
Tuyên úy Otto Katz đăm chiêu ngồi trước thông tri vừa mang từ doanh trại về. Đó là lệnh cấm mật của Bộ Chiến tranh:
“Trong thời gian có chiến tranh, Bộ Chiến tranh hủy các quy định hiện hành về việc làm lễ Xức dầu thánh lần cuối cho binh lính và ra các quy định sau cho các tuyên úy:
Bỏ lễ Xức dầu thánh lần cuối ở ngoài mặt trận.
Không cho phép người ốm nặng và bị thương nặng rút về hậu tuyến vì lý do lễ Xức dầu thánh lần cuối. Các tuyên úy có nghĩa vụ trao ngay những người vi phạm quy định cho các cơ quan có chức năng của quân đội để xử lý.
Trên cơ sở giấy chứng nhận của bác sĩ quân y, có thể làm lễ Xức dầu lần cuối tập thể trong các bệnh viện quân y ở hậu phương, nếu việc ấy không gây khó khăn cho những bệnh viện quân y đó.
Trong những trường hợp đặc biệt, chỉ huy bệnh viện quân đội hậu phương có thể cho phép các cá nhân được nhận Bí tích Xức dầu thánh lần cuối.
Khi chỉ huy bệnh viện quân y yêu cầu thì các tuyên úy có nghĩa vụ ban Bí tích Xức dầu thánh lần cuối cho những người mà chỉ huy bệnh viện đã chọn.”
Sau đó, tuyên úy đọc lại một lần nữa chỉ thị yêu cầu ông ngày mai đến bệnh viện quân y ở quảng trường Karel làm lễ Xức dầu lần cuối cho lính bị thương nặng.
“Này,” tuyên úy gọi Švejk, “anh bảo thế này thì có đểu không chứ! Cứ như là ở Praha này chỉ duy có tôi là tuyên úy. Vì sao mà họ không cử ông linh mục ngoan đạo đã ngủ ở nhà ta cách đây không lâu. Bây giờ chúng ta phải đi làm lễ Xức dầu lần cuối ở quảng trường Karel. Nhưng mà tôi đã quên mất cách làm như thế nào rồi.”
“Thế thì chúng ta mua sách giáo lý vấn đáp, thưa tuyên úy, ở đấy sẽ có,” Švejk nói, “quyển ấy dùng cho người chăn chiên giống như sách hướng dẫn du lịch cho người nước ngoài. Ở tu viện Emauzy có một người phụ việc cho thợ làm vườn. Khi muốn được gia nhập hội những người giúp việc Công giáo để được phát áo có mũ trùm đầu mặc cho khỏi làm rách quần áo của mình, anh ta đã phải mua sách giáo lý vấn đáp. Anh ta đã phải học theo sách để biết cách làm dấu thánh, để biết ai là người duy nhất được cứu rỗi khỏi tội lỗi bẩm sinh, thế nào là có lương tâm trong sạch, và nhiều điều nhỏ nhặt tương tự khác. Sau đó, anh ta bán chui cho những người trong hội đến một nửa số dưa chuột ở vườn của tu viện và bị đuổi đi một cách nhục nhã. Khi gặp tôi, anh ta bảo rằng: ‘Tôi đã có thể bán được dưa chuột kể cả khi chẳng có sách giáo lý.’”
Švejk mang cuốn sách mua về, tuyên úy xem và bảo: “À ra thế, chỉ có linh mục mới được ban Bí tích Xức dầu lần cuối, và bằng dầu do giám mục đã làm phép. Anh thấy đấy, vậy là anh không thể ban Xức dầu lần cuối được. Anh hãy đọc cho tôi nghe xem lễ Xức dầu làm như thế nào?”
Švejk đọc: “Làm như thế này ạ: Linh mục vừa xức dầu vào từng phần hồn vừa cầu nguyện: ‘Nhờ việc xức dầu thánh này và nhờ lòng từ bi nhân hậu của Chúa, xin Chúa dùng ơn Chúa Thánh thần để Người giải thoát cho anh khỏi mọi tội lỗi anh đã phạm phải bằng thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, bằng lời nói, bằng tiếp xúc và bằng bước đi.’”
“Švejk ạ,” tuyên úy lên tiếng, “tôi muốn biết, người ta có thể phạm phải tội gì bằng tiếp xúc. Anh có thể giải thích cho tôi biết được không?”
“Nhiều thứ lắm ạ, thưa tuyên úy. Chẳng hạn tiếp xúc với túi của người khác, hay tiếp xúc trong các buổi khiêu vũ, tất nhiên tuyên úy biết những buổi khiêu vũ giải trí ấy nó thế nào?”
“Thế bằng bước đi là sao?”
“Khi mà người ấy bắt đầu vấp ngã làm người khác phải giật mình.”
“Thế bằng khứu giác là thế nào?”
“Khi mà người ấy không thích mùi hôi thối nào đó.”
“Thế bằng vị giác là thế nào?”
“Khi mà người ấy thèm muốn một người nào khác.”
“Thế còn bằng lời nói là sao?”
“Cái này đi cùng với thính giác, thưa tuyên úy. Khi mà người ấy lảm nhảm dông dài và người khác thì phải nghe người ấy nói.”
Sau cuộc đối thoại đầy triết lý ấy, tuyên úy im lặng rồi nói: “Chúng ta cần dầu thánh đã được giám mục làm phép. Anh cầm mười koruna này đi mua một lọ. Ở kho của quân nhu chắc là không có dầu này.”
Vậy là Švejk lên đường đi kiếm dầu đã được giám mục làm phép. Tìm một vật như thế còn khó hơn cả việc tìm nước cải tử hoàn sinh trong các chuyện cổ tích của Božena Němcová⦾.
Švejk đã đến mấy cửa hàng bán đồ vệ sinh và mỹ phẩm, nhưng mà hễ nói: “Tôi muốn mua một lọ dầu xức đã được giám mục làm phép.” là có nơi người ta phá lên cười, có nơi người ta lại kinh sợ ẩn mình xuống dưới quầy hàng. Trong khi đó thì Švejk tỏ ra nghiêm trang khác thường.
Anh nghĩ là sẽ gặp may ở cửa hàng thuốc. Sau khi hỏi ở cửa hàng thứ nhất, một nhân viên pha chế thuốc dắt anh ra khỏi đó. Ở cửa hàng thứ hai người ta định gọi điện đến trạm cứu thương, và người phụ trách cửa hàng thứ ba bảo Švejk rằng công ty Polák đường Dlouhá, nơi bán dầu và sơn, chắc chắn có trong kho thứ dầu anh cần mua.
Công ty Polák ở đường Dlouhá quả thật là công ty có cố gắng tích cực. Họ làm thỏa mãn bất kỳ một nguyện vọng nào của khách hàng. Nếu khách hàng muốn nhựa thơm Copaiba, họ rót cho khách dầu Turpentine, và thế cũng tốt.
Khi Švejk đến và nói muốn mua mười koruna dầu xức đã được giám mục làm phép, ông chủ quay sang bảo người phụ việc: “Này anh Tauchen, rót cho khách một lạng dầu gai số ba.”
Khi gói lọ dầu vào giấy, người phụ việc nói với Švejk như một nhà buôn chuyên nghiệp: “Đây là dầu hạng nhất đấy ạ. Và nếu ông có cần mua chổi quét, mua sơn hay véc-ni thì xin cứ đến đây. Chúng tôi sẽ phục vụ chu đáo ạ.”
Ở nhà, tuyên úy đã xem sách giáo lý để ôn lại thứ mà ngày trước ông đã học ở chủng viện nhưng bây giờ không còn nhớ. Có nhiều câu đặc biệt dí dỏm làm ông bật cười một cách chân thành và cảm thấy rất thích thú. Chẳng hạn: “Cái tên Xức dầu thánh lần cuối bắt nguồn từ thực tế, rằng đó thường là lần xức dầu cuối cùng trong tất cả các lần xức dầu thánh mà Giáo hội ban cho từng người.”
Hay là câu: “Bất kỳ tín đồ Công giáo nào cũng có thể được nhận Bí tích Xức dầu lần cuối, nếu người ấy đã bị lâm bệnh hiểm nghèo nhưng đã minh mẫn trở lại.”
Hoặc là câu: “Nếu có thể, người ốm nên được nhận Bí tích Xức dầu lần cuối trong trạng thái còn có trí nhớ tốt.”
Một người lính liên lạc mang công văn tới cho tuyên úy, trong đó có thông tin là ngày mai, Hội đoàn các nữ quý tộc về vấn đề giáo dục tôn giáo cho quân lính sẽ có mặt tại lễ ban Bí tích Xức dầu lần cuối.
Hội này gồm có những người đàn bà cuồng loạn, họ thường đến các bệnh viện để tặng binh sĩ tranh mang hình các vị Thánh và các quyển truyện kể về một người lính theo đạo Công giáo đang chết vì Hoàng đế. Các truyện ấy được minh họa bằng bức tranh màu miêu tả chiến trường. Chỗ nào cũng ngổn ngang xác người và xác ngựa, các xe chở đạn dược và súng đại bác thì bị lật ngược. Ở phía chân trời, xóm làng đang bị cháy, trái phá đang nổ, còn ở phía trước là một người lính với một cẳng chân bị đứt rời đang nằm hấp hối. Phía bên trên người lính ấy có thiên thần đang cúi xuống và mang đến cho anh một chiếc vòng hoa với dòng chữ viết trên dải lụa: “Hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên Thiên đàng.” Và người lính hấp hối mỉm cười hân hoan, như thể người ta mang kem đến cho anh.
Khi đọc xong công văn, ông Otto Katz nhổ bọt và nghĩ thầm: “Ngày mai lại là một ngày chẳng ra gì.”
Lũ ấy – tuyên úy thường bảo Hội ấy như vậy – ông biết từ nhà thờ Ignác, nơi trước đây ông từng giảng đạo cho quân lính. Hồi ấy, ông còn để tâm rất nhiều đến những bài giảng, và thành viên của Hội thường ngồi ở phía sau ngài đại tá. Một lần, sau lúc giảng kinh có hai mụ cao lêu nghêu mặc bộ đồ màu đen, tay cầm tràng hạt mân côi lên chỗ ông đứng và đã nói tới hai tiếng đồng hồ về giáo dục tôn giáo cho binh lính. Họ nói mãi cho tới lúc ông bực mình bảo: “Thưa các bà, tôi xin lỗi, nhưng ngài đại úy đang chờ tôi để đi đánh bạc.”
“Thế là chúng ta có dầu rồi,” Švejk trịnh trọng tuyên bố sau khi từ công ty Polák về, “dầu gai số ba hạng nhất, chúng ta có thể xức dầu cho cả tiểu đoàn. Đó là công ty tử tế. Họ cũng bán cả véc-ni, sơn và chổi quét sơn. Chúng ta còn cần một cái chuông nhỏ nữa.”
“Chuông để làm gì, hả Švejk?”
“Thưa tuyên úy, trên đường đi phải rung chuông để mọi người chào chúng ta, khi mà chúng ta mang Chúa Trời với dầu Hemp số ba. Thường phải làm như thế, và cũng có nhiều người cho rằng việc ấy chẳng dính dáng gì đến mình nên không ngả mũ chào, thế là bị bắt giam. Có lần, cha xứ ở Žižkov đã đánh một người mù vì trong một dịp như vậy người ấy đã không ngả mũ chào, rồi người ấy còn bị đi tù, tại vì ở tòa án người ta đã chứng minh là người ấy chỉ mù thôi, chứ không điếc, tức là có nghe thấy tiếng chuông, và người ấy đã làm mọi người phẫn nộ, cho dù việc ấy đã xảy ra vào ban đêm. Cái đó cũng tương tự như với Thánh Thể. Lúc khác thì chẳng ai để ý đến chúng ta, nhưng bây giờ thì họ sẽ ngả mũ chào. Nếu mà tuyên úy không có gì phản đối thì tôi mang chuông đến ngay.”
Được tuyên úy đồng ý, một nửa tiếng sau Švejk mang về một cái chuông.
“Đây là cái chuông ở cổng quán trọ U Křížů,” anh nói,”phải mất đến năm phút hoảng hồn, trước đây tôi cũng phải chờ lâu vì có nhiều người đi lại.”
“Tôi ra quán cà phê đây, nếu có ai đến thì anh bảo người ta chờ.”
Khoảng một tiếng sau, có một người đàn ông luống tuổi tóc bạc tới. Ông có vóc dáng thẳng thớm, đôi mắt nhìn nghiêm khắc.
Từ vẻ mặt ông ấy toát ra vẻ hùng hổ và giận dữ. Mắt ông ấy trông như mắt của người có sứ mệnh phá hủy cái trái đất khốn khổ của chúng ta và xóa bỏ dấu vết của nó trong vũ trụ.
Ông ấy nói một cách thô bạo, khô khốc và nghiêm khắc: “Có nhà không? Đi quán cà phê hả? Bảo là chờ hả? Được, thế thì tôi sẽ chờ cho đến sáng. Hừ, đi quán cà phê thì có tiền, nhưng trả nợ thì không. Thế mà là linh mục đấy, đồ trời đánh!”
Ông ta nhổ bọt ở trong bếp.
“Thưa ông, xin đừng nhổ bọt ở đây!” Švejk lên tiếng và chăm chú nhìn người lạ.
“Thì tôi còn nhổ lần nữa, trong đây này,” người đàn ông nghiêm khắc cứng cổ đáp và nhổ xuống sàn nhà lần thứ hai, “không biết xấu hổ! Ấy mà lại là giáo sĩ quân đội đấy, nhục nhã chưa!”
“Này, nếu ông là người có học thức,” Švejk nhắc nhở, “thì ông chừa cái thói nhổ bọt ở nhà người khác đi! Hay là ông nghĩ rằng khi có đại chiến thì ông muốn làm gì cũng được? Ông phải cư xử tử tế chứ đừng như một đứa vô liêm sỉ. Ông phải đối xử nhẹ nhàng, nói năng lịch sự chứ đừng như thằng mất dạy, hiểu không, hả thường dân ngu ngốc?”
Người đàn ông nghiêm khắc đứng lên, run cả người vì tức giận và gào to: “Anh dám bảo tôi không phải là người tử tế hả? Thế thì tôi là ai, hả? Nói đi…”
“Ông là đồ con lợn,” Švejk trả lời và nhìn vào mắt ông ta, “ông nhổ xuống sàn nhà, ông làm như là đang ở trong tàu điện, trên tàu hỏa, hay là ở chỗ công cộng nào vậy. Tôi đã cứ ngạc nhiên không hiểu tại sao ở đâu cũng có treo biển cấm khạc nhổ xuống đất, té ra bây giờ mới biết là vì ông. Chắc là mọi người ở mọi nơi đều phải biết ông rất rõ!”
Mặt người đàn ông nghiêm khắc bắt đầu đổi màu. Thay vì trả lời, ông ta lên cơn chửi rủa Švejk và tuyên úy.
“Ông đã nói xong chưa,” Švejk điềm tĩnh hỏi, (khi người đàn ông nói hết câu “Cả chủ anh lẫn anh đều là quân mất dạy, đúng là chủ nào tớ ấy.”), “hay là ông còn muốn nói gì thêm nữa, trước khi ông bay từ cầu thang xuống dưới kia?”
Bởi lẽ đã mệt lử, người đàn ông nghiêm khắc không nghĩ ra được câu chửi hay nào nữa, nên im bặt. Švejk coi đó là dấu hiệu rằng có chờ cũng vô ích.
Thế là anh mở cửa, kéo người đàn ông ra đó, dựng ông ta mặt quay về phía cầu thang. Và với cú sút như thế chắc hẳn cả cầu thủ của đội tuyển hạng nhất trong giải vô địch bóng đá thế giới cũng không phải lấy làm hổ thẹn.
Švejk nói với theo người đàn ông nghiêm khắc: “Lần sau, có đi đến chơi nhà những người tử tế thì ông phải đối xử cho tử tế.”
Ở bên dưới cửa sổ, người đàn ông ấy đi đi lại lại chờ tuyên úy. Švejk mở cửa sổ theo dõi ông ta.
Cuối cùng thì tuyên úy cũng về. Ông đưa người khách vào phòng rồi cả hai ngồi xuống ghế đối diện nhau.
Švejk lẳng lặng mang ống nhổ đến đặt trước mặt khách.
“Anh làm cái gì thế, hả Švejk?”
“Báo cáo tuyên úy, đã có chuyện hơi khó chịu về việc nhổ xuống sàn nhà ạ.”

“Anh đi đi, chúng tôi có chuyện cần nói với nhau.”
Švejk giơ tay chào. “Báo cáo tuyên úy, tôi để các ông ngồi ạ.”
Anh vào bếp. Ở trong phòng có cuộc nói chuyện rất thú vị.
“Nếu tôi không nhầm thì ông đến đây để lấy tiền cái trái phiếu ấy, có phải không?” Tuyên úy hỏi người khách.
“Vâng, tôi hy vọng…”
Tuyên úy thở dài. “Con người nhiều khi rơi vào tình trạng mà chỉ còn lại niềm hy vọng là duy nhất. Cái từ hy vọng trong bộ ba niềm tin, hy vọng và tình yêu nâng con người vượt lên trên cái hỗn loạn của cuộc đời, mới đẹp làm sao!”
“Thưa tuyên úy, tôi hy vọng là số tiền…”
“Tất nhiên rồi, kính thưa ông,” tuyên úy ngắt lời, “tôi có thể nhắc lại một lần nữa, là cái từ hy vọng làm tăng thêm sức mạnh cho con người trong chiến đấu với cuộc đời. Cả ông cũng không mất hy vọng. Có một ý tưởng, là một sinh linh trong trắng vô tội, cho người khác vay tiền mua trái phiếu và mang hy vọng là sẽ được trả tiền đúng hẹn… Cái đó mới đẹp làm sao! Hãy hy vọng, luôn luôn hy vọng rằng tôi sẽ trả lại ông một nghìn hai trăm koruna, khi mà trong túi tôi bây giờ có chưa đầy một trăm.”
“Vậy… vậy là ngài…,” người khách lắp bắp.
“Vâng, vậy là tôi…” tuyên úy đáp lời. Cái vẻ hùng hổ tức giận lại hiện ra trên mặt ông khách. Ông ta đứng dậy và nói: “Thưa ngài, thế này là lừa đảo.”
“Ông hãy bình tĩnh lại đi, thưa ông…”
“Thế là lừa đảo,” ông khách bướng bỉnh gào lên, “ngài đã lạm dụng lòng tin của tôi.”
“Thưa ông,” tuyên úy nói, “chắc chắn thay đổi không khí sẽ tốt hơn cho ông. Ở đây quá ngột ngạt. Švejk đâu?” Ông gọi vào bếp, “Ông này muốn ra chỗ thoáng mát.”
“Báo cáo tuyên úy, tôi đã đuổi ông ấy đi một lần rồi ạ.”
“Đuổi lần nữa,” tuyên úy ra lệnh, và mệnh lệnh đó được thi hành rất nhanh gọn và tàn bạo.
“Thưa tuyên úy,” Švejk nói, sau khi từ hành lang quay lại, “may là chúng ta đuổi được ông ấy đi trước khi ông ấy giở trò gì ở đây. Ở Malešice có một ông chủ quán bia, một người rất thông thạo Kinh Thánh, bất kỳ việc gì ông ấy cũng lấy được dẫn chứng từ Kinh Thánh. Lần nào lấy roi đuôi bò đánh ai, ông cũng bảo: ‘Ai ít roi vọt là người ghét con trai mình; còn ai thương yêu con thì phải phạt đúng lúc. Tao cho mày đến đánh nhau ở quán của tao này!’”
“Đấy, anh đã thấy là ai không kính trọng linh mục sẽ bị như thế nào,” tuyên úy cười, “Thánh Gioan Kim Khẩu đã nói:”Người nào kính trọng linh mục, người ấy kính trọng Chúa Jesus, kẻ nào khinh thường linh mục tức là kẻ ấy khinh thường Chúa Jesus, bởi lẽ linh mục là người thay mặt Chúa. Chúng ta phải chuẩn bị cho ngày mai thật chu đáo. Anh hãy rán trứng với giăm bông, pha một ít rượu punch⦾ nóng rồi ta ngồi nguyện, vì như trong câu cầu nguyện buổi chiều là: ‘Ân sủng của Chúa xua đuổi khỏi nhà này những mưu mô nham hiểm của kẻ thù.’”
Trên đời này có những người kiên nhẫn và một trong số họ là người đàn ông đã hai lần bị đuổi ra khỏi nhà tuyên úy. Khi bữa chiều vừa được chuẩn bị xong thì có tiếng chuông bấm. Švejk ra mở cửa, một lúc sau quay trở vào phòng và nói: “Thưa tuyên úy, ông ấy lại đến. Tạm thời, tôi giam ông ấy ở phòng tắm để chúng ta có thể ăn chiều thoải mái ạ.”
“Anh làm thế là không đúng,” tuyên úy nói, “khách đến nhà, Chúa đến nhà. Ngày xưa, trong bữa tiệc, người ta thường để các dị nhân làm trò tiêu khiển. Anh dẫn ông ấy vào đây cho vui.”
Một lát sau, Švejk đi vào cùng người đàn ông kiên trì. Ông ta ủ rũ nhìn về phía trước mặt.
“Mời ông ngồi,” tuyên úy thân mật nói, “chúng tôi vừa ăn chiều xong. Chúng tôi đã ăn tôm hùm, cá hồi, bây giờ còn ăn trứng rán với giăm bông nữa. Làm gì mà chả ăn sang trọng, khi mà chúng tôi được mọi người cho vay tiền.”
“Tôi tin là tôi không đến đây để làm trò đùa,” người đàn ông ủ rũ nói, “hôm nay tôi vào đây đến lần thứ ba rồi. Tôi hy vọng là bây giờ thì mọi chuyện sẽ rõ ràng.”
“Báo cáo tuyên úy,” Švejk nhận xét, “ông ấy quả thật dẻo dai, giống một tay tên là Boušek ở Libeň. Trong một buổi tối người ta đuổi hắn ra khỏi quán đến mười tám lần, nhưng lần nào hắn cũng quay trở lại, bảo là quên chiếc tẩu. Hắn trèo qua cửa sổ, luồn qua cửa, vào qua bếp, leo qua tường để vào quán, lọt xuống tầng hầm để lên quầy bia, có thể hắn còn định chui qua ống khói nữa, giá mà lính cứu hỏa không lôi hắn từ trên mái nhà xuống. Hắn kiên trì dai dẳng đến mức có thể làm bộ trưởng hay đại biểu quốc hội được. Người ta đã cố gắng hết sức mình vì hắn.”
Người đàn ông kiên trì như thể chẳng để ý gì đến những điều nghe thấy và cứ bướng bỉnh nhắc đi nhắc lại: “Tôi muốn làm cho rõ ràng, tôi muốn ngài nghe tôi nói.”
“Vâng, xin mời,” tuyên úy nói, “ông cứ nói, kính thưa ông. Ông muốn nói bao nhiêu lâu thì nói, còn chúng tôi thì sẽ tiếp tục đánh chén. Tôi hy vọng là việc ấy không ảnh hưởng gì đến câu chuyện của ông. Švejk, anh mang thức ăn ra bàn đi.”
“Ngài biết đấy,” người đàn ông kiên trì nói, “chiến tranh đang ác liệt. Tôi đã cho ngài vay trước chiến tranh, giá mà không phải thời chiến thì tôi chẳng giục ngài trả làm gì. Nhưng mà tôi gặp toàn chuyện rủi ro.”
Ông ta rút ra từ túi một quyển sổ và tiếp tục: “Tôi đã ghi cả vào đây rồi. Trung úy Janata nợ tôi bảy trăm koruna, thế mà ông ấy dám chết trận ở sông Drina⦾. Thiếu úy Prášek bị bắt ở mặt trận Nga, ông ấy nợ tôi đến hai nghìn koruna. Đại úy Wichterle cũng nợ tôi bằng ấy tiền, thế mà lại để chính lính của mình giết chết ở Ruska-Rava⦾. Trung úy Machek vay của tôi nghìn rưỡi koruna thì bị bắt ở Serbia. Và còn nhiều người khác tương tự như thế nữa. Người thì tử trận ở Karpat cùng với trái phiếu còn chưa thanh toán với tôi, kẻ thì bị bắt làm tù binh, một người chết đuối ở Serbia, rồi người khác thì chết trong bệnh viện ở Hungary. Ngài cũng phải hiểu cho nỗi lo lắng của tôi, rằng cuộc chiến tranh này sẽ giết tôi, nếu tôi nhượng bộ và không cứng rắn. Ngài có thể bảo tôi là ngài không bị nguy hiểm nào trực tiếp đe dọa, nhưng mà xin ngài nhìn đây.”
Ông ta gí quyển sổ đến sát mặt tuyên úy: “Ngài trông thấy không? Tuyên úy Matyáš người Brno vừa mới chết tuần trước ở bệnh viện truyền nhiễm. Tôi tiếc đứt ruột, ông ấy chưa trả tôi món nợ một nghìn tám trăm koruna, vậy mà lại đi vào cái nhà đầy bệnh thổ tả để xức dầu lần cuối cho một người chẳng có dính dáng gì đến mình.”
“Đó là nghĩa vụ của ông ấy, thưa ông bạn,” tuyên úy nói, “ngày mai tôi cũng đi ban Xức dầu lần cuối.”
“Và cũng đi đến cái nhà thổ tả,” Švejk nói, “ông có thể đi với chúng tôi, để biết thế nào là sự hy sinh.”
“Thưa tuyên úy,” người đàn ông kiên trì nói, “xin ngài tin là tôi đang lâm vào hoàn cảnh tuyệt vọng. Chẳng lẽ cuộc chiến tranh này xảy ra chỉ là để giết hết những kẻ nợ tiền tôi hay sao?”
“Đến khi nào người ta đưa ông vào quân ngũ và ông phải ra mặt trận,” Švejk nói, “thì cùng với tuyên úy chúng tôi sẽ cử hành Thánh lễ để Chúa Trời khiến quả lựu đạn đầu tiên làm ông tan xác.”
“Thưa ngài, đây là việc hệ trọng,” kẻ kiên trì nói với tuyên úy, “tôi yêu cầu ngài bảo lính hầu của ngài đừng dây dưa vào chuyện của chúng ta, để chúng ta có thể kết thúc ngay được.”
“Xin phép tuyên úy,” Švejk lên tiếng, “xin tuyên úy thật sự ra lệnh để tôi không dính dáng gì đến những chuyện của tuyên úy, nếu không thì tôi vẫn sẽ tiếp tục bảo vệ mọi chuyện của tuyên úy theo những gì mà người lính thực thụ phải làm. Ông này hoàn toàn đúng khi bảo là muốn tự đi khỏi nơi đây. Tôi cũng chẳng muốn cãi nhau làm gì, tôi là người đàn ông biết đối xử.”
“Švejk ạ, tôi bắt đầu thấy chán rồi,” tuyên úy nói như không để ý gì đến người khách, “tôi tưởng là người ấy làm chúng ta vui và sẽ kể truyện cười cho chúng ta nghe, ấy thế mà ông ta lại yêu cầu tôi cấm anh không được dính dáng vào chuyện này, mặc dù anh đã phải dính vào đã hai lần rồi. Vào buổi tối trước khi tôi phải làm một lễ quan trọng như thế, khi mà tôi phải hướng tâm trí về Thượng Đế thì ông ta lại quấy rầy tôi bằng chuyện ngu xuẩn về một nghìn hai trăm koruna khốn kiếp, làm tôi mất tập trung vào việc ăn năn sám hối, vào Thượng Đế. Và muốn tôi bảo ông ta một lần nữa là bây giờ tôi chẳng đưa cho ông ta cái gì cả. Tôi không muốn nói gì với ông ấy nữa để buổi tối thiêng liêng này không bị phá quấy. Anh hãy bảo đi, rằng tuyên úy sẽ không đưa gì cho ông ấy.”
Švejk chấp hành mệnh lệnh và hét vào tai khách. Nhưng ông khách kiên trì vẫn tiếp tục ngồi. Tuyên úy giục Švejk: “Anh hỏi xem ông ấy định ngồi đây giương mắt ếch đến khi nào?”
“Tôi sẽ không rời khỏi đây, chừng nào còn chưa được trả nợ,” ông khách bướng bỉnh lên tiếng.
Tuyên úy đứng dậy đi về phía cửa sổ và bảo: “Trong trường hợp đó thì tôi trao ông ấy cho anh, Švejk ạ. Anh muốn làm gì với ông ấy thì làm.”
“Nào, mời ông đi cho,” Švejk kéo vai ông khách khó chịu, “làm đến lần thứ ba thì mọi việc phải suôn sẻ.”
Anh làm lại việc đã làm hai lần trước một cách nhanh chóng và lịch lãm, trong khi tuyên úy gõ tay vào cửa sổ một nhịp điệu tang lễ.
Buổi tối dành cho nguyện ngắm trải qua mấy giai đoạn. Tuyên úy đi đến gần Chúa một cách cung kính và nhiệt thành. Từ phòng ông, tận vào mười hai giờ đêm vẫn còn vang lên tiếng hát:
Khi chúng ta hành quân
các em đều than khóc…
Và người lính tốt Švejk đã hát cùng với tuyên úy.
Có hai bệnh nhân của bệnh viện quân y muốn được ban Bí tích Xức dầu lần cuối. Một người là ông thiếu tá già và một người là nhân viên quản lý tài khoản ở ngân hàng, là sĩ quan dự bị. Cả hai bị trúng đạn vào bụng ở Karpaty và bây giờ nằm cạnh nhau. Người sĩ quan dự bị coi việc xin ban Bí tích Xức dầu lần cuối là nghĩa vụ, bởi vì người cấp trên của ông mong được xức dầu lần cuối. Nếu mà không làm thế thì ông cho là vi phạm nghĩa vụ của người cấp dưới. Ông thiếu tá ngoan đạo thì làm điều đó bằng sự khôn ngoan, ông cho rằng đức tin và lời cầu nguyện sẽ làm người ốm khỏe lại. Nhưng vào đêm trước ngày được xức dầu lần cuối thì cả hai đều chết và sáng hôm sau, khi tuyên úy và Švejk tới nơi, thì họ đã nằm dưới tấm ga trải giường, khuôn mặt đen bầm như tất cả những ai bị chết vì ngạt thở.
“Thưa tuyên úy, chúng ta đã chuẩn bị long trọng đến thế, vậy mà họ lại làm hỏng việc,” Švejk bực bội nói, “khi ở văn phòng người ta thông báo rằng hai người ấy bây giờ không cần bất kỳ cái gì nữa.”
Quả thật họ đã làm việc đó một cách long trọng. Họ đã đi xe ngựa, Švejk rung chuông, còn tuyên úy thì cầm lọ dầu gói trong giấy ăn. Bằng vẻ mặt nghiêm trang, ông giơ lọ lên ban phước lành cho những người đi đường nào ngả mũ chào họ.
Đúng ra mà nói thì không có nhiều người ngả mũ chào, mặc dù Švejk đã cố gắng rung chuông làm huyên náo đường phố.
Một bọn trẻ con chạy đuổi theo xe ngựa, một đứa nhảy lên ngồi ở đằng sau xe, còn lũ bạn của nó thì đồng thanh hô: “Lên sau xe, lên sau xe!”
Švejk rung chuông dữ dội, người đánh xe quất roi ngựa về phía sau. Đến phố Vodičkova thì có một bà coi nhà nào đó, thành viên của Hội đoàn Trinh nữ Maria, chạy đuổi theo xe, vừa chạy bà vừa được ban phước lành. Sau đó bà dừng lại, làm dấu Thánh giá và nhổ bọt: “Gớm quá, mang Chúa đi mà cứ phóng tít mù như bị ma đuổi vậy! Chạy theo các người như thế này chắc bị lao phổi luôn!” rồi bà hổn hển quay trở về chỗ mình.
Tiếng chuông gây ảnh hưởng nhiều nhất đến con ngựa cái đang kéo xe. Nó bất an, chắc là tiếng chuông gọi lại cho nó kỷ niệm xa xưa nào chăng, bởi lẽ nó cứ liên tục quay đầu nhìn về phía sau, thỉnh thoảng lại thử làm mấy bước nhảy trên con đường lát đá.
Đấy là tất cả cái long trọng mà Švejk đã nói đến. Tuyên úy đi vào văn phòng để thanh toán chi phí cho việc ban Bí tích Xức dầu lần cuối. Ông tính cho trung sĩ kế toán biết là bên quân nhu nợ ông tiền mua dầu đã làm phép thánh và tiền đi đường, tổng cộng là một trăm rưỡi koruna.
Tiếp theo đó là cuộc đôi co giữa tuyên úy và giám đốc bệnh viện quân y. Tuyên úy đập tay xuống bàn mấy lần và nói: “Thưa đại úy, ngài đừng tưởng rằng ban Xức dầu lần cuối là việc làm miễn phí. Khi sĩ quan của long kỵ binh được lệnh đi lấy ngựa ở trại nuôi ngựa thì người ta cũng phải trả tiền bồi dưỡng cho ông ta. Quả thật tôi lấy làm tiếc là hai người ấy không chờ được đến lúc được xức dầu lần cuối. Tiền phí tổn còn đắt hơn năm mươi koruna nữa cơ ạ.”
Trong lúc đó, Švejk ngồi chờ ở dưới nhà bảo vệ. Những người lính ở đó rất quan tâm đến lọ dầu anh đang cầm. Có người nào đó bảo rằng dầu này có thể dùng để lau súng trường và lưỡi lê rất tốt.
Một người lính trẻ măng quê ở cao nguyên Bohemia – Moravia, người vẫn còn tin vào Thiên Chúa, đã xin tất cả đừng nói những chuyện như thế và đừng mang những điều thần bí ra tranh luận. Chúng ta phải biết hy vọng như những tín hữu Kitô giáo.
Một người lính dự bị có tuổi nhìn anh lính trẻ và bảo: “Ừ, hy vọng là cái hay, cho đến lúc lựu đạn nổ làm rời đầu ra! Người ta đã lừa dối chúng ta. Một lần, có một vị đại biểu quốc hội của đảng dân chủ Kitô giáo đến thăm chúng tôi và nói về hòa bình của Thiên Chúa, rằng nó đang bao trùm trái đất, về việc Thiên Chúa không muốn chiến tranh và muốn tất cả mọi người sống trong hòa bình và hòa thuận với nhau như anh em. Thế mà, khi chiến tranh bùng nổ, thì thằng ngu ấy tận mắt thấy tất cả các nhà thờ đều cầu nguyện cho sự hiệu nghiệm của vũ khí và người ta nói về Thiên Chúa như nói về Tổng tham mưu trưởng lãnh đạo và chỉ huy cuộc chiến. Ở bệnh viện quân y này tôi đã nhìn thấy biết bao đám tang, trông thấy xe chở đi biết bao cẳng chân cánh tay bị đứt lìa.”
“Lính tử trận bị chôn không quần áo,” người lính khác nói, “những bộ quân phục của họ lại để cho lính còn sống mặc, cứ luân phiên như thế mãi.”
“Cho đến khi chúng ta chiến thắng,” Švejk nhận xét.
“Làm lính hầu mà đòi thắng cái gì,” một hạ sĩ quan ngồi ở góc phòng lên tiếng, “cứ thử cho anh ra trận đi, xuống chiến hào đi, để anh mất tất cả trước các lưỡi lê bên kia hàng rào dây thép gai, trước mìn và đại bác đi. Nhởn nhơ ở hậu phương thì ai mà chả làm được, ở hậu phương thì chẳng ai muốn tử trận cả.”
“Tôi cũng nghĩ rằng bị đâm lê là việc rất vẻ vang,” Švejk nói, “bị đạn bắn vào bụng cũng không phải là chuyện xấu, tốt hơn nữa là bị trúng lựu đạn, lúc ấy thì người ấy nằm đó, nhìn cái chân, cái bụng văng ra khỏi người mình, rồi kinh ngạc đến mức chết đi, trước khi được người khác giải thích tại sao anh ấy lại bị như thế.”
Người lính trẻ buồn bã thấm thía thở dài. Anh thấy thương tiếc cho tuổi trẻ của mình, cho việc anh đã sinh ra ở cái thế kỷ ngu ngốc đến mức để cho người ta mổ xẻ như thân con bò ở lò sát sinh. Vì sao mà lại có tất cả những chuyện như thế này?
Một người lính khác, nguyên là thầy giáo, dường như đọc được suy nghĩ của người lính trẻ, lên tiếng giảng giải: “Một số học giả giải thích chiến tranh bằng sự xuất hiện của những vệt tối trên mặt trời. Hễ ở mặt trời có xuất hiện vệt tối là bao giờ cũng sẽ xảy ra một cái gì rất khủng khiếp. Thành phố Carthage bị chinh phục…”
“Này, học giả học thật gì thì cũng bỏ đấy,” viên hạ sĩ quan ngắt lời thầy giáo, “đi quét nhà đi, hôm nay đến lượt anh. Vệt tối trên mặt trời thì có dính líu gì đến chúng ta. Giá mà ở trên ấy có đến hai mươi vệt đi chăng nữa thì cũng chẳng lấy nó để mua được cái gì?”
“Những vệt tối trên mặt trời quả thật có ý nghĩa lớn,” Švejk nói chen vào, “một lần có một vệt xuất hiện, thế là ngay trong ngày hôm ấy tôi bị đánh ở quán U Banzetů ở Nusle. Từ ngày ấy, cứ mỗi lần đi đâu là tôi lại đọc báo để xem có vệt tối nào không. Hễ mà có thì tôi ở nhà chứ chẳng đi đâu cả, cũng vì thế mà tôi không bị sao. Còn nhớ hồi ấy, khi núi lửa Mont Pelé hủy hoại toàn bộ đảo Martinique, có một vị giáo sư đã viết bài đăng ở báo Chính trị dân tộc, rằng đã từ lâu vị ấy cảnh báo độc giả về vệt tối trên mặt trời. Chỉ có điều tờ Chính trị dân tộc đã không ra hòn đảo ấy được kịp thời, thành thử dân ở đấy bị hứng thảm họa.”
Ở trên văn phòng, tuyên úy gặp một quý bà thuộc Hội đoàn nữ quý tộc về vấn đề giáo dục tôn giáo cho quân lính. Đó là một bà già ma chê quỷ hờn đáng ghét. Suốt từ sáng, bà đi khắp bệnh viện và ở chỗ nào cũng tặng tranh ảnh các vị Thánh, nhưng những người lính bị ốm và bị thương đã vứt chúng vào ống nhổ.
Trên đường đi thăm bệnh nhân, ở đâu bà cũng làm tất cả mọi người sôi máu vì những lời linh tinh vớ vẩn của mình, rằng họ phải chân thành ăn năn hối lỗi và thật sự trở nên tốt hơn, để sau khi chết được Chúa Trời quý mến ban cho sự cứu rỗi vĩnh cửu.
Mặt bà trắng bệch khi nói chuyện với tuyên úy. Rằng đáng lẽ phải làm cho quân lính trở nên cao quý, chiến tranh làm cho họ trở thành thú vật. Rằng những người ốm ở tầng dưới đã lè lưỡi chế nhạo bà, bảo rằng bà là con bù nhìn và đồ con lừa ngu xuẩn. Rồi bà chuyển sang nói bằng tiếng Đức: “Thật là kinh khủng, ngài tuyên úy ạ, cái dân tộc này mới hư hỏng làm sao!” Sau đó, bà giãi bày suy nghĩ của mình về vấn đề giáo dục tôn giáo cho quân lính. Người lính chỉ có thể dũng cảm chiến đấu vì Hoàng đế khi mà người ấy tin vào Đức Chúa Trời và có cảm nhận về tôn giáo. Khi đó thì người lính sẽ không sợ cái chết, bởi lẽ biết là sẽ được lên thiên đàng.
Bà già lắm lời còn huyên thuyên một hồi nữa, toàn những chuyện dở hơi ngu xuẩn tương tự, và xem ra bà quyết tâm không buông tha tuyên úy. Nhưng tuyên úy đã tạm biệt một cách chẳng lịch sự chút nào. Ông gọi điện xuống dưới nhà bảo vệ:
“Švejk, về nhà!”
Trên đường về, họ không làm cái gì long trọng nữa.
“Lần sau thì để mặc ai muốn đi ban Xức dấu lần cuối thì đi,” tuyên úy nói, “chứ cứ khi muốn ban Bí tích cho mỗi một tâm hồn là lại đi đôi co mặc cả tiền nong với bọn chúng cho bực mình. Bọn đểu giả, chỉ toàn những kế toán với thanh toán lôi thôi!”
Nhìn thấy lọ dầu đã được làm phép thánh trong tay Švejk, tuyên úy nhăn mặt: “Tốt nhất là anh lấy dầu này mà đánh giày cho tôi và cho cả anh.”
“Vâng ạ, tôi cũng thử tra vào ổ khóa nữa,” Švejk nói thêm, “nó cứ rít ken két mỗi khi tuyên úy về nhà vào ban đêm.”
Thế là việc ban Bí tích Xức dầu lần cuối không xảy ra đã kết thúc.
← Božena Němcová (1820–1862) là nhà văn Séc, viết rất nhiều thơ và truyện cổ tích. Tác phẩm nổi tiếng của bà là tiểu thuyết Babička (Người bà).
← Punch là một đồ uống có nguồn gốc Hindi, thường được pha bằng rượu và nước cùng với nước hoa quả, chanh, đường, hoặc mật ong và gia vị.
← Con sông làm biên giới tự nhiên giữa Bosna & Hercegovina với Serbia.
← Đúng ra thì là Rava-Ruska, một thành phố của Ukraina ở vùng Lviv (theo svejkmuseum.cz).