Vận Mệnh Người Lính Tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới

Lượt đọc: 26 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Švejk ở trại giam quân đội

❊ ❊ ❊

Nơi ẩn náu cuối cùng của những người không muốn ra mặt trận là trại giam quân đội. Tôi có biết một thầy giáo thực tập, vì không muốn làm lính pháo binh đi bắn người mà thầy giáo dạy toán đó đã lấy cắp cái đồng hồ đeo tay của một trung úy để được vào trại giam. Anh ấy làm thế với sự cân nhắc rất chín chắn, kỹ càng. Chiến tranh không gây ấn tượng nào cho anh, cũng chả có gì quyến rũ. Anh cho rằng việc nã trái phá và lựu đạn để giết kẻ thù, người cũng là những thầy giáo thực tập dạy toán bất hạnh ở bên kia trận tuyến, là điều ngu ngốc.

“Tôi không muốn bị căm ghét vì bạo lực mình gây ra,” anh tự nhủ và bình thản lấy cắp chiếc đồng hồ. Lúc đầu, người ta nghiên cứu trạng thái tinh thần của anh, và khi nghe anh tuyên bố là ăn cắp để làm giàu cho bản thân thì người ta đưa anh tới trại giam quân đội. Ở đó còn có nhiều người khác ngồi vì tội ăn cắp hoặc lừa đảo. Những người có lý tưởng và cả những kẻ không có lý tưởng. Có những người coi chiến tranh là nguồn thu nhập; có các hạ sĩ quan phụ trách tài chính ở hậu phương và ở mặt trận, họ là những kẻ phạm tội lừa đảo, tham ô bòn rút lương thực và tiền lương bằng đủ mọi cách; và cũng có những người ăn cắp vặt, đó là những người còn trung thực gấp nghìn lần những kẻ tống họ vào trại giam. Tiếp nữa là những quân nhân bị giam vì phạm đủ các thứ tội khác nhau, hoàn toàn mang tính chất quân sự, như vi phạm kỷ luật quân đội, âm mưu nổi loạn, hay đào ngũ. Một loại tù nhân đặc biệt là các nhà chính trị. Tám mươi phần trăm trong số họ là những người hoàn toàn vô tội, nhưng chín mươi chín phần trăm trong số đó lại bị kết án.

Bộ máy tổ chức của tòa án rất đồ sộ. Nhà nước nào cũng có một bộ máy tư pháp như thế để đối phó với sự suy tàn về chính trị, kinh tế và đạo đức nói chung. Hào quang của quyền lực và vinh quang ngày trước đang gìn giữ bảo vệ tòa án với cảnh sát, hiến binh và lũ bán thân vô lại chuyên chỉ điểm tố giác.

Nhà nước Áo có mật thám ở trong mọi quân khu. Đó là những kẻ tố giác người đồng ngũ của mình, đã cùng chung phòng ngủ với họ, đã cùng chia sẻ cho nhau miếng bánh mì khi hành quân.

Cảnh sát quốc gia cũng gửi nhân lực đến trại giam quân đội – đó là các ông Klíma, Slavíček và đồng nghiệp. Kiểm duyệt quân sự đã cho vào tù các tác giả của những bức thư gửi từ mặt trận tới người thân tuyệt vọng mà họ để lại ở nhà. Hiến binh giải đến trại giam cả những người nông dân già hưu trí đã gửi thư ra mặt trận; tòa án quân sự đã kết án họ mười hai năm tù vì những lời an ủi và kể lể của họ về nỗi khốn cùng của gia đình.

Từ trại giam quân đội ở Hradčany cũng có con đường dẫn qua Břevnov tới sân tập ở Motol. Một nhóm lính mang súng gắn lưỡi lê dẫn một người bị còng tay, sau anh ta là cái xe chở quan tài. Ra đến sân tập ở Motol thì có tiếng ra lệnh ngắn và sắc lạnh bằng tiếng Đức: “Bắn!” Sau đó, tất cả các trung đoàn và tiểu đoàn đều được đọc thông báo của trung đoàn, rằng lại có một người bị xử bắn vì nổi loạn không chịu lên đường nhập ngũ, khi vợ người ấy bị ngài đại úy lấy kiếm chém bởi lẽ chị ấy không sao dứt ra được khỏi chồng mình lúc chia tay.

Bộ ba gồm cai ngục Slavík, đại úy Linhart và trung sĩ Řepa, còn có tên là “đao phủ,” đã thực hiện nhiệm vụ của mình trong trại giam. Có biết bao người đã bị bộ ba này nện cho đến chết trong các phòng biệt giam! Có thể là cả ở nhà nước cộng hòa bây giờ, đại úy Linhart vẫn là đại úy. Tôi chúc cho ông ấy được tính vào tuổi hưởng lương hưu cả những năm phục vụ ở trại giam quân đội. Hai ông Slaviček và Klíma của cảnh sát quốc gia thì đã được tính rồi. Trung sĩ Řepa đã xuất ngũ và tiếp tục làm nghề phụ trách thợ nề. Cũng có thể ông ấy là thành viên các tổ chức yêu nước của nhà nước cộng hòa.

Còn cai ngục Slavík thì trở thành kẻ trộm cắp và hiện nay đang bị giam. Tội nghiệp, ông ta không bắt nhịp được với nhà nước cộng hòa một cách may mắn như các ông sĩ quan khác.

Đó là điều hoàn toàn tự nhiên, khi cai ngục Slavík ném về phía Švejk con mắt đầy trách móc thầm lặng lúc tiếp nhận anh vào nhà tù:

“Cả mày cũng mang tiếng xấu đến mức phải đi đến tận đây với chúng tao hả? Chúng tao sẽ cho mày thấy cái sung sướng ở đây, cũng như đã từng cho bao nhiêu thằng khác thấy khi rơi vào tay chúng tao. Mày sẽ biết là tay chúng tao không phải là tay của các quý bà!”

Để cho ánh mắt của mình được tăng thêm sức nặng, hắn dúi nắm tay đầy cơ bắp béo mập vào mũi Švejk và bảo:

“Ngửi đi, đồ vô lại!”

Švejk ngửi ngửi rồi nhận định:

“Tôi không muốn bị nắm tay này đấm vào mũi, nó có mùi nghĩa địa.”

Lời nói bình thản thận trọng làm kẻ cai ngục lấy làm thích thú.

“Này,” hắn nói và thụi vào bụng Švejk, “đứng cho thẳng lên, mày có những gì ở trong túi hả? Nếu là thuốc lá thì được giữ lại, còn tiền thì bỏ ra đây, kẻo bị lấy cắp. Mày không có nhiều hơn à? Có thật không? Đừng điêu! Nói điêu thì bị phạt!”

“Cho nó vào đâu?” trung sĩ Řepa hỏi.

“Cho vào phòng mười sáu cùng với bọn mặc đồ lót,” tên cai ngục quyết định, “chẳng lẽ anh không trông thấy chữ đại úy Linhart viết bằng tiếng Đức trên giấy tờ của nó là ‘Canh giữ, theo dõi nghiêm ngặt!’ hay sao? Thế đấy,” hắn trịnh trọng tuyên bố với Švejk, “với quân vô lại thì phải có cách đối xử của quân vô lại. Nếu mà đứa nào chống lại thì chúng tao sẽ lôi cổ vào phòng biệt giam, bẻ hết xương sườn rồi để nó nằm đấy cho đến rũ xương. Chúng tao có quyền làm như thế! Như chúng mình đã làm thế với thằng hàng thịt, phải không Řepa?”

“Vâng, mất bao nhiêu công sức với nó, thưa ông,” trung sĩ Řepa mơ màng trả lời, “thân hình nó mới to lớn làm sao! Tôi giẫm lên nó đến hơn năm phút nó mới gẫy xương sườn, mới đổ máu mồm. Ấy thế mà nó còn sống thêm đến mười ngày nữa. Đồ vô lại!”

“Đấy, thấy chưa, hả đồ khốn kiếp? Ở đây, nếu đứa nào nổi loạn thì sẽ bị như thế đấy,” cai ngục Slavík kết thúc lời giảng giải sư phạm của mình, “hay là muốn chạy trốn cũng vậy, chạy trốn cũng giống như tự tử, mà ở đây thì tự tử cũng bị phạt. Cả khi trời xúi giục mày, thì đồ chó ghẻ ạ, mày cũng không được kêu ca phàn nàn gì khi có người đến đây thanh tra. Nếu ông thanh tra có đến đây hỏi mày: ‘Anh có phàn nàn gì không?’ thì đồ thối tha ạ, mày phải đứng nghiêm, giơ tay chào và trả lời: ‘Báo cáo, tôi không phàn nàn gì, tôi hoàn toàn hài lòng.’ Thế nào, mày sẽ bảo sao, hả đồ ghê tởm kia? Nhắc lại đi!”

“Báo cáo, tôi không phàn nàn gì, tôi hoàn toàn hài lòng,” Švejk nhắc lại với vẻ mặt đáng yêu đến mức mà tên cai ngục coi đó là cố gắng thực sự và trung thực.

“Thế thì cởi quần áo ngoài ra, chỉ để đồ lót, rồi sang phòng mười sáu,” hắn nói nhẹ nhàng, không kèm thêm ‘đồ khốn kiếp, đồ ghê tởm, đồ thối tha,’ như hắn vẫn quen mồm.

Ở phòng số mười sáu, Švejk gặp mười chín người đàn ông mặc đồ lót. Trong giấy tờ của tất cả đều có ghi dòng chú thích bằng tiếng Đức “Canh giữ, theo dõi nghiêm ngặt!” Người ta để ý trông coi họ rất nghiêm ngặt, để họ khỏi chạy trốn.

Giá mà những bộ đồ lót ấy sạch sẽ và trên cửa sổ không có lưới sắt thì thoạt nhìn qua ta có cảm giác là đang ở phòng thay quần áo của một trại nghỉ dưỡng nào đó.

Trung sĩ Řepa giao Švejk cho “trưởng phòng giam” số mười sáu. Đó là một người đàn ông râu ria xồm xoàm, trên mình mặc cái áo sơ mi không cài cúc. Anh ta ghi tên Švejk vào mảnh giấy treo trên tường rồi nói với anh:

“Ngày mai ở đây sẽ có diễn kịch. Người ta sẽ dẫn chúng mình đến nhà nguyện để nghe giảng đạo. Tất cả chúng mình đều mặc đồ lót, lại đứng ngay bên dưới tòa giảng. Cậu sẽ thấy rất buồn cười.”

Cũng như ở tất cả các nhà tù và trại giam khác, nhà nguyện là nơi rất được ưa thích cả ở trại giam quân đội. Vấn đề không phải chỗ là việc bắt buộc đến nhà nguyện đưa những người tới đó lại gần với Chúa Trời, rằng tù nhân được biết nhiều hơn về đạo đức. Hoàn toàn không phải về những thứ ngu ngốc như thế.

Các buổi dự Thánh lễ và nghe giảng đạo là những lúc hào hứng tuyệt vời khác hẳn cái nhàm chán ở trại giam. Không phải là vì tù nhân được đến gần Chúa Trời, mà bởi vì có hy vọng là trên đường tới nhà nguyện họ sẽ tìm thấy những mẩu thuốc lá hoặc xì gà hút dở vứt ở ngoài hành lang, hay ở lối đi qua sân. Cái mẩu thuốc hút dở nằm lăn lóc vô vọng trong ống nhổ, hay ở một chỗ bụi bặm nào đó trên đường đi, đã hoàn toàn đẩy Chúa Trời sang nơi ẩn dật. Cái vật bé xíu hôi sì ấy đã thắng được Chúa Trời và cả sự cứu vớt của tâm hồn.

Sau nữa là bài giảng kinh, là cái vui vẻ, cái bỡn cợt. Dù sao thì tuyên úy Otto Katz cũng là một người đáng yêu. Các bài giảng kinh của ông đặc biệt hấp dẫn, vui nhộn, làm tươi mát cái sự buồn chán của trại giam. Ông biết ba hoa rất hay về tình yêu thương của Đức Chúa Trời, biết truyền sức mạnh cho những tù nhân không được ai quan tâm đến và bị coi thường. Từ bàn thờ và bục giảng, ông biết chửi mắng như hát hay. Cũng từ bàn thờ, ông biết gào lên một cách tuyệt vời “Ite, missa est.”⦾ Ông làm chủ tế được toàn bộ buổi Thánh lễ bằng cách rất độc đáo, ông đảo lộn thứ tự từng phần của Thánh lễ, khi say rượu quá thì ông nghĩ ra những lời nguyện hoàn toàn mới và Thánh lễ mới, ông nghĩ ra các nghi lễ của mình, nghĩ ra những cái mà từ trước đến nay chưa từng có.

Rồi còn chuyện buồn cười nữa, đó là có khi ông bị trượt chân ngã, trong tay còn cầm chén Thánh, cùng với Bí tích Thánh thể hay với Kinh sách, rồi ông lớn tiếng quy tội cho người giúp lễ thuộc đại đội hình sự là cố tình gạt chân làm ông ngã, trước lễ dâng Bánh và dâng Rượu ông còn tuyên bố biệt giam và cùm người ấy.

Và người bị nạn ấy rất vui, bởi lẽ điều đó là phần không thể thiếu của trò đùa vui trong nhà nguyện và anh ấy liên tục đóng vai lớn ấy một cách trang nghiêm.

Tuyên úy Otto Katz, vị linh mục hoàn hảo nhất của quân đội, vốn là người Do Thái. Nói cho cùng thì cái đó không là điều gì đáng phải lạ lùng. Tổng giám mục Kohn⦾ cũng là người Do Thái, hơn nữa lại còn là bạn của Machar⦾.

Và tuyên úy Otto Katz có một quá khứ còn nhiều màu nhiều vẻ, phong phú hơn cả ngài Tổng giám mục nổi tiếng.

Khi còn trẻ, Otto Katz học ở học viện thương mại và đã đi lính tình nguyện một năm⦾. Hiểu biết của anh về hối phiếu và luật hối phiếu tốt đến mức mà trong vòng năm ấy, anh đã đưa công ty thương mại Katz Co.Ltd đi đến phá sản một cách vẻ vang và thành công, tới nỗi khiến cho cha anh phải bỏ đi Bắc Mỹ, sau khi đã thu xếp trang trải với các chủ nợ. Ông giải quyết việc đó mà không cho những thành viên cuối cùng biết, kể cả người đồng sở hữu công ty của mình, người đã bỏ đi Argentina. Thế là sau khi chia công ty Katz Co.Ltd thành chi nhánh Bắc và Nam Mỹ một cách vô tư thì Otto Katz rơi vào tình trạng của người hoàn toàn không có gì để thừa kế, không biết đặt chân vào đâu, và phải nhập ngũ.

Nhưng trước đó, người lính tình nguyện một năm Otto Katz đã nghĩ ra một việc rất tuyệt vời. Anh đi xin làm lễ rửa tội. Anh đến với Đức Chúa Jesus để Chúa giúp anh trong con đường sự nghiệp. Anh đến với Đức Chúa Jesus với sự hoàn toàn tin tưởng rằng đó là vấn đề thương mại giữa anh và con trai của Đức Chúa Trời.

Lễ rửa tội diễn ra trang trọng ở tu viện Emauzy Praha. Đích thân cha Alban đã nhúng đầu anh vào bồn nước phép. Cả buổi lẽ là một cảnh tượng tuyệt đẹp. Tới dự lễ rửa tội có một thiếu tá sùng đạo ở trung đoàn nơi Otto Katz phục vụ, một bà trinh nữ của viện nữ quý tộc ở Hradčany Praha và một người có khuôn mặt thô to, đại diện của Hội đồng giáo xứ, người làm cha đỡ đầu cho Otto Katz.

Kỳ kiểm tra sĩ quan kết thúc tốt đẹp và người Công giáo mời Otto Katz tiếp tục tại ngũ. Lúc đầu, anh nghĩ rằng mọi việc sẽ trôi chảy và thậm chí anh còn muốn theo các khóa học của bộ tham mưu.

Thế nhưng một ngày, anh uống rượu say rồi đi đến tu viện, trút bỏ gươm kiếm để mặc áo tu sĩ. Anh tới gặp Tổng giám mục tại Hradčany và được nhận vào học ở chủng viện. Vào ngày lễ thụ phong của mình, anh say bí tỉ trong một ngôi nhà rất tử tế, nơi có các cô các bà phục vụ, ở con phố nhỏ sau đường U Vejvodů tại Praha. Và từ chỗ tiêu khiển đầy khoái cảm hoan lạc đó, anh đi thẳng tới nơi làm lễ thụ phong. Sau đó, nhờ quen biết, anh được trở lại phục vụ ở trung đoàn cũ. Khi được phong làm tuyên úy, anh mua một con ngựa để rồi rong ruổi khắp đường phố Praha, vui vẻ tham dự tất cả mọi cuộc bia rượu của các sĩ quan trung đoàn mình.

Ở ngoài hành lang, trong ngôi nhà mà bây giờ tuyên úy Otto Katz có một căn hộ, luôn luôn có tiếng nguyền rủa của các chủ nợ bất bình. Ông cũng đưa về căn hộ đó các cô gái từ đường phố, hoặc sai cậu lính hầu đi gọi các cô ấy. Ông rất thích chơi bài lá ferbl⦾, mọi người có cảm giác, và đặt giả thiết, rằng chắc ông chơi gian, nhưng không một ai bắt được quả tang là ông có giấu con eso trong ống tay rộng của cái áo giáo sĩ quân đội. Các sĩ quan còn gọi ông là “Giáo hoàng.”

Tuyên úy Otto Katz không bao giờ chuẩn bị trước bài giảng đạo, về điều này thì ông khác với người tiền nhiệm của mình. Người tiền nhiệm ấy cũng thường tới trại giam. Đó là người bị nhiễm cái ý tưởng ám ảnh, là từ bục giảng có thể cải tạo được đội ngũ những người đàn ông ngồi trong nhà tù quân đội. Ông tuyên úy đáng kính ấy đảo tròn đôi mắt sùng đạo và giảng giải cho những kẻ bị giam, là cần phải cải tạo các gái điếm, phải cải cách chế độ chăm sóc những người mẹ không chồng, ông cũng giảng giải cả về việc giáo dục trẻ em ngoài giá thú. Các bài giảng đạo của ông đều mang tính trừu tượng và chẳng liên quan gì đến tình hình hiện tại, vì vậy nó rất nhàm chán.

Ngược lại, tuyên úy Otto Katz có những bài giảng mà tất cả mọi người đều rất háo hức mong chờ.

Đó là khoảnh khắc vui như hội, khi những người ở phòng số mười sáu được đưa đi nhà nguyện. Tất cả mọi người chỉ có trên mình bộ đồ lót, bởi vì việc mặc thêm quần áo ngoài thường gắn liền với nguy cơ là có người sẽ biến mất. Thế là như hai mươi thiên thần, tất cả hai mươi bộ quần áo lót trắng ấy được dẫn tới đứng dưới bục giảng. Trên đường đi, một số người đã nhặt được những mẩu thuốc lá hút dở bởi vì nữ thần may mắn đã mỉm cười với họ. Bây giờ thì họ đang nhai, vì lẽ tất nhiên là quần áo lót không có túi nên họ không giấu chúng vào đâu được.

Xung quanh là các tù nhân khác của trại giam. Họ thích thú ngắm nhìn hai mươi bộ đồ lót đứng dưới bục giảng. Ông tuyên úy bước lên bục giảng, đôi giày cưỡi ngựa nện cồm cộp.

“Chú ý!” Ông hét lên, “Chuẩn bị cầu nguyện. Tất cả nhắc lại cái gì tôi sẽ nói! Này, cái đồ khốn kiếp đứng ở phía sau kia, đừng xỉ mũi vào tay! Anh đang ở trong nhà của Chúa, vì thế mà tôi sẽ cho giam anh lại. Còn các anh, có còn nhớ Kinh lạy Cha không hả? Vậy thì thử đi xem sao… Thấy chưa, tôi biết là các anh không nhớ. Ừ, chả Kinh lạy cha gì sất, cứ hai suất thịt với nộm hạt đậu, nhồi cho căng rốn rồi nằm sấp bụng trên giường, ngoáy tay lỗ mũi và không thèm nghĩ đến Chúa Trời, có phải không, hả?”

Ông nhìn xuống hai mươi thiên thần trắng trong bộ quần áo lót đang rất vui vẻ như những người khác. Ở phía sau đang có người chơi trò maso⦾!

“Hay lắm,” Švejk nói thầm vào tai người đứng cạnh mình. Người này bị nghi ngờ là chỉ vì ba koruna mà đã lấy rìu chặt tất cả các ngón tay của bạn mình để người bạn ấy không phải ra trận.

“Sẽ còn hay hơn nữa,” người đứng cạnh trả lời, “hôm nay ông ấy lại say bí tỉ, thế nào cũng lại giảng về con đường tội lỗi đầy chông gai.”

Ngày hôm nay, ông tuyên úy quả thật đang vô cùng vui vẻ. Chính bản thân ông cũng không biết vì sao, nhưng ông cứ liên tục nghiêng người qua bục giảng đến suýt mất thăng bằng, chỉ một ly nữa là ngã nhoài xuống.

“Các anh hãy hát một bài nào đi,” ông gào xuống bên dưới bục giảng, “hay là để tôi dạy cho bài hát mới? Thế thì hát theo tôi đây:”

Người thương mến nhất

là người tôi yêu.

Không chỉ mình tôi,

cô ấy có nhiều

những người yêu khác.

Người tôi yêu nhất

Đức Mẹ Maria…

“Lũ khốn kiếp các anh chẳng bao giờ học được cái đó,” tuyên úy tiếp tục, “theo tôi thì phải đem các anh ra mà bắn chết hết, các anh có hiểu rõ tôi nói gì không? Quân vô lại ạ, tôi nói thế với các anh từ nơi linh thiêng này, bởi vì Chúa Trời là người không sợ các anh, sẽ trừng phạt các anh cho các anh phát điên phát dại, bởi vì các anh do dự không muốn đi đến với Chúa, mà thích đi theo con đường tội lỗi đầy chông gai hơn.”

“Đấy, lại thế rồi, ông ấy đã uống say đúng mực,” người đứng cạnh Švejk vui vẻ nói.

“Con đường tội lỗi đầy chông gai là con đường chiến đấu với sự đồi bại, lũ ngu xuẩn ạ. Các anh là những đứa con trai ăn chơi phóng đãng, thà lăn lộn trong phòng biệt giam, còn hơn là trở về với Đức Cha. Hãy cứ tiếp tục ngước nhìn lên trời đi, các anh sẽ chiến thắng và tâm hồn các anh sẽ được bình an, bọn mất dạy ạ. Này, ai ở đằng sau kia, đừng phì phò mãi thế! Anh không phải là con ngựa, cũng chẳng ở trong chuồng ngựa, mà anh đang ở trong nhà của Chúa. Tôi phải nhắc các anh thế, các con chiên yêu quý ạ. Tôi đã nói đến đâu rồi? À,” ông nói bằng tiếng Đức, “về cái bình an trong tâm hồn các anh. Đồ súc vật ạ,” ông chuyển về tiếng Séc, “các anh hãy nhớ rằng các anh là con người, rằng các anh phải nhìn qua đám mây đen tới khoảng không xa xôi để biết rằng tất cả mọi thứ ở đây chỉ tồn tại đến một lúc nào thôi, nhưng Chúa Trời là vĩnh cửu. Đó là điều rất tốt,” ông lại nói bằng tiếng Đức, “có phải không, hả các anh? Đồ con bò ạ,” ông quay lại tiếng Séc, “tôi có thể phải cầu nguyện cả ngày cả đêm cho các anh, để có thể là Đức Chúa Trời từ bi truyền thánh linh của mình đến con tim lạnh giá của các anh, để lòng thương xót của Chúa có thể rửa tội cho các anh, để các anh có thể vĩnh viễn là con của Chúa, để có thể Chúa luôn luôn thương yêu các anh, quân khốn kiếp ạ. Thế nhưng các anh đã nhầm, tôi sẽ không đưa các anh lên thiên đường,” tuyên úy nấc một tiếng. “Và tôi sẽ không đưa,” ông bướng bỉnh nhắc lại, “tôi sẽ không làm gì cho các anh cả, và tôi hoàn toàn không muốn làm gì, bởi vì các anh là lũ khốn nạn không sao cải tạo được. Ân sủng của Chúa sẽ không dẫn đường các anh đi, hơi thở tình thương của Chúa sẽ không thổi vào các anh, bởi vì Đức Chúa Trời yêu dấu sẽ không nghĩ tới chuyện quan tâm đến những đứa xảo trá như các anh. Này, bọn mặc đồ lót ở dưới bục đây, các anh có nghe thấy không, hả?”

Hai mươi bộ quần áo lót ngước nhìn lên trên và đồng thanh nói:

“Báo cáo, chúng tôi nghe thấy.”

“Chỉ nghe thấy thôi thì chưa đủ,” tuyên úy tiếp tục giảng, “lũ ngu xuẩn ạ, nụ cười của Chúa sẽ không xóa đi được cái đau khổ trong đám mây đen tối của cuộc đời các anh, bởi vì cả lòng thương xót của Chúa cũng chỉ có giới hạn thôi. Còn đồ con lừa đang cười ở phía sau kia, không được cười, nếu không thì tôi cho giam anh đến rũ xương. Bọn ở dưới kia cũng thế, đừng có tưởng là các anh đang trong quán bia. Chúa Trời vô cùng từ bi, nhưng chỉ đối với những người đứng đắn tử tế thôi, chứ không đối với những kẻ đê tiện cặn bã của cái xã hội không tuân theo luật của Chúa, kể cả luật phục vụ Chúa. Đó là cái tôi muốn nói để các anh biết. Các anh không biết cầu nguyện, các anh nghĩ rằng đi đến nhà nguyện là một trò đùa nào đó, rằng ở đây là nhà hát hay là rạp chiếu phim. Nhưng mà tôi sẽ tẩy nó ra khỏi óc các anh, để các anh khỏi nghĩ rằng tôi ở đây làm trò tiêu khiển cho các anh và đem lại sự vui sướng cho cuộc đời các anh. Tôi sẽ tống các anh vào các phòng biệt giam, tôi sẽ làm thế, quân vô lại ạ. Tôi mất thời gian với các anh, nhưng thấy là hoàn toàn vô ích. Giá mà ở đây có chính bản thân Thống chế hay là Tổng giám mục thì cũng chỉ đến thế mà thôi, các anh sẽ không cải tạo, sẽ không quay về với Chúa Trời. Rồi thế nào cũng có ngày các anh nhớ đến tôi, rằng tôi đã nghĩ tốt cho các anh.”

Giữa hai chục bộ quần áo lót vang lên tiếng nức nở thổn thức. Švejk bật khóc.

Tuyên úy nhìn xuống dưới. Švejk đứng dưới đó, vừa đang đưa nắm tay lên quệt mắt. Và xung quanh là sự đồng tình vui mừng.

Tuyên úy tiếp tục nói và chỉ tay vào Švejk:

“Mỗi người các anh hãy lấy người này làm thí dụ. Người ấy đang làm gì? Người ấy đang khóc. Này, đừng khóc, tôi bảo anh đừng khóc. Anh muốn trở thành người tốt hả? Cái này không dễ mà được đâu, anh ạ. Bây giờ anh khóc, nhưng khi trở về phòng giam anh sẽ vẫn là đứa vô lại như trước. Anh sẽ phải nghĩ rất nhiều đến ân sủng vô hạn và sự thương xót của Chúa, phải cố gắng rất nhiều để cái linh hồn tội lỗi của anh tìm được con đường đi đúng đắn trên thế gian. Hôm nay chúng ta thấy một người đàn ông khóc vì muốn quay trở lại, nhưng còn những người khác thì thế nào? Hoàn toàn chẳng có ‘thế nào’ gì cả! Này, anh kia đang nhai cái gì, cứ như thể bố mẹ anh là loài nhai lại, còn anh kia nữa thì lại đang tìm rận ở áo, mà tìm ngay trong nhà nguyện! Chẳng lẽ các anh không thể gãi ngứa ở nhà hay sao, mà phải làm trong giờ phụng sự Chúa? Còn ông giám thị ạ, ông cũng chẳng để ý đến gì cả. Tất cả các anh đều là lính, chứ có phải là loại dân thường ngu độn đâu! Các anh phải cư xử như người lính chứ, kể cả khi các anh ở trong nhà thờ. Đồ trời đánh thánh vật ạ, các anh hãy đi tìm Đức Chúa Trời đi, còn rận thì tìm bắt ở nhà. Tôi nói thế là xong rồi, bọn vô lại ạ. Tôi yêu cầu các anh phải tử tế nghiêm chỉnh trong buổi Thánh lễ, kẻo xảy ra việc như lần trước, khi ở phía sau kia có người đổi quần áo được phát để lấy bánh mì, rồi ngấu nghiến ăn đúng lúc có lễ dâng Bánh.”

Tuyên Úy đi từ bục giảng xuống rồi cùng giám thị trại giam vào phòng thánh. Một lát sau, người giám thị đi ra rồi tiến thẳng tới Švejk, lôi anh khỏi nhóm hai mươi bộ quần áo lót và dẫn anh vào phòng thánh.

Tuyên úy đang ngồi rất thoải mái ở trên bàn và cuốn điếu thuốc lá.

Khi Švejk vào phòng, tuyên úy nói:

“À, anh đây rồi. Tôi đã suy nghĩ nhiều và cho rằng tôi đã xem xét anh kỹ lưỡng, anh hiểu không? Đây là lần đầu tiên tôi thấy có người khóc ở nhà thờ.”

Ông tuyên úy nhảy từ bàn xuống, lay vai Švejk và hét lên ngay bên dưới bức tranh lớn ảm đạm với hình ảnh Thánh Francis de Sales:

“Thú nhận đi, anh khóc để làm trò đùa, phải không hả đồ khốn?”

Thánh Francis de Sales nhìn Švejk như muốn hỏi điều gì. Từ bức tranh khác phía bên kia, một người tử đạo ngạc nhiên nhìn Švejk. Ở mông người tử đạo đó có vết răng cưa mà những quân lính La Mã nào đó đã cưa ông. Trên khuôn mặt ông không hề có biểu hiện của nỗi đau khổ nào, nhưng cũng chẳng có biểu hiện nào của niềm vui mừng hay là ánh hào quang của sự hy sinh. Ông chỉ tỏ vẻ ngạc nhiên, như thể muốn nói ‘Làm sao mà tôi lại bị thế này, các người đang làm gì tôi vậy?’

“Báo cáo tuyên úy,” tin tưởng vào mình, Švejk thong thả nói, “tôi xin thú nhận cùng Đức Chúa Trời toàn năng, cùng cả tuyên úy đáng kính là người thay mặt Chúa Trời, rằng thật sự tôi khóc để làm trò đùa. Tôi thấy là tuyên úy giảng đạo, nhưng trong những người nghe tuyên úy thì vẫn còn thiếu một con chiên tội lỗi muốn trở thành người tốt hơn, và đó là người mà tuyên úy tìm mãi vẫn chưa ra. Thế là tôi thật sự muốn làm cho tuyên úy vui mừng, để cho tuyên úy khỏi phải nghĩ là chẳng còn người công bằng chân chính nữa, đồng thời tôi làm trò đùa cho bản thân để được nhẹ nhõm hơn.”

Tuyên úy chăm chú nhìn khuôn mặt thật thà chất phác của Švejk. Ánh nắng tưng bừng chiếu lên bức tranh Thánh Francis de Sales ảm đạm, sưởi ấm người tử đạo ngạc nhiên ở trên tường đối diện.

“Tôi bắt đầu thấy thích anh,” tuyên úy nói và lại ngồi lên bàn. “Anh là lính trung đoàn nào?” Ông bắt đầu nấc.

“Báo cáo tuyên úy, tôi là lính, mà cũng không phải là lính, của trung đoàn 91. Tôi hoàn toàn không biết tôi thế nào.”

“Thế vì sao mà anh bị giam ở đây?” tuyên úy hỏi và tiếp tục nấc.

Tiếng đàn organ từ nhà nguyện vọng vào phòng. Người chơi đàn là một thầy giáo dạy nhạc bị bắt giam vì tội đào ngũ. Trên chiếc đàn dùng thay cây đại phong cầm, thầy đang đánh những bài nhạc thánh ca buồn nhất. Tiếng nấc của tuyên úy hòa với tiếng nhạc làm thành một âm giai Dōrieus mới.

“Báo cáo tuyên úy, quả thật tôi không biết vì sao tôi bị giam đây, và tôi cũng không than phiền là tôi bị giam ở đây. Tôi chỉ là người không may mắn. Bao giờ tôi cũng nghĩ tốt về mọi thứ, nhưng cuối cùng thì cái gì cũng trở thành xấu đối với tôi, cũng giống như người tử đạo ở trên bức tranh kia.”

Tuyên úy nhìn lên bức tranh, bật cười và nói:

“Thật là tôi thấy thích anh. Tôi sẽ phải hỏi thẩm phán về anh chứ không nói chuyện tiếp với anh nữa. Bây giờ thì tôi phải làm cho xong buổi Thánh lễ đã.” Rồi ông ra lệnh bằng tiếng Đức: “Đằng sau, quay! Bước!”

Khi Švejk quay trở lại nhóm những người mặc quần áo lót của mình ở dưới bục giảng, mọi người hỏi anh tuyên úy đã muốn gì, anh trả lời khô khan và vắn tắt:

“Ông ấy say.”

Buổi Thánh lễ của tuyên úy được mọi người rất chú ý theo dõi với sự cảm thông không giấu giếm. Thậm chí có một người ở dưới bục giảng còn đánh cuộc là tuyên úy sẽ đánh rơi Hào quang. Người ấy cuộc suất bánh mì của mình đổi lại hai cái tát và người ấy đã thắng.

Cái thu hút tâm hồn tất cả mọi người khi theo dõi các buổi hành lễ của tuyên úy không phải là cái thần bí huyền nhiệm của những người tin đạo hay lòng thành kính của những người Kitô giáo thực sự. Đó là cảm xúc tương tự như ở trong nhà hát, khi mà chúng ta không biết nội dung vở kịch, câu chuyện có tình tiết đan xen nhau và chúng ta háo hức chờ xem nó kết thúc như thế nào. Họ đắm chìm trong hình ảnh ông tuyên úy rất tận tụy hành lễ ở bàn thờ.

Họ dành quan tâm đến hưởng thụ nghệ thuật khi chiêm ngưỡng cái áo lễ ông tuyên úy đã mặc trái, với sự cảm thông và hăng hái nhiệt tình, họ theo dõi tất cả những gì xảy ra ở bàn thờ.

Người giúp lễ có mái tóc đỏ, một kẻ từ bỏ đội ngũ những người nhà thờ, một chuyên gia trong các vụ ăn cắp vặt ở trung đoàn 28, đang cố gắng hết sức để nhớ lại cách tiến hành, những bài đọc và toàn bộ nghi thức Thánh lễ. Người đó vừa là người giúp lễ, vừa làm người nhắc cho tuyên úy. Còn tuyên úy thì hoàn toàn coi nhẹ vấn đề, ông đảo lộn thứ tự các câu, có khi trong buổi Thánh lễ bình thường ông đọc theo sách Lễ Roma đến tận lễ Mùa Vọng và bắt đầu hát các bài thánh ca Mùa Vọng làm cho tất cả cảm thấy rất hài lòng.

Ông không biết hát, cũng chẳng có tai nghe nhạc, thành ra dưới vòm mái của nhà nguyện, cái tiếng hét và rít re ré của ông vang lên như tiếng ở trong chuồng lợn vậy.

“Tay này hôm nay say quá,” tất cả mọi người đứng trước bàn thờ đều hoàn toàn hài lòng và phấn khởi nói, “đến bí tỉ. Lại lên cơn rồi! Chắc là uống ở chỗ bọn con gái.”

Tiếng hát của tuyên úy “Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an!” giống như tiếng hét trong chiến trận của thổ dân da đỏ, có lẽ đã vang lên ở bàn thờ đến lần thứ ba, làm rung cả cửa sổ.

Sau đó, tuyên úy nhìn một lần nữa vào chén Thánh, xem trong đó có còn sót giọt rượu nào không, rồi nhún vai một cách thất vọng và quay lại các thính giả:

“Còn bây giờ thì các anh có thể về phòng, lễ xong rồi, đồ vô lại ạ. Tôi để ý thấy là các anh chẳng hề tỏ lòng thành kính thực sự mà đáng lẽ các anh phải có, khi mà các anh đứng mặt đối mặt với bàn thờ thiêng liêng nhất, quân đê tiện ạ. Mặt đối mặt với Đức Chúa Trời cao cả nhất, nhưng các anh cười to tiếng, các anh ho, khạc nhổ, các anh giậm chân mà không hề xấu hổ, thậm chí làm thế cả ngay trước mặt tôi là người thay mặt cho Đức Mẹ Maria, cho Đức Chúa Jesus và cho Đức Chúa Cha. Nếu mà lần sau các anh vẫn còn làm như thế thì tôi sẽ cho các anh biết tay, cho đáng đời các anh, và để các anh biết là không chỉ có một địa ngục như tôi đã nói trong buổi giảng lần trước, mà còn có cả địa ngục ở trên trần gian. Và nếu mà các anh thoát khỏi địa ngục thứ nhất thì có tôi đây, các anh sẽ không thoát được địa ngục thứ hai!” – Rồi ông kết thúc bằng tiếng Đức – “Giải tán!”

Tuyên úy, người đã biến cái lệ đi thăm tù nhân cổ hủ vô cùng khó chịu thành cái tuyệt vời như thế trong thực tế, đi vào phòng thánh. Ông cởi áo lễ, rót rượu Thánh từ hũ ra bình và uống cạn. Sau đó, nhờ người giúp lễ tóc đỏ đỡ, ông leo lên con ngựa buộc ở ngoài sân, nhưng chợt nhớ ra Švejk, ông lại tụt xuống rồi đi vào văn phòng của sĩ quan thẩm phán Bernis.

Ông Bernis, thẩm phán của tòa án quân sự, là một người giao thiệp rộng, một người khiêu vũ lịch lãm đồng thời cũng là kẻ chơi bơi trác táng. Ông chán mớ đời mọi thứ ở đây và thường viết các bài thơ bằng tiếng Đức vào các sổ lưu niệm để dự trữ, sẵn sàng cho mọi lúc cần đến. Ông là thành phần quan trọng nhất trong cả bộ máy tòa án quân sự, và bởi vì ông còn nợ vô thiên lủng các hồ sơ chưa giải quyết xong và giấy tờ công văn thì hết sức linh tinh nên tòa án quân sự ở Hradčany phải nể ông. Ông đánh mất tài liệu cáo trạng và phải bịa ra tài liệu mới. Ông đảo lộn tên người, mất định hướng trong các tình tiết của tài liệu cáo trạng và đưa vào tình tiết mới mà ông nghĩ ra. Ông xử kẻ đào ngũ tội ăn cắp và kẻ ăn cắp tội đào ngũ. Ông nhầm lẫn cả những vụ án chính trị mà ông tự nghĩ ra. Ông thử nghiệm đủ mọi cách để buộc bị cáo nhận những tội mà chính bản thân họ không bao giờ nghĩ là sẽ làm. Ông bịa ra đủ các lời lăng mạ xúc phạm Quốc vương và gán những lời ấy cho những bị cáo mà tài liệu cáo trạng hoặc tố giác về họ bị mất trong cái rối loạn triền miên về công văn giấy tờ và thư tín ở công sở.

“Chào cậu,” tuyên úy bắt tay thẩm phán và nói, “thế nào, có khỏe không?”

“Không được tốt lắm,” thẩm phán viên Bernis trả lời, “họ xáo trộn tài liệu giấy tờ thành ra chẳng ma nào biết đường nào mà lần được. Hôm qua tớ gửi lên trên tài liệu đã soạn về một tay có tội nổi loạn, nhưng họ gửi trả lại tớ, rằng trường hợp này không phải là nổi loạn, mà là tội ăn cắp đồ hộp. Ấy là tớ đã đánh số công văn bằng con số khác đấy, nhưng có trời mới biết làm sao mà họ phát hiện ra được.” Nói đoạn, ông thẩm phán nhổ bọt.

“Dạo này có còn đi đánh bài không?” tuyên úy hỏi.

“Đánh bài ư, tớ thua hết rồi. Hôm vừa rồi chúng tớ chơi macao⦾ với tay đại tá hói đầu, hắn nuốt tất của tớ rồi. Nhưng mà này, tớ có biết một con bé nhé! Còn cậu, bây giờ đang làm gì, thưa Đức Giáo hoàng?”

“Tớ cần một lính hầu. Tên hầu trước đây của tớ vốn là một gã kế toán già không qua đào tạo ở nhà trường, nhưng lại là thằng khốn kiếp hạng nhất, chỉ toàn rên rỉ rồi cầu nguyện để Chúa bảo vệ hắn. Thế là tớ cho hắn đi theo tiểu đoàn ra mặt trận. Nghe bảo tiểu đoàn ấy bị đánh tan tành. Sau đó tớ lĩnh một thằng hầu chẳng làm gì cả, ngoài việc ngồi trong quán uống bia rượu bằng tiền của tớ. Kể ra thì hắn cũng là người còn chịu được, nhưng mà hắn lại hay ra mồ hôi chân. Thế là tớ cũng gửi hắn theo tiểu đoàn ra trận. Hôm nay khi giảng kinh, tớ gặp một tay bật khóc vì làm trò đùa. Tớ cần một người như thế. Tay ấy tên là Švejk, hắn ngồi ở phòng mười sáu. Tớ muốn biết vì sao hắn bị giam, và xem có thể có cách nào để tớ đưa hắn khỏi nơi đây.”

Viện thẩm phán lục tìm giấy tờ về Švejk trong các ngăn kéo, nhưng như thường lệ, ông không thể tìm ra được cái gì cả.

“Chắc là nó ở chỗ đại úy Linhart,” ông thẩm phán nói sau một hồi lục lọi, “có trời biết các công văn giấy tờ của tớ biến đi đâu hết. Có thể là tớ đã gửi lên đại úy Linhart rồi. Để tớ gọi điện ngay lên đấy… Alo, tôi trung úy thẩm phán Bernis đây, thưa đại úy. Tôi xin hỏi, đại úy có tài liệu về một người tên là Švejk không ạ?… Tài liệu ấy phải ở chỗ tôi ư? Lạ nhỉ… Tôi đã nhận nó từ tay đại úy ư? Thế thì quả thật tôi thấy lạ quá… Vâng, ở phòng mười sáu… Vâng, thưa đại úy, tôi biết là phòng mười sáu thuộc về tôi ạ… Nhưng mà tôi nghĩ là giấy tờ về Švejk đang lăn lóc đâu đấy ở chỗ đại úy… A, đại úy không muốn tôi nói như vậy với đại úy ư? Rằng chẳng có giấy tờ nào lăn lóc ở chỗ đại úy ư? Alo… alô…”

Thẩm phán viên Bernis ngồi vào bàn và phẫn nộ phê bình những cái lộn xộn trong việc điều tra. Đã từ lâu, giữa ông và đại úy Linhart có mối thù địch mà cả hai đều nuôi giữ rất triệt để. Nếu có tài liệu nào thuộc về đại úy Linhart bị rơi vào tay trung úy Bernis, thì trung úy sắp xếp nó đến mức mà sau đó không ai có thể biết nó đầu đuôi ra làm sao. Đại úy Linhart cũng làm như vậy với những tài liệu thuộc về trung úy Bernis. Tất nhiên là họ làm mất các tài liệu hồ sơ của nhau.⦾

(Mãi sau ngày đảo chính, hồ sơ giấy tờ về Švejk mới được tìm thấy ở lưu trữ của tòa án quân sự với chú thích sau: “Có ý định trút bỏ mặt nạ giả dối, công khai đứng ra chống lại Quốc vương và nhà nước của chúng ta.” Những giấy tờ ấy được nhét vào tập hồ sơ của một người nào đó tên là Josef Koudela. Ở ngoài bìa tập hồ sơ có dấu gạch chéo chữ thập, bên dưới là dòng chữ “Đã giải quyết” có đề thêm ngày tháng.)

“Thế là tớ mất Švejk rồi,” thẩm phán Bernis nói, “tớ sẽ cho gọi hắn đến, nếu hắn không thú nhận cái gì cả thì tớ thả hắn và cho dẫn hắn đến cậu. Rồi cậu sẽ lên giải quyết với trung đoàn.”

Sau khi tuyên úy đi khỏi, ông thẩm phán cho giải Švejk đến và để anh đứng chờ ở cửa, bởi vì vừa lúc đó ông nhận được tin nhắn qua điện thoại, rằng tài liệu mà ông yêu cầu cho hồ sơ cáo trạng số 7267 của người lính bộ binh mang tên Maixner đã được chuyển đến văn phòng số 1 và đã được đại úy Linhart ký nhận.

Trong lúc chờ đợi, Švejk ngắm nhìn văn phòng của thẩm phán.

Không thể nói rằng căn phòng ấy mang lại ấn tượng tốt đẹp, đặc biệt là các bức ảnh treo trên tường. Đó là những bức ảnh chụp đủ các cuộc xử tử hình mà quân đội đã thực hiện ở Galicia và Serbia. Toàn là những bức ảnh nghệ thuật với các ngôi nhà bị thiêu trụi và những cành cây uốn cong vì sức nặng của những thân người bị treo cổ. Đặc biệt nghệ thuật là bức chụp ở Serbia với một gia đình bị treo cổ. Một đứa con trai nhỏ, ông bố và bà mẹ. Hai người lính mang súng cắm lưỡi lê đứng canh cái cây treo những người bị tử hình và một sĩ quan nào đó miệng hút thuốc lá đứng ở phía trước như người thắng trận. Ở đằng sau phía đối diện có thể nhìn thấy bếp ăn quân đội đang hoạt động.

“Thế nào? Việc của anh thì thế nào, hả Švejk?” ông Bernis hỏi khi đặt tin điện thoại sang một bên, coi như là việc đã giải quyết xong, “Anh đã làm gì vậy? Anh định thú tội, hay là còn chờ đến khi bị buộc tội? Cứ thế này mãi thì không được đâu! Anh đừng tưởng là anh đứng trước tòa án có những quan tòa xét xử là người thường dân ngu ngốc, mà đây là tòa án quân sự. Chỉ thú tội thì anh mới có thể được cứu vớt khỏi sự trừng phạt nghiêm khắc và công bằng mà thôi.”

Thẩm phán Bernis có một phương pháp điều tra đặc biệt khi mất tài liệu chống bị cáo. Nhưng chúng ta thấy việc đó hoàn toàn chẳng có gì là đặc biệt và chúng ta cũng không được phép ngạc nhiên là kết quả của cuộc điều tra và hỏi cung như thế trong mọi trường hợp đều là con số không.

Và ông thẩm phán Bernis bao giờ cũng cảm thấy mình là người sáng ý, khi mà ông không có tài liệu chống lại bị cáo, không biết người ấy bị buộc tội gì, vì sao mà ngồi tù, nhưng kết hợp việc quan sát cách cư xử với diện mạo của người bị giải đến lấy cung là ông biết có lẽ vì sao mà người ấy bị giam ở nhà tù quân đội.

Cái sáng ý và hiểu biết về mọi người của ông lớn đến mức mà có một gã người Digan bị giải từ trung đoàn tới trại giam vì tội ăn cắp mấy tá quần áo (gã đã giúp việc cho nhân viên ở nhà kho) bị ông buộc là phạm tội chính trị. Rằng nghe bảo ở trong một quán ăn nào đó, gã Digan ấy đã nói với lính về việc thành lập nhà nước dân tộc độc lập của Vương quốc Séc và Slovakia, với Quốc vương là người Slav đứng đầu.

“Chúng tôi có tài liệu,” ông nói với gã Digan bất hạnh, “anh không còn con đường nào khác là thú nhận anh đã nói thế ở quán nào, những người lính đã nghe anh nói thuộc trung đoàn nào và anh đã nói khi nào.”

Gã Digan bất hạnh bịa ra ngày tháng, cả quán ăn, cả tên của trung đoàn có những người lính đã nghe gã nói, và khi đi khỏi chỗ hỏi cung, gã trốn biến khỏi nhà tù.

“Anh không muốn thú nhận cái gì cả,” thẩm phán Bernis nói, khi thấy Švejk im lặng không hé môi, “thế anh không muốn nói tại sao anh lại ở đây, tại sao mà anh bị giam à? Ít ra thì anh có thể nói cho tôi biết, trước khi tôi nói cho anh biết. Tôi nhắc lại một lần nữa là anh nên tự thú. Như vậy thì tốt cho anh hơn, bởi vì việc điều tra sẽ dễ dàng hơn và hình phạt cũng nhẹ hơn. Về mặt này thì ở đây cũng giống như ở bên tòa án dân sự.”

“Báo cáo ông,” Švejk cất giọng hiền lành, “tôi ở trại giam này như là người nhặt được.”

“Anh nghĩ thế là thế nào?”

“Báo cáo, tôi có thể giải thích một cách rất là đơn giản. Ở phố tôi có một người làm than và người này có một đứa con trai hai tuổi hoàn toàn vô tội. Có một lần thằng bé này đi bộ từ Vinohrad đến tận Libeň, rồi cảnh sát ở đấy nhặt được nó lúc nó ngồi ở vỉa hè. Thế là ông ấy đưa thằng bé đến trạm cảnh sát và người ta giam nó ở đấy, giam thằng bé hai tuổi ông ạ. Đấy, ông thấy đấy, thằng bé con hoàn toàn vô tội, thế mà cũng bị giam. Giá mà nó biết nói và có người nào hỏi tại sao bị giam, thì nó cũng chẳng biết được tại sao. Với tôi thì cũng tương tự như thế. Người ta cũng nhặt được tôi.”

Cái nhìn sắc sảo của ông thẩm phán chững lại ở người và trên khuôn mặt của Švejk. Cái thờ ơ và sự vô tội sáng lên từ sinh linh đang đứng trước mặt ông khiến ông điên tiết đi đi lại lại trong phòng. Giá mà ông không hứa với tuyên úy là sẽ gửi Švejk đến đó thì có trời biết cái gì sẽ xảy ra với Švejk.

Cuối cùng thì ông thẩm phán cũng dừng lại ở bàn của mình.

“Này,” ông nói với Švejk đang thờ ơ nhìn về phía trước mặt, “nếu mà còn gặp anh lần nữa thì tôi sẽ cho anh nhớ đời!” Nói đoạn, ông ra lệnh: “Giải hắn đi!”

Người ta giải Švejk trở lại phòng mười sáu. Trong khi đó, ông thẩm phán cho gọi ông giám thị trại giam Slavík tới và nói ngắn gọn:

“Cho đến khi có quyết định mới, ông hãy gửi Švejk đến phục vụ tuyên úy Katz. Ông làm giấy tờ ra trại rồi cho hai người giải Švejk đến chỗ tuyên úy.”

“Có còng tay anh ta không ạ, thưa trung úy?”

Ông thẩm phán đập tay xuống bàn: “Anh là đồ con bò! Tôi đã bảo anh rõ ràng là chuẩn bị giấy ra trại!”

Thế là tất cả những gì xảy ra trong ngày hôm ấy, đại úy Linhart và cả Švejk nữa, tràn ngập tâm hồn ông thẩm phán và trào ra như con sông dữ, đổ lên đầu giám thị trại giam. Rồi ông kết thúc bằng câu:

“Thế bây giờ anh đã hiểu ra rằng anh là đồ con bò mang vương miện chưa, hả?”

Lẽ ra thì chỉ có thể nói như vậy với các nhà vua và hoàng đế, nhưng mà ông giám thị, một con người đơn giản, một cái đầu không vương miện, cũng chẳng lấy điều đó làm hài lòng. Khi rời phòng của thẩm phán, ông ta đá túi bụi một tù nhân đang dọn hành lang.

Còn Švejk thì ông giám thị cho rằng anh phải ngủ ở trại giam ít nhất một đêm nữa, để còn có thể hưởng thụ thêm một chút.

Một đêm trải qua ở trại giam quân đội bao giờ cũng là một trong những kỷ niệm đáng yêu.

Bên cạnh phòng mười sáu có một phòng biệt giam – cái chỗ rất buồn thảm. Cả trong đêm ấy cũng nghe thấy tiếng rú của người lính nào đó bị giam vọng ra. Do vi phạm kỷ luật mà người ấy đã bị trung sĩ Řepa bẻ xương sườn theo lệnh của giám thị Slavík.

Lúc tiếng rú dừng hẳn thì lại nghe thấy tiếng nổ lép bép của các con rận bị giết giữa các ngón tay tù nhân khi họ bắt rận.

Ở trên tường bên trên cửa ra vào có chỗ hổng chắn bằng lưới mắt cáo, sau cái lưới là một ngọn đèn dầu bốc khói, hắt ánh sáng tờ mờ xuống phòng. Mùi khét của khói đèn dầu trộn lẫn với mùi hôi của các tù nhân không tắm rửa và mùi thối của cái xô đựng phân và nước tiểu. Cứ mỗi lần có ai thải vào đó thì cái thứ chứa trong xô lại sóng sánh và một mùi hôi mới lại dậy lên, tỏa ra khắp phòng số mười sáu.

Thức ăn tồi tàn làm cho tất cả các tù nhân có vấn đề về đường tiêu hóa và phần lớn bị đầy bụng. Trong cái im ắng ban đêm, họ xì hơi ra phòng, tạo thành những tiếng đối thoại với đủ các câu đùa khác nhau.

Tiếng chân bước đều đều của lính gác vang bên ngoài hành lang, thỉnh thoảng người coi trại giam mở lỗ nhòm trên cửa để nhìn vào phòng.

Từ chiếc giường ở giữa phòng vang lên tiếng kể nho nhỏ:

“Trước khi tôi bỏ trốn rồi bị chuyển đến đây thì tôi ngồi ở phòng số mười hai. Ở đấy toàn người tội nhẹ hơn. Một lần, người ta giải đến đấy một người nhà quê. Hắn bị giam mười bốn ngày vì để cho lính ngủ ở nhà mình. Lúc đầu, người ta nghĩ rằng đó là âm mưu chống đối, nhưng rồi được giải thích rằng hắn làm vậy vì tiền. Đáng lẽ là được giam ở chỗ tội phạm nhẹ nhất, nhưng vì đây không còn chỗ, người ta mới đưa hắn đến chỗ chúng tôi. Trời ạ, hắn mang theo người không biết bao nhiêu thứ, người nhà ở quê cũng gửi lên bao nhiêu thứ, bởi vì hắn được phép tự mang theo thức ăn để cải thiện sinh hoạt. Hắn cũng được phép hút thuốc nữa. Hắn có hai tảng giăm bông, một cái bánh mì to đùng, trứng, bơ, thuốc lá, thuốc lá sợi, nói chung là hắn có đủ thứ mà ta có thể mơ tưởng đến được. Tất cả bằng ấy thứ hắn bỏ vào hai cái ba lô và nghĩ là sẽ ăn một mình. Khi thấy hắn không muốn chia sẻ với mọi người như những người khác đã từng làm khi nhận được quà từ gia đình, chúng tôi bắt đầu xin hắn. Nhưng hắn là một thằng cha keo kiệt tham ăn, hắn bảo rằng không cho chúng tôi được, vì hắn bị giam mười bốn ngày và nếu ăn cơm tù nhân với rau bắp cải xoăn và khoai tây thối thì hắn sẽ bị đau dạ dày, rằng hắn sẵn sàng nhường cơm ấy và cả khẩu phần bánh mì được phát cho chúng tôi, rằng chúng tôi hãy chia cho nhau những thứ ấy, hay là đánh số thứ tự mà lấy. Các anh ạ, hắn còn là một người rất thanh lịch, không muốn thải vào xô, mà nhịn đến ngày hôm sau khi được ra sân thở khí trời thì hắn mới đi vào nhà xí. Hắn cũng còn sang trọng đến mức là mang theo người cả giấy vệ sinh. Chúng tôi bảo hắn là không thèm cái khẩu phần tù nhân của hắn, và chúng tôi đã chịu đựng ngày thứ nhất, ngày thứ hai, ngày thứ ba. Trong khi đó, hắn ăn giăm bông, phết bơ lên bánh mì, bóc trứng luộc, nói tóm lại là hắn sống đàng hoàng. Hắn hút thuốc và chẳng cho ai hít cùng lấy một hơi. Hắn bảo chúng tôi không được phép hút thuốc, nếu mà giám thị trông thấy hắn cho chúng tôi hút chung thì hắn sẽ bị giam. Như tôi đã bảo rồi, chúng tôi chịu đựng như thế được ba ngày. Vào ban đêm sang ngày thứ tư thì chúng tôi đã hành động. Buổi sáng hôm sau hắn dậy. Ấy, tôi quên mất không nói là trước khi ăn vào buổi sáng, buổi trưa và buổi chiều bao giờ hắn cũng cầu nguyện rất lâu. Vậy là sáng hôm ấy, vừa cầu nguyện, hắn vừa đưa mắt nhìn hai cái ba lô ở dưới giường. Ừ, ba lô có ở dưới ấy thật, nhưng cả hai cái đều lép kẹp. Thế là hắn gào toáng lên rằng bị mất cắp, rằng bọn kẻ cắp chỉ để lại cho hắn có giấy vệ sinh thôi. Sau đó khoảng năm phút thì hắn lại nghĩ là chúng tôi đùa, rằng chúng tôi đã giấu mọi thứ vào đâu đấy. Hắn vẫn còn nói vui vẻ: ‘Tôi biết là các anh chỉ trêu chọc cợt nhả thế thôi, chứ các anh sẽ trả lại tôi, nhưng mà các anh giỏi đấy.’ Cùng phòng với chúng tôi có một cậu người ở Liber, cậu ấy bảo hắn: ‘Ông biết không, bây giờ ông chui vào chăn, đếm đến mười, rồi xem ba lô.’ Hắn nghe lời và trùm chăn như đứa trẻ ngoan ngoãn rồi đếm: ‘Một, hai, ba…’ Cậu ấy lại bảo: ‘Ông không được đếm nhanh như thế, phải đếm thật chậm cơ!’ Thế là ở bên dưới cái chăn, hắn đếm ngắt từng quãng rất chậm: ‘Một – hai – ba…’ Khi đếm đến mười, hắn tụt xuống giường kiểm tra mấy cái ba lô của mình. ‘Ối Jesus,’ hắn gào lên, ‘nó vẫn trống rỗng như trước đây này!’ Nhìn cái mặt ngu độn của hắn, chúng tôi cười đến vỡ bụng. Nhưng cậu người ở Liber lại bảo: ‘Ông thử lần nữa đi!’ Các anh có tin là mọi chuyện làm hắn phát ngu đến nỗi hắn thử một lần nữa không? Vì sau đó lại vẫn thấy trong ba lô chẳng có gì ngoài giấy vệ sinh, hắn bắt đầu đập cửa và gào thét: ‘Chúng nó ăn cắp của tôi! Chúng nó ăn cắp của tôi! Cứu tôi với! Mở cửa ra! Trời ơi, mở cửa ra!’ Ngay lập tức, bọn ở ngoài chạy tới rồi gọi giám thị và trung sĩ Řepa đến. Chúng tôi thì ai cũng bảo là hắn đã phát điên, chứ tối hôm qua hắn ăn cả vào ban đêm và ăn hết sạch tất cả rồi. Hắn khóc lóc và cứ nhắc đi nhắc lại: ‘Nhưng ít ra thì phải có vụn vặt rơi vãi ở đâu chứ!’ Thế là bọn chúng đi tìm những mẩu rơi vãi, nhưng không tìm thấy, bởi vì chúng tôi cũng khôn chứ. Những gì ăn không hết, chúng tôi đã thòng dây chuyển phát nhanh đến tầng hai. Bọn chúng chẳng thể vu cho chúng tôi cái gì được, cho dù thằng ngu ấy cứ lải nhải là ‘Ít ra thì phải có rơi vãi ở đâu chứ!’ Cả ngày hôm ấy, hắn chẳng ăn gì cả và cứ để ý theo dõi xem ai không ăn hay không hút thuốc. Ngày hôm sau, vào bữa trưa hắn cũng không động đến khẩu phần ăn, nhưng đến chiều thì hắn thấy khoai tây thối với rau bắp cải xoăn ăn cũng được, chỉ có điều hắn không cầu nguyện như những lần cầu nguyện trước lúc ăn giăm bông và trứng luộc nữa. Rồi một người trong số chúng tôi chẳng biết làm thế nào mà nhận được thuốc lá gửi từ ngoài vào, lúc ấy hắn mới bắt đầu nói với chúng tôi, để xem chúng tôi có cho hắn hít một tí nào không. Nhưng chúng tôi chẳng cho hắn cái gì hết.”

“Ấy, tôi đã sợ là các anh cho hắn hút cùng,” Švejk nhận định, “vì nếu thế thì anh làm hỏng mất toàn bộ câu chuyện anh kể. Những cái cao thượng như vậy chỉ có ở trong tiểu thuyết mà thôi, chứ ở trong hoàn cảnh nhà tù quân đội thì đó là điều ngu ngốc.”

“Thế các anh có đánh hắn không?” có tiếng ai đó hỏi.

“Không, chúng tôi đã quên mất.”

Mọi người tranh luận khẽ với nhau về việc có nên đánh người như hắn, hay là không. Đa số cho là nên đánh.

Tiếng nói chuyện tắt dần dần. Tất cả chìm vào giấc ngủ, chỉ có tiếng gãi sồn sột dưới nách, trên ngực và trên bụng, nơi có các con rận trú ẩn nhiều nhất ở dưới áo lót.

Họ ngủ, kéo cái chăn đầy rận trùm lên đầu để che ánh sáng của ngọn đèn dầu…

Tám giờ sáng hôm sau, người ta gọi Švejk lên văn phòng.

“Ở phía bên trái cửa vào văn phòng có cái ống nhổ, người ta thường vứt đầu mẩu thuốc lá vào đấy,” một người bảo Švejk. “Sau đó ở tầng một cậu cũng đi qua một ống nhổ khác. Tận lúc chín giờ người ta mới quét hành lang nên ở đấy chắc cũng sẽ có.”

Nhưng Švejk đã khiến cả đám thất vọng. Anh đã không quay trở lại phòng mười sáu nữa. Mười chín bộ đồ lót còn lại đã suy nghĩ và phỏng đoán đủ thứ chuyện khác nhau.

Người có trí tưởng tượng phong phú nhất là một anh lính mặt đầy tàn nhang, thuộc lục quân Áo. Anh này đã loan tin rằng Švejk đã bắn vào đại úy của mình, rằng ngày hôm nay Švejk đã bị giải đến sân tập ở Motol và bị tử hình.

← Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an.

← Theodor Kohn (1845–1915), người Séc, thuộc gia đình thường dân và có nguồn gốc Do Thái. Trong những năm 1892–1904, ông là Tổng giám mục Tổng giáo phận Olomouc. Do thái độ cư xử cứng rắn đến chuyên quyền, ông phải từ chức vào năm 1904. (Olomouc, thành phố vốn là thủ phủ lịch sử của Morava, cách Praha khoảng 210km về phía đông).

← Josef Svatopluk Machar (1864–1942), nhà thơ, nhà văn Séc. Ông có quan điểm chống tôn giáo và Giáo hội, nhưng đã đứng ra ủng hộ Tổng giám mục Theodor Kohn.

← Những người ở tuổi làm nghĩa vụ quân sự, nếu có trình độ học vấn từ trung học trở lên, chỉ phải đi lính trong thời gian một năm, được gọi là lính tình nguyện một năm.

← Một loại bài lá chơi ăn tiền gồm 32 quân, có nguồn gốc từ Áo.

← maso là trò chơi giải trí lúc nhàm chán, người chơi chập ngón tay trỏ và ngón giữa để đánh đối thủ, hoặc đánh vào hai ngón tay tương tự, hoặc đánh vào mông trần, ai không chịu được đau là người thua cuộc.

← Một kiểu chơi bài lá với 52 con bài của Pháp (bộ bài Tây, Tú lơ khơ).

← Ba mươi phần trăm tù nhân trong trại giam đã ngồi tù suốt cả thời gian có chiến tranh mà không một lần nào bị hỏi cung. (TG)

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.