Vận Mệnh Người Lính Tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới

Lượt đọc: 26 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Svějk trên đường tiến quân tới Budějovice

❊ ❊ ❊

Xenophon, chiến binh thời cổ đại, đã đi bộ khắp vùng Tiểu Á và có trời biết ông đã đến được những nơi nào nữa mà không cần có bản đồ. Bộ tộc Goth⦾ đã có những chuyến di chuyển mà cũng không hề có kiến thức gì về địa hình học. Hành quân liên tục về phía trước gọi là tiến quân. Điều đó có nghĩa là đi qua những vùng xa lạ, là bị kẻ thù bao vây, bị chúng rình thời cơ gần nhất để vặn cổ ta. Nhưng nếu ai có cái đầu cứng như Xenophon, hoặc như tất cả những người dân của các bộ tộc đi cướp bóc, những người đi đến châu Âu từ những nơi có trời mới biết của vùng biển Caspi hay Azov, thì người ấy làm được nhiều điều thực sự kỳ diệu trên đường tiến quân ấy.

Các quân đoàn của Ceasar cũng tiến được tới vùng phía bắc của biển Gallia mà không sử dụng bản đồ. Rồi một ngày, các quân đoàn ấy quyết định quay trở về thành Rome và đã chọn đường khác để có thể khám phá được nhiều điều mới lạ, và cuối cùng họ cũng về được đến nơi. Chắc hẳn từ ngày đó, người ta có câu nói là mọi con đường đều dẫn đến thành Rome.

Cũng tương tự như vậy, mọi con đường đều dẫn đến České Budějovice. Người lính tốt Švejk đã hoàn toàn ý thức được điều đó, khi mà đáng lẽ phải trông thấy České Budějovice phía trước mặt thì anh nhìn thấy các làng của vùng Milevsko⦾.

Nhưng anh cứ tiếp tục đi mãi, bởi lẽ không một người lính tốt nào lại có thể bị vướng vì một thành phố như Milevsko để mà không đi tới được České Budějovice.

Thế là cách Milevsko tám kilomet về phía tây, Švejk đi tới làng Květov. Anh đã lần lượt hát hết tất cả những bài hành khúc mà anh biết, vì vậy khi đến gần Květov, anh buộc phải hát lại từ đầu bằng bài:

Khi chúng tôi lên đường,

các cô em thương khóc…

Trên đường từ Květov đến làng Vráž, tức là vẫn tiếp tục đi về phía tây, anh gặp một một bà lão vừa đi nhà thờ về. Bà lão bắt chuyện với Švejk và chào anh theo cách chào của người Kitô giáo: “Chào anh lính, anh đi đâu vậy?”

“Thưa mẹ, con đi đến trung đoàn ở Budějovice, đi ra mặt trận ạ,” Švejk trả lời.

“Ối, thế thì anh đi nhầm đường rồi, anh lính ạ,” bà lão giật mình, “nếu cứ thẳng hướng này qua làng Vráž thì anh đi đến Klatovy⦾ chứ chẳng bao giờ đến được Budějovice đâu.”

“Nhưng mà con nghĩ là từ Klatovy cũng đi đến Budějovice được ạ.” Švejk nói một cách cam chịu. “Đúng ra thì nó khá xa thật, khi mà người lính vội đi để kịp tới trung đoàn của mình, nhưng cũng không muốn vì cái thiện chí đến đúng lúc ấy mà gặp thêm chuyện gì lôi thôi phiền phức ạ.”

“Ừ, ở chỗ chúng tôi có một cậu tên là Toníček Mašků, cũng lôi thôi phiền phức như thế đấy. Nó phải đến Plzeň nhập quân Landwehr, thế là nó đi,” bà lão thở dài, “nó có họ với cháu gái tôi anh ạ. Một tuần sau thì hiến binh đến nhà tìm nó, rằng không thấy nó tới trung đoàn. Một tuần sau nữa thì nó về, chỉ mặc thường phục, bảo là được về nghỉ phép. Thế là ông trưởng thôn đi báo hiến binh, rồi họ đến lôi nó đi khỏi kỳ nghỉ phép ấy. Nó đã viết thư về từ mặt trận, rằng nó bị thương, bị cụt mất một chân rồi.”

Bà lão nhìn Švejk một cách thương cảm: “Anh lính ạ, anh vào rừng kia chờ tôi, tôi về nhà mang cho anh một ít súp khoai tây, ăn cho ấm bụng. Từ đây cũng nhìn thấy nhà của chúng tôi, ở phía tay phải đằng sau rừng kia kìa. Nhưng mà không đi qua làng chúng tôi được đâu, hiến binh ở đấy tinh mắt lắm. Từ rừng anh đi sang Malčín, nhưng đừng qua Čišová, hiến binh ở đấy ác lắm, toàn bắt lính đào ngũ thôi. Anh đi thẳng đến Sedlec gần Horažďovice, ở đấy có một hiến binh tốt bụng lắm, ông ấy cho tất cả mọi người đi qua làng. Thế anh có giấy tờ gì không?”

“Con không có, mẹ ạ.”

“Thế thì cũng đừng đến đấy, tốt hơn là đi Radomyšl⦾, nhưng đến vào lúc chiều tối nhé, vì lúc ấy tất cả các hiến binh đều ở quán. Ở đường Dolejší đằng sau Floriánek có cái nhà phía dưới quét màu xanh, anh đến đấy hỏi lão nông Melicharek. Ông ấy là anh trai tôi đấy. Anh bảo là tôi gửi lời hỏi thăm, ông ấy sẽ chỉ cho anh đi lối nào đến Budějovice.”

Švejk chờ bà lão một nửa tiếng ở trong rừng. Bà mang ra cho anh nồi súp khoai tây được bọc ủ trong chiếc gối cho khỏi nguội. Khi anh ăn xong, bà lấy từ túi khoác vai ra một lát bánh mì với miếng mỡ lợn hun khói, bỏ tất cả vào túi Švejk, làm dấu thánh giá lên trán anh rồi bảo bà cũng có hai đứa cháu ở trong quân đội.

Sau đó, bà lão còn cẩn thận nhắc lại cho anh biết những làng nào anh có thể qua, những làng nào thì phải tránh. Cuối cùng, bà lấy một koruna từ túi áo, đưa cho anh để tới Malčín thì mua rượu uống dọc đường, vì từ đó đến Radomyśl còn xa.

Từ Čížová, Švejk theo lời bà lão đi về hướng đông để đến Radomyśl và anh nghĩ là bất kể đi từ hướng nào thì cuối cùng cũng sẽ phải tới được Budějovice.

Từ Malčín, Švejk đi cùng với một ông già chơi đàn phong cầm. Anh gặp ông ở quán, khi vào đó mua rượu để uống dọc đoạn đường xa tới Radomyšl.

Ông già chơi phong cầm cho rằng Švejk là lính đào ngũ và khuyên anh đi với ông đến Horažďovice, rằng con gái ông lấy chồng ở đấy và chồng của cô cũng đào ngũ. Rõ ràng ông già chơi phong cầm đã uống say mèm ở quán Malčín.

Ông già thuyết phục Švejk: “Nó giấu chồng nó ở chuồng bò đã hai tháng nay rồi, nó cũng sẽ giấu cả anh ở đấy. Anh với con rể tôi sẽ nằm đấy chờ lúc chiến tranh kết thúc. Khi có hai người thì các anh sẽ không thấy buồn.”

Khi Švejk lễ phép từ chối, ông nổi cáu rẽ tay trái ra ruộng và dọa Švejk là sẽ đi Čížová gặp hiến binh để tố giác anh.

Lúc chiều tối thì Švejk đi tới Radomyšl và tìm thấy lão nông Melicharek ở đường Dolejší đằng sau Floriánek. Anh chuyển lời thăm của bà lão em gái ông ở làng Vráž, nhưng chẳng thấy điều ấy có tác động gì đến ông.

Ông Melicharek cứ nằng nặc đòi xem giấy tờ của Švejk. Ông có vẻ là một người rất thành kiến, bởi vì ông liên tục nói về bọn trộm cướp, về lũ mất dạy lêu lổng và về tụi lưu manh, rằng có rất nhiều kẻ trong đám ấy đang lang thang khắp nơi ở huyện Písek.

“Chúng trốn khỏi quân đội, không muốn phục vụ ở đấy, thế là chúng lang thang khắp nơi, chỗ nào ăn cắp được là chúng ăn cắp liền,” ông nói thẳng vào mặt Švejk một cách dứt khoát như thế, “mà đứa nào trong bọn chúng cũng ra vẻ ngô nghê. Ờ, ờ, thế đấy, sự thật mất lòng mà,” ông nói thêm, khi thấy Švejk đứng dậy khỏi ghế, “nếu mà là người có lương tâm trong sạch thì đã ngồi đấy, rồi cho xem giấy tờ. Nhưng mà khi không có thì…”

“Thôi, xin tạm biệt ông ạ.”

“Vâng, cũng tạm biệt anh. Lần sau mà có đến thì đi gặp ai ngốc hơn nhé.”

Švejk đã bỏ đi trong bóng đêm, ông già vẫn còn lẩm bẩm một hồi lâu: “Ấy, bảo là đi Budějovice để đến trung đoàn đấy! Từ Tábor cơ đấy! Thế mà trước tiên thằng ranh lại đi đến Horažďovice rồi sau đó mới đến Písek. Nhưng mà thế thì quả là nó đi vòng quanh thế giới.”

Švejk đi suốt đêm, mãi đến tận lúc tìm thấy một đống rơm ngoài đồng ở chỗ nào đó gần Putim⦾. Anh vạch rơm chui vào thì nghe thấy có tiếng người nói ngay gần đó: “Cậu ở trung đoàn nào? Đi đâu đấy?”

“Trung đoàn 91 ở Budějovice.”

“Đến đấy làm gì?”

“Trung úy của tớ đang ở đấy.”

Có tiếng cười rúc rích, theo tiếng cười nói thì ở đây không chỉ có một người, mà những ba người. Khi tiếng cười ngừng lại, Švejk hỏi họ là lính trung đoàn nào. Anh được biết là hai người thuộc trung đoàn 35, còn một người là lính pháo binh, cũng ở Budějovice.

Hai người của trung đoàn 35 đã trốn khỏi đại đội hành quân ra mặt trận cách đây một tháng, còn người lính pháo binh thì chạy trốn ngay từ ngày có lệnh tổng động viên. Anh lính pháo binh là người ở Putim và đống rơm này là của anh ấy. Đêm đến, bao giờ anh cũng về đây ngủ. Hôm qua anh ấy gặp hai người lính này ở trong rừng nên đã đưa họ về đống rơm của mình.

Tất cả đều hy vọng chiến tranh sẽ kết thúc sau một hay hai tháng nữa. Họ cho là quân Nga đã kéo đến gần Budapest và đã đến Morava. Ở Putim mọi người đều bảo thế. Trước lúc tảng sáng thì vợ của người lính pháo binh mang thức ăn sáng cho họ. Sau đó hai người thuộc trung đoàn 35 sẽ đi Strakonice, bởi vì một người trong số họ có bà cô ở đấy, và bà cô thì lại có một người quen có xưởng gỗ ở trên núi gần Sušice. Đó là chỗ ẩn náu tốt cho họ.

“Còn cậu ở trung đoàn 91 kia,” họ bảo Švejk, “nếu muốn thì cậu cũng có thể đi với chúng tớ được. Kệ cha cái ông trung úy của cậu đi.”

“Làm sao mà dễ dàng như thế được,” Švejk nói rồi chui sâu vào đống rơm.

Tỉnh dậy sáng hôm sau, Švejk thấy tất cả đã đi rồi và một người nào đó, chắc là anh lính pháo binh, đặt ở cạnh chân anh một lát bánh mì ăn đi đường.

Švejk đi qua các cánh rừng. Ở rừng gần làng Štěkeň anh gặp một người lang thang có tuổi. Người ấy chào anh như chào bạn cũ và mời anh ngụm rượu.

“Này, đừng mặc thế này,” người ấy khuyên Švejk, “mặc quân phục có lúc rất lôi thôi đấy. Bây giờ chỗ nào cũng đầy hiến binh, mặc như thế này không đi ăn xin được đâu. Tất nhiên bây giờ hiến binh chẳng để ý nhiều đến chúng tớ như mọi khi, mà chỉ đi săn lùng các cậu thôi. Ừ, chỉ săn lùng các cậu thôi,” người ấy nhắc lại một cách chắc chắn đến mức Švejk tự nhủ là tốt nhất không nói gì với ông ấy về trung đoàn 91. Cứ để ông ấy nghĩ về anh là người thế nào thì nghĩ, làm mất cái ảo tưởng của ông già tốt bụng ấy mà làm gì.

Họ cùng châm lửa hút tẩu và cả hai từ từ đi vòng sau làng. Một lúc sau, người đàn ông lang thang hỏi anh “Thế cậu đi đâu vậy?”

“Đi České Budějovice.”

“Ối Jesus lạy Chúa tôi,” người đàn ông kinh hoàng, “ở đấy thì họ tóm cậu chỉ trong giây lát, cậu chẳng kịp ngó ngàng gì đã bị bắt ngay. Cậu phải mặc quần áo thường dân rách rưới, cậu phải giả làm người què. Nhưng mà đừng sợ gì cả. Bây giờ chúng mình đi Strakonice, đi Volyně, đi Dub, thế nào mà chả kiếm được một bộ. Ở Strakonice vẫn còn nhiều người trung thực ngốc nghếch, có nơi họ để ngỏ cửa vào ban đêm, còn ban ngày thì chẳng bao giờ khóa. Bây giờ trời rét, họ sang nhà hàng xóm chơi là mình lấy được quần áo ngay. Để xem cậu cần những gì nào? Giày thì cậu có rồi này, chỉ cần kiếm cái gì mặc thôi. Còn cái áo khoác nhà binh cũ rồi hả?”

“Vâng, cũ rồi.”

“Thế thì cứ mặc cũng được. Bây giờ ở nông thôn người ta cũng mặc thế. Cậu cần cái quần với cái áo khoác ngắn. Khi có quần áo thường dân rồi thì chúng mình sẽ bán bộ quân phục cho ông Herrman người Do Thái ở Vodňany. Ông ấy mua tất cả đồ đạc của công, rồi bán lại cho mọi người ở làng. Hôm nay thì chúng mình đi Strakonice,” ông già lang thang nói tiếp về kế hoạch của mình, “từ đấy đi khoảng bốn tiếng là đến chuồng cừu của ông già Schwazenberg. Một người quen của tớ là người chăn cừu ở đấy, ừ, ông ấy cũng già rồi. Chúng mình sẽ ngủ ở đấy rồi sáng hôm sau kéo nhau sang Strakonice, lấy thật nhanh ở đâu đấy một bộ quần áo dân thường.”

Ở chuồng cừu, Švejk gặp một ông già rất dễ chịu. Ông vẫn còn nhớ cả những gì ông nội mình kể về các cuộc chiến tranh Pháp.

Ông hơn người đàn ông lang thang khoảng hai chục tuổi, vì vậy cũng gọi người ấy là cậu trai trẻ như nói với Švejk.

“Đấy, các cậu trai trẻ ạ,” ông kể, khi ba người đã ngồi bên lò sưởi, trên lò là nồi khoai tây đang luộc, “ngày ấy ông tôi cũng đào ngũ như cậu lính đây. Nhưng mà bị bắt ở Vodňany, rồi bị người ta đánh cho một trận nhừ tử. Ấy là vẫn có thể nói là còn may đấy, chứ ở Ražice gần Protivín có cụ Jareš, ông nội của ông Jareš canh hồ cá, ngày xưa vì đào ngũ mà bị ăn đạn ở Písek cơ. Nhưng trước khi bị đem ra xử bắn ở thành lũy Písek thì cụ ấy phải chạy dọc theo một dãy quân lính, bị họ đánh tới sáu trăm roi, thành ra cái chết đến chỉ làm cho cụ ấy được xong nợ, nhẹ nhõm đi thôi. Thế còn cháu thì trốn từ khi nào?” Ông đưa đôi mắt ướt đẫm nhìn Švejk.

“Sau tổng động viên ạ, khi người ta dẫn chúng cháu đến doanh trại,” Švejk trả lời và hiểu rằng không thể làm mất lòng tin của ông già chăn cừu.

“Thế cháu có trèo qua tường không?” Ông già chăn cừu tò mò hỏi, chắc hẳn còn nhớ lời kể của ông mình là cũng trèo qua tường doanh trại.

“Chả còn đường nào khác ông ạ?”

“Thế lính canh có đông không, có bắn không?”

“Có, ông ạ.”

“Thế bây giờ cháu định đi đâu?”

“Ấy, nó đang lên cơn gàn,” người đàn ông lang thang trả lời thay Švejk, “cứ khăng khăng một mực là phải đi Budějovice. Ông biết đấy, nó còn trẻ, còn dại dột, tự nó rước họa vào thân. Tôi phải giúp nó một tí. Kiếm được bộ quần áo thường dân là ổn. Bây giờ thì cố làm sao cho qua ngày, nhưng sang xuân thì chúng tôi sẽ đến nhà nông làm thuê. Năm nay chắc sẽ rất thiếu người làm, sẽ đói, nghe bảo là tất cả những người lang thang đều bị đưa ra ngoài đồng làm việc. Tôi nghĩ thôi thì mình tự nguyện đi làm còn hơn. Sẽ có ít người. Sẽ bị chết.”

“Cậu nghĩ,” ông già chăn cừu hỏi, “là nó không kết thúc trong năm nay ư? Nhưng mà cậu nói phải đấy! Xưa nay thì cũng đã có các cuộc chiến tranh lâu dài rồi. Chiến tranh Napoleon, trước đó thì như chúng ta được nghe kể, có các cuộc chiến tranh Thụy Điển, chiến tranh Bảy năm. Những cuộc chiến tranh ấy thật đáng kiếp cho con người. Cả ông Trời cũng không thể chịu được nữa khi thấy con người trở nên ngạo mạn. Đến thịt cừu họ cũng chẳng thiết nữa, các cậu ạ, cả thịt cừu họ cũng không thèm ăn. Thế mà trước kia, họ kéo nhau từng lũ đến đây, xin tôi bán chui thịt cừu cho họ. Còn mấy năm trở lại đây ư? Chỉ ăn toàn thịt lợn, toàn gà, ngỗng, mà phải rưới bơ hay mỡ lợn cơ! Thế là ông Trời nổi giận vì cái ngạo mạn của mọi người, còn họ thì rồi sẽ tỉnh lại, khi mà phải ăn rau dền, giống như trong thời chiến tranh Napoleon ấy. Cả các quý tộc ngày nay của chúng ta cũng thế. Ngài công tước Schwarzenberg chỉ đi xe ngựa, nhưng mà con trai ngài, công tước Schwarzenberg trẻ thì đã sặc mùi xe ô tô. Rồi ông Trời cũng lấy ét xăng bôi quanh mồm công tước cho mà xem.”

Nồi khoai tây trên lò sôi sùng sục, ông già chăn cừu im một lát rồi nói như một nhà tiên tri: “Hoàng đế của chúng ta không thắng được cuộc chiến tranh này đâu. Chẳng có ai hào hứng với chiến tranh cả, theo lời của ông giáo ở Strakonice thì chỉ tại vì Hoàng đế không muốn làm lễ lên ngôi ở đây.⦾ Bây giờ thì, như người ta thường bảo, có muốn bôi mật quanh mồm ai thì cứ việc bôi. Nhưng khi mà lão già chết tiệt đã hứa là sẽ làm lễ đăng quang thì lão phải giữ lời hứa chứ!”

“Có thể là bây giờ thì ông ấy sẽ làm.” Người đàn ông lang thang nhận định.

“Làm bây giờ ư? Cậu trai trẻ ơi, bây giờ thì chẳng ai thèm nữa đâu!” Ông già chăn cừu bực bội nói. “Cậu phải đến Skočice chỗ mọi người gặp nhau nói chuyện mà xem. Ai cũng có người thân ngoài mặt trận, đến đấy rồi cậu sẽ thấy người ta nói những gì. Nghe bảo sau cuộc chiến tranh này sẽ có tự do, sẽ không còn các lâu đài, dinh thự của quý tộc, chẳng còn Hoàng đế nữa, và điền trang của các hoàng thân quốc thích thì sẽ bị tịch thu. Cũng vì nói như thế mà một ông tên là Kořínek đã bị hiến binh bắt, nghe bảo là vì tội xúi giục kích động. Thế đấy, hiến binh thời nay có quyền hành mà.”

“Họ có quyền hành ngay cả từ trước rồi,” người đàn ông lang thang lên tiếng, “tôi nhớ là ở Kladno có một ông đại úy kỵ binh của hiến binh tên là Rotter. Ông ấy tự nhiên bắt đầu nuôi chó, loại chó mà ta gọi là chó cảnh sát, chúng có đặc tính của chó sói, lũ chó ấy được huấn luyện chuyên để đánh hơi. Và ông ấy có rất nhiều chó đã được huấn luyện. Ông ấy có một cái lều dành riêng cho chó ở, lũ ấy sống sung sướng như những ông hoàng. Rồi ông ấy nghĩ là sẽ dùng lũ chó để thử mọi cách với chúng tôi, với những kẻ lang thang khổ sở. Ông ấy ra lệnh cho hiến binh khắp vùng Kladno tích cực lùng bắt lũ lang thang chúng tôi để giao cho ông ấy. Một lần, tôi từ Lány đi khá sâu vào rừng, định đến lều của người coi rừng, nhưng mà chưa kịp tới, họ đã bắt tôi rồi giải đến ông đại úy. Ối trời, các anh không thể tưởng tượng nổi những gì tôi đã phải nếm mùi ở đấy với ông đại úy cùng với lũ chó của ông ấy. Trước hết, ông ấy cho cả lũ chó ngửi tôi, sau đó tôi phải leo lên một cái thang. Khi tôi đã lên đến trên đầu thang thì họ cho một con leo lên kéo tôi xuống đất. Rồi nó quỳ lên tôi, gầm gừ nhe răng vào mặt tôi. Sau đó họ dắt nó đi và bảo tôi đi trốn, rằng tôi muốn trốn vào đâu cũng được. Tôi đi vào thung lũng Kačák ở trong rừng, rồi nấp vào một khe núi. Chỉ nửa tiếng sau đã có hai con chó đến vật ngửa tôi ra, trong lúc một con giữ cổ tôi, con kia chạy về Kladno, một tiếng đồng hồ sau chính ông đại úy cùng với hiến binh đến chỗ tôi. Ông ấy gọi con chó, sau đó đưa cho tôi năm koruna và cho phép tôi được đi ăn xin suốt hai ngày ở Kladno. Nhưng mà xin vái thôi, tôi cao chạy xa bay sang Beroun rồi không bao giờ dám thò mặt đến Kladno nữa. Lũ lang thang cũng đều tránh xa Kladno, tại vì ông đại úy làm những thí nghiệm ấy với tất cả. Ông ấy quý những con chó ấy vô cùng. Ở các trạm hiến binh, người ta kể là khi đến thanh tra mà trông thấy ở trạm có con chó lai sói thì ông ấy chẳng kiểm tra gì ráo, vì vui mừng mà ông ấy ngồi uống rượu cả ngày với ông trưởng trạm.”

Trong khi ông già chăn cừu chắt nước nồi khoai và rót sữa cừu chua ra bát, người đàn ông lang thang tiếp tục kể những kỷ niệm của mình về quyền hành của hiến binh: “Bên dưới chân lâu đài ở Lipnice⦾ có một ông trung sĩ hiến binh. Ông này làm việc và ở luôn trong trạm hiến binh. Nhưng mà một kẻ tử tế chất phác như tôi thì cứ tưởng là trạm hiến binh phải nằm ở một chỗ dễ tìm thấy, chẳng hạn ở ngoài quảng trường hay một chỗ nào tương tự, chứ không phải là ở phố nhỏ hay ở xó xỉnh nào đó. Thế là tôi đi đến các chỗ ở xa trung tâm mà chẳng để ý đến tên phố. Tôi đi từ nhà này sang nhà khác, cho đến tận một cái nhà nhỏ. Tôi đi lên tầng hai, mở cửa và gọi: ‘Xin ông bà bố thí cho kẻ lang thang nghèo đói.’ Ôi trời, lúc ấy chân tôi mới cứng đờ ra. Cái nhà ấy là trạm hiến binh trời ạ! Súng treo trên tường, cây thánh giá trên bàn, giấy tờ trên giá sách, Hoàng đế nhìn tôi từ phía trên bàn. Tôi chưa kịp nói gì thì ông trưởng trạm nhảy bổ về phía tôi, cho tôi một cái tát trời giáng đến nỗi tôi bay từ cầu thang xuống tận dưới đất, rồi tôi vắt chân lên cổ chạy một mạch đến mãi Kejžlice. Đấy, quyền hành của hiến binh là thế đấy.”

Họ cùng ăn khoai rồi đi ngủ sớm, nằm trên những chiếc ghế dài trong gian bếp ấm cúng.

Đến đêm, Švejk thức dậy, lặng lẽ mặc quần áo và đi ra ngoài sân. Mặt trăng đang lên. Anh cất bước đi về phía đông, miệng nhắc đi nhắc lại: “Có lý nào mà mình lại không đi đến được Budějovice.”

Khi ra khỏi rừng, Švejk trông thấy một thành phố nào đó ở phía tay phải, vì thế anh rẽ dần về hướng bắc, sau đó lại đi về phía nam, ở đấy anh cũng thấy một thành phố nào đó. (Thành phố ấy là Vodňany). Tránh không vào thành phố, Švejk xuyên qua cánh đồng cỏ, và dưới ánh mặt trời buổi sáng, anh đi tới sườn dốc phủ đầy tuyết. Bên dưới dốc là thị trấn Protivín.

“Cứ đi thẳng về phía trước,” người lính tốt Švejk tự nhủ, “nghĩa vụ đang kêu gọi. Mình phải đi đến Budějovice..” Nhưng một điều tình cờ không may đã xảy ra, đáng lẽ từ Protivín phải đi xuống phía nam để đến České Budějovice, bước chân Švejk đưa anh đi lên phía bắc, nhằm hướng đến thành phố Písek.

Tới gần trưa, Švejk nhìn thấy một ngôi làng nhỏ ở phía trước mặt. Anh rẽ xuống dốc và tự nhủ thầm: “Cứ thế này mãi thì không được, mình phải đi hỏi đường đến Budějovice.”

Vào đến làng, anh hết sức ngạc nhiên khi nhìn thấy tấm biển gắn ở ngôi nhà đầu tiên “Làng Putim.”

“Ối Jesus lạy Chúa tôi,” Švejk thở dài, “thế là mình lại đến Putim, nơi mình đã ngủ ở đống rơm!”

Nhưng rồi anh cũng không còn phải ngạc nhiên về điều gì nữa, khi thấy ở phía sau hồ cá có một người hiến binh đi ra từ ngôi nhà quét vôi trắng treo biển con gà mái (ám chỉ con đại bàng hai đầu trên quốc hiệu của nhà nước Áo, theo như cách gọi ở một số nơi). Trông ông ta giống như con nhện đang canh cái mạng nhện.

Người hiến binh tiến thẳng tới Švejk và hỏi gọn lỏn: “Đi đâu thế?”

“Về trung đoàn của tôi ở Budějovice.”

Người hiến binh cười mỉa mai: “Nhưng mà anh lại đi từ Budějovice. Anh đã đi qua Budějovice của anh rồi,” và kéo Švejk vào trạm hiến binh.

Ông trung sĩ trạm trưởng trạm hiến binh ở Putim nổi tiếng khắp vùng là người biết xử sự rất khéo léo, đồng thời cũng là người khôn ngoan nữa. Ông không bao giờ chửi mắng những người bị tạm giữ hoặc bị bắt, mà thường tiến hành hỏi cung chéo bằng cách làm cho cả kẻ vô tội cũng phải nhận tội.

Hai người hiến binh còn lại của trạm thường đồng tình vào hùa với ông và các cuộc hỏi cung chéo bao giờ cũng diễn ra trong tiếng cười của cả trạm.

“Thành tích của việc điều tra tội phạm học phụ thuộc vào trí thông minh và sự đối xử thân thiện của người điều tra.” Ông trạm trưởng luôn bảo những người cấp dưới của mình như vậy, “gào thét chẳng có nghĩa lý gì hết. Đối với những kẻ phạm tội và những người khả nghi thì phải nhẹ nhàng, nhưng đồng thời phải làm cho chúng chết ngập trong dòng lũ những câu tra hỏi.”

“A, xin chào anh lính,” ông trung sĩ bảo Švejk, “mời anh ngồi xuống đây. Chắc hẳn anh đi đường đã mệt rồi. Nào, xin anh cho chúng tôi biết anh đi đâu?”

Švejk nhắc lại là anh đi đến trung đoàn của mình ở Budějovice.

“Thế thì hiển nhiên là anh đã đi nhầm đường,” ông trung sĩ hiến binh mỉm cười nói, “tại vì anh đi theo hướng ra khỏi Budějovice. Để tôi chỉ cho anh xem. Phía trên đầu anh là bản đồ Séc. Anh hãy trông đây này, anh lính ạ. Từ chỗ chúng tôi đi xuống phía nam là Protivín. Từ Protivín đi xuống phía nam là Hluboká và ở phía nam Hluboká là Budějovice. Đấy, anh thấy chưa? Anh không đi đến Budějovice, mà đi từ Budějovice.”

Ông trung sĩ đưa mắt nhìn Švejk một cách rất tình cảm, còn anh thì bình tĩnh và trang trọng nói: “Thế nhưng mà tôi vẫn đi đến Budějovice.” Điều đó xem ra còn chắc chắn hơn cả câu “Dẫu sao thì trái đất vẫn quay.” của Galileo, bởi lẽ chắc hẳn khi nói câu ấy, Galileo đã rất bực tức.

“Anh lính ạ,” ông trung sĩ vẫn thân thiện nói với Švejk, “tôi sẽ nói để anh rõ, rồi thì cuối cùng anh cũng đi đến kết luận là chối quanh chỉ gây thêm khó khăn cho việc thú tội!”

“Vâng, ông rất đúng,” Švejk nói, “mỗi một sự chối quanh là thêm một khó khăn cho việc thú tội, và ngược lại.”

“Đấy, anh thấy chưa hả anh lính? Tự anh cũng nhận thấy như thế. Anh hãy thật thà trả lời tôi đi, anh đã đi từ đâu để đến Budějovice của anh. Tôi cố ý nói là của anh, bởi vì chắc hẳn là phải còn có một Budějovice nào khác nằm ở chỗ nào đấy ở phía bắc Putim mà cho đến nay vẫn chưa được đưa vào bất kỳ bản đồ nào.”

“Tôi đã đi từ Tábor.”

“Anh đã làm gì ở Tábor?”

“Tôi chờ tàu hỏa đi Budějovice.”

“Thế vì sao anh không đi tàu hỏa đến Budějovice?”

“Tại vì tôi không có vé tàu.”

“Thế tại sao người ta không cho anh vé quân đội miễn phí, khi anh là lính?”

“Tại vì tôi không có giấy tờ gì theo người.”

“Ra thế đấy,” ông trung sĩ đắc thắng nói với một trong các hiến binh, “hắn chẳng ngu như hắn làm ra vẻ thế đâu, đang rất loanh quanh lòng vòng đây.”

Làm như thể không nghe thấy câu trả lời về giấy tờ, ông trung sĩ hỏi lại từ đầu: “Vậy là anh đi từ Tábor đấy. Thế anh đã đi về hướng nào?”

“Về hướng tới Budějovice.”

Trên khuôn mặt ông trung sĩ thoáng một vẻ nghiêm khắc, ông đưa mắt nhìn lên tấm bản đồ.

“Anh có thể chỉ cho chúng tôi anh đã đi đường nào đến Budějovice được không?”

“Tôi không nhớ được tên tất cả các nơi, chỉ nhớ là tôi đã đi đến Putim một lần rồi.”

Các thành viên của trạm hiến binh đưa mắt nhìn nhau và ông trung sĩ tiếp tục: “À, vậy là anh đã ở nhà ga Tábor. Anh có mang theo người cái gì không? Hãy bỏ cả ra đây.”

Sau khi đã lục soát kỹ lưỡng mà không tìm thấy gì ngoài cái tẩu và bao diêm, ông trung sĩ hỏi Švejk: “Anh hãy nói cho tôi biết vì sao mà anh không có gì, hoàn toàn không có gì cả?”

“Tại vì tôi không cần gì cả.”

“Ôi trời ơi,” ông trung sĩ thở dài, “sao mà anh rắc rối thế! Anh bảo là đã đến Putim một lần rồi. Thế lúc ấy anh đã làm gì ở đây?”

“Tôi đi qua Putim để đến Budějovice.”

“Đấy, anh có thấy là anh nhầm chưa? Chính anh bảo là anh đi đến Budějovice, nhưng bây giờ thì chắc chắn chúng tôi đã chỉ ra cho anh thấy là anh đi từ Budějovice.”

“Chắc hẳn tôi đã đi vòng hay sao ấy.”

Ông trung sĩ và các thành viên của trạm lại đưa mắt nhìn nhau: “Những đường đi vòng vèo của anh làm tôi có cảm giác là anh lang thang ở khắp mọi nơi. Thế anh đã ở nhà ga Tábor có lâu không?”

“Cho đến chuyến tàu cuối cùng về Budějovice.”

“Anh đã làm gì ở đấy?”

“Tôi đã nói chuyện với binh lính.”

Một cái nhìn mới rất đắc ý của ông trung sĩ hiến binh hướng về phía các thành viên của trạm.

“Thế anh đã nói gì với họ, anh đã hỏi họ về cái gì?”

“Tôi đã hỏi xem họ là lính của trung đoàn nào và họ đi đâu.”

“Rất tốt! Thế anh có hỏi họ xem một trung đoàn có bao nhiêu quân và được chia thành những đơn vị nào không?”

“Không, tôi không hỏi, vì cái ấy thì tôi đã thuộc lòng từ lâu rồi.”

“Tức là anh hoàn toàn được thông báo về tổ chức quân đội của chúng tôi à?”

“Tất nhiên rồi, thưa trung sĩ.”

Đắc thắng nhìn các hiến binh của mình, ông trung sĩ đưa ra câu hỏi chủ bài cuối cùng: “Anh có biết nói tiếng Nga không?”

“Không, tôi không biết.”

Ông trung sĩ ra hiệu cho hạ sĩ hiến binh và cả hai cùng đi sang phòng bên cạnh. Phấn khởi vì chiến thắng hoàn hảo và sự tự tin chắc chắn của mình, ông xoa xoa tay tuyên bố: “Anh đã nghe thấy rồi chứ? Hắn không biết tiếng Nga! Thằng cha này mới ranh ma xảo quyệt làm sao chứ! Hắn thú nhận tất cả, nhưng cái quan trọng nhất thì chối bay. Ngày mai chúng ta phải chuyển hắn đến Písek, lên ông chỉ huy ở trên huyện. Thành tích của việc điều tra tội phạm học phụ thuộc vào trí thông minh và sự thân thiện tử tế của người điều tra. Anh cũng thấy là tôi đã làm hắn mụ đầu bằng một loạt câu hỏi như thế đấy. Ừ, ai mà lại có thể nghĩ về hắn như vậy. Trông hắn ngu ngốc đần độn thế, nhưng mà chính đối với những người như vậy ta phải thật khôn ngoan. Bây giờ anh cho hắn ngồi vào một chỗ nào đấy, còn tôi thì đi viết báo cáo.”

Thế là từ trưa cho đến chiều tối, ông trung sĩ ngồi viết báo cáo, trên môi ông rạng rỡ nụ cười. Câu nào trong bản báo cáo cũng có từ tiếng Đức nghi phạm gián điệp.

Càng viết bằng thứ tiếng Đức văn phong lạ lẫm lâu bao nhiêu, ông trung sĩ hiến binh Flanderka càng thấy tình hình sáng tỏ hơn bấy nhiêu. Và khi viết câu kết thúc bằng tiếng Đức: “Xin báo cáo là ngày hôm nay sẽ giải tên sĩ quan của quân địch lên chỉ huy Sở Hiến binh huyện,” ông mỉm cười với công trình của mình rồi gọi hạ sĩ quan hiến binh tới và hỏi: “Anh đã cho tay sĩ quan của quân địch ăn cái gì chưa?”

“Thưa, theo lệnh của trung sĩ thì chỉ những ai bị bắt giải đến đây và bị hỏi cung trước 12 giờ trưa thì mới được ăn thôi ạ.”

“Đây là trường hợp rất đặc biệt,” ông trung sĩ trang trọng nói, “đây là một sĩ quan cấp cao, chắc hẳn là sĩ quan của Bộ Tham mưu. Anh biết đấy, chẳng lẽ quân Nga lại gửi cậu lính binh nhì đến đây làm gián điệp hay sao. Anh cho người ra quán Con mèo đực mua cái gì cho hắn ăn. Nếu ở quán không còn gì nữa thì bảo họ nấu cho hắn. Bảo họ pha chè với Rum nữa rồi mang cả về đây. Anh đừng nói mang thức ăn cho ai, tuyệt đối không được nói cho người nào biết chúng ta đang có ai ở đây. Đó là bí mật quân sự, hiểu chưa? Bây giờ hắn đang làm gì?”

“Anh ấy xin một ít thuốc lá, đang ngồi ở phòng bảo vệ và rất lấy làm hài lòng, cứ như là ngồi ở nhà mình vậy. Anh ấy bảo. ‘Ở đây ấm quá. Thế lò sưởi này có bị khói không? Tôi thích ở đây lắm. Nếu lò có khói thì các anh cần cho thông ống khói. Nhưng mà chỉ được làm vào buổi chiều thôi, chứ đừng bao giờ làm lúc mặt trời chiếu xuống ống khói.’”

“Ái chà! Hắn quả là tinh ranh, xảo quyệt,” ông trung sĩ hào hứng nói, “hắn làm như chẳng có gì dính dáng đến hắn, mặc dù hắn biết là sẽ bị xử bắn. Một người như thế xứng đáng để chúng ta tôn trọng, cho dù đó là kẻ thù. Người ấy biết chắc là đi đến cái chết. Tôi không biết liệu chúng ta có thể làm được như thế không. Chẳng hạn chúng ta có thể lưỡng lự, dao động nhụt chí. Thế mà hắn thì ngồi bình thản như không, lại còn nói: ‘Ở đây ấm quá và lò sưởi không có khói.’ Thế mới gọi là tính cách, anh hạ sĩ ạ. Tính cách ấy đòi hỏi người ấy phải có tinh thần thép, phải có sự quên mình, mạnh mẽ và nhiệt huyết. Giá mà ở nước Áo cũng có được lòng nhiệt huyết như thế… nhưng mà thôi, tốt hơn hết là không nói về điều đó. Kể cả ở chúng ta cũng có những người có nhiệt huyết. Anh đã đọc báo Chính trị dân tộc về ông trung úy pháo binh Berger, người đã leo lên một cây thông cao và làm một cái chòi canh ở trên ấy chưa? Khi quân ta rút lui, ông ấy đã không thể tụt xuống được, vì nếu xuống thì sẽ bị bắt làm tù binh. Thế là ông trung úy đã chờ cho đến lúc quân ta lại đuổi quân địch đi, và ông ấy đã chờ đến mười bốn ngày. Suốt mười bốn ngày trời ông ấy ở trên cây. Để không bị chết đói, ông ấy đã ăn lá thông và đã gặm trụi cả ngọn cây. Khi quân ta trở lại thì ông ấy đã yếu đến mức không bám giữ được nữa, thành ra ông ấy bị rơi xuống đất rồi chết. Sau đó, ông ấy được truy tặng Huân chương dũng cảm.”

Và ông trung sĩ nghiêm trang nói thêm: “Đó là sự hy sinh, anh ạ, đó là khí phách anh hùng. Ấy chết, chúng ta mải chuyện quá, bây giờ thì dẫn hắn vào đây, rồi anh chạy đi mua thức ăn đi.”

Người hạ sĩ đưa Švejk vào, ông trung sĩ gật đầu thân thiện mời Švejk ngồi xuống và bắt đầu hỏi Švejk còn cha mẹ không.

“Tôi không còn.”

Ngay lập tức, ông trung sĩ cho rằng như thế thì tốt hơn, ít ra thì không có ai phải khóc con người bất hạnh này. Đồng thời, ông nhìn vào khuôn mặt đôn hậu của Švejk và với tình cảm tử tế đột ngột dâng lên trong lòng, ông vỗ vai anh, nghiêng người về phía anh rồi hỏi bằng giọng của người cha:

“Thế nào, anh có thích Bohemia không?”

“Chỗ nào ở Bohemia tôi cũng thích,” Švejk trả lời, “đi đến đâu tôi cũng gặp những người rất tốt.”

Ông trung sĩ gật đầu đồng ý: “Vâng, ở đây mọi người rất tốt và thân thiện. Ăn cắp hay đánh nhau là chuyện hoàn toàn không thể có. Tôi đã làm việc ở đây mười lăm năm rồi, tính ra thì trung bình mỗi năm có khoảng ba phần tư vụ giết người.”

“Ông nghĩ là vụ giết người không thành ư?” Švejk hỏi lại.

“Không, tôi không nghĩ thế. Trong mười lăm năm qua, chúng tôi chỉ phải giải quyết có mười một vụ giết người thôi. Trong đó năm vụ là giết người cướp của, còn sáu vụ khác là những vụ bình thường chẳng có gì đáng nói.”

Ông trung sĩ im lặng một hồi và lại chuyển về phương pháp hỏi cung của mình: “Thế anh đã định làm gì ở Budějovice?”

“Đến phục vụ ở trung đoàn 91.”

Ông trung sĩ yêu cầu Švejk đi ra phòng bảo vệ, rồi để khỏi quên mất, ông nhanh chóng điện thêm vào bản báo cáo sẽ gửi lên chỉ huy Sở Hiến binh huyện Písek:

“Hoàn toàn thạo tiếng Séc, muốn tìm cách vào trung đoàn bộ binh 91 ở České Budějovice.”

Ông phấn khởi xoa tay, lấy làm vui mừng về tài liệu phong phú vừa thu thập được, cả về phương pháp điều tra mang lại những kết quả chính xác. Ông nhớ tới người tiền nhiệm của mình, trung sĩ Bürger. Ông này chẳng hề nói gì với người bị bắt, cũng không hỏi cái gì cả mà chuyển ngay anh ta lên tòa án huyện kèm một báo cáo ngắn gọn: “Theo thông báo của hạ sĩ quan hiến binh, bị bắt vì tội lang thang và ăn xin.” Thế mà gọi là hỏi cung ư?

Ông nhìn các trang bản báo cáo của mình rồi mỉm cười thỏa mãn. Ông lôi từ ngăn kéo bàn bản tài liệu mật của Sở Hiến binh Praha với chữ đề Tối mật và đọc lại một lần nữa:

Tất cả các trạm hiến binh phải hết sức nâng cao chú ý, nghiêm khắc theo dõi người qua lại trong địa phận của từng trạm. Hoạt động chuyển quân của chúng ta ở miền Đông Galicia dẫn đến việc một số lực lượng quân sự của Nga vượt qua Karpat để chiếm vị trí bên trong địa phận của Đế quốc chúng ta, làm cho mặt trận chuyển sâu hơn nữa sang phía Tây của nhà nước quân chủ. Tình hình mới này đã tạo điều kiện cho các gián điệp Nga lợi dụng di chuyển của mặt trận để thâm nhập sâu hơn nữa vào địa phận nhà nước quân chủ của chúng ta, đặc biệt vào vùng Slezsko và Morava⦾. Theo các thông tin bí mật thì một số lượng lớn các gián điệp Nga đã rời hai vùng này sang Bohemia. Đã phát hiện trong số họ có nhiều người Nga gốc Séc rất thạo tiếng Séc được đào tạo trong các trường sĩ quan quân đội Nga. Đó là những người có biểu hiện là những gián điệp đặc biệt nguy hiểm, bởi vì họ có thể và nhất định sẽ làm tuyên truyền phản quốc trong dân chúng người Séc. Vì vậy, Sở Hiến binh khu vực ra lệnh bắt giữ tất cả những người khả nghi, đặc biệt nâng cao cảnh giác ở những nơi gần các đơn vị quân đội, các trung tâm quân sự và các nhà ga có tàu quân sự chạy qua. Khám xét ngay những người bị bắt và chuyển tiếp lên cấp trên.

Ông trung sĩ hiến binh Flanderka lại mỉm cười hài lòng và xếp tài liệu mật ấy vào tập những tài liệu khác có đề Chỉ thị mật.

Các chỉ thị mật ấy có nhiều, được soạn bởi Bộ Nội vụ, cộng tác với Bộ Quốc phòng khu vực, tức là cơ quan cấp trên của hiến binh. Ở Sở Hiến binh khu vực Praha, người ta không kịp in những chỉ thị ấy để gửi về các địa phương.

Những tài liệu ấy gồm có:

Lệnh về kiểm tra tư tưởng của dân chúng địa phương.

Hướng dẫn về việc theo dõi ảnh hưởng của những tin tức từ chiến trường đến tư tưởng người dân địa phương thông qua các cuộc nói chuyện với họ.

Bảng câu hỏi về thái độ của người dân địa phương đối với việc phát hành Trái phiếu chiến tranh và tổ chức các đợt quyên góp.

Bảng câu hỏi về trạng thái tinh thần của những người đã nhập ngũ và những người sẽ phải nhập ngũ.

Bảng câu hỏi về trạng thái tinh thần của các thành viên trong chính quyền địa phương và của những người trí thức.

Lệnh về việc phát hiện không trì hoãn các thành phần dân chúng địa phương ở các đảng phái chính trị, cũng như việc tìm hiểu sức mạnh của những đảng phái chính trị ấy.

Lệnh về việc kiểm tra hoạt động của những người lãnh đạo các đảng phái chính trị và về việc điều tra mức độ trung thành của một số đảng phái chính trị tại địa phương.

Bảng câu hỏi về các loại báo chí và các tờ rơi được mang tới địa phận quản lý của trạm hiến binh.

Chỉ thị về việc phát hiện những đối tượng có quan hệ với những người khả nghi về lòng trung thành, và sự không trung thành của họ thể hiện ở điểm nào.

Chỉ thị về việc tìm trong dân chúng địa phương những người tố giác và người chỉ điểm ăn lương.

Chỉ thị dành cho những người địa phương làm chỉ điểm ăn lương đã được đưa vào danh sách của trạm hiến binh.

Ngày nào cũng có thêm những chỉ thị, những hướng dẫn, những bảng câu hỏi và các lệnh mới. Bị lút đầu vì khối lượng lớn những sáng tạo kể trên của Bộ Nội vụ Áo gửi đến, ông trung sĩ Flanderka nợ chồng chất việc giải quyết những công văn giấy tờ ấy. Vì vậy ông thường trả lời rập khuôn các bảng câu hỏi, rằng ở địa phận ông phụ trách thì tất cả mọi việc đều ổn cả và lòng trung thành của dân chúng địa phương thì ở mức Ia.

Để đo lòng trung thành và niềm tin không lay chuyển đối với nhà nước quân chủ, Bộ Nội vụ Áo phát minh ra những mức độ Ia, Ib, Ic; IIa, IIb, IIc; IIIa, IIIb, IIIc, IVa, IVb, IVc. Các con chữ đi kèm mức độ đánh bằng số bốn La Mã có nghĩa là: IVa – tội phản quốc và treo cổ, IVb – đi tù, IVc – theo dõi và bắt giam.

Trên bàn làm việc của trung sĩ có đủ các loại ấn phẩm và danh sách. Chính phủ muốn biết suy nghĩ của từng người dân về chính phủ.

Biết bao lần, trung sĩ Flanderka tuyệt vọng vò đầu bứt tai trước đống ấn phẩm ấy. Nó tăng lên một cách tàn nhẫn mỗi lần ông nhận được bưu phẩm. Cứ trông thấy những cái phong bì quen thuộc đóng dấu Thư công vụ – Miễn phí là tim ông lại đập thình thịch. Vào ban đêm, ông trằn trọc suy nghĩ rồi đi đến kết luận chắc chắn là ông không thể sống được cho đến ngày chiến tranh kết thúc, rằng Sở Hiến binh khu vực sẽ làm ông mất hết trí khôn, rằng ông sẽ không thể vui mừng được với chiến thắng của quân đội Áo, bởi lẽ đằng nào thì ông cũng đã phát điên rồi. Và Sở Hiến binh huyện thì ngày ngày dội bom lên đầu ông bằng hàng loạt các câu hỏi. Nào là tại sao vẫn chưa trả lời bản câu hỏi số 72345/721 af, d), rồi hướng dẫn 88992/822gfeh z) đã được giải quyết thế nào, hay là hướng dẫn số 123456/1292 br V) đã có kết quả trong thực tế ra sao, vân vân.

Nhưng cái làm trung sĩ lo lắng nhất là chỉ thị tìm trong dân chúng địa phương những người tố giác và chỉ điểm. Bởi vì cho rằng đó là điều không thể, người như thế không thể là người địa phương được, vì dân chúng ở địa bàn nhiều hồ ao và đầm lầy này đều là những người cứng đầu cứng cổ, ông nảy ra ý nghĩ lấy thằng chăn bò của làng làm chỉ điểm. Đó là kẻ dở hơi mà tất cả mọi người đều gọi là “Pepek, nhảy lên!” và cứ nghe bảo thế là hắn lại nhảy cẫng lên. Đó là một thằng ngu, một trong những kẻ tội nghiệp khốn khổ bị tạo hóa và mọi người bỏ rơi, một kẻ tật nguyền chuyên chăn bò cho làng để có cái ăn và hằng năm được cho vài zlatý⦾. Ông trung sĩ cho gọi hắn đến và bảo: “Này, Pepek, mày có biết lão Procházka là ai không?”

“Be be.”

“Đừng có be be, mày hãy nhớ rằng mọi người gọi Hoàng đế như thế. Mày có biết Hoàng đế là ai không?”

“Là hòn đế.”

“Ừ, thế. Bây giờ thì mỗi khi đi xin ăn ở mọi nhà mà nghe thấy ai bảo rằng Hoàng đế là đồ con bò, hay là cái gì tương tự như thế, thì mày phải đến đây nói cho tao biết ngay, mày sẽ được sáu krejcar. Khi nào nghe thấy ai bảo là chúng ta không thắng thì mày cũng lại đến đây nói cho tao biết, rồi mày lại được sáu krejcar, hiểu không? Nhưng mà nếu tao nghe thấy bảo là mày giấu giếm cái gì thì mày chết, nghe chưa? Tao sẽ tóm cổ mày đưa lên Písek, biết không!? Thôi, bây giờ thì nhảy lên đi!”

Sau khi Pepek nhảy lên, ông đưa cho hắn mười hai krejcar và hài lòng đi viết báo cáo lên Sở Hiến binh huyện là đã tìm được chỉ điểm viên.

Ngày hôm sau, cha cố đến tìm gặp ông và nói với ông một cách bí ẩn, là buổi sáng cha gặp thằng chăn bò của làng, và hắn đã kể cho cha rằng “Cha ơi, hôm qua ông trưởng trạm bảo rằng hòn đế là đồ con bò, rằng chúng ta không thắng ạ. Be be!”

Sau khi giải thích và chuyện trò dài dòng với cha cố, trung sĩ Flanderka cho bắt thằng chăn bò của làng. Sau này ở Hradčany, hắn bị kết án mười hai năm tù vì tội phản quốc. Hắn bị kết luận là có âm mưu lật đổ nhà nước, phạm tội xúi giục, tội khi quân phạm thượng và cả một số tội nặng nhẹ khác nữa.

Pepek đã xử sự ở tòa án giống như ở ngoài bãi chăn bò, như cư xử với hàng xóm láng giềng. Hắn be be như con dê trả lời tất cả các câu hỏi. Sau khi tòa tuyên án, hắn cũng lại be be rồi nhảy cẫng lên. Vì làm thế là phạm kỷ luật nên hắn còn bị biệt giam, nằm giường không đệm và nhịn đói ba ngày.

Cũng từ ngày ấy, trung sĩ hiến binh không có ai làm chỉ điểm cho, ông đành phải bịa ra một cái tên giả, và thế là thu nhập hằng tháng của ông tăng thêm năm mươi koruna, rồi ông lấy tiền ấy đi uống ở quán Con mèo đực. Bao giờ uống đến cốc thứ mười ông cũng cảm thấy bị lương tâm cắn rứt và ngụm bia thì đắng ngắt trong miệng. Và lần nào ông cũng nghe thấy những người ngồi bên nói với nhau: “Hôm nay trông ông trung sĩ có vẻ buồn buồn thế nào ấy, như thể ông đang không vui.” Rồi ông đứng dậy đi về nhà. Khi ông đi khỏi, bao giờ cũng lại có người bảo: “Quân ta lại vãi ra quần ở đâu đấy tại Serbia hay sao mà ông trung sĩ chẳng nói năng gì cả.”

Về đến nhà, ít ra ông lại điền được vào một bảng câu hỏi: “Tâm trạng trong dân chúng: Ia.”

Ông trung sĩ thường có những đêm thức trắng. Ông luôn luôn chờ có người đến thanh tra, điều tra. Có đêm, trong giấc mơ ông nhìn thấy dây thòng lọng, thấy bị người ta giải đến giá treo cổ. Và ngay bên dưới giá treo cổ, đích thân Bộ trưởng Bộ Quốc phòng khu vực còn hỏi ông lần cuối cùng bằng tiếng Đức: “Này ông trung sĩ, câu trả lời của ông cho thông tư 1786789/23792 X), Y), Z) ở đâu?”

Mãi cho đến tận bây giờ! Như thể từ tất cả mọi nơi mọi góc của trạm hiến binh đều vang lên khẩu hiệu xa xưa của những người thợ săn “Chúc săn bắn thành công!” Và trung sĩ Flanderka không hề nghi ngờ gì về việc chỉ huy Sở Hiến binh huyện sẽ vỗ vào vai ông và nói bằng tiếng Đức: “Tôi xin chúc mừng ông, thưa trung sĩ.”

Trí óc nhân viên công sở của ông còn tưởng tượng ra được cả những hình ảnh đẹp đẽ khác như được khen thưởng, được thăng tiến nhanh, được đánh giá cao khả năng điều tra hình sự, tất cả sẽ mở cửa cho con đường sự nghiệp của ông.

Ông gọi người hạ sĩ và hỏi: “Đã cho hắn ăn gì chưa?”

“Rồi ạ, thịt hun khói với rau bắp cải và bánh hấp, nhưng súp thì quán không còn. Anh ấy uống hết một cốc nước chè rồi, bây giờ muốn cốc nữa.”

“Pha cho hắn!” ông trung sĩ hào phóng cho phép, “Khi nào hắn uống xong thì dẫn vào đây.”

Nửa tiếng đồng hồ sau, người hạ sĩ đưa Švejk vào gặp ông trung sĩ. Được ăn uống no nê, Švejk lại hài lòng như mọi khi.

“Thế nào? Anh ăn có ngon miệng không?” trung sĩ hỏi.

“Ăn được ạ, thưa trung sĩ, chỉ có điều bắp cải thì hơi ít. Nhưng mà không sao, tôi biết là các ông không có chuẩn bị trước. Thịt ấy hun rất kỹ, chắc nó phải là thịt lợn nhà, được chế biến cẩn thận. Nước chè với Rum uống cũng ngon.”

Ông trung sĩ nhìn Švejk và bắt đầu: “Ở Nga người ta uống nhiều nước chè, có phải không? Ở đấy cũng có Rum à?”

“Rum có ở khắp thế giới, thưa trung sĩ.”

“Đừng quanh co,” ông trung sĩ thầm nghĩ, “đáng lẽ cậu phải thận trọng ngay từ đầu kia!” Và nghiêng người về phía Švejk, ông thân mật hỏi: “Con gái Nga có xinh không?”

“Con gái ở đâu trên thế giới cũng xinh, thưa trung sĩ.”

“A,” ông trung sĩ lại nghĩ thầm, “bây giờ thì cậu rất muốn làm sao thoát khỏi vòng đây mà.” Và ông bắt đầu hỏi thẳng:

“Anh đã muốn làm gì ở trung đoàn 91?”

“Tôi muốn cùng họ ra mặt trận.”

Ông trung sĩ hài lòng nhìn Švek và nhận xét: “Thế là đúng. Đó là cách tốt nhất để có thể đến Nga. — Quả thật đó là tính toán rất tốt,” ông rạng rỡ vui mừng và để ý theo dõi xem lời nói của mình tác động thế nào đến Švejk.

Nhưng không thấy Švejk có biểu hiện gì khác ngoài vẻ mặt hoàn toàn bình thản.

“Hắn cứ yên như không,” trung sĩ cảm thấy hơi sợ, “đấy là biểu hiện đạo đức người lính của bọn họ. Nếu mà ở vào địa vị hắn rồi nghe ai nói như thế thì chắc mình run khuỵu chân luôn… — Ngày mai chúng tôi đưa anh đến Písek,” ông nói thản nhiên, “anh đã đến Písek bao giờ chưa?”

“Tôi đã ở đấy năm 1910, hồi tập trận với Hoàng đế.”

Nghe nói vậy, nụ cười của trung sĩ còn dễ chịu hơn, đắc thắng hơn. Ông cảm thấy là bằng hệ thống những câu hỏi của mình, ông thắng được cả chính bản thân.

“Anh đã ở đấy suốt thời gian tập trận à?”

“Tất nhiên rồi, thưa trung sĩ, như là một lính bộ binh ạ.” Švejk lại nhìn ông trung sĩ bằng cái nhìn bình thản như trước, còn ông trung sĩ thì khấp khởi mừng thầm và sốt ruột làm sao điền thêm cho thật nhanh tin đó vào bản báo cáo. Ông gọi người hạ sĩ bảo dẫn Švejk ra ngoài rồi viết thêm vào bản báo cáo: “Kế hoạch của anh ta thế này: len vào hàng ngũ của trung đoàn bộ binh 91, muốn đăng ký ra mặt trận ngay và đợi thời cơ gần nhất để sang Nga, bởi vì nhận ra rằng nếu không làm thế thì đường trở về Nga sẽ bị các cơ quan có cảnh giác cao của Áo phát hiện. Rằng có thể thành công tuyệt vời ở trung đoàn bộ binh 91 là điều dễ hiểu, bởi theo những điều anh ta khai và tự thú sau khi bị thẩm vấn chéo, thì ngay từ năm 1910 đã trải qua toàn bộ cuộc tập trận với Hoàng đế vùng Putim như là lính bộ binh. Từ đó thấy rằng trong lĩnh vực chuyên môn của mình, anh ta là người rất có khả năng. Cũng cần phải nói rằng những kết luận trên đây là kết quả của của hệ thống hỏi cung chéo của tôi.”

Người hạ sĩ hiện ra ở cửa: “Thưa trung sĩ, anh ấy muốn đi vệ sinh ạ.”

“Cắm lưỡi lê!” trung sĩ quyết định, “À mà không đưa hắn vào đây.”

“Thế nào, anh muốn đi nhà vệ sinh à?” trung sĩ thân mật hỏi Švejk, “Hay là còn có gì khác nữa đấy?” Và ông nhìn chằm chằm vào mặt Švejk.

“Quả thật chỉ đi đại tiện thôi ạ, thưa trung sĩ.” Švejk trả lời.

“Ồ, biết đâu còn có cái gì khác nữa.” Ông trung sĩ cố ý nhắc lại, đồng thời gắn khẩu súng lục vào thắt lưng, “Tôi sẽ đi với anh.”

“Đây là khẩu súng lục rất tốt,” ông nói với Švejk khi họ đi ra sân, “bảy viên, bắn chính xác.”

Nhưng trước khi đi ra đó, ông trung sĩ gọi người hạ sĩ và thầm thì với anh ta một cách bí ẩn: “Anh cắm lưỡi lê, rồi khi hắn đi vào trong thì anh vòng ra đứng ở đằng sau nhà vệ sinh, kẻo hắn đạp luồn qua hố phân.”

Nhà vệ sinh là một túp lều bình thường bằng gỗ đứng một cách thảm hại ở giữa sân, bên trên cái hồ chứa nước giải chảy từ đống phân chuồng cách đó không xa. Đó là túp lều cũ kỹ, nơi bao nhiêu thế hệ trước đó đã ngồi giải phóng cặn bã. Bây giờ thì Švejk ngồi ở đấy, một tay cầm cái dây giữ cửa, trong khi đó qua cửa sổ phía sau, viên hạ sĩ nhìn vào mông anh, đề phòng trường hợp anh đạp chân chui qua hố phân mà trốn mất.

Ông trung sĩ hướng cặp mắt chim ưng nhìn chăm chăm vào cánh cửa và suy nghĩ xem sẽ bắn vào chân nào của Švejk nếu anh định bỏ trốn.

Nhưng cuối cùng thì cánh cửa nhẹ nhàng mở, Švejk hài lòng đi ra và hỏi ông trung sĩ: “Tôi đã ngồi ở đấy có lâu không? Chắc là tôi không để ông chờ lâu, có phải không?”

“Ồ, không, không đâu.” ông trung sĩ trả lời, bụng nghĩ thầm: “Sao mà họ tế nhị lịch sự đến thế! Hắn biết cái gì chờ hắn, thế mà vẫn cư xử như vậy, thật đáng khâm phục. Lịch sự cho đến phút cuối cùng. Không biết ở địa vị hắn thì người của chúng ta có làm được như thế không.”

Ông trung sĩ dừng lại ở phòng bảo vệ. Ông cùng Švejk ngồi trên cái giường trống của anh hiến binh tên là Rampa, người đã làm nghĩa vụ tuần tra suốt đêm xung quanh các làng, vào giờ này thì đang ở quán Con ngựa ô ở Protivín chơi mariáš với các ông thợ giày và trong lúc nghỉ giải lao thì nói với mọi người là nước Áo nhất định phải thắng.

Trung sĩ châm lửa hút tẩu, đưa thuốc cho Švejk nhồi tẩu, viên hạ sĩ chất thêm củi vào lò, trạm hiến binh biến thành một chỗ thoải mái ấm cúng nhất trên trái đất, thành một góc bình yên, thành một tổ ấm trong lúc hoàng hôn sắp tới, khi sẽ có cái giờ đen tối lúc chạng vạng của một ngày mùa đông.

Nhưng tất cả đều im lặng. Ông trung sĩ mải theo đuổi một suy nghĩ, cuối cùng ông quay sang viên hạ sĩ và bảo: “Theo tôi thì treo cổ điệp viên là không đúng. Một người hy sinh vì nghĩa vụ của mình, và vì… ừ ta có thể gọi là vì tổ quốc, thì phải được xử tử một cách tử tế, bằng thuốc súng và bằng chì, anh nghĩ sao, hả hạ sĩ?”

“Vâng, dứt khoát bắn chứ không treo cổ ạ,” viên hạ sĩ đồng ý, “cứ thử tưởng tượng nếu người ta cử chúng ta đi và bảo: ‘Các anh phải đi điều tra xem quân Nga có bao nhiêu khẩu súng máy ở bộ phận súng máy.’ thì chúng ta cũng thay quần áo đi ngay. Thế mà chúng ta lại có thể bị treo cổ giống như kẻ giết người cướp của hay sao?”

Người hạ sĩ tức giận đứng dậy và kêu lên:

“Tôi yêu cầu được xử bắn và chôn cất theo các nghi thức quân đội!”

“Cái này cũng còn có vấn đề,” Švejk lên tiếng, “nếu mà người ấy thông minh thì họ chẳng chứng minh được người ấy làm gì.”

“Nhưng mà chứng minh được,” ông trung sĩ nhấn mạnh ý kiến, “nếu mà cả họ cũng thông minh và có phương pháp của mình. Rồi thì anh sẽ thấy điều đó. Vâng, anh sẽ thấy,” ông dịu giọng nhắc lại, đồng thời nở nụ cười thân thiện, “ở đây chẳng ai quanh co nổi đâu, có phải không, hả anh hạ sĩ?”

Người hạ sĩ gật đầu đồng tình và nói rằng ở một số người thì mọi việc họ làm đã bị định trước là thua, rằng cả cái mặt nạ hoàn toàn bình thản cũng không giúp được gì, rằng người nào càng tỏ ra bình tĩnh bao nhiêu thì càng bị lộ ra bấy nhiêu.

“Anh nghĩ đúng hệt như tôi, hạ sĩ ạ,” ông trung sĩ tự hào nói, “sự bình thản là cái bong bóng xà phòng, sự bình thản giả tạo là tội chứng.” Ngừng giảng giải về lý thuyết của mình, ông quay sang hỏi người hạ sĩ: “Chiều nay chúng ta sẽ ăn cái gì?”

“Thế hôm nay ông không đi quán ư, thưa trung sĩ?”

Câu hỏi ấy đặt trước ông trung sĩ một vấn đề lớn cần giải quyết ngay.

Nếu hắn lợi dụng việc mình vắng mặt đêm nay mà bỏ trốn thì sao? Cho dù hạ sĩ là người thận trọng, tin cẩn được, nhưng mà cũng đã có lần để hai kẻ lang thang chạy trốn mất. Nói cho đúng thì lần ấy vào mùa đông, đường đầy tuyết và hạ sĩ không muốn kéo bọn chúng đến tận Písek, thế là khi đi tới cánh đồng ở gần Ražice, anh thả bọn chúng, rồi bắn lên trời một phát lấy lệ.

“Chúng ta bảo mụ già nhà này đi mua thức ăn chiều, rồi mụ sẽ mang bình đi mua bia,” ông trung sĩ giải quyết vấn đề lớn, “để mụ cũng chạy một tí cho khỏe chân.”

Và bà Pejzlerka, người giúp việc của họ, thật sự đã chạy cho khỏe chân.

Sau bữa chiều, bà lão đã chạy đi chạy lại không ngừng trên đoạn đường từ trạm hiến binh đến quán Con mèo đực. Số lượng bất thường những vết giày to nặng nề của bà trên tuyến đường nối hai nơi chứng tỏ rằng ông trung sĩ đã thay thế sự vắng mặt của mình ở quán Con mèo đực bằng một cách khác rất đầy đặn.

Cuối cùng, khi bà Pejzlerka lại hiện ra ở quán với câu nhắn là ông trung sĩ gửi lời chào và muốn quán gửi cho ông một chai kontušovka⦾, thì ông chủ quán không kìm nổi sự tò mò nữa.

“Họ có ai ở trạm ư?” bà lão trả lời, “Một kẻ khả nghi nào ấy mà. Vừa vặn lúc tôi đi thì cả hai đang ôm cổ hắn, ông trung sĩ xoa đầu hắn rồi bảo: Anh bạn người Slav yêu quý của tôi, cu tí gián điệp của tôi ơi!”

Sau đó vào lúc quá nửa đêm, anh hạ sĩ lăn ra ngủ. Còn nguyên cả bộ đồng phục trên người, anh nằm dang chân tay trên giường mình và say sưa ngáy.

Bên phía đối diện, ông trung sĩ ngồi với chút rượu kontušovka còn dính đáy chai, tay kia quàng cổ Švejk, nước mắt ông chảy dài trên đôi má rám nắng, râu dính bết rượu kontušovka, còn miệng thì lắp bắp: “Cậu nói đi, bảo tớ đi, ở Nga không có kontušovka ngon như thế này, hả, nói đi nào, để tớ yên tâm mà đi ngủ. Thú nhận đi, thú nhận như một quân tử đi.”

“Không có.”

Ông trung sĩ đổ sập người vào Švejk.

“Cậu làm tớ phấn khởi, cậu đã thú tội. Có thế chứ! Khi bị hỏi cung thì phải thế chứ! Nếu có tội thì chối làm gì.”

Cầm cái chai không còn một giọt, ông đứng dậy loạng choạng đi vào phòng mình, miệng lẩm bẩm: “Gi… giá hắn khô… không đi sa… sai đường, thì mọi việc đã khá… khác rồi.”

Trước khi vật mình xuống giường trong bộ đồng phục, ông còn kịp lôi bản báo cáo từ bàn ra và thử điền vào đó mấy chữ sau: “Tôi phải nói thêm là rượu kontušovka của Nga theo điều luật thứ 56…” Làm nhỏ một giọt mực xuống tờ giấy, ông thè lưỡi liếm sạch rồi mỉm cười một cách ngu ngơ, sau đó ông lăn ra giường ngủ say như chết.

Đến gần sáng, tiếng ngáy như sấm cùng tiếng thở như huýt sáo qua mũi của anh hạ sĩ từ giường cạnh tường đối diện làm Švejk thức giấc. Anh dậy, đến lay lay người anh ta rồi lại quay về chỗ nằm. Gà đã cất tiếng gáy, mặt trời đã lên khi bà Pejzlerka tới đốt lò sưởi. Sau một buổi tối chạy đi chạy lại, cả bà cũng ngủ thiếp cho tới tận sáng. Vào đến nơi, bà lão thấy cửa bỏ ngỏ và tất cả còn đang chìm trong giấc ngủ say, cái đèn dầu trong phòng vẫn còn leo lét bốc khói đen. Bà làm toáng lên, lôi anh hạ sĩ lẫn Švejk khỏi giường rồi bảo hạ sĩ: “Sao đi ngủ mà để nguyên đồng phục thế này, không thấy xấu hổ à, cứ như là đồ súc vật ấy!” Và bà mắng Švejk là ít ra phải cài cúc quần lại khi trông thấy phụ nữ.

Cuối cùng, bà dứt khoát sai người hạ sĩ còn đang ngái ngủ vào phòng đánh thức ông trung sĩ, rằng cứ ngủ khì khì muộn như thế này thì chẳng ra thể thống gì cả.

“Anh đã sa vào tay những người quả là tử tế,” bà lầu bầu nói với Švejk trong khi người hạ sĩ vào phòng đánh thức ông trung sĩ, “ai cũng be bét rượu chè chẳng biết giời đất là gì. Họ nợ tôi ba năm nay rồi, đã trả tôi tiền công giúp việc đâu. Bao giờ tôi nhắc thì ông trung sĩ cũng bảo: ‘Mụ im mồm đi, không thì tôi cho bắt mụ đấy. Chúng tôi biết là thằng con mụ đi săn trộm, cũng kiếm củi ở rừng của Công tước nữa.’ Thế là tôi khổ sở với họ đến năm thứ tư rồi đấy.” Bà lão thở rõ dài rồi lại tiếp tục lầu bầu: “Anh phải thật để ý ông trung sĩ. Bề ngoài thì ngọt ngào đường mật lắm, nhưng mà thực ra là người độc ác đểu giả thượng hạng, ai ông ấy cũng tra hỏi rất nham hiểm rồi bắt giam đấy.”

Phải khó khăn lắm mới đánh thức được trung sĩ dậy. Anh hạ sĩ đã rất vất vả nói cho ông biết là trời đã sáng rồi.

Cuối cùng thì ông cũng thức giấc, đưa tay dụi dụi mắt và bắt đầu mang máng nhớ lại ngày hôm qua. Một ý nghĩ kinh hoàng chợt đến và ông nghi hoặc nhìn viên hạ sĩ: “Hắn trốn mất rồi hay sao?”

“Không đâu, đấy là người trung thực.”

Anh hạ sĩ bắt đầu đi đi lại lại trong phòng, dừng lại nhìn ra ngoài cửa sổ, sau đó quay vào, xé một mẩu tờ báo ở trên bàn rồi vo viên nó bằng mấy ngón tay. Rõ ràng là anh có gì muốn nói.

Ông trung sĩ ngập ngừng nhìn anh ta. Cuối cùng, để khẳng định chắc chắn điều đang linh cảm, ông bảo: “Hạ sĩ ạ, tôi giúp anh khỏi ngại ngùng nhé. Hôm qua chắc tôi lại làm lắm chuyện lung tung hả?”

Viên hạ sĩ nhìn cấp trên của mình một cách trách móc: “Thưa trung sĩ, giá mà trung sĩ biết hôm qua đã bảo gì, đã nói những gì với anh ta.”

Anh nghiêng người nói thầm vào tai ông: “Trung sĩ đã bảo là tất cả người Séc và người Nga chúng ta đều thuộc dòng máu Slav, rằng tuần sau Nikolai Nikolaevich⦾ sẽ đến Přerov⦾, rằng nhà nước Áo sẽ không đứng vững được, rằng nếu tiếp tục bị điều tra thì anh ấy hãy cứ chối bay, rằng hãy cứ nói lẫn lộn lung tung mọi thứ để chờ được tới lúc quân Cozak đến giải phóng, rằng cái đó sẽ bùng nổ trong thời gian gần đây nhất, rằng nó sẽ giống như thời chiến tranh Hussite⦾, nông dân sẽ mang cây đập lúa⦾ đến tận Vienna, rằng Hoàng đế là lão già ốm yếu chẳng mấy nữa là ngoẻo, rằng Hoàng đế Vilém là đồ súc vật, rằng trung sĩ sẽ gửi tiền tiêu vặt vào nhà tù cho Hoàng đế Vilém, và còn nhiều thứ tương tự như thế nữa…”

Hạ sĩ lùi khỏi ông trung sĩ: “Những chuyện này tôi nhớ rất rõ, vì lúc đầu tôi còn uống ít. Nhưng sau đó tôi cũng rất say và chẳng nhớ gì nữa.”

Ông trung sĩ nhìn anh hạ sĩ: “Còn tôi thì lại nhớ,” ông tuyên bố, “anh đã bảo là so với Nga thì chúng ta yếu, rồi gào lên trước mặt mụ già là ‘Nga muôn năm!’”

Anh hạ sĩ bắt đầu bối rối đi lại trong căn phòng.

“Anh đã gào như bò rống,” trung sĩ nói, “rồi anh lăn ra giường và bắt đầu ngáy.”

Anh hạ sĩ dừng lại ở cửa sổ, gõ gõ tay vào cửa kính rồi nói: “Cả trung sĩ cũng chẳng giữ mồm giữ miệng trước mặt mụ già. Tôi nhớ trung sĩ đã bảo mụ là: ’Mụ hãy nhớ là hoàng đế nào, nhà vua nào cũng chỉ nghĩ đến cái túi của mình thôi, vì thế mà họ làm chiến tranh, chẳng hạn như lão già Procházka⦾ mà bây giờ người ta đã không thể để cho đi khỏi nhà vệ sinh, để lão khỏi ỉa ra khắp dinh thự Schönbrum⦾?”

“Tôi mà đã nói như thế ư?”

“Vâng ạ, thưa trung sĩ, ông đã nói như thế trước lúc ông đi mửa ngoài sân, lại còn gào lên bảo mụ già thọc ngón tay vào họng ông nữa.”

“Nhưng mà anh cũng đã phát biểu ý kiến rất hay,” ông trung sĩ ngắt lời anh hạ sĩ, “anh lấy ở đâu ra cái điều ngu ngốc là Nikolai Nikolaevich sẽ làm vua Bohemia?”

“Cái ấy thì tôi không nhớ,” anh hạ sĩ rụt rè nói.

“Ừ, tất nhiên nhớ làm sao được. Anh đã say mèm, mắt híp lại như mắt lợn, lúc muốn đi ra ngoài sân lẽ ra phải đi ra cửa thì anh leo lên bếp lò.”

Cả hai im lặng một hồi lâu cho đến lúc ông trung sĩ lên tiếng: “Tôi vẫn bảo anh rượu là thứ giết người. Anh có uống được nhiều đâu mà vẫn cứ uống! Thế ngộ nhỡ hắn trốn anh mất thì làm sao? Lúc ấy thì chúng ta giải thích lý do như thế nào, hả? Ối giời ơi, đầu tôi như búa bổ đây này. Này, tôi bảo nhé,” ông trung sĩ tiếp tục, “việc hắn không bỏ trốn chứng tỏ rõ ràng hắn là người nguy hiểm và tinh ranh. Khi trên huyện thẩm tra hắn thì hắn sẽ bảo là trạm để cửa mở cả đêm, rằng chúng ta đã say rượu, rằng nếu mà cảm thấy mình có tội thì hắn đã có thể chạy trốn khỏi đây đến hàng nghìn lần. Cũng may là chẳng ai tin những người như hắn, và nếu chúng ta dưới lời thề danh dự nghề nghiệp mà tuyên bố rằng đó là chuyện bịa đặt và là cái giả dối trắng trợn của hắn, thì có đến ông trời cũng chẳng cứu được hắn, mà hắn lại còn bị thêm một tội nữa. Tất nhiên là đối với những gì hắn đã có thì thêm thế cũng chẳng nghĩa lý gì. Ôi, giá mà tôi không đau đầu đến thế này!”

Im lặng. Một lúc sau, ông trung sĩ bảo: “Anh gọi mụ già đến đây!”

“Này mụ, nghe đây,” ông trung sĩ nghiêm khắc nhìn vào mặt bà lão và bảo,” mụ chạy đi đâu kiếm cây thánh giá để bàn rồi mang về đây.”

Thấy bà lão ngơ ngác nhìn, ông quát to: “Đi đi, rồi về đây ngay.”

Ông trung sĩ lôi từ ngăn kéo bàn hai cây nến có dính sáp đóng niêm phong các giấy tờ công vụ. Khi bà Pejzlerka chậm chạp mang cây thánh giá đến, ông đặt nó vào giữa hai cây nến ở rìa bàn, thắp nến và nghiêm trang bảo: “Mụ ngồi xuống đây!”

Cứng người vì hoảng sợ, bà Pejzlerka ngồi sụp xuống ghế bành và kinh hoàng hết nhìn ông trung sĩ lại nhìn hai cây nến và cây thánh giá. Bà lão sợ đến nỗi hai cánh tay đang đặt trên cái tạp dề và cả hai đầu gối bà đều run lên bần bật.

Ông trung sĩ nghiêm trang đi qua, rồi dừng lại trước mặt bà lão lần thứ hai và trịnh trọng bảo: “Tối hôm qua mụ đã được chứng kiến một sự kiện lớn. Có thể là cái đầu óc ngu muội của mụ không hiểu nổi được điều ấy. Người lính ấy là điệp viên, là gián điệp, mụ có biết không?”

“Ối Jesus Maria,” bà Pejzlerka kêu lên, “đi Đức Mẹ Đồng trinh Maria Skočice!⦾”

“Mụ im đi! Để buộc hắn khai, chúng tôi đã phải nói nhiều chuyện. Hôm qua mụ đã chẳng nghe thấy chúng tôi nói gì hay sao?”

“Thưa, tôi có nghe thấy ạ,” bà Pejzlerka run rẩy đáp.

“Nhưng mà mụ phải biết rằng chúng tôi nói những chuyện ấy chỉ là để buộc hắn khai, để hắn tin chúng tôi thôi. Và chúng tôi đã thành công. Chúng tôi đã tra hỏi hắn được mọi chuyện. Chúng tôi đã tóm gọn được hắn.”

Ông trung sĩ ngừng lại để sửa ngọn hai cây nến rồi lại nghiêm trang tiếp tục, đồng thời nghiêm khắc nhìn bà Pejzlerka: “Lúc ấy mụ đã ở đấy và mụ đã chứng kiến tất cả mọi bí mật. Bí mật này là bí mật công vụ, mụ hiểu không? Mụ không được nói về nó với bất kỳ ai. Kể cả lúc sắp chết ở trên giường cũng không được nói, nếu không thì người ta sẽ không được phép chôn mụ ở ngoài nghĩa địa đâu.”

“Ôi Jesus Maria Josef,” bà Pejzlerka ca thán, “vì sao mà lúc ấy con lại vào đây, thế có khổ thân con không chứ!”

“Mẹ đừng gào nữa! Đứng lên, đi đến cây thánh giá, giơ hai ngón tay phải lên. Mụ sẽ nhắc lại lời tôi để thề!”

Bà Pejzlerka loạng choạng đi đến bàn và liên tục ca thán: “Ối Đức Mẹ Đồng trinh Maria Skočice, sao mà lúc ấy con lại vào đây!”

Khuôn mặt đau khổ của Chúa Jesus từ cây thánh giá nhìn bà, các ngọn nến bốc khói và tất cả mọi thứ khác làm bà Pejzlerka có cảm giác về một thứ gì đó khủng khiếp siêu nhiên. Bà hoàn toàn mất tự chủ, đầu gối bà run run, hai tay bà lẩy bẩy.

Bà giơ cao hai ngón tay, ông trung sĩ hiến binh trịnh trọng và dứt khoát nói trước: “Xin thề với Đức Chúa Trời toàn năng và cả với ông, thưa trung sĩ, rằng cho đến lúc chết tôi sẽ không nói với ai một lời nào về những gì tôi đã nghe thấy và nhìn thấy ở đây, kể cả khi người ấy hỏi tôi. Xin Trời giúp tôi giữ lời thề.”

“Mụ hôn cây thánh giá đi,” ông trung sĩ ra lệnh, sau khi bà Pejzlerka vừa nức nở khóc vừa thề, rồi làm dấu thánh một cách kính cẩn.

“Được rồi, bây giờ cây thánh giá mượn của ai thì mụ đem trả đi. Nếu người ta hỏi thì bảo là tôi đã cần nó để hỏi cung, nghe chưa?”

Choáng váng cả người, bà Pejzlerka rón rén mang cây thánh giá ra khỏi phòng. Qua cửa sổ, có thể trông thấy bà từ ngoài đường liên tục ngoái đầu nhìn trạm hiến binh, như thể muốn khẳng định lại rằng đó không phải là giấc mơ, mà thực sự là bà vừa mới trải qua một cái gì rất khủng khiếp trong đời mình.

Trong khi đó, ông trung sĩ viết lại bản báo cáo mà ban đêm ông làm mực nhỏ vào và liếm đi, liếm mất cả chữ ký nữa, cứ như là trên tờ giấy có mứt hoa quả hay sao.

Bây giờ ông viết lại hoàn toàn bản báo cáo và chợt nhớ ra là đã không hỏi một việc. Thế là ông cho gọi Švejk vào phòng và hỏi: “Anh có biết chụp ảnh không?”

“Có.”

“Thế sao anh không mang máy ảnh theo người?”

“Tại vì tôi không có,” Švejk trả lời thẳng thắn và rõ ràng.

“Nếu mà có thì anh có chụp ảnh không?” ông trung sĩ hỏi.

“Nếu mà, biết thế nào là nếu mà…” Švejk trả lời đơn giản và bình thản nhìn vẻ nghi ngờ trên khuôn mặt ông trung sĩ, người lại thấy đau đầu khi không nghĩ ra được câu hỏi nào khác ngoài câu này:“Chụp ảnh nhà ga có khó không?”

“Không có gì dễ hơn,” Švejk trả lời, “tại vì nó không động đậy, chỉ đứng nguyên một chỗ, ta không phải bảo nó tỏ ra dễ chịu.”

Thế là ông trung sĩ có thể bổ sung báo cáo của mình: “Tôi xin báo thêm cho thông báo số 2172…”

Rồi ông viết: “Qua thẩm vấn chéo của tôi, ngoài những thông tin khác thì anh ta có khai là biết chụp ảnh, và thích chụp nhà ga nhất. Tuy không tìm thấy máy ảnh ở người anh ta, nhưng có giả thiết là anh ta giấu máy ảnh ở đâu đó, vì vậy mà không mang theo người để tránh sự chú ý. Lời tự thú là anh ta sẽ chụp, giá mà có máy ảnh theo người đã chứng minh điều đó.”

Đầu vẫn còn nặng trịch vì buổi tối hôm trước, ông trung sĩ cứ lấn bấn mãi với việc đưa chuyện chụp ảnh vào bản báo cáo của mình, và ông viết tiếp: “Điều chắc chắn là, theo lời tự thú của anh ta, thì việc anh ta không có máy ảnh mang theo người là điều duy nhất cản trở việc anh ta chụp ảnh các nhà ga và các địa điểm chiến lược quan trọng, và điều không thể tranh cãi được là dứt khoát anh ta chụp, nếu mà anh ta có mang theo người cái máy ảnh mà anh ta đã giấu đi. Chỉ vì lý do duy nhất ấy, là anh ta không có máy ảnh mang theo người, mà không tìm ra được một tấm ảnh nào anh ta có mang theo người.”

“Thôi, thế là đủ rồi,” trung sĩ nói và ký tên.

Hoàn toàn hài lòng với công trình của mình và rất đỗi tự hào, ông đọc bản báo cáo cho người hạ sĩ nghe.

“Thế là hoàn hảo rồi,” ông nói với hạ sĩ, “anh thấy đấy, báo cáo phải viết như thế. Ở đây phải có đủ mọi thứ. Ôi chao, thẩm tra đâu phải là cái gì đơn giản, cái chủ yếu là phải sắp đặt khéo léo vào bản báo cáo, để cho cấp trên đọc mà trố mắt ra. Anh dẫn người của chúng ta vào đây để ta chấm dứt với anh ta.”

“Thế bây giờ thì anh hạ sĩ sẽ dẫn anh đi,” ông trung sĩ nghiêm trang nói với Švejk, “đến Sở Hiến binh huyện Písek. Theo quy định thì phải còng tay anh, nhưng mà vì tôi nghĩ rằng anh là người tử tế nên chúng tôi sẽ không còng tay anh. Tôi tin tưởng là trên đường đi anh cũng không có ý định chạy trốn.”

Chắc hẳn rung động vì nhìn thấy khuôn mặt đôn hậu của Švejk, ông nói thêm: “Anh đừng nghĩ xấu về tôi. Hạ sĩ ạ, anh đưa anh ấy đi đi. Còn đây là bản báo cáo.”

“Thôi xin tạm biệt ông,” Švejk nhẹ nhàng nói, “cảm ơn ông đã làm mọi việc cho tôi, thưa trung sĩ. Nếu có dịp thì tôi sẽ viết thư cho ông và khi nào có việc đi qua đây thì tôi sẽ ghé thăm ông.”

Švejk cùng người hạ sĩ đi ra đường và bất cứ ai trông thấy họ vui vẻ chuyện trò với nhau cũng cho rằng họ là hai người bạn tình cờ gặp nhau trên đường ra phố, hay trên đường đến nhà thờ.

“Thật là không bao giờ tôi nghĩ,” Švejk nói, “rằng đường đến Budějovice lại có những khó khăn như thế này. Tôi thấy nó giống trường hợp của anh hàng thịt tên là Charou người ở Kobylisy. Có một đêm, anh này đi đến Moráň gần tượng Palacký⦾, rồi cứ đi vòng quanh cho đến sáng, bởi vì anh ta có cảm giác là bức tường ấy dài vô tận. Anh ta thấy rất bất lực, đến gần sáng thì không đi được nữa, bèn gào to: ‘Tuần tra ơi!’ Khi cảnh sát chạy tới, anh ta hỏi đường đến Kobylisy, rằng đã đi mất năm tiếng đồng hồ dọc theo một bức tường nhưng mà chẳng đi được đến cuối đường. Thế là cảnh sát lôi anh ta đi theo, rồi anh ta đập phá tất cả mọi thứ phòng tạm giam.”

Người hạ sĩ chẳng nói một lời nào và nghĩ thầm: “Kể lể cái gì vậy. Cậu lại bắt đầu kể chuyện cổ tích về Budějovice.”

Hai người đi qua một hồ cá và Švejk tỏ vẻ quan tâm hỏi người hạ sĩ ở vùng này có nhiều người bắt trộm cá không.

“Ở đây có đầy kẻ bắt trộm cá,” anh hạ sĩ trả lời, “ông trung sĩ tiền nhiệm đã suýt bị chúng quẳng xuống hồ. Những người coi hồ cá đã bắn lông lợn tẩm muối vào mông chúng, nhưng chẳng làm gì được, tại vì chúng đã đeo mảnh tôn ở trong quần.”

Anh hạ sĩ nói về sự tiến bộ, về việc loài người nghĩ ra được đủ mọi thứ, về chuyện người ta lừa gạt nhau, rồi trình bày một lý thuyết mới, rằng cuộc chiến tranh này là điều may mắn lớn cho loài người, bởi lẽ ở tất cả mọi nơi, cùng với những người tốt thì cả những quân lưu manh vô lại và những đồ khốn kiếp cũng sẽ bị bắn chết.

“Chẳng gì thì trên đời này cũng có rất nhiều người,” anh nghiêm giọng, “người nọ đè bẹp người kia và loài người sinh sôi nảy nở khiếp quá.”

Họ đi đến gần một quán ăn bên đường.

“Ối giời, hôm nay gió quá,” anh hạ sĩ nói, “tôi nghĩ làm một chén rượu cũng chẳng hại gì. Anh đừng nói với ai là tôi đưa anh đến Písek. Đó là bí mật quốc gia đấy.”

Chỉ thị của các cơ quan cấp trên về những người khả nghi đáng chú ý và về nghĩa vụ của từng trạm hiến binh nhảy nhót trước mắt anh hạ sĩ: “Phải loại trừ tiếp xúc với dân chúng địa phương, tuyệt đối chú ý để trên đường giải kẻ khả nghi tới các cơ quan khác không xảy ra những cuộc nói chuyện không cần thiết với những người xung quanh.”

“Không được phép để lộ ra anh là ai,” hạ sĩ nhắc lại, “không ai phải quan tâm đến chuyện anh đã làm những gì. Không được phép gây hoảng loạn.”

“Hoang mang hoảng loạn trong thời chiến là việc xấu,” anh hạ sĩ tiếp tục, “chỉ nói một cái gì thôi là nó đã lan đi khắp vùng như núi lở. Anh hiểu không?”

“Vậy thì tôi sẽ không loan truyền sự hoảng loạn,” Švejk nói và xử sự theo đúng như thế, bởi vì khi ông chủ quán nói chuyện với họ, Švejk đã nhấn mạnh: “Anh tôi đây bảo là lúc một giờ chúng tôi sẽ tới Písek.”

“Thế em trai anh được về nghỉ phép a?” ông chủ quán tò mò hỏi anh hạ sĩ và anh này trả lời, cứ thản nhiên như không: “Vâng, hôm nay chú ấy hết phép ạ..”

“Chúng mình lừa được ông ấy nhỉ,” anh hạ sĩ cười và bảo Švejk, khi ông chủ quán bỏ đi chỗ khác, “không được gây hoảng loạn. Bây giờ đang là thời chiến.”

Nếu trước khi vào quán, anh hạ sĩ tuyên bố rằng một chén chẳng hại gì, thì quả thật anh đã rất lạc quan, bởi vì anh đã quên không nói đến khối lượng. Và khi uống cạn cốc thứ mười hai, anh tuyên bố rất dứt khoát, rằng ông chỉ huy Sở Hiến binh huyện bây giờ đang ăn trưa, và đi đến đó trước giờ ấy thì chỉ bằng thừa, hơn nữa, lại đang bắt đầu có bão tuyết. Nếu muốn có mặt ở Písek vào lúc bốn giờ thì vẫn còn khối thời gian, nếu muốn ở đấy vào lúc sáu giờ chiều thì còn rất nhiều thời gian. Chỉ có điều cứ theo thời tiết hôm nay thì trời sẽ tối lúc họ lại lên đường. Mà nghĩ cho cùng, đi bây giờ, hay đi muộn hơn thì cũng vậy thôi. Písek có chạy đi đâu được mà lo.

“Chúng mình phải thấy sung sướng là được ngồi ở chỗ ấm,” anh hạ sĩ tuyên bố, “chứ thời tiết như thế này thì lính ở ngoài chiến hào khổ hơn chúng mình đang ngồi gần lò sưởi.”

Cái lò sưởi to xây bằng gạch tráng men tỏa nhiệt ra xung quanh và anh hạ sĩ phát hiện ra rằng cái ấm áp bên ngoài phải được bổ sung thích hợp bằng cái nóng ấm bên trong, thông qua đủ thứ rượu ngọt và mạnh khác nhau, như ở Galicia người ta vẫn thường nói.

Ông chủ cái quán nơi hiu quạnh này có tám loại rượu. Ông đang thấy chán nên rót rượu ra uống trong tiếng gió rít ở từng góc nhà.

Anh hạ sĩ liên tục bảo ông chủ quán uống cho kịp bước với anh và buộc tội ông là uống ít. Nhưng rõ ràng ông chủ quán bị oan, bởi vì ông ấy đang khó khăn lắm mới đứng vững được, ông nằng nặc muốn chơi bài lá ferbl và khẳng định rằng đêm qua đã nghe thấy tiếng đại bác bắn ở phía đông, còn anh hạ sĩ thì vừa nấc vừa bảo: “Đừng gơ-gây hoảng loạn. Đa-đã có chỉ thị.”

Rồi hạ sĩ bắt đầu giải thích, rằng chỉ thị là tập hợp của những lệnh gần đây nhất, đồng thời làm lộ một số báo cáo mật. Ông chủ quán chẳng hiểu gì cả, chỉ tuyên bố là bằng các chỉ thị thôi thì chẳng thể thắng chiến tranh được.

Trời đã xâm xẩm tối, khi anh hạ sĩ quyết định là đã đến lúc phải cùng với Švejk lên đường đi Písek. Trong cơn bão tuyết chẳng nhìn thấy gì trước mặt, hạ sĩ liên tục bảo: “Cứ thẳng phía trước mà đi là đến Písek!”

Nhưng khi nhắc lại đến lần thứ ba thì tiếng nói của anh không vang lên từ trên đường, mà từ một chỗ nào đó ở bên dưới. Anh đã trượt chân ngã xuống dưới vệ đường đầy tuyết. Dùng khẩu súng để chống, anh leo được lên mặt đường. Švejk nghe thấy tiếng hạ sĩ khùng khục cười: “Cầu trượt.” Một lúc sau lại chẳng nghe thấy tiếng của hạ sĩ, vì anh ta lại trượt xuống vệ đường, anh hét đến át cả tiếng gió rít: “Ối tôi ngã, hoảng loạn!”

Anh hạ sĩ biến thành con kiến chăm chỉ, cứ rơi xuống đâu thì lại gắng sức leo lên từ đấy. Anh đã có năm chuyến du lịch rơi xuống leo lên như thế, và khi lại đứng bên Švejk, hạ sĩ bất lực và tuyệt vọng nói với anh: “Tôi có thể mất anh rất dễ dàng.”

“Hạ sĩ ạ, đừng lo!” Švejk nói, “Tốt nhất là chúng ta buộc tay lại với nhau, thế thì không thể lạc nhau được. Anh có cái còng tay theo người không?”

“Người hiến binh nào cũng phải luôn luôn mang còng tay theo người,” chân nam đá chân chiêu xung quanh Švejk, hạ sĩ nhấn mạnh, “đấy là cái tối quan trọng thường ngày của chúng tôi.”

“Thế thì chúng ta còng tay lại với nhau,” Švejk bảo, “anh thử đi.”

Bằng động tác rất lành nghề, người hạ sĩ còng tay Švejk và còng luôn cả vào cổ tay phải của mình, bây giờ cả hai nối với nhau như hai anh em sinh đôi. Không tách được khỏi nhau, họ loạng choạng cùng đi trên đường. Người hạ sĩ lôi Švejk qua những đống đá và khi ngã thì kéo Švejk ngã theo. Cái còng xiết chặt vào cổ tay hai người, cuối cùng hạ sĩ tuyên bố là thế này mãi thì không được và phải tháo nó ra. Sau cuộc vật lộn lâu dài vất vả, hạ sĩ tháo được cái còng khỏi tay mình và tay Švejk rồi thở phào: “Chúng ta sẽ gắn bó với nhau đời đời.”

“Amen,” Švejk nói thêm, rồi cả hai lại tiếp tục đi trên con đường đầy gian nan vất vả.

Người hạ sĩ rơi vào trạng thái vô cùng tuyệt vọng u buồn. Sau quãng đường đi rất cực nhọc, mãi đến tối đêm họ mới tới Sở Hiến binh huyện Písek. Ở cầu thang, người hạ sĩ mệt lả bảo Švejk: “Bây giờ sẽ có chuyện rất ghê. Chúng mình sẽ lại phải còng tay với nhau.”

Và quả thật chuyện rất ghê đã xảy ra, khi ông trung sĩ cho người đi gọi chỉ huy Sở, ông đại úy König.

Lời đầu tiên của đại úy là: “Thở vào tôi đây!”

“Bây giờ thì tôi hiểu rồi,” đại úy nói. Nhờ cái mũi rất thính có nhiều kinh nghiệm, ông biết ngay sự thể: “Rum, Kontušovka, Čert, Jeřábinka, Ořechovka, Višňovka, Vanilka⦾. Này trung sĩ,” đại úy quay sang nói với người cấp dưới, “đây là thí dụ điển hình về những gì hiến binh không được phép làm. Hành động như thế này là vi phạm kỷ luật, sẽ phải đưa ra xét xử ở tòa án quân sự. Còng tay vào với kẻ phạm tội, đến Sở Hiến binh trong trạng thái say rượu, mà say bí tỉ, vào đây như đồ con vật. Anh tháo còng ra cho họ.”

“Còn cái gì nữa thế?” đại úy quay lại nhìn anh hạ sĩ đang giơ tay chào.

“Báo cáo đại úy, tôi mang bản báo cáo ạ.”

“Ừ, còn báo cáo về anh thì sẽ cho mang đến tòa án,” đại úy nói ngắn gọn, “trung sĩ hãy giam họ lại, sáng mai giải đi thẩm tra. Còn bản báo cáo từ Putim thì anh hãy đọc rồi ngày mai mang đến nhà cho tôi.”

Ông đại úy ở Písek là một công chức rất nghiêm khắc, rất triệt để trong việc theo dõi cấp dưới và là người xuất sắc trong các thủ tục hành chính quan liêu.

Tất cả các trạm hiến binh thuộc huyện ông phụ trách đều không bao giờ có thể nói là cơn bão cuồng giận đã qua đi, mà biết là nó bao giờ cũng quay trở lại bằng từng bản tin có chữ ký của chính ông. Suốt ngày, ông ngồi viết đủ các công văn khiển trách, nhắc nhở và đe dọa cho cả huyện.

Kể từ ngày chiến tranh bùng nổ, trên đầu các trạm hiến binh của huyện Písek luôn lửng lơ những đám mây u ám nặng nề.

Đó là một tâm trạng thực sự kinh hoàng. Sấm sét quan liêu chủ nghĩa gầm gào bổ xuống đầu các trung sĩ, các hạ sĩ, các hiến binh và những người giúp việc. Bất kỳ một chuyện nhỏ mọn nào cũng bị đưa ra điều tra kỷ luật.

“Nếu chúng ta muốn chiến thắng,” đại úy thường nói trong các chuyến đi thanh tra ở các trạm hiến binh, “thì a phải là a, còn b phải là b và bao giờ cũng phải có dấu chấm bên trên chữ i.”

Ông luôn có cảm giác bị sự phản bội vây quanh, ông tự tạo ra cho mình ấn tượng rõ ràng, rằng bất kỳ một người hiến binh nào trong huyện cũng có một tội lỗi nào đó bắt nguồn từ hậu quả của chiến tranh, rằng trong những lúc hệ trọng này, bất kỳ ai cũng đã có lần bị nhắc nhở vì những sai sót trong khi thi hành phận sự của mình.

Từ trên, người ta trút bom xuống đầu ông bằng hàng loạt các thông tin mà trong đó Bộ Quốc phòng khẳng định rằng theo các tin tức của Bộ Chiến tranh thì ở huyện Písek có lính bỏ ngũ chạy sang bên địch.

Và người ta thúc giục ông điều tra về lòng trung thành ở huyện. Đó là cái đáng sợ. Những người phụ nữ của huyện đi tiễn chồng ra trận và ông biết rằng những người chồng ấy hứa với vợ mình là sẽ không để bị giết chết vì Hoàng đế.

Chân trời đen vàng bắt đầu bị những đám mây cách mạng che phủ. Ở Serbia và ở Karpat, có tới cả tiểu đoàn bỏ chạy sang bên địch, đó là các tiểu đoàn 28, tiểu đoàn 11. Lính của vùng Písek và thị trấn Písek đều thuộc tiểu đoàn 11. Từ Vodňan, các tân binh đeo các bông hoa cẩm chướng bằng vải phin đen, đã đến trong không khí ngột ngạt trước cuộc nổi dậy. Những người lính từ Praha đi qua ga Písek đã ném lại thuốc lá và chocolate mà các quý bà hoạt động xã hội ở Písek đã đưa cho họ vào các toa tàu trước đây dùng để chở lợn. Rồi một tiểu đoàn hành quân cũng đi qua và một số người Do Thái ở Písek gào lên bằng tiếng Đức: “Hoàng đế vinh quang, đả đảo người Serbia!” Họ bị ăn tát đã đời, đến cả một tuần sau cũng không ra phố được.

Trong lúc những sự kiện này chứng tỏ rõ ràng là việc đàn đại phong cầm ở các nhà thờ chơi bài Chúa phù hộ Hoàng đế⦾ chỉ là lớp sơn son thiếp vàng mỏng manh và sự giả tạo nói chung, thì từ các trạm hiến binh người ta gửi đến những câu trả lời theo kiểu trạm hiến binh ở Putim, rằng tất cả mọi việc đều hoàn toàn ổn, tư tưởng của dân chúng ở mức Ia, vào hào hứng tinh thần thì ở mức Ia đến Ib.

“Các anh không phải là hiến binh, mà là cảnh sát làng,” đại úy thường nói như vậy trong các chuyến đi thanh tra. “Đáng lẽ phải nâng cao chú ý đến một nghìn phần trăm thì các anh dần dần trở thành đồ súc vật.”

Sau phát hiện mang tính chất động vật hóa ấy, ông nói thêm: “Các anh nằm vật vạ ở nhà rồi nghĩ là,” ông chuyển sang tiếng Đức, “hãy mang cả cuộc chiến tranh ấy đến mà liếm đít chúng tôi.”

Tiếp theo đó, bao giờ ông cũng kể ra hàng loạt các nghĩa vụ của những người hiến binh bất hạnh, cũng thuyết trình về toàn bộ tình hình và về việc cần thiết phải nắm trong tay tất cả, để cho mọi việc thực sự ở trạng thái đúng như trạng thái chúng phải có. Tiếp theo diễn thuyết về bức tranh rạng ngời của sự hoàn hảo của hiến binh nhằm hướng tới tăng cường sức mạnh cho nhà nước quân chủ Áo, lại có sự đe dọa, điều tra kỷ luật, thuyên chuyển và chửi rủa.

Đại úy tin tưởng chắc chắn rằng ông đứng ở vị trí tiền đồn, rằng ông bảo vệ một cái gì đó, và tất cả hiến binh của các trạm hiến binh dưới quyền ông đều là một lũ lười biếng chỉ biết nghĩ đến mình, là bọn luồn cúi và quân lừa đảo không có hiểu biết về bất cứ cái gì khác ngoài bia rượu. Và bởi vì được đồng lương thấp nên để có thể rượu chè say sưa, bọn chúng ăn hối lộ và dần dần, nhưng chắc chắn, làm đổ vỡ nhà nước Áo. Người duy nhất mà ông tin tưởng là viên trung sĩ của ông ở Sở Hiến binh Písek, nhưng mà người trung sĩ ấy thì bao giờ cũng nói ở quán ăn là: “Thế là hôm nay tôi lại được mẻ cười vì lão già thô lỗ của chúng tôi.”

Ông đại úy đọc bản báo cáo của trung sĩ hiến binh ở Putim về Švejk. Đứng trước ông là trung sĩ Matějka. Anh này thì lại đang nghĩ đại úy cút đi đâu thì cút với tất cả những bản báo cáo, bởi lẽ người ta đang chờ anh đến chơi šnopsa⦾ ở bờ sông Otava⦾.

“Trước đây tôi cũng đã bảo anh rồi,” đại úy lên tiếng, “kẻ ngu nhất mà tôi biết là trung sĩ hiến binh ở Protivín, nhưng mà cứ theo bản báo cáo này thì tay trung sĩ ở Putim còn ngu hơn hẳn. Người lính mà thằng hạ sĩ say rượu ngu ngốc dẫn về đây, lại còn còng tay với hắn như hai con chó, chẳng phải là điệp viên nào cả, mà chắc chắn là kẻ đào ngũ. Nhưng ở đây, tay trung sĩ viết những cái dở hơi vô nghĩa đến mức đứa trẻ con nào cũng lập tức nhận thấy là hắn đã say bí tỉ.” Đại úy đọc bản báo cáo một lúc nữa rồi ra lệnh: “Anh dẫn người lính ấy vào đây ngay cho tôi. Trong đời mình, chưa bao giờ tôi trông thấy ở đâu nhiều điều ngu xuẩn như thế này, hơn nữa hắn lại để thằng hạ sĩ ngu ngốc của hắn đưa người khả nghi ấy đến đây. Những người như hắn vẫn còn biết về tôi rất ít, tôi có thể là người độc ác. Chừng nào mà còn chưa sợ tôi đến vãi ra quần mỗi ngày ba lần thì bọn chúng vẫn còn tưởng muốn làm gì tôi thì làm.”

Đại úy nói về việc ngày nay hiến binh có thái độ chống đối tất cả các mệnh lệnh và cứ theo cách viết báo cáo thì thấy ngay là những trung sĩ hiến binh như thế coi mọi việc là trò đùa, chỉ cốt sao để viết cho nhiều hơn.

Khi cấp trên cảnh báo là không thể loại trừ khả năng có điệp viên lảng vảng ở mọi nơi thì các trung sĩ hiến binh bắt đầu bịa ra nhiều điệp viên, và nếu chiến tranh sẽ còn kéo dài một thời gian nào đó nữa thì việc ấy sẽ trở thành vấn đề rối loạn. Ông ra lệnh cho trung sĩ Matějka đánh điện đến Putim yêu cầu ông trung sĩ của Putim hôm sau phải lên Písek. Đại úy sẽ tẩy khỏi óc hắn cái gọi là sự kiện lớn lao mà hắn đã viết ở đầu bản báo cáo.

“Anh đã trốn khỏi trung đoàn nào?” đại úy hỏi Švejk.

“Tôi chẳng trốn từ trung đoàn nào cả.”

Đại úy nhìn Švejk và trông thấy trên gương mặt anh cái vẻ bình thản chẳng chút lo lắng đến mức ông phải hỏi: “Anh lấy ở đâu ra bộ quân phục này?”

“Bất kỳ tân binh nào cũng được phát quân phục ạ.” Švejk mỉm cười trả lời. “Tôi phục vụ ở trung đoàn 91, tôi không trốn khỏi trung đoàn của mình, mà ngược lại.”

Hai từ ngược lại được nói bằng giọng khiến ông đại úy tỏ vẻ băn khoăn khó hiểu: “Ngược lại là thế nào?”

“Đây là việc quá đơn giản ạ,” Švejk tâm sự, “tôi đi đến trung đoàn của mình, tôi đi tìm trung đoàn, chứ không trốn khỏi nó. Tôi cũng đang rất nóng lòng và không có mong muốn gì hơn là làm sao đến trung đoàn của mình được sớm nhất ạ. Chắc tôi đang đi khỏi Budějovice nên khi nghĩ đến việc là cả trung đoàn đang chờ tôi ở đấy thì tôi rất sốt ruột. Ông trung sĩ hiến binh ở Putim đã chỉ cho tôi trên bản đồ, rằng Budějovice nằm ở phía nam, ấy thế mà đáng lẽ dẫn tôi xuống đấy thì ông ấy lại đưa tôi ngược lên phía bắc ạ.”

Ông đại úy phẩy tay, như thể muốn nói “Hắn còn làm nhiều việc xấu xa hơn chuyện đưa người nào ngược lên phía bắc.”

“Vậy là anh không thể tìm thấy trung đoàn của mình,” ông nói, “thế anh đã đi tìm nó ư?”

Švejk giải thích trọn vẹn tình hình cho đại úy. Anh kể tên Tábor và tất cả những nơi anh đã đi qua để tới Budějovice: Milevsko – Květov – Vráž – Malčín – Čížová – Sedlec – Horažďovice – Radomyšl – Putim – Štěkno – Strakonice – Volyň – Dub – Vodňany – Protivín – rồi lại Putim.

Vô cùng hào hứng, Švejk kể về cuộc chiến của mình với vận mệnh, khi anh đã hết sức cố gắng không quản trở ngại để đi đến trung đoàn của mình, nhưng mà mọi nỗ lực của anh đều đã vô hiệu như thế nào.

Anh sôi nổi nói và ông đại úy thì như không nghĩ ngợi gì cả, ông vẽ bằng bút chì một vòng tròn trên giấy, khoanh vùng tử địa mà người lính tốt Švejk không sao ra khỏi được khi anh đi đến trung đoàn của mình.

“Việc đó quả là kỳ công của Heracles,” đại úy nói, sau khi thích thú nghe Švejk kể về việc anh lấy làm tiếc như thế nào khi phải đi lâu như thế mà vẫn chưa đến được trung đoàn của mình, “chắc hẳn là việc anh lượn vòng quanh Putim phải là hình ảnh tuyệt vời.”

“Đáng lẽ thì cũng xong việc ngay từ lúc ấy rồi,” Švejk nhận định, “giá mà không gặp phải ông trung sĩ hiến binh ở cái chỗ bất hạnh ấy. Ông ấy chẳng hề hỏi tôi tên là gì, cũng chẳng hỏi gì về trung đoàn, mà chỉ thấy việc ấy là đáng nghi. Đáng lẽ ông ấy phải cho dẫn tôi đến Budějovice, chắc chắn ở doanh trại người ta cũng sẽ bảo tôi có phải là Švejk đang tìm trung đoàn của mình hay không, hay tôi là một kẻ khả nghi nào đó. Và hôm nay thì đã là ngày thứ hai tôi có thể thi hành nghĩa vụ của mình ở trung đoàn rồi.”

“Thế tại sao ở Putim anh không bảo ông ấy rằng đây là sự nhầm lẫn?”

“Tại vì tôi thấy nói với ông ấy cũng bằng thừa. Ông Rampa chủ quán ở Vinohrady cũng thường bảo như vậy, khi mà có ai muốn nợ tiền của ông, rằng có lúc con người ta trở nên điếc đặc chẳng nghe thấy gì.”

Đại úy đã không suy nghĩ lâu, ông chỉ tự nhủ là con đường đi vòng vèo như thế của kẻ muốn đến trung đoàn của mình là bằng chứng về sự thoái hóa tột cùng của con người. Ở văn phòng, ông cho đánh máy một bức thư theo đúng quy tắc và phong cách hoa mỹ của một bức công văn:

Kính gửi Ban chỉ huy trung đoàn bộ binh 91 České Budějovice

Theo đây xin gửi Josef Švejk, tự khẳng định là lính bộ binh, bị bắt ở Putim thuộc huyện Písek, trên cơ sở lời khai thì bị trạm hiến binh nghi ngờ là đào ngũ. Người này cũng nói là đi về trung đoàn kể trên của mình. Người này có vóc dáng nhỏ và béo, nét mặt hài hòa, mắt xanh, không có dấu hiệu gì đặc biệt. Phụ lục B1 là hóa đơn về tiền ăn uống của người kể trên và kính xin trung đoàn gửi tiền thanh toán về tài khoản của Bộ Quốc phòng, cùng với chứng nhận đã nhận được hóa đơn. Phụ lục C1 là danh sách các trang bị được phát mà người đó có mang theo người. Xin được chứng nhận danh sách ấy.

Sau đó, chuyến đi bằng tàu hỏa đến Budějovice của Švejk trôi qua một cách nhanh chóng. Người đi cùng với anh là một hiến binh mới và còn trẻ. Anh hiến binh trẻ không rời mắt khỏi Švejk và rất sợ là Švejk sẽ trốn mất. Suốt đường đi, một vấn đề nan giải làm anh ấy trăn trở là: “Bây giờ mà phải đi tiểu tiện, hoặc đại tiện, thì mình sẽ làm thế nào?

Anh giải quyết việc đó bằng cách là Švejk phải đi theo anh.

Dọc đường từ nhà ga Budějovice đến doanh trại Marián, anh hiến binh chăm chắm nhìn Švejk và cứ đi đến một góc đường hay ngã tư nào anh cũng kể cho Švejk biết hiến binh được phát bao nhiêu viên đạn khi giải một người nào đi. Còn Švejk thì trả lời là anh tin chắc rằng không một người hiến binh nào lại nổ súng bắn ai ở ngoài đường để khỏi làm xảy ra điều bất hạnh.

Anh hiến binh tranh cãi với Švejk và cả hai cùng đi tới doanh trại.

Hôm đó là ngày thứ hai trung úy Lukáš có nhiệm vụ thường trực ở doanh trại. Không mảy may biết cái gì sẽ tới, ông ngồi sau bàn làm việc ở văn phòng, khi người ta dẫn Švejk kèm theo giấy tờ vào văn phòng.

“Báo cáo trung úy, tôi lại có mặt ạ,” Švejk giơ tay chào, nét mặt rạng rỡ trang trọng.

Người chứng kiến cảnh ấy là chuẩn úy Koťátko. Sau này, anh ấy kể là khi Švejk trình diện xong, trung úy Lukáš đứng phắt dậy, hai tay ôm đầu rồi ngã ngửa vào chuẩn úy, và khi người ta làm cho trung úy tỉnh lại thì Švejk, trong suốt thời gian đó kính cẩn theo dõi, lại chào: “Báo cáo trung úy, tôi lại có mặt ạ.” Mặt trắng nhợt, trung úy Lukáš run rẩy cầm bút ký tên vào những tờ giấy có liên quan đến Švejk rồi yêu cầu tất cả mọi người ra khỏi phòng, ông nói với người hiến binh rằng như vậy là ổn, rồi đóng cửa lại, chỉ mình ông còn lại trong phòng cùng với Švejk.

Thế là kết thúc cuộc tiến quân của Švejk về České Budějovice. Có một điều chắc chắn là giá mà Švejk được tự do đi lại, thì thế nào anh cũng tự đến được České Budějovice. Nếu mà các quan chức có tự khen là chính họ mới là người đã đưa Švejk đến địa điểm phục vụ quân đội của anh, thì điều đó đơn giản chỉ là chuyện nhầm lẫn. Trước sinh lực và lòng khao khát chiến đấu của Švejk thì sự can thiệp của họ chỉ làm quẩn chân anh mà thôi.

Švejk và trung úy Lukáš nhìn vào mắt nhau.

Mắt trung úy sáng lên một điều gì thật khủng khiếp, đe dọa và tuyệt vọng, còn Švejk thì nhìn trung úy với ánh mắt dịu dàng, đầy trìu mến, giống như đang nhìn một cô tình nhân bị thất lạc bây giờ lại tìm thấy.

Trong văn phòng là cái im lặng như tờ. Bên ngoài hành lang có tiếng chân người nào đó qua lại. Đó là những bước chân của người lính tình nguyện một năm có ý thức, nghe giọng nói biết là bị sổ mũi, đang học thuộc lòng những gì các pháo đài phải làm khi đón tiếp người của triều đình. Có thể nghe thấy rõ câu đó bằng tiếng Đức: “Khi quý khách đi đến gần pháo đài thì phải bắn đại bác từ tất cả mọi vị trí phòng thủ, sĩ quan chỉ huy pháo đài phải cưỡi ngựa, tay cầm kiếm để ra đón.”

“Câm mồm đi!” trung úy gào ra ngoài hành lang, “Cút đi, đổ quỷ tha ma bắt kia. Nếu bị sốt sổ mũi thì anh phải nằm ở nhà chứ!”

Tiếng chân người lính tình nguyện xa dần, từ đầu hành lang còn vọng về tiếng nói khìn khịt: “Khi chỉ huy pháo đài chào xong thì lại bắn đại bác, và bắn lần thứ ba, khi khách quý xuống ngựa.”

Cả hai lại tiếp tục im lặng nhìn nhau, cho đến lúc trung úy lên tiếng vô cùng châm biếm nói: “Xin nhiệt liệt chào mừng anh đến České Budějovice, thưa anh Švejk. Người ta bảo ai bị treo cổ thì người ấy không bị chết đuối. Đã có lệnh truy bắt anh, ngày mai anh sẽ đi trình diện trung đoàn trưởng. Tôi sẽ không giận anh để làm gì nữa. Tôi đã khổ vì anh rất nhiều rồi, nhưng lòng kiên nhẫn của tôi cũng chỉ có giới hạn thôi. Ngẫm lại thấy không hiểu sao mà tôi đã có thể sống được lâu đến thế với một thằng ngu xuẩn như anh…”

Trung úy bắt đầu đi đi lại lại trong phòng: “Không được! Thế thì có khổ tôi không. Bây giờ tôi thấy lạ là tại sao tôi đã không bắn chết anh đi. Nếu bắn anh thì cái gì có thể xảy ra với tôi được? Chẳng cái gì xảy ra cả, mà tôi thì được thảnh thơi. Anh có hiểu không?”

“Báo cáo trung úy là tôi hoàn toàn hiểu ạ.”

“Này, đừng lại bắt đầu những chuyện ấm ớ dở hơi, kẻo có cái gì dứt khoát xảy ra. Bây giờ thì chúng tôi chặn đứng anh lại. Càng ngày anh càng làm thêm nhiều chuyện ngu xuẩn, cho đến lúc phải nảy ra hiểm họa.”

Trung úy Lukáš xoa tay: “Bây giờ thì xong đời anh rồi, Švejk ạ.”

Trung úy trở lại bàn mình, viết mấy dòng lên mảnh giấy, gọi lính canh trước văn phòng và yêu cầu họ giải Švejk đến giám thị trại giam, rồi nộp cho ông ấy mảnh giấy đó.

Những người lính giải Švejk đi qua sân. Với niềm sung sướng không giấu giếm, trung úy nhìn người giám thị mở cánh cửa với tấm biển đen vàng mang dòng chữ bằng tiếng Đức Trại giam trung đoàn, thấy Švejk biến sau cửa ấy và một lúc sau thì chỉ có ông giám thị đi ra.

“Nhờ trời,” trung úy nghĩ, “thế là hắn vào đấy rồi.”

Trong phòng giam tối tăm của trại giam ở doanh trại Marián, một người lính tình nguyện một năm to béo đang nằm trên đệm rơm, anh đón chào Švejk rất nồng nhiệt. Đó là tù nhân duy nhất ở trong phòng, và anh đang chán chường một mình ở đó đến ngày thứ hai rồi. Nghe Švejk hỏi vì sao bị giam, người ấy trả lời là vì chuyện nhỏ mọn. Đêm hôm đó anh ấy say và bạt tai nhầm một trung úy pháo binh ở dưới hiên nhà ngoài quảng trường. Nói cho đúng thì không phải là bạt tai, mà anh ấy chỉ hất rơi cái mũ của trung úy thôi. Số là, đêm ấy, người trung úy pháo binh đứng ở dưới hiên nhà ngoài quảng trường, chắc là để chờ một cô điếm nào đó. Trung úy đứng quay lưng về phía anh lính tình nguyện, và anh ấy thì tưởng rằng đó là Materna František, người quen và cũng là lính tình nguyện một năm.

“Hắn cũng có cái dáng nhỏ con như thế mà,” anh ấy nói với Švejk, “thế là tôi rón rén đi từ phía sau đến gần, hất cái mũ hắn xuống rồi bảo: ‘Chào cậu, Franta!’ Nhưng mà ngay lập tức thằng cha huýt còi gọi lính tuần tra, rồi họ giải tôi đi. Có thể,” người lính tình nguyện một năm thừa nhận, “có thể là trong lúc giằng co cũng có vài cái bạt tai thật, nhưng mà tôi nghĩ là việc ấy cũng chẳng làm thay đổi được gì, bởi vì rõ ràng đó là sự nhầm lẫn. Chính trung úy cũng công nhận là tôi đã bảo: ‘Chào cậu, Franta!’ mà trung úy thì tên là Anton. Cái đó là hoàn toàn rõ ràng. Nếu có cái gì có thể làm tôi bị nguy thì đó là việc tôi trốn khỏi bệnh viện, nếu mà bị vỡ lở chuyện quyển sổ theo dõi bệnh nhân… Khi nhập ngũ,” anh kể tiếp, “trước hết tôi thuê một căn phòng ở trong thành phố và cố gắng làm sao để làm ra bệnh thấp khớp. Đã ba lần tôi liên tục uống say, sau đó ra ngoài thành phố lúc trời mưa rồi nằm xuống vệ đường, tháo cả giày ra nữa, nhưng mà cũng chẳng ăn thua gì. Vào mùa đông, suốt cả một tuần, đêm nào tôi cũng đi tắm ở sông Malše, nhưng kết quả thì hoàn toàn ngược lại. Anh bạn ơi, tôi đã thành người chịu được rét đến mức có thể nằm suốt đêm trên tuyết ở ngoài sân chỗ tôi ở, buổi sáng khi người ta đánh thức tôi dậy thì hai chân tôi ấm như đi giày trong nhà vậy. Giá mà ít nhất tôi bị viêm họng, nhưng mà cả bệnh viêm họng cũng chẳng đến cho. Kể cả cái bệnh lậu ngu xuẩn tôi cũng chẳng làm sao có được. Ngày nào tôi cũng đến nhà thổ Port Arthur. Một số đồng nghiệp của tôi đã bị viêm tinh hoàn, bị cắt đi, nhưng tôi thì vẫn cứ cường tráng. Thật đáng buồn, anh bạn ạ, buồn ghê gớm. Cho đến một ngày, ở quán Bông hồng tôi làm quen với một người tàn tật quê Hluboká. Hắn bảo tôi đến nhà hắn chơi, rằng hắn có một ống tiêm với kim tiêm và ngày hôm sau thì chân tôi sẽ to như cái cột nhà… Hôm ấy quả thật khó khăn lắm tôi mới đi từ Hluboká về được đến nhà. Con người đáng quý ấy đã không nói dối tôi. Cuối cùng thì tôi có được bệnh thấp khớp, vào bệnh viện ngay, thế là sung sướng. Sau đó, tôi còn gặp may lần thứ hai. Bác sĩ Masák người ở Žižkov, anh rể tôi, được thuyên chuyển đến Budějovice. Tôi phải cảm ơn anh ấy, vì nhờ có anh ấy mà tôi được ở bệnh viện lâu đến thế. Đáng lẽ ra thì anh ấy có thể giúp tôi đến tận mức được bác sĩ thanh tra công nhận ốm, giá mà tôi không làm hỏng việc vì quyển sổ bất hạnh ấy. Nhưng phải công nhận đó là sáng kiến tốt tuyệt vời. Tôi kiếm một quyển vở to, dán lên bìa vở cái nhãn tôi đã viết Sổ theo dõi bệnh nhân của trung đoàn 91. Tất cả mọi mục trong sổ đều ổn cả. Tôi đã viết vào đó những cái tên bịa với các bệnh tật, sốt bao nhiêu độ. Buổi chiều nào sau giờ bác sĩ thăm bệnh nhân tôi cũng táo tợn cắp nách quyển vở đi ra phố. Lính canh cổng đều là lính Landwehr nên về mặt này tôi cũng được đảm bảo chắc chắn. Tôi giơ cho họ thấy quyển sổ và họ lại còn giơ tay chào tôi nữa. Sau đó, tôi đi đến nhà một người quen làm việc sở thuế, thay quân phục mặc đồ dân thường rồi đi quán. Ở đấy, tôi cùng những người quen biết nói với nhau đủ mọi chuyện phản quốc. Dần dần, tôi táo tợn đến mức chẳng thay quần áo nữa mà cứ để nguyên quân phục trên người rồi đi khắp các quán, đi khắp nơi trong thành phố cho đến sáng mới về giường mình trong bệnh viện. Nếu trong đêm mà gặp lính tuần tra thì tôi đưa cho họ xem quyển sổ theo dõi bệnh nhân trung đoàn 91 là chẳng ai hỏi han gì thêm nữa. Ở cổng bệnh viện tôi lại im lặng đưa quyển sổ ra, bao giờ tôi cũng trở về giường mình được. Cái xấc xược của tôi vì thế cứ lớn dần, tôi cho là chẳng ai có thể làm gì được tôi, cho đến tận lúc xảy ra sự nhầm lẫn định mệnh đêm hôm ấy ở dưới hiên nhà ngoài quảng trường. Việc ấy chứng tỏ là chẳng có cây nào vươn lên được đến trời, anh bạn ạ. Sau cái kiêu ngạo tự mãn là sự sụp đổ, mọi cái vinh quang chỉ là hoa đồng nội sáng nở tối tàn. Giống như Icarus đã làm thiêu chảy đôi cánh của mình, con người muốn trở thành vĩ đại, nhưng mà chẳng là cái cứt gì cả, anh bạn ạ. Không được tin vào sự ngẫu nhiên, hãy tự vả mặt mình vào buổi sáng cả vào buổi chiều để nhắc nhở mình, rằng thận trọng là điều không bao giờ thừa, và cái gì quá nhiều cũng là cái có hại. Sau cuộc trác táng bao giờ cũng là cái mệt mỏi đau đầu về đạo đức. Đấy là quy luật tự nhiên, anh bạn ạ. Chỉ ngẫm lại việc tôi làm mất cơ hội được bác sĩ thanh tra công nhận ốm, được quyết định giải ngũ là thấy điều đó. Trời ạ, tôi đã có thể là người không có khả năng ra chiến trường. Tôi đã được che chở tuyệt vời như thế! Tôi đã có thể nhởn nhơ trong văn phòng nào đó ở Ban chỉ huy quân dự bị, nhưng mà sự thiếu thận trọng của tôi đã phản lại tôi.”

Người lính tình nguyện một năm trang trọng kết thúc lời tự thú: “Carthage sụp đổ, Ninive chỉ còn là những bức tường thành đổ nát, nhưng anh bạn ơi, hãy ngẩng đầu lên! Bọn chúng đừng có tưởng là gửi tôi ra chiến trận thì tôi thối chí đâu. Nhà tù trung đoàn! Đuổi khỏi trường! Chủ nghĩa ngu xuẩn của Vua và Hoàng đế muôn năm! Cứ theo đuổi học ở trường để thi ư? Học viên, chuẩn úy, thiếu úy, trung úy! Tôi ỉa vào những thứ ấy của chúng nó! Trường sĩ quan! Xử lý thế nào với những người trượt thi phải học đúp? Sự tê liệt quân sự! Khoác súng lên vai trái hay vai phải? Cầu vai hạ sĩ có mấy sao? Danh sách quân dự bị! Mẹ kiếp, chẳng còn gì nữa để hút, anh bạn ơi. Anh có muốn tôi dạy anh nhổ bọt lên trần nhà không? Nhìn đây này, làm như thế này này. Trong lúc nhổ thì hãy nghĩ đến một việc gì đấy và ước mơ ấy sẽ trở thành hiện thực. Nếu anh thích uống bia thì tôi có thể giới thiệu với anh thứ nước tuyệt vời ở trong cái bình kia. Nếu anh đói và muốn ăn ngon thì anh có thể đến quán Měšťanská baseda. Tôi cũng muốn khuyên anh làm thơ trong lúc nhàn rỗi. Tôi đã viết được hẳn một bài trường ca nhé:

Giám thị có nhà không? Ông ấy đang ngon giấc.

Chỗ quan trọng nhất là nơi đây

tới khi Vienna ra lệnh mới

rằng chiến trường ta đã mất rồi

Ông ấy xếp giường làm thành lũy

chống lại kẻ thù dám tới đây.

Thành lũy làm xong, thành công tới

Ông thấy mừng sao, thấy tự hào

không thể bao giờ mất nước Áo

Quê hương, Hoàng đế vẻ vang thay!

“Anh bạn ạ, anh thấy chưa?” người lính to béo tình nguyện một năm tiếp tục, “Cứ thử bảo là trong dân chúng đã mất đi sự tôn trọng đối với chế độ quân chủ yêu quý của chúng ta xem nào. Một người đàn ông bị giam, chẳng có gì để hút, đang chờ để vào nhà tù trung đoàn, đã đưa ra dẫn chứng đẹp đẽ nhất về tình cảm của mình đối với ngai vàng. Qua các bài hát của mình, người ấy bày tỏ lòng tôn kính đối với tổ quốc lớn đang bị đe dọa đánh đòn từ mọi phía. Người ấy bị mất tự do, nhưng từ miệng người ấy lại tuôn ra những vần thơ về lòng trung thành không gì lay chuyển. Những kẻ đang đi đến cái chết gửi lời chào ngài, hỡi Hoàng đế! Những người chết chào ngài, hỡi Hoàng đế! Nhưng mà giám thị nhà giam của chúng ta là thằng đểu, anh ạ. Trong quân ngũ của chúng ta có nhiều kẻ khốn kiếp như hắn! Hôm kia tôi đưa hắn năm koruna nhờ mua hộ thuốc lá, nhưng sáng hôm nay thằng khốn nạn bảo tôi là ở đây không được phép hút thuốc, không thì hắn sẽ bị khiển trách, còn năm koruna ấy thì bao giờ lĩnh lương hắn sẽ trả lại tôi. Thế đấy, anh bạn ạ, bây giờ tôi chẳng tin vào cái gì cả. Những ý tưởng tốt nhất đã bị lật ngược. Ăn cướp cả tù nhân! Đã thế mà thằng cha ấy còn hò hát cả ngày. ‘Nơi nào có tiếng hát, ở đấy cứ ngủ yên, kẻ ác không biết đến bài hát.’ Quân khốn nạn, thằng lưu manh, đứa đểu giả, đồ phản bội!”

Rồi người lính tình nguyện hỏi Švejk về tội của anh.

“Anh đã đi tìm trung đoàn ư?” người lính tình nguyện nói, “Một chuyến đi khá đấy! Tábor, Milevsko, Květov, Vráz, Malčín, Čizová, Sedlec, Horaždovice, Radomyšl, Putim, Štěkno, Strakonice, Volyň, Dub, Protivín, Putim, Písek, Budějovice. Quả là con đường đầy chông gai! Ngày mai cả anh cũng phải đi trình diện ở trung đoàn ư? Thế thì chúng mình sẽ gặp nhau ở bãi xử tử. Đại tá Schröder sẽ lại thấy phấn khởi. Anh không thể tưởng tượng được những sự kiện của trung đoàn có tác động đến ông ấy như thế nào đâu! Ông ấy lồng lên ở ngoài sân như con chó dại, lưỡi thì thè ra như con ngựa cái bất kham. Rồi ông ấy nói, ông ấy nhắc nhở, rồi phun phì phì ra xung quanh như con lạc đà vậy. Ông ấy thao thao bất tuyệt, còn người nghe thì chỉ nghĩ chẳng mấy chốc mà cả doanh trại Marián sẽ sụp đổ. Tôi rất biết ông ấy, tại vì có một lần tôi đã phải đi trình diện trung đoàn. Khi nhập ngũ, tôi đã đi đôi ủng cao gót, trên đầu thì đội mũ trụ cứng. Bởi vì ông thợ may không kịp may đồng phục cho tôi, nên tôi đã cứ đi ủng cao gót và đội mũ cứng rồi ra sân tập của học viên trường sĩ quan. Tôi xếp hàng và cùng đi diễu hành ở cánh bên trái. Đại tá Schröder cưỡi ngựa đi thẳng đến chỗ tôi, suýt nữa thì quật ngã tôi. ‘Quân trời đánh,’ ông ấy gào lên, chắc là mãi tận ở Šumava⦾ cũng nghe thấy, ‘anh làm cái gì ở đây, hả thường dân?’ Tôi lễ phép trả lời ông ấy, rằng tôi là lính tình nguyện một năm và bây giờ thì tôi đang tham gia tập trận. Ôi trời, giá mà anh trông thấy ông ấy! Sau đến nửa giờ đồng hồ diễn thuyết, ông ấy mới để ý thấy tôi giơ tay chào mà trên đầu lại đang đội mũ trụ cứng. Ông ấy chỉ nói được một câu là ngày mai tôi phải đến trình diện trung đoàn, rồi như kỵ sĩ điên rồ ông ấy cáu tiết quất ngựa phóng đi, có trời biết đi đâu. Sau đó lại phóng ngựa trở lại, rồi lại gào lên, nổi trận lôi đình, đấm ngực thùm thụp và ra lệnh kéo tôi ra khỏi bãi tập để dẫn về phòng bảo vệ. Khi tôi đến trình diện thì ông ấy phạt tôi mười bốn ngày không được rời doanh trại, bắt tôi mặc quân phục xấu không tưởng được lôi từ kho ra, lại còn dọa sẽ tháo vạch ở ống tay áo nữa. ‘Lính tình nguyện một năm,’ thằng đại tá ngu xuẩn ấy lớn tiếng, ‘là một cái gì cao thượng, là mầm non của sự vinh quang, của phẩm chất quân đội, của những người anh hùng. Wolhtat, người lính tình nguyện một năm, sau khi thi được thăng cấp hạ sĩ đã tình nguyện xin ra mặt trận và đã bắt được mười lăm tù binh. Khi giải tù binh đi nộp thì anh ấy hy sinh vì bị trúng lựu đạn. Chỉ năm phút sau đã có lệnh là người lính tình nguyện Wolhtat được nâng lên cấp trung sĩ. Cả anh cũng sẽ có thể có tương lai xán lạn như thế, có thể được thăng chức, được khen thưởng, tên tuổi của anh sẽ được ghi vào sổ vàng của trung đoàn.’”

Người lính tình nguyện một năm nhổ bọt rồi bảo: “Đấy anh bạn ơi, anh thấy là có những kẻ khốn nạn như thế được sinh ra dưới ánh mặt trời. Tôi thèm vào cái vạch cho lính một năm của bọn hắn, kể cả tất cả mọi thứ đặc quyền. Anh lính tình nguyện một năm ạ, anh là đồ súc vật! Nghe mới hay làm sao chứ! Anh là đồ súc vật chứ không phải cái tục tằn mày là đồ súc vật. Còn sau khi chết đi thì anh sẽ được nhận huy chương chiến công, hay huân chương bạc. Vua và Hoàng đế là người cung cấp xác chết, bất kể những xác chết ấy có mang sao hay không mang sao. Làm thân con bò còn sướng hơn, nó bị giết ở lò sát sinh, nhưng trước khi bị mổ thịt nó không bị người ta liên tục tha lôi đến các cuộc tập trận và đi đến nơi súng đạn.”

Người lính tình nguyện to béo lăn sang chiếc đệm rơm bên cạnh và tiếp tục: “Chắc chắn là có ngày tất cả những thứ này đều đổ vỡ, nó không thể kéo dài vĩnh viễn được. Anh thử bơm sự vinh quang vào con lợn mà xem, thế nào cũng có lúc nó phải nổ tung ra. Nếu mà đi ra trận thì tôi sẽ viết lên tàu hỏa chở lính như thế này:

Thịt xương người làm giàu thêm cho đất

Tám chú ngựa hay là bốn tám quân.⦾

Cánh cửa mở ra, người giám thị nhà giam xuất hiện, đưa nước uống và một phần tư cái bánh mì quân đội cho hai người.

Chẳng hề ngồi dậy từ chiếc nệm rơm, người lính tình nguyện một năm chào giám thị bằng những lời sau đây: “Ôi, đi thăm tù nhân, mới đẹp và cao thượng làm sao, hỡi Thánh nữ Agnes của trung đoàn 91! Xin chào thiên thần hảo tâm với trái tim đầy lòng thương cảm! Đôi cánh thiên thần nặng trĩu đồ ăn thức uống làm nhẹ nỗi đau khổ của chúng tôi! Chẳng bao giờ chúng tôi quên ơn đó. Thiên thần là ánh dương trong tăm tối nơi đây.”

“Ừ, cứ cợt nhả đi, đến lúc trình diện trung đoàn thì hết cả đùa,” người giám thị lầu bầu.

“Chẳng phải cáu giận làm gì, đồ bòn mót đểu giả ạ!” người lính tình nguyện trả lời, “Tốt hơn hết là hãy cho chúng tớ biết cậu sẽ làm gì, khi phải bắt giam mười người lính tình nguyện, hả? Đừng giương mắt ngu xuẩn như thế, đồ giữ cửa nhà giam của doanh trại Marián ạ! Chắc là cậu sẽ bắt giam hai chục người, rồi thả mười người, phải không hả đồ chui rúc bẩn thỉu? Ôi trời đất ơi, giá mà tớ làm Bộ trưởng chiến tranh thì tớ cho cậu biết thế nào là kỷ luật nhà binh! Cậu có biết quy luật phản xạ ánh sáng, rằng góc tới bằng góc phản xạ không? Chỉ có một điều tớ xin cậu, là cậu hãy đánh dấu và cho tớ một điểm tựa trong vũ trụ, tớ sẽ nhấc bổng cả trái đất lẫn cậu, đồ kiêu căng tự phụ ạ.”

Người giám thị trại giam trợn tròn mắt, rùng mình rồi sập cửa lại.

“Hiệp hội hoạt động khử bỏ giám thị trại giam,” người lính tình nguyện công bằng chia miếng bánh mì thành hai phần rồi nói, “theo điều thứ mười sáu quy định của trại giam thì trong khi chờ tuyên án, tù nhân được phát thức ăn quân đội. Nhưng mà ở đây thì có luật rừng: Ai là kẻ đầu tiên chiếm được thức ăn ấy của tù nhân.”

Người lính và Švejk ngồi trên giường rồi cả hai cùng gặm nhai miếng bánh.

“Tay giám thị này,” người lính tình nguyện tiếp tục nhận xét, “là một thí dụ rõ ràng nhất về việc phục vụ trong quân đội đã làm cho con người trở nên thô bạo như thế nào. Chắc hẳn là trước khi nhập ngũ, hắn đã là một chàng trai trẻ có lý tưởng, một thiên thần tóc vàng hiền dịu và đầy cảm thông với mọi người, là người bao giờ cũng bảo vệ che chở những kẻ bất hạnh trong các cuộc ẩu đả tranh giành bọn con gái vào dịp lễ hội ở làng quê. Không có nghi ngờ gì về việc là tất cả mọi người đều tôn trọng hắn, nhưng mà bây giờ thì… Trời ơi, sao mà tôi muốn vả vào mặt nó, đập đầu nó vào thành giường, hất lộn cổ nó xuống thùng phân đến thế! Đấy, anh bạn ạ, cả cái điều mà tôi muốn này cũng là dẫn chứng về sự trở nên thô bạo tinh thần trong nghề nhà binh.”

Người lính tình nguyện lên tiếng hát:

Cô chẳng sợ ma, không sợ quỷ

lại gặp anh lính súng thần công…

Rồi anh tiếp tục nói: “Anh bạn thân mến ạ, nếu cứ xem xét mọi thứ theo thước đo của nhà nước quân chủ yêu dấu của chúng ta, thì chúng ta dứt khoát phải đi đến kết luận, là nhà nước đang ở tình trạng như nhân vật ông chủ của Pushkin, người mà Pushkin đã viết rằng đang ngắc ngoải sắp đi đời.

Cứ thở dài đi và thử nghĩ

khi nào quỷ mới bắt ông đi.”

Lại có tiếng lạch cạch chìa khóa ở cửa, người giám thị trại giam thắp cái đèn dầu ở ngoài hành lang.

“Tia sáng nơi tăm tối,” người lính tình nguyện gào lên, “thời Khai sáng thâm nhập vào quân đội! Chúc ông ngon giấc, thưa ông giám thị! Xin gửi lời chào đến tất cả các hạ sĩ quan và sĩ quan, cũng xin chúc ông có giấc mơ đẹp. Chẳng hạn giấc mơ là ông đã trả lại tôi năm koruna mà tôi đã đưa ông nhờ mua hộ thuốc lá, nhưng mà ông đã đem đi uống để chúc sức khỏe tôi. Chúc ông ngủ ngon, đồ quái vật ạ!”

Lại nghe thấy tiếng người giám thị lầu bầu gì đó về cuộc trình diện trung đoàn vào ngày hôm sau.

“Bây giờ chỉ có chúng mình thôi,” người lính tình nguyện nói, “tôi sẽ dành một chút thời gian trước khi đi ngủ để thuyết trình về việc các hạ sĩ quan và sĩ quan ngày ngày mở rộng kiến thức của họ về động vật như thế nào. Đó là việc tìm ra vật liệu sống cho chiến tranh và những miếng mồi có ý thức cho họng các khẩu đại bác. Để có thể làm điều đó, cần phải nghiên cứu kỹ càng về khoa học tự nhiên, hay có cuốn sách Nguồn sức mạnh của sự phồn thịnh kinh tế do Kočí xuất bản, sách mà ở trang nào cũng có các từ đồ con bò, con lợn. Nhưng trong thời gian gần đây, chúng ta thấy là các nhóm sĩ quan tiến bộ đặt ra những cái tên mới cho tân binh. Hạ sĩ Althof ở đại đội 11 dùng từ con dê Engadin Thụy Sĩ, Binh nhất Müller, một thầy giáo người Đức ở Kašperské Hory⦾ gọi tân binh là dân Bohemia hôi thối, trung sĩ Sondernummer thì gọi họ là ễnh ương beo,con lợn Yorkshire và còn hứa là sẽ lột da từng tân binh để nhồi xác. Đồng thời, ông ta tỏ ra một người thành thạo chuyên môn, cứ như là người xuất thân từ một gia đình chuyên nhồi xác động vật vậy. Để làm chúng ta thấm nhuần lòng yêu nước, tất cả các nhà lãnh đạo quân đội đều cố gắng dùng mọi phương tiện đặc biệt, như gầm gào, chạy nhảy lồng lộn xung quanh lính mới, hò hét khẩu hiệu chiến đấu, gợi cho ta nhớ đến hình ảnh những thổ dân man rợ châu Phi đang chuẩn bị lột da con linh dương vô tội, hay chuẩn bị nướng đùi nhà truyền giáo để ăn. Tất nhiên, những việc đó không hề có dính dáng gì đến người Đức. Nếu trung sĩ Sondernummer có nói gì về lũ lợn sề thì bao giờ cũng nhanh chóng nói thêm từ Séc, để cho người Đức không cảm thấy tự ái mà vơ vào mình. Trong khi đó, tất cả mọi hạ sĩ quan đều giương tròn mắt như con chó tội nghiệp vì tham ăn mà vội vàng nuốt phải miếng bọt biển tẩm dầu, bây giờ bị mắc trong họng không nhè ra được. Một lần, tôi nghe thấy binh nhất Müller nói với hạ sĩ Althof về bước tiến hành trong việc luyện tập quân địa phương. Nổi bật trong những gì họ nói là cái bạt tai. Lúc đầu tôi cứ tưởng là giữa họ đã xảy ra chuyện gì, hay là sự đoàn kết thống nhất của quân đội Đức bị rạn nứt chăng, nhưng mà tôi đã lầm to! Quả thật họ chỉ nói về quân lính thôi. Hạ sĩ Althof giảng giải một cách thông thái: ‘Khi một con lợn Séc nào sau ba mươi lần nằm xuống đất mà không đứng thẳng lên được thì chỉ vả vào mồm nó thôi cũng chưa đủ. Cậu hãy thụi vào bụng nó, tay kia thì tạt mạnh vào tai nó và ra lệnh Đằng sau, quay! Khi nó quay thì cậu hãy đạp vào đít nó. Rồi thì cậu sẽ thấy nó đi như thế nào, cũng thấy chuẩn úy Dauerling sẽ cười như thế nào.’ Còn bây giờ thì anh bạn ạ, tôi phải nói vài lời cho anh biết về chuẩn úy Dauerling,” người lính tình nguyện tiếp tục. “Tân binh của đại đội 11 kể chuyện cho nhau nghe về chuẩn úy Dauerling, giống như trường hợp một bà già cô đơn ở một trang trại gần biên giới Mexico kể lại truyền thuyết về một tướng cướp anh hùng nào đó. Chuẩn úy Dauerling có danh tiếng của kẻ ăn thịt người, kẻ ăn thịt đồng loại của những bộ lạc ở châu Úc; người của những bộ lạc này ăn thịt các thành viên thuộc bộ lạc khác chẳng may rơi vào họ. Con đường đời của chuẩn úy rất tuyệt vời. Không lâu sau khi chào đời, thằng bé Konrád Dauerling bị vú em sơ ý đánh ngã đập đầu xuống đất, thành ra bây giờ vẫn còn trông thấy chỗ bèn bẹt trên đầu, giống như Bắc Cực bị sao chổi quét qua. Tất cả mọi người đều đã tỏ ra nghi ngại, không biết rồi thằng bé sẽ ra sao, chẳng biết nó có bị ảnh hưởng gì sau vụ chấn động não ấy không. Chỉ duy có ông bố nó, một đại tá, là không thất vọng và khẳng định rằng cái đó không thể gây ảnh hưởng gì đến nó, bởi vì tất nhiên là sau này lớn lên, con trai ông sẽ theo nghiệp nhà binh. Trải qua bốn năm vật lộn cực kỳ gian khổ ở trường tiểu học cấp thấp và theo học các thầy giáo dạy tư, sau khi đã làm cho một ông thầy đến mụ cả người và bạc đầu trước tuổi, còn ông thầy thứ hai thì vì tuyệt vọng mà suýt nhảy từ tháp của Thánh đường Stephen ở Vienna, Dauerling nhập học trường quân sự Hainburg. Ở trường quân sự, chẳng bao giờ người ta để ý đến trình độ học vấn của học viên trước khi nhập trường, bởi vì nó thường là cái chẳng cần thiết gì cho các sĩ quan chính quy của nhà nước Áo. Lý tưởng quân sự chỉ được nhận biết duy nhất qua việc họ tập làm người lính. Kiến thức học vấn làm tâm hồn con người trở nên cao thượng, và đó không thể là cái mà quân đội cần tới. Đội ngũ sĩ quan càng thô bạo bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu.

Lính tình nguyện một năm Marek

Học viên Dauerling không nổi trội cả ở những môn học mà ai cũng phải có kiến thức tối thiểu. Kể cả ở trường quân sự cũng thấy rõ dấu vết hậu quả của việc thời sơ sinh Dauerling đã bị ngã đập đầu. Các câu trả lời của hắn khi viết bài kiểm tra đã thể hiện rõ ràng về sự kiện bất hạnh ấy và nổi bật lên bằng cái ngu xuẩn. Chúng được coi như là những câu trả lời kinh điển bởi cái vực thẳm ngu ngốc và lẫn lộn linh tinh. Các giáo sư của trường quân sự vì thế đã không gọi hắn bằng gì khác, ngoài câu thằng bé ngu xuẩn của chúng ta. Cái ngu xuẩn của hắn rạng ngời đến mức rất có khả năng là mấy chục năm sau hắn sẽ vào được Học viện Quân sự Theresia, hoặc vào Bộ Chiến tranh.

Khi chiến tranh bùng nổ và tất cả các học viên trẻ tuổi của trường quân sự đều thi lấy cấp chuẩn úy thì cả Konrád Dauerling cũng lọt vào danh sách những người được thăng chức, rồi sau đó, hắn tới trung đoàn 91.”

Người lính tình nguyện ngừng một lát rồi lại tiếp tục nói: “Ở cuốn sách Kỷ luật nghiêm khắc hay giáo dục do Bộ Chiến tranh cho xuất bản, Dauerling đọc thấy rằng sự khiếp sợ là điều cần thiết phải áp dụng cho quân lính. Thành công trong luyện tập phụ thuộc vào mức độ khiếp sợ của quân lính. Và trong công việc của mình thì Dauerling bao giờ cũng thành công. Để khỏi phải nghe hắn gầm thét, quân lính các trung đội báo cáo ốm hàng loạt, nhưng mà cũng chẳng ăn thua gì. Người nào báo ốm thì sẽ phải chịu ba ngày chế độ nghiêm ngặt. Chắc anh biết chế độ nghiêm ngặt là thế nào rồi. Người ta bắt anh chạy cả ngày ngoài bãi tập và buổi tối thì giam anh lại. Thế là ở đại đội của Dauerling chẳng có ai bị ốm cả. Nếu có, thì những người ấy đều ngồi trong nhà giam. Ở ngoài bãi tập, Dauerling luôn luôn nói bằng từ ngữ trong doanh trại, bắt đầu bằng từ con lợn và kết thúc bằng con vật bí ẩn con chó lợn. Đồng thời, hắn lại là người có tư tưởng rất tự do. Hắn để quân lính được tự do lựa chọn và bảo: ‘Thế nào đồ con lừa, mày muốn mấy cái đấm vào mũi, hay ba ngày chế độ nghiêm ngặt, hả?’ Nếu người nào chọn chế độ nghiêm ngặt thì cũng vẫn bị hai cái đấm vào mũi và Dauerling giải thích thêm: ‘Đồ hèn nhát, mày sợ bị giập mõm, thế thì mày sẽ làm sao khi bị pháo hạng nặng bắn, hả?’

Một lần, hắn đánh giập con mắt của một tân binh, rồi còn nói là ‘Bận tâm làm gì với một thằng lính, đằng nào mà nó chẳng toi đời.’ Thống chế Conrad Hötzendorf⦾ cũng nói như vậy: ‘Quân lính thì đằng nào cũng toi đời.’

Một hình thức ưa chuộng và có tác động của Dauerling là tập hợp quân lính người Séc lại để diễn thuyết. Trong bài diễn thuyết, hắn nói về các nhiệm vụ quân sự của nhà nước Áo, đồng thời giải thích về những nguyên tắc chung trong giáo dục quân đội, từ cái còng sắt đến treo cổ và xử bắn. Đầu mùa đông, trước khi tôi vào bệnh viện, chúng tôi tập trận ở bãi tập gần đại đội 11. Vào giờ giải lao, Dauerling đã nói với các tân binh người Séc: ‘Tôi biết các anh là quân vô lại, cần phải tẩy não mọi thứ điên rồ của các anh. Với tiếng Séc thì các anh chẳng đi được đến cả nơi xử tử. Người chỉ huy quân sự cao nhất của chúng ta cũng là người Đức. Các anh có nghe tôi nói không hả? Đồ trời đánh! Nằm xuống!’

Cái gì hắn cũng ra lệnh nằm xuống. Và khi tất cả đã nằm dưới đất, hắn đi lại phía trước họ và diễn thuyết:

‘Kẻ nằm ở dưới đất thì bao giờ cũng vẫn chỉ là hạng nhỏ bé thấp hèn, bất kể chúng mày có làm gì ở đám bùn lầy ấy đi nữa. Loại người thấp hèn đã có từ thời La Mã cổ đại, hồi ấy họ đã phải nhập ngũ từ tuổi mười bảy đến tuổi sáu mươi, phải phục vụ ba mươi năm ngoài mặt trận chứ không ăn không ngồi rồi như lũ con lợn ở doanh trại. Thời đó cũng đã có sự thống nhất về ngôn ngữ và chỉ huy quân sự. Các ngài sĩ quan La Mã chắc không để cho quân sĩ nói tiếng Etrusca chẳng hạn. Tôi cũng muốn tất cả các anh đều trả lời bằng tiếng Đức, chứ không bằng cái thứ tiếng pha tạp của các anh. Bây giờ thì các anh thấy đấy, các anh đang nằm ở chỗ bùn lầy. Hãy thử tượng tượng xem có ai trong các anh không muốn nằm nữa và muốn đứng dậy. Lúc ấy thì tôi sẽ làm gì? Tôi sẽ rạch mồm nó ra đến mang tai, bởi vì thế là phạm tội không phục tùng cấp trên, là nổi loạn, là chống đối, là tội sao nhãng nghĩa vụ của người lính, là vi phạm nội quy và kỷ luật, là khinh thường quy định công tác nói chung. Từ đó mà quy ra thì một kẻ như thế sẽ bị treo cổ và bị mất sự tôn trọng của người đương thời.’”

Người lính tình nguyện im lặng một hồi lâu, rồi tiếp tục, xem ra trong lúc nghỉ giải lao anh ấy đã lên kế hoạch các chủ đề kể về tình hình trong các doanh trại:

“Còn đại tá Adamička thì lại là người hoàn toàn thờ ơ. Khi ngồi ở văn phòng, ông ấy thường nhìn ra tận đẩu tận đâu như một người điên thầm lặng, với vẻ mặt như thể bảo ai muốn làm gì ông thì làm. Có trời biết ông nghĩ về cái gì khi nghe báo cáo của tiểu đoàn. Một lần, có anh lính của đại đội 11 đến trình diện, phàn nàn là một buổi tối khi đang đi ở ngoài đường thì anh ấy bị hạ sĩ Dauerling gọi là con lợn Séc. Anh ấy nguyên là thợ đóng sách, một công nhân có nhận thức của dân tộc.

‘À ra thế,’ đại úy Adamička nói khẽ, bởi vì bao giờ ông cũng nói rất khẽ, ông ấy bảo anh thế ở ngoài đường vào buổi tối. Cần phải kiểm tra xem hôm ấy anh có được phép đi ra khỏi doanh trại không. Giải tán!’

Một thời gian sau, đại úy cho gọi người lính ấy đến và lại nói rất khẽ: ‘Đã kiểm tra, thấy là hôm ấy anh được phép ra khỏi doanh trại cho đến mười giờ đêm. Và vì thế anh sẽ không bị phạt. Giải tán!’

Anh bạn ạ, đại úy Adamička có tiếng là người công bằng, thế là người ta chuyển ông ra mặt trận, và người đến đây thay chỗ ông là thiếu tá Wenzl. Đó là một người rất khắc nghiệt đối với những chuyện gây kích động hằn thù giữa các dân tộc, và thế là đã thẳng tay trừng trị chuẩn úy Dauerling. Thiếu tá Wenzl có vợ người Séc và cái ông sợ nhất là mâu thuẫn giữa các dân tộc. Cách đây vài năm, khi còn là đại úy đóng ở Kutná Hora⦾, có lần trong lúc say ở khách sạn ông đã mắng một người hầu bàn, rằng anh ta là đồ dân Séc bẩn thỉu. Cũng cần phải nói rằng trong giao tiếp ngoài xã hội, thiếu tá Wenzl chỉ nói bằng tiếng Séc, ở nhà mình cũng vậy, và các con trai ông thì đều theo học bằng tiếng Séc. Nhưng mà ông đã nói thế và báo địa phương đã đăng tin ngay, cư xử của ông ở trong khách sạn còn bị một đại biểu quốc hội mang ra chất vấn ở nghị viện tại Vienna. Ông đã gặp phải nhiều phiền toái, tại vì việc đó xảy ra đúng lúc nghị viện đang duyệt chi phí cho quân đội, thế mà lại có tay đại úy Wenzl say rượu nào đó ở Kutná Hora gây chuyện lôi thôi!

Sau đó, đại úy Wenzl được biết là tất cả những chuyện ấy do một người gây ra. Người ấy tên là Zítko, một chuẩn úy tập sự thuộc số lính tình nguyện một năm. Anh này đưa chuyện của ông lên báo, bởi vì giữa họ vốn có mối quan hệ thù địch từ trước. Lần ấy, trong một buổi gặp gỡ mà đại úy Wenzl cũng có mặt, Zítko triết lý về việc chỉ cần nhìn thiên nhiên, để ý đến những đám mây phủ phía xa, thấy các đỉnh núi nhô cao ở chân trời, nghe tiếng đổ ầm ầm của thác nước ở trong rừng, tiếng hót của chim muông, thế là đủ. ‘Chỉ cần suy nghĩ,’ chuẩn úy tập sự Zítko nói, ‘để thấy đại úy thì là cái gì so với với thiên nhiên hùng vĩ. Họ chỉ là con số không, giống như chuẩn úy tập sự vậy.’

Bởi vì lúc đó tất cả các ngài sĩ quan đều quá chén, đại úy Wenzl đã muốn cho nhà triết học Zítko bất hạnh một trận nên thân. Mối thù địch từ đó cứ lớn lên và đại úy làm khổ Zítko bằng đủ hình thức, đặc biệt khi câu nói của anh ta đã trở thành ngạn ngữ. Tất cả mọi người ở Kutná Hora đều biết câu ‘Đại úy Wenzl là cái gì so với thiên nhiên hùng vĩ?’ ‘Tôi sẽ buộc thằng Anh ấy phải tự tử,’ đại úy Wenzl nói. Nhưng Zítko đã phục viên và tiếp tục học triết học.

Cũng từ đó, thiếu tá Wenzl điên cuồng chống đối các sĩ quan trẻ. Kể cả các trung úy cũng thấy không được chắc chắn trước sự lồng lộn giận dữ của ông, còn các học viên quân sự và các hạ sĩ thì khỏi phải nói.

‘Tôi sẽ nghiền nát chúng như nghiền con rận,’ thiếu tá nói. Và thật đáng đời cho tay chuẩn úy nếu vì cái nhỏ mọn mà bắt ai phải đến trình diện ở tiểu đoàn. Đối với thiếu tá Wenzl thì những tội phạm lớn và ghê gớm mới là cái chính phải xử, thí dụ khi người nào ngủ lúc canh gác kho thuốc nổ, hay làm cái gì còn khủng khiếp hơn, chẳng hạn nếu trèo qua tường doanh trại Marián vào ban đêm và ngủ ngay ở trên tường, rồi bị tuần tra của lục quân Landwehr hay của pháo binh bắt được. Nói ngắn gọn là khi người nào làm cái gì đó quá đáng đến mức gây ra chuyện xấu hổ cho trung đoàn.

Một lần tôi nghe thấy thiếu tá gầm thét ngoài hành lang: ‘Ối trời ơi! Thế là nó bị lính tuần tra Landwehr bắt đến lần thứ ba rồi. Tống ngay nó vào phòng giam cho tôi! Rồi sẽ đưa nó đi khỏi trung đoàn, chuyển sang bên hậu cần cho nó đi chở phân. Thế mà nó còn chẳng hề chống lại nữa! Mà bọn tuần tra ấy đâu phải là quân lính cơ chứ, chúng chỉ là lũ quét đường! Bây giờ các anh tống nó vào phòng biệt giam, đến ngày kia thì mới cho ăn, mang vào đấy cho thằng khốn kiếp cái đệm rơm thôi, không phải cho chăn đắp gì hết!’

Anh bạn ạ, anh thử tưởng tượng xem, thế mà ngay sau khi thiếu tá đến đây, thằng chuẩn úy ngu xuẩn Dauerling bắt một người lính lên trình diện trung đoàn, vì lý do là người ấy cố tình không chào hắn, khi hắn đi xe ngựa cùng với một cô gái qua quảng trường vào buổi chiều ngày chủ nhật.

Sau này các hạ sĩ quan kể lại rằng buổi trình diện báo cáo trung đoàn lần ấy quả là một bữa ghê hồn. Trung sĩ của văn phòng trung đoàn ôm giấy tờ bỏ chạy ra ngoài hành lang và thiếu tá Wenzl thì gào lên chửi mắng Dauerling:

‘Tôi yêu cầu anh, đồ trời đánh, tôi cấm anh! Anh có biết thế nào là trình diện báo cáo trung đoàn không, hả chuẩn úy? Trình diện trung đoàn đâu phải là chuyện đi ăn cỗ! Làm sao mà anh ta có thể nhìn thấy anh, khi anh đi qua quảng trường, hả? Anh không biết là chính anh đã dạy, rằng khi gặp sĩ quan thì lính phải chào, nhưng điều đó không có nghĩa là người lính phải ngó ngược ngó xuôi để thấy anh đang chạy qua quảng trường rồi chào. Anh im mồm đi! Trình diện trung đoàn là việc rất hệ trọng. Nếu người lính ấy đã nói rằng không nhìn thấy anh, tại vì đúng vào lúc đó đang chào tôi ở quảng trường, đang quay mặt về phía tôi, quay mặt về phía thiếu tá Wenzl, anh hiểu không? Có nghĩa là người lính ấy không thể nhìn thấy cái xe ngựa chở anh ở phía sau, thì tôi nghĩ phải tin anh ta. Lần sau thì đừng có quấy rầy tôi bằng những chuyện vặt như thế!’ Từ đó, Dauerling thay đổi hẳn.”

Người lính tình nguyện ngáp dài: “Chúng ta phải đi ngủ để ngày mai đi trình diện trung đoàn. Tôi chỉ muốn nói qua như vậy để anh biết về trung đoàn thôi. Đại tá Schröder không ưa thiếu tá Wenzl, ông ấy là người rất lạ lùng. Đại úy Ságner, người chịu trách nhiệm về lính tình nguyện, nghĩ rằng đại tá Schröder thuộc loại người lính thực thụ, mặc dù đại tá Schröder thì lại không sợ cái gì hơn việc phải đi ra mặt trận. Đại úy Ságner là người khôn khéo tinh ranh và cũng như đại tá Schröder, ông không thích đám sĩ quan dự bị. Ông bảo rằng họ là những kẻ thường dân bẩn thỉu. Còn đối với lính tình nguyện thì ông coi họ như bầy động vật hoang dã cần phải huấn luyện thành lính, gắn quân hàm rồi đưa ra mặt trận, để họ bị chết thay cho các sĩ quan cao quý đang tại ngũ, bởi cần phải bảo vệ các sĩ quan để làm giống. Nói chung,” người lính tình nguyện nằm trong chăn nói thêm, “tất cả mọi thứ trong quân đội đều bốc mùi hôi thối. Bây giờ thì đám đông ngơ ngác còn chưa lại hồn. Với con mắt trợn tròn, họ tiếp tục đi để bị đánh chém ngoài mặt trận, cho đến lúc bị trúng đạn thì họ cũng chỉ gọi thầm: ‘Mẹ ơi!…’ Chẳng có anh hùng nào cả, mà chỉ có đàn súc vật bị đưa vào lò sát sinh và những đồ tể ở các Bộ Tham mưu thôi. Nhưng mà cuối cùng thì tất sẽ có binh biến, lúc ấy thì sẽ rất hỗn loạn. Quân đội muôn năm! Chúc anh ngon giấc nhé!”

Người lính tình nguyện im bặt, rồi trở mình vùng vẫy trong chăn và hỏi:

“Ngủ chưa, hả anh bạn?”

“Chưa,” Švejk trả lời từ giường bên kia, “tôi đang suy nghĩ.”

“Anh nghĩ về cái gì thế?”

“Về cái huân chương bạc mà anh Mlíčko, một người thợ mộc ở phố Vavrova khu Vinohrady Praha, đã được tặng, bởi vì anh ấy là người đầu tiên của trung đoàn mình bị trúng lựu đạn ngay từ đầu chiến tranh. Anh ấy được lắp chân giả, thế rồi bắt đầu đi khắp nơi khoe khoang cái huy chương, rằng anh ấy là thương binh đầu tiên của trung đoàn. Một lần, anh ấy đến quán Apollo ở Vinohrady và cãi nhau với những người mổ thịt ở lò sát sinh. Họ đã lôi cái chân giả ra rồi đập vào đầu anh ấy. Nhưng người kéo cái chân ấy không biết là chân giả, thành ra đã giật mình mà ngất đi. Cảnh sát đã lắp lại cái chân cho anh Mlíčko, nhưng từ đó anh ấy thấy bực tức cáu tiết với cái huân chương bạc. Thế là anh ấy mang nó đến hiệu cầm đồ, và ở đấy cảnh sát đã bắt anh ấy cùng với cả chiếc huân chương, rồi anh ấy có vấn đề lôi thôi với tòa án. Một tòa án đặc biệt có lương tâm chuyên xét xử thương binh cuối cùng đã kết án là anh ấy sẽ bị thu hồi cái huân chương bạc, rồi họ còn kết án làm anh ấy mất chân nữa…”

“Thế là thế nào?”

“Rất đơn giản! Một hôm, ủy ban đến gặp anh ấy và bảo rằng anh ấy không xứng đáng được mang chân giả, thế là họ tháo cái chân rồi đem đi. Hay là,” Švejk tiếp tục, “có chuyện cũng rất buồn cười nữa. Đấy là chuyện gia đình của liệt sĩ tự nhiên được nhận huân chương với lời đề là cho gia đình mượn để treo ở chỗ trang trọng. Một ông bố ở phố Božetěchova khu Vinohradech có con tử trận đã điên tiết lên vì nghĩ là các cơ quan lôi ông ra làm trò đùa, bèn đem treo cái huân chương ấy ở nhà xí. Nhưng hiềm nỗi đấy lại là cái nhà xí chung cho tầng chung cư, thành ra một cảnh sát dùng chung nhà xí ấy đã tố giác ông ấy vì tội phản quốc. Ông ấy đã bị khổ sở vì chuyện đó.”

“Từ đó rút ra kinh nghiệm,” người lính tình nguyện nói, “là tất cả mọi cái vinh quang chỉ là nhất thời. Ở Vienna người ta vừa cho xuất bản tờ Nhật ký lính tình nguyện một năm và ở đấy có đăng một áng thơ tuyệt tác được dịch sang tiếng Séc:

Có người lính một năm quả cảm

đã hy sinh vì nước, vì Vua,

làm tấm gương sáng cho chiến hữu

vì quê hương ta phải quên mình.

Này, trông anh nằm trong linh cữu

với tấm huân chương gắn sáng ngời.

Gửi lên thánh thần lời cầu khẩn

phù hộ cho anh, tấm lòng thành…

“Tôi nghĩ là,” người lính tình nguyện nói sau một hồi im lặng, “tinh thần chiến đấu trong chúng ta đang bị suy giảm. Vì vậy anh bạn ạ, tôi đề nghị là trong bóng đêm, trong cái im lặng của phòng giam, chúng ta hãy cùng nhau hát bài về người lính pháo thủ Jabůrek. Bài hát sẽ nâng cao tinh thần chiến đấu của chúng ta. Nhưng mà chúng ta phải gào thật to, để cho cả doanh trại Marián nghe thấy, vì thế tôi đề nghị chúng ta đến đứng hát ở gần cửa.”

Một lúc sau, từ phòng giam vang lên tiếng hét to đến rung cả cửa sổ ngoài hành lang:

Anh đứng bên khẩu pháo

và cứ nạp… cứ nạp

Và đứng bên khẩu pháo

anh vẫn nạp đạn vào.

Lựu đạn từ đâu tới

phạt đứt hai tay anh

chí anh chẳng lung lay

vẫn chẳng ngừng… cứ nạp

Và đứng bên khẩu pháo

anh vẫn nạp đạn vào.

Ở ngoài sân có tiếng chân bước và tiếng nói.

“Giám thị đấy,” người lính tình nguyện nói, “ông ấy đi cùng với thiếu úy Pelikán, hôm nay thiếu úy có phiên trực. Đó là sĩ quan dự bị, người quen của tôi ở câu lạc bộ Séc, trước khi nhập ngũ là kế toán của một công ty bảo hiểm. Anh ấy sẽ mang thuốc lá đến cho chúng ta. Hãy gào nữa đi!”

Thế là cả hai lại hát: “Anh đứng bên khẩu pháo…”

Khi cửa mở ra, người giám thị gắt, chắc hẳn anh ta bực mình vì sự có mặt của người sĩ quan dự bị:

“Này, đây không phải là chuồng thú!”

“Xin lỗi,” người lính tình nguyện đáp, “đây là một phòng hòa nhạc của Nhà biểu diễn nghệ thuật Rudolfinum⦾, chương trình ca nhạc dành cho tù nhân. Tiết mục đầu tiên, Giao hưởng chiến tranh, vừa mới kết thúc.”

“Này thôi đi!” thiếu úy Pelikán giả bộ nghiêm khắc, “Tôi nghĩ các anh biết là từ chín giờ tôi phải đi nằm và không được làm ồn. Nhưng mà ca nhạc của các anh vang ra đến tận quảng trường.”

“Báo cáo thiếu úy,” người lính tình nguyện một năm nói, “chúng tôi chuẩn bị chưa được kỹ càng lắm, thành ra nếu có lạc giọng ở chỗ nào…”

“Tối nào anh ấy cũng làm như thế này,” giám thị cố gắng nói xấu kẻ thù của mình, “và có cư xử hết sức thiếu thông minh.”

“Thưa thiếu úy,” người lính tình nguyện nói, “tôi muốn xin được nói chuyện riêng với thiếu úy, còn giám thị thì xin ra chờ ở ngoài cửa ạ.”

Khi giám thị ra ngoài, người lính tình nguyện thân mật bảo:

“Nào đưa thuốc lá ra đây, Franta! Chỉ có Sportka thôi à? Là thiếu úy mà cậu không có được thuốc ngon hơn ư? Nhưng mà cảm ơn cậu nhé. À, cho bao diêm nữa chứ!”

“Sportka,” người lính tình nguyện nói một cách khinh bỉ sau khi thiếu úy đi khỏi, “nhưng cả trong lúc khó khăn, con người ta cũng phải biết cao thượng. Hút đi để cho ngon giấc, anh bạn ơi. Ngày mai sẽ là ngày phán xét cuối cùng của chúng ta.” Trước khi ngủ thiếp đi, người lính tình nguyện còn hát:

Vực thẳm núi cao,

chênh vênh vách đá

các bạn của ta

chẳng hề trở lại,

những gì ta yêu.

em ơi thương mến…

Nếu người lính tình nguyện nói về đại tá Schröder như nói về một con quái vật, thì anh ấy đã hơi nhầm, bởi vì đại tá ít nhiều cũng có ý thức về sự công bằng. Ý thức ấy thể hiện rõ ràng sau những đêm trải qua ở khách sạn, khi mà đại tá thấy hài lòng với sự có mặt của một số người. Mà không hài lòng sao được?

Trong khi người lính tình nguyện một năm nói những lời phê bình vô cùng gay gắt về tình hình ở các doanh trại, thì đại tá Schröder cùng với các sĩ quan ngồi ở khách sạn nghe chuyện kể của trung úy Kretshmann, người vừa ở Serbia về với cái chân đau (vì bị con bò sữa húc). Trung úy kể về việc ông đã ngồi ở ban tham mưu để theo dõi trận tấn công của lính vào quân Serbia như thế nào:

“Vâng, họ xông ra khỏi các chiến hào. Trên suốt chiều dài hai cây số, họ vượt qua hàng rào dây thép gai và lao về phía quân thù. Lựu đạn giắt sau lưng, mặt nạ chống độc, súng khoác trên vai, họ sẵn sàng bắn, sẵn sàng tấn công. Đạn bay vèo vèo. Một người lính vừa nhô đầu lên từ chiến hào đã ngã gục, người thứ hai ngã ngay bên bờ chiến hào, người thứ ba chạy được vài bước rồi cũng ngã xuống, nhưng các chiến hữu vẫn tiếp tục hô hurá⦾ và tiến về phía trước. Quân thù nã đạn từ mọi phía, từ các chiến hào, từ những hố lựu đạn, và các súng máy thì nhằm thẳng vào chúng tôi. Lính lại ngã xuống. Một đơn vị muốn tiến đến khẩu súng máy của quân địch, nhưng đã bị bắn gục. Nhưng các chiến hữu vẫn xông lên tiến lên phía trước. Hurá! Một sĩ quan ngã xuống. Không còn nghe thấy tiếng súng của bộ binh nữa, một cái gì khủng khiếp đang được chuẩn bị. Lại cả một đơn vị bị bắn gục, lại nghe thấy tiếng súng máy của quân thù bắn veo veo… Lại có người gục xuống… Xin lỗi các ngài, tôi không thể tiếp tục được nữa…tôi say…”

Người sĩ quan với cái chân đau im lặng, ngồi thẫn thờ ở ghế. Đại tá Schröder nở nụ cười hiền hậu và nhìn sang phía đối diện lắng nghe đại úy Spíra, người đang trông như có vẻ chuẩn bị cãi nhau với ai, tay thì đấm bàn, miệng nhắc lại một điều chẳng có nghĩa gì, chẳng ai hiểu được nó có nghĩa gì và đại úy định nói gì:

“Xin các ngài hãy nghĩ cho kỹ mà xem. Chúng ta có lực lượng kỵ binh lục quân Áo Landwehr, lính lục quân Áo Landwehr, lính súng trường Bosnia, lính súng trường Áo, lính bộ binh Áo, lính bộ binh Hungary, lính xạ thủ hoàng gia Tirol, lính bộ binh Bosnia, lính bộ binh Hungary Honvédség, lính kỵ binh hussar Hungary, lính kỵ binh Landwehr, lính kỵ binh sơn cước, long kỵ binh, kỵ binh Ba Lan, lính pháo binh lính hậu cần, lính công binh, lính quân y, hải quân. Các ngài có hiểu được không? Còn Bỉ thì sao? Lực lượng thứ nhất và thứ hai làm quân tác chiến, lực lượng thứ ba phục vụ ở hậu phương…”

Đại úy Spíra đấm mạnh tay xuống bàn: “Trong thời bình thì lục quân Áo Landwehr, lục quân Hungary Honvédség làm nghĩa vụ của mình ở đất nước mình.”

Một người sĩ quan trẻ ngồi bên đang rất cố gắng tỏ ra cho đại tá biết về sự cứng rắn về quân sự của mình, anh nghiêng về phía người ngồi bên cạnh và nói to: “Phải gửi những người bị bệnh lao ra mặt trận, thế là tốt cho họ. Và ở chiến trường để người ốm chết thì tốt hơn là để người khỏe chết.”

Đại tá mỉm cười, nhưng bất chợt ông chau mày và quay sang nói với thiếu tá Wenzl: “Này, tôi lấy làm lạ, từ hôm tới trung đoàn đến nay, chưa một lần nào trung úy Lukáš tới đây với chúng ta.”

“À, trung úy đang làm thơ ạ,” đại úy Ságner lên tiếng giễu cợt, “mới chân ướt chân ráo đến trung đoàn mà đã đem lòng yêu cô vợ của kỹ sư Schreiter, trung úy gặp cô ấy ở nhà hát.”

Đại tá vẫn chau mày nhìn về phía trước mặt: “Nghe bảo ông ấy biết hát Couple rất hay.”

“Vâng, ngay từ hồi ở trường quân sự ông ấy đã nổi tiếng là biết hát Couple,” đại úy Ságner lên tiếng,”cũng biết kể chuyện cười rất có duyên. Tôi cũng không hiểu vì sao mà trung úy không đến đây với chúng ta.”

Đại tá buồn rầu lắc đầu:

“Thời buổi bây giờ, chúng ta chẳng có tình bạn thật sự. Tôi nhớ là trước đây, sĩ quan nào cũng cố gắng đóng góp một cái gì cho không khí ở phòng casino được vui vẻ. Thí dụ tôi nhớ có một trung úy tên là Dankl. Anh này thường cởi hết quần áo, nằm trần truồng dưới sàn nhà, cắm cái đuôi cá trích vào giữa mông để làm nàng tiên cá. Người khác, thiếu úy Schleisner, thì biết vẫy tai và hí như ngựa, cũng biết bắt chước tiếng mèo meo meo, hay tiếng ong vo ve. Tôi cũng nhớ đại úy Skoday. Anh này thì bao giờ cũng dẫn một bọn con gái đến casino bất kỳ lúc nào chúng tôi muốn. Ba cô ấy là ba chị em, rất ngoan ngoãn nghe lời đại úy, giống như con chó được rèn luyện thành thục. Anh ấy để họ đứng trên bàn, rồi họ cứ theo nhịp điệu mà lần lượt trút quần áo. Anh ấy có cái đũa nhạc nhỏ và chỉ huy màn diễn ấy rất giỏi. Còn những gì anh ấy làm với bọn con gái ở trên ghế sofa nữa mới hay chứ! Có lần, anh ấy cho đem vào giữa phòng một cái bồn tắm, chúng tôi lần lượt vào đó tắm với ba chị em và đại úy thì chụp ảnh.”

Trong lúc tưởng nhớ chuyện cũ, đại tá sung sướng mỉm cười.

“Ở trong bồn tắm, chúng tôi còn cuộc với nhau biết bao nhiêu thứ,” đại tá tiếp tục, đồng thời chép miệng một cách dâm đãng và liên tục ngọ ngoạy trên ghế, “Còn bây giờ ư? Vui vẻ cái nỗi gì? Người biết hát Couple thì không tới. Các sĩ quan trẻ thì không biết uống. Đã đến mười hai giờ đâu mà đã lăn xuống gầm bàn, các ngài trông kia, có tới năm người say. Còn chúng tôi ngày xưa ấy à, có khi ngồi uống hai ngày liền, càng uống càng tỉnh, mà uống đủ cả nào bia, nào rượu vang, nào rượu ngọt. Bây giờ thì chẳng còn tinh thần nhà binh nữa, có trời mới biết nguyên nhân vì đâu. Chẳng có chuyện cười nào ra hồn, toàn những chuyện vớ vẩn vô cùng tận. Cứ chỉ nghe ở cái bàn phía dưới kia đang nói về Mỹ thôi là thấy thế.”

Từ cuối cái bàn thứ hai có tiếng ai nói trang nghiêm: “Mỹ không thể đi vào cuộc chiến được. Người Mỹ và người Anh đang hục hoặc thù địch với nhau. Mà Mỹ thì chưa được chuẩn bị để tham gia chiến tranh.”

Đại tá Schröder thở dài: “Toàn chuyện ngu ngốc ngớ ngẩn của sĩ quan dự bị. Bọn ấy đúng là của nợ chúng ta phải mang. Những kẻ ấy ngày hôm qua vẫn còn ghi chép giấy tờ ở ngân hàng, hoặc là cuộn giấy gói gia vị, gói quế hay kem đánh bóng giày để bán, hoặc là kể chuyện cho trẻ con ở nhà trẻ, rằng cái đói đã đẩy chó sói ra khỏi rừng. Ấy thế mà bây giờ thì lại muốn được bằng vai phải vế với các sĩ quan chính quy, ra vẻ cái gì cũng biết, rồi việc gì cũng chêm vào. Còn những sĩ quan chính quy như trung úy Lukáš thì lại chẳng đến đây với chúng ta.”

Với tâm trạng bực bội, đại tá Schröder đi về nhà và sáng hôm sau, khi thức giấc, ông còn thấy bực bội hơn, bởi vì trong các bản tin từ chiến trường, đăng ở tờ báo ông đang nằm đọc, có một câu được nhắc lại nhiều lần, rằng quân lính bị dẫn đến những vị trí đã chuẩn bị sẵn. Đó là những ngày vẻ vang của quân đội Áo, giống hệt những ngày trong trận đánh ở Šabac⦾.

Và với tâm trạng như thế, vào lúc mười giờ sáng, đại tá Schröder bắt đầu một việc mà người lính tình nguyện một năm đã gọi bằng cái tên rất chính xác, rằng đó là ngày phán xét cuối cùng.

Švejk cùng người lính tình nguyện một năm đứng ở ngoài sân chờ đại tá. Các hạ sĩ quan, rồi sĩ quan thường trực, sĩ quan hậu cần, cả trung sĩ của văn phòng đại tá cũng đã có mặt. Trung sĩ mang theo hồ sơ về các phạm nhân, về những người mà lưỡi rìu công lý đang chờ – đó là việc trình diện báo cáo tại trung đoàn.

Rồi đại tá đến, vẻ mặt ông cau có. Đi theo hộ tống đại tá là đại úy Ságner, người của trường huấn luyện lính tình nguyện một năm. Đại tá bồn chồn không yên và liên tục quất roi ngựa vào ống đôi giày ủng cao.

Ông nghe báo cáo, đi đi lại lại trước mặt Švejk và người lính tình nguyện lúc đó đang đứng lặng im. Họ quay đầu nhìn sang bên phải, rồi sang bên trái tùy theo lúc đó đại tá đi sang phía nào. Cả hai quay đi quay lại đến sái cổ, vì đại tá đã đi lại như vậy khá lâu.

Cuối cùng, ông dừng lại trước mặt người lính tình nguyện, người này lên tiếng báo cáo: “Lính tình nguyện một năm…”

“Tôi biết,” đại tá trả lời ngắn gọn, “kẻ hư hỏng của lính tình nguyện một năm. Anh đã làm gì trước khi nhập ngũ: Sinh viên triết học cổ điển ư? Tức là một trí thức be bét rượu chè… Đại úy Ságner,” ông gọi, “anh hãy cho dẫn tất cả lính tình nguyện một năm của trường tới đây. Vâng, tất nhiên rồi,” ông quay sang tiếp tục nói với người lính tình nguyện một năm, “vì quý ông sinh viên triết học cổ điển mà chúng tôi phải dây dưa lôi thôi. Đằng sau, quay! Hừ, nếp gấp ở áo khoác không ngay ngắn, cứ như là vừa ở chỗ mấy con điếm về, hay lăn lộn ở nhà thổ. Tôi sẽ làm cho anh mất mặt, đồ khốn ạ!”

Những người lính tình nguyện một năm ra đến sân.

“Xếp hình vuông!” đại tá ra lệnh. Cả lớp xếp đội hình theo hình vuông nhỏ xung quanh đại tá và hai kẻ phạm tội.

“Các anh hãy nhìn người đàn ông này,” đại tá gầm lên và chỉ chiếc roi ngựa về phía người lính tình nguyện, “anh ta say sưa rượu bia làm mất danh dự của các anh, của những người lính tình nguyện một năm, những người sẽ được đào tạo thành các sĩ quan để đưa quân lính tới vinh quang ở trận tuyến. Nhưng còn anh ta, kẻ be bét rượu chè, anh ta sẽ đưa quân lính của mình đến đâu? Từ quán rượu đến quán rượu! Anh ta sẽ uống sạch rượu Rum được phát của quân lính. Anh có thể nói gì để thanh minh được không? Anh không thể nói được gì hả? Các anh hãy nhìn anh ta đi! Anh ta cũng không biết nói gì để thanh minh, ấy thế mà trong đời thường anh ta học triết học cổ điển đấy! Thật đúng là một trường hợp cổ điển!”

Đại tá dằn giọng một cách mỉa mai những lời sau cùng rồi nhổ bọt: “Nhà triết học cổ điển, say rượu, hất mũ của sĩ quan vào ban đêm! Đồ ngốc ạ, may mà đó chỉ là một sĩ quan pháo binh như vậy thôi.”

Trong câu “pháo binh như vậy thôi” có chứa tất cả cái căm ghét của trung đoàn 91 đối với pháo binh ở Budějovice. Khốn khổ cho lính pháo binh nào sa vào tay lính tuần tra của trung đoàn vào ban đêm, và ngược lại. Đó là sự căm ghét khủng khiếp không đội trời chung, một mối tử thù, mối căm thù thấm sâu trong máu huyết, truyền từ năm này sang năm khác ở cả hai bên, qua những câu chuyện kể lại về việc lính bộ binh quẳng lính pháo binh xuống sông Vltava, và ngược lại. Kể cả những chuyện hai bên đánh nhau như thế nào ở quán Port Arthur, ở quán Bông hồng và nhiều nơi ăn chơi giải trí khác của thủ phủ miền Nam Séc.

“Nhưng mà,” đại tá tiếp tục, “dù sao thì một việc như thế cũng phải đưa ra xét xử thích đáng để làm gương cho kẻ khác. Người đó phải bị đuổi khỏi trường huấn luyện lính tình nguyện một năm, phải bị làm nhục nhã, ê chề. Quân đội chúng ta đã có rất nhiều những trí thức như thế rồi. Văn phòng trung đoàn!”

Trung sĩ của văn phòng trung đoàn nghiêm trang bước tới, hồ sơ và bút chì trong tay.

Ngoài sân lặng ngắt như ở trong phòng xử án, nơi người ta xử kẻ giết người và sau đó chánh án tòa án nói: “Anh hãy nghe tuyên án!”

Đúng với giọng của chánh án, đại tá tuyên bố: “Xử anh Marek, lính tình nguyện một năm như sau: hai mươi mốt ngày chế độ nghiêm ngặt, sau đó sẽ phải vào bếp gọt khoai tây.”

Đại tá quay về lớp huấn luyện lính tình nguyện một năm và ra lệnh xếp hàng giải tán. Tiếng những người lính nhanh nhẹn xếp hàng tư vang lên, rồi họ rời khỏi sân. Trong khi đó, đại tá nói với đại úy Ságner, rằng như vậy là chưa ổn và buổi chiều thì phải cho lính tập lại các động tác xếp đội hình.

“Xếp đội hình phải vang ầm ầm lên như sấm, đại úy ạ. À, còn một việc này suýt nữa tôi quên. Anh bảo lính rằng cả lớp sẽ bị phạt năm ngày không được rời doanh trại, để cho họ không bao giờ quên được đồng đội của mình, cái thằng Marek khốn kiếp ấy!”

Và thằng Marek khốn kiếp thì vẫn đứng cạnh Švejk và tỏ ra hết sức hài lòng. Sự việc không thể kết thúc tốt đẹp hơn được nữa. Gọt khoai tây, nặn bánh bao và gỡ thịt xương sườn ở trong bếp dứt khoát là tốt hơn việc gào thét “Lần lượt từng người một! Cắm lưỡi lê lên!” đến vãi ra quần dưới cuồng phong lửa đạn của quân thù.

Sau đó, đại tá Schröder dừng lại trước Švejk và chăm chú ngắm anh, ngắm khuôn mặt đầy đặn tròn trịa tươi cười cùng đôi tai to bên dưới chiếc mũ lính. Nhìn chung, đó là cái vẻ bình yên và vô tội. Đôi mắt anh như muốn hỏi: “Thưa, tôi đã làm một việc gì chăng? Tôi phải chịu trách nhiệm về một cái gì ư?”

Đại tá hỏi trung sĩ văn phòng trung đoàn: “Thằng ngu xuẩn hả?” Và ông thấy cái miệng trên khuôn mặt phúc hậu ấy mở ra.

“Báo cáo đại tá, thằng ngu xuẩn.” Švejk trả lời thay cho trung sĩ.

Đại tá Schröder gật đầu ra hiệu về phía sĩ quan phụ tá rồi cùng người ấy đi sang một bên. Sau đó hai người gọi trung sĩ tới và cùng nhau đọc hồ sơ về Švejk.

“A,” đại tá Schröder nói, “thế ra đây là lính hầu của trung úy Lukáš mà theo báo cáo của trung úy thì đã bị lạc ở Tábor đấy! Tôi cho rằng các sĩ quan phải tự giáo dục lính hầu của mình. Khi mà trung úy Lukáš chọn một thằng ngu như thế làm lính hầu thì hãy để mặc ông ấy khổ vì hắn. Trung úy có nhiều thời gian để dạy dỗ hắn, khi mà chẳng đi đâu cả. Các anh cũng chưa bao giờ trông thấy trung úy đến chơi với chúng ta, có phải không? Đấy, các anh thấy chưa? Vậy là trung úy có nhiều thời gian để huấn luyện thằng lính hầu của mình.”

Đại tá Schröder tiến đến gần Švejk, nhìn thẳng vào khuôn mặt hiền lành của anh và bảo: “Đồ con bò ngu xuẩn ạ, anh sẽ bị phạt nghiêm ngặt ba ngày, rồi sau đó anh sẽ đi trình diện trung úy Lukáš.”

Thế là Švejk lại gặp người lính tình nguyện một năm ở phòng giam của trung đoàn. Còn trung úy Lukáš thì đã có thể rất sung sướng khi đại tá Schröder cho gọi đến và bảo: “Trung úy ạ, cách đây một tuần, khi đến trung đoàn, anh đã báo cáo với tôi về việc xin một lính hầu vì lính hầu của anh bị lạc ở ga Tábor. Bởi vì anh ta đã đến…”

“Thưa đại tá,” trung úy Lukáš lên tiếng cầu khẩn.

“…nên tôi quyết định,” đại tá tiếp tục với giọng nhấn mạnh, “để hắn ngồi giam ba ngày, rồi lại gửi hắn đến anh.”

Vô cùng bất hạnh, trung úy Lukáš lảo đảo ra khỏi văn phòng đại tá.

Švejk đã rất vui vẻ trong ba ngày ở phòng giam cùng với người lính tình nguyện một năm Marek. Tối nào cũng vậy, cả hai tổ chức diễn thuyết về lòng yêu nước ở trên giường.

Từ phòng giam, tối nào cũng vọng ra bài Chúa phù hộ Hoàng đế và Vương công Eugen, hiệp sĩ cao thượng. Họ cũng hát tất cả các bài hát của binh lính và khi người giám thị tới thì họ hát chào:

Ông giám thị già của chúng tôi

là người không muốn bao giờ chết.

Vì thế mà quỷ phải lên đây

để rước ông đi về âm phủ.

Quỷ đặt ông nằm trên xe đẩy

dọc đường xe nẩy hất ông rơi.

Dưới kia địa ngục nhiều khói lửa

quỷ đốt thiêu ông, đã nóng chưa?

Ở phía bên trên giường, người lính tình nguyện một năm đã vẽ hình người giám thị trại giam, bên dưới hình đó anh viết lời của một bài hát cũ:

Khi đi Praha mua dồi lợn

tôi gặp trên đường lắm dị nhân.

Đâu phải thằng hề, giám thị đấy,

Tôi chuồn, kẻo ông ấy cắn tôi.

Trong khi họ châm chọc trêu tức người giám thị trại giam, giống như ở Seville người ta khiêu khích con bò Andalucía bằng tấm khăn đỏ, thì trung úy Lukáš bồn chồn lo lắng chờ lúc Švejk trở về báo cáo rằng anh lại tiếp tục làm nhiệm vụ.

← Người Goth là một trong những bộ tộc đầu tiên của người Đông German, được cho là có nguồn gốc ở đảo Gotland và miền Nam Thụy Điển ngày nay. Họ có ảnh hưởng lớn trong quá trình sụp đổ của Đế quốc Tây La Mã, cũng như trong Thời kỳ Di cư ở giai đoạn cuối thời cổ đại đầu Trung đại, cả trong lịch sử châu Âu Trung cổ.

← Milevsko là một thành phố nhỏ của huyện Písek miền Nam Séc, cách Tábor 22km về phía tây.

← Klatovy là thành phố miền Nam Séc, cách Tábor 125km về phía tây.

← Radomyšl là một làng nhỏ cách Tábor 76km về phía tây nam.

← Putim cách Milevsko 34km về phía tây nam.

← Là Hoàng đế của Đế quốc Áo–Hung, Franz Joseph I, đồng thời cũng là vua của Bohemia, Hungary, Croatia, Lombardia v.v. Tuy đã hứa nhưng không bao giờ ông chính thức làm lễ đăng quang ở Bohemia để đặt lên đầu vương miện mang tên Đức Thánh Václav – Đức Thánh bảo trợ của Séc. Vương miện này được Karel IV, Hoàng đế La Mã, đồng thời vua của Bohemia, cho hoàn thành năm 1346 nhân dịp lễ lên ngôi vua Bohemia. Vương miện là bảo vật linh thiêng được thờ cúng của Séc. Theo truyền thuyết, ai không được phép mang vương miện mà đặt nó lên đầu thì một năm sau sẽ bị chết.

← Lipnice nad Sázavou, thành phố nhỏ cách Praha 103km về phía đông nam. Tác giả Jaroslav Hašek đã sống ở đó từ mùa thu năm 1921 đến khi ông qua đời vào tháng 1 năm 1923.

← Slezsko (Silesia) là vùng đất lịch sử, hiện nay chủ yếu thuộc địa phận Ba Lan, một phần thuộc Séc, một phần nhỏ thuộc Đức. Morava (Moravia) là vùng đất lịch sử ở phía đông Séc. Cộng hòa Séc ngày nay gồm Séc, Morava và Silesia.

zlatý, hay florin, gulden là đơn vị tiền tệ ban hành ở Áo từ 1754–1892, sử dụng ở Áo và các nơi thuộc Áo (thí dụ Bohemia), từ năm 1867 sử dụng trong cả Đế quốc Áo–Hung. 1 zlatý = 2 koruna = 100 krejcar.

← Một loại rượu mùi rất được ưa chuộng ở các quán rượu trước đây.

← Đại Công tước Nikolai Nikolaevich Romanov (1856–1929), tướng chỉ huy quân đội Sa hoàng Nga.

← Město của vùng Olomouc, Morava.

← Chiến tranh Hussite (1419–1434) là cuộc chiến ở Bohemia giữa những người theo phong trào Hussite ủng hộ nhà cải cách Kitô giáo người Séc Jan Hus (1370–1415) với triều đình Đế quốc La Mã Thần thánh của Hoàng đế Sigismund Luxemburg(1368–1437)

← Dụng cụ dùng trong nông nghiệp, nhưng thường được dùng làm vũ khí, lần đầu tiên được sử dụng trong chiến tranh Hussite ở Bohemia và một số vùng lân cận.

← Ám chỉ Hoàng đế Franz Joseph I.

← Dinh thự mùa hè của Hoàng gia Áo. Hoàng đế Franz Joseph I đã sinh ra và mất tại đây.

← Bức tranh Đức Mẹ Đồng trinh Maria từ đầu thế kỷ 17, rất linh thiêng, thuộc sở hữu của một gia đình quý tộc ở Séc.

← František Palacký (1798–1876), chính trị gia, nhà sử học và nhà văn Séc, một trong những người đặt nền móng cho Thuật chép sử hiện đại của Séc.

← Các loại rượu ngọt.

← Quốc ca của Đế quốc Áo.

← Kiểu chơi bài lá (svejkmuseum.cz).

← Otava là một nhánh của sông Vltava ở vùng Tây Nam Séc, nổi tiếng là có cát chứa vàng.

← Dãy núi lớn ở biên giới Séc, Áo và Đức. Đỉnh núi cao nhất 1456m. Ở địa phận Séc cũng có vườn Quốc gia Sumava.

← Số lính và ngựa trong một toa tàu chở quân ra mặt trận.

← Kašperské Hory là một thành phố thuộc tỉnh Plzeň ở miền Nam Séc. Plzeň là thành phố nấu bia Pilsen nổi tiếng.

← Bá tước Franz Conrad von Hötzendorf (1852–1925), Thống chế quân đội Áo, Tổng tham mưu quân đội Áo–Hung, nhân vật quan trọng trong Thế chiến I.

← Kutná Hora là thành phố thuộc miền Trung Séc, cách Praha 61km về phía tây, nổi tiếng về khai thác bạc thời Trung cổ. Năm 1995, trung tâm thành phố được UNESCO công nhận là Di sản thế giới.

← Rudolfinum là tòa nhà mang tên Thái tử Rudolf của nhà Habsburg, nằm ở bờ sông Vltava Praha, xây dựng trong những năm 1876–1881, hiện nay là nơi biểu diễn nghệ thuật, lễ hội âm nhạc quốc tế Mùa xuân Praha hằng năm được tổ chức tại đây:

← Khẩu hiệu chiến đấu khi tấn công.

← Thành phố phía tây Serbia.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.