Vận Mệnh Người Lính Tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới

Lượt đọc: 26 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Švejk trở thành lính hầu của tuyên úy Katz

❊ ❊ ❊

1

Cuộc phiêu lưu của Švejk bắt đầu bằng việc hai người lính mang súng gắn lưỡi lê đưa anh tới chỗ tuyên úy.

Hai người lính giải anh là những người đàn ông bù trừ cho nhau. Một người cao lênh khênh, gầy nhẳng, còn người thứ hai thì thấp tè tè và béo mập. Người lính cao khập khiễng bên chân phải, người lính thấp khập khiễng bên chân trái. Cả hai phục vụ ở phía sau trận tuyến, bởi vì từ trước chiến tranh họ đã được miễn nghĩa vụ quân sự hoàn toàn.

Hai người nghiêm trang đi bên cạnh vỉa hè, thỉnh thoảng lại nhìn một cách đầy dè chừng vào Švejk đang đi ở giữa họ và gặp ai cũng giơ tay chào. Quần áo thường dân của Švejk đã bị mất trong trại giam, kể cả chiếc mũ lính mà anh đội khi đi nhập ngũ. Trước khi thả Švejk, người ta đưa cho anh một bộ quân phục của một người nào đó có bụng to và cao hơn Švejk đến một cái đầu.

Cái quần mà anh mặc trên người đủ rộng để nhét thêm ba Švejk nữa vào. Nó kéo dài từ chân lên đến ngực với vô cùng nhiều nếp túm dúm đó, và tự nhiên nó trở thành vật hút mắt các khán giả hiếu kỳ ngoài đường. Cái áo rộng thùng thình, bóng lên vì cáu bẩn có các miếng vá ở hai khuỷu tay, đung đưa trên người Švejk như chiếc áo khoác trên vai hình nộm đuổi chim ở ngoài đồng. Cái quần buộc túm vào người anh, trông như quần thằng hề ở rạp xiếc. Cái mũ lính bị đổi ở trong trại giam cũng rộng trùm xuống kín tai.

Đáp lại những nụ cười của khán giả, Švejk nhẹ nhàng mỉm cười, đôi mắt hiền hậu của anh ấm áp và đầy trìu mến.

Và thế là họ đi đến Karlin, tới căn hộ của tuyên úy.

Người lính thấp béo lên tiếng đầu tiên và nói với Švejk, vừa lúc họ đi dưới hàng hiên nhà ở Malá Strana.

“Cậu người ở đâu?” người ấy hỏi.

“Ở Praha.”

“Cậu không chạy trốn chúng tớ chứ?”

Người lính cao gầy xen vào chuyện. Kể cũng lạ, nếu những người thấp và béo phần lớn là những người tốt bụng lạc quan, thì ngược lại, những người cao và gầy thường là những người hay hoài nghi.

Vì vậy người lính cao nói với người lính thấp: “Giá mà trốn được thì hắn trốn ngay.”

“Nhưng vì sao mà trốn,” người béo lùn nói, “đằng nào mà hắn chẳng được tự do rồi, được ra tù rồi. Tớ đang mang giấy tờ trong gói này đây.”

“Ở giấy tờ mang cho tuyên úy có gì?” người gầy cao hỏi.

“Cái ấy tớ không biết.”

“Thấy chưa, không biết mà cũng nói.”

Họ đi qua cầu Karel trong im lặng. Sang đến phố Karel người béo lùn lại nói với Švejk:

“Cậu có biết vì sao chúng tớ đưa cậu sang ông tuyên úy không?”

“Để đi rửa tội,” Švejk thờ ơ nói, “ngày mai người ta sẽ treo cổ tớ. Bao giờ cũng phải làm như thế, cái đó gọi là sự an ủi tâm linh.”

“Nhưng vì sao mà người ta sẽ…,” người gầy nhẳng thận trọng hỏi, trong khi đó người béo mập nhìn Švejk với ánh mắt chia buồn.

Cả hai là những người thợ thủ công ở nông thôn, là những ông bố của gia đình.

“Tớ không biết,” Švejk trả lời và cười hiền hậu, “tớ không biết về cái gì cả. Chắc hẳn đó là số phận.”

“Chắc là cậu đã sinh ra ở hành tinh bất hạnh,” người lính thấp nói một cách hiểu biết và với lòng thương cảm, “ở Jasenná gần Josefov chỗ tớ thì hồi còn chiến tranh với Phổ người ta cũng treo cổ một người. Họ đến bắt người ấy, chẳng nói cho người ấy biết gì, rồi treo cổ anh ta ở Josefov.”

“Tớ nghĩ là,” người lính cao hoài nghi nói, “người ta chẳng tự nhiên treo cổ ai, bao giờ cũng phải có nguyên nhân nào đó để có thể viện lý do được.”

“Khi không có chiến tranh,” Švejk nhận xét, “người ta còn đưa ra lý do, chứ trong chiến tranh thì một mạng người không đáng kể, chết ở ngoài mặt trận, hay bị treo cổ ở nhà thì có khác gì nhau, đằng nào thì cũng thế.”

“Này, cậu có vẻ thích chính trị chính em nhỉ?” người cao kều hỏi. Qua giọng nói có thể thấy anh ta bắt đầu có cảm tình với Švejk.

“Ừ, tớ thích chính trị chính em mà,” Švejk bật cười.

“Cậu có phải là người của đảng xã hội dân tộc⦾ không?” bây giờ thì người béo lùn bắt đầu thận trọng xen lời. “Ờ mà cái ấy thì có liên quan gì đến chúng tớ cơ chứ? Chỗ nào cũng đầy người và họ đang nhìn chúng ta kìa. Giá mà ít ra có thể đi vào cái ngõ nào để bỏ lưỡi lê xuống cho nó khỏi gây chú ý thế này. Cậu không bỏ trốn chứ? Nếu cậu trốn thì chúng tớ có vấn đề, có phải không, hả Tonik?” anh ta quay sang người cao kều. Người này nói nhỏ:

“Ừ, mình có thể bỏ lưỡi lê xuống. Đây là người của chúng ta mà!”

Người cao kều không hoài nghi nữa, tâm hồn anh tràn đầy lòng thương cảm đối với Švejk. Họ tìm một cái ngõ kín đáo để bỏ lưỡi lê xuống và người lính béo cho phép Švejk được đi bên cạnh anh ta.

“Cậu muốn hút thuốc hả,” anh ta nói, “chẳng biết người ta…” Anh ta định nói là “chẳng biết người ta có cho cậu hút trước khi cậu bị treo cổ không,” nhưng ngừng lại, bởi nghĩ rằng nói thế thì không khéo léo, tế nhị.

Tất cả đều hút thuốc và những người dẫn Švejk bắt đầu tâm sự với anh về gia đình của mình ở Hradec Králové, về vợ con, về mảnh ruộng, về một con bò cái.

“Tớ khát,” Švejk nói. Người cao kều và người lùn tịt nhìn nhau.

“Chúng mình cũng vào chỗ nào đó làm một cốc nhỉ,” cảm thấy người cao kều đồng ý, người lùn tịt nói, “nhưng phải vào chỗ nào không bị người ta để ý.”

“Chúng mình đến quán Kuklík đi,” Švejk gợi ý, “súng thì các cậu mang vào để trong bếp, ông chủ quán Serabona là sokol⦾, không phải sợ gì ông ấy đâu. Ở quán ấy người ta chơi đàn violon, đàn phong cầm,” anh tiếp tục, “bọn con gái ngoài đường cũng đến đấy, kể cả đủ hạng người tử tế không được phép vào Reprezenťak⦾.”

Anh cao kều và anh lùn tịt nhìn nhau một lần nữa rồi anh cao nói: “Thế thì chúng mình vào đấy đi. Từ đây đến Karlín cũng còn xa.”

Trên đường đi, Švejk kể cho họ nghe đủ chuyện cười và tất cả tới quán Kuklík trong tâm trạng rất vui vẻ. Hai người lính giấu súng vào trong bếp theo đúng lời khuyên của Švejk rồi ra quán. Tiếng đàn violon và phong cầm tràn ngập gian quán với những làn điệu của bài hát ưa thích “Ở Pankrác, ở trên đỉnh đồi, có hàng cây xinh…”

Một cô gái nào đó đang ngồi trên đùi một chàng trai trẻ có mái tóc bóng mượt chải rẽ ngôi và khuôn mặt mệt mỏi vì ăn chơi trác táng. Cô hát bằng giọng khàn khàn: “Tôi có cô em yêu, nhưng em theo người khác.”

Một người bán cá muối rong đang say rượu ngủ gục bên một cái bàn, thỉnh thoảng chợt tỉnh giấc và đấm tay xuống bàn, miệng lẩm bẩm: “Không được” rồi lại ngủ tiếp. Ba cô gái khác đang ngồi sau bàn bi a bên dưới tấm gương và ầm ĩ gọi một nhân viên tàu hỏa: “Này anh gì ơi, mua cho chúng em rượu vermut đi nào!” Bên cạnh ban nhạc, có hai người cãi nhau về chuyện có phải ngày hôm qua cảnh sát tuần tra đã tóm được một cô Mařka nào đó không. Một người bảo rằng đã tận mắt nhìn thấy thế, người thứ hai khẳng định là không phải thế, rằng cô ấy đã cùng với một anh lính nào đó đi ngủ ở khách sạn Valše.

Ở ngay cửa ra vào có một người lính đang ngồi với mấy người thường dân và kể cho họ nghe về việc anh ấy bị thương ở Serbia. Tay anh ấy quấn băng và túi anh thì đầy thuốc lá họ cho. Anh ấy nói là không thể uống được nữa, nhưng mà một ông già hói đầu trong nhóm ấy vẫn liên tục mời anh:

“Cứ uống đi, anh lính ạ, ai mà biết được chúng ta có còn gặp nhau nữa không. Tôi bảo họ chơi bài gì cho anh nghe nhé? Anh có thích bài Đứa trẻ mồ côi không?”

Đó là bài hát của ông già hói đầu. Và quả thật chỉ một lúc sau, đàn violon và phong cầm đã rền rĩ nỉ non. Nước mắt rưng rưng, ông già cất giọng run rẩy hát: “Khi đã lớn khôn, nó hỏi mẹ đâu, nó hỏi mẹ đâu…”

Có tiếng từ bàn thứ hai: “Này thôi đi. Xéo đi. Bỏ cái ấy đi. Mồ côi mồ kiếc gì, cút đi.”

Để chứng tỏ mình hơn, khách ở cái bàn đối địch ấy lên tiếng hát: “Chia tay, ôi chia tay, lòng tôi buồn thay, ôi lòng tôi buồn thay…”

Sau khi đã hát ầm ĩ làm át bài Đứa trẻ mồ côi, họ gọi người lính bị thương: “Franta, để mặc chúng nó, lại đây ngồi với chúng tớ. Mặc kệ chúng nó, đưa thuốc lá sang đây, chẳng lẽ cậu lại chuyện trò với bọn kiêu ngạo ấy!”

Švejk cùng hai người tháp tùng của mình say sưa nhìn tất cả cảnh ấy. Anh nhớ lại thời trước khi đi lính, anh đã hay ngồi ở đây. Nhớ đến ông ủy viên cảnh sát Drašner, người thường đến đây kiểm soát. Lũ gái điếm rất sợ ông ấy và đã nghĩ ra bài vè để hát đã ông, rồi có một lần cả bọn đã đồng ca:

Thời ông Dra-š-ner

có chuyện lôi thôi rất ê chề.

Có cô Ma-na say bí tỉ,

đi đâu cũng chỉ sợ ông thôi.

Vừa đúng lúc ấy, ông Drašner cùng nhóm nhân viên đến, trông ông thật khủng khiếp và khắc nghiệt. Các cảnh sát mặc thường phục bắt tất cả đứng vào một đám, kể cả Švejk cũng bị đứng ở đó. Nguyên do là khi ông ủy viên cảnh sát yêu cầu anh cho xem giấy tờ, anh đã bảo ông: “Thế ông có được phép của sở cảnh sát không?”

Švejk cũng nhớ đến một nhà thơ, ông ấy thường ngồi ở dưới chỗ treo cái gương và trong cái ồn ào trộn lẫn tiếng hát, tiếng đàn phong cầm ở quán Kuklík, ông làm thơ rồi đọc cho đám gái điếm nghe.

Trái lại, hai người tháp tùng của Švejk chẳng tỏ ra có hồi ức gì, mọi thứ ở đây đều hoàn toàn mới mẻ đối với họ. Và họ bắt đầu thấy thích thú. Người đầu tiên cảm thấy hoàn toàn hài lòng là anh lính thấp béo, bởi vì những người như anh, ngoài niềm lạc quan còn có cả khuynh hướng thích hưởng lạc nữa. Anh lính cao kều thì đấu tranh với mình một hồi. Ngoài sự hoài nghi đã trút bỏ, dần dần anh cũng không thấy xa lạ và cũng không ngần ngại nữa.

“Tớ đi nhảy vài điệu đây,” anh cao kều nói sau khi cạn năm cốc bia và nhìn thấy mấy cặp đang nhảy một điệu nhảy dân gian mang tên Šlapák.

Anh thấp béo hoàn toàn bị lôi cuốn vào sự hưởng lạc phóng đãng. Ngồi bên cạnh một cô gái nói năng cợt nhả, đôi mắt anh cứ sáng lên.

Còn Švejk thì chỉ uống. Anh cao kều mệt lử vì nhảy, đưa cô bạn nhảy trở lại bàn. Sau đó mọi người hát, nhảy, liên tục uống, tay thì vỗ vỗ vào mông các cô ngồi cùng bàn. Trong cái không khí của sự mua bán tình, của khói thuốc, của rượu bia, lảng vảng đâu đó câu ngạn ngữ xưa “Sống tới đâu hay tới đó.”

Buổi trưa, có một người lính đến ngồi vào bàn của họ và bảo với giá năm koruna anh ta sẽ gây bệnh phù chân voi và nhiễm độc máu. Anh ấy có mang theo ống kim tiêm, sẽ tiêm dầu hỏa vào da chân hoặc vào da tay họ. “Các anh sẽ nằm ít ra là hai tháng, nếu nhổ bọt vào vết sưng thì có thể nằm đến nửa năm, nhất định người ta phải miễn nghĩa vụ quân sự hoàn toàn cho các anh.”

Anh cao kều, lúc đó đã hoàn toàn mất hết sự tỉnh táo, đồng ý vào nhà vệ sinh để người lính kia tiêm dầu hỏa vào da chân. Khi trời đã về chiều, Švejk đề nghị là nên đi đến nhà tuyên úy. Người thấp lùn đã bắt đầu lè nhè, cố lôi kéo Švejk để anh chờ thêm. Người cao kều cũng có cùng ý kiến là ngài tuyên úy có thể chờ. Nhưng Švejk đã chán ngồi ở quán, vì vậy anh dọa họ là sẽ đi một mình.

Thế là tất cả lên đường, nhưng Švejk phải hứa với họ là trên đường đi sẽ còn rẽ vào quán nào nữa.

Họ dừng lại ở một quán cà phê nhỏ tại Florenc. Ở đó, người thấp béo đã bán chiếc đồng hồ bạc của mình để họ có thể tiếp tục vui chơi.

Ra khỏi quán đó, Švejk phải xốc nách cả hai. Anh đã vất vả với họ một cách khủng khiếp. Chân họ luôn luôn khuỵu xuống và chốc chốc họ lại muốn đi đến một quán nào khác nữa. Người thấp lùn suýt làm mất giấy tờ gửi cho tuyên úy, thành ra Švejk phải tự mang.

Švejk cũng liên tục phải nhắc hai người ấy mỗi khi gặp sĩ quan hay cảnh sát đi ngược chiều họ. Sau cuộc vật lộn vất vả vượt sức người, Švejk kéo được cả hai người lính đến ngôi nhà tại đường Královská, nơi tuyên úy ở.

Anh cắm lưỡi lê vào súng cho hai người, chọc tay vào sườn họ bắt phải dẫn anh, chứ không phải anh dẫn họ.

Trên cửa căn hộ ở tầng hai có tấm biển nhỏ để dòng chữ “Otto Katz – Tuyên úy” Một người lính ra mở cửa cho họ. Từ phòng vọng ra tiếng người nói và tiếng chạm lanh canh của chai cốc.

“B… báo – cá … cáo – ngà…ngài – tuy…ên – uy.. úy,” anh cao kều giơ tay chào người lính và khó nhọc lắm mới nói ra lời bằng tiếng Đức, “chúng… chúng tôi – mang – giấy – dẫn – một người lính.”

“Các anh vào đây,” người lính nói, “uống ở đâu mà bệ rạc đến thế này hả? Ngài tuyên úy cũng…” anh ta nhổ bọt.

Người lính mang giấy tờ đi vào phòng trong. Cả ba đứng chờ lâu ở phòng ngoài, cho mãi tận lúc cửa mở ra và ngài tuyên úy không đi, mà bay thẳng ra đến chỗ họ. Trên người, ông chỉ mặc có cái áo chẽn, trong tay cầm điếu xì gà.

“A, thế là anh đã ở đây rồi,” ông nói về phía Švejk, “họ đã dẫn anh đến đây rồi. À này, có diêm không?”

“Báo cáo tuyên úy, tôi không có ạ.”

“A – ấy sao mà lại không có diêm, hả? Người lính nào cũng phải có diêm để đốt thuốc chứ! Người lính không có diêm là người … là người thế nào, hả?”

“Báo cáo, là người không có diêm ạ.”

“Rất tốt, là người không có diêm và không thể châm thuốc cho ai được. Đấy là điều thứ nhất, còn điều thứ hai nữa, anh có bị hôi chân không, hả Švejk?”

“Báo cáo, không hôi ạ.”

“Ừ, đấy là điều thứ hai. Còn bây giờ tôi hỏi điều thứ ba, anh có uống rượu mạnh không hả?”

“Báo cáo, rượu mạnh thì không, tôi chỉ uống rượu Rum thôi ạ.”

“Được, anh hãy nhìn người lính này đây. Ngày hôm nay tôi mượn hắn của trung úy Feldhuber, hắn là lính hầu của trung úy. Nhưng hắn chẳng uống gì cả, hắn là kẻ ki… kiêng rượu, vì thế tôi trả hắn về đại đội. Bởi… bởi vì tôi không cần đến một người như thế. Đó không phải là lính hầu, mà là con bò cái chỉ toàn uống nước, rồi rống lên như… bò thiến.” Nói đoạn, ông quay sang người lính: “Anh là người kiêng rượu, thế mà… mà không biết xấu hổ à, hở đồ ngu? Anh đáng bị ăn vài cái tát, hiểu không?”

Tuyên úy chăm chăm nhìn vào hai người dẫn Švejk đến. Họ đang ngả nghiêng cố gắng đứng thẳng, loạng choạng dựa người vào khẩu súng một cách bất lực.

“Các anh s…s… say rượu,” tuyên úy nói, “các anh s… s… say trong khi thừa… thừa hành nhiệm vụ, tôi sẽ cho gi…giam các anh. Này Švejk, anh hãy tước súng của họ, đưa họ vào trong bếp rồi canh… canh cho đến lúc đội tuần tra đến giải họ đi. Tôi gọ… gọi điện đến doanh trại ngay bây giờ.”

Thế là ngay cả ở đây, lời nói của Napoleon “Trong chiến tranh, tình hình thay đổi từng khoảnh khắc” đã hoàn toàn được khẳng định.

Sáng hôm nay, anh thấp lùn và anh cao kều nghĩ là sẽ mang súng gắn lưỡi lê giải Švejk đi, họ đã sợ rằng anh sẽ bỏ trốn, nhưng rồi chính anh lại đã dẫn họ và cuối cùng thì phải canh họ.

Lúc đầu, cả hai không sao hiểu được cái sự đảo ngược tình thế ấy, cho mãi đến lúc nhận ra mình ngồi ở trong bếp và trông thấy Švejk mang súng gắn lưỡi lê đứng ở trước cửa.

“Tớ muốn uống,” anh lính lạc quan thấp lùn thở dài, còn anh lính cao kều thì lại phát cuồng vì hoài nghi và tuyên bố rằng đây là sự phản bội khốn nạn. Anh ta lớn tiếng buộc tội Švejk đã đưa họ đến tình thế này và trách móc anh, rằng đã hứa với họ là hôm sau sẽ bị treo cổ, nhưng bây giờ thì rõ ràng là anh đã làm trò đùa cả về chuyện đi rửa tội, cả về việc bị treo cổ.

Švejk im lặng đi đi lại lại ở cửa. “Chúng tớ đã ngu như bò,” người cao lênh khênh hét lên.

Sau khi nghe tất cả những lời buộc tội, Švejk lên tiếng:

“Đấy, bây giờ thì ít ra các cậu cũng thấy là trong quân đội chẳng có gì là đường mật ngọt ngào. Tớ chỉ thi hành nghĩa vụ của mình thôi. Tớ bị rơi vào cảnh này cũng giống như các cậu, chỉ có điều là tớ được nữ thần may mắn mỉm cười.”

“Tớ muốn uống,” anh lính lạc quan nhắc lại một cách tuyệt vọng.

Anh lính cao kều đứng dậy, loạng choạng ra đến cửa rồi bảo Švejk: “Thả cho chúng tớ về nhà đi, đừng điên cậu ạ.”

“Tránh xa tớ ra,” Švejk trả lời, “tớ phải canh các cậu. Bây giờ thì chúng mình không biết nhau.”

Ngài tuyên úy xuất hiện ở cửa: “Tôi… tôi không sao gọi điện được đến doanh trại. Bây giờ thì các anh về đi và hãy nhớ là khô… không được rượu chè khi làm nhiệm vụ. Về đi!”

Để giữ danh dự cho tuyên úy, cũng cần phải nói rằng tuyên úy chẳng gọi điện đến doanh trại nào cả, bởi lẽ ở nhà ông không có điện thoại và ông đã chỉ nói chuyện với cái giá đèn.

2

Švejk làm lính hầu cho tuyên úy Otto Katz đã được ba ngày, nhưng suốt thời gian ấy mới chỉ nhìn thấy tuyên úy có một lần. Ngày thứ ba, anh lính hầu của trung úy Helmich đến bảo Švejk đi đón tuyên úy về.

Trên đường đi, anh ta nói cho Švejk biết là tuyên úy đã cãi nhau với trung úy, đã đập phá cái đàn dương cầm nhỏ, bây giờ thì đang say bí tỉ và không muốn đi về nhà. Rằng trung úy Helmich cũng say, đã đuổi tuyên úy ra ngoài hành lang, rằng bây giờ tuyên úy đang ngồi dưới đất ở gần cửa và đang ngủ gà gật.

Lúc tới nơi, Švejk lắc mạnh người tuyên úy. Khi tuyên úy lầu bầu rồi mở mắt ra, Švejk giơ tay chào và thưa:

“Báo cáo tuyên úy, tôi đây ạ.”

“Anh ở đây là sao – anh muốn gì?”

“Báo cáo tuyên úy, tôi đến đón tuyên úy ạ.”

“À ra anh đến đón tôi – thế đón tôi đi đâu?”

“Thưa, đón tuyên úy về nhà tuyên úy ạ.”

“Thế vì sao mà tôi phải về nhà tuyên úy? – chẳng phải tôi đang nhà hay sao?”

“Báo cáo tuyên úy, ngài đang ở ngoài hành lang nhà của người khác ạ.”

“Làm… làm sao – mà tôi đến đây?”

“Báo cáo, tuyên úy đã đến chơi ạ.”

“Chơ… chơi, không, tôi chẳng đế… đến chơi ở đâu. Anh nói bia … bịa.”

Švejk xốc tuyên úy dậy và dựng ông ta vào tường. Tuyên úy ngả bên này, nghiêng bên kia, rồi đổ gục vào Švejk, đồng thời nói: “Tôi ngã đây này. Tôi ngã này,” ông nhắc lại một lần nữa và ngô nghê cười.

Cuối cùng, Švejk cũng ấn được tuyên úy sát vào tường. Trong tư thế mới, tuyên úy lại gà gật ngủ.

Švejk đánh thức tuyên úy dậy. “Anh muốn gì?” tuyên úy hỏi và cố hết sức trượt xuống để ngồi dưới đất. “Anh là ai?”

“Báo cáo tuyên úy,” Švejk trả lời, tay ấn ông ta sát vào tường, “tôi là lính hầu của tuyên úy ạ.”

“Tôi chẳng có thằng lính hầu nào cả,” tuyên úy khó nhọc nói và lại thử gục vào Švejk, “tôi cũng chẳng phải là tuyên úy… Tôi là con lợn,” ông nói thêm bằng giọng trung thực của kẻ say rượu, “Ông buông tôi ra, tôi không biết ông!”

Cuộc vật lộn nhỏ kết thúc bằng chiến thắng hoàn toàn của Švejk. Thừa thắng xông lên, Švejk kéo tuyên úy từ cầu thang xuống đến tận cổng. Tại đó, tuyên úy chống cự để khỏi bị lôi ra ngoài đường. “Tôi không biết ông,” vừa giằng co tuyên úy vừa liên tục khẳng định như vậy. “Ông có biết ông Otto Katz không? Tôi đấy! Tôi đã ở chỗ Tổng giám mục,” tuyên úy la lối om xòm và lấy hết sức bám tay vào cánh cổng. “Vatican đang để ý đến tôi, ông hiểu không?”

Švejk thôi không báo cáo mà nói với tuyên úy bằng giọng rất thân mật.

“Đã bảo là bỏ tay ra,” anh nói, “bỏ ra không tớ chém cho vào tay bây giờ. Đi về nhà, không lôi thôi gì cả!”

Tuyên úy buông tay khỏi cánh cổng rồi quay lại nói với Švejk: “Ừ thì đi, nhưng mà tôi sẽ không đến nhà U Šuhů đâu, tôi vẫn còn đang nợ ở đấy.”

Švejk vừa đẩy vừa mang tuyên úy từ cổng ra đường và kéo ông ta trên vỉa hè theo hướng về nhà.

“Ông ấy là ai thế?” một người nào đó ở ngoài đường hỏi.

“Anh tôi đấy,” Švejk trả lời, “anh ấy được nghỉ phép, thế là lên đây thăm tôi, nhưng anh ấy quá mừng mà uống say, tại vì đã tưởng là tôi chết rồi.”

Nghe những lời cuối cùng, tuyên úy ngâm nga một điệu nhạc trong một vở ca kịch mà chẳng ai nhận ra, ông thẳng người nhìn về phía các khán giả ngoài đường: “Ai trong các anh đã chết thì trong vòng ba ngày người ấy hãy đăng ký ở trụ sở quân đoàn để xác mình được vẩy nước thánh.”

Và tuyên úy im bặt sau khi cố ngã chúi mũi xuống vỉa hè vì bị Švejk xốc nách kéo về nhà.

Với cái đầu chúi về phía trước và đôi chân quấn lại với nhau ở phía sau, tuyên úy lẩm bẩm: “Chúa ở cùng anh chị em… Chúa ở cùng thần trí anh. Chúa ở cùng anh chị em.”

Ở bến xe ngựa, Švejk để tuyên úy ngồi sát tường rồi đi gọi xe. Một người đánh xe tuyên bố là biết rất rõ ông kia, rằng đã có một lần chở ông ấy và sẽ chẳng bao giờ chở ông ấy nữa.

“Ông ta mửa ra cả xe,” người đánh xe nói thẳng thừng, “mà đến tiền xe cũng không trả. Tôi chở ông ấy đến hai tiếng đồng hồ, cho tận đến lúc ông ấy nhớ ra nhà ở đâu. Mãi một tuần sau mới đưa cho tôi năm koruna, ấy là tôi đã phải đến đòi có lẽ ba lần đấy.”

Sau hồi lâu bàn bạc, một người đánh xe nhận chở hai người.

Švejk quay trở lại chỗ tuyên úy, lúc đó đã ngủ. Cái mũ cứng màu đen của ông (vì ông hay mặc thường phục) đã bị người nào đó lấy khỏi đầu rồi mang đi mất.

Švejk đánh thức tuyên úy dậy rồi với sự giúp đỡ của người đánh xe, anh đưa ông vào xe. Ở trong đó, tuyên úy trở nên hoàn toàn mê lú và coi Švejk là đại tá Just của trung đoàn bộ binh 75 và nhắc đi nhắc lại mấy lần: “Cậu đừng giận là tớ mày tao chi tớ với cậu nhé! Tớ là đồ con lợn.”

Có một lúc, xem ra cái xe xóc nảy trên con đường đá gập ghềnh đem lại trí khôn cho tuyên úy. Ông ngồi thẳng dậy và bắt đầu hát một đoạn của một bài hát không quen thuộc. Cũng có thể đó chỉ là cái tưởng tượng của ông mà thôi:

Nhớ lại thời vàng son

bố mang con trên lòng.

Nhà chúng ta ngày ấy

sống ở Merk-lí-na.

Một lúc sau tuyên úy lại rơi vào mê lú và, nheo một con mắt, ông quay sang hỏi Švejk: “Thưa, quý bà có khỏe không ạ?… Quý bà đi nghỉ mát ở đâu chăng?” ông nói sau một lúc im lặng, và nhìn mọi thứ thành hai, ông hỏi: “Quý bà có con trai đã trưởng thành rồi ư?” đồng thời đưa tay chỉ vào Švejk.

“Ngồi xuống!” Švejk quát, khi nhìn thấy tuyên úy định trèo lên ghế, “đừng có tưởng là tớ không dạy được cậu phải có kỷ luật đâu.”

Tuyên úy không nói nữa, ông đưa hai con mắt híp như mắt lợn nhìn ra ngoài xe và hoàn toàn không hiểu được cái gì đang xảy ra với mình.

Quên tất cả mọi khái niệm, ông quay lại nói với Švejk một cách rầu rĩ nhớ nhung: “Xin bà cho tôi hạng nhất.” Rồi loay hoay định cởi quần.

“Cài cúc vào, đồ con lợn ạ!” Švejk quát to, “tất cả mọi người đánh xe đều biết cậu rồi, cậu đã nôn mửa trong xe, bây giờ lại còn làm thế này nữa hả? Đừng có tưởng là hôm nay cũng lại nợ tiền xe như lần trước đâu.”

Tuyên úy đăm chiêu chống tay lên trán và cất tiếng hát: “Chẳng ai yêu tôi nữa…” Nhưng ông ngừng ngay lại và nói bằng tiếng Đức: “Xin lỗi anh bạn nhé, anh là đồ ngốc. Tôi muốn hát gì thì tôi hát chứ!”

Chắc là tuyên úy muốn huýt sáo một điệu nhạc nào đó, nhưng từ miệng ông chỉ ra được tiếng xì… xì… mạnh như thổi bễ làm người đánh xe dừng xe lại. Khi Švejk nói cứ đi tiếp thì tuyên úy bắt đầu châm thuốc, nhưng lại châm ngược vào phía đầu lọc. “Nó không cháy,” ông tuyệt vọng nói sau khi đã quẹt cả bao diêm, “anh lại cứ thổi vào nó.”

Ngay lập tức, ông quên không biết tiếp tục thế nào và bật cười: “Buồn cười nhỉ, chúng ta đang ở trong tàu điện một mình, có phải không hả đồng nghiệp?” Nói đoạn, ông bắt đầu lục tìm trong túi.

“Tôi đánh mất vé rồi!” ông hét lên, “Dừng lại! Phải tìm cho ra cái vé đã!” Nhưng rồi ông phẩy tay chấp nhận: “Thôi, đi đi!”

Rồi ông lẩm bẩm: “Trong những trường hợp thường xảy ra… Vâng ạ, được… Trong tất cả mọi trường hợp… Ông nhầm rồi… Tầng hai à?… Đấy chỉ là viện cớ thôi… Cái ấy chẳng dính dáng gì đến tôi, mà dính đến quý bà… Tôi trả tiền… Tôi có cà phê đen…”

Nửa mơ nửa tỉnh, ông bắt đầu cãi nhau với một kẻ thù tưởng tượng của mình, người không chấp nhận ông có quyền được ngồi gần cửa sổ ở cửa hàng ăn. Sau đó, ông nghĩ xe ngựa là tàu hỏa, ông nghiêng người, hò hét bằng tiếng Séc và tiếng Đức ra ngoài đường phố: “Nymburk, chuyển tàu!”

Švejk kéo tuyên úy về phía mình, tuyên úy quên tàu hỏa và bắt đầu bắt chước đủ thứ tiếng của các con vật. Ông dừng lại lâu nhất con gà trống, tiếng gáy ò ó o của ông đắc thắng vang ra từ chiếc xe ngựa.

Trong một thời gian, tuyên úy hết sức hăng hái, ông ngồi không yên chỗ và cố gắng tìm cách nhảy ra khỏi xe, ông chửi rủa mọi người ở những nơi xe đi qua, rằng họ là đồ khốn kiếp. Ông vứt khăn mùi xoa ra khỏi xe rồi kêu toáng lên đòi xe dừng lại vì ông bị mất hành lý. Rồi ông kể chuyện: “Ở Budějovice có một người đánh trống. Người ấy lấy vợ. Một năm sau thì người ấy chết” và phá lên cười: “Đấy có phải là chuyện cười rất hay không?”

Trong suốt thời gian đó, Švejk đối xử rất nghiêm khắc với tuyên úy. Anh liên tục đấm vào sườn ông ta những lúc ông làm trò đùa như muốn ngã ra khỏi xe hay muốn làm hỏng ghế, nhưng tuyên úy chịu đựng một cách khác thường. Chỉ duy có một lần tuyên úy chống lại và định nhảy ra khỏi xe, tuyên bố là chẳng đi tiếp nữa, bởi vì ông biết là đáng lẽ đi Budějovice thì họ lại đang trên đường đi Podmokly. Trong vòng một phút, Švejk xử lý ngay, buộc ông quay vào xe ngồi như trước, cũng để ý không cho tuyên úy ngủ. Câu nói nhẹ nhàng tử tế nhất của anh là: “Đừng ngủ, đồ chết tiệt ạ!”

Đột nhiên, tuyên úy lên cơn buồn, ông ứa nước mắt hỏi Švejk xem mình có mẹ không.

“Các ông các bà ơi, tôi chỉ có một mình ở trên đời,” ông gào lên từ xe, “thương tôi với!”

“Đừng làm tớ phải xấu hổ,” Švejk nhắc, “thôi đi, kẻo ai cũng bảo cậu say.”

“Anh bạn ơi, tớ có uống gì đâu!” tuyên úy trả lời, “Tớ hoàn toàn tỉnh táo.”

Nhưng ông đột nhiên đứng dậy giơ tay chào và nói bằng tiếng Đức: “Báo cáo đại tá, tôi say mèm… Tôi là con lợn,” ông nhắc lại đến chục lần với nỗi tuyệt vọng thành thật và vô vọng.

Ông quay sang Švejk, liên tục xin nài nỉ: “Ông đuổi tôi khỏi ô tô đi! Tại sao ông chở tôi đi cùng?”

Ông ngồi xuống và lẩm bẩm: “Xung quanh mặt trăng có những tán trăng… Thưa đại úy, ông có tin vào sự bất tử của linh hồn không? Con ngựa có thể lên thiên đường được không?”

Ông cười to, nhưng một lúc sau lại buồn. Nhìn Švejk một cách vô hồn, ông nói: “Xin lỗi ông, hình như tôi đã trông thấy ông ở đâu rồi. Có phải ông đã ở Vienna không? Tôi nhớ ông đã ở chủng viện.”

Ông giải trí một lúc bằng việc ngâm các vần thơ tiếng Latin: “Aurea prima sata est aetas, quae vindice nulo?⦾… tiếp theo thì chịu,” ông nói, “anh quẳng tôi ra ngoài đi. Tại sao anh không muốn đuổi tôi ra? Tôi chẳng làm gì với mình đâu… Tôi muốn ngã dập sống mũi,” ông tuyên bố bằng giọng dứt khoát.

Ông lại tiếp tục bằng giọng van nài: “Bạn yêu quý ơi, cho tôi một cái tát đi.”

“Một cái, hay mấy cái?” Švejk hỏi.

“Hai cái.”

“Này thì đây…”

Tuyên úy đếm to từng cái tát, đồng thời khuôn mặt ông rạng lên vì sung sướng.

“Tốt lắm,” ông nói, “rất tốt cho dạ dày, cho đường tiêu hóa. Vả vào miệng cho tôi một cái nữa đi!… Xin cảm ơn,” ông mừng rỡ kêu lên khi được Švejk đáp ứng ngay lập tức, “tôi vô cùng hài lòng. Xin ông xé cái áo chẽn của tôi đi!”

Ông bày tỏ đủ điều mong ước. Ông muốn Švejk làm trẹo chân ông, muốn Švejk bóp cổ ông, cắt móng tay, nhổ cái răng cửa. Đặc biệt còn tỏ ra mong muốn tử vì đạo, yêu cầu Švejk chặt đầu bỏ vào bao tải vứt xuống sông Vltava.

“Triều thiên với những ngôi sao xung quanh đầu chắc chắn hợp với tôi,” ông hào hứng nói, “tôi cần mười ngôi sao.”

Sau đó ông bắt đầu nói về đua ngựa rồi chuyển nhanh sang vũ điệu ba lê, nhưng cũng không dừng lại lâu ở đấy.

“Anh có nhảy Csárdás⦾ không?” ông hỏi Švejk, “anh có biết điệu nhảy gấu không? Thế này này…”

Ông muốn nhảy lên, nhưng ngã vào Švejk và bị Švejk đấm bốc rồi bị đặt trở lại chỗ ngồi.

“Tôi muốn một cái gì, nhưng mà không biết là cái gì,” tuyên úy gào lên, “anh có biết tôi muốn gì không?” ông cúi gục đầu hoàn toàn chấp nhận.

“Nhưng mà cái tôi muốn thì không việc gì đến tôi,” ông nghiêm túc nói, “cũng chẳng việc gì đến anh. Tôi không biết anh. Sao anh lại dám trấn áp tôi như thế? Anh có biết múa kiếm không?”

Ông trở nên hung hăng hơn và định quật đổ Švejk xuống ghế. Khi Švejk làm cho ông trấn tĩnh lại và chỉ cho ông thấy anh hơn sức, ông hỏi anh: “Hôm nay là ngày thứ hai, hay thứ sáu?” Ông cũng tò mò muốn biết tháng này là tháng mười hai, hay tháng sáu, và thể hiện khả năng lớn trong việc đặt ra đủ các câu hỏi khác nhau. Thí dụ: “Anh có vợ hả? Anh có ăn phô mai Gorgonzola không? Ở nhà anh có rận không? Anh có khỏe không? Con chó của anh có bị bệnh Carê không?”

Ông bắt đầu tâm sự. Ông kể là đang nợ tiền mua giày cưỡi ngựa, cả roi và yên ngựa, rằng trước đây ông bị bệnh lậu và ông đã chữa bệnh bằng thuốc tím.

“Chẳng có thời gian để suy nghĩ về cái gì cả,” ông vừa nấc vừa nói, “có thể anh cho rằng đó là việc rất cay đắng. Nhưng mà anh bảo, hự hự, anh bảo tôi phải làm gì? Hự… Anh phải thứ lỗi cho tôi. Cái phích hay hộp giữ nhiệt,” ông tiếp tục, nhưng quên mất trước đó đã nói gì, “là tên của vật đựng nước uống hay đồ ăn có khả năng giữ được nhiệt độ của những thức ấy. Ông nghĩ bài chơi nào công bằng hơn, ferbl, hay hai mươi mốt⦾, hả đồng nghiệp? Này, quả thật tớ đã trông thấy cậu ở đâu rồi,” ông kêu lên, định ôm Švejk để đưa đôi môi rớt dãi hôn anh, “chúng mình đã đi học cùng với nhau, thằng bạn tốt ạ,” ông trìu mến nói và xoa xoa chân mình, “lâu không gặp cậu, thấy cậu lớn lên nhiều. Bây giờ gặp cậu, tớ mừng lắm, cũng bõ cho những cái khổ sở tớ phải chịu.”

Tuyên úy chợt có cảm hứng thơ và bắt đầu nói về sự trở lại với tia nắng mặt trời của những khuôn mặt rạng rỡ hạnh phúc và những trái tim đầy nhiệt huyết.

Sau đó, tuyên úy quỳ xuống cầu nguyện bài kinh Ave Maria, đồng thời toét miệng cười.

Xe về đến trước nhà nơi tuyên úy ở. Phải khó khăn lắm mới đưa được ông ra khỏi xe.

“Chúng ta đã về đến nơi đâu!” ông gào thét, “Cứu tôi với! Chúng nó bắt cóc tôi! Tôi muốn đi tiếp.” Ông bị lôi ra khỏi xe như thể con ốc luộc bị khêu ra khỏi vỏ. Có một lúc tưởng chừng người ông bị đứt ra, bởi vì hai chân ông bị mắc vào ghế xe. Lúc ấy, ông cười khanh khách là đã đánh lừa được: “Này, các ông làm đứt tôi bây giờ.”

Sau đó, ông bị kéo vào cổng, lên cầu thang vào đến tận phòng rồi bị quẳng xuống ghế sofa như một cái bao tải. Ông tuyên bố là sẽ không trả tiền xe ô tô, khi mà ông đã không gọi xe. Phải mất đến mười lăm phút mới giải thích được cho ông rằng đây chỉ là xe ngựa. Nhưng cả sau đó ông cũng không đồng ý, ông chối là chỉ đi xe ngựa thôi. “Các ông định lừa tôi,” ông nói và nháy mắt nhìn Švejk và cả người đánh xe một cách láu lỉnh, “chúng ta đã đi bộ.”

Rồi đột nhiên lên cơn hào phóng, ông ném cả ví tiền cho người đánh xe: “Này, tôi trả đây, lấy hết đi, vài krejcar⦾ có đáng là bao.”

Đúng ra thì tuyên úy phải nói là ba mươi sáu krejcar có đáng là bao, bởi lẽ trong ví ông không còn hơn nữa. May mà người đánh xe đã lục kỹ các túi quần áo của ông, vừa tìm vừa nói đến mấy cái tát.

“Thế thì đánh tớ đi,” tuyên úy nói, “cậu nghĩ là tớ không chịu được hay sao? Tớ chịu được năm cái của cậu.”

Người đánh xe tìm thấy năm koruna ở túi áo chẽn của tuyên úy. Ông ta bỏ đi, miệng nguyền rủa cái số phận của mình, nguyền rủa cả tuyên úy đã dùng dằng giữ ông và làm ông chẳng kiếm được mấy.

Cũng phải mất một hồi lâu tuyên úy mới ngủ được, bởi vì ông còn tính toán nhiều kế hoạch. Ông muốn làm rất nhiều việc, thí dụ chơi piano, đi đến lớp dạy khiêu vũ, hay rán mấy con cá con.

Sau đó, ông hứa cho Švejk em gái mình, mặc dù ông chẳng có em gái nào cả. Ông cũng muốn được đặt vào giường. Cuối cùng thì ông tuyên bố mong muốn cho cái con người trong ông được công nhận là một thứ gì đó có giá trị ngang như con lợn, rồi ông ngủ thiếp đi.

3

Buổi sáng, khi Švejk bước vào phòng tuyên úy thì ông đang nằm trên ghế sofa và đang cố gắng nghĩ xem cái gì đã xảy ra, có ai đã đổ cái gì lên ông để đến nỗi bây giờ quần ống dính chặt vào cái ghế da.

“Báo cáo tuyên úy,” Švejk nói, “ban đêm tuyên úy đã…” Bằng vài lời, anh giải thích cho tuyên úy rằng ông đã rất nhầm khi nghĩ là bị ai đổ cái gì lên người. Với cái đầu nặng trình trịch, tuyên úy đang cảm thấy buồn chán khó chịu.

“Tôi không thể nhớ ra được,” ông nói, “làm thế nào mà tôi lại từ giường sang nằm ở sofa.”

“Tuyên úy đã không nằm ở giường, ngay sau khi về đến nhà thì chúng tôi đã đặt tuyên úy vào sofa, chứ không vào được đến phòng ngủ.”

“Thế tôi đã làm những gì? Tôi có làm gì không? Hay là tôi đã say?”

“Tuyên úy đã say xỉn ạ, cũng đã mê sảng một tí ạ. Hy vọng là tuyên úy sẽ thấy khỏe ra, nếu ngài cởi quần áo rồi tắm rửa.”

“Tôi thấy như bị ai đánh nhừ tử ấy,” tuyên úy than vãn, “lại khát nữa. Hôm qua tôi có đánh nhau với ai không?”

“Cũng không đến nỗi nào, thưa tuyên úy. Còn cái khát bây giờ thì là hậu quả của cái khát ngày hôm qua. Cái khát này không hết ngay được. Tôi có biết một anh chàng thợ mộc, tay này say lần đầu vào đêm cuối năm 1910. Buổi sáng ngày mùng một tháng Một, hắn khát đến mức không chịu được, thế là hắn đi mua cá trích muối về ăn rồi lại uống. Suốt bốn năm, ngày nào hắn cũng làm như thế mà chẳng ai giúp được hắn, bởi vì cứ vào ngày thứ Bảy là hắn đi mua cá cho cả tuần. Đấy là cái vòng luẩn quẩn, một trung sĩ già của trung đoàn 91 đã nói như vậy.”

Tuyên úy bị hành hạ bơ phờ sau cơn say và đang ở trong tâm trạng phiền muộn tuyệt vọng cùng cực. Nếu ai nghe ông nói vào lúc này thì người ấy sẽ tin chắc chắn rằng ông đi nghe các bài giảng của tiến sĩ Alexandr Batěk: “Chúng ta hãy tuyên chiến một mất một còn với con quỷ rượu, kẻ cướp đi những người đàn ông tốt nhất của chúng ta.” Rằng ông đang đọc cuốn Một trăm ánh sáng đạo đức của tiến sĩ.

Thật ra, ông có sửa đi một chút. “Giá mà dùng thứ đồ uống thượng hạng,” ông nói, “chẳng hạn Arak, Maraschino hay Cognac thì không việc gì, nhưng mà ngày hôm qua tôi đã uống rượu borovička⦾. Tôi cũng thấy lạ là sao tôi có thể uống nó được đến say. Nó có vị rất kinh tởm. Giá mà ít ra nó là rượu Griotte. Người ta nghĩ ra đủ thứ bẩn thỉu khác nhau rồi uống chúng như uống nước. Cái thứ borovička ấy chẳng ngon một tẹo nào, lại chẳng có màu gì cả, uống vào cháy cả họng. Và giá mà ít ra nó là thứ chính hiệu cất từ quả bách xù, loại mà có một lần tôi đã uống ở Morava. Nhưng cái mà tôi uống hôm qua là thứ được pha chế từ cồn gỗ và dầu. Anh có nghe thấy tôi ợ không? Rượu là thuốc độc,” ông khẳng định, “rượu phải là loại chính gốc, chính hiệu, chứ không phải là loại sản xuất trong nhà máy theo kiểu chế biến tổng hợp của người Do Thái. Cũng giống như với rượu Rum ấy, Rum ngon là loại rượu hiếm. Ôi, giá mà ở đây có rượu ořechovka⦾ chính hiệu nhỉ,” ông thở dài, “nó chắc sẽ làm yên dạ dày tôi. Thứ rượu ořechovka giống như của đại úy Šnábl ở Bruska ấy!”

Tuyên úy lục túi quần áo, rồi ngắm nghía cái ví tiền.

“Tôi chỉ có cả thảy ba mươi sáu krejcar. Hay là bán cái ghế sofa nhỉ?” ông tính toán, “Anh bảo sao? Liệu có ai mua ghế sofa không nhỉ? Tôi sẽ nói với ông chủ nhà, là tôi cho ai mượn, hay là nói rằng có ai lấy trộm. À mà không, không bán sofa. Anh hãy đến chỗ đại úy Šnábl, bảo đại úy cho tôi vay một trăm koruna. Ông ấy mới thắng bạc ngày hôm kia. Nếu không vay được của ông ấy thì anh đi Vršovice, vào doanh trại gặp trung úy Mahler. Nếu cũng không vay được thì anh tới Hradčany tìm đại úy Fišer. Anh hãy bảo đại úy là tôi phải trả tiền mua thức ăn cho ngựa, nhưng tiền ấy tôi uống hết rồi. Nếu mà cả ở đấy cũng không vay được thì ta cầm cố cái piano, bất chấp mọi chuyện vậy. Tôi sẽ viết cho anh vài dòng. Anh đừng chịu để người ta từ chối, hãy nói là tôi cần tiền, rằng tôi chẳng còn một xu dính túi. Anh bịa ra cái gì cũng được, nhưng đừng về đây với hai bàn tay trắng, không thì tôi gửi anh ra mặt trận đấy! Anh hãy hỏi đại úy Šnábl xem ông ấy mua rượu ořechovka ở đâu, rồi mua về đây hai chai.”

Švejk thực hiện nhiệm vụ được giao một cách tuyệt vời. Thái độ thân thiện tự nhiên và khuôn mặt thật thà của anh chiếm được lòng tin đến mức cái gì anh nói ra cũng được coi là thật. Švejk cho là không nên nói với đại úy Šnábl và đại úy Fišer, cả với trung úy Mahler, rằng tuyên úy phải trả tiền mua thức ăn cho ngựa, mà nên ủng hộ tuyên úy bằng khẳng định là ông ấy phải trả tiền cấp dưỡng nuôi con. Anh vay được tiền của cả ba người.

Trở về sau chuyến công du vẻ vang, Švejk đưa cho tuyên úy xem ba trăm koruna. Tuyên úy, lúc đó đã tắm rửa sạch sẽ và thay quần áo, rất lấy làm ngạc nhiên.

“Tôi vay liền một thể,” Švejk nói, “để ngày mai, hoặc ngày kia không phải lo lắng gì về tiền nữa. Mà vay cũng rất dễ dàng, chỉ chỗ đại úy Šnábl là tôi phải quỳ xuống xin thôi. Ông ấy là kẻ ghê gớm, nhưng khi tôi nói là tuyên úy phải trả tiền cấp dưỡng nuôi con…”

“Tiền cấp dưỡng nuôi con ư?” tuyên úy kinh hoàng nhắc lại.

“Vâng ạ, thưa tuyên úy, tiền cấp dưỡng nuôi con, trả cho bọn gái điếm ấy. Tuyên úy đã bảo tôi hãy nghĩ ra cái gì, nhưng tôi chẳng biết nghĩ ra được cái gì khác ạ. Ở chỗ tôi, có một tay thợ giày phải trả tiền cấp dưỡng nuôi con cho năm cô một lúc, vì thế mà hắn hết sức tuyệt vọng. Hắn cũng phải vay mượn để trả, ai cũng tin là hắn đang ở tình thế khốn khổ. Mọi người hỏi tôi con bé ấy thế nào, tôi bảo là rất đẹp và nó chưa đến mười lăm tuổi. Thế là họ xin địa chỉ của nó.”

“Ối trời ơi, anh xử sự mới hay làm sao!” tuyên úy thở dài và bắt đầu đi đi lại lại trong phòng. “Thế là lại thêm chuyện đẹp mặt đây,” ông nói và ôm đầu, “tôi đau đầu quá!”

“Tôi đã đưa cho họ địa chỉ một bà già điếc ở phố tôi,” Švejk giải thích, “tôi muốn làm cho đâu ra đấy, bởi vì mệnh lệnh là mệnh lệnh. Tôi không được để bị từ chối – thành ra tôi phải nghĩ ra cái gì đấy. À, người ta đang chờ ở phòng ngoài để lấy cái đàn piano ạ. Tôi đưa người ta đến đây để họ chở cho ta đến hiệu cầm đồ, thưa tuyên úy. Tôi nghĩ là cũng tốt, khi mà ở đây sẽ không có piano. Ở đây sẽ rộng chỗ hơn, chúng ta sẽ có nhiều tiền hơn, và trong vài ngày nữa chúng ta sẽ không phải bận tâm về cái gì. Nếu ông chủ nhà có hỏi chúng ta đã làm gì với cái piano, thì ta bảo ông ấy là đàn bị đứt dây và chúng ta đã đưa nó vào nhà máy để sửa. Tôi cũng đã bảo bà coi nhà để bà ấy không phải ngạc nhiên khi thấy người ta mang đàn ra xe. Tôi cũng tìm được người mua bộ sofa rồi. Đấy là người quen của tôi, chuyên mua bán đồ nội thất cũ. Chiều hôm nay ông ấy sẽ đến. Bây giờ sofa bọc da bán được giá đấy ạ.”

“Ối trời đất ơi, anh còn làm gì nữa thế hả Švejk?” tuyên úy hỏi, hai tay vẫn ôm đầu, trên mặt đầy vẻ tuyệt vọng.

“Báo cáo tuyên úy, loại rượu ořechovka mà đại úy Šnábl thường mua, tuyên úy bảo mua hai chai, nhưng tôi đã mang về năm chai, để nhà ta dự trữ, để có cái mà uống dần ạ. Còn bây giờ thì có cho người ta vào khênh cái piano không ạ? Kẻo hiệu cầm đồ đến giờ đóng cửa ạ.”

Tuyên úy phẩy tay bất lực. Một lúc sau, người ta đã khênh piano ra đặt lên xe.

Khi từ hiệu cầm đồ về, Švejk thấy tuyên úy đang ngồi với chai ořechovka đã mở, miệng thì đang chửi là trong bữa trưa đã ăn phải miếng thịt tẩm bột rán chưa kỹ.

Tuyên úy lại rơi vào trạng thái say sưa. Ông tuyên bố với Švejk là bắt đầu từ ngày mai sẽ sống cuộc sống mới. Rằng uống rượu là biểu hiện của chủ nghĩa duy vật thô tục, rằng nên sống một cuộc sống tinh thần.

Ông triết lý đến nửa tiếng đồng hồ. Khi mở chai rượu thứ ba thì người mua bán đồ nội thất đến. Tuyên úy bán cái ghế sofa rẻ như cho rồi mời người ấy cùng ngồi tranh luận. Ông rất lấy làm không hài lòng khi người ấy xin lỗi là còn phải đi mua bàn ngủ nữa.

“Đáng tiếc là tôi không có cái bàn ngủ nào,” tuyên úy nói bằng giọng than phiền, “con người ta làm sao mà lường hết được mọi thứ.”

Sau khi người mua bán đồ nội thất đi khỏi, tuyên úy ngồi chơi thân mật cùng Švejk và uống với anh một chai rượu nữa. Một phần của cuộc nói chuyện được dành cho quan hệ cá nhân của tuyên úy đối với phụ nữ và các con bài.

Họ đã ngồi lâu. Cho đến chiều tối, cả hai vẫn còn ngồi chuyện trò thân mật.

Nhưng đến đêm thì quan hệ giữa họ thay đổi. Tuyên úy quay trở lại trạng thái của ngày hôm trước, nhầm Švejk với một người nào đó và bảo ông ta: “Đừng, ông đừng đi. Ông có còn nhớ cái cậu học viên sĩ quan tóc đỏ ở bên quân nhu không?”

Cái không khí thanh bình thơ mộng ấy kéo dài cho đến tận lúc Švejk bảo tuyên úy: “Này, quá thể lắm, bây giờ thì cậu bò vào giường, rồi ngủ đi, hiểu không?”

“Ừ thì bò, em yêu ạ, tôi bò. Sao mà lại không bò cơ chứ,” tuyên úy lảm nhảm, “cậu có còn nhớ là chúng mình cùng học lớp năm và tớ đã làm bài tập tiếng Hy Lạp cho cậu không? Ông có biệt thự ở Zbraslav à? Và ông có thể đi tàu thủy ở sông Vltava. Ông có biết Vltava là gì không?”

Švejk bắt tuyên úy tháo giày và cởi quần áo. Ông nghe theo, nhưng tỏ ý phản đối với những người không quen biết. “Đấy, các ông thấy chưa?” ông nói với cái tủ và cây đa cảnh, “người nhà tôi đối xử với tôi như thế đấy. Tôi chẳng biết họ hàng nào cả.” Đột nhiên ông quyết định như thế và nằm xuống giường. “Tôi chẳng biết họ hàng, kể cả khi trời đất chống lại tôi…”

Trong phòng vang lên tiếng ngáy của tuyên úy.

4

Trong những ngày này, Švejk cũng đi đến căn hộ ở chỗ bà Müllerová, người giúp việc của anh. Ở đó, anh gặp bà Kejřová, người chị họ của bà Müllerová. Bà ấy bật khóc bảo anh rằng bà Müllerova bị bắt ngay buổi chiều hôm bà chở anh đi nhập ngũ và đã bị xử ở tòa án quân sự. Vì không chứng minh được gì, người ta giải bà đến trại tập trung ở Steinhot. Bà Müllerová đã gửi bưu thiếp về nhà.

Švejk cầm báu vật gia đình và đọc:

Chị Anika yêu quý! Chúng tôi đang rất sung sướng, tất cả đều khỏe mạnh. Bà nằm giường cạnh em bị sốt phát ban, ở đây cũng có người bị lên đậu mua. Ngoài ra thì mọi việc đều ổn cả. Thức ăn cũng có nhiều và chúng tôi nhặt vỏ khoai tây để nấu súp. Em nghe bảo cậu Švejk cũng đã chet rồi, vậy chị thử tìm xem cậu ấy nằm ở đâu để sau chiến tranh chị em mình đắp mộ cho cậu ấy. Em quên không bảo chị là ở trên tầng mái có con chó con trong cái hộp. Nhưng mà cũng đã mấy tuần rồi không cho nó ăn, từ hôm mà người ta đến bat em. Vì thế em nghĩ là đã muộn rồi, rằng nó cũng về chầu troi rồi.

Tấm bưu thiếp có đóng dấu dài màu hồng bằng tiếng Đức:

Kiểm duyệt.

Trại tập trung hoàng gia Steinhof.

“Quả thật con chó đã chết rồi cậu ạ,” người chị họ của bà Müllerová nức nở, “còn căn hộ thì cậu cũng không nhận ra được đâu. Tôi cho mấy cô thợ may vào ở đây, các cô ấy làm thành salon thời trang nữ, trên tường dán toàn các mốt thời trang, ở cửa sổ thì toàn hoa cảnh.”

Không làm sao an ủi được bà Kejřová. Bà ấy liên tục nức nở ca thán, cuối cùng thì bà sợ là chắc Švejk đã đào ngũ, bây giờ đến gây tai họa cả cho bà, đẩy bà đến sự bất hạnh. Rồi bà nói với anh như nói với kẻ đại bợm xấu xa.

“Thật là chuyện buồn cười,” Švejk nói, “tôi rất thích như vậy. Bà Kejřová ạ, nói để bà biết nhé, bảo là tôi ra được bên ngoài là bà hoàn toàn đúng. Nhưng mà để ra được tôi đã phải giết đến mười lăm trung sĩ cảnh sát và quân đội đấy. Nhưng bà đừng nói cho ai biết…”

Švejk rời căn hộ của mình, nơi không được tiếp nhận, và bảo bà Kejřová:

“Tôi còn có ở nhà giặt mấy cái cổ áo với áo may ô, bà nhớ mang về cho tôi, để khi giải ngũ tôi còn có cái mà mặc. Bà cũng để ý tủ quần áo của tôi, kẻo có mối. Cho tôi gửi lời thăm mấy cô ngủ ở giường của tôi.”

Sau đó, Švejk đi đến quán U Kalicha. Khi nhìn thấy anh, bà vợ ông chủ quán Palivec tuyên bố là sẽ không rót gì cho anh, bởi lẽ chắc là anh đã đào ngũ.

“Khốn nạn thân chồng tôi,” bà lôi chuyện cũ ra, “đã thận trọng đến thế, có tội tình gì đâu mà phải vào tù. Còn những người như anh thì nhởn nhơ trên đời, lại đào ngũ nữa. Tuần trước người ta đến đây tìm anh đấy. Chúng tôi thận trọng hơn anh mà chúng tôi lại gặp họa. Chẳng phải ai cũng có may mắn như anh đâu,” bà kết thúc lời mình.

Có một người khách luống tuổi đã nghe thấy những lời ấy. Đó là ông thợ khóa, người ở Smíchov. Ông đến chỗ Švejk và bảo: “Xin lỗi anh, xin anh chờ tôi ở ngoài kia nhé, tôi có chuyện phải nói với anh.”

Họ nói với nhau ở ngoài đường. Nghe theo lời bà vợ ông chủ quán, người đàn ông ấy cũng coi Švejk là người đào ngũ. Ông bảo Švejk là con trai ông cũng đào ngũ và bây giờ thì nó đang trốn ở chỗ bà nội ở Jasenná gần Josefov.

Mặc cho Švejk quả quyết rằng mình không phải là kẻ đào ngũ, người đàn ông ấy dúi vào tay anh mười koruna.

“Có một tí giúp anh lúc khởi đầu,” ông nói rồi kéo Švejk vào một quán rượu ở góc phố, “tôi hiểu anh, không việc gì phải sợ tôi đâu, anh ạ.”

Švejk trở về muộn vào ban đêm, nhưng tuyên úy vẫn còn chưa có ở nhà. Mãi đến gần sáng ông mới về, ông đánh thức Švejk dậy và bảo: “Ngày mai chúng ta đi làm Thánh lễ ngoài trời. Anh pha cà phê đen với rượu Rum, hay là pha grog⦾, ừ phải đấy, grog thì tốt hơn.”

← Một đảng phái chính trị ở Séc thành lập năm 1897.

← Sokol, tên đầy đủ trong tiếng Séc là Česká obec sokolská, là một tổ chức thể dục của Séc, thành lập năm 1862. Đây là tổ chức thể dục toàn dân lớn nhất và thành công nhất ở Séc. Sokol bị giải thể năm 1941 và lần thứ hai năm 1951, được tổ chức lại vào năm 1990.

← Cách gọi trong dân gian của từ tiếng Séc Reprezentační dům hay Obecní dům. Đây là ngôi nhà ở trung tâm Praha, xây dựng trong những năm 1902–1905 theo kiểu kiến trúc Tân Nghệ thuật. Trong ngôi nhà có nhiều phòng lớn dành cho các hoạt động văn hóa nghệ thuật, lớn nhất là phòng mang tên nhà soạn nhạc Séc Bedřich Smetana. Ở đây cũng có nhiều tiệm ăn, quán cà phê. Obecní dům là địa điểm tham quan nổi tiếng của Praha.

← Vần thơ trong tác phẩm Metarmophoses của nhà thơ La Mã Publius Ovidus Naso (43 TCN -17?), tạm dịch là Kỷ nguyên đầu tiên là Kỷ nguyên vàng, (khi) không biết đến tòa án.

← Điệu nhảy dân tộc của người Hungary.

jednadvacet là loại bài lá có nguồn gốc từ Pháp, một trong những loại bài chơi ăn tiền rất phổ biến ở Séc. Người chơi dùng cỗ bài 32 con dành cho kiểu chơi mariáš.

← Tiền xu bằng bạc, mệnh giá nhỏ, phát hành từ năm 1271, được sử dụng ở địa phận Séc từ năm 1561.

← Loại rượu mạnh chưng cất từ quả bách xù (Juniper berry).

← Loại rượu ngâm quả óc chó rất tốt cho dạ dày và đường tiêu hóa.

← Đồ uống pha bằng rượu Rum và nước nóng, có thể có thêm đường và nước chanh, thường uống nóng, đặc biệt vào mùa rét. Đây được cho là đồ uống từ thế kỷ 18 của thủy thủ Hải quân Hoàng gia Anh.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.