1) Việc chúa Tĩnh-đô Trịnh Sâm (1767-1782) hại Hoàng thái-tử Lê, Duy-Vĩ (tháng 3, kỷ-sửu 1769)

Quang Trung – Nguyễn Huệ Anh Hùng Dân Tộc

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
I. Thời Loạn
Phần Thứ Nhất : Quật Khởi I. Thời Loạn

❊ ❊ ❊

TRƯỚC khi nói đến Quang-trung (1788-1792) là một anh hùng dân tộc, đã từng hai lần đánh giặc ngoại xâm, giữ vững độc lập, ta nên biết qua một đoạn lịch-sử đương thời đã liên quan đến nhân vật đóng vai lãnh đạo ở hồi cuối thế-kỷ mười tám ấy.

Nguyên từ năm Quang-hưng thứ mười sáu (1593), nhờ ở tấm lòng quân dân ái đời nhà Lê vì nhớ ơn vua Lê Thái-Tổ (1428-1433) có công đánh dẹp giặc Minh, khôi phục nước cũ, và nhờ ở tài lực Trịnh Tùng 4 trong công cuộc điều khiển việc đánh Mạc, nhà Lê tuy khôi phục Thăng-long, nhưng thế lực không đủ thống nhất được bờ cõi, gây thành cục diện tam phân : dòng-dõi nhà Mạc cát cứ ở Cao-bằng (1596-1667) ; các chúa cựu Nguyễn xưng hùng ở Thuận, Quảng (1600-1778). Cái nạn nội tranh ngày càng ác liệt, khiến cho nhân dân phải cơ cực điêu đứng trong cảnh lầm than ! Đến đời Lê Hiển-Tông (1740-1786), trong nước lại càng rối loạn.

Ở Bắc-hà, tục gọi Đàng-ngoài, từ năm Đinh-mùi (1667) Mạc Kính-Vũ bị chúa Trịnh Tạc sai bọn Đinh Văn-Tả đánh bật khỏi Cao-bằng, bấy giờ mới tạm thống nhất, nhưng trong Nam-hà, tục gọi Đàng-trong, họ Nguyễn vẫn đương đầu với họ Trịnh, lấy sông Gianh (Linh-giang) làm giới hạn 5 xoay thành cục-diện chia đôi.

Nên nhớ rằng, Đàng-ngoài, họ Trịnh tuy để vua Lê, nhưng đó chỉ là cái thuật chính-trị : đưa lên làm vì để, đối ngoài, khỏi bị nhà Minh hạch-sách lôi thôi, đối trong, tiện bề lung lạc và hiệu triệu dân chúng ; chứ thật ra, bao nhiêu thực quyền quân quốc bấy giờ đều nắm ở trong tay chúa Trịnh.

Tình hình ngoài Bắc, trong Nam thế nào, ta thử ôn lại mấy trang sử cũ :

Thái-Tử Duy-Vĩ là con vua Lê Hiển-tông (1740-1786), từ bé thông minh, lanh lẹ, đọc rộng kinh sử, ưu đãi và kính nể sĩ-phu ; thần dân ai cũng ngưỡng mộ. Chúa Trịnh Doanh (1740-1767) rất quí trọng Vĩ, và đem trưởng-nữ là Tiên-dung quận-chúa gả cho. Vĩ thường căm nỗi nhà Lê mất quyền-bính, khảng-khái có chí thu lấy quyền cương.

Khi làm Thế-tử, Trịnh Sâm, con Trịnh Doanh, vốn ghen-ghét Vĩ tài giỏi. Một hôm, Vĩ và Trịnh-Sâm cùng ở trong phủ chúa. Chúa Trịnh ban ân và bảo cùng ngồi. Song vợ Trịnh Doanh gạt đi mà rằng : « Đối với Thái-tử, Thế-tử còn có cái phận vua tôi, há nên ngồi cùng ? » Rồi sai dọn riêng làm hai mâm.

Trịnh Sâm sầm mặt lại, đi ra nói với người ta rằng : « Trong hai chúng tôi, phải một sống, một thác, chứ quyết không thể cùng đứng với nhau được ! »

Kịp khi nối ngôi chúa, Trịnh Sâm cùng bọn hoạn-quan là Hoàng Ngũ-Phúc và Phạm Huy-Đĩnh ngầm mưu phế Thái-tử Vĩ, nhưng chưa có cớ để nói. Sâm bấy giờ mới vu Thái-tử tư-thông với nàng hầu trong phủ Trịnh Doanh rồi đem tội-trạng ấy tâu với vua Lê, xin bắt hạ ngục.

Thái-tử biết nạn đã xảy đến, vội lánh vào tẩm-điện vua Lê.

Huy-Đĩnh xông vào nơi đông-cung trước, tìm khắp không thấy, bèn vào thẳng trong điện, kể tội-trạng của Thái-tử, và nói : « Nghe Thái-tử ẩn ở tẩm-điện của Bệ-hạ, vậy xin Bệ-hạ bắt giao cho thần ». Vua Lê ôm lấy Thái-tử, hồi lâu, không nỡ rời ra. Huy-Đĩnh quì dài ở sân rồng.

Tự liệu không thoát, Thái-tử khóc lạy vua Lê, rồi rảo bước đi ra chịu trói để bị điệu về phủ Trịnh. Huy-Đĩnh bảo Thái-tử bỏ mũ, đợi chịu tội. Thái-tử không nghe, nói : « Phế lập, thí nghịch là việc nhà bay quen làm ! Ta có tội gì ? Đã có sử xanh nghìn thu ở đó ».

Sâm giả-mạo mệnh lệnh vua Lê, phế Thái-tử làm dân thường, giam vào ngục 6. Qua hai năm sau, Trịnh Sâm bắt Duy-Vĩ phải thắt cổ chết ở trong ngục. Cái chết của Duy-Vĩ làm cho mọi người ở phố-phường và chợ-búa đều cảm thương 7. Về sau, Trịnh-Sâm và ái phi là Đặng-thị-Huệ chừng ăn năn việc giết oan Duy-Vĩ, bèn làm việc mộ Phật, dựng chùa xây tháp để cầu âm công. Có lẽ câu dân dao này dường muốn phê bình việc ấy :

« Dẫu xây chín cấp phù đồ, 8

Chi bằng làm phúc cứu cho một người ».

2) Việc loạn quân Tam-phủ tháng mười Nhâm dần 1782 9

Nguyên từ hồi trung-hưng (từ năm 1533 trở đi), nhà Lê chỉ lấy binh-đinh ở ba phủ 10 Thanh-hóa và ở mười hai huyện Nghệ-an. Vì nhà Lê dấy lên từ Thanh-hóa, binh lính ở hai nơi Thanh, Nghệ đã từng chia xẻ với Quốc-gia những nỗi gian-lao vất-vả, nên được Triều-đình coi hạng lính ở đất căn bản ấy như móng vuốt, ruột rà, đối đãi ưu-hậu 11. Vì vậy, bấy giờ họ được mang cái danh hiệu là quân Tam-phủ,hoặc Ưu binh hoặc Nhất binh. Nhưng, về sau, ngày một kiêu rông, Triều-đình không sao kiềm chế được nữa.

Năm Lê Gia-tông Dương-đức thứ hai (1673), quân Tam phủ, vì thấy việc thuyên thụ (thuyên bổ và cho phẩm-trật) có hơi kém bèn nổi dậy làm loạn, giết bồi-tụng Nguyễn Quốc-Hòe, đốt nhà quốc-lão Nguyễn Công-Trứ rồi cướp của cải. 12

Qua năm Cảnh-hưng thứ nhất (1740), họ bất bình vì việc tham-tụng Nguyễn Quý-Kính (có âm nữa là Cảnh) hơi đè nén trái lệ, liền hò nhau đến phá nhà Quý-Kính, cướp hết của cải và đồ-vật. 13

Tháng chín, năm nhâm-dần (1782), Trịnh Tĩnh-đô vương, trước khi mất, có giao phó việc giúp lập con nhỏ là Trịnh-Cán vào tay bảy người tâm phúc là bọn quận Huy Hoàng-Đình Bảo. 14

Nhưng vì quận Huy Hoàng Đình-Bảo đã chuyên quyền lại dan díu với Đặng thị Huệ là vợ chúa Trịnh Sâm, mẹ Trịnh-Cán 15 ; mà Trịnh-Cán thì không được lòng người nên đương thời có câu dân dao rằng :

« Đục còn, nên giữ lấy « tông » 16

Cuốc đà long « cán » 17, còn mong nỗi gì ! »

Quân Tam phủ nhìn thấy kẽ hở ấy, bèn thừa cơ hội, gây thành một cuộc phế lập « tháng mười » (nhâm-dần, 1782).

Sau khi lập Trịnh Tông (tức Khải) làm Đoan-nam vương (1782-1786), phế Trịnh-Cán làm Cung-quốc công và giết Đình-Bảo, quân Tam phủ kéo nhau đi cướp phá nhà Đình Bảo và các nhà thân thuộc của Đặng thị Huệ (mẹ Trịnh-Cán) với các nhà phe đảng quân Huy… Nhiều nhà giầu phải vạ lây cũng bị phá phách cướp bóc.

Chư quân còn thanh ngôn muốn giết cả vương cữu nữa. Thái-phi nhà Trịnh phải ra kêu khóc xin tha ; họ mới thôi.

Luôn mấy ngày, kinh thành sống trong cơn khủng bố rối loạn !

Đình thần im tiếng.

Sau việc « đảo-chính » này vài ngày, chư quân lại kéo đến nơi ngục-thất, trả lại tự-do cho các con của cố Thái-tử Lê Duy-Vĩ là Duy-Lưu và Duy-Chi. 18

Còn Duy-Kỳ 19, cũng con của cố Thái-tử nhà Lê, được họ thả ra từ hôm phế lập.

Lần thứ nhất, họ đã được vua Lê Hiển-tông trọng thưởng tiền bạc và « chức tước » như biện-lại hoặc cai-quản, vv…

Lần sau, họ lại đến yêu sách vua Lê phải thưởng thêm cho họ về công đã thả được hai hoàng-tôn ra khỏi nhà tù.

Không thiết 2.000 lạng bạc của ông vua nghèo, họ trả lại bạc, nhưng đòi xin « danh phận » lần nữa.

Vua Lê sai làm sắc phong cho họ. Trong đám chư quân, kẻ nào đã được phẩm trật lần trước, nay không muốn nhận nữa, thì họ lại nhường cho bà con hoặc người quen thuộc.

Cũng chiều theo ý họ, Triều đình bèn « chế-tạo » ra một thứ sắc gọi là « dực đới tương nhượng sắc » 20 để ban cho kẻ nào mà chư quân muốn nhường.

Bởi chư quân, Trịnh Tông đang bị truất bỗng được lên ngôi vương ; cũng bởi chư quân, các cháu vua Hiển-tông nhà Lê đang bị xiềng xích bỗng được trả lại tự-do, cho nên họ thường tự phụ mà nói : « Các ngôi đế vương đều từ trong tay chúng tôi mà ra cả ! »

Thế là, từ đó, họ hết sức lăng bức Triều-đình. Các lợi quyền Quốc-gia là vật trong túi họ. Động một tí, họ đánh mõ inh ỏi, tụ họp lại, kéo thành đàn hàng chục hàng trăm, nhông nhông giống lượn, kêu gọi la ó ầm ỹ…

Họ yêu cầu Nhà nước cho họ hưởng các lợi quyền ở nơi quan ải, bến đò, đầm, hồ, bãi sông, chợ búa (1783)…

Họ càng chiếm được các mối lợi của Nhà nước bao nhiêu, thì dân gian lại càng bị họ khuấy nhiễu bấy nhiêu. Vì mối lợi họ được có đụng chạm đến dân gian : một khi chợ búa, bãi sông… đã lọt vào tay họ, thì dân quê lẽ tất nhiên bị họ bóc lột tàn nhẫn ! Vì thế, mối căm hờn ngày một ngày ăn sâu vào xương tủy dân gian. Giữa dân và lính đào sâu một hố cừu-thị.

Ngay ở những cố lão ở hồi gần đây (1889-1907) hãy còn hay dùng câu này để chỉ những cử động nhũng nhiễu của kẻ không giữ kỷ-luật : « Làm gì như quân Tam phủ ấy thế ! » Đủ biết cái nạn ưu-binh ở đương thời ghê gớm là chừng nào !

3) Cảnh nghèo đói của dân chúng

Muốn biết rõ sinh hoạt dân chúng ở đương thời, ta nên xét qua chế độ sưu thuế hồi ấy.

Từ năm kỷ dậu (1669) về trước, lệ định sáu năm làm sổ hộ một lần, rồi cứ tùy theo số định nhiều ít, ruộng đất xấu hay tốt mà đánh thuế, gọi là thuế « quí » 21, tức là thứ thuế thu vào cuối năm. Đồng niên mỗi dân đinh hoặc đóng một quan, hoặc một quan tám tiền, tùy từng hạng.

Qua năm kỷ-dậu (1669) đặt phép « bình lệ » : làng nào cũng kể từ năm ấy, hễ có bao nhiêu đinh thì cứ đóng thuế bấy nhiêu suất mãi mãi : chết không trừ, mới đẻ cũng không tính.

Đến năm kỷ-hợi (1719), đặt ba hạng thuế công điền. Đồng niên mỗi mẫu : hạng nhất một quan, hạng nhì tám tiền, hạng ba sáu tiền.

Từ năm quí-mão (1723), lại đặt « phép tô » : mỗi mẫu công điền hằng năm đánh thuế tám tiền. Ruộng hai mùa thì phải cấy nộp hai phần ba thóc ; ruộng một mùa thì nộp một phần ba thóc. Mỗi mẫu bãi công phải nộp một quan hai tiền thuế ; nhưng lại chia hai hạng : hạng trồng dâu, nộp một nửa bằng tơ : hạng không trồng dâu, nộp cả bằng tiền. Tư điền trước không đánh thuế, nay định thuế đồng niên mỗi mẫu : ruộng hai mùa, ba tiền ; ruộng một mùa, hai tiền.

Mỗi suất đinh hằng năm đóng một quan hai tiền hạng sinh đồ 22, lão nhiêu 23 và hoàng đinh 24 phải đóng một nửa.

Trước đó, dân đinh phải chịu sưu dịch : tùy món tiêu nhiều ít mà đóng góp vào cho đủ những việc như bài biểu 25 tế lễ ở đền vua phủ chúa, sửa trường thi-làm cầu cống, dọn đường sá, đắp đê điều… Từ năm quí-mão (1723), hằng năm mỗi suất đinh : mùa hạ đóng sáu tiền, mùa đông đóng sáu tiền về sưu dịch.

Ngoài ra, còn thuế tuần ti, tùy theo các thuyền bè lớn hay nhỏ, chở nặng hay nhẹ mà đánh thuế một phần bốn mươi.

Thuế thổ sản đánh vào các loại như vàng, bạc, đồng sắt hay chì, sơn, diêm-tiêu, than gỗ, than đá, gỗ, tơ, lụa, quế, cá, nước mắm, rượu, mật, dầu, giấy chiếc, vải… (Kể từ năm giáp-thìn, 1724).

Thuế muối đáng chú ý hơn hết : Từ năm tân-sửu (1721), đánh thuế muối là hai phần mười 26. Ai buôn muối, trước phải lĩnh thẻ của Giám-dương là chức quan coi thuế muối, mua ở quan xong, rồi mới được mua ở nơi dân làm muối. Kẻ mua người bán đều phải có văn khế để làm bằng. Thời giá bây giờ mỗi đấu muối lên đến một tiền. Thuế ấy chỉ bãi được mười bốn năm (nhâm-tí – bính-thìn 1732-1746). Từ năm bính-thìn (1746) trở đi lại đánh thuế muối : cứ năm mươi mẫu ruộng muối là một bếp, mỗi bếp thu bốn mươi hộc muối thuế mỗi hộc định giá là ba tiền (180 đồng kẽm). (Theo Cương-mục quyển 33, tờ 29 a-b ; quyển 35 tờ 42 a ; quyển 36, tờ 9 a-10 b, 12 a, 20 b-21-a)

Bây giờ ta thử so sánh với thuế hồi đầu đời Trần dưới triều Trần Thái-tông (1225-1258) :

Tuy có đánh thuế đinh, nhưng thực ra chỉ những người nào có ruộng thì mới phải chịu thuế. 27

Về thuế điền, mỗi mẫu ruộng tư phải nộp ba thưng 28 thóc ; mỗi mẫu bãi dâu phải nộp chín tiền hoặc bảy tiền.

Sau khi đối chiếu với thuế đời cuối Lê Trung-hưng như trên đã nói, ta thấy nặng nhẹ khác nhau là thế nào.

Dưới chế độ sưu thuế như thế, nhân dân lại gặp luôn năm loạn lạc, phần phải đi lính, đi thú, phần vì không được an cư mà lo làm ăn cày cấy cho nên không sao tránh khỏi cái nạn đói kém, giạt trôi !

Để chứng thực cái trạng thái mục nát của xã-hội Bắc-hà thời ấy, ta hãy đọc thêm đoạn này của Tùng-niên, trong Tang-thương ngẫu lục, truyện Bùi-công Huy-Bích :

« Năm nhâm-dần (1782), đời Cảnh-hưng (1740-1786), Điện-đô vương (Trịnh-Cán) lên cầm quyền trong tuổi thơ-ấu gần xa đều nao nao… Ngày 25, tháng 10 (năm nhâm-dần, 1782), bình Tam-phủ làm loạn, ủng lập Trịnh Tông (tức Khải), con cả của cố vương (Trịnh Sâm) : ấy là Đoan-nam vương…

« …Bấy giờ kẻ dưới thì lăng-loàn, người trên thì suy-đốn, giềng-mối Triều-đình ngày một sa-sút hư-hỏng. Ông Bùi Huy-Bích lo âu về nỗi ấy, thường thường than thở trong khi đứng ở Triều-đình. Ông từng làm bài văn khóc ông Hồ Sĩ-Đống, chức quyển phủ, có câu rằng : « Trên chốn Triều-đình, việc chính-trị không ra sao, lại thêm nỗi : nào nước lụt, nào hoàng-trùng !… » (Tang thương ngẫu lục, tập dưới, tờ 46)

Trong Việt-nam phong sử của Tiểu-cao Nguyễn-văn-Mại cũng chép :

« Khoảng đời Cảnh-hưng (1740-1786) Chiêu-thống (1787-1789), luôn năm, mất mùa đói kém, dân gian trôi dạt lưu li cha con không thể nuôi nhau, anh em không thể nương nhau… »

Khâm định Việt-sử thông giám cương mục, quyển 44, tờ 33b-34a cũng chép sơ qua về cảnh sinh hoạt dân chúng ở hồi cuối Lê :

« Mùa thu, năm bính-thân (1776), đại hạn, đồng ruộng cháy khô, nhà nông không sao làm được công việc đồng áng. Những người nghèo khó hết qua cửa quyền nọ lại đến nhà sang kia cũng không sao kiếm được một chỗ làm thuê, làm mướn. Vì thế, trộm cướp nổi lên như rươi, khuấy nhiễu dân dã, làm cho người ta không sống yên được ».

Xem đó đủ biết cục-diện bên Trịnh bấy giờ đã có cơ nguy vong.

Trong Nam-hà, vùng Thuận, Quảng sống dưới trị quyền chúa Nguyễn từ năm mậu ngọ (1558), bấy giờ cũng đang thối nát rối ren.

Chúa Định-vương (1765-1778), mới 12 tuổi, lên ngôi « làm vì » ; chính quyền nắm cả trong tay Trương Phúc Loan.

Phúc Loan lợi dụng chức quốc-phó, làm giầu bằng cách bán quan buôn ngục. Xây biệt thự Phấn-dương, Loan dùng làm nơi chứa của : đã nhiều ngựa, lắm trâu, lại vô số châu ngọc, gấm, vóc… Sau trận nước lụt, Loan sai phơi vàng đầy sân.

Phần khổ vì chính-sự bất lương, phần cơ cực vì đói kém, dân chúng ngắc-ngoải dưới hai lần áp bách bằng chính-trị và kinh tế.

Nói tóm lại, ngoài Bắc, trong Nam bấy giờ, xã hội thì hủ hóa, nhân tâm thì tư loạn, thời bệnh ngày một trầm trọng, không sao tránh khỏi một cuộc biến cách lớn.

1792) VIỆN HỌC THUẬT – HIÊN PHỔ THÔNG TÁI BẢN ebook©MotSAch TVE-4u© —★— Nhà xuất bản : BỐN PHƯƠNG 1958
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.