Trong một khoang hạng hai của tàu tốc hành tuyến Praha – České Budějovice có ba người. Đó là trung úy Lukáš, ngồi đối diện với trung úy là một người đàn ông có tuổi với cái đầu hói nhẵn bóng, và Švejk, lúc đó đang yên lặng đứng ở cửa ra vào, kiên nhẫn chờ trận lôi đình mới của trung úy. Bất chấp sự có mặt của người đàn ông thường dân hói đầu, trung úy gầm gào chửi mắng Švejk suốt đường đi, rằng Švejk là đồ bò ngu xuẩn và những thứ tương tự như thế.
Lý do chẳng là điều gì khác ngoài một chuyện vặt là số lượng hành lý mà Švejk có nhiệm vụ canh giữ.
“Người ta lấy cắp va-li của chúng ta,” trung úy mắng Švejk, “nói cứ như không vậy, đồ khốn kiếp!”
“Báo cáo trung úy,” Švejk nói nhỏ, “quả thật người ta lấy cắp mất ạ. Ở nhà ga bao giờ cũng có nhiều kẻ lang thang chuyên trộm cắp. Tôi nghĩ là chắc chắn có một kẻ nào đó thích cái va-li của trung úy, và chắc chắn hắn lợi dụng cơ hội lúc tôi đi khỏi đám hành lý để đến thông báo cho trung úy biết là hành lý của chúng ta ổn cả. Hắn có thể lấy cắp chiếc va-li ấy của chúng ta đúng vào lúc thuận lợi như vậy. Bọn chúng bao giờ cũng chờ những thời cơ có một không hai như thế. Cách đây hai năm, ở nhà ga Tây Bắc, có một bọn lưu manh lấy cắp cái xe nôi với cả con bé con bọc chăn nằm trong đó nữa của một bà mẹ trẻ. Bọn ấy đã cao thượng đến mức mang đứa bé đến nộp cho phòng cảnh sát ở phố của tôi, rằng chúng nhặt được cháu bé bị vất ở chỗ đường hầm. Sau đó, báo chí viết về bà mẹ trẻ tội nghiệp như là về một người mẹ vô lương tâm bỏ con.”
Và Švejk tuyên bố một cách quả quyết: “Ở nhà ga bao giờ cũng có chuyện trộm cắp và sẽ có kẻ cắp. Không thể nào khác được.”
“Này Švejk,” trung úy nói, “tôi tin chắc nhất định có ngày anh kết thúc chẳng ra gì. Tôi không biết có phải anh cố làm thằng ngu, hay khi đẻ ra anh đã ngu độn như thế này. Cái gì ở trong va-li ấy, hả?”
“Thưa trung úy, chẳng có gì đáng kể ạ.” Švejk nói, mắt không rời cái đầu nhẵn thín của ông thường dân ngồi ở ghế đối diện. Xem ra thì ông ấy chẳng hề tỏ ra có quan tâm gì đến việc của trung úy và Švejk, mà chỉ mải đọc tờ báo Neue Freie Presse. “Trong cái va-li ấy chỉ có chiếc gương đã treo ở phòng với cái giá treo áo bằng sắt vẫn đứng ở tiền sảnh thôi ạ. Tức là chúng ta chẳng bị thiệt hại gì, bởi vì cả chiếc gương lẫn cái giá treo áo đều là của ông chủ nhà ạ.”
Nhìn thấy tín hiệu khủng khiếp phát ra từ phía trung úy, Švejk tiếp tục bằng giọng hiền lành: “Báo cáo trung úy, tôi đâu có biết trước về việc cái va-li ấy sẽ bị mất. Còn về chiếc gương và cái giá treo áo thì tôi cũng đã nói với ông chủ nhà rồi, rằng chúng ta sẽ trả lại ông ấy lúc chúng ta trở về khi chiến tranh kết thúc. Ở các nước của kẻ thù thì có nhiều gương và giá treo áo lắm, vì thế trong trường hợp này chúng ta cùng với ông chủ nhà cũng chẳng phải chịu tổn thất gì cả. Hễ mà chúng ta chiếm được một thành phố nào…”
“Này, có im đi không hả?” Bằng giọng đe dọa, trung úy cướp lời, “Thế nào cũng có ngày tôi đưa anh ra tòa án quân sự. Anh thử nghĩ cho kỹ đi, xem có phải anh là thằng cha ngu độn nhất trên đời không. Có những người có thể sống đến một nghìn năm, nhưng cũng không thể nào làm được tất cả những điều ngu ngốc như anh đã làm chỉ trong vòng mấy tuần. Tôi hy vọng là anh cũng nhận thấy điều đó.”
“Báo cáo trung úy là tôi cũng nhận thấy điều đó ạ. Như người ta thường nói thì tôi có một khả năng quan sát rất tốt, nhưng mà chỉ vào lúc đã muộn, khi có điều không may nào đó đã xảy ra. Tôi luôn luôn không may mắn, giống như một người tên là Nechleba phố Nekázanka. Ông này hay đi đến quán Rừng chó cái. Bao giờ ông ấy cũng muốn làm việc tốt và vào ngày thứ Bảy nào cũng muốn làm lại cuộc đời. Nhưng ngày hôm sau, bao giờ ông cũng bảo bạn bè: ‘Các cậu ạ, thế là đến sáng tớ lại thấy mình nằm trên giường gỗ ở phòng tạm giam.’ Chuyện nằm giường gỗ bao giờ cũng xảy ra, mỗi khi ông ấy quyết định sẽ đi thẳng về nhà một cách tử tế an toàn, nhưng cuối cùng thì hoặc ông làm đổ hàng rào đâu đó, hay ông tháo ngựa khỏi xe của người đánh xe ngựa, hay muốn lấy lông đuôi gà trống ở mũ trên đầu cảnh sát để làm cái thông tẩu. Ông ấy vô cùng tuyệt vọng và nhất là rất lấy làm tiếc, rằng sự không may mắn ấy theo đuổi gia đình ông suốt cả mấy thế hệ. Có một lần, ông nội của ông ấy đi phượt…”
“Này Švejk, để cho tôi yên thân, đừng kể lể dông dài gì nữa…”
“Báo cáo trung úy là tất cả những gì tôi kể ở đây đều hoàn toàn đúng sự thật ạ. Cái lần ông nội của ông ấy đi phượt…”
“Švejk,” trung úy nổi cáu, “một lần nữa tôi cấm anh kể bất kỳ chuyện gì, tôi cũng không muốn nghe gì cả. Về đến Budějovice tôi sẽ giải quyết mọi chuyện với anh. Này, anh có biết là tôi sẽ cho giam anh lại không?”
“Báo cáo trung úy là tôi không hề biết gì về việc đó ạ.” Švejk nhẹ nhàng đáp, “Trung úy vẫn chưa nói gì với tôi về việc đó ạ.”
Trung úy nghiến răng, ông thở dài, rút tờ Bohemie từ túi áo khoác rồi đọc các tin về những chiến thắng lớn, về hoạt động của tàu ngầm E của Đức ở vùng Địa Trung Hải. Khi bắt đầu đọc tin về phát minh mới của Đức trong việc trút bom phá hủy các thành phố, loại bom đặc biệt nổ ba lần, thì trung úy bị phá rối bởi tiếng của Švejk nói với người đàn ông hói đầu: “Kính thưa ông, tôi xin lỗi, ông có phải là ông Purkrábek, đại lý của Ngân hàng Bảo hiểm Slavia không ạ?”
Khi thấy người đàn ông ấy không trả lời, Švejk quay sang nói với trung úy Lukáš: “Báo cáo trung úy, một lần tôi đọc báo, thấy ở đấy viết là một người bình thường có trên đầu trung bình từ sáu mươi đến bảy mươi nghìn sợi tóc, rằng tóc đen thì thường thưa hơn, như ta thấy nhiều trường hợp.”
Và Švejk tiếp tục một cách tàn bạo: “Một lần, có một sinh viên trường Y nói ở quán U Špírků rằng tóc rụng là do ảnh hưởng của việc thay đổi tâm thần trong thời kỳ sáu tuần sau khi đẻ.”
Và bây giờ thì một việc khủng khiếp đã xảy ra. Người đàn ông có cái đầu hói nhẵn thín nhảy chồm lên Švejk và gào to bằng tiếng Đức: “Cút ra kia, đồ con lợn!” rồi đá phốc anh ra ngoài hành lang. Khi quay trở lại khoang, người ấy làm trung úy Lukáš hơi ngạc nhiên một chút, khi tự giới thiệu mình với trung úy.
Vâng, té ra đó là một sự nhầm lẫn nhỏ. Người đàn ông hói đầu ấy không phải là ông Purkrábek, đại lý của Ngân hàng Bảo hiểm Slavia, mà chỉ là chuẩn tướng von Schwarzburg thôi! Ngài chuẩn tướng mặc thường phục đang trên đường đi thanh tra các đơn vị và bây giờ thì ngài đi gây bất ngờ cho đơn vị ở Budějovice.
Đó là một vị tướng thanh tra khét tiếng nhất trần đời. Chỉ cần phát hiện ra một thiếu sót nhỏ nào đó là ngài nói như thế này với chỉ huy đơn vị: “Ông có súng lục không?”
“Có ạ.”
“Tốt! Ở vào địa vị của ông, nhất định tôi biết sẽ làm gì với khẩu súng ấy, bởi vì tôi thấy đây không phải là một đơn vị quân đội, mà là một đàn lợn.”
Và thật sự là sau các chuyến kinh lý của ngài, thỉnh thoảng ở chỗ này hay chỗ kia có người dùng súng tự sát. Và ngài chuẩn tướng von Schwarzburg thì hài lòng tuyên bố: “Thế mới phải chứ! Thế mới đúng là người lính chứ!”
Xem ra thì chuẩn tướng không hài lòng khi mà sau chuyến thanh tra của ngài vẫn còn người nào sống sót. Bao giờ ngài cũng thấy thôi thúc phải thuyên chuyển các sĩ quan tới những chỗ khó chịu nhất. Chỉ cần phạm một lỗi rất nhỏ thôi là người sĩ quan đã phải chia tay đơn vị mình để lên đường đến biên giới Montenergo, hoặc đến một đơn vị bê bết và tuyệt vọng ở một xó xỉnh bẩn thỉu nào đó của vùng Galicia.
“Này trung úy,” ngài chuẩn tướng nói, “anh đã theo học trường sĩ quan ở đâu?”
“Báo cáo, ở Praha.”
“Ừ, anh đã học trường sĩ quan, thế mà thứ nhất, anh không biết cả đến việc sĩ quan phải chịu trách nhiệm về người cấp dưới của mình. Hay thật đấy! Thứ hai, anh trò chuyện với lính hầu của anh như là với người bạn thân, anh cho phép hắn tự do nói, cho dù không ai hỏi hắn. Cái này còn hay hơn! Thứ ba, anh cho phép hắn xúc phạm đến cấp trên của anh, và cái này là cái hay nhất! Từ tất cả những điều ấy, tôi sẽ rút ra kết luận. Anh tên là gì, hả trung úy?”
“Thưa, Lukáš.”
“Anh ở trung đoàn nào?”
“Tôi đã ở…”
“Cảm ơn anh, không ai hỏi anh đã ở đâu, tôi muốn biết bây giờ anh đang ở đâu.”
“Ở trung đoàn bộ binh 91, thưa chuẩn tướng. Người ta chuyển tôi…”
“Người ta chuyển anh ư? Họ làm thế là tốt. Nếu mà trong thời gian gần đây nhất anh đi cùng trung đoàn bộ binh 91 ra mặt trận thì cũng sẽ chẳng có vấn đề gì.”
“Đã có quyết định rồi, thưa chuẩn tướng.”
Ngài chuẩn tướng bắt đầu thuyết trình một hồi về việc trong những năm gần đây, ngài quan sát thấy các sĩ quan nói năng với cấp dưới của mình thân mật như với người bằng vai phải lứa, và chuẩn tướng thấy ở chỗ này cái nguy hiểm của sự lan truyền những nguyên tắc dân chủ nào đó. Người lính phải bị kìm trong sợ hãi, người lính phải run rẩy trước cấp trên của mình, phải sợ cấp trên. Sĩ quan phải cách xa cấp dưới, không để họ thân cận với mình, không được cho phép họ độc lập suy nghĩ, thậm chí họ không được suy nghĩ. Việc sĩ quan thân mật với lính là sai lầm bi thảm của những năm gần đây. Trước kia, quân lính sợ sĩ quan như sợ hùm, nhưng mà bây giờ…

Trung úy Lukáš
Chuẩn tướng phẩy tay tuyệt vọng: “Bây giờ thì sĩ quan âu yếm thân mật với quân lính. Đấy là điều tôi muốn nói.”
Ngài chuẩn tướng lại cầm tờ báo và vùi đầu đọc. Tức đến nhợt người, trung úy Lukáš đi ra ngoài hành lang để tính chuyện với Švejk.
Ông nhìn thấy Švejk đang đứng ở gần cửa sổ, với vẻ mặt hân hoan và hài lòng chỉ có ở đứa trẻ một tháng tuổi đang say sưa ngủ sau khi được bú no nê.
Trung úy dừng lại, hất hàm về phía Švejk và chỉ cho anh khoang tàu còn trống. Ông đi theo Švejk và đóng cửa khoang lại.
“Này,” ông nghiêm khắc nói, “bây giờ là lúc tôi cho anh mấy cái tát vỡ mặt. Tại sao anh lại đi xúc phạm cái ông trọc đầu ấy? Anh có biết đây là ngài chuẩn tướng von Schwazburg không, hả?”
“Báo cáo trung úy,” Švejklên tiếng, trông anh như người tử đạo, “trong đời mình chưa bao giờ tôi có ý định xúc phạm đến ai, và tôi cũng hoàn toàn không có ý thức gì, cũng không biết gì về một ngài chuẩn tướng nào cả ạ. Ông ấy quả thật giống hệt ông Purkrábek, đại lý của Ngân hàng Slavia. Ông này thường đến quán của chúng tôi và có một lần, khi ông ấy ngủ gục ở bên bàn thì có một người tốt bụng nào đó lấy bút mực viết lên cái đầu hói của ông ấy thế này: ‘Hãy mua bảo hiểm nhân thọ với mức lãi suất cao cho con của bạn!’ Tất nhiên là sau đó mọi người về cả, chỉ còn một mình tôi ngồi lại với ông ấy. Tôi chẳng bao giờ gặp may, vì khi tỉnh dậy và soi gương thấy dòng chữ, ông ấy đổ riệt là tôi đã viết, và ông ấy cũng muốn cho tôi ăn mấy cái tát.”
Từ cũng được Švejk nói ra có pha chút trách móc, nhưng nhẹ nhàng đến cảm động, tới mức mà trung úy hạ tay mình xuống.
Và Švejk lại tiếp tục: “Nhưng mà chỉ vì cái nhầm lẫn cỏn con thế thì ông ấy cũng chẳng phải nổi giận làm gì. Quả thật theo bài báo thì ông ấy phải có sáu mươi đến bảy mươi nghìn sợi tóc như một người bình thường. Không bao giờ tôi nghĩ đến việc là lại có thể có một ngài chuẩn tướng hói đầu. Như người ta thường bảo thì đây là điều đáng buồn, có thể xảy ra với bất kỳ ai, khi mà người ấy đưa ra một nhận xét nào đó và người thứ hai thì vơ ngay nó vào mình. Cách đây cũng mấy năm, có một ông thợ may tên là Hývl kể là một lần, ông ấy đi tàu hỏa từ Steiermark nơi ông ấy làm việc, qua Leoben để về Praha, và ông ấy có mang theo người một miếng giăm bông mua ở Maribor. Ngồi trên tàu, ông thợ may nghĩ rằng mình là người Séc duy nhất trong tất cả các hành khách. Khi tàu đến gần chỗ Thánh Moritz, ông lấy miếng giăm bông ra cắt ăn và ông khách ngồi ở ghế đối diện bắt đầu nhìn miếng giăm bông một cách thèm thuồng, miệng thì nhỏ dãi. Khi trông thấy thế, ông thợ may Hývl tự nói với mình: ‘Chắc là cậu cũng muốn chén nhỉ, hả đồ khốn?’ Và ông khách trả lời bằng tiếng Séc: ‘Tất nhiên là tớ chén, nếu cậu cho.’ Thế là trước khi tàu về đến Budějovice, cả hai cùng ăn hết miếng giăm bông. Ông khách ấy tên là Vojtěch Rous.”
Trung úy Lukáš lườm Švejk rồi đi ra khỏi khoang tàu. Khi đã trở lại chỗ ngồi, ông lại thấy khuôn mặt trung thực của Švejk hiện ra ở giữa cửa khoang: “Báo cáo trung úy, năm phút nữa tàu đến Tábor⦾, sẽ dừng ở đấy năm phút. Trung úy có muốn mua gì ăn không ạ? Trước đây, ở ga có một món rất ngon…”
Trung úy điên tiết đứng phắt dậy và nói với Švejk ở ngoài hành lang: “Một lần nữa tôi bảo cho anh biết là anh càng khuất mắt tôi bao nhiêu thì tôi càng sung sướng bấy nhiêu. Tốt nhất là tôi không phải nhìn thấy cái mặt anh nữa, và anh cứ yên tâm, tôi sẽ thu xếp việc này. Đừng để tôi phải trông thấy anh nữa, xéo đi cho khuất mắt tôi, đồ con bò, đồ ngu xuẩn!”
“Xin tuân lệnh, thưa trung úy!”
Švejk giơ tay chào, quay gót theo kiểu nhà binh và đi tới cuối hành lang, rồi ngồi xuống cái ghế dành cho người soát vé ở góc đó. Và anh bắt đầu nói chuyện với một nhân viên phục vụ tàu: “Thưa ông, tôi xin phép hỏi ông một câu có được không ạ?”
Người phục vụ tàu chẳng hề tỏ ra có hứng nói chuyện, ông ta thờ ơ gật nhẹ đầu.
“Ông ạ, có một người tốt bụng tên là Hofmann thường đến nhà tôi chơi. Ông ấy luôn luôn bảo là những cái phanh khẩn cấp này chẳng bao giờ hoạt động, rằng nói tóm lại là nó không hoạt động, cho dù ta có giật cái tay kéo này thì cũng không có gì xảy ra cả. Thực ra mà nói thì tôi chẳng bao giờ quan tâm đến chuyện đó, nhưng mà một khi đã trông thấy nó thì tôi cũng muốn biết thực hư thế nào, để ngộ có lúc cần đến…”
Švejk đứng lên và cùng với nhân viên phục vụ tàu tiến tới cái phanh khẩn cấp có đề dòng chữ Sử dụng khi có nguy hiểm.
Nhân viên phục vụ tàu cho rằng mình có nghĩa vụ giải thích để Švejk hiểu về hoạt động của thiết bị báo động ấy. “Ông ấy đúng, khi nói là phải giật cái tay kéo này, nhưng ông ấy sai, khi bảo rằng phanh không hoạt động. Tàu bao giờ cũng sẽ dừng lại, bởi vì thiết bị được nối qua tất cả các toa với đầu tàu. Đã là phanh khẩn cấp thì bao giờ nó cũng phải hoạt động chứ?”
Trong khi nói với nhau, cả hai người đều đặt tay lên tay kéo của phanh, và dứt khoát đó phải là điều bí ẩn, vì chẳng biết thế nào mà cả hai cùng giật tay kéo và đoàn tàu lập tức dừng lại.
Họ không sao nhất trí được với nhau ai là người đã khiến cho thiết bị phanh khẩn cấp đi vào hoạt động.
Švejk khẳng định rằng không thể là anh, rằng anh không làm việc đó và anh đâu phải là thằng bé nghịch ngợm.
“Chính tôi cũng lấy làm lạ,” anh từ tốn nói với nhân viên phục vụ tàu, “là tại sao tàu lại đột ngột dừng lại. Nó đang chạy, rồi tự nhiên dừng lại. Tôi còn cảm thấy ân hận hơn cả ông nữa kia.”
Có một người đàn ông đáng kính lên tiếng bênh vực nhân viên phục vụ tàu và khẳng định rằng ông ấy đã nghe thấy người lính là người gợi chuyện trước về thiết bị phanh khẩn cấp.
Ngược lại, Švejk nói mãi về sự trung thực của mình, rằng anh không hề có ý định làm tàu chậm lại, bởi vì anh đang trên đường ra mặt trận.
“Ông trưởng ga sẽ giải thích cho anh,” người phục vụ tàu quyết định, “anh sẽ bị phạt hai chục koruna.”
Trong khi đó, hành khách chạy ra khỏi các toa tàu, người trưởng tàu huýt còi, có một bà nào đó còn hốt hoảng xách va-li băng qua đường ray chạy ra ruộng.
“Chỉ bị phạt có hai chục koruna,” Švejk hết sức bình tĩnh và ra vẻ hiểu biết, “thì quả là rẻ. Một lần, khi Hoàng đế đi thăm Žižkov thì có một người đàn ông tên là Franta Šnor đến quỳ gối ở giữa đường để chặn xe của Hoàng đế. Ông ủy viên cảnh sát khu ấy vừa khóc vừa bảo rằng đáng ra thì ông Franta không được làm như thế ở khu vực của ông, rằng đáng lẽ phải làm như thế ở phố bên dưới là phố thuộc quyền kiểm soát của ông cảnh sát trưởng Kraus. Vâng, phải chào Hoàng đế ở phố dưới ấy chứ không phải ở phố trên này. Sau đó, người ta bắt giam ông ấy.”
Švejk nhìn xung quanh, vừa đúng lúc ông trưởng tàu đi tới đám đông đang nghe anh.
“Thôi, bây giờ thì chúng ta nên đi tiếp chứ!” Švejk nói, “Tàu chậm là điều chẳng hay ho gì. Giá mà trong thời bình thì bảo cho qua chuyện, nhưng đằng này trong chiến tranh thì ai cũng phải biết là ở đoàn tàu nào cũng có người của quân đội, cũng có các chuẩn tướng, các trung úy và các lính hầu của sĩ quan. Mỗi một chuyến tàu bị chậm như thế rất có thể gây ra nguy hại. Ở Waterloo, Napoleon chỉ chậm có năm phút mà cả vinh quang của ngài bị đi đời nhà ma…”
Trung úy Lukáš chen qua đám đông đến nơi. Mặt ông tái nhợt vì tức giận, ông không nói ra được gì hơn, ngoài câu “Này, Švejk!”
Švejk giơ tay chào: “Báo cáo trung úy, người ta đổ tội cho tôi làm tàu dừng lại. Ngành đường sắt có những cái phanh khẩn cấp kỳ lạ đến mức tốt nhất là không nên tới gần chúng, nếu không thì có thể xảy ra chuyện không may và sẽ bị phạt hai mươi koruna, giống như tôi đây ạ.”
Ông trưởng tàu đã ra hiệu lệnh và tàu lại chuyển bánh.
Mọi người quay trở lại chỗ ngồi của mình, trung úy Lukáš không hề nói một câu nào và cũng vào toa ngồi.
Chỉ còn lại Švejk cùng người soát vé và nhân viên phục vụ tàu. Người soát vé rút sổ ra và bắt đầu ghi chép lại toàn bộ sự kiện. Nhân viên phục vụ tàu giận dữ nhìn Švejk khi anh bình thản hỏi: “Thế ông làm việc ở ngành đường sắt đã lâu chưa?”
Bởi vì người phục vụ tàu không trả lời, Švejk lên tiếng kể rằng anh có biết một ông tên là Mlíček František người ở Uhněves gần Praha. Một lần, ông này cũng kéo phanh khẩn cấp như thế này và đã giật mình đến mức mà bị câm đến mười bốn ngày. Ông ấy bật nói lại được khi đến Hostivař chơi với người bạn là người làm vườn, rồi đánh nhau ở đấy, và người ta đã quất ông ấy bằng roi gân bò. “Chuyện ấy xảy ra vào năm 1912, vào tháng Năm.” Švejk nói thêm.
Nhân viên phục vụ tàu đi mở cửa phòng vệ sinh và khóa mình trong đó.
Người soát vé yêu cầu Švejk trả hai mươi koruna tiền phạt. Ông ấy bảo nếu không thì đến ga Tábor sẽ giải Švejk đến trình trưởng ga.
“Cũng được,” Švejk trả lời, “tôi thích nói chuyện với những người có học thức và tôi sẽ lấy làm vinh dự được gặp ông trưởng ga ở Tábor.”
Švejk rút cây tẩu từ túi áo, châm lửa hút và nhả làn khói cay đậm từ thuốc lá của nhà binh rồi nói tiếp: “Trước đây, ở Svitava có ông trưởng ga tên là Wagner. Ông ấy là người rất nghiêm khắc đối với cấp dưới và khi có thể thì thường hành hạ họ, đặc biệt ông ấy bắt nạt một người bẻ ghi tên là Jungwirt. Ông ấy trù người bẻ ghi ấy đến mức mà anh ta thấy quá khổ sở và đã nhảy xuống sông tự vẫn. Nhưng trước khi làm việc ấy, anh ta viết thư cho trưởng ga, báo là cứ đêm đến thì sẽ về ám ông ấy. Thật đấy, tôi không nói điêu đâu! Quả thật anh ta đã làm như thế. Vào ban đêm, cứ đúng lúc ông trưởng ga ngồi bên máy điện tín là có tiếng chuông réo và ông ấy nhận được bức điện là: ‘Thế nào, cậu có khỏe không, hả thằng ranh? Jungwirt.’ Việc ấy lặp lại trong suốt cả một tuần và ông trưởng ga bắt đầu gửi điện đến tất cả các nhà ga với bức điện công vụ làm câu trả lời cho con ma ấy: ‘Anh Jugwirt ơi, xin anh tha lỗi cho tôi.’ Đêm hôm sau, máy điện tín đánh ra bức điện trả lời: ‘Cậu hãy đi treo cổ ở cây đèn giao thông đầu cầu.’ Ông trưởng ga nghe theo. Sau đó, vì việc này mà người ta bắt giam nhân viên điện tín nhà ga trước ga Svitava. Ông thấy đấy, có những việc giữa trời và đất mà ta không hề biết đến như thế đấy.”
Tàu vào ga Tábor. Trước khi cùng người soát vé rời tàu, Švejk đến báo tin cho trung úy theo đúng phận sự: “Báo cáo trung úy, người ta dẫn tôi đến gặp ông trưởng ga ạ.”
Trung úy Lukáš không trả lời. Ông cảm thấy hoàn toàn thờ ơ với tất cả mọi chuyện và trong đầu ông thoáng qua một ý nghĩ là tốt nhất không thèm để ý đến bất kỳ một cái gì nữa. Không để ý đến Švejk, cũng như không để ý đến ngài chuẩn tướng hói đầu ngồi ghế đối diện. Sẽ ngồi im cho đến lúc xuống tàu ở ga Budějovice, đến trình diện ở doanh trại và đi cùng một đại đội nào đó hành quân ra mặt trận. Ở ngoài mặt trận sẽ để bị giết và thế là rời bỏ được cái thế giới khốn nạn này, nơi có đồ quái vật như Švejk lang thang đây đó.
Khi tàu chuyển bánh, trung úy nhìn qua cửa sổ và trông thấy Švejk đang đứng trên thềm ga mải nói chuyện với ông trưởng ga. Một nhóm người đứng vây quanh anh, trong đó có mấy người mặc đồng phục của nhân viên đường sắt.

Trung úy Lukáš thở dài. Đó không phải là cái thở dài nuối tiếc. Việc Švejk ở lại nhà ga làm ông thấy nhẹ nhõm trong lòng. Thậm chí ngay cả ngài chuẩn tướng hói đầu cũng không làm ông cảm thấy ngài là một đồ quái vật đáng ghét nữa.
Con tàu tốc hành chuyển bánh chạy về hướng České Budějovice đã lâu rồi, nhưng ở ga Tábor thì số người đứng xung quanh Švejk vẫn không hề giảm đi.
Švejk nói về sự vô tội của mình và đã thuyết phục được đám đông tới mức mà có một bà phát biểu: “Người ta lại làm tội một anh lính.”
Đám đông công nhận ý kiến ấy và có một người đàn ông quay sang tuyên bố với trưởng ga, là sẽ trả hai mươi koruna tiền phạt thay cho Švejk. Ông tin chắc rằng anh lính ấy không hề có lỗi gì trong việc này.
“Cứ nhìn anh ấy là đủ rõ,” ông khẳng định, khi thấy khuôn mặt vô cùng trung thực của Švejk. Còn anh thì đang nói với đám đông: “Thưa các ông các bà, tôi vô tội.”
Sau đó, có một ông hiến binh đến và bắt một công dân từ đám đông, giải người ấy đi và bảo: “Ông sẽ phải chịu trách nhiệm về việc gây phẫn nộ trong dân chúng: Sao lại đối xử như vậy với binh lính? Thế thì làm sao có thể đòi hỏi binh lính phải đưa nhà nước Áo đi đến chiến thắng được?”
Người công dân bất hạnh không biết nói gì hơn, ngoài việc khẳng định rằng ông ta là thợ mổ thịt ở Stará Brána và ông ấy không hề có ý định gây phẫn nộ.
Trong khi đó, người đàn ông tốt bụng tin vào sự vô tội của Švejk đã vào văn phòng trả tiền phạt cho anh, rồi đưa Švejk vào uống bia ở quán ăn hạng ba. Khi được biết là Švejk để ở trên tàu chỗ trung úy Lukáš tất cả mọi giấy tờ, kể cả vé đi tàu của quân nhân, người ấy còn hào phóng đưa cho Švejk mười koruna để mua vé tàu và tiêu vặt.
Khi chia tay, người đàn ông ấy nói với Švejk: “Anh lính ạ, như tôi đã bảo anh, nếu có bị bắt làm tù binh ở Nga thì anh cho tôi gửi lời thăm ông Zeman nấu bia ở Zdolbuniv tại Ukraina nhé! Anh đã ghi lại tên tôi rồi. Anh hãy khôn ngoan, để khỏi phải ở lâu ngoài mặt trận nhé!”
“Xin ông đừng lo gì ạ,” Švejk trả lời, “đó cũng là chuyện hay, khi được ra nước ngoài mà không phải trả tiền.”
Švejk ngồi lại một mình ở bàn. Trong khi anh im lặng uống bia bằng mười koruna của người đàn ông hảo tâm, thì ở ngoài thềm ga, những người không được chứng kiến cuộc nói chuyện giữa Švejk và ông trưởng ga mà chỉ trông thấy từ xa thì bảo cho nhau là người ta đã bắt được một tên gián điệp chụp ảnh nhà ga. Một người đàn bà cãi là chẳng có chuyện tình báo gián điệp nào cả, mà bà ấy đã nghe thấy chuyện một lính long kỵ binh đánh nhừ tử một sĩ quan ở cạnh nhà vệ sinh nữ, bởi vì viên sĩ quan ấy mò vào đó với cô người yêu của anh.
Đội hiến binh đến đuổi mọi người đi khỏi thềm ga, chấm dứt các chuyện đồn đại linh tinh, biểu hiện đặc trưng cho không khí bối rối bất yên của thời chiến. Và Švejk thì yên lặng tiếp tục uống trong nỗi nhớ trung úy của mình. Không biết trung úy sẽ làm gì, khi tàu tới České Budějovice mà ngài không có người lính hầu của mình đi cùng.
Trước khi tàu khách tới Tábor, quán ăn hạng ba ở nhà ga dần dần đầy những người lính và cả dân thường. Phần lớn họ là những người lính của các trung đoàn và các đơn vị khác nhau, của đủ các dân tộc khác nhau mà cơn lốc chiến tranh đã thổi bạt tới những bệnh viện ở Tábor. Bây giờ, họ lại lên đường ra mặt trận, để lại có thêm những vết thương mới và những nỗi đau đớn mới, họ lại ra đi để giành được cây thập tự gỗ đơn sơ trên những nấm mồ của mình. Và tận nhiều năm sau, ở vùng đất buồn thảm của miền Đông Galicia, trên cây thập tự gỗ ấy sẽ vẫn còn cái mũ lính Áo bạc phếch, có gắn chiếc quân hiệu Frantík hoen rỉ, đung đưa theo mưa gió. Thỉnh thoảng, có con quạ già nua buồn rầu bay đến đậu trên chiếc mũ ấy, nó sẽ nhớ lại những bữa tiệc thịnh soạn trong những năm trước đó, khi nơi này đối với nó là một bàn tiệc dài vô tận xếp đầy xác người ngon lành và cả xác ngựa, khi mà bên dưới cái mũ nó đang đậu vẫn còn có miếng ăn ngon nhất, đó là đôi mắt của con người.
Một trong những ứng cử viên của nỗi thống khổ đó, xuất viện quân y sau khi mổ, trên người mặc bộ quân phục nhem nhuốm đầy vết máu và bùn, tới ngồi vào bàn cạnh Švejk. Người ấy hết sức còi cọc, gầy gò và buồn bã. Người ấy đặt cái gói nhỏ lên bàn, kéo chiếc ví rách ra rồi bắt đầu đếm tiền.
Sau đó, người ấy nhìn Švejk và hỏi bằng tiếng Hungary: “Anh là người Hungary à?”
“Anh bạn ơi, tớ người Séc,” Švejk trả lời, “cậu có muốn uống không?”
“Anh ơi, tôi không hiểu,” người ấy nói.
“Không sao,” Švejk nói và đẩy cốc bia đầy của mình tới trước mặt người lính buồn, “cứ uống cho đã đi!”
Người ấy hiểu ra, bèn nâng cốc uống và bảo: “Cảm ơn anh.” rồi lại tiếp tục xem cái ví của mình và thở dài.
Švejk hiểu là người Hungary ấy muốn uống bia nhưng không có đủ tiền. Vì thế, anh gọi cho người ấy một cốc, và người ấy lại cảm ơn anh. Rồi vừa nói vừa làm động tác, người ấy kể cho Švejk về một chuyện gì đó. Người ấy chỉ cho anh xem cánh tay bị trúng đạn và nói bằng thứ tiếng quốc tế: “Píp, páp, pút.”

Švejk gật đầu thương cảm và người lính gầy còm đang hồi phục sức khỏe giơ tay trái, xòe ba ngón tay ra hiệu rằng có ba đứa con nhỏ.
“Không có gì, không có gì ăn,” người lính Hungary tiếp tục nói, rồi đưa ống tay áo quân phục bẩn thỉu lên quệt dòng nước mắt tràn trề. Ống tay áo có lỗ thủng do viên đạn bắn vào anh, trong cuộc chiến đấu vì nhà vua của Hungary.⦾
Chẳng lấy gì làm lạ khi cuộc giải trí ấy ngốn hết mười koruna, rằng cứ mỗi một cốc bia mua cho mình và cho người lính Hungary đang phục sức, là thêm một bước Švejk lùi xa con đường tới České Budějovice, là mất dần dần, nhưng chắc chắn, khả năng mua vé nhà binh để đi tàu.
Lại có thêm một chuyến tàu nữa về Budějovice chạy qua ga Tábor và Švejk vẫn cứ ngồi ở bàn nghe người lính Hungary kể đi kể lại chuyện mình: “Píp, páp, pút! Có ba con, không có gì ăn!”
Anh ấy nói rồi chạm cốc với Švejk.
“Cứ uống đi, anh bạn Hungary,” Švejk trả lời, “uống cho say đi, các cậu chắc chẳng thết chúng tớ như thế này đâu…”
Ở bàn bên cạnh có một người lính nào đó nói là khi anh cùng trung đoàn 28 đến Szeged⦾ thì người Hungary giơ tay lên cao làm dấu hiệu đầu hàng cho họ xem.
Quả là thế thật, và rõ ràng là người lính này đã thấy bị xúc phạm vì điều mà sau này trở thành biểu hiện bình thường ở tất cả mọi người lính Séc, và là điều mà chính người Hungary cũng làm, khi họ thấy chán chuyện đánh nhau vì quyền lợi của Quốc vương Hungary.
Sau đó, người lính ấy đến ngồi cùng bàn với Švejk và kể chuyện về việc họ gây khó dễ cho người Hungary ở Szeged như thế nào, về chuyện họ đuổi người Hungary ra khỏi một số quán nhậu ra sao. Đồng thời, anh công nhận là người Hungary cũng biết đánh nhau, rằng anh đã bị một nhát dao đâm vào lưng và người ta đã phải chuyển anh về hậu phương để chữa.
Nhưng bây giờ trở về tiểu đoàn, chắc chắn anh ấy sẽ bị ngài đại úy cho vào trại giam, bởi vì anh đã không kịp trả thù xứng đáng nhát dao của tay lính người Hungary ấy, để hắn cũng được hưởng chút gì, và cái chính là để bảo vệ danh dự cho cả trung đoàn.
“Giấy tờ của anh đâu?” viên trung sĩ, trưởng nhóm kiểm soát quân sự cùng bốn người lính đi tháp tùng, cất tiếng hỏi bằng tiếng Đức, rồi ngọng nghịu nói cả bằng tiếng Séc: “Tôi thấy ngồi, không đi, ngồi, uống, chỉ uống, lính hầu.”

“Tôi không có giấy tờ, miláček⦾ ạ.” Švejk trả lời, “ngài trung úy Lukáš, trung đoàn 91, đã mang tất cả giấy tờ ấy theo người, còn tôi thì ở lại ga này.”
“Cái từ miláček có nghĩa là gì thế hả?” trung sĩ quay lại hỏi bằng tiếng Đức một trong những người lính đi theo. Một người lính lục quân Áo Landwehr⦾ già, xem ra thường cố ý trêu chọc trung sĩ của mình, thản nhiên trả lời bằng tiếng Đức:
“Miláček có nghĩa là ngài trung sĩ ạ.” Và ngài trung sĩ tiếp tục nói với Švejk bằng một thứ tiếng Séc ngọng nghịu pha tiếng Đức: “Mỗi người lính, giấy tờ. Người lính không giấy tờ, bắt giam văn phòng quân sự nhà ga, như chó dại, thằng khốn.”
Thế là người ta giải Švejk đến phòng quân sự ở nhà ga. Nhóm lính ngồi trong phòng bảo vệ trông giống như người lính Landwehr già, người đã biết dịch miláček từ tiếng Séc sang tiếng Đức rất hay cho kẻ thù tự nhiên, cho vị Chúa tể của mình, tức là cho ngài trung sĩ.
Căn phòng được trang trí bằng những bức tranh in thạch bản. Ngày đó, những bức tranh ấy được Bộ Chiến tranh gửi đến tất cả các văn phòng, nơi có quân lính qua lại, cũng như gửi đến tất cả các trường học và doanh trại.
Người lính tốt Švejk được đón tiếp bằng bức tranh mà theo lời chú thích thì biểu thị cảnh trung sĩ František Hammel cùng hai hạ sĩ Paulhart và Bachmayer của trung đoàn pháo binh 21 lục quân Áo Landwehr đang khích lệ quân lính dẻo dai chiến đấu. Ở phía đối diện có treo bức tranh với chú thích: “Trung sĩ Jan Danko thuộc trung đoàn kỵ binh 5 lục quân Hungary Honvédség truy tìm vị trí của đơn vị pháo binh địch.”
Thấp hơn, ở phía bên tay phải có treo tấm áp phích “Những tấm gương cao quý về lòng can đảm.”
Các tấm áp phích với những câu chuyện bịa đặt về các tấm gương cao quý được viết ra trong các văn phòng của Bộ Chiến tranh bởi nhiều nhà báo Đức được gọi vào quân ngũ. Bằng những tấm áp phích ấy, nhà nước Áo già nua ngu ngốc muốn cổ vũ tinh thần quân lính, nhưng quân lính lại là những người không bao giờ đọc chúng. Và khi chuyện về những tấm gương cao quý về lòng quả cảm đó được in rồi đóng thành sách mỏng gửi ra mặt trận, thì binh lính lấy sách để cuộn thuốc lá, hay sử dụng chúng vào một việc khác phù hợp hơn, để cho xứng với cái giá, cũng như với cái tinh thần của những tấm gương cao quý về lòng can đảm đã được viết ra giấy.
Trong khi viên trung sĩ đi tìm kiếm một sĩ quan nào đó, Švejk đọc bài viết trên tờ áp phích:
NGƯỜI ĐÁNH XE JOSEF BONG
Lính quân y chuyển thương binh nặng tới các xe ngựa đang đứng chờ ở một thung lũng hẹp. Khi thương binh được xếp đầy xe thì người ta đánh xe chở họ đến trạm cứu thương. Phát hiện ra các xe chở thương binh, quân Nga bắt đầu phóng lựu đạn. Con ngựa của người đánh xe Josef Bong, thuộc đại đội kỵ binh số 3 lục quân Áo, bị chết vì trúng mảnh lựu đạn. Anh Bong than vãn: “Khổ thân ngựa bạch của tôi, thế là chú xong đời rồi.” Chính bản thân anh ấy cũng bị trúng một mảnh lựu đạn. Mặc dù bị thương, anh Bong tháo con ngựa chết khỏi xe, đưa xe cùng với hai con ngựa còn lại vào chỗ ẩn nấp an toàn rồi quay trở lại con ngựa chết để tháo bộ dây cương. Quân Nga vẫn tiếp tục bắn. “Cứ bắn đi, lũ điên khốn kiếp, tao không để bộ cương này ở đây được!” Vừa nói, anh vừa tháo bộ dây cương khỏi con ngựa, cuối cùng anh cũng tháo xong và tha được nó về chỗ giấu xe. Lính quân y trút cơn thịnh nộ như sấm sét lên đầu anh vì anh đã bỏ đi lâu. “Tôi không muốn để lại bộ dây cương ngựa đấy, nó vẫn còn mới. Tôi nghĩ là bỏ đấy thì phí của. Chúng ta không có nhiều những thứ như thế.” Người lính xin lỗi rồi đánh xe về trạm cứu thương và đến đó mới báo là mình bị thương. Sau đó, ngài đại úy đã gắn lên ngực áo anh ấy tấm huy chương bạc về lòng dũng cảm.
Khi đã đọc xong bài viết mà người trung sĩ vẫn chưa quay trở lại, Švejk nói với những người lính Landwehr ở phòng bảo vệ: “Đây là một dẫn chứng rất đẹp về lòng can đảm. Cứ như thế này thì quân đội chúng ta sẽ có toàn dây cương mới. Khi còn ở Praha, tôi đã đọc ở Báo chính thức Praha về một trường hợp còn hay hơn nữa về người lính tình nguyện một năm, về tiến sĩ Josef Vojna. Anh này phục vụ ở tiểu đoàn súng trường 7 tại Galicia, và lúc chiến đấu bằng lưỡi lê, anh ấy bị thương ở đầu. Khi được chở đến trạm cứu thương, anh ấy gào lên, bảo chỉ vì vết xước như thế thôi thì không cần phải đi băng bó làm gì cả. Anh ấy muốn cùng với trung đội của mình tiếp tục chiến đấu, nhưng lại bị mảnh lựu đạn chém vào mắt cá chân. Người ta lại muốn chở anh ấy đi trạm cứu thương, nhưng anh ấy bắt đầu chống gậy ra trận tuyến và dùng gậy đánh lại quân địch. Một quả lựu đạn mới văng đến cắt cụt cánh tay cầm gậy của anh ấy, thế là anh ấy chuyển cái gậy sang tay kia và gào lên là không tha quân địch. Có trời biết việc ấy kết thúc với anh ấy ra sao, nếu mà ngay sau đó không có một trái pháo giết mất anh ấy. Có thể là nếu không bị giết thì sau này anh ấy cũng được tặng huy chương bạc về tinh thần dũng cảm. Khi bị trái pháo làm văng ra khỏi cổ, cái đầu anh ấy còn vừa lăn vừa kêu: ‘Bao giờ cũng làm tròn nghĩa vụ, tử thần nhòm ngó có sợ chi?’”
“Nhà báo viết nhiều thứ lắm,” một người lính nói, “nhưng cứ để nhà báo ra mặt trận thì chỉ sau một tiếng đồng hồ là anh ấy phát điên.”
Người lính Landwehr nhổ bọt: “Ở Časlav chỗ chúng tôi có một nhà báo người Đức quê ở Vienna, mang chức thiếu úy. Anh ta không hề muốn nói tiếng Séc với chúng tôi, nhưng mà khi người ta chuyển anh ta đến đại đội hành quân toàn người Séc thì ngay lập tức anh ta biết nói tiếng Séc.”
Viên trung sĩ trở về đứng ở cửa, tỏ vẻ rất cáu giận và tuôn ra một tràng tiếng Đức lẫn tiếng Séc: “Mới chỉ đi khỏi có ba phút mà đây chẳng nghe thấy gì ngoài tiếng Séc, người Séc.”
Ông ta lại đi, chắc là ra quán ăn, nhưng bảo người hạ sĩ Landwehr, đồng thời đưa tay chỉ vào Švejk, rằng khi viên thiếu úy đến thì hạ sĩ hãy dẫn đồ chó ghẻ ấy đến gặp thiếu úy.
“Anh thiếu úy chắc lại đi tán chuyện với cô nhân viên điện báo rồi,” người hạ sĩ nói sau khi trung sĩ đi khỏi, “anh ta cưa cô ấy đã hơn hai tuần nay, bao giờ đi từ văn phòng điện báo về cũng rất tức giận và bảo bằng tiếng Đức: ‘Thật là đồ con đĩ, nó chẳng muốn ngủ với tôi.’”
Cả lần này anh thiếu úy cũng cáu kỉnh, bởi vì chỉ một lúc sau khi anh về văn phòng, đã thấy có tiếng đập sách lên bàn.
“Chẳng tránh được đâu, cậu phải đến gặp hắn thôi,” người hạ sĩ nói với Švejk đầy cảm thông, “đã rất nhiều người rơi vào tay hắn rồi, lính già có, cả lính trẻ cũng có.”
Nói đoạn, ông dẫn Švejk vào văn phòng, nơi sau cái bàn bừa bộn giấy tờ là một thiếu úy trẻ với vẻ mặt vô cùng giận dữ.
Khi trông thấy Švejk và người hạ sĩ, anh ta buông một câu có nhiều hứa hẹn “À!” Người hạ sĩ thông báo: “Báo cáo thiếu úy, ở nhà ga chúng tôi phát hiện ra người này không có giấy tờ.”
Thiếu úy gật đầu, như thể muốn nói rằng đã biết về việc này từ những năm trước đây, rằng đúng vào ngày này và giờ này người ta tìm thấy Švejk không giấy tờ ở nhà ga. Bởi vì lúc đó, ai nhìn Švejk cũng phải có cảm tưởng rằng một người đàn ông với vẻ mặt như thế, với vóc dáng người như thế mà có giấy tờ gì theo người thì là điều không thể. Trong khoảnh khắc ấy, trông Švejk như người từ trên trời, từ một hành tinh nào rơi xuống và bây giờ thì bằng con mắt ngạc nhiên ngây thơ, anh nhìn vào thế giới mới, nơi người ta yêu cầu cái điều ngu ngốc chưa từng biết đối với anh, và điều đó là mấy thứ giấy tờ.

Viên thiếu úy nhìn Švejk và suy nghĩ một hồi về việc sẽ nói với Švejk cái gì, sẽ hỏi anh cái gì.
Cuối cùng thì thiếu úy hỏi: “Anh đã làm gì ở nhà ga?”
“Báo cáo thiếu úy, tôi đã chờ tàu đi České Budějovice để có thể đến với trung đoàn 91 của mình, nơi tôi làm lính hầu cho ngài trung úy Lukáš, người mà tôi đã phải để lại trên tàu, tại vì tôi đã bị giải đến trưởng ga do tôi bị phạt, bởi lẽ tôi bị người ta nghi ngờ là làm dừng đoàn tàu mà chúng tôi lúc đó đang đi, bằng cách giật tay kéo phanh khẩn cấp ạ.”
“Thôi thôi, nghe anh mà tôi đến phát điên,” thiếu úy kêu lên, “anh hãy nói cho có đầu có đuôi, ngắn gọn và đừng có lải nhải những cái dở hơi.”
“Báo cáo thiếu úy là ngay từ lúc tôi và ngài trung úy Lukáš lên ngồi trên tàu hỏa mà phải chở chúng tôi đi làm sao nhanh nhất tới trung đoàn bộ binh 91, chúng tôi không may mắn tý nào. Trước tiên chúng tôi bị mất cái va-li, sau đó thì để khỏi nhầm lẫn, có một ngài chuẩn tướng nào đó, một người hoàn toàn hói…”
“Trời đất ơi,” thiếu úy thở dài.
“Báo cáo thiếu úy, cần phải nói từ từ, có đầu có đuôi để cho trình tự câu chuyện được rõ ràng, giống như ông thợ giày Petrlík quá cố thường nói. Ông này trước khi quật con trai mình bằng dây thắt lưng, bao giờ cũng bảo nó phải cởi quần ra.”
Trong khi thiếu úy phì phì giận dữ, Švejk tiếp tục:
“Vâng, ông chuẩn tướng hói đầu ấy tỏ vẻ không thích tôi, thế là ngài trung úy Lukáš, người mà tôi phục vụ, bảo tôi đi ra ngoài hành lang. Sau đó thì tôi bị buộc tội là đã làm cái việc mà tôi đã nói với thiếu úy. Để chờ giải quyết cho xong việc ấy, tôi đã phải dừng lại một mình ở thềm ga. Tàu thì chạy mất, ngài trung úy với những cái va-li, với tất cả giấy tờ của trung úy cũng như của tôi, cũng đi mất, chỉ còn tôi ở lại đây trơ trọi như đứa trẻ mồ côi chẳng có giấy tờ gì.”
Švejk nhìn thiếu úy một cách dịu dàng và trìu mến đến mức mà thiếu úy thấy hết sức rõ ràng, là tất cả những gì anh nghe thấy từ người đàn ông với vẻ mặt gây ấn tượng về một kẻ ngu độn ngay từ lúc chào đời này, đều hoàn toàn là sự thật.
Thiếu úy kể ra cho Švejk tất cả các chuyến tàu chạy về Budějovice sau chuyến tàu tốc hành và hỏi anh tại sao lại bỏ lỡ tất cả các chuyến ấy.
“Báo cáo thiếu úy,” Švejk trả lời với nụ cười đôn hậu, “trong khi chờ chuyến tàu gần nhất thì tôi gặp chuyện chẳng may là tôi ngồi ở bàn uống hết cốc bia này đến cốc bia khác ạ.”
“Chưa bao giờ mình gặp một thằng nào ngu đến thế này,” thiếu úy nghĩ thầm, “hắn thú nhận tất tật tội lỗi. Đã có bao nhiêu người rơi vào tay mình, ai cũng chối biến, còn hắn thì bình thản bảo rằng ‘Tôi lỡ tất cả các chuyến tàu, bởi vì tôi uống bia hết cốc này đến cốc khác.’”
Thiếu úy dồn cả những suy nghĩ của mình vào một câu và bảo Švejk: “Này, anh là kẻ thoái hóa. Anh có biết đấy là gì không, khi bảo người nào đó là người thoái hóa, hả?”
“Báo cáo thiếu úy, chỗ tôi, ở góc phố Bojiště và phố Kateřinská, cũng có một người bị thoái hóa. Bố anh ta là một Bá tước người Ba Lan, mẹ là bà đỡ đẻ, còn anh ta thì là người quét dọn đường phố, nhưng ở quán rượu thì anh ta chỉ muốn mọi người gọi là ngài Bá tước.”
Thiếu úy nhận thấy là tốt nhất nên tìm cách kết thúc vấn đề, vì vậy anh nói dứt khoát: “Này, đồ con bò ngu xuẩn, bây giờ thì anh hãy ra quầy mua vé rồi đi Budějovice. Nếu mà còn trông thấy anh đây một lần nữa, thì tôi sẽ coi anh là kẻ đào ngũ. Giải tán!”
Bởi vì thấy Švejk cứ đứng yên không động đậy và tay vẫn đặt ở mũ, thiếu úy gào lên: “Xéo đi, anh không nghe thấy nói giải tán à? Hạ sĩ Palánek, anh hãy đưa thằng ngu này ra quầy vé, mua cho hắn vé đi České Budějovice!”
Nhưng chỉ một lúc sau, hạ sĩ Palánek quay lại văn phòng. Phía ngoài cánh cửa mở hé sau lưng hạ sĩ là khuôn mặt hiền lành của Švejk.
“Lại còn cái gì nữa đấy?”
“Báo cáo thiếu úy,” hạ sĩ Palánek nói thầm một cách bí ẩn, “anh ấy không có tiền mua vé, cả tôi cũng không có ạ. Người ta không muốn cho anh ấy đi không vé, tại vì anh ấy cũng chẳng có giấy tờ gì của quân đội chứng minh là anh ấy đi đến trung đoàn.”
Thiếu úy chẳng để phải chờ lâu, anh quyết định vấn đề một cách khôn ngoan như Phán quyết của Solomon:
“Thế thì bảo hắn đi bộ đến đấy, để ở trung đoàn người ta giam hắn lại là đã đến muộn, chứ chẳng ai có thời gian mà lôi thôi với hắn ở đây được.”

“Biết làm sao được anh bạn ơi,” ra khỏi văn phòng, hạ sĩ Palánek nói với Švejk, “cậu sẽ phải đi bộ đến České Budějovice. Ở trong phòng bảo vệ còn có cái bánh mì của lính, chúng tớ đưa cho cậu làm thức ăn đi đường.”
Nửa tiếng đồng hồ sau, khi đã được những người lính cho uống cà phê đen, và ngoài chiếc bánh mì quân đội còn được họ cho cả thuốc lá nhà binh để hút trên đường đến trung đoàn, Švejk vừa hát vừa rời Tábor trong đêm đen.
Anh đã hát bài hát từ xưa của quân lính:
Chúng tôi tiến về Ja-ro-měř
Ai tin thì xin cứ việc tin…
Có trời mới biết vì sao mà đáng lẽ đi xuống phía nam để tới Ceské Budějovice thì người lính tốt Švejk cứ thẳng đường đi sang hướng tây.
Thu mình trong chiếc áo khoác nhà binh, anh rảo bước trên con đường giá lạnh đầy tuyết, giống như thành viên cuối cùng của Đội cận vệ Napoleon rút khỏi Moskva, nhưng với điều khác hẳn là Švejk vừa đi vừa vui vẻ hát:
Tôi đã đi chơi
vào nơi rừng xanh
Tiếng hát ấy vang vọng trong cái im ắng ban đêm ở các khu rừng dày tuyết, cũng làm các con chó ở những làng mạc nơi anh đi qua đều cất tiếng sủa.
Khi hát đã chán chê, Švejk ngồi xuống đống đá vụn ven đường, châm lửa hút tẩu rồi sau lúc nghỉ ngơi lại tiếp tục lên đường, hướng về những phiêu lưu mới trong cuộc tiến quân trường kỳ và gian khổ tới České Budějovice.

← Tábor là tên một thành phố ở miền Nam Séc, cách České Budějovice 51km về phía tây bắc.
← Hoàng đế Franz Joseph I. đồng thời cũng là Quốc vương Hungary.
← Thành phố lớn của Hungary
← miláček trong tiếng Séc là người yêu quý/người yêu.
← Binh chủng Lục quân của quân đội Áo–Hung được tạo thành từ ba bộ phận quân lực. Bộ phận thứ nhất là lực lượng Lục quân liên hợp của toàn Đế quốc mang tên Gemeinsame Armee; bộ phận thứ hai là Lục quân Áo, gọi là Kaiserlich-Königliche Landwehr; bộ phận thứ ba là Lục quân Hungary gọi là Magya Királyi Honvédség.