
Đại tá Bedfich Kraus, còn có cái tên quý tộc là Von Zillergut theo tên của một làng nhỏ nào đó ở Salzburg⦾, cái làng mà tổ tiên của ông đã bóc lột sạch ngay từ thế kỷ thứ mười tám, là một người ngu ngốc đến mức đáng phục. Khi nói chuyện về cái gì đó, ông nói toàn điều tốt đẹp, đồng thời hỏi người nghe xem họ có hiểu những từ nguyên sơ nhất không: “Vâng, thưa các ông, cái cửa sổ. Các ông có biết cửa sổ là cái gì không?” Hoặc là: “Con đường có hào rãnh ở hai bên là gọi là đường đi. Vâng, thưa các ông. Vậy các ông có biết hào rãnh là cái gì không? Hào rãnh là chỗ người ta đào, chỗ ấy có nhiều người làm việc. Đấy là chỗ đào sâu xuống. Vâng. Người ta đào hào rãnh bằng cuốc. Thế các ông có biết cái cuốc là cái gì không?”
Đại tá mắc phải cái bệnh hưng cảm hay giải thích vấn đề. Ông giải thích mọi chuyện một cách sốt sắng như một nhà phát minh nói chuyện về công trình của mình.
“Quyển sách, thưa các ông, là tập hợp của nhiều tờ giấy được cắt xén theo kích thước khác nhau, được in, được xếp lại với nhau, được đóng và dán lại. Vâng, các ông có biết keo dán gáy sách là cái gì không? Keo tức là hồ đấy mà!”
Đại tá ngu kinh khủng, ngu đến mức mà các sĩ quan đều tránh xa ông, để khỏi phải nghe giải thích rằng vỉa hè chia con đường thành đường cho xe chạy, rằng đó là một dải đường nâng cao có lát đá chạy quanh mặt tiền của nhà. Và mặt tiền của nhà là phần nhà mà ta nhìn thấy từ phía đường, hay từ vỉa hè. Nhưng từ vỉa hè ta không thể trông thấy mặt hậu của nhà, về điều này thì ta có thể khẳng định được ngay, nếu ta đi vào đường cho xe chạy.
Ông đã sẵn sàng chứng minh điều thú vị đó. Nhưng may là ông đã bị kẹp xe. Và từ lúc đó, ông trở nên ngu độn hơn nữa. Ông chặn đường các sĩ quan để nói với họ những câu chuyện dài bất tận về bánh xèo, về mặt trời, về những cái cặp nhiệt độ, về bánh rán, về cửa sổ và tem bưu điện.
Đó là một điều quả thật kỳ diệu, rằng một kẻ ngu ngốc như ông lại có thể thăng tiến rất nhanh, có xung quanh mình những người tai to mặt lớn, chẳng hạn như vị tướng chỉ huy tối cao, người nâng đỡ ông ngay cả khi ông hoàn toàn không có chút khả năng quân sự nào cả.
Trong các cuộc tập trận, ông làm với trung đoàn của mình những chuyện rất lạ. Không bao giờ ông đến đâu đúng giờ, ông dẫn trung đoàn theo đội hình tiến lên chống lại súng máy. Trong dịp tổng tập trận với Hoàng đế trước đây ở vùng Nam Séc thì ông và trung đoàn của ông hoàn toàn lạc đường đi đến tận Morava, rồi còn lang thang ở đấy mấy ngày cả sau khi cuộc tập trận đã kết thúc, khi mà tất cả quân lính đã rút về doanh trại. Ấy thế mà ông cũng chẳng bị sao.
Quan hệ bạn bè của ông với tướng chỉ huy tối cao và những quan chức quân sự ngu xuẩn không kém của nhà nước Áo cũ mang lại cho ông các hình thức khen thưởng và các loại huân chương khác nhau. Ông lấy đó làm điều rất vinh dự và coi mình là người lính tốt nhất trên đời và là nhà chiến lược bậc nhất trong tất cả mọi khoa học quân sự.
Trong các cuộc diễu binh của trung đoàn, ông đến nói chuyện với quân lính và bao giờ cũng hỏi họ một câu duy nhất: “Tại sao khẩu súng trường dùng trong quân đội lại được gọi là mannlicher⦾?”
Ở trung đoàn, người ta đặt cho ông biệt danh là thằng ngu mannlicher. Ông là kẻ nhớ lâu thù dai, ông làm hại các sĩ quan cấp dưới nếu không ưa họ, và khi họ muốn lấy vợ thì ông viết lời giới thiệu rất xấu vào đơn của họ rồi gửi lên cấp trên.
Ông bị mất một nửa cái tai bên trái do bị đối thủ cắt trong cuộc đấu tay đôi thời còn trẻ, nguyên nhân là lời tuyên bố hoàn toàn đúng, rằng Bedřich Kraus von Zillegut là một gã hết sức ngu xuẩn.
Nếu đem các khả năng tinh thần của ông ra mà xem xét thì thế nào chúng ta cũng đi đến kết luận, rằng những khả năng ấy cũng chẳng tốt hơn những gì đã làm nổi danh Franz Josef, thành viên với cái mặt bành bành của nhà Habsburg, như là một kẻ nổi tiếng ngu độn.
Tương tự như vậy là cách nói năng, cũng như vốn từ vựng vô cùng ngây thơ của ông. Trong một bữa tiệc tổ chức ở sòng bạc sĩ quan, khi mọi người đang nói về Schiller thì đại tá Kraus von Zillergut đột nhiên bảo: “Các ngài ạ, ngày hôm qua tôi trông thấy một cái máy cày chạy hơi nước điều khiển bằng đầu máy. Mà các ngài thử tưởng tượng xem, không phải với một đầu máy, mà với những hai đầu máy. Tôi nhìn thấy khói nên mới đến gần, té ra một đầu máy thì ở đầu này, còn đầu máy thứ hai ở đầu kia. Vậy thì các ngài bảo có buồn cười không kia chứ? Việc gì mà phải cần đến hai đầu máy, chẳng lẽ một đầu máy thì không đủ hay sao?”
Ông im lặng một lúc rồi lại lên tiếng: “Khi mà hết xăng thì ô tô phải dừng lại, cái này tôi cũng trông thấy ngày hôm qua. Thế mà người ta cứ nói về quán tính đấy, các ngài ạ. Ô tô không chạy, không xê dịch, nó đứng yên, không có xăng. Thế có buồn cười không?”
Dù ngu si, nhưng ông là người rất ngoan đạo. Ông có một cái bàn thờ nhỏ trong căn hộ. Ông hay đi xưng tội và rước lễ ở nhà thờ Ignác và từ khi chiến tranh bùng nổ thì ông còn cầu nguyện cho sự thành công của vũ khí Áo và Đức. Ông lẫn lộn Kitô giáo với giấc mơ về quyền bá chủ của Đức. Ông Trời phải giúp họ thu nắm được của cải và đất đai ở những nơi họ đã chinh phục.
Bao giờ ông cũng vô cùng tức giận khi đọc báo thấy có tin là người ta lại giải tù binh đến. Ông thường bảo: “Dẫn tù binh đến để làm gì? Đem mà bắn chết hết đi. Không thương tiếc gì cả. Nhảy múa với xác chết đi. Đốt cho đến kẻ thường dân cuối cùng Serbia đi. Lấy lưỡi lê mà đâm chết lũ trẻ con đi!”
Ông không tồi tệ hơn chút nào so với nhà thơ Đức Viersdt, người đã công bố những vần thơ muốn nước Đức căm thù và giết hàng triệu con quỷ Pháp bằng tâm hồn sắt thép:
Thịt còn nóng hổi xương thành đống
vượt đỉnh núi cao, chạm tầng mây…
Sau giờ giảng bài cho khóa huấn luyện quân tình nguyện một năm, trung úy Lukáš dắt Max đi dạo.
“Thưa trung úy, tôi xin phép được nhắc,” Švejk tỏ ra quan tâm, “là trung úy nên hết sức cẩn thận, kẻo nó chạy mất. Có thể nó sẽ nhớ đến gia đình cũ và nó có thể bỏ đi mất, nếu trung úy để nó chạy rông. Trung úy cũng không nên dắt nó qua quảng trường Havlíček, ở ngôi nhà Tranh Đức Mẹ Maria có một con chó dữ hay cắn của ông hàng thịt. Con ấy cứ trông thấy chó lạ là nổi máu ghen ngay vì sợ bị mất miếng ăn. Nó giống như thằng ăn mày ở nhà thờ Thánh Haštal.”
Max vui vẻ nhảy nhót và chạy vòng xung quanh chân trung úy, quấn dây xích quanh thanh kiếm và tỏ ra vô cùng vui mừng vì được đi dạo.
Trung úy cùng Max đi ra đường, rồi đi về hướng phố Na Příkopy. Ông có cuộc hẹn gặp ở góc phố Panská với một quý bà. Ông cũng đang mải suy nghĩ về việc công và chưa biết ngày mai sẽ giảng về cái gì ở khóa huấn luyện một năm cho quân tình nguyện. Độ cao của một đỉnh đồi là độ cao thế nào? Tại sao mà chúng ta lại luôn luôn đưa ra độ cao theo mực nước biển? Làm sao để xác định được độ cao thực sự từ chân đồi lên đến đỉnh đồi, khi ta đã biết độ cao so với mực nước biển? Của nợ, tại sao mà Bộ Chiến tranh lại đưa những thứ như thế vào chương trình giảng dạy? Đấy là những kiến thức dành cho binh chủng pháo binh chứ! Hơn nữa, đã có bản đồ của Bộ Tham mưu rồi. Khi quân địch đứng ở độ cao 312m thì thường không cần phải suy nghĩ về việc tại sao độ cao của ngọn đồi ấy là độ cao so với mực nước biển, hay là phải tính xem ngọn đồi ấy cao bao nhiêu, mà chỉ cần xem bản đồ là biết được ngay.
Vừa lúc đi đến gần phố Panská, dòng suy nghĩ của trung úy bị ngắt lại bởi tiếng quát nghiêm khắc “Đứng lại!” Đồng thời với tiếng quát ấy, con chó tìm cách giật ra khỏi tay trung úy rồi cùng với chiếc xích, nó mừng rỡ sủa và nhảy chồm lên người đã nghiêm khắc quát “Đứng lại!”
Trước mặt trung úy Lukáš là đại tá Kraus von Zillergut. Trung úy giơ tay chào và đứng trước đại tá, ông xin lỗi là đã không trông thấy đại tá.
Đại tá Kraus nổi tiếng trong các sĩ quan vì cái đam mê bắt mọi người dừng lại. Ông coi việc giơ tay chào là một cái gì mà thành công của chiến tranh phải phụ thuộc vào và là nền tảng để xây dựng toàn bộ quyền lực của quân đội.
“Khi giơ tay lên chào, người lính phải đặt vào đó cả tâm hồn của mình,” ông thường nói như vậy, “đó là điều thần bí đẹp nhất của người lính.”
Ông chú ý để làm sao người chào giơ tay theo đúng quy định trong từng chi tiết nhỏ nhất, chính xác và trang nghiêm.
Ông rình chờ tất cả mọi người đi qua ông, kể từ binh nhì cho tới các sĩ quan. Những người lính nào giơ tay chào một cách qua loa, chỉ đưa tay chạm cái lưỡi mũ như thể muốn nói: “Chào cậu!” thì bị ông đích thân giải về doanh trại để trừng phạt.
Đối với ông, không thể có câu “Tôi không trông thấy ngài.”
Ông thường bảo: “Người lính phải tìm ra được cấp trên của mình trong đám đông và không được nghĩ đến bất kỳ cái gì khác ngoài việc làm sao thi hành được tất cả mọi nghĩa vụ đã được quy định trong quy chế phục vụ. Khi ngã xuống ở chiến trường thì trước lúc chết cũng phải giơ tay chào. Ai không biết chào mà giả bộ là không trông thấy, hoặc giơ tay chào một cách cẩu thả thì tôi coi là đồ thú vật.”
“Thưa trung úy,” đại tá Kraus nói bằng giọng đe dọa, “người cấp thấp bao giờ cũng phải kính trọng người cấp trên, điều này trong quy định vẫn chưa bị hủy bỏ. Điều thứ hai: kể từ bao giờ mà sĩ quan đi dạo với chó bị bắt trộm? Vâng, với chó bị bắt trộm. Chó thuộc về người khác tức là chó bắt trộm.”
“Thưa đại tá, con chó này…” trung úy Lukáš phản đối.
“Là chó của tôi, thưa trung úy,” đại tá thô bạo ngắt lời, “nó là con Fox của tôi.”
Và Fox, tức là Max, nhớ ra chủ cũ của mình, nó đẩy ông chủ mới ra khỏi trái tim nó, rồi chạy giật đi và nhảy chồm lên người đại tá với sự mừng rỡ của một cậu học trò nhỏ say mê tỏ ra sung sướng khi được thần tượng của mình cảm thông.
“Thưa trung úy, đi dạo với chó bắt trộm là cái không xứng đáng với danh dự của người sĩ quan. Ngài không biết điều đó ư? Người sĩ quan không thể mua con chó mà không kiểm tra xem mua nó có hậu quả gì không,” đại tá tiếp tục gào, tay thì vuốt ve con Fox-Max. Còn con chó thì hèn hạ bắt đầu gầm gừ nhìn trung úy, nhe răng ra như thể được lệnh của đại tá: “Bắt lấy ông ta đi!”
“Thưa trung úy,” đại tá nói tiếp, “ngài cho là cưỡi con ngựa bị bắt trộm là đúng hay sao? Ngài không đọc quảng cáo ở báo Bohemie và Tagblatt với tin tôi bị mất con Schnauzer hay sao? Ngài không đọc quảng cáo mà cấp trên của ngài đăng trên báo ư?” Đại tá chập hai tay vào nhau. “Những sĩ quan trẻ này quả thật hay! Vậy thì kỷ luật ở đâu? Đại tá đăng quảng cáo, nhưng trung úy thì không đọc.”
“Này lão già, giá mà tôi được và cho ông mấy cái tát,” trung úy Lukáš nghĩ thầm và đưa mắt nhìn bộ râu quai nón gợi nên hình ảnh con đười ươi của đại tá.
“Ngài đi với tôi một phút,” đại tá nói. Thế là họ cùng đi và nói với nhau một câu chuyện dễ chịu: “Trung úy ạ, ở ngoài mặt trận thì việc này không thể xảy ra với ngài một lần nữa được. Đi dạo ở hậu phương với con chó bị bắt trộm chắc hẳn là điều rất không dễ chịu. Vâng! Đi dạo với chó của cấp trên! Đi dạo trong khi ở các chiến trường mỗi ngày chúng ta mất đến hàng trăm sĩ quan. Mà lại còn không đọc quảng cáo nữa! Thế thì tôi có thể đăng quảng cáo đến một trăm năm, rằng tôi bị mất chó. Đến hai trăm năm, ba trăm năm!”
Đại tá xì mũi ầm ầm, đó là dấu hiệu chứng tỏ ông đang rất cáu. Và ông bảo: “Bây giờ thì ngài có thể tiếp tục đi dạo được,” rồi quay đi, giận dữ quất roi ngựa lên đuôi cái áo khoác sĩ quan của mình.
Trung úy Lukáš đi sang vỉa hè bên kia đường và lại nghe thấy đấy tiếng quát “Đứng lại!” Đại tá vừa chặn đường một anh binh nhì bất hạnh, một người lính dự bị. Anh ấy đang mải nghĩ đến mẹ mình ở nhà nên không để ý thấy đại tá.
Chính tay đại tá lôi người lính ấy vào doanh trại để trừng phạt, đồng thời luôn miệng rủa anh ta là đồ con lợn.
“Mình sẽ làm cái gì với Švejk đây?” trung úy nghĩ thầm, “Vả vỡ mồm hắn, nhưng thế thì chưa đủ. Kể cả lột da thì đối với tội láo lếu của hắn cũng còn là ít.” Quên mất cả là có cuộc gặp gỡ với một quý bà, trung úy bực tức quay về nhà.
“Ta sẽ giết chết hắn, đồ vô lại,” trung úy tự bảo và bước lên tàu điện.
Trong khi đó, người lính tốt Švejk đang mải nói chuyện với liên lạc viên từ doanh trại. Người lính ấy mang một số giấy tờ đến lấy chữ ký của trung úy và bây giờ thì ngồi chờ ông.
Švejk mời liên lạc viên uống cà phê và cả hai nói chuyện với nhau, rằng Áo sẽ thất bại. Họ nói chuyện ấy như là nói về điều hiển nhiên. Họ đã đưa ra vô cùng nhiều tuyên bố mà bất kỳ lời nào trong đó nếu đem ra tòa thì cũng chắc chắn sẽ bị định nghĩa là tội phản quốc, và cả hai sẽ bị treo cổ.
“Hoàng đế chắc hẳn phải mụ đầu lên vì chuyện đó,” Švejk tuyên bố, “Hoàng đế vốn chưa bao giờ là người thông minh, nhưng cuộc chiến tranh này nhất định sẽ làm ngài hoàn toàn mụ đi.”

“Ông ấy là người ngu,” người lính liên lạc viên tuyên bố chắc chắn, “ngu như bò ấy. Có lẽ là ông ấy cũng chẳng biết là đang có chiến tranh. Có thể là người ta thấy xấu hổ mà không nói cho ông ấy biết. Nếu bên dưới tuyên bố gửi các dân tộc của Đế quốc có chữ ký của ông ấy thì đó là điều gian trá. Người ta đã đưa đi in mà không cho ông ấy biết, bởi vì ông ấy đã hoàn toàn không thể suy nghĩ được cái gì nữa.”
“Ngài xong rồi,” Švejk bổ sung một cách hiểu biết, “phía dưới thì cho ra quần, ăn uống thì phải bón cho như bón đứa trẻ con. Hôm trước ở quán có một ông đã kể là Hoàng đế có hai vú em và mỗi ngày họ cho ngài bú ba lần.”
“Giá mà xong đi cho rồi,” người lính từ doanh trại thở dài, “giá mà người ta đánh gục chúng ta, để cho cuối cùng nước Áo được yên thân.”
Cả hai tiếp tục chuyện trò, cuối cùng thì Švejk kết án nước Áo bằng những lời sau đây: “Một nhà nước quân chủ ngu xuẩn như thế này không xứng đáng được tồn tại trên thế gian,” rồi để bổ sung cho tuyên bố này về mặt thực tế, anh đưa thêm tuyên bố thứ hai: “Ra đến mặt trận là tớ biến luôn.”
Sau đó, khi họ còn tiếp tục nêu ý kiến của người Séc về chiến tranh, người lính liên lạc từ doanh trại nhắc lại điều hôm nay anh ấy nghe được ở Praha, rằng ở Náchod⦾ đã có nghe thấy tiếng súng đại bác và Nga Hoàng chẳng mấy chốc sẽ có mặt ở Kraków. Rồi họ nói về việc chở lúa mì từ Séc sang Đức, và lính Đức thì được phát thuốc lá và chocolate.
Rồi họ nhớ đến thời gian của những cuộc chiến tranh trước đây, và Švejk chứng minh một cách nghiêm chỉnh, rằng ngày xưa, người ta ném những cái nồi đựng thứ hôi thối vào lâu đài bị bao vây, và đánh nhau trong cái mùi hôi thối như thế chẳng phải là việc sung sướng gì. Rằng anh đã đọc về chuyện một lâu đài ở đâu đó bị bao vây đến ba năm trời, và trong suốt ba năm ấy, kẻ thù không làm cái gì khác ngoài việc ngày nào cũng giải trí với những người bị vây trong lâu đài bằng cách như vậy.
Chắc hẳn anh sẽ còn nói thêm cái gì lý thú và bổ ích nữa, nếu như cuộc chuyện trò của họ không bị trung úy trở về nhà làm gián đoạn.
Trung úy ném ánh mắt ghê gớm khủng khiếp tới Švejk, ông ký giấy tờ và cho người lính liên lạc đi khỏi, rồi bảo Švejk theo ông vào trong phòng.
Mắt trung úy như phát ra những tia chớp. Ông ngồi xuống ghế và vừa nhìn Švejk, ông vừa nghĩ lúc nào sẽ bắt đầu cuộc thảm sát.
“Trước hết ta sẽ cho nó mấy cái tát,” trung úy nghĩ, “sau đó đập dập mũi nó, rứt tai nó ra, rồi còn làm gì tiếp nữa thì ta sẽ nghĩ sau.”
Từ phía đối diện, cặp mắt hiền hậu vô tội của Švejk nhìn trung úy một cách trung thực và hảo tâm, và anh can đảm lên tiếng phá cái bình yên trước giông bão: “Xin báo cáo trung úy là ngài đã bị mất con mèo ạ. Nó đã xơi hộp kem đánh giày rồi tự cho phép lăn ra chết ạ. Tôi đã quẳng nó xuống tầng hầm, nhưng vào tầng hầm nhà bên. Trung úy chẳng tìm đâu ra được một con mèo Angora ngoan và đẹp như nó nữa đâu.”
“Làm gì với nó bây giờ?” câu hỏi thoáng qua đầu trung úy, “Trời ạ, sao mà cái vẻ mặt nó ngu đến thế!”
Đôi mắt tử tế vô tội của Švejk tiếp tục sáng lên một cách dịu dàng âu yếm, kết hợp với biểu hiện hoàn toàn bình thản trong tâm hồn, rằng tất cả mọi việc đều ổn cả và không có việc gì xảy ra, và nếu mà có cái gì xảy ra thì cũng ổn, vì ít ra cũng có việc gì xảy ra.
Trung úy Lukáš đứng phắt dậy, nhưng ông không đánh Švejk như ý định lúc đầu, mà giơ nắm đấm qua mặt anh và gầm lên: “Švejk, anh đã bắt trộm con chó!”

“Xin báo cáo trung úy là trong thời gian vừa rồi tôi không biết gì về bất kỳ một vấn đề nào như thế. Tôi xin được nhắc là trung úy đưa Max đi dạo từ buổi trưa, vì thế tôi không thể bắt trộm nó được. Khi trung úy trở về nhà một mình không có chó, ngay lập tức tôi cũng thấy lạ, rằng có lẽ có gì đã xảy ra. Cái đó gọi là tình huống. Ở phố Spalena có một ông làm nghề khâu túi tên là Kuneš và ông này cứ dẫn chó đi dạo là lại làm mất nó. Bình thường, ông ấy để quên chó ở một quán ăn nào đó, hay là có ai bắt trộm, hoặc mượn con chó của ông ấy mà không trả lại…”
“Này Švejk, đồ con bò, câm mồm đi! Hoặc anh là kẻ vô lại tinh ranh, hay anh là đồ con lừa ngu xuẩn. Chính anh là một trường hợp, nhưng mà tôi bảo cho anh biết đừng có lôi thôi với tôi. Anh đã lôi con chó ấy từ đâu về đây? Làm thế nào mà anh có nó hả? Anh có biết rằng nó là chó của ngài đại tá không hả? Ông ấy đã lấy nó đi, khi chúng tôi tình cờ gặp nhau, anh biết không? Anh có biết rằng đây là chuyện rất nhục nhã không? Nói thật đi, anh đã ăn cắp nó, hay không?”
“Xin báo cáo trung úy, là tôi không ăn cắp nó ạ.”
“Thế anh có biết nó là chó bị bắt trộm không?”
“Xin báo cáo trung úy, rằng tôi biết nó là chó bị bắt trộm ạ.”
“Švejk, ối Chúa ơi, himlhergot, tôi sẽ bắn chết anh, đồ khốn nạn, đồ con bò, đồ con chó, đồ đểu cáng. Anh ngu đến như thế kia ư?”
“Vâng, thế ạ, xin báo cáo trung úy.”
“Vì sao anh lại mang về cho tôi con chó bị bắt trộm hả? Vì sao anh lại mang con thú vật ấy vào đây hả?”
“Tôi muốn làm cho trung úy vui ạ.”
Švejk ngước nhìn trung úy bằng đôi mắt hiền lành và dịu dàng, còn trung úy thì ngồi sụp xuống ghế than thở: “Vì sao mà trời lại trừng phạt tôi bằng cái đồ khốn nạn này hả trời?”
Với sự cam chịu lặng lẽ, trung úy ngồi ở ghế và có cảm giác rằng không những không còn đủ sức để cho Švejk một cái tát, mà thậm chí cũng không còn sức để quấn lấy một điếu thuốc lá. Và chính bản thân ông cũng không hiểu tại sao lại sai Švejk đi mua tờ Bohemie và Tagblatt để anh ta đọc quảng cáo của đại tá về việc bị mất con chó.
Švejk trở về nhà với tờ báo mở ở trang quảng cáo. Anh rạng rỡ cả người và vui vẻ báo tin: “Thưa trung úy, có ở đấy ạ. Ngài đại tá đã tả rất hay về con Schnauzer bị bắt trộm ấy, đọc mà thấy sướng. Ngài lại còn hứa thưởng một trăm koruna cho ai mang con chó tới nữa. Đó là phần thưởng rất hậu hĩnh, thường thì người ta chỉ thưởng năm mươi koruna thôi. Ở Košíř có một tay tên là Bořetěch chỉ chuyên kiếm sống bằng cách ấy. Hắn thường bắt trộm chó, sau đó tìm đọc ở quảng cáo xem ai đăng tin mất chó rồi đến gặp người ấy liền. Một lần, hắn bắt trộm được một con Spitz đen rất đẹp, nhưng vì không thấy chủ chó đăng gì ở mục quảng cáo, hắn bèn thử tự gửi rao tin ở báo. Hắn đã mất hết mười koruna trả tiền đăng quảng cáo. Cuối cùng thì có một ông lên tiếng, rằng đó là chó của ông ấy, rằng nó đã bị lạc mất và ông ấy đã nghĩ là có bỏ công tìm thì cũng chẳng ra, rằng đã thôi không tin vào sự trung thực của mọi người. Nhưng bây giờ ông ấy thấy là dù sao thì cũng vẫn còn có người trung thực, và điều đó làm ông ấy rất lấy làm hài lòng. Rằng trên nguyên tắc thì ông ấy tránh việc đãi thưởng sự trung thực, nhưng để làm kỷ niệm, ông ấy tặng hắn cuốn sách của mình về trồng hoa ở trong nhà và ở ngoài vườn. Anh chàng Bořetěch đáng yêu tóm hai cẳng sau của con chó rồi phang nó vào đầu ông ấy. Thế là từ đó trở đi, hắn thề là sẽ không đưa tin quảng cáo nữa. Tốt hơn là đem bán con chó vào trại chó, nếu mà không có ai muốn đăng quảng cáo để nhận nó về.”
“Này Švejk, đi nằm đi,” trung úy ra lệnh, “không thì anh còn có thể dở dẩn cho đến tận sáng.” Rồi cả ông cũng đi ngủ. Ông mơ thấy Švejk bắt trộm con ngựa của Thái tử và mang nó về cho ông. Và trong cuộc diễu binh, Thái tử nhận ra con ngựa ấy khi ông, trung úy Lukáš bất hạnh, cưỡi nó đi diễu phía trước đại đội của mình.
Tỉnh dậy lúc mờ sáng hôm sau, trung úy có cảm giác như mình vừa qua một đêm trác táng và đã bị ai bạt tai suốt đêm. Một nỗi ám ảnh tinh thần nặng nề bất thường nào đó cứ theo đuổi ông.
Ông lại thiếp đi cho tới tận sáng bảnh và mệt lả người vì giấc mơ khủng khiếp. Tiếng gõ cửa làm ông thức giấc. Khuôn mặt hiền hậu của Švejk hiện ra ở cửa kèm theo câu hỏi lúc nào thì phải đánh thức trung úy dậy.
Trung úy rên rỉ trên giường: “Xéo đi, đồ con bò, thế này thì có khổ thân tôi không hả trời!”
Khi trung úy đã dậy và Švejk mang thức ăn sáng đến cho ông, trung úy lại bị Švejk làm ngạc nhiên với câu hỏi mới: “Báo cáo trung úy, ngài có muốn tôi tìm cho ngài một con chó nào nữa không ạ?”
“Anh có biết không, tôi muốn đưa anh ra tòa án quân sự,” trung úy thở dài và bảo, “nhưng mà người ta sẽ lại trả tự do cho anh, bởi vì chưa bao giờ trong đời, họ gặp một tên ngu si kinh khủng đến như anh. Thử nhìn vào gương mà xem! Anh có thấy phát sợ cái vẻ mặt đần độn của anh không? Anh là cái trớ trêu ngu xuẩn nhất của tạo hóa mà tôi gặp phải. Nào, nói thật đi, anh có thấy thích mình không, hả?”
“Báo cáo trung úy là tôi không thấy thích mình ạ, tôi thấy ở trong gương người tôi nó méo mó xiêu vẹo, hay là thế nào ấy. Cái gương này không phải là gương mài. Một lần, ở nhà ông Staňek người Trung Quốc có một tấm gương lồi, và ai đứng soi gương ấy cũng thấy buồn nôn. Cái mồm thì như thế này, đầu thì như cái chậu đựng nước rửa bát bẩn, bụng thì như cái bụng của kinh sĩ căng đầy rượu, nói ngắn gọn thì đó là một con bù nhìn tuyệt vời. Một hôm, Thống sứ Vương quốc Bohemia đi qua đấy nhìn thấy mình ở trong gương, thế là lập tức người ta phải tháo gương xuống.”
Trung úy quay mặt đi, ông thở dài và cho rằng quan tâm đến cà phê sữa thì thích hợp hơn và tốt hơn so với việc quan tâm đến Švejk.
Còn Švejk thì đã lại đang làm việc gì ở trong bếp và trung úy nghe thấy tiếng hát của anh:
Gre-ne-vil qua Cổng thành thuốc súng⦾
Thanh kiếm sáng ngời mỹ nữ lệ rưng…
Từ bếp lại tiếp tục vang lên tiếng hát:
Chúng ta là lính, bậc ông anh
Mà các em mến thương hết thảy
ta được lĩnh tiền, ôi sướng thay!
“Ừ, mày thì nhất định sướng rồi, đồ khốn kiếp ạ,” trung úy nghĩ vậy và nhổ bọt.
Cái đầu Švejk lại hiện ra ở cửa: “Báo cáo trung úy, có lính từ doanh trại đến vì trung úy, ngài phải đi gặp đại tá ngay lập tức, liên lạc viên của đại tá cũng tới.” Và anh nói thêm một cách bí mật: ” Có lẽ là vì con chó ấy.”
“Tôi cũng đã nghe nói rồi,” trung úy bảo liên lạc viên, khi anh này muốn báo tin cho ông ở ngoài sảnh.
Trung úy nói câu ấy bằng giọng chán nản, ông đưa ánh mắt giết người nhìn Švejk rồi đi khỏi nhà.
Đó không phải là cuộc trình diện bình thường, mà là một thứ gì tồi tệ hơn thế. Khi trung úy bước vào văn phòng thì đại tá đang ngồi ở ghế bành, vẻ mặt cau có đến khủng khiếp.
“Trung úy ạ,” đại tá nói, “cách đây hai năm ngài đã muốn được chuyển đến trung đoàn 91 ở Budějovice. Ngài có biết Budějovice ở đâu không? Ở sông Vltava, vâng, ở sông Vltava. Ở Budějovice thì có sông Ohře, hay là cái gì tương tự thế, đổ vào Vltava. Tôi có thể nói Budějovice là thành phố thân thiện, và nếu tôi không nhầm thì ở thành phố ấy có bờ sông. Ngài có biết bờ sông là cái gì không? Nó là bức tường xây trên mặt nước. Vâng. Tuy nhiên, cái đó không dính dáng gì đến việc ở đây. Trước đây chúng ta đã tập trận ở đó.”
Đại tá ngừng lại và nhìn vào lọ mực rồi chuyển nhanh sang đề tài khác: “Từ lúc ở nhà ngài, con chó của tôi đâm hư. Bây giờ nó chẳng chịu ăn cái gì cả. Ái chà, trong lọ mực có con ruồi. Lạ nhỉ, ruồi rơi vào lọ mực cả vào mùa đông. Quả là lộn xộn.”
“Thì cứ nói toạc ra đi, lão già khốn kiếp,” trung úy nghĩ thầm.
Đại tá đứng dậy đi đi lại lại mấy lần trong văn phòng. “Trung úy ạ, tôi đã suy nghĩ lâu về việc sẽ làm gì với ngài để cho chuyện ấy không thể lặp lại được, và tôi nhớ ra là ngài đã có nguyện vọng được chuyển đến trung đoàn 91. Bộ tư lệnh tối cao đã thông báo cho chúng tôi biết là trung đoàn 91 đang rất thiếu sĩ quan, bởi vì người Serbia đã tiêu diệt hết. Tôi đảm bảo bằng lời hứa danh dự là trong vòng ba ngày ngài sẽ có mặt tại trung đoàn 91 ở Budějovice, nơi đang hình thành các maršbatalion⦾ ra mặt trận. Ngài không phải cảm ơn tôi. Quân đội cần những sĩ quan, những người mà…”
Không biết nói gì nữa, đại tá nhìn đồng hồ rồi bảo: “Mười rưỡi rồi, đã đến giờ đi báo cáo trung đoàn.”
Thế là cuộc nói chuyện dễ chịu đã chấm dứt và khi rời khỏi văn phòng, trung úy cảm thấy rất nhẹ nhõm. Ông đi đến lớp huấn luyện quân tình nguyện một năm và thông báo là trong những ngày tới sẽ ra mặt trận, vì vậy sẽ tổ chức buổi tối chia tay ở phố Nekázanka.
Trở về nhà, ông nói một cách ý nghĩa với Švejk: “Anh có biết maršbatalion là gì không, hả Švejk?”
“Báo cáo trung úy, maršbatalion gọi là maršbaťák, còn marška là marškumpačka⦾. Chúng ta thường gọi tắt như vậy ạ.”
“Vậy thì Švejk ạ,” trung úy nói bằng giọng trang trọng, “tôi xin thông báo để anh biết là anh sẽ đi với tôi theo maršbaťák, khi mà anh thích cái tên gọi tắt như vậy. Nhưng mà anh đừng có nghĩ rằng ngoài mặt trận anh cũng làm những chuyện ngu xuẩn như anh đã làm ở đây. Thế nào, anh có vui không?”
“Báo cáo trung úy là tôi rất vui,” người lính tốt Švejk trả lời, “đó sẽ là điều thật tuyệt vời khi cả hai chúng ta cùng tử trận vì Hoàng đế và hoàng gia.”

← Salzburg là một tiểu bang của Áo, có thủ phủ cùng tên. Thành phố Salzburg cũng còn được gọi là thành phố Mozart, vì nhạc sĩ thiên tài đã sinh ra ở đó.
← Ferdinand Mannlicher: tên của người thiết kế súng trường Mannlicher được sử dụng trong quân đội Áo–Hung.
← Một thành phố ở phía Đông Bắc Séc, có biên giới với Đức.
← Cổng thành thuốc súng (Prašná Brána) cao 65m, xây dựng năm 1475 theo kiểu Gotic là một trong những cổng thành của thành lũy bảo vệ Thành phố cổ Praha. Cái tên Cổng thành thuốc súng bắt đầu có từ cuối thế kỷ 18, khi nơi này được dùng làm kho chứa thuốc súng. Prašná Brána là một trong những biểu tượng của Praha.
← Maršbatalion trong tiếng Séc có nghĩa là tiểu đoàn hành quân, thường là những tiểu đoàn được hình thành tạm thời, đưa ra mặt trận để bổ sung cho quân số của các đơn vị có tổn thất trong chiến đấu.
← Marškumpačka là cách gọi trong tiếng Séc của từ Marschkompanie trong tiếng Đức, có nghĩa là đại đội hành quân, thường là những đại hội được hình thành với mục đích như tiểu đoàn hành quân.