Quang Trung – Nguyễn Huệ Anh Hùng Dân Tộc

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Xvi. Cầu Hôn Với Nhà Thanh
Xvi. Cầu Hôn Với Nhà Thanh

❊ ❊ ❊

NHÂM TÍ, niên hiệu Quang-trung thứ năm (1792) nhà vua sắp-đặt kế hoạch Bắc phạt.

Muốn dò ý vua Kiền-long và do-thám nội lực nhà Thanh bấy giờ hư thực ra sao, vua Quang-trung bèn tính đến việc cầu hôn công chúa Mãn-thanh.

Ban đầu, ngài sai thị-thần gửi thư cho viên Thái-bình tri phủ họ Vương bên Thanh nhờ đạo đạt lên Công-trung đường đứng làm mối cho. Trong thư có nói :

« …Quốc-vương tôi là chủ-tể một nước, không thể thiếu tay giúp đỡ việc nội trị. Nghĩ muốn gõ cửa ải, dâng tờ biểu kíp vì Quốc vương mà cầu hôn, lại e việc là việc trọng đại, nếu chưa có tay trong dung nạp trước thì đâu dám tự bày tỏ để mang tiếng rằng chưa có rìu đã chực đẵn cây ». 483

Sau nhà vua lại sai thị-thần gửi thư cho Vương tri phủ, để tranh biện việc cầu hôn ấy là chính đáng, trong có những câu mềm mỏng nhưng lý sự như :

« …Quốc-vương tôi nổi lên từ nơi đồng bái, mở đất ở phía Nam để có nhân dân xã tắc, đã được Đại Hoàng-đế (vua Thanh) dựng làm phiên bình ở ngoài, nếu lại được liên kết phủ phế thì các vương Mãn-châu Mông-cổ có thể lấy tư cách là con rể mà giúp đỡ ở mặt đông bắc, Quốc vương tôi há lại không thể lấy địa vị Châu Trần mà trổ sức ở phía tây-nam hay sao ? »

Trải qua mấy lần nhờ biên thần Mãn-thanh đánh tiếng rồi, sau vua Quang-trung sai gửi biểu thẳng lên vua Kiền-long để yêu cầu việc đó.

Nguyên văn tờ biểu cầu hôn ấy như dưới :

。。。臣本一介布衣,仰荷皇恩,叨司南服,既自闕庭展覲,特令抱見請安,賞賚更蕃,稠蒙異寵,凡交南從古所不常之事一一以施諸臣,迨臣欽旨回國,仰奉聖心垂脊,恩旨頻頒,浩蕩皇恩,莫可名狀。不料臣荒遠猥陋,承思至此!尊親在念,圖報無由!惟願得時叩天閽,邐瞻日表,而地遙勢隔,力不從心,過南關,便成疎遠。臣夢寐鈞韶,眄想雲漢,恆恐自同碌碌,泛然於聲教之外,辜負聖慈並生並育之心。

竊惟:聖人顯比諸候,聯疎爲親,事存古道。臣國之始,涇陽受命于炎帝,嫗姬釐降於貉龍,實祖文郎,啟封交趾,百男承襲,世守南藩,幸承蔭於中華,玃登名於文。世代雖遠,記載猶徵。宋朝興國以來,羈縻臣邦,擯爲化外,不在明堂之列,僅同彭濮之聯。我皇清受天脊命,奄有萬方,子照至以皆胞,庭寰瀛而罔外。欽惟:大皇帝陛下德同天地,道高軒虞,懷諸候,柔遠人,不以近代故常爲限。

臣叨蒙聖慈,視之如子,齒從親王之序,雖分在傖荒,情同生鞠。念惟萬物不隱形於天地,人子不隱情於父母,家庭心事敢不暴白於至尊之前。頃臣家降鞫,中餅乏人,締造初基,方舟寡助!思托蔭於玉樹,擬保固夫苞桑,仰見聖朝長白發祥,茂膺帝,子孫千億,奕蕠蕃昌。向來天家法式,王姬下貺,必由貴近擇諧,從無泛及外臣之。分嚴中外,極覺無階。惟是一念裁親,翹企之私,轉輾不能自己。

竊望天潢玉派,波及下藩,庶臣仰荷慈恩,獲親麟趾,關睢之化,元吉施社,肅雍式型,宜其家人,以教國人,習中夏之餘風,脫海濱之舊染,俾臣國內臣庶同相望於德化之中。臣家世雲仍,永保籓封。承休無斁,此臣之大願望也。祗茲分外求霑,事非常格謀,諸執事,無敢轉爲題達。君門萬里,瞻望懸懸 !輒敢不自揣量,冒瀆披誠,謹委陪臣恭候,奏事之暇,爲臣代叩,遡敘一段衷愫。

伏望高聰,俯垂睿鑒,軫臣區區懇慕之誠,怒臣蠻貊妄求之失,矜容涵育,仰伏聖恩。臣遠在海南,翹瞻震北。廑祝聖天子壽考萬萬年,永作萬邦父母。臣不勝戰慄翹望之至。

Dịch âm :

« Thần bản nhất giới bố y, ngưỡng hạ hoàng ân, thao tư Nam phục. Ký tự khuyết đình triển cận, đặc linh bảo kiến thỉnh an, thưởng lại cánh phồn, trù mông dị sủng. Phàm Giao nam tòng cổ sở bất thường đắc chi sự nhất nhất dĩ thi chư thần.

« Đại thần khâm chỉ hồi quốc, ngưỡng phụng thánh tâm thùy quyến, ân chỉ tần ban, hạo đãng hoàng ân mặc khả danh trạng ! Bất liệu thần hoang viễn ổi lậu, thừa ân chi thử ! Tôn thân tại niệm, đổ báo vô do !

« Duy nguyện đắc thời khấu thiên hôn, nhĩ chiêm nhật biểu ; nhi địa dao, thế cách, lực bất tòng tâm, nhất quá Nam quan, tiện thành sơ viễn !

« Thần mộng mị Quân-thiều, miến tưởng Vân-hán, hằng khủng tự đồng lục lục, phiếm nhiên ư thanh giáo chi ngoại, cô phụ thánh từ tịnh sinh, tịnh dục chi tâm !

« Thiết duy : Thánh nhân hiển tỵ chư hầu, liên sơ vi thần, sự tồn cổ đạo.

« Thần quốc chi thủy : Kinh dương thụ mệnh vu Viêm đế, Âu cơ ly giáng ư Lạc-long. Thực tổ Văn-lang, khải phong Giao chỉ, bách nam thừa tập, thế thủ Nam phiên, hạnh thừa ấm ư Trung hoa, hoạch đăng danh ư văn hiến, thế đại tuy viễn, ký tại do trưng.

« Tống triều hưng quốc dĩ lai, cơ my thần bang, thấn vi hóa ngoại, bất tại Minh đường chi liệt, cận đồng Bành bộc chi liên.

« Ngã Hoàng Thành thụ thiên quyến mệnh, yểm hữu vạn phương, tử chiếu chí dĩ giai bào, đình hoàn danh chi võng ngoại.

« Khâm duy : Đại Hoàng đế bệ hạ, đức đồng thiên địa, đạo cao Hiên, Ngu, hoài chư hầu, nhu viễn nhân, bất dĩ cận đại cố thường vi hạn.

« Thần thao mông thánh từ thị chi như tử, sỉ tòng thân vương chi tự. Tuy thần phận tại thương hoang, nhi tình đồng sinh cúc.

« Niệm duy : vạn vật bất ẩn hình ư thiên địa, nhân tư bất ẩn tình ư phụ mẫu, gia đình tâm sự, cảm bất bộc bạch ư chí tôn chi tiền. Khoảnh thần gia tao giáng cúc, trung quỹ phạp nhân, đề tạo sơ cơ, phương chu quả trợ, tử thác ấm vu ngọc thụ, nghĩ bảo cố phù bao tang.

« Ngưỡng kiến Thánh triều : Trường bạch phát tường mậu ưng đế chỉ, tử tôn thiên ức, dịch diệp phồn xương. Hưởng lại thiên gia pháp thức : vương cơ hạ chúc, tất do quý cận trạch hài, tòng vô phiếm cập ngoại thần chi lệ. Phận nghiêm trung ngoại, cực giác vô giai ! Duy thị nhất niệm đới thân, kiểu si chi tư, chuyển triển bất năng tự dĩ !

« Thiết vọng thiên hoàng ngọc phái, ba cập hạ phiên, thứ thần ngưỡng hạ từ ân, hoạch thân lân chỉ. Quan-thư chi hóa, nguyên cát thi xã, túc ung thức hình, nghi kỳ gia nhân, dĩ giáo quốc nhân : tập Trung-hạ chi dư phong, thoát hải tần chi cựu nhiễm, tỉ thần quốc nội thần thứ đồng tương vương ư đức hóa chi trung.

« Thần gia thế vân nhưng, vĩnh bảo phiên phong, thừa hưu vô địch. Thử thần chi đại nguyện vọng dã.

« Chi tư phận ngoại cầu chiêm sự phi thường cách, mưu chư chấp sự, vô cảm chuyển vị đề đạt ! Quân môn vạn lý, chiêm vọng huyền huyền ! Chiếp cảm bất tự sủy lượng, mạo độc phi thành, cẩn ủy bồi thần cung hậu, tấu sự chi hạ, vị thần đại khấu, tố tự nhất đoạn trung-tố.

« Phục vọng cao thông, phủ thùy duệ giám, chẩn thần khu-khu khẩn mộ chi thành, thứ thần man mạch vọng cầu chi thất Căng dung hàm dục, ngưỡng trượng thánh ân. Thần viễn tại Hải-nam, kiều chiêm thần bắc, cận chúc thánh thiên-tử thọ khảo vạn vạn niên, vĩnh tác vạn bang phụ mẫu. Thần bất thăng chiến lật kiền vọng chi chi… »

Dịch nghĩa :

« Thần vốn là một kẻ áo vải, được nhờ ơn cả, tạm giữ cõi Nam. Từ khi vào triều cận nơi cung khuyết, đã được đặc cách làm lễ bảo kiến vấn an, lại được ban thưởng trọng hậu, ơn lạ dồi dào. Phàm những sự mà cõi Giao-nam từ xưa chưa ai từng được đều nhất nhất ban cho thần cả.

« Kịp khi thần khâm mạng về nước, lại được đủ ơn đoái thương, luôn ban thánh chỉ. Cái ơn lồng-lộng của nhà vua thật không sao kể ra, tả ra cho xiết ! Thần là kẻ hèn mọn ở nơi hẻo lánh, chẳng ngờ lại được hưởng ơn đến thế ! Tấc lòng canh cánh mong báo đáp bậc tôn thân, song vẫn chưa bởi đâu mà đền bồi được !

« Chỉ mong được thường gõ cửa trời, gần nhìn bóng nhật, nhưng đất ở xa, thế cách trở, sức làm không được như ý muốn : hễ qua khỏi cửa Nam quan thì lại thành xa và sơ ngay !

« Thần vẫn mơ tưởng nhạc Quân thiều, ngóng trông Vân-hán, hằng e mình rồi cũng đến như hạng tầm thường, phải liệt tràn ở ngoài vòng thanh giáo, làm cô phụ cái ơn sinh nuôi tất cả của thánh-từ !

« Trộm nghĩ : Thánh nhân tỏ lòng giúp đỡ chư hầu, liên lạc chỗ sơ cho thành thân mật, phàm việc đều cư xử theo đạo xưa.

« Nước thần, ban đầu, vua Kinh đương chịu mệnh nơi Viêm-đế, bà Âu cơ kết duyên với vua Lạc-long : tổ nước Văn lang, mở cõi Giao chỉ, trăm trai nối dõi, đời làm phên giậu phía Nam, may nhờ phúc ở Trung hoa, được nổi danh là nước văn hiến. Thế đại dẫu xa, sử sách còn đủ khảo xét.

« Từ khi nhà Tống dấy lên, ràng buộc nước thần, ruồng ra ngoài vòng đức hóa không liệt vào hàng Minh đường, chỉ để cũng như hạng Bành-bộc.

« Nhà Thanh ta được trời quyến cố, rộng có muôn phương, chỗ nào có bóng mặt trời soi đến đều coi nhân dân là chung một bọc mà ra lấy hoàn-doanh làm gia đình mà không gẩy ai ra ngoài cả.

« Kinh nghĩ : Đại Hoàng đế bệ hạ đức ngang với trời, đất, đạo cao hơn vua Hiến viên, vua Ngu Thuấn, vỗ về cho chư hầu mến phục, dịu dàng cho người xa hướng về, không choèn choèn theo cái lối thường của các triều đại gần đây.

« Thần lạm được thánh thượng coi như con ruột, liệt vào hàng các thân vương. Phận này dẫu tận nơi xa khuất, nhưng tình ấy vẫn được kể như đẻ nuôi.

« Thiết nghĩ : muôn vật không giấu hình với trời đất, con cái không giấu tình với cha mẹ, thì câu chuyện tâm sự về gia đình dám chẳng giải tỏ ở trước bậc chí tôn ? Mới đây nhà thần gặp vận rủi ro, thiếu người giữ việc dâng cơm canh thờ cúng ! Trên nền gây dựng phong hóa đang thiếu người đỡ đần. Vậy muốn núp dưới bóng cây ngọc, hòng bám vững vào gốc dâu.

« Ngước thấy thánh triều phát tích từ Trường-bạch 484, đầy dãy phúc lành con cháu hàng nghìn hàng ức, nối đời phồn thịnh. Bấy nay lề lối nhà vua, vẫn chọn những chỗ quý hiển gần gụi để gả các công-chúa, chứ không có lệ gả tràn đến các bầy tôi ở ngoại phiên. Cái phận đã nghiêm chia trong ngoài như thế, thì thật khó bởi đâu mà chòi với được. Chỉ vì một niềm tôn mến, lòng riêng ngóng trông, nên cứ trằn trọc không sao thôi được.

« Trộm mong cành ngọc nhà trời lan rộng đến cả kẻ ngoại phiên ở dưới, ngõ hầu thần được ngửa đội ơn lành, gần gũi gót lân, đem phong hóa Quan-thư ban ra những phúc nguyên cát. Những điều kính ghìn hòa thuận từ nơi gia đình sẽ nêu làm khuôn mẫu cho người trong nước để họ tập quen cái dư phong của chốn trung hạ, trút bỏ cái thói cũ của nơi bờ biển khiến thần dân trong nước của thần được thỏa sự trông mong ở trong vòng đức hóa.

« Chắt chút dòng dõi nhà thần đời được giữ mãi phiên phong, hưởng sự tốt lành không cùng. Đó là điều mong mỏi lớn của thần vậy.

« Chỉ vì nay cần ơn ngoài phận, việc xảy khác thường nên bàn với những kẻ chấp sự, không ai dám vì thần mà chuyển tâu lên ! Cửa vua muôn dặm, trông ngóng đăm đăm. Nay bèn đánh bạo không tự suy xét mạo muội, nhằm tỏ tấc thành kính sai kẻ bồi thần sang chầu hầu để sau lúc tâu bày rảnh-rang sẽ vì thần mà kêu thay kể lể khúc nỗi cơn cớ.

« Nép mong bậc cao sáng đủ thương, xét cho thần lòng thành thiết tha trìu mến, tha cho thần cái lỗi rợ-mọi cầu liều.

« Thần xa ở biển Nam, ngóng trông sao Bắc, xin kính chúc Thánh Thiên-tử thọ khảo muôn vạn năm, mãi làm cha mẹ muôn nước. Thần bao xiết quá đỗi run sợ trông mong… »

Như ta thấy, trên đây vua Quang-trung đã đưa tờ biểu sang nhà Thanh cầu hôn công-chúa Thanh.

Nhưng sự thực việc ấy ra sao, mỗi thuyết một khác.

Theo nhiều sách chép thì năm nhâm tí (1792) vua Quang-trung có sai sứ bộ sang Thanh định yêu sách nhà Thanh hai việc : cầu hôn và đòi đất Lưỡng Quảng. Nhưng khi sứ bộ sang đến nơi thì được tin vua Quang-trung mất, họ bèn dìm tờ biểu « khiêu khích » ấy đi mà đổi làm tờ biểu « cáo ai » báo tin buồn cho triều Thanh biết.

Đại Nam chính biên liệt truyện, sơ tập, quyển 30, tờ 41b, cũng chép : « Năm nhâm tí (1792), Huệ sai làm biểu sang nhà Thanh, cầu hôn để dò ý vua Thanh, cũng muốn mượn chuyện ấy làm mối khởi binh ; nhưng rồi bị bệnh nên không làm trọn được ».

Đó là thuyết thứ nhất.

Còn thuyết thứ hai như có chép trong gia-phả họ Vũ do Vũ Vĩnh-Thứ, cháu ba đời của Vũ Văn-Dũng, soạn năm bính-ngọ, niên hiệu Tự-Đức thứ hai mươi hai (1870) thì đại khái như thế này 485 :

Nguyên từ ngày rằm tháng tư năm Quang-trung thứ tư (1791) nhà vua có phái trung-sứ đi từ Phượng-hoàng trung đô (Nghệ-an) đem sắc mệnh này cho đại đô-đốc Vũ quốc công Vũ Văn Dũng trong khi đang nghỉ giả-hạn ở nhà :

勅海陽招大都督大將軍翊遠運功臣武國公進加領北使正使兼全應奏請東酉兩廣以窺其心。公主一位以激其恕慎之!慎之!其用兵形勢盡在此行。他日前鋒卿其人也。欽哉勅命。光中四年四月十五日.

Dịch âm : « Sắc Hải-dương Chiêu viễn đại đô-đốc đại tướng-quân dực vận công thần Vũ quốc công tiến gia lĩnh Bắc sứ chinh sư kiêm toàn ứng tấu thỉnh Đông, Tây Lưỡng-Quảng dĩ khuy kỳ tâm, công chúa nhất vị dĩ kích kỳ nộ. Thận chi ! Thận chi ! Kỳ dụng binh hình thế tận tại thử hành. Tha nhật tiền phong : Khanh kỳ nhân dã. Khâm tai ! Sắc mệnh.Quang trung tứ niên, tứ nguyệt, thập ngũ nhật ».

Dịch nghĩa : « Sắc sai Hải-dương Chiêu-viễn Đại đô-đốc Đại-tướng quân dực-vận công thần Vũ quốc công được tiến phong làm chức Chính sứ đi sứ nước Bắc kiêm toàn quyền trong việc tâu thừa xin lại hai tỉnh Quảng-đông, Quảng-tây để dò ý, cầu hôn một vị công chúa để chọc giận. Cẩn thận đấy ! Cẩn thận đấy ! Hình thế dụng binh ở chuyến đi này cả. Ngày khác làm tiền phong chính là khanh đấy. Kính thay lời sắc sai này ! Ngày rằm tháng tư, năm Quang trung thứ tư (1791) ».

Cứ như ý trong lời sắc mệnh trên đây thì ra vua Quang-trung chỉ mượn hai việc đòi đất và cầu hôn ấy làm cớ để dò ý chọc giận vua Thanh. Vì nếu vua Thanh nổi giận mà cự tuyệt thì cuộc giao thiệp giữa hai nước Việt, Thanh sẽ nổi lên những trận giông tố quyết liệt, Bắc Nam sẽ nói chuyện với nhau bằng gươm lớn, súng dài : bấy giờ cuộc chiến tranh sẽ ngã ra một trong hai thế : một là vua Quang trung tự làm binh thủ, cho Vũ quốc-công Vũ Văn-Dũng làm tiền phong đường đường trống giong cờ mở, kéo binh sang tận đất Bắc mà vấn tội vua Thanh. Hai là lừa cho vua Thanh nhân lúc quá giận, không kịp suy nghĩ sâu xa, hấp tấp sai tướng xuất quân sang Nam để mua lấy cuộc thất bại đau đớn nhục nhã như trận Đống-đa ngày trước. Bấy giờ bên ta lại đứng vào thế nghinh nghịch, ứng chiến. Mà chuyến đi đòi đất và cầu hôn này, Vũ văn-Dũng phải đóng một vai chính trị tối quan trọng ; vừa làm Chính-sứ trong cuộc ngoại-giao, vừa làm trinh thám chuyên môn về quân sự. Vì có phải chỉ chuyên một việc uốn ba tấc lưỡi để giao thiệp với triều Mãn-thanh thôi đâu, Dũng lại còn phải dò xét núi sông hiểm dễ thế nào, đường xá gần xa thế nào, thủy lục tiện-nghi thế nào, và binh lực nhà Thanh thực hư, mạnh yếu thế nào, nhất nhất phải nhận xét cho tinh tường, ghi nhớ cho rành mạch rồi đem những tài liệu quân sự ấy về dâng vua Quang trung để ngài tính kế bày mưu, liệu cơ thế thắng.

Nhưng kết cục việc Dũng đi ấy ra sao ?

Cứ theo như gia phả họ Vũ đã thuật ấy, thì khi vào bệ kiến vua Thanh Kiền-long, Vũ văn Dũng có tâu xin hai việc :

- Việc thứ nhất là cầu hôn, vì phối suất là việc quan trọng, Quốc vương hiện nay đã lớn tuổi, mà hôn nhân chưa định xong bởi chưng trong nước thì toàn là hạng thần tử, các phiên phong láng giềng thì lại không được quốc vương ưa thích, nên muốn vua Thanh xét tình cho.

- Việc thứ hai là xin đất đóng đô, vì lấy cớ rằng Quốc-vương ở một nước hẻo lánh, thủy bộ không tiện mà vượng khí trong nội-địa thì hết mất rồi !

Hai việc ấy tâu lên, vua Thanh châu phê giao cho đình nghị.

Nhưng trong khi đình thần nhà Thanh chưa kịp bàn xét thì liền hôm sau, bọn Vũ Văn-Dũng nhận được bệ kiến ở Ỷ-lương các, lại dâng tấu-chương thứ hai xin vua Thanh ban cho hai tỉnh Quảng-đông, Quảng-tây làm đất đóng đô và gả một vị công-chúa để gây cho nước biên-thùy cái phong hóa của Trung-quốc.

Hai việc ấy tuy được chuẩn y cả. Nhưng vua Thanh chỉ ưng cho một tỉnh Quảng-tây để làm đất đóng đô thôi.

Việc đòi đất tới đến đấy. Còn việc định gả công-chúa thì đã tiến được bước dài hơn :

Sau ngày tiếp Nam sứ ở Ỷ-lương các, vua Thanh liền sai bộ lễ sửa soạn nghi lễ việc cưới gả, định ngày cho công chúa sang Nam đẹp duyên với Quốc-vương.

Nhưng sau đó mấy hôm, Vũ Văn-Dũng nhận ngay được tin chẳng lành : Vua Quang-trung mất ! Vì vậy, mọi việc đều lỡ làng lở dở, bọn Dũng đành ôm mối hận mà trở về.

Rồi từ đó, việc khôi phục Lưỡng Quảng chỉ là câu chuyện lịch-sử mà cơ-đồ nhà Tây-sơn cũng dần dần tan theo giấc xuân-mộng của nàng công-chúa Mãn-thanh.

1792) VIỆN HỌC THUẬT – HIÊN PHỔ THÔNG TÁI BẢN ebook©MotSAch TVE-4u© —★— Nhà xuất bản : BỐN PHƯƠNG 1958
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.