lấy đất ? »

Vị bầy-tôi tâu : « Chưa ! » (Sở dĩ không kể trận Lý Thường-Kiệt đánh Khâm, Ung, Liêm có lẽ vì Lý đánh được rồi, nhưng lại bỏ, không chiếm lấy đất chăng ?).

Thấy nói « chưa », vua Quang-trung liền hăng hái phán : « Vậy thì để ta sẽ làm cho mà coi ».

Cái động cơ sửa soạn làm nhung thủ, sang đánh Thanh, chính đã ngấm ngầm từ đấy.

Về việc vua Quang-trung không biết Nam sử này, ta nay có thể tin được không ? Không ! Vì chính Đại Nam chính biên liệt truyện, sơ tập quyển 30, tờ 1b có chép, ngài khi còn nhỏ, có học nơi Giáo Hiến, một thày dạy cả văn võ. Vả, theo như bức thư « trần biện hôn nghị » do Ngô Thì-Nhậm thảo cho thị-thần nhà vua đứng tên gửi cho viên tri-phủ họ Vương ở phủ Thái-bình bên Thanh thì vua Quang-trung là người : « tính trời ham học, dẫu ở trong vòng can qua bận rộn cũng không quên giảng đạo lý, ngày thường, nghị luận có khi khơi mở rành mạch ra được lắm điều mà sách vở ngày xưa chưa từng phát triển được ». 478

Như vậy, chắc ngài không đến nỗi không biết việc Trần Hưng-Đạo và Lê thái-Tổ. Nhưng nhân câu chuyện vấn đáp trên đây ta càng tin chắc vua Quang-trung quyết tâm vấn tội Mãn Thanh, đòi đất Lưỡng Quảng để chực nhẩy lên một nấc cao hơn đức Trần, vua Lê thuở trước.

Căm giận người Thanh, vua Quang-trung định tâm quyết một phen chiến đấu với họ để rửa cái hận nghìn thu cho lịch sử : mất đất về phía Bắc !

Trước khi quyết liệt ra mặt, nhà vua còn làm mọi việc khiêu khích, lấy gậy ông đập lưng ông !

Trong Vạn quốc sử ký, quyển IV, trang 8, tác giả Cương bản Giám-phụ có chép :

« …Khi Nguyễn Quang-Bình (một tên khác của vua Quang-trung) đã lấy binh lực đoạt được nước rồi, tiêu nhiều, của hết, bèn sai hơn trăm chiếc tàu ô và mười hai viên tổng binh mượn tiếng đi làm lương thực cho quân gia, nhưng thực ra dùng nhiều bọn giặc biển khách làm kẻ đưa đường, cướp bóc những miền Mân 479, Việt 480 Giang 481 Triết 482, Mãn-thanh náo động ! Các tỉnh tâu trình rằng bắt được giặc biển thấy có những con ấn binh tướng và tổng binh do nước An-nam phong cho. Nhà Thanh có tư việc đó sang hỏi bên An-nam : Nhưng nào có hay chính họ Nguyễn (chỉ vua Quang-trung) có dính dáng và biết thừa việc đó ! » (dịch).

Vậy sử sự ấy thế nào ?

Nguyên bấy giờ có bọn giặc ở Lưỡng-Quảng bị triều Thanh áp bức xua đuổi, túng thế, họ phải về hàng bên ta, vua Quang-trung liền thu dụng lấy tên đầu đảng, phong cho làm chức tổng binh, dùng chúng khuấy rối nội-địa Trung-quốc khiến cho người Thanh không thể ăn ngon, ngủ yên được.

Vua Quang-trung lại lợi dụng đảng « Thiên-địa hội » để khiêu khích Mãn-thanh.

Nên nhớ rằng sau khi Mãn-thanh vào làm chủ nhân ông hơn 400 triệu người Hán, các di dân, chí sĩ nhà Minh không chịu khuất phục dưới quyền thống-trị của họ hàng Thanh Thánh-tổ (1662-1772), liền hăng hái đứng dậy, ngầm tổ chức một cơ quan bí mật, kêu tên là « Thiên-địa hội », nhằm theo cái đích lật đổ chính-phủ Mãn-thanh, khôi phục nhà Minh cũ.

Hồi đó, họ đang hoạt động ở Tứ-xuyên, vua Quang-trung muốn dùng họ làm lợi khí để quật lại Thanh, liền dung túng và ám trợ đảng « Thiên-địa hội » để họ làm rối ren ở biên thùy Trung-quốc.

Kế-hoạch đó quả có công hiệu : đường giao thông thuộc hải phận nhà Thanh bị nghẽn ! Biên giới Mãn-thanh thường có cảnh báo (báo động), không yên !

Biên thần Mãn-thanh tuy biết rõ những sự biến đó toàn do vua nước Nam đứng sau giựt dây sai khiến, song vì sợ oai võ và thế lực nước ta bấy giờ đương bồng bột, hùng cường, nên người Thanh đành phải bấm bụng, chịu dầu, ngậm cay đắng, không dám chất-vấn hay phản kháng chi hết.

1792) VIỆN HỌC THUẬT – HIÊN PHỔ THÔNG TÁI BẢN ebook©MotSAch TVE-4u© —★— Nhà xuất bản : BỐN PHƯƠNG 1958
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.