Vận Mệnh Người Lính Tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới

Lượt đọc: 26 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Švejk trở thành lính hầu của trung úy Lukáš

❊ ❊ ❊

1

Sự may mắn sung sướng của Švejk không tồn tại được lâu. Vận mệnh không thương tiếc đã cắt đứt quan hệ thân thiết giữa anh và tuyên úy. Nếu mà cho đến lúc xảy ra sự việc đó, tuyên úy đã tỏ ra là một con người có cảm tình thì bây giờ, cái mà ông đã làm hoàn toàn rũ bỏ bộ mặt có cảm tình của ông.

Tuyên úy đã bán Švejk cho trung úy Lukáš, hay đúng ra mà nói thì ông đã đem Švejk ra gán nợ vì bị thua bạc. Trước đây ở Nga người ta bán nô lệ cũng tương tự như vậy. Việc đó xảy ra hoàn toàn bất ngờ. Ở nhà trung úy Lukáš có nhiều khách và cuộc chơi của họ rất vui vẻ, họ đã chơi bài lá hai mươi mốt.

Tuyên úy đã thua hết, cuối cùng hỏi: “Anh cho tôi vay bao nhiêu nếu tôi thế chấp lính hầu của tôi? Đấy là một gã vô cùng ngu ngốc nhưng là nhân vật thú vị, có một không hai. Chắc chắn trung úy chưa bao giờ có một lính hầu như thế.”

“Tôi cho anh vay một trăm koruna,” trung úy Lukáš mặc cả, “nếu ngày kia không trả tôi thì anh chuyển cái có một không hai ấy đến đây. Thằng hầu của tôi là đứa rất đáng ghét. Hắn thở ngắn than dài suốt, chỉ viết thư về nhà, lại còn có tính tắt mắt nữa. Tôi đánh hắn, nhưng vô hiệu. Cứ trông thấy hắn là tôi bạt tai, nhưng cũng chẳng đỡ được tí nào. Tôi tát hắn gãy mất mấy cái răng cửa rồi mà hắn vẫn chứng nào tật ấy.”

“Đồng ý,” tuyên úy nhẹ dạ trả lời, “ngày kia hoặc là một trăm koruna, hoặc là Švejk.”

Tuyên úy thua luôn cả một trăm koruna ấy và buồn bã đi về nhà. Ông biết chắc chắn, và cũng chẳng ngờ vực một chút nào, rằng cho đến ngày kia ông không thể tìm đâu ra được một trăm koruna và thế cũng tức là ông đã bán Švejk một cách khốn khổ khốn nạn.

“Mình đã có thể lấy hai trăm koruna,” tuyên úy lấy làm tiếc. Nhưng khi chuyển sang tuyến tàu điện chỉ đi một lúc nữa là về đến nhà, ông chợt thấy bị lương tâm cắn rứt và cảm thấy bâng khuâng hối tiếc.

“Mình đã xử sự chẳng ra gì,” ông nghĩ, khi bấm chuông cửa căn hộ của mình, “sẽ nhìn thế nào được vào cặp mắt ngu ngốc nhưng hiền hậu của hắn đây?”

Vào đến phòng, ông nói: “Anh Švejk quý mến ạ, ngày hôm nay đã xảy ra một điều bất thường. Tôi đã không gặp may khi đánh bạc. Tôi xướng hop vơ tiền cầm cái, trong tay tôi có con eso, rồi bốc được con mười, nhưng nhà cái có trong tay quân bồi và cũng kéo lên được đến hai mươi mốt điểm. Mấy lần tôi bốc được con eso với con mười, nhưng lần nào cũng chỉ bằng điểm của nhà cái. Tôi đã thua tất tần tật.”

Tuyên úy ngừng lại, rồi tiếp tục: “Cuối cùng thì tôi thua mất cả anh. Tôi lấy anh ra thế chấp để vay một trăm koruna, nếu ngày kia tôi không đem trả thì anh không còn là của tôi nữa, mà thuộc về trung úy Lukáš. Tôi rất lấy làm ân hận…”

“Một trăm koruna thì được,” Švejk nói, “tôi có thể cho tuyên úy vay.”

“Anh cho tôi vay đi,” tuyên úy như tỉnh lại, “tôi mang ngay đến trả trung úy Lukáš. Thật sự tôi không muốn phải chia tay với anh.”

Trung úy Lukáš rất ngạc nhiên khi lại trông thấy tuyên úy.

“Tôi đi trả nợ anh đây,” tuyên úy nói và đưa con mắt đắc thắng nhìn quanh, “các anh chia bài cả cho tôi nữa đi.”

“Hop,” tuyên úy hô lên khi đến lượt đánh. “Chỉ hai mươi mốt ăn,” ông nói, “hoài của, tôi quá điểm.”

“Lại hop nữa này,” tuyên úy lại hô ở vòng thứ hai, “hop – blind.”

“Hai mươi điểm thì ăn,” nhà cái tuyên bố.

“Ôi, tôi chỉ có mười chín điểm,” tuyên úy buồn rầu nói khẽ và đặt thêm bốn mươi koruna vào tiền cầm cái. Đó là bốn mươi koruna cuối cùng từ một trăm koruna mà Švejk đã cho ông vay để thoát khỏi cảnh nô lệ mới.

Trên đường về nhà, tuyên úy đi đến kết luận rằng thế là hết, rằng không cái gì có thể cứu vãn được Švejk, rằng số phận đã định sẵn là Švejk phải phục vụ trung úy Lukáš.

Và khi Švejk ra mở cửa, tuyên úy bảo anh: “Mọi thứ đều vô ích, Švejk ạ. Không ai có thể chống lại được vận mệnh. Tôi mất anh, thua cả một trăm koruna của anh rồi. Tôi đã làm tất cả mọi việc tôi có thể làm, nhưng mà vận mệnh còn mạnh hơn tôi. Vận mệnh đã đẩy anh vào nanh vuốt của trung úy Lukáš rồi. Bây giờ đã đến lúc chúng ta phải chia tay nhau.”

“Thế tiền cầm cái có nhiều không?” Švejk bình tĩnh hỏi, “hay là tuyên úy đã dừng nhiều? Khi mà không có con bài tốt thì tình hình rất xấu, nhưng mà nhiều lúc lại khốn khổ khi có con bài quá tốt. Ở Zderaz có một ông thợ thiếc tên là Vejvoda và ông ấy thường chơi mariáš ở một quán ăn đằng sau quán cà phê Thế kỷ. Một lần, chẳng biết ma xui quỷ khiến thế nào mà ông ấy bảo mọi người: ‘Này, chúng mình chơi bài hai mươi mốt đi, chơi cược năm haléř thôi.’ Thế là họ chơi bài hai mươi mốt, mỗi người đặt năm haléř vào tiền cầm cái và ông Vejvoda làm nhà cái. Tất cả mọi người đều úp bài, thành ra số tiền cầm cái tăng lên đến một chục koruna. Ông Vejvoda muốn cho ai đó thắng, nên cứ liên tục tuyên bố: ‘Bài thấp bài xấu ăn.’ Nhưng ông thử tưởng tượng mà xem, ông ấy chẳng gặp may, mãi không ai nhặt được con bài thấp nào để ăn, thế là tiền cầm cái lên đến một trăm koruna. Không một người nào có bằng ấy tiền để có thể hô hop và ngả bài, còn ông Vejvoda thì toát cả mồ hôi. Ở bàn chẳng nghe thấy gì ngoài câu gọi của ông ấy: ‘Bài thấp bài xấu ăn.’ Tất cả đều cược thêm, mỗi lần năm haléř, nhưng tiền đều rơi cả vào chỗ cầm cái. Một ông thợ thông ống khói tức mình quá, bèn về nhà lấy tiền và khi mà tiền cầm cái lên đến một trăm rưỡi koruna thì ông ấy hô hop. Ông Vejvoda muốn cho xong chuyện, sau này ông ấy nói là lúc đó chẳng hạn muốn kéo lên đến tận ba mươi điểm, miễn sao để ông ấy úp bài, nhưng mà trớ trêu thay, ông ấy lại bốc được hai con eso. Ông ấy giả tảng là không có gì cả và cố tình nói: ‘Mười sáu ăn.’ Ấy vậy mà ông thợ thông ống khói chỉ có vẻn vẹn mười lăm điểm. Thế thì tuyên úy bảo có rủi không cơ chứ! Ông Vejvoda nhợt nhạt cả người và lấy làm bất hạnh, còn mọi người thì bắt đầu la lối mắng chửi và thầm thì với nhau rằng chắc chắn ông ấy gian lận đánh tráo các con bài, rằng có lần ông đã bị đánh vì chơi gian, mặc dù ông là người chơi tử tế thành thực nhất, và họ tới tấp bỏ thêm vào tiền cầm cái. Số tiền ấy lên đến năm trăm koruna. Ông chủ quán chịu không nổi nữa. Ông ấy vừa mới chuẩn bị sẵn món tiền để đến nhà máy bia, thế là ông lấy tiền ấy ra, ngồi vào bàn và đặt cược mỗi lần hai trăm koruna. Sau đó ông nheo mắt, xoay chiếc ghế đang ngồi để lấy may rồi nói là cược tất cả số tiền cầm cái, và bảo rằng ‘Chúng ta sẽ chơi với bài lật ngửa. Tôi nghĩ lúc ấy ông Vejvoda thà mất cái gì cũng được, miễn là làm sao không thắng.’ Tất cả mọi người kinh ngạc khi thấy ông bốc bài, lật ra thì đó là con bảy, nhưng ông lại giữ nó. Ông chủ quán mỉm cười đắc chí vì đã có hai mươi mốt điểm. Đến vòng tiếp theo, ông Vejvoda lại bốc được con bảy và cũng lại giữ nó trên tay. ‘Bây giờ mà bốc con eso, hay con mười,’ ông chủ quán nói một cách ác ý, ‘thì tôi xin cuộc đầu tôi, là ông sẽ thua trắng, ông Vejvoda ạ.’ Trong phòng im lặng như tờ. Ông Vejvoda lật con bài, và đó là con bảy thứ ba. Mặt ông chủ quán trắng bệch như tờ giấy, ông đã cược số tiền cuối cùng của mình. Ông đi vào bếp và một lúc sau thì thằng bé học nghề của ông chạy ra, bảo chúng tôi vào cắt dây cho ông chủ quán, rằng ông ấy đang treo cổ ở tay nắm cửa trên cửa sổ. Thế là chúng tôi cắt dây, làm ông ấy tỉnh lại, rồi chơi tiếp. Chẳng ai còn xu nào nữa, tất cả tiền đều nằm trong đám tiền nhà cái ở phía trước mặt ông Vejvoda. Ông này thì cứ chỉ liên tục gọi: ‘Bài thấp bài xấu ăn.’ và cho dù có được gán thêm cả trời thì ông cũng vẫn cứ muốn úp bài. Nhưng mà vì sau khi bốc phải lật bài lên bàn nên ông không thể dối trá và cố tình kéo quá điểm được. Tất cả phát điên lên vì thấy ông may mắn, và vì không còn tiền, họ đã quyết định là sẽ viết giấy nợ đặt vào đám tiền nhà cái. Mấy tiếng đồng hồ sau, đống tiền nhà cái đã tăng lên hàng nghìn và hàng nghìn. Ông thợ thông ống khói đã nợ tiền nhà cái đến hơn một triệu rưỡi, ông bán than ở Zderaz nợ khoảng một triệu, ông coi nhà ở quán cà phê Thế kỷ nợ tám trăm nghìn koruna, ông bác sĩ nợ trên hai triệu. Chỉ ở trong hộp đựng tiền phí chơi bài thôi cũng có tới trên ba trăm nghìn koruna theo các mẩu giấy ghi nợ. Ông Vejvoda thử đủ kiểu. Ông liên tục ra nhà vệ sinh, mỗi lần đi ông lại nhờ một người cầm bài hộ và khi trở lại thì người ta lại báo cho ông biết là đã bốc bài cho ông và ông lại được hai mươi mốt điểm. Người ta đem bộ bài mới đến, nhưng vẫn vô hiệu. Khi ông Vejvoda dừng lại ở mười lăm điểm, thì người khác lại chỉ có mười bốn điểm. Mọi người điên tiết nhìn ông Vejvoda, người chửi rủa nhiều nhất là ông thợ lát đá, mà ông này thì chỉ đặt cược vẻn vẹn có tám koruna tiền mặt. Ông ấy nói thẳng thừng ra là những người như ông Vejvoda đúng ra thì không được sống trên thế gian, mà phải bị đem ra mà đá, mà quẳng đi, mà dìm chết như dìm lũ chó con. Tuyên úy không thể tưởng tượng được ông Vejvoda đã tuyệt vọng đến mức nào đâu ạ. Cuối cùng thì ông ấy nghĩ ra một cách. ‘Tôi ra nhà vệ sinh,’ ông nói với ông thợ thông ống khói, ‘ông cầm bài hộ tôi nhé.’ Và chẳng đội mũ, ông Vejvoda chạy ra đường, đến thẳng phố Myslivecká để gọi cảnh sát. Ông gặp được nhóm cảnh sát tuần tra và báo cho họ biết, rằng ở quán nọ có người đánh bạc. Cảnh sát bảo ông đi trước, họ sẽ đến ngay sau ông. Vậy là ông quay trở về quán, mọi người bảo ông rằng trong lúc ông vắng mặt thì ông bác sĩ đã thua tới hơn hai triệu và ông coi nhà hơn ba triệu. Rằng người ta đã bỏ vào hộp đựng tiền phí chơi bài các giấy nợ có trị giá tới năm trăm nghìn koruna. Một lúc sau, cảnh sát ập vào phòng, ông thợ lát đá kêu lên: ‘Mạnh ai nấy chạy!’ nhưng mà cũng chẳng thoát được. Cảnh sát tịch thu tiền nhà cái và giải tất cả lên trạm cảnh sát. Ông hàng than chống cự, thế là bị đưa lên xe cũi kéo đi. Đếm tiền nhà cái thì thấy có hơn nửa tỉ koruna ở các giấy nợ và một nghìn rưỡi tiền mặt. ‘Tôi chưa từng gặp trường hợp nào thế này,’ ông thanh tra cảnh sát nói, ‘khi thấy con số khổng lồ như vậy, cái này còn ghê gớm hơn cả Monte Carlo.’ Trừ ông Vejvoda, tất cả mọi người đã phải ở phòng cảnh sát qua đêm. Cảnh sát thả ông lão Vejvoda như thả người tố giác và hứa theo như luật pháp sẽ cho ông nhận một phần ba số tiền nhà cái đã bị tịch thu, tức là khoảng hơn một trăm sáu mươi triệu. Nhưng cũng vì thế mà cho đến sáng ông ấy đã phát điên, vào buổi sáng ông ấy đi khắp Praha đặt mua hàng tá két đựng tiền kiên cố. Cái đó gọi là sự may mắn trong cờ bạc.”

Sau đó, Švejk đi pha grog và cuối cùng thì khi Švejk lôi được tuyên úy vào giường, tuyên úy rưng rưng khóc:

“Tớ đã bán cậu, anh bạn ơi, tớ đã bán cậu một cách nhục nhã. Cậu nguyền rủa tớ đi, đánh tớ đi, tớ chịu tất. Tớ đã bỏ cậu đi như ném con mồi. Tớ không thể nào nhìn vào mắt cậu được. Tra tấn, cắn xé, giết chết tớ đi. Tớ chẳng xứng đáng được hưởng cái gì hơn thế. Cậu có biết tớ là ai không?”

Úp mặt đầy nước mắt xuống gối, tuyên úy thì thầm bằng một giọng nhẹ nhàng êm ái: “Tớ là một thằng khốn nạn mất nhân tính,” rồi lăn ra ngủ mê mệt.

Ngày hôm sau, vẫn tránh con mắt nhìn của Švejk, tuyên úy bỏ nhà đi từ sáng sớm đến tận đêm mới về, kéo theo một người lính bộ binh béo mập.

“Anh bảo cậu ấy mọi thứ ở đâu,” tuyên úy nói, vẫn lại tránh nhìn vào mắt Švejk, “để cho cậu ấy biết đường mà lần, và dạy cho cậu ấy cách pha grog. Sáng mai thì anh hãy đến trình trung úy Lukáš.”

Švejk và người đàn ông mới cùng thức một đêm rất thoải mái bằng việc pha grog. Đến sáng thì người lính béo hầu như không đứng lên được, anh ta chỉ lẩm nhẩm hát một chuỗi những câu hát lộn xộn bài này sang bài kia: “Nước chảy xung quanh ở Chodov, chỗ người yêu tôi rót bia đỏ. Núi ơi, núi ơi, núi rất cao. Các cô thiếu nữ đi trên đường, còn anh nông dân đang cày ruộng.”

“Tớ chẳng phải lo gì về cậu,” Švejk nói, “với tài năng này thì cậu sẽ ở đây mãi với tuyên úy được.”

Và kết quả là buổi sáng hôm đó, lần đầu tiên trung úy Lukáš nhìn thấy khuôn mặt trung thực thật thà của người lính tốt Švejk, người thưa với ông: “Xin báo cáo trung úy, tôi là Švejk mà tuyên úy đã làm mất khi đánh bạc ạ.”

2

Thể chế các lính hầu của sĩ quan có nguồn gốc rất xa xưa. Hình như có thể là ngay Alexander Đại đế cũng đã có lính hầu của mình. Nhưng điều chắc chắn là trong thời chế độ phong kiến thì vai trò này do lính của các hiệp sĩ đảm nhiệm. Sancho Panza của Don Quixote đã là ai? Tôi lấy làm lạ là cho đến bây giờ vẫn chưa có ai viết về lịch sử các lính hầu. Nếu có viết thì chúng ta có thể tìm thấy ở đó chuyện kể là khi thành Toledo bị bao vây, Công tước của Almavira vì đói đã ăn thịt lính hầu của mình mà chẳng cần chấm muối. Sau này, chính công tước đã viết về chuyện đó trong hồi ký, kể là thịt người lính hầu của ông mềm mềm, mọng nước tươi ngon, có vị của thịt gà lẫn thịt lừa.

Trong sách cổ Swabia về nghệ thuật chiến tranh, chúng ta thấy có các quy định cho lính hầu trong quân đội. Người lính hầu thời xưa phải là người sùng đạo, có đức hạnh, nói năng thật thà, phải khiêm tốn, dũng cảm, can đảm và trung thực. Nói tóm lại, phải là con người mẫu mực. Thời đại mới đã thay đổi loại người này rất nhiều. Người lính hầu hiện đại thường không sùng đạo, không có đức hạnh cũng chẳng nói năng thật thà. Họ nói dối, lừa đảo người mình hầu hạ, rất nhiều khi biến cuộc sống của cấp trên thành địa ngục thật sự. Đó là những kẻ nô lệ xảo quyệt luôn nghĩ ra đủ mưu mẹo lén lút ngấm ngầm để khiến các ông chủ của mình phải khốn đốn. Trong cái thế hệ những lính hầu này, ta không tìm ra được những sinh linh tận tụy hy sinh, những người dám hiến thân mình để ông chủ ăn không chấm muối, giống như người lính hầu Fernando cao thượng của công tước ở Almavira. Nhưng mặt khác, chúng ta cũng thấy là các sĩ quan chỉ huy, những người chiến đấu một mất một còn với lính hầu thời mới của họ, cũng thường nghĩ ra đủ mọi biện pháp để giữ vững quyền thế. Đó thường là một cách nhất định của hình thức nắm quyền bằng bạo lực. Năm 1912, ở thành phố Graz của Áo có vụ xử án mà nhân vật chính là một ông đại úy, người đã đá chết lính hầu của mình. Lần ấy, ông đại úy được tha tội, bởi lẽ ông mới chỉ làm như thế lần thứ hai trong đời. Trong con mắt của các ông chủ thì tính mạng của lính hầu chẳng có giá trị gì. Người lính hầu chỉ là một đồ vật, trong nhiều trường hợp chỉ là hình nộm tập võ, một kẻ nô lệ, một đứa đầy tớ cho tất cả. Cũng chẳng có gì lạ, rằng cái địa vị như thế đòi hỏi kẻ nô lệ phải tinh ranh xảo quyệt. Địa vị của người ấy ở trên hành tinh của chúng ta chỉ có thể đem ra so sánh được với nỗi khốn khổ của những kẻ học làm bồi bàn thời xa xưa, những kẻ được giáo dục bằng những cái bạt tai và tra tấn để trở thành người có lương tâm.

Nhưng cũng có những trường hợp lính hầu được nâng lên địa vị của người được yêu thích, vào lúc đó thì hắn trở thành nỗi kinh hoàng của đại đội hay của tiểu đoàn. Tất cả sĩ quan đủ cấp bậc đều cố gắng hối lộ hắn, vì hắn là người quyết định cho ai đi nghỉ phép, hắn là người có thể nói thêm vào để việc đó được xét duyệt trôi chảy.

Trong chiến tranh, những người được yêu thích ấy thường được trao tặng huy chương bạc lớn và nhỏ vì lòng dũng cảm và can đảm.

Tôi biết một số người như thế ở trung đoàn 91. Một tay lính hầu được tặng huy chương bạc lớn vì hắn biết nướng những con ngỗng bắt trộm một cách tuyệt ngon. Một tay lính hầu khác được tặng huy chương bạc nhỏ bởi hắn thường nhận được những gói thực phẩm hảo hạng gia đình gửi đến, vì thế mà trong lúc nạn đói lớn nhất hoành hành thì ông chủ của hắn đã phì nộn đến mức không thể đi lại được.

Và ông chủ của hắn đã viết trong đề nghị tặng thưởng huy chương cho hắn như thế này: “Vì công lao thể hiện lòng dũng cảm và can đảm phi thường trong chiến đấu, coi thường tính mạng bản thân, không rời sĩ quan của mình một bước dưới làn đạn của kẻ thù đang tấn công.”

Trong khi ấy thì tại nơi nào đó ở căn cứ, hắn đi cướp bóc các chuồng gia cầm. Chiến tranh làm thay đổi quan hệ giữa lính hầu và ông chủ của hắn và biến hắn thành một kẻ đáng căm ghét nhất trong quân ngũ. Lính hầu bao giờ cũng có cả một hộp thịt, trong khi năm người lính khác chia nhau một hộp. Cái bình bi-đông của lính hầu bao giờ cũng đầy rượu Rum hoặc Cognac. Suốt ngày, cái sinh linh ấy nhai chocolate và ngấu nghiến bánh lương khô ngọt của sĩ quan, hút thuốc lá của ông chủ mình, nấu nướng hàng giờ và mặc loại áo đặc biệt.

Lính hầu của sĩ quan có quan hệ thân thiết nhất với liên lạc viên và thường cho người ấy hưởng lộc rơi lộc vãi béo bở từ bàn ăn, cũng như từ tất cả những đặc quyền đặc lợi hắn có. Họ lấy thêm sĩ quan phụ trách tài chính và tạo thành liên minh tam hùng. Sống trong quan hệ trực tiếp với sĩ quan, bộ ba này biết về tất cả các hoạt động quân sự cũng như các kế hoạch chiến tranh.

Đơn vị nào có hạ sĩ quan chỉ huy là bạn của lính hầu thì đơn vị ấy bao giờ cũng được thông báo sớm nhất về thời gian mở đầu của các hoạt động.

Khi lính hầu nói: “Lúc hai giờ hai nhăm phút chúng ta sẽ rút lui,” thì đúng hai giờ ba mươi lăm phút lính Áo bắt đầu rút quân.

Lính hầu của sĩ quan có quan hệ mật thiết nhất với nhà bếp quân đội, rất thích lảng vảng ở quanh nồi nấu và đòi hỏi như là đang ở trong cửa hàng ăn và có trước mặt thực đơn vậy.

“Tớ muốn miếng sườn,” hắn nói với đầu bếp, “hôm qua cậu đã đưa cho tớ khúc đuôi. Thêm miếng gan vào súp cho tớ, chứ cậu biết là tớ không thèm ăn lá lách.”

Nhưng hoành tráng nhất là cảnh lính hầu hốt hoảng. Khi máy bay địch ném bom thì hắn sợ vãi ra quần. Lúc ấy, hắn mang hành lý của mình và của ông chủ rồi chui trốn vào chỗ an toàn nhất ở dưới hầm, lấy chăn trùm đầu để có gì thì bom không tìm thấy hắn, và không mong ước gì hơn, ngoài việc muốn ông chủ của hắn bị thương để hắn được cùng ông rút về căn cứ, về hậu phương, về nơi rất sâu ở hậu phương.

Cái sợ hãi hốt hoảng của hắn là cái được nuôi dưỡng đều đặn thường xuyên một cách bí ẩn nhất định. “Tôi có cảm tưởng là sếp đang đặt máy điện thoại,” hắn thông báo cẩn mật cho các đơn vị để rồi sung sướng khi được nói: “Sếp đã đặt máy xuống rồi.”

Không ai thích rút quân như hắn. Vào những lúc đó, quên cả việc là lựu đạn và đạn pháo đang vèo vèo bay bên trên đầu, hắn len lỏi không mệt mỏi, mang hành lý tới chỉ huy sở, nơi xe quân nhu đang đỗ. Hắn thích xe quân nhu của Áo và đặc biệt thích được đi xe. Khi không có thì hắn đi cả xe kéo tay hai bánh chuyên dùng cho bệnh viện. Nếu bắt buộc phải đi bộ thì hắn ra vẻ của một người bị tra tấn khổ sở nhất. Vào những lúc như thế, hắn để hành lý của ông chủ ở chiến hào và chỉ mang hành lý của mình.

Nếu xảy ra trường hợp người sĩ quan chạy thoát không bị bắt làm tù binh mà hắn bị bắt thì bất kể trường hợp nào, người lính hầu ấy cũng không quên mang theo hành lý của sĩ quan. Hành lý ấy sẽ trở thành tài sản của hắn, cái tài sản mà bấy lâu hắn mơ ước bằng cả tâm hồn.

Tôi đã trông thấy một người lính hầu bị bắt làm tù binh. Hắn đã đi bộ với mọi người suốt từ Dubno đến tận Darnice ở ngoại ô Kiev. Ngoài cái ba-lô của mình và của người sĩ quan đã chạy thoát, hắn còn mang năm cái va-li nhỏ đủ hình dạng khác nhau, hai cái chăn và cái gối, một bọc hành lý khác thì đội trên đầu. Ấy vậy mà hắn còn than phiền là người Cozak đã lấy cắp mất của hắn hai cái va-li.

Không bao giờ tôi quên được hắn, một con người đã cực nhọc tha các thứ ấy đi suốt Ukraina. Hắn đã là một cái xe sống chở hàng. Tôi không thể nào giải thích được làm sao mà hắn có thể mang nổi bằng ấy thứ, kéo bộ hàng mấy trăm kilomet, sau đó đi xe đến tận Tashkent, canh giữ để rồi chết bên đám hành lý vì bệnh sốt phát ban bị lây ở trong trại tù binh.

Ngày nay, ở nước ta, những người lính hầu của sĩ quan có mặt rải rác khắp nơi và họ kể chuyện về những kỳ tích anh hùng của mình. Họ là những người đã tấn công Sokal và Dubno của Ukraina, Niš của Serbia, Piave của Ý. Ai cũng là một Napoleon: “Tôi đã bảo đại tá của chúng tôi gọi điện đến ban chỉ huy là đã có thể bắt đầu.”

Phần lớn đó là những kẻ phản động và quân lính căm ghét họ. Một số còn đi tố giác và lấy làm vui khi có thể nhìn thấy ai bị giam hãm.

Họ đã phát triển thành một đẳng cấp đặc biệt. Cái sự ích kỷ của họ không biết thế nào là giới hạn.

3

Trung úy Lukáš thuộc diện các sĩ quan chính quy của nhà nước quân chủ Áo đang suy tàn. Trường quân sự đã dạy ông thành một loại lưỡng cư. Ông nói bằng tiếng Đức ở ngoài xã hội, viết bằng tiếng Đức và đọc sách tiếng Séc. Khi dạy ở trường khóa học một năm cho những người Séc tình nguyện, ông đã thân mật bảo họ: “Chúng ta hãy là người Séc, nhưng không người nào phải biết đến điều đó. Tôi cũng là người Séc.”

Ông coi việc là người Séc giống như một tổ chức bí mật nào đó mà tốt nhất là nên tránh xa.

Ngoài ra thì ông là một người tốt bụng không sợ cấp trên, ông luôn chăm lo thích đáng đến đại đội của mình trong các đợt diễn tập. Bao giờ ông cũng tìm được cho quân lính chỗ ăn nghỉ thoải mái ở các trang trại và thường cho họ chút tiền từ đồng lương ít ỏi của mình để họ có thể mua thùng bia về uống.

Ông thích quân lính hát khi diễu hành. Họ phải hát khi đi tập trận, cả trên đường đi tập trận trở về. Ông đi bên cạnh và cùng hát với họ:

Vào lúc nửa đêm đến

lúa mạch nhảy khỏi bao

Bùm bùm bum!

Ông được quân lính quý mến, bởi ông là người hết sức công bằng và không bao giờ hành hạ ai.

Các hạ sĩ quan run rẩy trước mặt ông và chỉ trong vòng một tháng, trung sĩ tàn nhẫn nhất cũng bị ông biến thành con cừu hiền lành.

Đúng ra thì ông cũng biết quát tháo, nhưng không bao giờ chửi rủa. Ông lựa từng câu từng lời. “Anh thấy đấy,” ông nói, “tôi thật sự không muốn trừng phạt anh, nhưng mà tôi không thể làm khác được anh ạ, bởi vì khả năng và dũng khí của quân đội phụ thuộc vào kỷ luật. Quân đội không có kỷ luật giống như cây sậy ngả nghiêng trước gió vậy. Nếu như cái áo khoác của anh không chỉnh tề, những cái cúc áo không được đính chặt chẽ hoặc bị thiếu thì điều đó cho thấy là anh quên nghĩa vụ của mình đối với quân đội. Có thể anh có cảm giác rằng đó là chuyện khó hiểu, chỉ vì hôm qua khi kiểm tra thấy trên áo sơ mi của anh thiếu một cái cúc, một việc nhỏ con không đáng kể, trong cuộc sống dân thường hoàn toàn là chuyện bỏ qua, vậy mà anh lại bị giam. Nhưng anh thấy là ở trong quân đội thì chỉ một sơ suất bên ngoài như vậy thôi cũng phải bị trừng phạt ngay. Và tại sao lại thế: Ở đây không phải là chuyện cái áo của anh thiếu một chiếc cúc, mà là ở chỗ anh phải làm quen với kỷ cương trật tự. Ngày hôm nay anh không đơm cái cúc áo và anh bắt đầu chểnh mảng. Ngày mai anh đã cảm thấy khó khăn khi phải tháo súng để lau, ngày kia anh sẽ để quên lưỡi lê ở quán và cuối cùng thì anh sẽ ngủ ở bốt canh gác, bởi vì từ cái cúc áo bất hạnh ấy, anh bắt đầu sống cuộc sống của kẻ cẩu thả vô tổ chức. Thế đấy anh ạ, và vì vậy tôi phạt để cảnh báo anh trước hình phạt nặng hơn do những việc anh có thể làm, bởi vì anh quên dần dần, nhưng chắc chắn anh sẽ quên nghĩa vụ của mình. Tôi giam anh năm ngày và mong rằng với bánh mì và nước lã anh sẽ suy nghĩ về việc hình phạt không phải là sự trả thù, mà chỉ là phương tiện giáo dục nhằm mục đích sửa đổi và cải tạo người lính bị phạt.”

Lẽ ra ông phải lên đại úy từ lâu rồi, nhưng chưa được lên, bởi vì đối với cấp trên, ông đối xử thật sự thẳng thắn, trong công việc ông hoàn toàn không hề nịnh bợ ai, và sự thận trọng của ông trong vấn đề dân tộc cũng không giúp ích được gì cho việc thăng tiến. Đó là cái ông còn giữ lại được từ tính cách của người nông dân vùng Nam Séc, nơi ông sinh ra ở một ngôi làng giữa những cánh rừng thẳm và các hồ nuôi cá.

Nếu một mặt ông đối xử công bằng với quân lính và không hành hạ họ, thì mặt khác có một điểm đặc biệt trong tính cách ông. Đó là việc ông căm ghét đám lính hầu của mình, bởi vì bao giờ ông cũng có cái may mắn là được nhận về một gã lính hầu đáng ghét nhất và hèn hạ kinh tởm nhất.

Ông tát họ, bạt tai họ và cố gắng dạy bảo bằng lời nói, bằng hành động, và không coi họ là những người lính. Ông chiến đấu một cách vô vọng với họ nhiều năm, luôn luôn thay đổi họ, nhưng cuối cùng thì thở dài: “Mình lại nhận được một tên súc sinh khốn nạn nữa.” Ông coi các lính hầu là một loài động vật bậc thấp.

Trung úy rất thích các con vật. Ông có con chim yến Đức, một con mèo Angora Thổ Nhĩ Kỳ và con chó Schnauzer. Tất cả những người lính hầu luân phiên phục vụ trung úy không đối xử với các con vật này tệ hơn ông đã đối xử với họ, khi họ làm điều gì xấu xa đối với ông.

Họ để cho con chim bị đói, có tên lính hầu chọc thủng một mắt của con mèo, còn con chó thì bị đánh bất kỳ lúc nào lính hầu trông thấy nó. Cuối cùng thì một trong những lính hầu trước Švejk mang con chó tội nghiệp đến Pankrác gặp người chuyên giết động vật để ông ta giết nó. Hắn cũng không tiếc mười koruna tiền riêng trả công ông ấy. Sau đó hắn thông báo cho trung úy một cách đơn giản là con chó đã bỏ chạy mất khi đi dạo. Thế là ngay ngày hôm sau, hắn đã cùng với đại đội luyện tập ở ngoài sân tập.

Khi Švejk đến trình diện để nhận nhiệm vụ, trung úy Lukáš dẫn anh vào phòng và bảo: “Ông tuyên úy Katz đã giới thiệu anh, tôi hy vọng là anh sẽ không làm hổ thẹn cho lời giới thiệu ấy. Tôi đã có đến một tá lính hầu, nhưng chẳng ai ấm chỗ ở đây được lâu. Tôi nói để anh biết là tôi nghiêm khắc, và tôi trừng phạt từng hành động xấu xa, từng lời nói dối. Tôi muốn anh bao giờ cũng nói sự thực và thi hành tất cả mọi mệnh lệnh của tôi mà không kêu ca phàn nàn gì cả. Nếu tôi bảo: ‘Anh hãy nhảy vào lửa.’ thì anh sẽ phải nhảy vào lửa, ngay cả khi anh không muốn. Anh nhìn đi đâu thế hả?”

Švejk đang chăm chú nhìn sang tường bên cạnh, nơi có treo lồng chim với con chim yến, bây giờ anh đưa đôi mắt hiền hậu nhìn trung úy và trả lời bằng giọng dịu dàng tử tế: “Xin báo cáo trung úy, kia là con yến Đức ạ.”

Ngắt lời nói dài dòng của trung úy như thế, Švejk đứng nghiêm theo tư thế quân đội, nhìn thẳng vào mắt ông và không hề chớp mắt.

Trung úy muốn nói một cái gì thật nghiêm khắc, nhưng khi nhìn thấy vẻ mặt vô tội của Švejk, ông chỉ bảo: “Ông tuyên úy giới thiệu anh như một người rất ngu độn, và tôi nghĩ là ông ấy đã không nhầm.”

“Xin báo cáo trung úy, quả thật ngài tuyên úy không nhầm ạ. Khi còn là lính chính quy, tôi đã bị cho giải ngũ vì ngu độn, mà lại còn là ngu độn nổi tiếng nữa. Ở trung đoàn tôi có hai người bị giải ngũ vì cái ngu xuẩn, tôi và một ông đại úy mang tên Kaunitz. Ông này – xin trung úy thứ lỗi – ông này khi đi ở ngoài đường thì cứ chọc ngón tay vào mũi suốt, chọc đồng thời cả hai, ngón tay trái vào lỗ mũi bên trái, ngón tay phải vào lỗ bên phải. Khi đi tập luyện với chúng tôi thì bao giờ cũng để chúng tôi đứng xếp hàng như khi diễu binh vậy và bảo: ‘Các quân lính, e hèm, các anh hãy nhớ, e hèm, rằng hôm nay là thứ Tư, vì ngày mai sẽ là thứ Năm, e hèm.’”

Trung úy Lukáš nhún vai như người không biết và không tìm ngay ra lời để diễn đạt một ý nghĩ nào đó.

Ông đi từ cửa ra vào, lướt qua Švejk để tới cửa sổ đối diện, rồi lại quay trở lại. Và Švejk quay mặt nhìn sang bên phải hoặc sang bên trái, tùy theo lúc đó trung úy đi ở chỗ nào. Khuôn mặt anh hiện rõ vẻ vô tội đến mức làm trung úy cụp mắt nhìn xuống tấm thảm rồi nói một điều gì chẳng hề có dính dáng đến lời kể của Švejk về ông đại úy ngu xuẩn: “Vâng, ở chỗ tôi thì phải gọn gàng, sạch sẽ và không được phép nói dối tôi. Tôi quý sự trung thực. Tôi căm ghét sự dối trá và sẽ trừng phạt không thương tiếc, anh hiểu rõ tôi không?”

“Xin báo cáo trung úy là tôi hiểu ạ. Không có gì xấu hơn việc nói dối. Khi nói dối thì bắt đầu lẫn lộn, vậy là cùng đường. Ở một làng gần Pelhřimov có một thầy giáo tên là Marek và anh ấy yêu cô con gái của người coi rừng tên là Špera. Ông coi rừng nhắn cho thầy giáo biết là nếu có hẹn hò gì với con gái ông ở trong rừng mà ông trông thấy thì ông sẽ bắn lông lợn tẩm muối vào mông anh ấy. Thầy giáo nhắn lại là đâu có hẹn hò gì. Một lần khác thầy lại đi vào rừng để gặp cô gái thì bị ông coi rừng bắt gặp và định bắn mông thầy, nhưng thầy bảo là vào rừng hái hoa. Lần khác nữa thì nói là vào rừng bắt các con bọ, rồi lẫn lộn lung tung ngày một nhiều hơn, cuối cùng thì sợ quá mà thề rằng vào rừng để đặt bẫy bắt thỏ rừng. Thế là ông coi rừng tốt bụng tóm cổ thầy giải đến trạm hiến binh, rồi thầy bị ra tòa, suýt nữa thì phải ngồi tù. Giá mà cứ nói thật thì có phải là chỉ bị bắn lông lợn tẩm muối thôi không. Tôi cho rằng thú nhận và thành thật bao giờ cũng là điều tốt nhất, khi mà đã làm cái gì sai trái thì đến và nói: ‘Xin báo cáo, tôi đã làm cái này hay cái nọ.’ Còn về sự trung thực thì bao giờ đó cũng là điều rất tốt đẹp, bởi vì nói dối thì hay cùng. Cũng giống như ở môn đi bộ thể thao. Khi mà người nào bắt đầu gian trá và chạy thì người ấy bị loại ngay. Anh họ tôi đã bị thế. Người trung thực là người được quý trọng, được tôn vinh ở mọi nơi, là người tự hài lòng với mình, khi đi ngủ thì cảm thấy như được sống lại và có thể nói: ‘Ngày hôm nay mình lại là người trung thực.’”

Trong khi Švejk nói thì trung úy Lukáš đã ngồi xuống ghế từ lâu. Ông nhìn đôi giày của Švejk và nghĩ thầm: “Trời ơi, ngay cả mình cũng thường nói những chuyện vớ vẩn như thế, chỉ khác ở chỗ mình nói bằng hình thức nào thôi.”

Nhưng dù sao, để khỏi mất uy tín, ông nói khi Švejk đã ngừng lời: “Anh phải đánh giày, phải có quân phục chỉnh tề, cúc áo phải đính cẩn thận, phải gây được cảm giác anh là người lính chứ không phải là một kẻ thường dân đáng ghét. Thật là lạ, chẳng người nào trong các anh biết tỏ ra là người lính. Chỉ có một trong các lính hầu của tôi có vẻ lính tráng, nhưng cuối cùng thì hắn ăn cắp bộ quân phục đẹp của tôi rồi đem bán ở chỗ người Do Thái.”

Ông ngừng một chút rồi tiếp tục giải thích cho Švejk tất cả mọi nghĩa vụ của anh, đồng thời không quên nhấn mạnh vào cái chính là phải trung thành, không được đem chuyện gì ở nhà ra nói ở đâu.

“Các quý bà quý cô thường đến thăm tôi,” ông bảo, “thỉnh thoảng có người ngủ lại nếu sáng hôm sau tôi không bận nghĩa vụ gì. Trong những trường hợp như thế thì khi tôi rung chuông, anh sẽ mang cà phê vào giường cho chúng tôi, anh hiểu không?”

“Xin báo cáo trung úy là tôi hiểu ạ. Nếu mà tôi tự nhiên đến giường thì có thể làm cho quý bà quý cô nào đó thấy khó chịu. Một lần, tôi đưa một cô về nhà và bà giúp việc của tôi mang cà phê vào giường cho chúng tôi, đúng vào lúc chúng tôi đang rất vui vẻ. Bà ấy giật mình làm đổ cà phê lên cả lưng tôi, rồi lại còn nói: ‘Ối trời ơi, xin chào cậu ạ.’ Tôi biết phải xử sự thế nào khi có quý bà quý cô ngủ ở đâu ạ.”

“Thế thì tốt, anh Švejk ạ. Đối với phụ nữ bao giờ chúng ta cũng phải cư xử hết sức tế nhị,” trung úy nói. Ông thấy phấn khởi hơn, bởi vì câu chuyện của họ đã chuyển sang đối tượng lấp khoảng trong thời gian của ông giữa khi ở trong doanh trại, ngoài bãi tập và lúc chơi bài.

Phụ nữ là linh hồn trong căn hộ của trung úy, họ đã tạo không khí gia đình cho ông. Họ có tới vài tá, nhiều người trong số họ trong thời gian ở nhà trung úy đã cố gắng trang trí căn hộ bằng đủ thứ nhỏ bé vô dụng.

Một bà vợ của ông chủ quán cà phê đã sống với trung úy mười bốn ngày, cho đến lúc chồng bà đến bắt về. Trong thời gian ấy, bà thêu cho trung úy một cái khăn trải bàn xinh xắn, thêu chữ lồng vào tất cả đồ lót của ông, lẽ ra thì còn thêu xong cả tấm thảm treo tường, giá mà chồng bà không tới phá tan cảnh êm đềm ấy.

Còn một quý cô ở với ông ba tuần thì đã muốn biến phòng ngủ của ông thành căn phòng của phụ nữ bằng sự trang trí cầu kỳ. Cho đến lúc bố mẹ đến lôi về, cô đã trưng bày đủ thứ nhỏ nhỏ con con, đặt đủ loại bình cắm hoa nhỏ ở khắp phòng, và treo một bức ảnh thiên thần hộ mệnh ở bên trên giường của ông.

Bàn tay phụ nữ để lại dấu vết ở phòng ngủ, ở phòng ăn và can thiệp cả vào phòng bếp, nơi có thể nhìn thấy đủ các thứ vật dụng nhà bếp. Đó là món quà lớn của bà vợ một ông chủ nhà máy. Ngoài cái đam mê, bà còn mang đến căn hộ của ông cả máy cắt rau củ quả, máy xay bánh mì khô, máy xay pate, xoong nồi, khay nướng, chảo rán, thìa muỗng gỗ và có trời biết còn gì nữa. Nhưng chỉ sau một tuần, bà bỏ đi, bởi lẽ bà không thể chấp nhận được điều là ngoài bà ra, trung úy còn có khoảng hai chục tình nhân khác, và sự thật đó để lại những dấu vết nhất định trong năng suất của người đàn ông cao quý mang quân phục.

Trung úy Lukáš có một đống thư từ rất lớn, ông cũng có album ảnh các tình nhân của mình và bộ sưu tập đủ các đồ vật, bởi vì hai năm gần đây, ông có vẻ nghiêng về bái vật. Vì vậy ông có một số loại nịt bít tất nữ, bốn cái quần lót nữ xinh xinh có thêu tên, ba cái áo lót mỏng mềm mại trong suốt, mấy cái khăn quàng bằng vải có mẫu batik, thậm chí cả một cái áo corset và mấy đôi vớ dài nữa.

“Hôm nay tôi phải thường trực,” trung úy nói, “đến đêm tôi mới về. Anh hãy trông nom và dọn dẹp nhà cửa cho chu đáo. Vì biếng nhác mà ngày hôm nay thằng lính hầu cuối cùng của tôi đi ra mặt trận đấy.”

Trung úy còn ra một số lệnh khác liên quan đến con chim yến và con mèo Angora rồi đi. Ra đến cửa, ông cũng không quên nhắc nhở vài câu về sự trung thực và ngăn nắp.

Sau khi trung úy đi, Švejk dọn dẹp đồ đạc làm căn hộ trở nên ngăn nắp nhất, thành ra ban đêm, khi trung úy trở về, anh có thể nói: “Xin báo cáo trung úy là mọi việc đều ổn cả ạ, chỉ duy có việc con mèo đã bậy bạ ăn mất con yến của trung úy ạ.”

“Thế là thế nào?” trung úy gầm lên.

“Xin báo cáo trung úy, nó là thế này ạ: Tôi biết là mèo không thích chim và thường làm hại chúng. Thế là tôi muốn cho chúng nó làm quen với nhau, và trong trường hợp mà con mèo quỷ quái muốn giở trò thì tôi sẽ cho nó một trận nhớ đời để nó biết phải cư xử thế nào với chim yến, bởi vì tôi rất quý con vật. Ở nhà tôi ở có một ông thợ làm mũ và ông này luyện con mèo đến mức mà trước đây nó ăn mất của ông ấy ba con chim yến, nhưng bây giờ thì chẳng ăn một con nào, mà lại còn để con chim yến đứng trên người nó. Thế là tôi cũng muốn thử, tôi lấy con yến từ lồng ra, mang cho con mèo ngửi. Nhưng mà tôi chưa kịp làm gì thì con ranh đã cắn mất đầu con yến rồi. Quả thật là tôi không ngờ nó lại thô bạo hèn hạ đến thế. Thưa trung úy, giá mà đấy là con chim sẻ thì tôi chẳng nói làm gì, nhưng mà đằng này nó là con yến đẹp như thế, mà lại là yến Đức nữa chứ. Nó ngấu nghiến con chim, ăn cả lông mới háo hức làm sao, vừa ăn nó còn vừa rên gừ gừ vì sung sướng nữa. Mèo là loài không có hiểu biết gì về âm nhạc và chúng nó không thể chịu được khi thấy chim yến hót, bởi vì lũ thú vật không thể hiểu được tiếng hót ấy. Tôi đã mắng con mèo, nhưng có trời làm chứng, tôi không làm gì nó cả. Tôi chờ trung úy quyết định trừng phạt nó thế nào, con ranh khốn kiếp!”

Trong khi nói, Švejk ngước nhìn vào mắt trung úy một cách chân thực đến mức mà lúc đầu đáng lẽ có ý định tiến đến Švejk để làm một cái gì thô bạo, trung úy lùi lại, ngồi xuống ghế rồi hỏi: “Này Švejk, quả thật anh là đồ súc vật bẩm sinh đến như thế ư?”

“Xin báo cáo trung úy, vâng ạ!” Švejk trang trọng trả lời. “Tôi có cái không may mắn từ thuở nhỏ. Bao giờ tôi cũng muốn sửa chữa, làm tốt một cái gì đó, nhưng chẳng bao giờ nên việc, mà bao giờ nó cũng thành cái phiền toái cho tôi, cả cho mọi người xung quanh. Quả thật tôi muốn cho chúng nó làm quen với nhau, để chúng hiểu nhau, mà nó lại ăn mất con yến, thế là hết cả làm quen, nhưng cái đó đâu phải là lỗi tại tôi. Cách đây mấy năm, ở căn nhà U Štupartů có con mèo thậm chí đã ăn thịt mất một con vẹt, chỉ tại vì con vẹt đã cười chế nhạo nó, lại còn meo meo nhại tiếng nó nữa. Lũ mèo sống dai mà khỏe lắm. Nếu trung úy muốn tôi khử nó thì tôi sẽ phải chẹt nó ở cánh cửa, chứ không thế thì không xong được.”

Rồi với vẻ mặt hết sức vô tội và nụ cười hiền hậu, Švejk giải thích cho trung úy biết cách xử tử mèo như thế nào. Nội dung bài giảng của anh chắc hẳn phải đưa các thành viên của tổ chức chống bạo hành động vật vào nhà thương điên.

Anh tỏ ra có hiểu biết chuyên môn đến mức làm cho trung úy Lukáš quên cả giận dữ và hỏi anh: “Anh biết chăm sóc động vật à? Anh có thương yêu con vật không?”

“Tôi thích chó hơn cả,” Švejk đáp, “bởi vì chúng là mặt hàng béo bở cho người nào biết bán. Tôi đã không biết bán, vì tôi bao giờ cũng trung thực. Ấy thế mà người ta cũng vẫn đến than phiền với tôi, rằng tôi đã bán cho họ con chó ốm yếu thay vì con thuần chủng khỏe mạnh, cứ như thể là tất cả mọi con chó phải là chó thuần chủng và khỏe mạnh vậy. Rồi ai cũng muốn có giấy chứng nhận thuần chủng, thành ra tôi phải in giấy, rồi phải biến con chó lai tạp, đẻ ra trong một lò gạch ở Košíř thành một con chó quý tộc thuần chủng nhất của trại chó Baravian Armin von Barheim. Và quả thật người ta thấy vui mừng là mọi việc kết thúc tốt đẹp, rằng người ta đã có ở nhà một con vật thuần chủng. Và tôi thì thí dụ đã có thể giới thiệu cho họ một con Spitz từ Vršovice thay vì con Lạp Xưởng, còn họ thì ngạc nhiên là tại sao con chó thuộc giống chó Đức quý như vậy mà lại có nhiều lông và chân thì không vẹo. Ở các trại chó người ta đều làm như thế cả, nhưng ở các trại lớn thì trung úy mới thấy họ giả mạo giấy chứng nhận thuần chủng đến như thế nào. Thật sự có ít những con chó có thể tuyên bố: ‘Tôi là thú vật thuần chủng.’ Thường thì một con chó có bà hay mẹ quên mất mà đi với con đực xấu xí, hay nó có nhiều bố và thừa hưởng từ mỗi con chó bố một cái gì đó. Từ con chó bố này thì nó giống cái tai, từ con khác giống cái đuôi, từ con khác nữa thì giống lông mặt, từ con thứ ba giống cái mõm, từ con thứ tư giống cái chân khập khiễng, từ con thứ năm thì giống về kích thước, và khi mà nó có tới mười hai bố thì trung úy thử tưởng tượng xem nó là con chó như thế nào. Một lần, tôi đã mua một con chó giống hệt hình nộm. Vì thừa hưởng đủ thứ của các bố nó nên nó là một con chó ma chê quỷ hờn, xấu kinh khủng đến nỗi mà các con chó khác phải tránh mặt nó. Và tôi thương hại mà mua nó, vì thấy nó bị ruồng rẫy đơn độc. Rồi nó cứ buồn thiu, lúc nào ngồi cũng thu lu xó nhà, cho đến lúc tôi phải làm nó thành con Schnauzer tiêu chuẩn để bán đi. Tôi mất nhiều công nhất để nhuộm lông nó cho thành màu muối tiêu. Thế là nó đi theo chủ mới đến tận Morava, từ ngày ấy tôi không trông thấy nó nữa.”

Trung úy bắt đầu thấy rất quan tâm đến bài giảng về loài chó, vì vậy Švejk có thể tiếp tục không bị ngăn cản gì: “Các con chó không thể tự nhuộm lông của mình như các quý bà nhuộm tóc được, việc này phải do những người muốn bán chúng lo liệu. Nếu ai muốn bán một con chó già bạc hết cả lông như là con chó con một tuổi, thậm chí muốn biến con chó già khụ thành chó non chín tháng tuổi, thì phải mua bạc nitrua về, hòa vào nước rồi nhuộm lông nó cho thành màu đen, trông cứ như chó con vậy. Để nó có thêm sức lực thì cho nó uống thứ nước có hòa asen ocid như cho ngựa uống, rồi lấy giấy nhám vẫn thường dùng tẩy vết rỉ ở dao để đánh răng cho nó. Và trước khi đem đi bán thì đổ rượu mận vào mõm nó để nó hơi say, thế là lập tức nó nhanh nhẹn lên, vui vẻ hơn, sung sướng sủa và làm bạn với bất kỳ ai, giống như ủy viên Ủy ban nhân dân đang say rượu vậy. Nhưng mà thưa trung úy, cái chính là phải nói với mọi người, và nói thật lâu, cho đến khi họ hoàn toàn mụ người ra. Nếu một người nào đó muốn mua một con Phốc, mà ở nhà ông lại không có con nào ngoài con chó săn, thì ông phải biết thuyết phục người ấy để cuối cùng người ấy dắt con chó săn đi. Hay là tình cờ mà ở nhà ông chỉ có con Phốc, nhưng mà có người đến muốn mua một con Great Dane hung dữ để nó trông nhà, thì ông phải làm sao để người ấy quẩn lên mà bỏ con Phốc vào túi mang về, thay vì con Great Dane. Ngày tôi còn bán súc vật thì có một quý bà đến gặp. Nghe bảo con vẹt của bà ấy bị xổng bay ra vườn, vừa lúc có lũ con trai đang chơi trò người da đỏ ở trước biệt thự. Chúng nó đã bắt con vẹt, vặt tất cả lông đuôi để hóa trang như cảnh sát. Và con vẹt lăn ra ốm do xấu hổ vì không có đuôi, thế là bác sĩ thú y cho nó uống thuốc để nó chết. Bà ấy muốn mua một con vẹt mới, một con tử tế, chứ không phải loại thô tục chỉ biết chửi bậy. Nhưng tôi biết làm sao, khi mà lúc ấy tôi không có con vẹt nào ở nhà, mà cũng chẳng biết đến con vẹt nào khác. Tôi chỉ có một con chó mặt bò dữ tợn, lại còn bị mù cả hai mắt. Thưa trung úy, tôi đã phải nói với bà ấy từ bốn giờ chiều đến tận bảy giờ tối, cho đến khi bà ấy thuận mua con chó mặt bò mù mắt thay vì mua con vẹt. Lần ấy thật còn khó hơn cả tình huống đàm phán ngoại giao. Khi bà ấy về, tôi bảo bà: ‘Lũ con trai hãy cứ thử rứt đuôi nó mà xem.’ Sau đó, tôi không nói thêm gì được với bà ấy nữa, bởi vì con chó mặt bò đã cắn cả nhà nên bà ấy phải chuyển đi khỏi Praha. Trung úy có tin là có được con vật đàng hoàng là một việc rất khó không ạ?”

“Tôi rất thích chó,” trung úy nói, “một số bạn bè của tôi đang ngoài mặt trận có mang chó đi cùng. Họ viết cho tôi là sự có mặt của con vật trung thành và tận tụy làm cho chiến tranh trôi đi nhanh hơn. Anh biết tất cả các giống chó và tôi hy vọng là nếu tôi có chó thì anh sẽ chăm sóc nó rất chu đáo. Anh cho giống nào là tốt nhất? Tôi nghĩ đến con chó thân thiện làm bạn. Trước đây tôi đã có một con Schnauzer tiêu chuẩn, nhưng mà tôi không biết…”

“Thưa trung úy, theo tôi thì Schnauzer là giống chó rất đáng yêu. Quả thật không phải ai cũng thích chúng, bởi vì chúng có lông và râu cứng ở quanh mõm, trông giống như một tội nhân vừa được ra tù. Chúng xấu đến mức ta cảm thấy chúng đẹp, nhưng đồng thời chúng rất khôn. Cái giống Bernard ngốc nghếch làm sao mà so với chúng được. Chúng còn khôn hơn cả giống chó sục cáo. Tôi có biết một con…”

Trung úy Lukáš nhìn đồng hồ và ngắt lời Švejk: “Thôi, muộn rồi, tôi phải đi ngủ. Ngày mai tôi cũng lại thường trực, vậy là anh sẽ có thời gian cả ngày để tìm cho tôi một con Schnauzer tiêu chuẩn.”

Trung úy đi ngủ, còn Švejk thì vào nằm trên ghế sofa ở trong bếp đọc tờ báo mà trung úy đã mang từ doanh trại về.

“À, ra thế,” Švejk nói một mình và chăm chú đọc tổng quan các sự kiện trong ngày, “Quốc vương trao tặng Hoàng đế Vilém huân chương chiến tranh, còn mình thì cho đến bây giờ vẫn chưa có được cả cái huy chương bạc.”

Švejk suy nghĩ rồi chợt đứng phắt dậy: “Suýt nữa thì quên…”

Anh đi vào phòng trung úy, lúc này ông đã ngủ say, và đánh thức trung úy: “Xin báo cáo trung úy là tôi chưa nhận được lệnh nào về con mèo.”

Ngái ngủ và nửa tỉnh nửa mê, trung úy quay nghiêng người sang phía khác và lầu bầu: “Ba ngày không rời doanh trại!” rồi ngủ tiếp.

Švejk rón rén rời khỏi phòng, kéo con mèo bất hạnh từ gầm ghế sofa ra và bảo nó: “Mày bị phạt ba ngày không rời doanh trại. Giải tán!”

Và con mèo Angora lại chui vào gầm ghế.

4

Vừa lúc Švejk chuẩn bị đi tìm kiếm một con Schnauzer thì có một người phụ nữ trẻ bấm chuông và tỏ ý muốn gặp trung úy Lukáš. Bên cạnh cô ấy là hai chiếc va-li nặng và Švejk còn kịp nhìn thấy cái mũ trên đầu người hầu đang đi xuống cầu thang.

“Ông ấy không có nhà.” Švejk nói cứng nhắc, nhưng quý cô đã bước vào sảnh và ra lệnh dứt khoát: “Anh hãy mang va-li vào phòng!”

“Không có sự đồng ý của trung úy thì không được,” Švejk nói, “trung úy đã ra lệnh cho tôi là không bao giờ được làm cái gì, nếu không được phép của trung úy.”

“Anh điên rồi hay sao,” quý cô kêu lên, “tôi đến đây thăm trung úy.”

“Về cái này thì tôi hoàn toàn không biết gì cả,” Švejk trả lời, “trung úy đang thường trực, mãi đến đêm mới về và tôi thì được lệnh đi kiếm một con Schnauzer. Tôi không biết gì về va-li nào, về quý bà quý cô nào cả. Bây giờ thì tôi khóa cửa, vì vậy tôi xin cô đi khỏi đây. Tôi không được thông tin nào cả và tôi không thể để trong nhà bất kỳ người nào tôi không biết. Giống như một lần phố tôi, ông thợ bánh kẹo Bělčický cho một người vào nhà, hắn mở tủ quần áo rồi biến mất.”

“Tôi chẳng nghĩ gì xấu xa về cô,” Švejk tiếp tục, khi thấy quý cô tuyệt vọng khóc, “nhưng dứt khoát cô không thể ở đây được, cô phải nhận thấy là như vậy, bởi vì tôi được giao căn hộ này và tôi phải chịu trách nhiệm về tất tần tật mọi thứ đồ đạc. Vì thế, một lần nữa tôi xin cô đừng phí công yêu cầu gì cả. Nếu không được lệnh của trung úy thì kiên quyết tôi không làm gì cả. Tôi thật rất lấy làm tiếc là phải nói với cô như thế này, nhưng mà ở trong quân đội thì phải có kỷ luật.”

Trong lúc đó, quý cô đã bình tĩnh lại một chút. Cô rút một tấm danh thiếp từ túi xách, lấy bút chì viết vài dòng và cho nó vào một cái phong bì nhỏ xinh xinh rồi rầu rĩ nói: “Anh mang cái này đến cho trung úy, tôi sẽ chờ trả lời ở đây. Anh cầm năm koruna này đi đường.”

“Thế thì cũng không được,” Švejk trả lời và thấy bực mình vì sự không nhượng bộ của người khách không mời mà đến, “cô cứ giữ lấy năm koruna, nó ở trên ghế này. Còn nếu cô muốn thì hãy đi với tôi đến doanh trại, chờ tôi đem thư của cô vào đó rồi mang thư trả lời ra, chứ chờ ở đây thì dứt khoát không thể được.”

Nói đoạn, anh kéo va-li vào sảnh, rồi rung chìa khóa như người giữ chìa khóa ở lâu đài, anh nói một cách đầy ý nghĩa: “Chúng tôi đóng cửa!”

Quý cô thất vọng bước ra ngoài hành lang, Švejk khóa cửa rồi đi trước. Người khách đi theo sau anh như chó đi theo chủ và đuổi kịp khi anh vào quán mua thuốc lá.

Bây giờ thì cô đi bên cạnh Švejk và cố gắng gợi chuyện: “Chắc chắn anh đưa thư ấy chứ?”

“Tôi sẽ đưa vì đã bảo thế rồi.”

“Thế anh có tìm được trung úy không?”

“Tôi không biết.”

Họ im lặng đi cùng nhau, cho đến một lúc lâu sau người phụ nữ lại lên tiếng: “Thế anh nghĩ là anh không tìm được trung úy à?”

“Không, tôi không nghĩ thế.”

“Thế anh nghĩ trung úy có thể ở đâu?”

“Tôi không biết.”

Câu chuyện dừng lại một hồi lâu, cho đến lúc quý cô lại tiếp tục hỏi: “Anh có đánh mất cái thư ấy không đấy?”

“Cho đến lúc này tôi vẫn chưa đánh mất nó.”

“Tức là nhất định anh đưa nó cho trung úy à?”

“Vâng.”

“Thế anh có tìm được trung úy không?”

“Tôi đã bảo rồi là không biết,” Švejk trả lời, “tôi lấy làm lạ, sao mà người ta lại tò mò đến thế và cứ liên tục hỏi mãi về một điều. Cũng giống như giá mà ở ngoài đường, tôi cứ chặn một nửa số người đi đường để hỏi họ hôm nay là ngày bao nhiêu.”

Mọi cố gắng nói chuyện với Švejk như vậy đã bị chặn đứng, cả hai hoàn toàn im lặng đi nốt đoạn đường đến doanh trại. Chỉ duy nhất khi đã đến nơi, Švejk bảo người phụ nữ trẻ chờ anh, rồi bắt đầu nói chuyện về chiến tranh với những người lính ở cổng doanh trại. Quý cô chắc hẳn phải lấy đó làm phấn khởi lắm, bởi vì cô sốt ruột đi đi lại lại trên vỉa hè, cô tỏ ra rất bất hạnh khi thấy Švejk cứ tiếp tục nói với vẻ mặt đần độn, giống như vẻ mặt thể hiện ở bức ảnh mang tên Thái tử Áo nói chuyện với hai phi công bắn hạ máy bay Nga đăng trong Biên niên chiến tranh Thế giới.

Švejk ngồi xuống chiếc ghế dài ở cổng doanh trại và nói rằng mặt trận Karpat các cuộc tấn công của quân đội đã bị thất bại, nhưng mặt khác, đại tướng Kusmanek, chỉ huy pháo đài Przemyśl đã kéo quân đến Kiev, rằng chúng ta đã để lại ở Serbia mười một căn cứ và người Serbia không thể chạy đuổi theo lính của chúng ta mãi được.

Sau đó, anh chuyển sang phê bình các chiến trận nổi tiếng và phát minh ra định lý mới, là đơn vị nào bị bủa vây từ mọi phía thì phải đầu hàng.

Khi đã nói thỏa thích rồi, Švejk thấy là nên đi ra ngoài doanh trại để bảo quý cô đang tuyệt vọng rằng hãy chờ ở đó đừng đi đâu, vì anh sẽ ra ngay. Anh đi lên tầng trên và tìm thấy trung úy Lukáš ở văn phòng. Ông đang giảng giải cho một thiếu úy sơ đồ chiến hào và khiển trách là anh ta không biết vẽ và hoàn toàn không có hiểu biết gì về hình học.

“Anh trông đây, vẽ như thế này này. Nếu phải vẽ một đường thẳng vuông góc với một một đường thẳng đã cho sẵn thì ta phải vẽ làm sao để hai đường thẳng ấy tạo thành góc vuông. Anh có hiểu không? Trong trường hợp như thế thì anh sẽ đào chiến hào đúng hướng, chứ không đào nó về phía quân địch. Và anh sẽ ở chỗ cách chúng sáu trăm mét. Nhưng mà theo như sơ đồ anh vẽ thì anh sẽ đưa chiến hào của chúng ta vào phòng tuyến của quân địch, chiến hào của anh sẽ đứng thẳng bên trên phòng tuyến của quân địch, và anh phải cần một góc tù. Đó quả là điều đơn giản, có phải không?”

Và anh thiếu úy dự bị, khi thường vốn là nhân viên ngân quỹ ở một ngân hàng, vô cùng thất vọng đứng nhìn những bản sơ đồ và hoàn toàn không hiểu gì cả. Anh thật sự thấy nhẹ người khi Švejk đi tới trung úy: “Xin báo cáo trung úy, một quý cô gửi cho trung úy bức thư này và đang chờ trả lời.” Vừa nói, anh vừa nháy mắt một cách ý nghĩa và thân mật.

Những gì trung úy đọc ở bức thư viết bằng tiếng Đức không mang lại cho ông ấn tượng tốt đẹp:

Anh Jindřich yêu quý! Chồng em theo dõi làm khổ em, dứt khoát em phải ở với anh một vài ngày. Lính hầu của anh là đồ súc vật. Em bất hạnh của anh, Katy.

Trung úy thở dài, đưa Švejk sang văn phòng không có người ở bên cạnh, đóng cửa rồi đi đi lại lại giữa các bàn. Cuối cùng, ông dừng lại trước mặt Švejk và nói: “Cô ấy viết rằng anh là đồ súc vật. Anh đã làm gì cô ấy thế hả?”

“Xin báo cáo trung úy, tôi chẳng làm gì cô ấy cả. Tôi đã xử sự rất đứng đắn tử tế, nhưng mà cô ấy đòi vào ở trong căn hộ ngay. Tại vì không nhận được lệnh nào của trung úy nên tôi không cho cô ấy ở trong phòng. Lại còn mang theo hai cái va-li nữa chứ, cứ như là đi về nhà vậy.”

Trung úy thở dài một cái nữa rõ to và Švejk cũng làm như vậy.

“Anh bảo sao hả?” trung úy kinh hoàng kêu lên.

“Xin báo cáo trung úy, đây là trường hợp khó. Cách đây hai năm, có một cô gái dọn đến ở cùng một anh thợ bọc nệm ở phố Vojtěšská. Anh ta không làm sao đuổi được cô ấy ra khỏi căn hộ nên phải gây ngộ độc bằng khí ga, cả hai đều chết, thế là hết chuyện vui vẻ. Với đám đàn bà thì lôi thôi lắm, tôi nhìn thấu họ mà.”

“Đây là trường hợp khó,” trung úy nhắc lại lời Švejk, và chưa bao giờ ông nói ra một sự thật nào trần trụi như thế. Anh Jindřich yêu quý nhất định đang ở trong tình thế xấu. Một người vợ bị chồng quấy rầy đến thăm trung úy vài ngày, mà lại đúng vào lúc ông chờ bà Micková ở Třeboň tới, để trong ba ngày bà sẽ lặp lại cái vẫn cho ông đều đặn từng quý, mỗi khi bà lên Praha đi mua sắm. Rồi ngày kia thì có một cô gái cũng sẽ đến. Cô ấy hứa chắc chắn với ông rằng sẽ để cho ông cám dỗ, khi mà cô ấy đã suy nghĩ cả một tuần, bởi vì tháng sau cô ấy sẽ lấy một anh kỹ sư làm chồng.

Bây giờ thì trung úy ngồi trên bàn, đầu cúi gục, im lặng và suy nghĩ, nhưng không nghĩ ra được gì cả, ngoài việc là cuối cùng ông ngồi xuống ghế, lấy giấy và phong bì, rồi viết lên tờ giấy văn phòng:

Katy yêu quý! Thường trực đến chín giờ tối. Anh sẽ về lúc mười giờ. Xin em hãy thoải mái ở chỗ anh như ở nhà em. Còn về Švejk – lính hầu của anh – thì anh đã ra lệnh để anh ta làm tất cả những gì em muốn. Jindřich của em.

“Bức thư này,” trung úy nói, “anh hãy đưa cho quý cô. Tôi ra lệnh cho anh đối xử tôn trọng và khéo léo, lịch sự với cô, và đáp ứng tất cả mọi nguyện vọng của cô, những nguyện vọng mà anh phải coi là mệnh lệnh. Anh phải tỏ ra hào hiệp và phục vụ cô ấy thật chu đáo. Anh cầm một trăm koruna này rồi thanh toán sau với tôi, bởi vì có thể cô ấy sai anh đi mua cái gì đó, anh cũng đặt bữa trưa, bữa chiều cho cô ấy, vân vân. Rồi anh mua ba chai rượu vang và một gói thuốc lá. Thế, tạm thời không phải làm gì hơn. Anh có thể đi. Một lần nữa tôi nhắc anh là anh phải làm cho cô ấy bất kỳ những gì cô ấy muốn.”

Quý cô đã mất hết cả hy vọng là sẽ còn trông thấy Švejk, vì vậy cô rất ngạc nhiên khi nhìn thấy anh đi ra khỏi doanh trại và bước về phía cô với bức thư trong tay.

Švejk giơ tay chào, đưa bức thư cho cô và tuyên bố: “Thưa quý cô, theo lệnh của trung úy thì tôi phải đối xử tôn trọng và lịch sự với quý cô, phải phục vụ quý cô chu đáo và làm tất cả những gì quý cô muốn. Tôi phải cho quý cô ăn, đi mua tất cả những gì quý cô muốn mua. Trung úy đưa cho tôi một trăm koruna, nhưng mà tôi còn phải mua ba chai rượu vang và một gói thuốc lá nữa.”

Sau khi đọc xong bức thư, quý cô trở lại kiên quyết như trước và sai Švejk thuê cho cô một cái xe ngựa, sau đó ra lệnh cho anh lên ngồi cùng ghế với người đánh xe.

Họ đi về nhà. Vào đến căn hộ, quý cô nhập vai bà chủ nhà một cách tuyệt vời. Švejk phải mang va-li vào phòng ngủ, phải mang thảm ra ngoài sân để đập giũ bụi. Và chỉ một cái mạng nhện nhỏ ở đằng sau tấm gương cũng làm quý cô đùng đùng nổi giận.

Tất cả mọi việc chứng tỏ một điều là quý cô muốn đóng quân thật lâu trong chiến hào này, nơi cô đã giành được chiến thắng.

Švejk nhễ nhại mồ hôi. Khi anh đập giũ bụi cái thảm xong thì quý cô nhớ ra rằng cũng phải tháo rèm che xuống để giũ bụi. Rồi anh được lệnh lau cửa sổ ở phòng khách và phòng bếp. Sau đó quý cô bắt đầu kê lại đồ đạc, nhưng làm rất lúng túng. Švejk kéo bàn ghế từ góc này sang góc kia, nhưng quý cô vẫn chưa thấy hài lòng, thế là cô tính toán lại và nghĩ ra đủ kiểu xếp đặt khác.

Quý cô làm đảo lộn cả căn hộ, nhưng sức lực dồn vào việc thu xếp tổ ấm bắt đầu yếu dần và sự tàn phá của cô ngừng lại.

Quý cô còn lấy bộ chăn ga gối sạch ra, rồi tự tay cô thay vỏ gối và vỏ chăn. Nhìn cũng thấy là cô làm việc ấy bằng tình yêu đối với chiếc giường, một đồ vật gợi cho cô những cảm giác rung động.

Sau đó, cô sai Švejk đi mua thức ăn trưa và rượu vang. Và trước khi anh trở về thì cô đã thay quần áo, mặc vào người một bộ váy áo trong suốt, nó làm cho cô trở nên vô cùng quyến rũ và hấp dẫn.

Lúc ăn trưa, cô uống cạn chai rượu vang, hút rất nhiều thuốc lá rồi lên giường nằm. Trong khi đó ở trong bếp, Švejk thưởng thức bánh mì dành cho quân lính, chấm nó vào một cốc rượu ngọt.

“Švejk ơi,” có tiếng gọi từ phòng ngủ, “anh Švejk ơi!”

Švejk mở cửa phòng và trông thấy quý cô đang ngả người ở tư thế rất duyên dáng trên những chiếc gối đệm.

“Anh vào đây!”

Švejk bước đến gần giường. Quý cô nở nụ cười đặc biệt, đưa mắt đo vóc dáng đậm đà và cặp đùi nở nang của anh.

Gạt tấm áo mỏng tang đang che đậy mọi thứ trên người, quý cô nói bằng giọng nghiêm khắc: “Anh tháo giày và cởi quần ra. Cho tôi xem…”

Và thế là khi trung úy từ doanh trại trở về, người lính tốt Švejk đã có thể trình báo: “Xin báo cáo trung úy là tôi đã làm toại nguyện tất cả những ước vọng của quý cô và phục vụ quý cô chu đáo theo lệnh của trung úy ạ.”

“Švejk ạ, cảm ơn anh,” trung úy nói, “thế cô ấy có nhiều nguyện vọng không?”

“Khoảng sáu nguyện vọng ạ,” Švejk trả lời, “bây giờ thì cô ấy ngủ như chết sau chuyến ấy. Tôi đã làm cho cô ấy tất tần tật những gì cô ấy muốn ạ.”

5

Trong khi có biết bao nhiêu quân lính đóng ở các cánh rừng gần sông Dunajec⦾ và Raba đang đứng dưới những trận mưa lựu đạn, và hàng bao nhiêu đại đội bị pháo hạng nặng bắn tan rồi bị chôn vùi ở Karpat, trong khi phía chân trời ngùn ngụt những đám cháy của xóm làng và thành phố nơi diễn ra các cuộc chiến, thì trung úy Lukáš cùng Švejk phải sống trong cảnh khó chịu với quý cô đã trốn chồng, hiện làm bà chủ trong căn hộ của họ.

Khi quý cô đi dạo, trung úy và Švejk có cuộc bàn bạc chiến lược để tìm cách đuổi cô đi.

“Thưa trung úy,” Švejk nói, “cô ấy trốn chồng và ông ấy đang tìm cô ấy, trung úy đã nói khi tôi mang thư đến, là trong thư có viết rằng ông ấy biết cô ấy ở đâu, thì tốt nhất là để ông ấy đến đón cô ấy. Gửi cho ông ấy một bức điện là cô ấy đang ở chỗ trung úy, rằng ông ấy có thể đến lấy cô ấy về. Năm ngoái ở Všenory trong một biệt thự cũng có một trường hợp tương tự. Nhưng lần ấy thì tự bà ta đánh điện cho chồng, ông này đến đón vợ rồi tát cho cả hai một trận. Hai người ấy là dân thường, nhưng trong trường hợp này thì chồng cô ấy sẽ không dám làm gì với sĩ quan. Vả lại, trung úy hoàn toàn không có lỗi, bởi vì trung úy chẳng mời ai đến cả, và khi cô ấy trốn chồng thì là do cô ấy tự làm thế. Trung úy sẽ thấy là một bức điện như thế có hiệu quả tốt. Còn nếu mà có bị vài cái tát…”

“Ông ấy là người rất thông minh,” trung úy Lukáš ngắt lời Švejk, “tôi biết ông ấy. Đó là một nhà đại lý buôn bán hoa bia. Dứt khoát tôi phải nói chuyện với ông ấy. Tôi sẽ đánh điện.”

Bức điện gửi đi rất ngắn gọn mang tính chất thương mại: “Địa chỉ hiện nay của vợ ông là…” Tiếp theo đó là địa chỉ căn hộ của trung úy Lukáš.

Thế là cô Katy đã vô cùng ngạc nhiên khó chịu, khi thấy nhà đại lý buôn bán hoa bia xộc vào cửa. Ông tỏ vẻ rất thận trọng và quan tâm, khi cô Katy trong giây phút ấy vẫn giữ được bình tĩnh và giới thiệu hai ông với nhau: “Đây là chồng tôi – đây là ngài trung úy Lukáš.” Cô không nhớ ra được cái gì hơn nữa.

“Xin ông ngồi, thưa ông Wendler,” trung úy thân thiện nói rồi rút hộp thuốc lá từ túi, “mời ông hút thuốc.”

Nhà đại lý hoa bia thông minh rút điếu thuốc một cách lịch sự, rồi vừa nhả khói thuốc, ông vừa thận trọng hỏi: “Ngài sắp sửa ra mặt trận phải không, thưa trung úy?”

“Tôi đã đề nghị chuyển sang trung đoàn 91 ở Budějovice, có lẽ tôi sẽ đi, hễ tôi huấn luyện xong cho lớp quân tình nguyện một năm. Chúng ta cần rất nhiều sĩ quan và bây giờ có hiện tượng đáng buồn là những người trẻ tuổi có quyền lợi được huấn luyện một năm làm sĩ quan tình nguyện thì lại không đăng ký học. Họ thà làm anh lính bộ binh bình thường, chứ không cố gắng để trở thành học viên trường sĩ quan.”

“Chiến tranh gây thiệt hại rất nhiều cho kinh doanh hoa bia, nhưng tôi nghĩ là nó không thể kéo dài được,” nhà đại lý hoa bia nhận định và đưa mắt nhìn vợ mình rồi lại nhìn sang trung úy.

“Tình hình của chúng ta rất tốt,” trung úy Lukáš nói, “bây giờ thì không một ai nghi ngờ được là cuộc chiến tranh này sẽ kết thúc bằng chiến thắng của Liên minh Trung tâm. Pháp, Anh và Nga quá yếu so với khối Áo–Thổ Nhĩ Kỳ–Đức vững chắc. Đúng là chúng ta có một vài tổn thất không đáng kể ở một số chiến trường. Nhưng điều không nghi ngờ được là hễ chúng ta phá vỡ chiến trường Nga giữa dãy Karpat và miền trung Dunajec thì có nghĩa là chiến tranh sẽ kết thúc. Đằng nào thì Pháp cũng đang bị đe dọa là trong một thời gian ngắn nhất sẽ bị mất toàn bộ miền đông Pháp và quân Đức sẽ tiến vào Paris. Cái đó là điều hoàn toàn chắc chắn. Ngoài ra, các thao chiến của chúng ta ở Serbia đang được tiếp tục rất thành công và việc quân đội của chúng ta rời đi, trên thực chất chỉ là di chuyển quân, đã bị nhiều người hiểu hoàn toàn khác chứ không coi đó là quyết định bình tĩnh sáng suốt trong chiến tranh. Trong thời gian gần đây nhất chúng ta sẽ thấy kết quả của các chiến lược di chuyển quân của chúng ta ở mặt trận phía nam. Xin mời ông xem…”

Trung úy Lukáš nhẹ nhàng đặt tay lên vai nhà kinh doanh hoa bia và đưa ông ta tới tấm bản đồ chiến trận treo trên tường. Vừa chỉ từng điểm trên bản đồ, trung úy vừa giải thích: “Miền đông Beskydy⦾ là căn cứ tuyệt vời của chúng ta. Ông thấy là ở các vùng tại dãy Karpat chúng ta được ủng hộ mạnh mẽ. Nếu đánh mạnh vào tuyến này thì chúng ta sẽ không phải dừng lại ở đâu cả, mà tiến thẳng đến tận Moskva. Chiến tranh sẽ kết thúc sớm hơn chúng ta tưởng.”

“Thế Thổ Nhĩ Kỳ thì sao?” đại lý hoa bia hỏi và suy nghĩ làm cách nào để có thể đi thẳng vào việc mà vì nó ông đến đây.

“Người Thổ Nhĩ Kỳ đang giữ vững tình thế,” trung úy nói và đưa ông khách trở lại bàn, “chủ tịch quốc hội Thổ Nhĩ Kỳ Hali Bej và cả Ali Bej đã đến Vienna. Thống chế Liman von Sanders được bổ nhiệm làm chỉ huy trưởng quân đội Thổ Nhĩ Kỳ ở Dardanellia. Ngài Goltz Pasha đã đi từ Constantinopolis đến Berlin, còn Enver Pasha, Phó đô đốc Usedom Pasha và Đại tướng Dzevad Pasha đã được Hoàng đế của chúng ta tặng huân chương. Khen thưởng tương đối nhiều trong một thời gian ngắn như thế.”

Họ im lặng ngồi đối diện nhau trong một hồi, cho đến khi trung úy thấy nên nói để phá cái không khí khó chịu: “Ông đã tới đây lúc nào, thưa ông Wendler?”

“Sáng nay.”

“Tôi rất vui là ông tìm thấy tôi ở nhà, bởi vì bao giờ tôi cũng vào doanh trại từ buổi trưa và có trực đêm. Vì căn hộ thực sự suốt ngày không có ai nên tôi đã có thể chiêu đãi để bà nhà ở đây được. Trong suốt thời gian bà nhà ở Praha, không có ai quấy rầy bà cả. Chỗ quen biết từ trước…”

Nhà buôn bán hoa bia cất tiếng ho: “Thưa trung úy, Katy chắc chắn là người kỳ lạ. Xin cho tôi vô cùng cảm ơn về tất cả những gì trung úy đã làm cho cô ấy. Tự nhiên cô ấy quyết định đi Praha, rằng phải đi chữa rối loạn thần kinh. Tôi đi vắng, về đến nhà thì chẳng có ai, Katy thì biến mất.”

Ông cố gắng có vẻ mặt thật dễ chịu, giơ ngón tay đe dọa về phía vợ và gượng cười bảo: “Chắc là cô nghĩ rằng khi tôi đi vắng thì cô cũng có thể đi chơi được, phải không? Nhưng mà cô đã không nghĩ đến…”

Khi thấy câu chuyện đang chuyển ngoặt sang căng thẳng khó chịu, trung úy lại đưa nhà kinh doanh thông minh tới bản đồ chiến trận, ông chỉ tay lên các chỗ có gạch dấu và nói: “Tôi quên không cho ông biết về một điều rất thú vị, đó là vòng cung lớn quay lưng về hướng tây nam này, nơi có những ngọn núi tạo thành các địa điểm phòng thủ rộng lớn. Các mũi tấn công của quân liên minh đều hướng về đây. Làm ngừng hoạt động đường tàu này, tuyến giao thông nối các địa điểm phòng thủ đó với tuyến phòng thủ chính của quân địch, tức là làm gián đoạn giao thông giữa cánh hữu và quân đội phía đông ở Wisla. Bây giờ ông đã hiểu rõ chưa?”

Nhà kinh doanh hoa bia trả lời rằng ông hiểu rõ tất cả mọi sự việc, và do thận trọng, sợ rằng điều vừa nói ra có thể bị coi là nói cạnh khóe, ông trở về chỗ ngồi và tỏ ra đỡ gay gắt hơn: “Chiến tranh làm cho hoa bia của chúng ta mất thị trường ở nước ngoài. Chúng ta mất thị trường ở Pháp, Anh, Nga và cả vùng Balkan. Chúng tôi còn đang bán hoa bia ở Ý, nhưng tôi sợ là Ý cũng sẽ dính vào chiến tranh. Nhưng mà sau này, khi thắng thì chúng tôi sẽ là người định giá hàng.”

“Ý đang giữ trung hòa nghiêm ngặt,” trung úy an ủi ông ta, “đó là…”

“Thế tại sao lại không thú nhận là bị bó buộc bởi Liên minh ba nước, giữa Áo–Hung và Đức?” nhà kinh doanh hoa bia đột ngột nổi cáu. Tự nhiên ông thấy mọi thứ đều đổ lên đầu mình, nào là hoa bia, nào là vợ, nào là chiến tranh, “tôi đã tưởng là Ý kéo quân đánh Pháp và Serbia, và thế thì chiến tranh đã kết thúc rồi. Hoa bia của tôi đang nằm thối ra ở kho kia kìa, thị trường nội địa yếu ớt, xuất khẩu coi như không, nhưng Ý thì giữ trung hòa nghiêm ngặt. Tại sao mà vào năm 1912 Ý vẫn ký lại thỏa thuận Liên minh ba nước với chúng ta? Bộ trưởng Bộ ngoại giao Ý, hầu tước San Jiuliano, đang ở đâu? Ông ấy đang làm gì? Ông ấy ngủ hay sao? Ngài có biết trước chiến tranh thì doanh thu hằng năm của tôi là bao nhiêu, còn bây giờ là bao nhiêu không? Ngài đừng nghĩ là tôi không theo dõi các sự kiện,” ông nói tiếp và giận dữ nhìn trung úy lúc đó đang bình thản nhả khói thuốc lá thành những vòng tròn. Các vòng khói nối nhau bay ra rồi tan đi làm cô Katy theo dõi một cách chăm chú. “Tại sao người Đức lại rút về biên giới, khi mà họ đã tiến đến gần Paris? Tại sao giữa Meuse và Moselle lại có những trận đấu pháo dữ dội như thế? Ngài có biết là ở Combres và Woewre gần Marche có ba nhà máy bia đã bị cháy, nơi mà hằng năm tôi gửi đến hơn năm trăm bao hoa bia không? Cả nhà máy bia Hartmansweiler ở Vosges cũng bị cháy, rồi nhà máy bia khổng lồ ở Niederaspach gần Mulhouse thì bị san bằng. Ngài cứ tính thì thấy công ty tôi vì vậy mà hằng năm mất doanh thu tới một nghìn hai trăm bao hoa bia. Người Đức đánh nhau với người Bỉ có tới sáu lần vì nhà máy bia Klosterhoek, thế là hằng năm tôi mất đứt doanh thu ba trăm rưỡi bao hoa bia.”

Ông tức đến không nói được nữa, chỉ đứng lên, tiến đến gần vợ bảo: “Katy, cô về nhà ngay lập tức với tôi. Bây giờ cô đi chuẩn bị đi.” Một hồi sau, ông nói bằng giọng xin lỗi: “Các sự kiện ấy làm tôi vô cùng bực mình, nhưng trước đây tôi là người rất bình tĩnh.”

Khi vợ ông đi chuẩn bị áo xống, ông nói nhỏ với trung úy: “Không phải là lần đầu tiên cô ấy giở trò như thế này. Năm ngoái cô ấy đã trốn đi theo một cậu giáo viên tập sự, tôi tìm thấy cả hai ở mãi tận Zagreb. Nhân dịp ấy, tôi đã ký hợp đồng bán sáu trăm bao hoa bia cho nhà máy bia thành phố Zagreb. Vâng, vùng miền nam quả là mỏ vàng. Hoa bia của chúng tôi đã đi đến tận Constantinopolis. Nhưng bây giờ thì chúng tôi đang sống dở chết dở. Nếu mà chính phủ hạn chế sản xuất bia cả ở nước ta thì cũng như là cho chúng tôi đòn cuối cùng.”

Châm lửa hút điếu thuốc đã được mời, ông nói một cách tuyệt vọng: “Chỉ duy có Warszawa là mua hai nghìn ba trăm bảy mươi bao hoa bia thôi. Nhà máy bia lớn nhất là nhà máy nấu bia Augustiner. Hằng năm, đại diện của nhà máy thường đến nhà tôi chơi. Tình hình thật là vô vọng. Cũng may là tôi không có con.”

Câu kết thúc logic về những chuyến thăm hằng năm của đại diện nhà máy bia Augustiner ở Warzawar làm cho trung úy mỉm cười. Nhà kinh doanh hoa bia để ý thấy thế nên nói tiếp: “Trung bình hằng năm, các nhà máy bia Hungary ở Sopron và Nagykanizsa mua của tôi một nghìn bao hoa bia, họ xuất khẩu bia sang đến tận Alexandria. Bây giờ vì bị phong tỏa mà họ từ chối, không đặt mua nữa. Tôi đã hạ ba mươi phần trăm giá hoa bia, thế mà họ cũng chẳng mua cho lấy một bao. Buôn bán thì đình trệ sa sút thảm hại, mà lại còn thêm phải lo lắng việc nhà nữa.”

Nhà kinh doanh im bặt. Vợ ông đến phá tan im lặng: “Làm sao với mấy cái va-li của tôi đây?”

“Tôi sẽ cho người đến lấy, Katy ạ,” nhà kinh doanh hoa bia thấy hài lòng là cuối cùng thì mọi việc đã kết thúc mà không xảy ra chuyện đôi co cãi vã gì cả, “nếu cô còn muốn đi mua sắm cái gì nữa thì bây giờ ta phải đi ngay, tàu chạy lúc hai giờ hai mươi.”

Cả hai thân mật chia tay trung úy, và nhà kinh doanh rất mừng là mọi việc đã xong xuôi và bây giờ thì họ có thể đi khỏi nơi đây. Ở phòng sảnh, ông nói với trung úy: “Nếu mà chẳng may bị thương ngoài mặt trận thì xin mời ngài đến dưỡng sức ở nhà tôi. Chúng tôi sẽ hết sức chăm sóc ngài.”

Vào phòng ngủ, nơi cô Katy thay đồ đi đường, trung úy trông thấy ở bồn rửa mặt có bốn trăm koruna và một bức thư:

Thưa trung úy! Ngài đã không bênh vực tôi trước con khỉ ấy, trước thằng chồng ngu xuẩn bậc nhất ấy. Ngài đã cho phép hắn kéo tôi đi theo hắn như là kéo một đồ vật để quên ở đây. Đồng thời, ngài còn mạn phép nói rằng ngài đã chiêu đãi tôi. Hy vọng là tôi đã không làm ngài phải tốn kém nhiều hơn số tiền bốn trăm koruna tôi để lại đây. Xin ngài chia phần cùng với lính hầu của ngài.

Trung úy Lukáš đứng một hồi với bức thư trong tay và sau đó ông chậm rãi xé nhỏ nó ra. Ông mỉm cười nhìn số tiền nằm trên bồn rửa mặt, rồi chợt thấy cái lược nhỏ mà cô Katy vì cáu kỉnh đã để quên ở trên chiếc bàn con, khi cô sửa lại tóc ở trước gương. Ông đặt chiếc lược vào giữa những báu vật của mình.

Vào buổi trưa, Švejk trở về nhà. Anh đã đi tìm được một con Schnauzer cho trung úy.

“Švejk này, anh gặp may đấy. Quý cô đã đi rồi, chồng cô ấy đến đón đi rồi. Cô ấy để lại ở bồn rửa mặt bốn trăm koruna trả công anh đã phục vụ. Anh sẽ phải lịch sự cảm ơn cô ấy, đúng ra là cảm ơn chồng cô ấy, vì đó là tiền của ông ấy mà cô ấy đã mang theo người. Tôi sẽ bảo cho anh viết thư.”

Và trung úy đọc chính tả: “Kính thưa ông! Xin ông chuyển tới bà nhà lời cảm ơn nhiệt tâm nhất của tôi về bốn trăm koruna mà bà tặng tôi vì tôi đã phục vụ bà trong thời gian bà ở Praha. Tất cả những gì đã làm cho bà, tôi đều làm một cách sẵn lòng, vì thế tôi không thể nhận số tiền đó được và tôi xin gửi lại… Viết đi chứ, anh làm sao mà ngọ nguậy vậy? Tôi đã dừng ở chỗ nào?”

“Và tôi xin gửi lại…,” Švejk nói bằng giọng run run đầy bi thảm.

“Ờ, vậy thì viết tiếp: tôi xin gửi lại số tiền đó với sự kính trọng sâu sắc nhất. Xin kính gửi đến bà lời chào trân trọng. Josef Švejk, lính hầu của trung úy Lukáš. Xong chưa?”

“Báo cáo trung úy, còn thiếu ngày tháng ạ.”

“Ngày 20 tháng 12 năm 1914. Anh viết phong bì, cầm bốn trăm koruna, mang ra bưu điện rồi gửi đến địa chỉ này.”

Sau đó, trung úy vui vẻ huýt sáo một aria của vở opera Người đàn bà ly dị.

“À, còn một việc nữa,” trung úy hỏi Švejk khi anh chuẩn bị ra bưu điện, “anh đã đi tìm kiếm chó, thế nào rồi?”

“Thưa trung úy, tôi thấy một con rồi, đẹp tuyệt. Nhưng mà sẽ khó bắt được nó. Tôi hy vọng là ngày mai sẽ dẫn được nó về đây. Nó cắn.”

6

Trung úy đã không nghe thấy từ cuối cùng, mặc dù nó lại là từ rất quan trọng. “Đồ thú vật ấy cái gì cũng cắn,” Švejk muốn nhắc lại một lần nữa, nhưng cuối cùng thì tự bảo: “Cái ấy thì việc gì đến trung úy. Ông ấy muốn có con chó thì sẽ có con chó.”

Tất nhiên, bảo “Mang đến cho tôi một con chó” không phải là chuyện dễ dàng gì. Các chủ nhân của chó là những người rất thận trọng, mà chúng cũng không nhất thiết phải là chó thuần chủng. Kể cả con chó lai tạp chẳng biết làm gì ngoài việc ủ ấm chân cho một bà lão cũng được chủ nhân yêu quý và không để nó bị ai làm hại.

Chính con chó cũng phải có linh cảm, nhất là khi nó là con thuần chủng, rằng có một ngày đẹp đẽ nào đó nó sẽ bị bắt trộm.

Nó luôn sống trong sợ hãi rằng sẽ bị bắt trộm và sẽ phải bị bắt trộm. Thí dụ, khi đi dạo với chủ, chó chạy xa chủ. Lúc đầu nó vui vẻ nhắng nhít. Nó chơi với những con chó khác, leo lên người chúng một cách vô đạo đức và lũ chó ấy cũng leo lên nó. Rồi thì nó ngửi ngửi các cột mốc bên đường, nhấc chân lên tè ở bất kỳ một ngóc ngách nào, kể cả bên cái sọt khoai tây của bà bán hàng, nói tóm lại là nó thấy sung sướng và có cảm giác rằng thế giới nhất định đẹp, cũng giống như cảm giác của cậu học sinh đã may mắn thi tốt nghiệp xong.

Nhưng đột nhiên ta thấy cái vui vẻ của chó không còn nữa và thấy nó cảm nhận được là bị thất lạc. Và lúc này thì cái tuyệt vọng thật sự mới đến với chó. Nó hoảng hốt công trên đường phố, ngửi chỗ này chỗ kia, rên rỉ và hoàn toàn tuyệt vọng cụp đuôi vào giữa chân, cụp tai về phía sau và nháo nhào chạy giữa đường về một hướng xa lạ nào đó. Giá mà biết nói thì nó sẽ kêu lên: “Trời ơi, sẽ có người bắt trộm tôi.”

Đã bao giờ các anh vào trại chó và trông thấy những biểu hiện hoảng sợ như thế của chó chưa? Tất cả bọn chúng đều là chó bị bắt trộm. Thành phố lớn tạo ra một loại kẻ trộm đặc biệt chuyên kiếm sống bằng nghề bắt trộm chó. Có những loại chó cảnh nhỏ nuôi trong nhà như chó Phốc, chỉ nhỏ như cái găng tay, cho vừa lọt vào túi áo khoác hoặc vào ống tay áo khoác của phụ nữ. Ấy thế mà bọn trộm cũng lôi được con chó tội nghiệp ra. Còn con Great Dane Harlequin dữ tợn hung hăng trông coi biệt thự ở ngoại ô thì chúng bắt trộm vào ban đêm. Con chó của cảnh sát bị chúng bắt ngay trước mắt cảnh sát viên. Anh dắt con chó đi dạo hẳn hoi mà chúng cắt dây kéo chó đi mất, để cho anh nhìn đoạn dây còn lại trên tay và cảm thấy mình như một kẻ ngu ngốc. Năm mươi phần trăm những con chó anh gặp ở ngoài phố đã thay đổi chủ mấy lần, và thường thì sau vài năm, anh mua đúng được con chó của mình mà khi còn non nó đã bị bắt trộm lúc anh cùng nó đi dạo. Mối đe dọa bị bắt trộm lớn nhất là khi chúng được dẫn ra ngoài đi tiểu tiện và đại tiện. Đặc biệt chúng bị mất nhiều nhất khi làm cái hoạt động thứ hai. Vì vậy mà trong lúc làm việc ấy, con nào cũng thận trọng nhìn ngó xung quanh mình.

Có một số kiểu ăn trộm chó. Hoặc là bắt trực tiếp theo kiểu móc túi, hoặc là nhử mồi, lừa để con vật bất hạnh đi theo. Chó là con vật trung thành, nhưng chỉ ở trong sách tập đọc hay trong lịch sử tự nhiên thôi. Anh đưa cho con chó trung thành nhất ngửi cái xúc xích thịt ngựa rán là nó xong luôn. Nó quên ông chủ mà nó đang đi cùng, nó quay lại để đi theo anh, nó chảy nước dãi, nó thân thiện vẫy đuôi trong niềm mơ tưởng tuyệt vời về cái xúc xích, nó phập phồng cái mũi giống như con ngựa đực đẹp mã nhất khi được dẫn tới bên một con ngựa cái.

Ở khu Malá Strana, dưới chân các bậc thang dẫn lên Lâu đài Praha, có một quán bia nhỏ. Một ngày nọ, có hai người đàn ông ngồi trong một chỗ tối ở phía sau. Một người là lính, người thứ hai là dân thường. Họ nghiêng về nhau thầm thì bí mật. Cả hai trông giống như những kẻ có mưu đồ thời Cộng hòa Venezia.

“Ngày nào cũng vào lúc tám giờ,” người dân thường nói thầm với người lính, “cô hầu đi với nó đến góc quảng trường Havlíček vào công viên. Nhưng nó là đồ quái vật, cái gì cũng cắn. Nó không để cho vuốt ve gì cả.”

Và nghiêng hơn nữa về phía người lính, anh ta nói thầm vào tai: “Đến cả xúc xích nó cũng chẳng thèm.”

“Thế xúc xích rán thì sao?” người lính hỏi.

“Cả rán cũng không.”

Cả hai nhổ bọt. “Thế thì con quái vật ấy ăn gì?”

“Có trời biết. Có nhiều con chó hư hỏng được chiều chuộng như công tử ấy.”

Người lính và người thường dân chạm cốc với nhau và người thường dân tiếp tục nói thầm: “Một lần, tớ cần một con Spitz lông đen để mang đến trại chó ở phía trên Klamovka, nhưng con ấy cũng không muốn ăn xúc xích. Tớ đã đi theo nó ba ngày, cho đến lúc không chịu được nữa tớ mới hỏi thẳng cái bà vẫn đưa nó đi dạo là con này ăn cái gì mà đẹp thế. Được nịnh, bà ấy bảo nó thích ăn cốt lết nhất. Thế là tớ mua cho nó một miếng thịt tẩm bột rán, tớ đã nghĩ là thịt ấy còn ngon hơn cốt lết. Nhưng cậu biết không, con chó khốn kiếp chẳng ngó ngàng gì đến, tại vì đây là thịt bê, mà nó thì chuyên được ăn thịt lợn. Thế là tớ đành phải mua cho nó miếng cốt lết. Tớ cho cu cậu ngửi rồi tớ bỏ chạy, nó chạy theo tớ. Bà ấy kêu toáng lên: ‘Puntík! Puntík!’ nhưng mà Puntik đâu nghĩ tới bà, cu cậu mải đuổi theo miếng cốt lết đến tận góc phố. Ở đấy, tớ quàng cái xích vào cổ nó và ngày hôm sau cu cậu đã vào trại chó trên Klamovka. Bên dưới cổ nó có một nhúm lông trắng, người ta nhuộm nhúm lông ấy thành màu đen để không ai nhận ra được. Còn các con chó khác, mà có nhiều con, thì đều chạy theo xúc xích ngựa rán. Tốt nhất là cậu đi hỏi cô ấy xem con ấy ăn gì. Tớ đã hỏi, nhưng mà cô ấy nhìn tớ như thể muốn đâm tớ rồi bảo: ‘Nó ăn gì thì việc gì đến nhà anh!’ Cô ấy chẳng xinh đâu, như con khỉ ấy thôi, nhưng cậu là lính thì cô ấy sẽ nói chuyện.”

“Thế có thật nó là con Schnauzer không? Ngài trung úy của tớ không muốn con nào khác đâu..”

“Đấy là con Schnauzer rất chuẩn nhé! Màu muối tiêu, thật sự thuần chủng đấy, cũng giống như cậu là Švejk và tớ là Blahník ấy! Cái quan trọng tớ cần biết là nó ăn gì, tớ sẽ lấy mồi nhử rồi dẫn nó đến cho cậu.”

Hai người bạn lại chạm mốc. Hồi trước khi nhập ngũ, Švejk làm nghề bán chó và Blahník đã tìm kiếm chó cho anh. Đó là một người đàn ông có kinh nghiệm và người ta kể về ông ta là ông ấy còn lén lút mua những con chó đáng ngờ của trại sát sinh để bán tiếp cho người khác. Thậm chí có lần ông ấy bị chó dại cắn và đã phải có mặt thường xuyên tại Viện Pasteur ở Vienna như ở nhà vậy. Bây giờ thì ông ấy coi việc vô tư giúp đỡ người lính Švejk là nghĩa vụ của mình. Ông ấy biết tất cả các con chó ở Praha và vùng lân cận, và ông ấy nói thầm như vậy để ông chủ quán khỏi nghe thấy mà bị lộ, bởi vì cách đây nửa năm, ông ấy đã giấu vào trong áo khoác rồi mang đi một con Lạp xưởng non của ông chủ quán. Ông ấy cho nó bú sữa bằng cái chai cho trẻ con bú. Con chó non dại dột chắc cho rằng ông ấy là mẹ nó nên chẳng hề ọ ọe gì trong cái áo khoác.

Trên nguyên tắc, ông ấy chỉ bắt trộm những con chó thuần chủng, và về các loại chó thuần chủng thì ông ấy có thể làm chuyên gia chứng nhận được. Cứ có dịp là ông ấy lại bắt chó về cho tất cả các trại chó và cho những cá nhân khác. Nếu đi ở ngoài đường thì thể nào ông ấy cũng gặp những con chó trước đây bị ông bắt trộm gầm gừ, và con nào có tính thù hằn mà thấy ông đang đứng xem tủ kính bày hàng của một cửa hàng nào đó thì lẻn ra đằng sau rồi nhấc chân tè vào ống quần ông ấy.

Tám giờ sáng ngày hôm sau, đã thấy người lính tốt Švejk quanh quẩn ở góc quảng trường Havlíček và công viên. Anh chờ cô hầu và con Schnauzer tới đó. Cuối cùng thì anh cũng nhìn thấy con chó chạy qua, nó có râu, có bộ lông nhọn tua tủa như con nhím và đôi mắt đen thông minh. Nó vui vẻ như tất cả các con chó khác sau khi đã giải quyết vệ sinh cá nhân, và bây giờ nó chạy tới đám chim sẻ đang ăn sáng ở bãi phân ngựa trên đường.

Rồi cô gái có nhiệm vụ trông coi nó đi qua Švejk. Đó là một cô lớn tuổi, tóc bện quấn gọn gàng quanh đầu. Cô huýt sáo gọi chó, tay cô vung vẩy một cái xích và chiếc roi nhỏ thanh lịch.

Švejk hỏi cô: “Thưa cô, đến Žižkov thì đi lối nào hả cô?”

Cô gái dừng lại nhìn anh, xem anh có hỏi thành thật hay không. Khuôn mặt đôn hậu của Švejk bảo cô rằng quả là người lính ấy có lẽ muốn tới Žižkov. Nét mặt cô dịu đi và cô ân cần giải thích cho anh đến đó như thế nào.

“Tôi mới được chuyển đến Praha cách đây không lâu,” Švejk nói, “tôi là người nhà quê, chứ không phải là người ở đây. Cô cũng không phải là người Praha à?”

“Tôi là người ở Vodňan ạ.”

“Thế thì chúng ta không xa nhau mấy,” Švejk đáp, “tôi là người Protivín đây.”

Hiểu biết về địa lý vùng Nam Séc qua những đợt chuyển quân trước đây của Švejk làm trái tim cô gái tràn ngập tình đồng hương ấm áp.

“Vậy thì anh hẳn biết anh Pejchar bán thịt ở quảng trường Protivín ạ?”

“Biết chứ, sao lại không!”

“Anh ấy là anh trai tôi đấy!”

“Ở chỗ chúng tôi ai cũng quý anh ấy,” Švejk nói, “anh ấy rất hiền, chu đáo, bán thịt ngon và cân thì đầy đủ.”

“Anh có phải là con ông Jareš không ạ?” cô gái hỏi và bắt đầu thấy có cảm tình với người lính không quen biết.

“Chính thế!”

“Ông Jareš nào, ở Krč gần Protivín, hay là ở Ražice ạ?”

“Ở Ražice.”

“Thế ông Jareš có còn chở bia không ạ?”

“Vẫn chở.”

“Nhưng mà chắc ông cũng phải ngoài sáu mươi từ lâu rồi nhỉ?”

“Sáu mươi tám từ mùa xuân năm nay đấy,” Švejk thản nhiên trả lời, “bây giờ bố tôi có nuôi một con chó nên chở bia càng vui, ông cho nó ngồi trên xe đi cùng. Con chó của bố tôi cũng giống như con đang đuổi lũ chim sẻ kia kìa. Nhưng con này đẹp, rất đẹp.”

“Nó là của chúng tôi đấy,” cô người quen mới giải thích cho Švejk, “tôi giúp việc ở nhà ngài đại tá. Anh không biết ngài đại tá của chúng tôi ư?”

“Có, tôi biết. Đấy là một người thông minh đáo để,” Švejk nói, “ở Budějovice của chúng tôi cũng có một ngài đại tá như vậy.”

“Ông chủ tôi là người nghiêm khắc, gần đây nghe bảo là bị nện nhừ tử ở Serbia, thành ra trở về nhà ông hết sức cáu kỉnh, đập vỡ hết cả bát đĩa ở trong bếp, còn muốn đuổi tôi đi nữa cơ.”

“À thế ra đây là con chó của nhà cô đấy,” Švejk ngắt lời cô gái, “hoài của là ngài trung úy của tôi không chịu được con chó nào cả, chứ tôi thì rất thích chó.” Švejk ngừng lời rồi đột nhiên chuyển hướng: “Nhưng mà không phải con chó nào cũng ăn tất cả mọi thứ.”

“Bé Fox của chúng tôi kén ăn lắm ạ. Có một dạo bé chẳng muốn ăn thịt gì cả, nhưng bây giờ lại ăn rồi.”

“Thế nó thích ăn gì nhất?”

“Bé thích gan, gan luộc ạ.”

“Gan bê, hay gan lợn?”

“Gan gì cũng được ạ,” cô đồng hương của Švejk cười, coi câu hỏi sau cùng là câu đùa không thành công.

Cả hai cùng dạo quanh một lúc nữa, rồi cả con Schnauzer mang xích ở cổ cũng đến đi với họ. Nó tỏ ra rất thân mật với Švejk. Qua cái rọ mõm, nó muốn thử cắn quần của anh, nó nhảy chồm lên anh. Nhưng đột nhiên, như linh cảm thấy Švejk đang nghĩ gì về nó nên nó thôi không nhảy nữa, mà bước đi một cách buồn bã và ngập ngừng, đồng thời nghiêng mắt nhìn Švejk như thể muốn nói: “Vậy là chuyện đó cũng đến cả với tôi ư?”

Sau đó, cô gái còn nói với Švejk là buổi chiều nào vào lúc sáu giờ cô cũng đưa chó tới chỗ ấy, rằng cô không tin bất kỳ một người đàn ông nào ở Praha, rằng có lần cô đăng tin tìm bạn ở trên báo, có một người thợ khóa trả lời muốn lấy cô, nhưng hắn đã dụ dỗ lấy của cô tám trăm koruna, nghe bảo để dùng cho một phát minh nào đó, rồi biến mất tăm. Người ở nhà quê nhất định tử tế lương thiện hơn nhiều. Nếu có lấy chồng thì cô sẽ chỉ duy nhất lấy người nông thôn, nhưng mà phải sau chiến tranh. Cô coi các cuộc hôn nhân trong chiến tranh là điều ngu ngốc, bởi lẽ những người vợ ấy thường trở thành quả phụ.

Švejk cho cô nhiều hy vọng là sẽ tới vào lúc sáu giờ rồi đi khỏi nơi đó để báo tin cho anh bạn Blahník rằng con chó ăn gan, bất kể gan gì.

“Tớ sẽ thết nó gan bò,” Blahník quyết định, “tớ đã từng lấy gan bò nhử được con Bernard của ông Vydra chủ nhà máy, mà đấy lại là con vật rất là trung thành nhé! Ngày mai tớ sẽ dẫn nó đến cho cậu, mọi việc sẽ đâu vào đấy.”

Blahník đã giữ lời. Buổi trưa hôm sau, khi Švejk dọn nhà xong thì có tiếng chó sủa ở ngoài cửa, và Blahník kéo vào trong nhà con Schnauzer đang chống cự. Lông nó dựng đứng hẳn lên, tua tủa hơn hình dạng mà tạo hóa đã ban cho nó. Nó trợn đôi mắt dữ tợn nhìn một cách không hề thân thiện, đến mức trông nó giống như con hổ đói bị nhốt trong cũi đang đứng đối diện với một người béo tốt thăm vườn bách thú. Nó nghiến răng gầm gừ như muốn nói: Ta sẽ cấu xé, sẽ nuốt chửng các ngươi.

Họ một con chó vào chân bàn ăn rồi Blahník kể lại chuyện đã bắt nó như thế nào.

“Tớ cầm miếng gan luộc gói trong giấy và cố ý đi quanh nó. Cu cậu bắt đầu ngửi ngửi và nhảy lên tớ, nhưng tớ không cho nó cái gì cả mà tiếp tục đi. Nó đi theo sau tớ. Tới gần công viên tới ngoặt sang đường Bredovská, ở đấy tớ cho nó ăn miếng đầu tiên. Nó vừa ăn vừa đi để còn theo dõi được tớ. Rồi tớ rẽ sang đường Jindřišská, ở đấy tớ cho nó ăn tiếp. Khi cu cậu đã đánh chén hả hê, tớ xích nó lại và kéo qua quảng trường Václav sang Vinohrady rồi đi đến tận Vršovice. Dọc đường nó làm đủ trò thật lạ lùng. Khi đi qua đường ray tàu điện, nó nằm lăn ra không nhúc nhích, như thể nó muốn để tàu nghiến hay sao ấy. À, tớ có mang theo tờ mẫu chứng nhận thuần chủng chưa điền, tớ đã mua ở cửa hàng giấy của ông Fuchs. Còn cậu thì biết cách giả mạo giấy tờ chứng nhận thuần chủng rồi.”

“Nhưng mà phải chính tay cậu viết cơ. Cậu hãy viết rằng nó thuộc trại chó Von Bülow ở Leipzig. Bố là Arnheim von Kahlsberg, mẹ là Emma von Trautensdorf, ông ngoại là Siegfried. Rằng bố nó đã chiếm giải nhất tại triển lãm chó Schnauzer năm 1912 tại Berlin, còn mẹ nó thì được Hội nuôi chó quý ở Norimber tặng huy chương vàng. Này, thế cậu nghĩ nó mấy tuổi?”

“Cứ theo răng thì nó hai tuổi.”

“Thế thì cậu viết là nó được năm rưỡi.”

“Nhưng Švejk ạ, nó không được cắt xén tử tế, cậu nhìn tai nó mà xem.”

“Cái ấy thì sửa được. Để cho nó quen đã rồi cắt xén sau, chứ làm ngay bây giờ thì nó sẽ còn hung hăng hơn.”

Kẻ bị bắt trộm cáu tiết gầm gừ, thở phì phì và vùng vẫy, nhưng cuối cùng nó mệt mỏi nằm xuống, thè lưỡi ra và chờ xem cái gì sẽ còn xảy ra với nó.

Dần dần, nó trở nên bình tĩnh hơn, chỉ thỉnh thoảng lại rên rỉ thảm thương.

Švejk đặt trước nó miếng gan mà Blahník đưa cho anh. Nhưng nó không hề để ý đến mà ném ánh mắt gan lỳ nhìn cả hai như muốn bảo: “Tôi đã bị lừa một lần rồi, bây giờ thì các ông ăn đi!”

Nó nằm một cách cam chịu và làm như đang ngủ. Nhưng bỗng nhiên, nghĩ thế nào mà nó ngồi thẳng dậy và nhấc hai chân trước lên cầu xin. Nó đầu hàng.

Cảnh tượng cảm động ấy không gây tác động gì đến Švejk.

“Nằm xuống,” Švejk quát con vật tội nghiệp. Nó lại nằm xuống và rền rĩ một cách đau khổ.

“Tớ viết tên gì cho nó vào giấy này hả?” Blahník hỏi, “tên nó là Fox, nên cho nó cái tên nào tương tự để nó hiểu ngay.”

“Thế thì mình gọi nó là Max chẳng hạn. Cậu nhìn kìa, nó vểnh tai lên kìa. Đứng dậy, Max!”

Con chó tội nghiệp bị người ta cướp mất gia đình và cướp mất cả cái tên. Nó đứng dậy chờ lệnh mới.

“Tớ nghĩ là chúng mình nên tháo xích cho nó,” Švejk quyết định, “để xem nó sẽ làm gì?

Khi được cởi ra, các bước đi đầu tiên của con chó nhằm về phía cửa, nó nhìn nắm tay cửa và sủa ba tiếng ngắn, chắc hẳn là nó đặt hy vọng vào sự khoan hồng rộng lượng của hai con người độc ác kia. Khi thấy họ không có chút thông cảm nào với ao ước được đi ra ngoài của mình, nó tè một bãi ở ngay gần cửa và tin chắc là họ sẽ tống cổ nó ra, giống như người ta đã làm như thế khi nó còn là con cún con, và theo kiểu nhà binh, ngài đại tá đã nghiêm khắc rèn nó giữ gìn sạch sẽ trong nhà.

Nhưng thay vào đó, Švejk nhận định: “Con này khôn đây, giống như giáo sĩ Dòng Tên vậy.” Anh túm vòng cổ và kéo nó, dúi mõm nó vào bãi nước tiểu làm nó không kịp tránh.

Nó rên rỉ trước cái nhục nhã ấy và bắt đầu chạy quanh bếp, ngửi ngửi một cách tuyệt vọng dấu vết của chính mình. Đột nhiên, nó đi đến chân bàn, ăn hết những miếng gan luộc còn lại được đặt ở đấy, rồi nó đi đến nằm xuống cạnh bếp lò và nhắm mắt ngủ sau cuộc phiêu lưu đó.

“Thế tớ nợ cậu bao nhiêu?” Švejk hỏi khi chia tay Blahník.

“Đừng nói gì về chuyện ấy, Švejk ạ,” Blahník nhẹ nhàng bảo, “cho người bạn cũ của mình thì cái gì mà tớ chẳng làm, đặc biệt là khi bạn mình phục vụ trong quân đội. Tạm biệt cậu nhé. Mà nhớ đừng bao giờ dẫn nó đi qua quảng trường Havlíček để khỏi có chuyện chẳng lành. Nếu lần sau có cần con chó nào nữa thì cậu biết nhà tớ ở đâu rồi.”

Švejk để cho Max ngủ rất lâu. Trong khi nó ngủ, anh ra cửa hàng thịt mua hai lạng rưỡi gan về luộc, rồi chờ đến lúc Max thức giấc, anh đưa miếng gan còn nóng đến tận mũi nó.

Vẫn còn ngái ngủ, Max bắt đầu thè lưỡi liếm liếm, rồi nó vươn dài người ra, ngửi miếng gan và vội vàng ăn. Sau đó, nó đi đến cửa và lặp lại cái mẹo với tay nắm cửa. “Max, lại đây!” Švejk gọi nó.

Con chó đi đến anh một cách ngờ vực. Švejk nhấc ôm nó vào lòng và vuốt ve nó. Lần đầu tiên, Max thân thiện vẫy vẫy cái mẩu đuôi cụt và cắn nhẹ vào tay Švejk rồi giữ bàn tay anh trong miệng. Nó đưa mắt nhìn anh một cách khôn ngoan như thể muốn nói: Bây giờ thì chẳng làm được gì nữa. Tôi biết là tôi thua rồi.

Švejk tiếp tục vuốt ve con chó và bằng giọng dịu dàng, anh bắt đầu kể chuyện cho nó nghe:

“Ngày xửa ngày xưa, có một chú chó con tên là Fox, và cún Fox sống ở gia đình một ngài đại tá. Cô hầu của nhà ấy thường dẫn Fox đi dạo, rồi có một ông đã đến và bắt trộm Fox. Thế là Fox đi lính, rơi vào tay một ngài trung úy, và người ta đặt cho Fox cái tên là Max. Nào Max, đưa chân ra đây nào! Thấy chưa, hả đồ chó, chúng mình sẽ là bạn tốt của nhau, nếu cậu ngoan ngoãn và biết nghe lời. Còn không thì cậu sẽ biết thế nào là kỷ luật nhà binh.”

Max nhảy từ lòng Švejk xuống và bắt đầu vui vẻ nhảy chồm lên anh. Và cho đến chiều, khi trung úy từ doanh trại trở về thì Švejk và Max đã là những người bạn tốt nhất của nhau.

Nhìn Max, Švejk ngẫm nghĩ một cách triết lý: “Suy cho cùng thì người lính cũng là kẻ bị bắt trộm đi từ gia đình của mình.”

Trung úy Lukáš rất lấy làm ngạc nhiên dễ chịu khi thấy Max cũng tỏ ra vui mừng là lại trông thấy một người đàn ông mang kiếm.

Trả lời câu hỏi con chó từ đâu ra và giá bao nhiêu, Švejk thản nhiên như không, nói rằng đó là món quà mà một người bạn vừa nhập ngũ đã tặng anh.

“Tốt,” trung úy vừa nói vừa chơi với Max, “đến đầu tháng tôi sẽ đưa cho anh năm mươi koruna tiền chó.”

“Thưa trung úy, tôi không thể nhận món tiền ấy được.”

“Này Švejk,” trung úy nghiêm khắc nói, “khi anh đến đây phục vụ, tôi đã nói cho anh biết là anh phải nghe lời. Khi mà tôi bảo anh sẽ được nhận năm mươi koruna, thì anh sẽ phải nhận và sẽ đi uống bằng hết số tiền ấy. Thế nào, anh sẽ làm gì với năm mươi koruna ấy hả?”

“Xin báo cáo trung úy, tôi sẽ uống bằng hết theo lệnh trung úy ạ.”

“Và nếu mà tôi quên không đưa, thì tôi ra lệnh cho anh phải nhắc tôi là phải đưa cho anh năm mươi koruna tiền chó. Anh hiểu không? Nó có bọ chét không đấy? Tốt hơn hết là anh tắm rồi chải lông cho nó. Ngày mai tôi phải thường trực, nhưng ngày kia tôi sẽ đưa nó đi dạo.”

Trong khi Švejk tắm cho Max thì ngài đại tá, chủ nhân cũ của nó, lồng lộn điên cuồng ở nhà, đe dọa là sẽ đưa kẻ bắt trộm chó của ngài ra trước tòa án quân sự, rằng sẽ đem kẻ ấy ra xử bắn, sẽ treo cổ, sẽ giam tù hai mươi năm và sẽ băm nhỏ hắn ra.

“Đồ quỷ tha ma bắt,” đại tá gầm thét bằng tiếng Đức làm rung cả kính cửa sổ căn hộ, “tao sẽ cho bọn giết người ấy biết tay.”

Một thảm họa đang lơ lửng treo trên đầu Švejk và trung úy Lukáš.

← Dunajec: con sông ở miền Nam Ba Lan.

← Beskydy là dãy núi ở vùng Đông Bắc Morava, giáp Slovakia, Ba Lan và Ukraina.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.