DƯỚI mái một nhà bình-dân trại Tây-sơn 29 thành Qui-nhơn (nay là Bình-định), năm quí-dậu (1752), cậu bé Nguyễn-Huệ ra đời rồi lớn lên trong cảnh khổ sở nheo nhóc như trăm nghìn dân quê khác. Thật không ai biết trước rằng cậu bé ấy sẽ có những thủ đoạn phi-thường, tương-lai oanh-liệt sẽ làm một trang anh-hùng dân tộc : lật đổ Nguyễn, diệt tan Trịnh, đánh bại Mãn Thanh, thống nhất cả Việt-nam vào cuối thế kỷ thứ mười tám.
Trước cửa nhà Nguyễn-Huệ, róc rách một cái suối ấm đêm ngày kêu. Tiếng kêu có lúc ai oán như giọng hậm hực bất bình của lũ dân đen bấy giờ đương bị nghẹn ngào đè nén, nhưng có lúc hùng tráng hăng hái như tiếng kèn của toán nhạc binh thúc giục người ta phải tranh lấy quyền sống còn.
Là con Nguyễn-Phi-Phúc 30 và Nguyễn-thị-Đồng, Nguyễn-Huệ, tóc quăn, da sần, tiếng nói sang-sảng như tiếng chuông, cặp mắt hùng thư mà sáng như chớp, có thể thấy rõ mọi vật trong đêm tối.
Về gốc tích nhà Tây-sơn, có nhiều thuyết khác nhau :
- Theo Lê-kỷ là một cuốn dã sử, thì anh em nhà Tây-sơn bấy giờ đương ở trong hàng ngũ quân nhân dưới triều Nguyễn-Định vương, thấy Trương-phúc-Loan hại nước tàn dân, bèn lui về nơi thảo dã, khởi nghĩa, mưu việc đánh đổ Phúc Loan, tên quốc tặc.
- Theo Đại-Nam chính biên liệt truyện, sơ tập (quyển 30 tờ 1 a-b), thì tổ tiên Nguyễn-Huệ vốn là người huyện Hưng-nguyên, trấn Nghệ-an. Khoảng niên-hiệu Thịnh-đức (1653-1657), nhà Lê chung số phận với đám dân chiến bại ở bảy huyện xứ Nghệ, sau một trận Nguyễn, Trịnh giao-tranh, tổ bốn đời của Nguyễn-Huệ bị bên chúa Nguyễn bắt đi an sáp ở ấp Tây-sơn-Nhất 31 huyện Qui-ninh 32 thuộc Qui-nhơn để khai khẩn đất hoang, ruộng cỏ.
Khi ông tổ bốn đời ấy mới bị di vào ở Qui-nhơn thì ở tại ấp Tây-sơn-Nhất thuộc huyện Qui-ninh ; đến đời cha là Nguyễn Phi Phúc mới dời đến ở ấp Kiên-thành 33 thuộc huyện Tuy-viễn. 34
Theo Tây sơn liệt truyện (sách viết của trường Bác-cổ) thì tổ bốn đời của Nguyễn-Huệ bị chúa Nguyễn bắt khoảng năm 1653-1657 đem vào phía Nam Tây sơn lược thuật (sách viết của trường Bác cổ) cũng chép : Tổ tiên Nguyễn-Huệ là người huyện Nghi-xuân (Nghệ-an). Năm 1672-1673, chúa Nguyễn lấy được bảy huyện Nghệ-an, di dân vào Nam ; tổ của Huệ cũng ở trong số di dân ấy.
Trong gia đình đó, Nguyễn-Huệ thường gọi là chú Thơm 糁 con thứ ba dưới Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ.
Thụ-nghiệp Giáo Hiến 35 anh em Nguyễn-Huệ, từ trẻ, đi học, đã được Giáo Hiến chú ý.
Giáo Hiến nguyên là môn-khách nhà Trương văn Hạnh, ngoại-hữu dưới triều Định-vương (1765-1778). Vì sợ vạ lây sau khi Hạnh bị Phúc Loan giết chết, Hiến phải trốn vào Qui-nhơn, mở trường dạy học ở ấp Yên-thái.
Thấy Nguyễn Huệ nhanh-nhẹn, khỏe mạnh, can-đảm, mắt như chớp sáng, tiếng như chuông vang, Hiến biết ngay là một thanh niên lỗi-lạc có cái tương-lai phi thường.
Hằng ngày, chắc Huệ cũng được nghe những lời Giáo Hiến thúc giục Nguyễn Nhạc bằng câu sấm : « Tây khởi nghĩa, Bắc thu công ». Rồi Hiến lại khuyên Nhạc : « Anh là người Tây-sơn, cứ cố đi ! »
Không hay những lời Giáo Hiến kích thích Nguyễn Nhạc đó có ảnh hưởng đến Nguyễn Huệ hay không, nhưng một cớ hiển nhiên khiến Huệ từ trại Tây-sơn phất cờ cách-mệnh chính là tiếng gọi của thời thế. Thời-thế đã đẩy Nguyễn Huệ lên vũ đài chính trị và quân sự ở đương thời :
« Vả bây giờ thần nịnh, chúa hôn, gương bình-trị lòng trên ắt muốn.Lại gặp hội binh kiêu, dân oán, sửa kỷ cương tài cả phải ra ». 36
Cái hoài-bão muốn cứu sinh linh ấy lại tỏ rõ trong bức thư sinh La-sơn phụ-tử đề ngày mồng mười, tháng tám, năm Thái-đức thứ mười (1787), khi Nguyễn Huệ làm Đại Nguyên súy tổng quốc-chính Bình vương :
« Thiên-hạ loạn thế này, nhân-dân lầm than thế này ! Vậy mà nhà thầy cứ nằm cao không dậy, thì đối với thiên hạ nhân-dân ra sao ? » 37