Thám Tử Peter Và Cái Chết Bí Ẩn

Lượt đọc: 2 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 15
Cái Chết Thảm Của Người Đàn Ông Ăn Diện

❊ ❊ ❊

Thanh tra Parker làm việc không hề ngơi nghỉ vì thời gian vừa qua, cảnh sát lại vừa vấp phải một thất bại nữa trong việc truy tìm những vụ buôn bán ma tuý. Người ta đã cho biết có một thuyền gắn máy hoạt động trong vùng Essex, nhưng khi bắt giữ và lục soát chiếc thuyền này, người ta chẳng thu được gì ngoài một hiện tượng được coi là kết quả nổi rõ nhất đó là đã đánh động cho tất cả các băng nhóm tội phạm buôn lậu phải đề cao cảnh giác. Một lần khác, người ta đã mải miết truy đuổi một chiếc ô tô bí ẩn, có dáng dấp rất đáng ngờ và khi cảnh sát đuổi kịp nó, mới chợt phát hiện ra nó là chiếc xe của một thành viên thuộc đoàn ngoại giao; người này thường dùng nó trong các cuộc đi chơi mang tính tình cảm trên dọc bờ biển, cùng một người phụ nữ...

Chỉ có một thứ duy nhất có thể an ủi Parker là hoạt động của cơ quan cảnh sát chưa đạt hiệu quả cao, bên cạnh đó, một bên vai ông còn chưa đỡ đau, mà điều đó ông lại không hề muốn. Và toàn bộ nỗi oán hận của ông đều hướng cả vào Wimsey, một nguyên nhân vô tội của sự bất lực trong ông.

Đối với quán Café du Cygne, mặc dù đã được giám sát rất chặt chẽ, cũng chẳng cho kết quả gì. Trong hơn một tuần, những điều tra viên tinh ranh nhất, cứ việc chống khuỷu tay lên mặt bàn quầy mà nói bóng, nói gió tới những con vật như chó, dê cái, vẹt rồi cả chuột nhắt nữa mà vẫn chẳng hề có một ai hưởng ứng mà đáp trả bằng một gói nhỏ để đổi lại. Người ta cũng dễ dàng nhận ra ông già nhỏ thó; đó là một khách quen, thường có mặt ở quán Café du Cygne, mỗi ngày ông ta tới đây hai lần sáng, chiều và bao giờ cũng ngồi ở một chỗ nhất định, bông đùa, chuyện trò với tất cả mọi người. Chủ nhà - không tỏ ra bất cứ điều gì đáng ngờ khác lạ - đã đảm bảo về một khách của mình sau khi đã gặp lại để nói rằng ông ta đặc biệt nhớ tới Hector Puncheon và hai người khuân vác của khu chợ lớn nữa; ông ta cũng biết họ, nhưng lại nói là không biết gì về những nhân vật khác đã có mặt vào sáng hôm đó. Thậm chí, người ta còn nói chưa bao giờ thấy ở quán Café du Cygne người đàn ông tốt bụng đã nói về các cuộc đua chó, cũng chẳng thấy một ông ăn diện say rượu nào. Parker bỏ qua cho người anh vợ mình khi nghe kể lại cuộc nói chuyện của ông ấy với Miligan.

- Bác Peter ạ, bác quả là may mắn cực kỳ đấy; chúng là lũ người né tránh bác như một bệnh dịch hạch và chúng đến tự lao đầu vào miệng sói một khi trà trộn vào bữa tiệc nhà anh bác.

- Này chú, tôi vừa không may mắn, lại vừa không khéo léo. Tôi đã đề phòng, kịp gửi cho Diane một bức thư nặc danh để con nhỏ đề phòng tôi và thế là xong.

- Bác là kẻ đồng loã của bọn đồi trụy rồi đây. Và nếu Miligan nhận ra bác thì sao?

- Tôi sẽ thông báo cho hắn là có một người giống tôi đến ngạc nhiên đấy.

- Cũng vậy cả thôi mà... Em còn do dự là không biết hắn làm thế nào để không khó chịu về việc này đây? Nhưng sự giống nhau về dòng họ, nếu không phải là một cặp song sinh, thì không thể có những sự giống nhau tới tận chi tiết nhỏ nhặt như hình dáng của đôi tai hay hàm răng chẳng hạn.

- Tôi đã không để cho hắn kịp tới gần tôi mà kiểm tra. Tôi đã bắt hắn phải đứng từ xa và đã hiện ra rất ngạo đời đến nỗi hắn cứ nghĩ là tôi không hề biết sợ. Chú biết rõ rồi đấy, con người thường ngờ vực những người quá lễ độ, hào nhoáng mà tôi lại rất thô tục trước Miligan. Bây giờ có thể nói rằng hắn không mong gì hơn là tin tôi, vì với hắn, tôi là một người tốt bụng đang quá đói và rất cần tiền.

- Còn vụ làm ăn nguy hiểm của Victor Dean thì sao? Bác có thực sự nghĩ vụ buôn lậu ma tuý này lại xuất phát từ hãng Pym không?

- Không có một hãng nào lớn như thế lại cho một kẻ trốn tránh pháp luật mượn một nơi tá túc chắc chắn như vậy được. Nhưng phải thừa nhận rằng trong danh sách nhân sự của hãng, tôi không thấy tên ma mãnh có máu mặt nào đáng để tôi nghi ngờ và lần tìm.

- Lúc nào bác cũng cho là vụ ám sát Dean đã do một người nào đó trong đội ngũ nhân sự của hãng thực hiện phải không? Bác có nghĩ tới trường hợp một ai đó từ bên ngoài lọt được vào trong hãng qua đường sân thượng không?

- Vào thì quá dễ, nhưng điều đó không giải thích được việc chiếc súng cao su xuất hiện lại được lau chùi cẩn thận, nằm câm lặng trong ngăn kéo bàn của bà Johnson.

- Sự việc đó cũng không giải thích được việc em bị tấn công. - Parker nói vẫn còn ấm ức, cay cú.

- Với tôi, hai kẻ đó chỉ là một.

- Bác nghĩ gì về anh chàng Willis này đây? Nhưng theo những gì mà bác nói, em nghĩ, hình như anh ta chẳng đủ khả năng để gây ra một tội lỗi kiểu như vậy.

- Kẻ giết người, dù hắn là ai, bao giờ cũng là một tội phạm ranh mãnh, hắn sẽ không dùng súng cao su của Joe mà dùng một chiếc khác của riêng hắn và sau khi gây án, hắn đã hủy ngay rồi. Như tôi đã hình dung, hắn là một người có trí tuệ khá thông minh, nhưng thiếu lý lẽ lập luận. Là một trong số những người biết nắm lấy cơ hội, nhưng lại không biết cách tổ chức, thu xếp những hậu quả của những việc mình đã làm. Nếu tìm kỹ, có thể, tôi sẽ tóm được hắn. Nhưng chú đã nói với tôi là chú chỉ muốn bắt khi hắn đang điều hành vụ việc.

- Đúng vậy đấy, bác Peter ạ. - Parker nói.

- Vậy thì bắt bọn tầm thường để làm gì chứ? Thậm chí thằng Miligan cũng không phải là tên cầm đầu và nếu chúng ta có bắt giữ hắn đi nữa thì sẽ có những thằng khác thay thế và mọi thứ lại tiếp tục đâu vào đấy như trước mà thôi.

- Điều làm em sốt ruột là, - Parker mệt mỏi nói. - Công việc của chúng ta không tiến triển...

Đúng lúc đó, chuông điện thoại reo vang. Lúc này là tám giờ sáng, mấy bà nội trợ, Parker và Peter cùng ngồi vào ăn sáng trước khi hai người đàn ông bắt tay vào công việc. Phu nhân Mary cầm lấy ống nghe:

- Này, của anh đấy Charles, người của Sở cảnh sát Scotland; về việc cậu Puncheon.

Parker vội cầm lấy ống nghe, sôi nổi nói và kết thúc cuộc điện đàm bằng câu:

- Hãy phái hai người đi ngay và bảo Puncheon tiếp tục liên lạc với cậu. Tôi tới ngay bây giờ đây.

- Chuyện gì đã xảy ra vậy? - Wimsey hỏi.

- Anh chàng Puncheon vừa bất ngờ thấy người đàn ông ăn diện mà anh ta đã gặp ở quán Cygne. - Parker trả lời, vừa vội vàng khoác vào người chiếc áo pa-đơ-xuy, miệng vừa xuýt xoa kêu đau vì vai phải chưa khỏi hẳn. - Anh ta thấy và theo dõi hắn đang đứng mua tờ tin sáng ở gần trụ sở báo Morning Star. Hiện giờ, cả hai đều đang ở Finchley. Trên đường đi, Puncheon đã kịp gọi điện về Sở để thông báo. Thôi, Mary, tạm biệt em, anh đi đây; bác Peter, chốc nữa gặp lại.

Parker vội vã rời đi.

Wimsey đẩy chiếc ghế tựa ra phía sau và nhìn kỹ bức tường ngay phía trước mặt. Em gái ông lặng yên để ông suy nghĩ và rón rén bỏ ra ngoài. Bốn mươi phút sau, bà mới quay lại và nghe thấy tiếng cánh cửa đóng lại. Peter cũng đã đi.

***

Hector Puncheon gọi điện thoại về từ một tiệm ăn nhỏ ở Finchley, nhưng khi hai nhân viên cảnh sát Lumley và Eagles tới thì người của họ đã lại đi mất rồi. Anh ta để lại lời nhắn như sau: "Tôi tiếp tục bám theo hắn. Hắn đã ăn sáng tại đây và lại đi. Tôi sẽ điện thoại ngay khi có thể, nhưng tôi sợ hắn sẽ phát hiện ra là tôi đang theo hắn".

- Vậy thì tốt, anh bạn cộng tác viên. - Lumley nói. - Hãy cố để lại dấu vết trên đường đi.

- Không lẽ lại chịu đói. - Eagles phát biểu chính kiến của mình khi không biết làm gì. - Trong lúc chờ cậu ta gọi về, liệu chúng ta có nên gọi thứ gì đó mà ăn không đây?

- Cũng là một ý hay.

Hai nhân viên điều tra ngồi xuống, nhưng khi vừa mới nhai được vài miếng thì điện thoại đã lại vang lên hối hả.

Lumley vội đi về phía đặt điện thoại, cầm lấy ống nghe và nói:

- Họ đang ở Kensington. Nhanh lên, bắt tắc-xi ngay.

- Ta đi tàu điện ngầm, nhanh hơn.

- Sếp đã bảo đi tắc-xi thì cứ tắc-xi mà đi.

Chàng phóng viên đã điện về, nói lúc nào cũng theo sát nhân vật đó. Hắn vừa vào viện Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên. Nhưng hai nhân viên cảnh sát không thấy một ai trong đó cả. Làm gì đây? Lumley nói như phân công công việc:

- Ban nãy tôi có nói chuyện với Puncheon là chúng ta sẽ đến đây và anh ta sẽ điện về đây nếu anh ta buộc phải rời khỏi đây để đi theo hắn. Tôi sẽ một mình đi vòng quanh Viện Bảo tàng để xem xem có thấy họ trong một xó xỉnh nào đó không. Còn anh, anh ở lại đây, trong phòng chờ kia; nếu anh phát hiện ra họ, anh sẽ thay Puncheon theo dõi tên kia, nhưng hãy chú ý là đừng để gã đó thấy anh nói với Puncheon. Nếu tôi phát hiện ra họ, tôi sẽ đi theo họ ngay và anh sẽ theo gót chúng tôi từ xa, ngay trên lối ra ấy.

Nhân viên cảnh sát Eagles vẻ dửng dưng đi về phía chuồng chim, còn trong khi đó, Lumley theo một chiếc cầu thang lớn đi lên trên gác.

Chợt Eagles thấy loáng lên ánh phản chiếu trên mặt tấm kính trong phòng một thứ gì đó và làm anh phải quay phắt ngay đầu lại và nhìn về phía cầu thang lớn. Một người đàn ông khá vạm vỡ, khoác một chiếc áo pa-đơ-xuy và đội chiếc mũ phớt hình quả dưa, đang chậm rãi bước từng bậc một từ trên đi xuống, một tay thọc trong túi áo, tay kia hờ hững buông thõng bên mình. Eagles không thấy Puncheon, cũng chẳng thấy Lumley đâu. Rồi một chi tiết nữa làm anh nhìn như dán chặt vào người đàn ông kia, đó là trong túi áo trái hắn có một tờ báo và anh đã nhận ra đó là tờ Morning Star, được gấp cẩn thận.

Không có chút gì khác lạ trong hành động của người đàn ông lịch thiệp đi dạo với tờ Morning Star để trong túi; tuy nhiên. Eagles đã phải chú ý suy nghĩ. Anh lập tức viết vội mấy chữ vào sau một chiếc bì thư, rồi tới gặp một nhân viên bảo vệ của Bảo tàng:

- Nếu anh thấy bạn tôi, anh ta đã vào đây cùng tôi lúc này, thì anh dứt khoát phải đưa cho anh ta chiếc bì thư này và nói với anh ta là tôi không thể chờ anh ta lâu hơn được và tôi phải đi công chuyện của tôi ngay.

Liếc ngang, anh thấy người đàn ông kia đã bước qua ngưỡng cửa và làm như không chú ý gì, anh theo gót chân hắn.

***

Trên thềm cao của cầu thang, đứng trước khuôn cửa đi có dòng chữ Cấm vào, viên cảnh sát Lumley lo lắng cúi xuống nhìn Hector Puncheon đang nằm sõng sượt bất động trên mặt đất. Cậu phóng viên thở hổn hển vẻ không hài lòng với viên cảnh sát và ta có thể thấy trên thái dương cậu ta một vết thương do bị đánh quá mạnh bằng một vật gì đó.

- Vậy là đã xảy ra chuyện với anh bạn cộng tác viên đặc biệt này rồi. - Lumley bực bội cáu gắt. - Miễn là tay Eagles bắt được cái gã đang bị theo dõi kia là được. Còn mình, mình không thể đồng thời có mặt ở hai nơi được.

***

Người đàn ông vạm vỡ kia, từng bước một, lững thững xuống, dọc theo con phố dẫn đến cửa vào ga tàu điện ngầm. Hắn không nhìn lại phía sau và cũng chẳng thấy viên cảnh sát vẻ bình tâm đang theo dõi hắn. Lúc đó, cả hai người đều không hay biết gì có một nhân vật thứ ba, vừa xuất hiện và đi theo Eagles một cách cẩn thận ở một khoảng cách khá xa. Khách bộ hành không để ý tới ba người theo dõi nhau này lần lượt qua Đai lộ Cromwell và cùng đi về phía ga tàu điện ngầm.

Do dự một chút vì gã mặc pa-đơ-xuy liếc nhìn những chiếc tắc-xi đang chạy, dừng lại bên đường, rồi hình như hắn đổi ý và lần đầu tiên hắn ngoái cổ lại và nhìn về phía sau. Hắn chỉ thấy Eagles đang mua một tờ báo và hắn không thể thấy được người theo dõi thứ hai đang ẩn mình đâu đó. Gã đàn ông đi về phía ga tàu điện ngầm. Eagles vừa làm ra vẻ đọc tờ báo của mình, vừa theo dõi hắn. Giống như hắn, anh cũng mua một vé đi Charing Cross. Kẻ bị theo dõi và người đi theo cùng bước xuống ke tàu, viên cảnh sát khiêm nhường đứng nép vào một góc. Đã có một vài người đứng chờ tàu tại đây, phần lớn là phụ nữ; vào phút cuối trước khi tàu vào ga, nhân vật thứ ba chạy vọt qua cánh cửa lối vào ga đang từ từ đóng lại.

Cho tới tận lúc này. Eagles mới chợt thấy nhân vật thứ ba, tay cầm một chiếc gậy nhỏ, chạy vọt lên trước, vượt lên sát cạnh người đàn ông anh đang theo dõi vẫn đang nhích tới gần đường tàu, rồi sau đó lảo đảo.

Nhân vật cầm gậy tóm lấy cánh tay người đàn ông vạm vỡ, cả hai người nhào sát tới mép ke một cách rất nguy hiểm. Eagles nghe thấy tiếng một phụ nữ kêu ré lên.

Hai người đàn ông cùng lăn xuống đường tàu vào đúng lúc đoàn tàu chạy vào ga.

Eagles dùng sức mở một lối đi xuyên qua đám đông nhốn nháo và nói:

- Cảnh sát đây! Xin mọi người hãy dãn ra!

Mọi người đều làm theo, trừ hai nhân viên của nhà ga và một người đàn ông đang nâng một hình người ngất lịm trên đường tàu lên. Trước hết người ta nhìn thấy một cánh tay, rồi cái đầu và cuối cùng cả thân thể của người đã đi theo người đàn ông mặc pa-đơ-xuy và Eagles. Người ta đặt người đó nằm dài trên sàn ga.

- Người kia đâu rồi?

- Một gã tội nghiệp xấu xa.

- Người này, anh ta cũng chết rồi sao?

- Ồ! Vâng!...

- Nhưng chưa đâu, anh ta lại đã mở mắt ra rồi đây này!

- Vâng, nhưng người kia đâu?

- Anh ta bị rơi vào đường ray, con người tội nghiệp, thật đáng thương.

- Phải đi gọi bác sỹ đi thôi!

- Lùi lại nào, xin các ông, các bà.

- Tại sao họ không cắt điện đi nhỉ?

- Cắt điện rồi đấy chứ! Nhưng phải để đèn trong phòng.

- Nào bảo mọi người đi đi chứ, - Eagles ra lệnh cho một nhân viên mặc đồng phục đã được gọi tới. - Tôi thấy hình như người này đã gây ra chuyện đấy.

- Đấy, anh ta đã tỉnh lại rồi đây này. - Anh nhân viên khiêng người bị thương từ giữa đường ray lên, nói. - Này, ông cảm thấy thế nào?

- Rất đau. - Người bị thương trả lời. - Xảy ra chuyện gì vậy?

- Một hành khách từ sàn ga ngã xuống đường ray và lôi anh ngã theo.

- A! Tôi nhớ ra rồi. Hắn có thoát chết không?

- Tôi sợ là không... Nào, uống một cốc đi chứ, anh sẽ khoẻ lại ngay thôi mà.

- A! - Người bị thương nói. - Thế sẽ tốt hơn. Các vị đừng có lo gì cả. Tôi nghĩ, tôi chẳng sao đâu.

Nói rồi, anh ta vung vẩy tay chân.

- Bác sỹ sẽ đến chăm sóc cho anh.

- Bản thân tôi cũng là thầy thuốc mà. Tình trạng sức khỏe của tôi không nặng lắm đâu. Tôi hơi đau ở chân, nhưng không quan trọng.

- Thực sự là rất may nên anh không chết đấy, - Eagles nói.

Anh ta lôi từ túi của mình ra một cuốn sổ tay nghề nghiệp.

- Thứ lỗi cho tôi, nhưng tôi là người của ngành cảnh sát và nếu như vết đau này không làm anh quá mệt, thì tôi có thể xin anh nói rõ cho một số chi tiết...

- Tôi sẽ rất sẵn sàng trả lời câu hỏi của anh, nếu như tôi biết. Sự việc là tôi đang đứng chờ đoàn tàu vào ga, khi đó có một người đàn ông chạy vượt lên trước tôi. Tôi để ý thấy ông ta có vẻ gì đó kỳ cục. Ông ta dừng lại đột ngột, lảo đảo. Tôi tóm lấy cánh tay ông ta, nhưng ông ta ngã về phía trước, kéo tôi ngã theo ông ta. Theo tôi - ý kiến của một thầy thuốc - ông ta bị mắc bệnh ngất đột ngột. Rồi sau đó, tất cả những gì tôi nhớ lại được là tiếng ồn của đoàn tàu chạy qua. Có lẽ, tôi đã ngất đi.

- Chí ít là ông đã ngất đi. - Eagles cảm thương nói.

- Tôi tên là Garfield, bác sỹ Garfield.

Ông ta cho hai địa chỉ, một là của phòng khám ở phố Harley và một địa chỉ nơi ở là nhà riêng trong khu Kensington.

- Giờ thì tôi làm theo yêu cầu của anh. - Ông ta nói thêm.

Eagles cảm ơn vị bác sỹ có tên là Garfield và rất chú ý tới người đàn ông mặc pa-đơ-xuy vừa được lôi từ dưới gầm đoàn tàu lên. Cái cơ thể bất động nằm dài trên sân ga, tình trạng bị phơi bày ra thật khủng khiếp. Bản thân Eagles, mặc dù đã được rèn luyện nhiều trong nghề mà cũng phải cố gắng mới vượt qua nổi sự ghê tởm sống sượng để có thể lục soát tất cả các túi người chết. Anh đã thực sự ngạc nhiên khi không tìm thấy danh thiếp và cũng chẳng thấy thẻ chứng minh thư của ông ta. Có một chiếc ví và vài tờ bạc lẻ, một hộp đựng thuốc lá điếu, trong đó có vài điếu thuốc Thổ Nhĩ Kỳ, một khăn mùi-soa không mác nhãn gì hết và một chiếc chìa khoá hiệu Yale. Trong túi áo Pa-đơ-xuy, Eagles tìm thấy một cái chuỳ nhỏ. Trong khi tìm tên người thợ may trên quần áo của ông ta, công việc của anh bị gián đoạn vì xe cứu thương đã đến có một trong những đồng nghiệp của anh cùng đi.

Anh đã giao mọi thủ tục cần thiết còn lại cho đồng sự và lập tức đi tìm Lumley.

Lumley đã về một đồn cảnh sát gần nhất sau khi đưa anh chàng Puncheon vẫn còn bất tỉnh nhân sự vào bệnh viện.

Khi được báo, Parker đến ngay ga tàu điện ngầm Kensington, ở đây ông nhận được báo cáo của hai viên cảnh sát và kiểm tra nơi xảy ra thảm kịch cũng như xác chết vừa được đưa lên. Tâm trạng ông không vui và ông nguyền rủa cái việc rủi ro này. Đây là nhân vật mà quân của ông đã theo dõi nhiều giờ qua và đúng vào lúc có thể bắt được, thì hắn lại lao đầu vào tàu điện ngầm mà chết và không để lại dù chỉ một tấm chứng minh thư hay địa chỉ của người thợ may đã may quần áo cho mình. Bây giờ ông phải cố tươi tỉnh để khuôn mặt không đến nỗi nào, phòng khi người ta cho in ảnh của ông trên mặt báo.

- Bây giờ chúng ta chỉ còn hy vọng tìm thấy dấu hiệu của người thợ giặt trên quần áo của hắn ta nữa mà thôi. - Parker nói- Và một hàm răng giả, nếu như hắn có.

Thật không may, người chết lại có một bộ răng thật hoàn hảo và trên vải quần áo lại có những ba dấu hiệu của ba người thợ giặt khác nhau. Còn đôi giầy hắn mang lại có nhãn hiệu rất nổi tiếng mà hãng Pym thường quảng cáo các giá trị của chúng. Do xâu chuỗi các ý tưởng lại với nhau, Parker liền gọi điện khẩn cấp về cho người anh vợ đang ở văn phòng để báo cho ông ấy biết là ông đang rất cần gặp ông ta.

Khi chuông điện thoại reo, Bredon đang họp với ông Armstrong. Kết cục bất ngờ của chiến dịch thuốc lá Whifflets vừa phải chịu một đợt ngưng hoạt động. Thuốc lá Puffin, theo sự gợi ý của một chiến lược gia thiên tài nào đó đang tung ra một cuộc tấn công cạnh tranh mà quan niệm nổi bật của nó có cơ nhấn chìm toàn bộ hãng Whifflets.

- Hai hãng đó cũng giống nhau cả thôi. - Bredon nói. - đều là những hãng bắt chước có ý thức... Dù cho họ là những nhà kinh doanh thuốc lá, là những thương lái cà phê hay những tờ nhật báo có số lượng xuất bản lớn thì chỉ cần một người có ý tưởng ủng hộ là tất cả những người khác sẽ ào ạt chạy theo ngay.

Cuối cùng thì chúng ta quyết định gì đây? - Armstrong lúng túng nói. - Chúng ta có tiến tới một cuộc đua máy bay khác không?

- Không đời nào. Tôi có ý kiến là chúng ta sẽ làm một việc hoàn toàn khác. Có một điều gì đó ăng-lê một trăm phần trăm. Rồi ông sẽ thấy ngay thôi.

Bởi vậy sáng nay, trong khi Parker hò hét hết hơi trong ống nói để gọi điện thoại, thì Mortimer Bredon lại nghĩ ra một ý tưởng tuyệt tác là tổ chức những chuyến đi vòng quanh vùng Whifflets, ý tưởng này vẫn thuộc chiến dịch Austerlitz trong lịch sử quảng cáo. Khoái chí về ý tưởng này, Bredon vội vàng đến bên bàn, vớ ngay lấy cây bút máy và khi đang viết chữ WHIFFLETS bằng những con chữ hoa thì cô Rossiter làm anh phải ngừng ngay lại. Cô báo cho anh biết có người cần gặp anh gấp trên điện thoại.

Huân tước Peter Wimsey cuối cùng cũng phải giống về tất cả mọi mặt với người mang tên Bredon đến nỗi cũng phải nổi giận trước việc làm ngừng công việc đang đắm đuối này. Tuy nhiên sau cuộc điện thoại, anh đã xin phép ông Armstrong được vắng mặt ở cơ quan khoảng nửa giờ. Và anh đã lập tức đi thẳng ngay đến Sở cảnh sát Scotland và ở đây anh kiểm tra quần áo của người chết.

- Chúng ta phải kiểm tra tất cả các hiệu giặt là, - Parker nói với ông anh vợ. - Và chúng ta sẽ cho in trên mặt báo một bức ảnh của xác chết. Em không thích cho báo chí can dự vào việc này, mà họ can dự vào để làm gì kia chứ?

- Tôi không tin là điều đó lại không cho ta biết một điều gì đó quan trọng một chút, - Wimsey nói. - Và tôi nghĩ rằng gã đàn ông tốt bụng kia không muốn để lộ tên tuổi mình, nhằm tránh mọi hậu hoạ, nên đã tẩy sạch tên tuổi người thợ may. Tôi thấy chiếc mũ hắn đội không bị hư hỏng chỗ nào cả.

- Nó lăn và nằm phía bên kia đường tàu.

- Trên mũ, nhãn mũ cũng đã bị bóc hết; này, tại sao lớp da lót bên trong vành mũ cũng bị bóc đi nhỉ? Thật kỳ cục!... Chiếc mũ này có hình dáng dặc biệt, rất lỗi mốt và theo ý tôi, chỉ còn hai hãng sản xuất loại mũ này mà thôi. Chú hãy cử hai nhân viên mật vụ tới hai hãng mũ này để hỏi xem họ còn nhớ một khách hàng đã có hình dáng đầu và thích kiểu mũ này. Chú hãy để thời gian quan tâm tới những người thợ giặt là đi nhé.

- Cảm ơn bác, - Parker nói. - Em tin chắc là ý kiến của bác sẽ đúng.

***

Cảnh sát đã tìm ra hướng điều tra đúng ở hãng mũ đầu tiên họ đến: người khách mua mũ có tên là Horace Montjoy và ở một căn hộ thuộc khu dân cư Kensington. Parker đi cùng các nhân viên của mình và mang theo một lệnh khám nhà. Cả đội công tác đi thẳng tới ngôi nhà đó.

Ngôi nhà gồm nhiều căn hộ có đồ gỗ lắp đặt sẵn. Người gác cổng nói với họ là Montjoy vẫn chưa vợ và thường đi vào buổi chiều tối. Nhân viên của ngôi nhà phục vụ mọi yêu cầu của ông ta. Người gác cổng đến trực vào lúc tám giờ sáng và ban đêm không có người gác; tôi thấy ông Montjoy đi tối hôm trước và cho tới giờ vẫn chưa thấy ông ấy về. Những người thuê nhà, mỗi người đều có một chìa khoá riêng cho cửa ra vào ở cổng lớn.

Withers, người hầu phòng nói rằng chẳng có gì hay để mà nói, chỉ có mình anh ta vào căn hộ đó và anh ta khẳng định là đêm qua ông Montjoy không về ngủ. Nhưng đó là sự việc thường xảy ra và không cần phải ngạc nhiên. Vào lúc Withers sắp sửa dọn dẹp, Parker chìa thẻ cảnh sát ra, ngăn anh ta lại và với chiếc chìa khoá tìm được trong người Montjoy, tự mình, ông mở cửa phòng, cùng vào căn hộ để lục soát và xác định danh tính của người chết.

Trong phòng, mọi thứ đều rất ngăn nắp, trật tự. Tủ bàn giấy của phòng khách, tất cả các ngăn kéo đều bị kéo ra, hở hếch, có thể thấy không có thứ gì đáng chú ý. Phòng ngủ và phòng ăn cũng vậy, không có gì đặc biệt.

Trong phòng vệ sinh, có một túi nhỏ đựng những đồ lặt vặt và một vài thứ thuốc chữa bệnh. Một gói nhỏ có dán nhãn "Bicarbonate de soude" đã làm cho cảnh sát phải chú ý. Nhưng khi kiểm tra thứ bột có trong gói đó lại không phát hiện ra điều gì đáng ngờ. Một thứ duy nhất khác thường, đó là có một lượng lớn giấy cuốn thuốc lá còn ở trong ngăn kéo.

- Ông Montjoy có thói quen tự cuốn thuốc lá để hút không?

- Không, - Withers nói, - Lúc nào tôi cũng thấy ông ấy hút thuốc Abdullas.

Parker mở những gói nhỏ được gói bằng thứ giấy mỏng và một vài điếu thuốc lá đựng trong hộp. Nhưng tất cả chẳng cho biết gì hơn.

Parker hỏi anh hầu phòng:

- Ông Montjoy không có thư chuyến buổi sáng nay à?

- Không thưa ông.

- Không có khách chứ?

- Không có ai cả, ngoài một nhân viên bưu chính mang đến cuốn niên giám điện thoại mới.

Withers giơ tay, chỉ vào những cuốn niên giám vừa được nói tới, đang nằm trên bàn.

- A!... - Parker kêu lên. - Anh ta đã vào một trong những căn phòng này phải không?

- Không, thưa ông. Anh ta bấm chuông, khi đó tôi ở đây cùng chị phục vụ. Tôi nhận từ tay anh ta những cuốn niên giám mới mang tới và trả những cuốn niên giám cũ anh ta mang đi.

- Anh đổ giỏ giấy loại phải không? Trong đó có gì vậy?

- Chị Trumbs, người phục vụ ở đây thường làm việc đó hơn tôi.

Cô Trumbs được gọi đến, đã nói giỏ giấy chỉ đựng những bản thông báo của người bán rượu vang. Chị Trumbs còn nói thêm là ông Montjoy không có nhiều thư.

Lúc này, Parker đã hiểu rằng không có ai lục lọi, tìm tòi gì trong căn hộ này, ông nhìn vào các ngăn tủ tường, thấy treo trong đó nhiều bộ com-lê và một chiếc mũ giống như chiếc Montjoy đã đội khi chết, nhưng trên chiếc này, tên hãng làm mũ không bị lột đi và lớp da lót vòng quanh bên trong cũng vẫn còn nguyên vẹn.

- Anh có nghĩ ông Montjoy là một người giàu có không?

- Hình như cuộc sống của ông ấy rất dư dật và không từ chối thứ gì hết, nhất là từ khoảng một năm trở lại đây.

- Ông ta làm nghề gì?

- Tôi nghĩ ông ta là một người được hưởng thực lợi, vì tôi chưa bao giờ thấy ông ta đi làm bất cứ việc gì.

- Anh có biết tên người thợ làm mũ đã bị tẩy sạch trên một trong hai chiếc mũ của ông ta không?

- Có ạ, thưa ông thanh tra. Hình như ông Montjoy đã rất bực mình và có nói với tôi là một trong số bạn hữu của ông ấy đã làm điều này để bỡn cợt ông ta. Tôi đã đề xuất với ông ta là cho làm lại chiếc mũ đó như cũ, nhưng ông ấy đã nói với tôi là không để làm gì.

- Thế anh có biết một trong những bộ com-lê của ông ấy cũng không có tên hãng may không?

- Không, tôi không biết.

- Ông Montjoy là hạng người nào?

- Đó là một quí ông rất tốt, tôi rất buồn tiếc là đã có gì xảy ra với ông ta.

- Ông ta ở đây từ bao giờ?

- Sáu hay bảy năm gì đó, tôi nghĩ vậy; nhưng tôi mới làm ở đây được bốn năm.

- Anh có nhớ bạn ông ta đã chơi cái trò lột tên hãng bán mũ vào thời gian nào không?

- Phải cách nay có lẽ đã tới mười tám tháng rồi ấy.

- Lâu thế rồi ư? Tôi thấy mũ còn rất mới mà.

- Mỗi tuần ông ấy đội không quá hai lần. Hơn nữa, ông Montjoy không chạy theo mốt, ông ấy dùng loại này và lúc nào cũng đặt mua loại này cả.

- Bây giờ tôi không hỏi anh thêm gì nữa, anh Withers ạ. - Parker nói. - Chắc anh hiểu là chúng ta cần phải điều tra về cái chết của ông Montjoy. Tôi yêu cầu anh, trong thời gian chờ đợi, anh không được kể bất cứ điều gì, cho bất cứ người lạ nào tới hỏi anh. Anh đưa cho tôi tất cả những chìa khoá của căn hộ này và tôi sẽ đưa cho người của tôi một chiếc để anh ta canh giữ.

- Vâng, thưa thanh tra.

Parker đã biết tên người cho thuê nhà và tới gặp ông ta. nhưng cũng không biết thêm được điều gì đáng lưu ý hơn. Montjoy là một người thuê nhà thích tĩnh lặng, trả tiền nhà đều dặn theo qui định.

Tiếp theo, Parker đã đến nhà băng, nơi Montjoy gửi tiền: ông được biết người chết có thực lợi mỗi năm hơn một ngàn livrơ và ông ta đã đặt tiền có lợi. Cho tới lúc này, vẫn không phát hiện ra bất kỳ điều bí mật nào dù là nhỏ nhặt nhất... Parker trở nên suy tư, sau tất cả những điều có được, ông không biết liệu Puncheon có phán đoán sai hay không?...

hai cô gái rời chỗ đứng, đi về phía căn phòng các nhân viên đánh máy. Căn phòng này, cũng nhỏ và chật chội, là một thứ đại để như một thứ Phòng-Chờ hay Phòng-Đợi gì đó của hãng quảng cáo, nơi mà mọi người đều có thể lai vãng qua lại để bàn
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.