Vận Mệnh Người Lính Tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới

Lượt đọc: 26 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Švejk trở về nhà và kết thúc vòng luẩn quẩn

❊ ❊ ❊

Ở tòa nhà của sở cảnh sát có thể cảm thấy con mắt vô hình của Đế chế muốn thăm dò xem dân chúng hào hứng phấn khởi đến mức nào đối với cuộc chiến tranh. Trừ một vài trường hợp đặc biệt là một số người không phủ nhận điều mình là con em của một dân tộc phải đổ máu vì quyền lợi của Đế chế, những người còn lại của sở cảnh sát là nhóm người tuyệt vời, gồm những kẻ quan liêu khát máu như thú dữ, chỉ luôn nghĩ đến nhà tù và giá treo cổ để bảo vệ sự sống còn của các điều luật.

Đồng thời, những kẻ ấy đối xử với các nạn nhân của mình bằng một sự tử tế lịch lãm mỉa mai và luôn lựa chọn trước từng lời một cách kỹ càng. “Tôi rất lấy làm tiếc,” một trong những con thú dữ vằn đen vàng⦾ ấy nói với Švejk, khi người ta giải anh tới trước hắn, “tôi rất lấy làm tiếc là anh lại rơi vào tay chúng tôi. Chúng tôi đã nghĩ là anh sẽ cải tạo tốt hơn, nhưng mà chúng tôi đã nhầm.”

Švejk im lặng gật gật đầu và trên khuôn mặt anh có cái vẻ vô tội đến mức làm con thú đen vàng ấy ngạc nhiên nhìn anh rồi gằn giọng:

“Đừng làm ra cái vẻ ngu ngốc như thế!”

Nhưng hắn lập tức đổi giọng tử tế và tiếp tục:

“Chúng tôi chẳng thích thú gì khi phải bắt giữ anh, tôi có thể khẳng định với anh rằng theo tôi thì tội của anh không nặng lắm, bởi vì với cái trí tuệ thấp kém của mình thì chắc chắn là anh đã bị người ta lôi kéo. Anh hãy nói cho tôi biết ai là người rủ rê anh làm những điều ngu ngốc như thế, hả anh Švejk?”

Švejk hung hăng ho rồi lên tiếng: “Thưa ông, tôi chẳng biết gì về bất kỳ một điều ngu ngốc nào cả ạ.”

“Theo như thông báo của cảnh sát viên đưa anh về đây, thì anh đã làm dân chúng kéo đến tụ tập ở góc đường có dán áp phích tuyên chiến, rồi làm mọi người phẫn nộ vì anh đã hò hét ‘Xin chào Hoàng đế Franz Josef. Chúng ta sẽ thắng cuộc chiến tranh này.’ Như thế không phải là điều ngu ngốc hay sao?” Hắn nói bằng giọng của người cha.

“Tôi đã không đừng được ạ,” Švejk tuyên bố và ngước cặp mắt hiền lành nhìn vào mắt kẻ điều tra. “Tôi đã bực mình khi thấy tất cả mọi người đều đọc lời tuyên chiến mà không hề biểu hiện một sự vui mừng nào cả. Chẳng có ai hô vinh quang, chẳng có ai mừng rỡ, hoàn toàn chẳng có biểu hiện gì cả, thưa ông. Và tôi, lính cựu của trung đoàn 91, tôi không thể nhìn cái cảnh ấy được, thành ra tôi đã hô những câu ấy. Và tôi nghĩ là nếu ở vào địa vị tôi thì ông cũng sẽ làm đúng như tôi. Một khi có chiến tranh thì phải thắng, và phải hô Hoàng đế quang vinh chứ! Cái này thì không ai có thể bảo được tôi phải làm khác đi!”

Bị đuối lý, con thú dữ màu đen vàng không chịu nổi cái nhìn của con cừu vô tội Švejk, hắn cụp mắt xuống đám công văn giấy tờ và nói:

“Tôi hoàn toàn thừa nhận cái nhiệt tình của anh, nếu mà nó được biểu hiện ở những tình huống khác. Nhưng mà chính anh cũng thấy rõ là khi cảnh sát đang áp giải anh thì cái biểu hiện tinh thần yêu nước ấy có thể tác động, và phải tác động lên đám đông một cách mỉa mai, chứ không nghiêm chỉnh.”

“Khi mà cảnh sát áp giải một người nào đi,” Švejk trả lời, “thì lúc ấy là lúc nghiêm trọng trong cuộc đời. Và nếu ngay cả trong lúc nghiêm trọng đó mà người ấy vẫn không quên phải làm gì khi có chiến tranh, thì tôi nghĩ là người ấy không đến nỗi là người xấu.”

Con thú dữ đen vàng hầm hừ và lại nhìn vào mắt Švejk.

Švejk đáp lại bằng cái nhìn ấm áp, vô tội, giản dị và dịu dàng.

Cả hai chăm chú nhìn nhau một lúc như thế.

“Này Švejk, quỷ tha ma bắt anh đi,” cuối cùng viên công chức nói, “nếu mà anh lại phải đến đây lần nữa thì tôi sẽ không hỏi anh cái gì cả, mà tống cổ anh lên thẳng tòa án quân sự ở Hradčany⦾ hiểu không?”

“Dạ, nhờ trời, xin đội ơn ông ạ. Tôi làm nghề bán chó, nếu bao giờ cần chó thuần chủng thì xin ông cứ đến tôi ạ.”

Và thế là Švejk lại được trả tự do để trở về nhà.

Švejk suy nghĩ xem trước khi về nhà có nên ghé vào quán U Kalicha không, cuối cùng thì anh mở cánh cửa mà cách đó không lâu anh đã đi ra cùng với điệp viên Bretschneider.

Bên quầy bia là sự im lặng như trong nhà mồ. Chỉ có mấy người khách đang ngồi, một trong những người đó là ông coi nhà thờ Thánh Apollinaris. Tất cả mọi người đều có khuôn mặt buồn bã ủ ê. Phía sau quầy là bà vợ ông chủ quán, đôi mắt vô hồn nhìn vào vòi rót bia.

“Tôi về rồi đây,” Švejk vui vẻ nói, “bà cho tôi cốc bia. Thế ông Palivec đâu, chắc cũng đã về nhà rồi, phải không?”

Bà vợ ông chủ quán bật khóc, bà đau khổ rền rĩ, giọng lạc đi: “Người ta… cho… nhà tôi… mười năm… tuần trước.”

Chủ quán Palivec

“Ái chà,” Švejk nói, “thế thì đã ngồi được một tuần rồi.”

“Nhà tôi đã thận trọng đến thế, chính ông ấy bao giờ cũng bảo là mình thận trọng.”

Mọi người khách trong quán vẫn ngồi im phăng phắc, chẳng ai nói lời nào, như thể hồn vía ông chủ quán Palivec đang luẩn quẩn quanh đó bảo họ hãy thận trọng hơn nữa.

“Thận trọng không bao giờ thừa,” Švejk nói, rồi ngồi xuống bàn. Bà chủ quán đặt trước mặt anh cốc bia, trong bọt bia có mấy chấm nhỏ do nước mắt bà nhỏ xuống khi bà mang đến cho anh.

“Thời buổi này là thế, nó bắt người ta phải thận trọng.” Švejk tiếp tục.

“Hôm qua chúng tôi đã làm hai đám tang,” người coi nhà thờ Thánh Apollinaris lái câu chuyện sang hướng khác.

“Chắc hẳn là có ai đã chết,” người khách thứ hai nói, và người thứ ba hỏi thêm:

“Thế ở hai đám ấy có đặt quan tài lên bục cao không?”

“Tôi muốn biết,” Švejk nói, “trong chiến tranh thì lễ tang quân đội sẽ cử hành thế nào?”

Tất cả mọi người khách đồng loạt đứng dậy, trả tiền rồi lặng lẽ rời quán. Chỉ còn Švejk ngồi lại với bà chủ quán.

“Tôi không ngờ là người ta lại có thể kết án người vô tội tới mười năm. Tôi đã nghe nói là có người vô tội bị tù năm năm, nhưng mà mười năm thì hơi quá.”

“Nhưng mà nhà tôi đã thú tội,” bà chủ quán nức nở, “ông ấy nói ở đây về những con ruồi như thế nào thì cũng nhắc lại nguyên như thế ở sở cảnh sát, cả ở tòa án. Hôm tòa xử, tôi đã ở đấy để làm nhân chứng, nhưng mà tôi làm chứng thế nào được, khi mà họ bảo tôi là tôi có quan hệ gia đình với nhà tôi, rằng tôi có thể không phải làm chứng. Tôi sợ vì cái quan hệ gia đình chẳng may còn thêm chuyện lôi thôi gì nữa, thành ra tôi bỏ không làm chứng. Ối giời ơi, khổ thân nhà tôi, ông ấy quay sang nhìn tôi, cho đến chết tôi cũng không quên được cái nhìn ấy. Lúc bị giải đi sau khi tuyên án, ông ấy gào lên ngoài hành lang như phát dại ‘Lý tưởng Tự do muôn năm!’”

“Thế ông Bretschneider có còn đến đây không?” Švejk hỏi.

“Có đến đây mấy lần,” vợ ông chủ quán đáp, “lần nào cũng uống một hai cốc bia, hỏi tôi ai thường vào quán, lắng nghe khách nói chuyện về bóng đá. Còn khách thì mỗi khi thấy ông ta cũng chỉ nói chuyện với nhau về bóng đá thôi. Ông ấy thì cứ nhấp nhổm không yên, như thể lúc nào cũng muốn quằn quại lên cơn. Trong suốt bằng ấy ngày chỉ có một ông thợ bọc ghế ở phố Přičná bị mắc mưu ông ấy thôi.”

“Cái ấy là việc cần có kinh nghiệm,” Švejk nhận định, “cái ông thợ bọc ghế ấy có phải là người ngốc không?”

“Chắc cũng như nhà tôi ấy,” bà chủ quán vừa nói vừa khóc. “Ông Bretschneider hỏi ông ấy liệu có cầm súng bắn người Serbia không, ông ấy bảo là không biết bắn, rằng chỉ duy nhất có một lần ông ấy đã bắn thủng được một cái vương miện ở quầy bắn súng giải trí. Rồi tất cả chúng tôi nghe thấy ông Bretschneider nói rằng ‘À, lại có một tội phản quốc mới!’ Thế là ông ấy rời quán cùng với ông thợ bọc ghế, rồi ông này không thấy về nhà nữa.”

“Còn có nhiều người không về nhà, bà ạ,” Švejk nói, “xin bà cho cốc Rum.”

Khi bà chủ quán rót cho Švejk cốc rượu Rum thứ hai thì viên mật thám Bretschneider vào quán. Hắn đảo mắt nhìn quanh quầy và cái quán vắng tanh rồi ngồi vào bàn của Švejk, gọi một cốc bia và chờ xem Švejk sẽ nói gì.

Švejk lấy từ giá treo áo một tờ báo, đọc phần quảng cáo ở phía sau và lên tiếng:

“À xem này, ông Čimpera ở số 5 đường Straškova, làng Račiněves bán trang trại với gần bốn héc-ta ruộng; ở đấy có trường học và tàu hỏa.”

Bretschneider sốt ruột gõ gõ nhịp ngón tay lên bàn, quay sang nhìn Švejk và nói:

“Tôi lấy làm lạ, vì sao mà anh quan tâm đến trang trại, hả anh Švejk?”

“Ôi, ông đấy à?” Švejk nói và đưa tay bắt, “Tôi chẳng nhận ra ông được ngay, trí nhớ tôi kém ông ạ. Nếu tôi không nhầm thì lần gặp nhau gần đây nhất là lần chúng ta chia tay nhau ở phòng tiếp người tạm giam ở sở cảnh sát. Thế từ dạo ấy đến giờ ông làm gì? Ông có hay đến đây không?”

“Hôm nay tôi đến đây để gặp anh,” Bretschneider nói, “ở sở cảnh sát người ta bảo tôi là anh bán chó. Tôi cần một con Phốc hươu đẹp hay một con Phốc sóc, hay một con nào tương tự như thế.”

“Tôi có thể tìm cho ông tất cả các loại ấy.” Švejk trả lời, “Ông muốn chó thuần chủng, hay là loại chạy rông ngoài đường?”

“Tôi nghĩ là,” Bretschneider đáp, “tôi quyết định lấy con thuần chủng.”

“Thế ông không muốn chó cảnh sát à?” Švejk hỏi, “Con chó đánh hơi được ngay mọi thứ và tìm ra dấu vết tội ác ấy mà! Một ông hàng thịt ở Višovice có con chó như thế, nhưng lại chỉ dùng nó để kéo xe hàng. Như ta thường nói thì con chó ấy chọn nhầm nghề.”

“Tôi muốn con Phốc sóc,” Bretschneider bình tĩnh nói một cách ngoan cố, “một con Phốc sóc không cắn.”

“Thế tức là ông muốn con Phốc sóc không có răng ư?” Švejk hỏi lại. “Tôi biết một con như thế của một ông chủ quán ở Dejvice.”

“Thôi, tốt hơn thì tôi lấy con Phốc hươu vậy.” Bretschneider ngập ngừng lên tiếng. Những hiểu biết về chó của hắn mới chỉ hoàn toàn ở mức vỡ lòng và giá như không nhận được lệnh của sở cảnh sát thì sẽ chẳng bao giờ hắn biết gì về chó.

Thế nhưng mà mệnh lệnh đã được ra một cách chính xác, rõ ràng và dứt khoát. Đó là việc làm sao thân quen hơn với Švejk thông qua việc mua chó, và vì thế mà Bretschneider được phép chọn, kể cả được chi một khoản tiền để mua chó.

“Phốc hươu có loại lớn và loại nhỏ,” Švejk trả lời, “tôi có biết hai con bé và ba con to. Tất cả năm con ấy đều có thể bị đặt lên đùi được. Tôi đặc biệt khuyên ông nên mua.”

“Vâng, tôi thấy hay đấy,” Bretschneider tuyên bố, “thế giá bao nhiêu một con?”

“Cái ấy còn tùy cỡ,” Švejk đáp, “cái ấy phụ thuộc vào con to, hay bé. Phốc không phải là con bê ông ạ, ở giống chó này thì ngược lại, càng bé càng đắt.”

“Tôi nghĩ sẽ lấy những con to biết trông nhà được,” Bretschneider nói, trong bụng lo lắng về chuyện có thể gây tốn kém nhiều cho quỹ bí mật của cảnh sát quốc gia.

“Được,” Švejk nói, “tôi có thể bán cho ông giá năm chục koruna một con to, còn con to hơn nữa thì bốn nhăm koruna. Ấy, chúng ta cũng còn quên mất một việc. Ông muốn lấy chó non hay chó già hơn, chó đực hay chó cái?”

“Với tôi thì thế nào cũng được.” Bretschneider trả lời và cảm thấy hết sức lúng túng với các vấn đề không quen. “Anh cứ kiếm cho tôi rồi bảy giờ tối ngày mai tôi đến lấy. Được không?”

“Vâng, ông cứ đến, sẽ có.” Švejk trả lời khô khan. “Nhưng mà trong trường hợp này thì tôi phải yêu cầu ông đặt cọc ba chục koruna.”

“Không có vấn đề gì,” Bretschneider nói và đưa tiền cho Švejk. “Còn bây giờ thì ta uống mỗi người một ly rượu vang, tôi trả tiền.”

Khi cả hai uống cạn, Švejk gọi một ly rượu nữa tính vào phiếu thanh toán của mình. Sau đó, Bretschneider bảo Švejk là không việc gì phải sợ hắn, vì hôm nay hắn không làm việc công, và vì thế Švejk có thể nói chuyện với hắn về chính trị.

Švejk tuyên bố là anh không bao giờ nói về chính trị ở quán ăn, và tất cả mọi chuyện về chính trị là chuyện cho trẻ con.

Ngược lại, Bretschneider mạnh dạn hơn và tuyên bố rằng bất kỳ nhà nước yếu kém nào cũng bị định trước là sẽ bị tiêu diệt và hỏi ý kiến của Švejk về điều này.

Švejk tuyên bố rằng anh chẳng có liên quan gì đến nhà nước, nhưng mà có một lần anh phải chăm sóc một con chó non thuộc giống Bernard. Anh đã cho nó ăn lương khô của quân đội, ấy thế mà cuối cùng nó cũng ngoèo.

Khi cả hai đã uống cạn đến ly rượu thứ năm, Bretschneider tự xưng mình là người theo chủ nghĩa vô chính phủ và hỏi Švejk xem có thể đăng ký vào tổ chức nào được không.

Švejk nói là có lần, có một người theo chủ nghĩa vô chính phủ đã mua của anh một con Leonberger giá một trăm koruna, hẹn trả dần, nhưng cho đến bây giờ người ấy vẫn còn nợ anh tiền trả đợt cuối.

Khi uống ly rượu thứ sáu, Bretschneider nói về cách mạng, về việc chống tổng động viên, và Švejk nghiêng người về phía hắn rồi ghé tai nói thầm:

“Này, có một người khách vừa vào quán, cẩn thận kẻo người ấy nghe thấy ông nói, rồi có thể ông bị chuyện lôi thôi… Ông nhìn kìa, bà chủ quán lại khóc kia kìa.”

Quả thật, bà vợ ông chủ quán đang ngồi khóc ở đằng sau quầy.

“Sao mà bà khóc, hở bà chủ quán?” Bretschneider hỏi, “Ba tháng nữa là chúng ta chiến thắng, sẽ có ân xá, chồng bà sẽ ra tù, rồi chúng tôi sẽ đến đây đánh chén một bữa thỏa thích… Hay là anh không nghĩ rằng chúng ta sẽ thắng?” Hắn quay sang hỏi Švejk.

“Quanh co mãi mà làm gì,” Švejk đáp, “phải thắng, thế thôi! Nhưng bây giờ thì tôi phải về nhà đây.”

Švejk trả tiền rồi trở về với bà giúp việc Müllerová. Bà ấy hốt hoảng giật mình khi thấy người đàn ông vặn chìa khóa mở cửa vào phòng chính là Švejk.

“Ối cậu ơi, tôi cứ tưởng là phải mấy năm nữa cậu mới về.” Thực thà như mọi khi, bà Müllerová nói. “Trong lúc cậu vắng nhà, tôi đã thương hại mà cho một người gác cửa quán cà phê đêm đến đây ở. Cũng tại vì người ta đã khám nhà ba lần, nhưng chẳng tìm ra được cái gì nên họ bảo thế là cậu toi đời, vì cậu tinh ranh.”

Ngay lập tức, Švejk phát hiện ra là người đàn ông xa lạ ấy đã thu xếp trong phòng của anh một chỗ ở rất đàng hoàng. Hắn ngủ trên giường của anh, và thậm chí còn cư xử cao thượng đến mức là chỉ nằm có một nửa giường, nửa kia nhường cho một sinh linh tóc dài lúc đó đang mang ơn được ngủ, với hai tay vòng ôm cổ hắn, còn xung quanh giường thì có quần áo của quý ông và quý cô quăng vứt lung tung. Chỉ nhìn cái bừa bộn rối loạn ấy cũng đủ thấy là người gác cửa quán cà phê đêm trở về phòng cùng với quý cô trong trạng thái vui vẻ.

“Này anh,” Švejk lay lay kẻ chiếm đóng, “dậy đi kẻo trễ giờ ăn trưa. Tôi sẽ rất lấy làm ân hận, nếu mà anh nói về tôi rằng tôi đuổi anh đi đúng vào lúc anh không kiếm được bữa trưa ở đâu.”

Người gác cửa quán cà phê đêm rất ngái ngủ, phải mất một lúc lâu hắn mới hiểu ra là chủ nhân của cái giường đã trở về và đang đòi lại quyền lợi của mình.

Theo thói quen của tất cả những người gác cửa các quán cà phê đêm, người đàn ông này cũng tuyên bố rằng sẽ nện cho bất kỳ kẻ nào đánh thức hắn một trận nên thân, rồi quay người ngủ tiếp.

Švejk vơ quần áo của hắn mang đến tận giường, rồi lay hắn thật mạnh:

“Này, nếu anh không mặc quần áo vào thì tôi sẽ tống cổ anh ra đường không quần áo. Nhưng tốt hơn cho anh là xéo khỏi đây mà có quần áo trên người.”

“Tôi đã muốn ngủ đến tám giờ tối,” người gác cửa mặc quần và làu bàu, “tôi trả hai koruna mỗi ngày cho bà ấy thì tôi có quyền đưa các cô gái từ quán cà phê về đây chứ. Này Marena, dậy đi!”

Khi dựng cổ áo để thắt cà vạt, hắn đã tỉnh táo lại đến mức có thể khẳng định cho Švejk biết rằng quán cà phê đêm Cây trinh nữ là một trong những quán đêm tử tế nhất mà chỉ các quý cô có sổ chứng nhận của cảnh sát là hoàn toàn đảm bảo thì mới được đến. Và hắn nồng nhiệt mời Švejk đến quán đó.

Ngược lại, quý cô của hắn chẳng tỏ vẻ hài lòng chút nào với Švejk và đã nói mấy câu hết sức lịch sự, trong đó câu lịch sự nhất là “Ối xin chào thầy cả!”

Sau khi hai kẻ xâm chiếm phòng cuốn gói, Švejk định giải quyết vấn đề với bà Müllerová, nhưng bà biệt tăm, anh chỉ nhìn thấy mẩu giấy có mấy chữ bà viết nguệch ngoạc bằng bút chì. Bà giải thích vô cùng nhẹ nhàng suy nghĩ của mình về sự kiện bất hạnh là đã cho người gác cửa quán cà phê đêm mượn giường của anh: “Xin cậu thứ lỗi cho, tôi chẳng bao giờ trông thấy cậu nữa, vì tôi sẽ nhảy cửa sổ.”

“Đồ điêu toa!” Švejk nói và ngồi chờ.

Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau, bà Müllerová bất hạnh rón rén đi vào bếp, trên khuôn mặt đau khổ của bà có cả sự mong đợi được Švejk an ủi.

“Nếu muốn nhảy cửa sổ,” Švejk nói, “thì bà vào phòng ngủ mà nhảy, tôi đã mở cửa sổ rồi. Tôi khuyên bà không nên nhảy từ cửa sổ phòng bếp, vì bà sẽ ngã xuống luống hoa hồng làm nát hoa rồi lại phải đền. Từ cửa sổ phòng ngủ bà sẽ rơi thẳng xuống vỉa hè, nếu gặp may thì bà sẽ chỉ gẫy cổ. Nếu không may thì bà sẽ gẫy hết xương sườn, gẫy cả tay lẫn chân, rồi bà sẽ phải trả tiền nằm viện.”

Bà Müllerová bật khóc, lặng lẽ đi vào phòng ngủ đóng cửa sổ, và khi trở lại phòng bếp bà bảo:

“Gió lùa lắm, không tốt cho bệnh thấp khớp của cậu.”

Rồi bà đi vào phòng ngủ xếp gọn chăn gối và dọn dẹp phòng hết sức cẩn thận chu đáo. Sau đó, hai mắt rưng rưng, bà quay lại phòng bếp nói với Švejk: “Cậu ơi, hai con chó con nhốt ở ngoài sân bị chết rồi, còn con Bernard thì chạy trốn đi đâu mất lúc người ta đến khám nhà.”

“Ôi trời ơi,” Švejk kêu lên, “khổ thân nó, có thể nó sẽ bị lôi thôi, chắc chắn bây giờ cảnh sát đang tìm nó.”

“Nó cắn một ông cảnh sát cậu ạ. Lúc khám nhà, ông ấy đã lôi nó từ gầm giường ra,” bà Müllerová tiếp tục, “lúc đầu thì có một ông bảo là có ai đang ở dưới gầm giường, thế là nhân danh pháp luật người ta yêu cầu nó chui ra, nhưng nó không chịu, người ta mới lôi nó ra. Nó đã muốn nuốt tất cả mọi người, rồi phóng qua cửa biến mất không về nữa cậu ạ. Người ta cũng tra hỏi tôi, rằng ai hay đến đây, rằng chúng ta có nhận được tiền của ai từ nước ngoài không. Sau đấy thì họ nói xa xôi là tôi ngu, khi tôi bảo họ rằng rất ít khi có tiền từ nước ngoài, rằng lần gần đây nhất là sáu mươi koruna của ông hiệu trưởng ở Brno, rằng đấy là tiền đặt cọc mua con mèo Angora cậu đăng quảng cáo ở báo Chính trị dân tộc, nhưng sau đấy thì cậu lại cho vào hộp đựng chà là một con chó sục cáo non mù mắt rồi gửi cho ông ấy. Sau đó thì họ nói với tôi rất ân cần tử tế và bảo tôi cho người gác cửa quán cà phê đêm ấy đến đây ở, để tôi khỏi phải sợ người mà họ đã đuổi đi…”

“Tôi gặp toàn chuyện rủi ro với các cơ quan, bà ạ. Bây giờ thì bà sẽ thấy có rất nhiều người đến đây hỏi mua chó,” Švejk thở dài.

Không biết sau này, sau khi đảo chính, những ông nào có dịp được xem tài liệu lưu trữ của cảnh sát, có giải mã được các mục Bretschneider ghi trong quỹ bí mật của cảnh sát quốc gia hay không. Các mục ấy ghi là B… 40 K, F… 50 K, L… 80 K, v.v. nhưng chắc chắn họ sẽ nhầm, nếu nghĩ rằng B, F, L là chữ viết tắt tên của những người vì số tiền 40, 50, 80 koruna v.v. đã bán dân tộc Séc cho con đại bàng đen vàng.

Bretschneider

Đúng ra thì B có nghĩa là Bernard, F có nghĩa là Fox Terrier và L có nghĩa là Leonberger. Tất cả những con chó ấy đã được Bretschneider mua của Švejk và được đem về sở cảnh sát. Nhưng tất cả bọn chúng đều là những con chó ma chê quỷ hờn, và cái chủ yếu là hoàn toàn không có một chút gì chung với bất kỳ một loại chó thuần chủng nào mà Švejk đã nói với Bretschneider.

Con chó gọi là Bernard là con lai giữa chó săn vịt Poodle không thuần chủng với một con chó hoang chạy rông ngoài đường phố. Con gọi là Fox Terrier có hai cái tai như chó Lạp xưởng, mình to như cỡ chó Rotti với những cái chân vặn vẹo như bị bệnh còi xương. Còn con gọi là Leonberger thì có cái đầu giống chó Schnauzer, có chiều cao của chó Lạp xưởng và có cái đuôi cụt, còn cái mông trần trụi của nó thì trông giống hệt loại chó sục trụi lông Hoa Kỳ nổi tiếng.

Sau đó, cả ông thám tử Kalous cũng tới gặp Švejk để mua chó. Từ nhà Švejk, ông ta mang về một con quái vật trông giống như linh cẩu đốm và có cái bờm như chó chăn cừu Collie. Và thế là quỹ bí mật có thêm mục chi mới D… 90 K. D ở đây có nghĩa là Great Dane. Vâng, con quái vật ấy đóng vai chó Great Dane…

Nhưng, cũng giống như Bretschneider, cả thám tử Kalous cũng không dò la được gì ở Švejk. Bất kỳ một câu chuyện nào nói về chính trị, dù khôn khéo đến đâu, cũng đều bị Švejk chuyển sang nói về việc chữa bệnh sài sốt cho lũ chó con. Và tất cả những cạm bẫy nham hiểm tinh khôn nhất giăng ra đều kết thúc bằng việc Bretschneider từ chỗ Švejk lại dắt về thêm một con quái vật mới, lai tạp đến không tưởng tượng nổi.

Và đó là cái kết thúc của nhà thám tử nổi tiếng Bretschneider. Khi đã có trong căn hộ tới bảy con quái vật gớm ghiếc như thế, nhà thám tử tự giam mình cùng với chúng ở căn phòng phía sau và chẳng cho chúng ăn gì, và thế là lũ chó đã ăn thịt ông ta.

Thám tử Bretschneider là người trung thực đến mức tiết kiệm cả tiền tang lễ của nhà nước.

Ở mục “Thăng tiến trong nghiệp vụ” trong công văn giấy tờ về Bretschneider tại sở cảnh sát có điền một câu đầy bi thảm: “Bị chó nhà ăn thịt.”

Sau này, khi được biết về sự kiện buồn thảm đó, Švejk nói:

“Tôi chỉ không biết người ta xếp lại bộ xương của ông ấy như thế nào trong ngày phán xét cuối cùng.”

← Ám chỉ con chim đại bàng màu đen có hai đầu – biểu tượng của nhà Habsburg đặt trên nền vàng. Đó là lá cờ của Hoàng đế Áo–Hung.

← Một khu phố của Praha, nơi có Lâu đài Praha. Từ thế kỷ thứ 9 Lâu đài Praha là cung điện của các công tước và vua Séc, từ năm 1918 là dinh tổng thống.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.